Nói về mục tiêu môn Tiếng Việt bậc Tiểu học, văn bản dự thảo chơng trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học do tiểu ban Tiếng Việt Bộ GD &ĐT tổ chức soạn thảo năm 1996 do giai đoạn sau năm 2000
Trang 1Đến nay, đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành xong bài tập nghiên cứu khoa học của mình.
Tôi xin đợc dành những dòng chữ đầu tiên này để bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy cô đã quan tâm giúp đỡ tôi và bạn bè đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt là cô giáo Thạc sĩ Trần Hạnh Phơng và Ban giám hiệu trờng tiểu học Thục Luyện đã tận tình h-ớng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài nghiên cứu này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng xong do khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học còn ít do đó những thiếu xót trong đề tài là không tránh khỏi Tôi rất mong đợc sự đóng góp, chỉ bảo tận tình của các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để đề tài này ngày càng hoàn thiện hơn
Xin trân thành cảm ơn /
Phú Thọ, tháng 04 năm 2007.
Ngời viết
Mục lục
Trang 2Phần I : những vấn đề chung
3 Khắc sâu cho học sinh quy tắc chính tả 10
4 Luyện kỹ năng chính tả qua các giờ học khác 12
8 Xây dựng các bài tập chính tả phơng ngữ 16
9 Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh học sinh 16
III Kết qủa sau khi áp dụng các biện pháp 17
Phần III Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo 20
Phần I: Những vấn đề chung
Trang 31 Lý do chọn đề tài:
1.1 Lý do khách quan:
Môn Tiếng Việt giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập,
nó là tiền đề và cũng là công cụ để học tốt các môn học khác Nói về mục tiêu môn Tiếng Việt bậc Tiểu học, văn bản dự thảo chơng trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học do tiểu ban Tiếng Việt Bộ GD &ĐT tổ chức soạn thảo năm 1996
do giai đoạn sau năm 2000 đã ghi rõ:
“Mục tiêu của môn Tiếng Việt bậc Tiểu học là : Hình thành và phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, cho học sinh nhằm giúp các em sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong việc học tập và giao tiếp ở gia đình, nhà trờng và xã hội Cùng với các môn học khác, góp phần phát triển năng lực t duy cho học sinh Trang bị cho học sinh những hiểu biết ban đầu về văn học, văn hoá
và ngôn ngữ thông qua một số tác phẩm văn học và một số văn bản khác của Việt Nam và thế giới, nhằm hình thành cho các em nhu cầu thởng thức cái
đẹp, trớc những buồn vui, yêu ghét của con ngời Góp phần hình thành nhận thức, tình cảm thái độ và hành vi đúng đắn của con ngời Việt Nam hiện đại trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội”
Để đạt đợc mục tiêu trên giáo dục chỉ dừng lại ở việc dạy đủ kiến thức cho từng phân môn thôi cha đủ mà phải làm thế nào dạy tốt, dạy hay Phải đổi mới phơng pháp giảng dạy để cho mỗi giờ học thực sự nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả Học sinh phải nắm chắc các kỹ năng viết Tiếng Việt
Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học đợc chia thành nhiều phân môn nhỏ.Tập đọc, tập viết, luyện từ và câu, riêng phân môn chính tả thì kỹ năng viết đúng chính tả có vai trò đặc biệt lớn đối với học sinh Vì viết là một hoạt
động giao tiếp, đồng thời là công cụ để học tập các môn học khác Chỉ đọc tốt nói tốt thôi cha đủ, vì nói chỉ là một trong những hình thức giao tiếp khác nhngôn ngữ văn bản, ngôn ngữ tín hiệu, ngôn ngữ
Trang 4ám hiệu ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong sự phát triển không ngừng của xã hội Do đó viết đúng chính tả có vai trò to lớn trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ bằng văn bản Các em rất cần sự giúp đỡ của thầy cô giáo trong hình thành kỹ năng viết chính tả.
