1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thảo luận Kinh tế vĩ mô: Phân tích tác động của covid 19 đến vấn đề lao động, việc làm

26 121 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 718,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA COVID19 ĐẾN VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM CỦA VIỆT NAM PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CÁC CHÍNH SÁCH MÀ CHÍNH PHỦVIỆT NAM THỰC HIỆN ĐỂ THÚC ĐẨY VIỆC LÀM HẠ THẤP TỈ LỆ THẤT NGHIỆP TRONG NĂM 2020.Tình hình lao động và việc làm trước dịch bệnh Covid 19 Chính sách tài khóa Chính sách tiền tệ Chính sách đào tạo nguồn nhân lực.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN 12

MỞ ĐẦU 13 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 14

1 Khái niệm và đo lường thất nghiệp 14

1.1 Khái niệm 14

1.2 Đo lường thất nghiệp 14

2 Phân loại thất nghiệp 15

2.1 Theo lý do thất nghiệp 15

2.2 Theo nguồn gốc thất nghiệp 15

2.3 Theo cách phân loại hiện đại 15

3 Nguyên nhân của thất nghiệp 16

3.1 Theo lý thuyết tiền công linh hoạt ( quan điểm trường phái cổ điển ) 16

3.2 Theo lý thuyết tiền công cứng nhắc (quan điểm trường phái Keynes) 17

4 Tác động của thất nghiệp 18

4.1 Tác động tiêu cực 18

4.2 Tác động tích cực 19

5 Các giải pháp hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp 19

5.1 Đối với thất nghiệp tự nhiên 19

5.2 Đối với thất nghiệp chu kỳ 19

5.3 Các biện pháp khác 19

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM _ 21 1 Tình hình lao động và việc làm trước dịch bệnh Covid - 19 21

2 Ảnh hưởng, tác động của Covid 19 đến lao động có việc làm 22

2.1 Tác động của dịch Covid 19 đến lực lượng lao động 23

2.2 Tác động của dịch COVID-19 đến lao động có việc làm 25

2.3 Tác động của dịch Covid -19 đến thất nghiệp và thiếu việc làm 27

2.3.1 Lao động thiếu việc làm 27

2.3.2 Lao động thất nghiệp 28

Trang 2

CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH MÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM THỰC HIỆN ĐỂ THÚC ĐẨY VIỆC LÀM HẠ THẤP TỈ LỆ THẤT NGHIỆP TRONG NĂM 2020 _ 30

1 Chính sách tài khóa 31

2 Chính sách tiền tệ 34

3 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực 34

KẾT LUẬN 36

Trang 3

MỞ ĐẦU

Lĩnh vực lao động và việc làm đang trải qua những thay đổi lớn ở quy mô chưa từng có do sự chuyển dịch của một số yếu tố như sự cải tiến của công nghệ, tác động của biến đổi khí hậu, rủi ro dịch bệnh, v.v ở cả cấp độ toàn cầu, khu vực và quốc gia Những động lực kinh tế lớn trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam tiếp tục sẽ

là thương mại và đầu tư Mặc dù xu hướng toàn cầu hóa đang chứng kiến sự ngưng trệ

và có phần đứt gãy, nhưng quá trình này vẫn tiếp tục có nhiều hàm ý quan trọng và có lợi cho sự phát triển công nghiệp của Việt Nam Đó là tác động từ việc ký kết các hiệp định thương mại của Việt Nam, từ dịch chuyển công nghiệp tới Việt Nam do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và sự đa dạng hóa cơ sở sản xuất của các quốc gia và tập đoàn đa quốc gia Đặc biệt, đại dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1 năm

2020 đã đang đặt ra những thách thức chưa từng có tiền lệ và những khó khăn vô cùng

to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động việc làm trong các ngành và tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong đó, ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II năm 2020 khi tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất hiện và việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội được thực hiện triệt để trong tháng 4 năm 2020 Trong bối cảnh đó, lao động và việc làm ở khu vực sản xuất công nghiệp nói chung và khu công nghiệp ở Việt Nam nói riêng đang và sẽ chịu những tác động ở nhiều khía cạnh Trong thời gian qua Chính phủ đã có những bước đi kiên quyết và đúng đắn, kiềm chế sự lây lan bùng phát của đại dịch COVID-19, đó là thành quả rất đáng tự hào Vì vậy nhóm em thực hiện nghiên cứu đề tài này sẽ tập trung đánh giá thực trạng và mức độ tác động của Covid-