1.2 Lý do chủ quan:
Nhiều ngời cho rằng học sinh tiểu học chỉ cần biết đọc biết viết Chính vì lẽ đó hoạt động học để rèn kỹ năng viết chính tả cha đợc coi trọng đúng mức
Một số học sinh còn mải chơi, cha chăm chỉ học tập Phần đa hoàn cảnh gia đình các em còn khó khăn, do đó phụ huynh cha thực quan tâm tới việc học tập của con em mình
Mặt khác các em còn rất nhiều bỡ ngỡ khi đọc cũng nh khi viết các âm:
g / gh ; ch / tr ; r / d ; s / x ; l / n Cách trình bày một đoạn văn hay một khổ…thơ
Xuất phát từ mục tiêu trên tôi thấy thật cần thiết giúp các em có khả năng viết chính tả nhằm nâng cao chất lợng môn Tiếng Việt cho nên tôi đã tiến hành nghiên cứu:
“Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh lớp 3”
2 Mục đích nghiên cứu:
1.2 Tìm ra những biện pháp để hình thành và rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh
2.2 Tìm hiểu thực trang, nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh khi viết chính tả
2.3 Đề xuất một số biện pháp khắc phục những sai lầm thờng gặp trong khi viết chính tả của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Nhiệm vụ khái quát:
Trang 5Xây dựng và đề xuất một số biện pháp khắc phục những sai lầm thờng gặp trong khi viết chính tả của học sinh, nhằm nâng cao chất lợng môn Tiếng Việt.
3.2 Nhiệm vụ cụ thể:
- Điều tra thực trạng những sai lầm mà học sinh hay mắc phải trong khi học tập môn chính tả ở lớp 3
- Đề xuất và áp dụng một số biện pháp khắc phục những sai phạm trên
- Thống kê các kết quả thu đợc sau khi áp dụng những biện pháp
- Hệ thống lý luận, tổng kết rút kinh nghiệm
4 Đối tợng nghiên cứu: Học sinh lớp 3
6 Cơ sở nghiên cứu: Trờng tiểu học Thục Luyện
Phần II: Nội dung cơ bản
I Thực trạng ban đầu:
Trang 61 Khái quát tình hình địa phơng:
Trờng tiểu học Nguyễn Bá Ngọc nằm trong địa bàn thị trấn Thanh Sơn Thị trấn Thanh Sơn là trung tâm Kinh tế – Văn hoá - Chính trị của huyện miền núi Thanh Sơn nên thuận lợi về nhiều mặt Đại đa số dân c ở đây là công chức nhà nớc, bán nông nghiệp, buôn bán và nghề thủ công, trình độ dân trí cao, điều kiện kinh tế khá ổn định, Chính quyền thị trấn rất quan tâm đến các trờng học, học sinh trong khu vực thị trấn đợc sự quan tâm chu đáo của gia
Tổng số lớp của nhà trờng là 20 lớp với 391 học sinh, trong đó
* Tổng số cán bộ giáo viên: 2
Nữ : 49
* Trình độ cán bộ giáo viên:
Đại học: 13Cao đẳng: 9
Trang 7Tình hình giáo viên:
- Dạy đúng, đủ các môn học theo chơng trình của Bộ GD & ĐT quy
định Đẩy mạnh công tác đổi mới phơng pháp giảng dạy, nhằm phát huy khả năng tích cực sáng tạo của học sinh Tổ chức tốt các chuyên đề giảng dạy, bồi dỡng nâng cao phơng pháp giảng dạy tất cả các bộ môn Xây dựng giáo viên cốt cán trong chuyên môn Các tổ tích cực dự giờ, thăm lớp, rút kinh nghiệm trong việc đổi mới phơng pháp dạy học
Trờng tiểu học Kim Đồng có đội ngũ quản lý năng động sáng tạo trong công việc Là một trờng có bề dày thành tích nhiều năm liền đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc
Chuyên môn của nhà trờng đợc chia thành 02 tổ (Tổ 1, 2, 3 và tổ 4,5)
Đội ngũ giáo viên đủ về số lợng đảm bảo về chất lợng có nhiều giáo viên giỏi cấp Huyện, cấp Tỉnh Trờng có giáo viên năng khiếu và giáo viên dạy môn tự chọn Tập thể nhà trờng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau có ý thức tinh thần tự học hỏi và tự giác trong công việc