19 đến lao động và việc làm và phân tích hiệu quả chính sách chính phủ đã để ra ứng phó với Covid-19 đến lao động và việc làm

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm và đo lường thất nghiệp

1.1 Khái niệm

Thất nghiệp là số lượng người nằm trong lực lượng lao động xã hội hiện

đang chưa có việc làm nhưng mong muốn tìm kiếm việc làm

Việc làm theo định nghĩa của Bộ Lao động và Tổng cục Thống kê là một

hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho những người trong cùng một hộ gia đình

Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ

và quyền lợi lao động theo quy định ghi trong hiến pháp

Lực lượng lao động gồm những người sẵn sàng và có khả năng lao động,

là những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm hoặc thất nghiệp

Lực lượng lao động = Số người có việc làm + Số người thất nghiệp

Người có việc là những người đang làm cho các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã

hội,…

Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc nhưng mong muốn và

đang tìm kiếm việc làm

Ngoài những người có việc và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động hoặc trong dân số trưởng thành được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động, bao gồm người đi học, nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động ốm đau, bệnh tật,… và một bộ phận không muốn tìm việc làm vì những lý do khác nhau

1.2 Đo lường thất nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm của lực lượng lao động bị thất nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp(%) = 𝐒ố 𝐧𝐠ườ𝐢 𝐭𝐡ấ𝐭 𝐧𝐠𝐡𝐢ệ𝐩

𝐋ự𝐜 𝐥ượ𝐧𝐠 𝐥𝐚𝐨 độ𝐧𝐠 .100%

Trang 5

2 Phân loại thất nghiệp

2.1 Theo lý do thất nghiệp

Chia thành 4 loại:

Mất việc: Người lao động không có việc làm do các đơn vị sản xuất kinh

doanh cho thôi việc vì một lý do nào đó

Bỏ việc: Là những người tự ý xin thôi việc vì những lý do chủ quan của

người lao động

Nhập mới: Là những người lần đầu tiên bổ sung vào lực lượng lao động

nhưng chưa tìm được việc làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm

Tái nhập: Là những người đã rời khỏi lực lượng lao động, nay muốn quay

trở lại làm việc nhưng chưa tìm được việc làm

2.2 Theo nguồn gốc thất nghiệp

Thất nghiệp tạm thời: Là nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng

của con người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống

Thất nghiệp cơ cấu: Là thất nghiệp xảy ra vì một số thị trường lao động

không cung cấp đủ việc làm cho tất cả những người tìm việc, hay do sự mất cân đối giữa cung và cầu trên các thị trường lao động cụ thể ( theo các ngành nghề, khu vực,…) hoặc khi có sự chuyển đổi động thái sản xuất kinh doanh

Thất nghiệp do thiếu cầu ( thất nghiệp chu kỳ ): Là thất nghiệp xảy ra khi

mức cầu chung về lao động giảm xuống, nguồn gốc do sự suy giảm tổng cầu

Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường ( thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển ): xảy ra khi tiền lương không được ấn định bởi các lực lượng thị trường và

cao hơn mức lương cân bằng thực tế của thị trường lao động

2.3 Theo cách phân loại hiện đại

Thất nghiệp tự nguyện: Xảy ra khi một số người tự nguyện không muốn

làm việc do việc làm và mức lương tương ứng chưa phù hợp với mong muốn

Trang 6

Thất nghiệp không tự nguyện: Xảy ra khi một số người có thể chấp nhận

công việc được đưa ra tại mức lương hiện hành nhưng không được tuyển dụng

do nền kinh tế suy thoái các doanh nghiệp giảm sản xuất nên giảm cầu lao động

Thất nghiệp tự nhiên: Xảy ra khi thị trường lao động đạt trạng thái cân

bằng Mức thất nghiệp này đươc duy trì ngay cả trong dài hạn Các dạng thất nghiệp được tính vào thất nghiệp tự nhiên bao gồm thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển

3 Nguyên nhân của thất nghiệp

3.1 Theo lý thuyết tiền công linh hoạt ( quan điểm trường phái cổ điển )

Hình 1 Thất nghiệp theo lý thuyết tiền công linh hoạt

Quan điểm của trường phái cổ điển cho rằng giá cả và tiền công linh hoạt, thị trường lao động luôn tự động điều chỉnh về trạng thái cân bằng Tuy nhiên do tiền lương không được ấn định bởi các lực lượng thị trường mà chịu sự ấn định của các quy định nhà nước, Chính phủ,… làm mức lương trong nền kinh tế cao hơn mức lương cân bằng thực tế trên thị trường lao động Điều này dẫn đến trên thị trường lao động xuất hiện dư cung lao động và gia tăng số người thất nghiệp

Đường L* biểu thị lực lượng lao động xã hội DL biểu thị cầu lao động doanh nghiệp SL biểu thị cung lao động Thị trường lao động đạt trạng thái cân bằng tại E(W0,L0) là giao điểm của DL và SL

Tại trạng thái cân bằng, thị trường lao động có L0 người muốn đi làm, nhưng LLLĐXH là L* Vậy EF ̅̅̅̅ là số người thất nghiệp tự nguyện chưa muốn đi làm ở mức

Trang 7

lương w0 Tại điểm cân bằng của thị trường lao động thất nghiệp tự nguyện là thất nghiệp tự nhiên

Giả sử mức lương tối thiểu được xã hội quy định là w1 cao hơn mức lương cân bằng Khi đó cung lao động tại H ứng với số lượng lao động L2, trong khi cầu lao động tại K ứng với lượng lao động L1 Lúc này thị trường dư cung lao động nhưng thị trường lao động không thể ngay lập tức điều tiết do mức tiền công này được Chính phủ ấn định dẫn đến tăng số lượng người thất nghiệp Trong đó thất nghiệp tự nguyện được đo bằng HG ̅̅̅̅, HK ̅̅̅̅ bao gồm những người mong muốn có việc làm ở mức lương w1 nhưng không được thuê mướn vì mức lao động chỉ lên đến điểm

K Trên góc độ cá nhân người lao động, đây là thất nghiệp không tự nguyện Trên góc độ toàn xã hội, khi xã hội quy định mức tiền lương tối thiểu cao hơn mức tiền lương cao hơn mức tiền lương cân bằng nhằm đảm bảo lợi ích cho bộ phận lao động yếu thế thì đây là thất nghiệp tự nguyện Khi đó thất nghiệp tự nguyên là KG ̅̅̅̅ khác thất nghiệp tự nhiên

Tuy nhiên trong dài hạn giá cả và tiền lương là linh hoạt nên tiền lương sẽ tự điều chỉnh về mức cân bằng w0 Tại w1 cung lao động là H ứng với số lượng lao động L1 dẫn đến dư cung lao động, do giá cả và tiền lương linh hoạt nên tiền lương

sẽ giảm dần khiến cung lao động giảm đi, cầu lao động tăng lên Thị trường lao động quay về trang thái cân bằng là E(w0,L0)

3.2 Theo lý thuyết tiền công cứng nhắc (quan điểm trường phái Keynes)

Hình 2 Thất nghiệp theo lý thuyết tiền công cứng nhắc

Trang 8

Quan điểm này cho rằng thất nghiệp xảy ra do sự suy giảm tổng cầu trong thời kỳ suy thoái kinh tế dẫn đến mức cầu chung về lao động giảm xuống, đường cầu lao động dịch chuyển sang trái trong khi giá cả và tiền lương cứng nhắc dẫn đến toàn bộ thị trường lao động xã hội bị mất cân bằng

Giả sử thị trường lao động đạt trạng thái cân bằng tại E(w0,L0) EF ̅̅̅̅ là thất nghiệp tự nguyện cũng là thất nghiệp tự nhiên

Giả sử do tác động của suy thoái kinh tế làm tổng cầu giảm, cầu lao động giảm khiến đường cầu lao động dịch chuyển sang trái từ DL sang DL1 Do trong thời kì suy thoái giá cả và tiền lương cứng nhắc nên nó không biến đổi kịp với biến động của cầu lao động trên thị trường Như vậy mức tiền lương vẫn là w0,cung lao động vẫn là L0, cầu lao động giảm xuống L1 khiến thị trường dư cung lao động

Vì vậy trong nền kinh tế có 2 loại thất nghiệp: Thất nghiệp không tự nguyện 𝐺𝐸 ̅̅̅̅ hay được gọi là thất nghiệp chu kỳ, thất nghiệp tự nguyện EF ̅̅̅̅ không phải là thất nghiệp tự nhiên nữa

4 Tác động của thất nghiệp

4.1 Tác động tiêu cực

Đối với hiệu quả kinh tế: Thất nghiệp càng cao làm cho nền kinh tế hoạt

động kém hiệu quả, nguồn lực sử dụng lãng phí Theo “Quy luật Okun” thất nghiệp tăng 1% khiến sản lượng giảm 2,5%

Đối với xã hội: Các nước có tỷ lệ thất nghiệp cao thường phải đương đầu

với tệ nạn xã hội như trộm cắp, rượu chè, cờ bạc,…; chi phí nhiều tiền cho phòng chống tội phạm Thất nghiệp cao làm xói mòn nếp sống lành mạnh, tăng thêm gánh nặng cho ngân sách do phải chi phí khoản trợ cấp thất nghiệp

Đối với cá nhân và gia đình người thất nghiệp: Thu nhập thấp, mức sống

suy giảm,… gây căng thẳng tâm lý và mất niềm tin đối với cuộc sống

Trang 9

4.2 Tác động tích cực

Thất nghiệp với quy mô hợp lý sẽ tạo nên một đội quân dự trữ cung cấp lao động cho tổ hợp vốn và lao động mới nhằm điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Ở một khía cạnh nào đó, thất nghiệp tạm thời có thể coi là điều tốt Quá trình tìm việc giúp người lao động kiếm được việc làm tốt hơn, phù hợp với năng lực của họ Các nguồn lực sẽ được sử dụng một cách hiệu quả hơn, góp phần làm tăng giá trị sống cho người lao động

5 Các giải pháp hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp

5.1 Đối với thất nghiệp tự nhiên

Xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm, đa dạng hơn với mức tiền công tốt hơn, đổi mới thị trường lao động nhằm đáp ứng kịp thời nhanh chóng cả doanh nghiệp và người lao động

Cần có chính sách khuyến khích đầu tư, thay đổi công nghệ sản xuất Điều này liên quan đến chính sách tiền tệ, xuất nhập khẩu, giá cả, thuế thu nhập,…

Ở những nước đang phát triển có số lao động dư thừa nhiều, nhưng thiếu vốn, có thể tạo ra việc làm với các doanh nghiệp nhỏ bằng sự hỗ trợ vốn của Nhà nước hoặc tổ chức kinh tế, xã hội thông qua dự án việc làm,…

Tăng cường hoàn thiện chương trình dạy nghề, đào tạo và tổ chức thị trường lao động sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm, có thể rút ngắn được thời gian tìm việc

5.2 Đối với thất nghiệp chu kỳ

Các chính sách mở rộng tài khóa và tiền tệ nhằm tăng tổng mức cầu sẽ dẫn đến việc phục hồi về kinh tế, giảm thất nghiệp

5.3 Các biện pháp khác

Chính phủ có thể sự dụng biện pháp như: Tăng cường sự hoạt động các loại dịch vụ về giới thiệu việc làm, tăng cường hoạt động các sở đào tạo, tạo thuận lợi trong việc di chuyển địa điểm cư trú

Trang 10

Chính phủ chủ động tạo việc làm cho người khuyết tật, cải tạo nông nghiệp, tăng cường đầu tư cho nông thôn, cắt giảm trợ cấp thất nghiệp, thu hút đầu tư ngoài nước, mở rộng kinh tế đối ngoại,…