- Trong quá trình học tập học sinh thờng cha thực sự chú ý rèn chữ
- Học sinh mới bớc vào lớp đầu cấp của bậc học cho nên khả năng phân biệt và sử dụng những tiếng cùng âm còn nhiều bỡ ngỡ hạn chế Những quy tắc chính tả còn cha khắc sâu
Chính vì lẽ đó kết quả học tập của phân môn chính tả còn hạn chế dẫn
đến việc học sinh viết sai chính tả trong hành văn Nếu không có các biện pháp uốn nắn kịp thời sẽ có những ảnh hởng tiêu cực đến khả năng học tập các môn học khác, ảnh hởng đến sự giao tiếp và phát triển t duy của học sinh
Trang 8Qua quá trình nghiên cứu kết hợp với việc điều tra viết chính tả của học sinh lớp 2 C trờng tiểu học Kim Đồng đầu năm học 2006 – 2007 kết quả thu
Lên lớp 2, 3 các em phải biết vận dụng kiến thức đó vào các môn học khác Điều này cho thấy kỹ năng viết chính tả của một số em còn hạn chế so với yêu cầu Đây là một tồn tại phải khắc phục triệt để, nhằm giúp học sinh nhanh chóng rèn luyện kỹ năng viết, vừa để làm công cụ học tập các môn học khác, vừa để hình thành và phát triển khả năng t duy cho học sinh
- Một số em còn cha chú ý về chữ viết nên chữ viết còn cẩu thả
- Các em hầu hết đều viết theo cảm nhận, cha khắc sâu vào t duy, cha biết sử dụng quy tắc chính tả
c Về phía phụ huynh:
Trang 9- Một số phụ huynh chỉ quan tâm đến dấu hiệu bên ngoài của học tập đó
là biết đọc, biết viết ch… a đi sâu xem xét, kèm cặp đến hiện trờng viết sai chính tả, cách câu văn …
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến việc học sinh lớp 2 còn mắc lỗi chính tả sai nhiều Mặc dù có một số giáo viên có năng lực giảng dạy tốt, nhiệt tình xong chữ viết còn hạn chế Để khắc phục tình trạng này trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm tòi nghiên cứu và đã vận dụng một số biện pháp trong giảng dạy và thu đợc kết quả khả quan
II Những biện pháp đã tác động:
1 Gợi nhu cầu nhận thức cho học sinh:
“ Con ng… ời chỉ t duy tích cực khi có nhu cầu Hoạt động nhận thức chỉ có kết quả cao khi chủ thể ham thích, tự giác và tích cực”
mẹ Đặc thù môn chính tả đòi hỏi có các đức tính cần cù, nhẫn nại nh… ng học sinh tiểu học do tâm lý lứa tuổi thờng hay phân tán sự tập trung, chóng chán Hoạt động gợi nhu cầu nhận thức, gây hứng thú môn học có thể đợc sử dụng linh hoạt trong quá trình giảng dạy Không nhất thiết, đơn thuần chỉ sử dụng ngay đầu tiết dạy
2 Cá biệt hoá từng cá nhân:
Nhận thức là hoạt động trí tuệ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà hình thức thể hiện của nó là khả năng tiếp thu Khả năng tiếp thu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trờng Xây dựng môi trờng riêng cho mỗi cá nhân trong giờ học chính tả có vai trò quan trọng trong việc giúp các em lĩnh hội các kiến thức bài học Ta đã biết viết chữ là hoạt động đơn phức của hoạt động trí óc và
Trang 10hoạt động cơ bắp (Sự phối hợp thuần thục giữa ngón tay, bàn tay, cổ tay, t thế ngồi ) Do đó giáo viên cần nắm thật vững, thật cụ thể đặc biệt của từng cá…nhân trong thể lớp để từ đó xây dựng môi trờng riêng cho cá nhân trong đó hoạt động nhận thức tiếp thu bài.