Trang 11

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN VẤN ĐỀ

LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

1 Tình hình lao động và việc làm trước dịch bệnh Covid - 19

Trước đại dịch Covid-19, theo kết quả của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2019 (công bố vào ngày 19/12/2019), có gần 88% dân số tham gia lực lượng lao động (có độ tuổi từ 25-59) Trong đó tỷ trọng dân số tham gia lực lượng lao động cao nhất là 14,3% (nhóm tuổi 25-29) và 14,2% ở nhóm tuổi 30-34 (giảm nhẹ) Tỷ trọng tham gia lực lượng lao động thấp, dưới 10% thuộc về dân số ở nhóm tuổi 15-19, nhóm tuổi 20-24 và nhóm tuổi già (60 tuổi trở lên) Số lượng trong lực lượng lao động đã tốt nghiệp THPT trở lên chiếm tỉ lệ là 39.1% (tăng 13,5 điểm phần trăm so với 10 năm trước (2009)); số lượng lực lượng lao động đã được có bằng, chứng chỉ (từ sơ cấp trở lên) có tỉ lệ là 23,1%, trong đó, khu vực thành thị có số lượng cao cấp 2,5 lần so với khu vực nông thôn, tương ứng 39,3% và 13,6% Trong khi đó, tỉ lệ lực lượng lao động

đã qua đào tạo (có bằng, chứng chỉ) ở đồng bằng sông Hồng (cao nhất, 31,8%) và Đông Nam bộ (27,5%), và đồng bằng sông Cửu Long (thấp nhất, 13,6%)

Tỉ lệ thất nghiệp của dân số từ 15 tuổi trở lên ở mức thấp 2,05% Ở khu vực nông thôn tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn gần 2 lần so với khu vực thành thị (1,64% và 2,93%) Đa số người thất nghiệp có độ tuổi từ 15-54 (chiếm 91,7% người thất nghiệp), trong đó, lao động có độ tuổi từ 15-24 có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất chiếm 44,4% tổng

số lao động thất nghiệp của cả nước

Qua số liệu thống kê, tỷ trọng việc làm theo ngành đã có sự dịch chuyển tích cực trong giai đoạn 2009 - 2019 Trong đó, tỉ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp

và thủy sản có xu hướng giảm (53,9% năm 2009, 46,3% năm 2014 và 35,3% vào năm 2019) còn tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ lại có xu hướng tăng, nhất là số lao động ở khu vực dịch vụ cao hơn số lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Với xu hướng dịch chuyển như vậy thì tỉ lệ lao động làm việc tại khu vực dịch vụ và công nghiệp sẽ sớm đạt được ngưỡng 70% Ngoài

ra, tỉ trọng lao động làm công việc giản đơn đã giảm mạnh so với 10 năm trước đây, trong khi đó, các nhóm nghề thu hút được nhiều số lao động tham gia như “dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng” (18,3%), “thợ thủ công và các thợ khác có liên quan” (14,5%) và “thợ lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị” (13,2%) trong tổng số lao động đang làm việc

Trang 12

Tính đến 1/4/2019, Việt Nam có 96.208.984 người, trong đó có gần 88% dân

số tham gia lực lượng lao động trong độ tuổi từ 25-59 , thì về chất lượng lao động còn rất nhiều tổn tại Ngân hàng Thế giới khi tiến hành đánh giá thị trường lao động Việt Nam đã chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực Việ Nam đang ở mức thấp trong bậc thang năng lực quốc tế, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Nhất là hiện nay, lao động Việt Nam còn thiếu và yếu về ngoại ngữ cũng như các

kỹ năng mềm để có thể thích ứng khi làm việc theo nhóm, tác phong làm việc thiếu chuyên nghiệp và trách nhiệm (trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp) đồng thời kỷ luật lao động kém Số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 11,39 triệu lao động (trong tổng số lực lượng lao động là 54,56 triệu người) qua đào tạo có bằng/chứng chỉ (bao gồm các trình độ sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học), chiếm 20,92% tổng lực lượng lao động Sau 10 năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng mạnh nhưng vẫn còn 76,9% người tham gia lực lượng lao động chưa được đào tạo chuyên môn