VD : Học sinh A có tầm vóc thấp bé, cần bố trí chỗ ngồi hợp lý tránh tình trạng đứng viết hoặc viết trên ghế
VD : Học sinh B có thị lực yếu, cần bố trí vị trí ngồi hợp lý trong lớp để thuận tiện cho quá trình học tập
3 Khắc sâu cho học sinh quy tắc chính tả:
Trong quá trình dạy giáo viên cần thờng xuyên củng cố, khắc sâu cho học sinh các quy tắc chính tả tập trung ở dạng thức viết của cấu trúc âm tiết
Đó chính là con đờng hình thành kỹ năng chính tả Tiếng Việt
a Quy tắc chính tả đối với g / gh:
Âm đầu “gờ” đứng trớc i, e, ê viết là gh (gh + i, e, ê)
VD: Ghi chép, bài ghế …
Đứng trớc các nguyên âm khác viết là g (g + a, o, ô, )…
VD: Con gà, gò hàn …
b Quy tắc chính tả đối với g / gh
Âm đầu “ngờ” đứng trớc i, e, ê viết là ngh (ngh + i, e, ê)
VD: Nghỉ hè, củ nghệ …
Đứng trớc các nguyên âm khác viết là ng (ng + a, o, ô, )…
VD: Bắp ngô, bị ngã …
c Quy tắc chính tả đối với c / k:
Âm đầu “cờ” đứng trớc i, e, ê viết là k (k + i, e, ê)
VD: Kỷ niệm, thớc kẻ, kể chuyện …
Đứng trớc các nguyên âm khác viết là c (c + a, o, ô, )…
VD: Cá kho, cô giáo …
d Quy tắc chính tả đối với i / y:
Đối với những vần đợc ghi bằng y ở đầu vần thì không có âm bắt đầu nữa
Trang 11VD: Con yểng, yên tĩnh …
Đối với những vần đợc ghi bằng i ở đầu vần thì phải có âm bắt đầu
VD: Lời biếng, kiên nhẫn …Cần lu ý khi dạy các quy tắc chính tả, giáo viên phải thờng xuyên dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh các quy tắc này (không nên áp đặt) Theo kinh nghiệm của tôi, qua trình hình thành quy tắc nên phân chia thành 3 bớc
- Phân chia nhiệm vụ thực hiện quy tắc thành các bớc cụ thể
- Lần lợt giải quyết các bớc cụ thể theo một trình tự logic
- Vận dụng các kinh nghiệm thực tiễn vào giải quyết từng bớc cụ thể và giải quyết nhiệm vụ chung
VD: Dạy học phân biệt l / n trong cac chữ âm tiết
Nhiệm vụ chính tả ở trờng hợp này là giải quyết hiện tợng viết nh nói, nói sao viết vậy (nếu phát âm sai thì sẽ dẫn đến viết sai) Vì thế có thể liệt kê các nguyên nhân dẫn đến viết lẫn lộn l / n nh : Phát âm sai giữa l/ n, sai do biến thể ngôn ngữ địa phơng Trên cơ sở phân tích đó đề ra các b… ớc giải quyết cụ thể: So sánh phát âm l / n So sánh, đối chiếu, phân biệt giữa các từ có
l / n (lơng – nơng, ) để từ đó kích thích hứng thú tìm hiểu Các em nắm…chắc các hiện tợng, sau đó giáo viên mới hình thành quy tắc
4 Luyện kỹ năng chính tả qua các giờ học khác:
Các môn học khác có vai trò rất lớn trong việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả nh: Tập đọc, Tập viết, Kể chuyện …
- Khi tập đọc, khả năng phát âm của học sinh, khả năng nghe giọng đọc của giáo viên, hay của bạn bè giúp học sinh hình thành kỹ năng viết thông qua nhận diện chữ và âm Cụ thể hơn là tạo mối liên hệ giữa âm (khi nghe đọc) và chữ (khi nhìn sách theo dõi) từ đó khắc sâu vào t duy mối liên hệ
Chữ
Trang 12Theo các nhà ngôn ngữ học, chữ viết Việt Nam là chữ viết ghi âm (dùng chữ ghi lại âm thanh) Âm khi đọc (của ngời đọc) quyết định chữ khi viết (của ngời viết) Vì vậy cần phải đọc đúng viết đúng.Chữ viết là nhiệm vụ của phân môn Tập viết Nhng viết đúng kiểu, đúng dạng chữ lại là nội dung của phân môn Chính tả Vì vậy phân môn Tập viết có quan hệ rất gần gũi với phân môn Chính tả Tập viết xây dựng và củng cố các kỹ năng Chính tả, ngợc lại các kỹ năng chính tả lại đợc thể hiện nhiều ở hình thức viết Khi các kỹ năng chính tả