Tương quan về số lượng lao động có trình độ đại học trở lên với các trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp nghề là 1-0,35-0,56-0,38 Điều này cho thấy đây là cảnh báo về sự thiếu hụt kỹ sư thực hành và công nhân kỹ thuật bậc cao trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong khi đó, cơ cấu lao động có chuyên môn kỹ thuật vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường nên dẫn đến hiện tượng là nhiều lao động có chuyên môn kỹ thuật làm việc không đúng trình

độ hoặc làm các công việc giản đơn (không liên quan đến ngành nghề được đào tạo) hoặc bị thất nghiệp trong thời gian vừa qua

2 Ảnh hưởng, tác động của Covid 19 đến lao động có việc làm

Đại dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020 đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động và việc làm trong các ngành và tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong đó, ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II năm 2020 khi tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất hiện và đặc biệt là việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội được thực hiện triệt

để trong tháng 4 năm 2020 Tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có 31,8 triệu người

từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19, trong đó gồm người bị mất việc làm, người phải nghỉ giãn việc/nghỉ việc luân phiên, bị giảm giờ làm hay giảm thu nhập… Có tới 68,9% người lao động bị giảm thu nhập (ở mức nhẹ), số người bị giảm giờ làm/nghỉ giãn cách/nghỉ luân phiên chiếm tới 40% người tham gia lao động, và số người buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng sản xuất kinh doanh chiếm tới 14% Trong

Trang 13

19 với 68,9% số lao động trong khu vực này bị ảnh hưởng Ngoài ra trong các khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng bị ảnh hưởng với 66,4% và 27%

Theo số liệu trong Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm

2020, mặc dù dịch bệnh, nhưng GDP trong 9 tháng năm 2020 tăng 2,12% (trong đó: quý I tăng 3,68%, quý II tăng 0,39% và quý III tăng 2.62%) Đây là mức tăng thấp nhất của 9 tháng của các năm trong giai đoạn 2011-2020 Mặc dù bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến vẫn phức tạp và có ảnh hưởng không tốt tới mọi lĩnh vực của đời sống kinh

tế xã hội, nhưng do các chính sách và các biện pháp mạnh, Việt Nam đã kiểm soát được, giúp cho công việc khôi phục kinh tế được thuận lợi Cùng với sự đồng lòng quyết tâm của Đảng, Chính phủ và mọi người dân cũng như cộng đồng doanh nghiệp

đã từng bước thực hiện có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội” Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, có đến 1,84% của khu vực nông, lâm nghiệp thùy sản đóng góp vào mức tăng trưởng chung 13,62%, trong khi công nghiệp và xây dựng là 3,08%, đóng góp 58,35%, dịch vụ đóng góp là 28,03% (tăng 1,37%)

2.1 Tác động của dịch Covid 19 đến lực lượng lao động

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại, dịch

vụ và xuất nhập khẩu Theo số liệu của TCTK, trong 9 tháng, khu vực dịch vụ đạt mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm 2011-2020 Dịch vụ kho bãi giảm 4% (giảm 0,14 điểm phần trăm), dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 17,03% (giảm 0,76 điểm phần trăm

Có thể nói, Covid -19 đã ảnh hưởng, tác động nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nhiều doanh nghiệp đến phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô điều này ảnh hưởng trực tiếp tình hình lao động

và việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I, II và quý III năm 2020 đều

có sự thay đổi do tác động của dịch Covid-19 Lực lượng lao động quý II năm 2020 là 53,1 triệu người, giảm 2,2 triệu người so với quý trước (quý I năm 2020, 55,3 triệu, tỉ

lệ tham gia lao động là 75,4%) và giảm 2,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước Đây

là năm ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục của lực lượng lao động từ trước đến nay Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý II năm 2020 là 46,8 triệu người, giảm 2,1 triệu người so với quý trước (quý I năm 2020 là 48,9 triệu) và giảm 2,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước, trong đó số lao động nữ trong độ tuổi lao động chiếm 44,7%

Ngày đăng: 18/09/2021, 23:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w