đợc hình thành đầy đủ thì chính nó quay lại điều khiển hoạt động viết
Do đó trong môn Tập viết giáo viên không chỉ dừng lại ở việc hớng dẫn học sinh viết đúng độ cao, đờng nét mà củng cố, khắc sâu cho học sinh các…quy tắc chính tả thông qua hoạt động viết nh: Dấu thanh phải đặt
đúng vị trí, những con chữ hay nhầm …
So với các môn học khác môn kể chuyện thu hút đợc sự chú ý cao của học sinh Giờ kể chuyện, ngoài nhiệm vụ phân môn, giáo viên cần củng cố rèn luyện cho học sing kỹ năng nghe, kỹ năng phân tích giữa âm và nghĩa thông qua sự tởng tợng trong trí óc về nội dung câu chuyện Từ đó hình thành mối liên hệ âm và nghĩa của từ Xác định đúng đợc nghĩa sẽ giúp học viết đúng đợc chính tả
VD: Con Dao (Viết “d”)
Bàn giao (Viết “gi”)
5 Rèn luyện kỹ năng nghe viết:
Đây là kiểu bài chính tả tổng hợp so với kiểu bài Nhìn – Chép trong kiểu bài này học sinh phải phối hợp các thao tác :
Trang 13Nghe (giáo viên đọc ) Viết (thao tác của học sinh) Nhìn (chữ đã viết) T duy (so sánh đối chiếu giữa âm, chữ viết với nghĩa của từ)
Do đó trong quá trình dạy giáo viên cần lu ý
- Trong khi đọc cần đọc to, chính xác, rõ ràng
- Đề cao vốn kinh nghiệm của học sinh đồng thời giúp các em phân biệt giữa từ miêu tả so với từ chỉ tên địa danh
VD: Bắc Kạn ≠ cạn nớc
- Trong giờ học giáo viên cần chú ý đến nguồn gốc dân tộc và địa bàn c trú của học sinh để phát hiện ra những biến thể phát âm của từ so với phát âm chuẩn để có biện pháp uốn nắn và giải thích kịp thời
VD: Viết sai do nguồn gốc dân tộc
Con Dao (Tiếng Việt)CáI Hái (Tiếng Mờng)
VD: Viết sai do tiếng địa phơng
Huyện (Tiếng Việt)Huện (Tiếng địa phơng)
Trang 14với chính âm cho nên không thể thực hiện phơng châm “Nghe nh thế nào ? viết nh thế ấy? ”
Ví dụ: Không thể viết là bo vang, ba vi (cách phát âm của phơng ngữ vùng Sơn Tây); hay: lo lăng, Buôn Mê Thuật (cách phát âm của phơng ngữ Thanh Hoá) Cũng nh những hạn chế nh vậy của ngời viết nói chung và của ngời dân Thanh Sơn nói riêng cho nên ngay từ đầu năm học tôi phải đặt ra những vấn đề luyện phát âm cho học sinh nhất là các tiếng có chứa phụ âm
đầu l / n
Để thực hiện tốt vấn đề này chúng tôi tiến hành kiểm tra từng em qua các giờ tập đọc, nếu thấy phát hiện ra em nào sai, sửa sai cho em đó bằng cách cho các em luyện đọc nhiều lần, giáo viên phát âm trớc học sinh phát âm sau Muốn cho học sinh phát âm đúng thì đòi hỏi giáo viên phải phát âm chuẩn hay hớng dẫn học sinh phát âm đúng bằng cách uốn cong đầu lỡi (đối với phụ âm l) hoặc giữ đầu lỡi không đợc uốn lên đối với phụ âm n …
Giáo viên yêu cầu học sinh tìm trong bài những tiếng có phụ âm l /n,
ch / tr sau đó cho học sinh phát âm Khi phát hiện ra những học sinh phát âm sai thì cần sửa sai cho những học sinh đó bằng cách giáo viên phát âm mẫu sau
đó học sinh phát âm theo
7 Lựa chọn ngữ điệu phù hợp:
Để giảm bớt lỗi sai chính tả l / n, ch /tr cho học sinh trớc hết thì đòi hỏi ngời giáo viên phải có biện pháp sao cho phù hợp với khả năng sự tiếp thu từng học sinh đa ra những tình huống yêu cầu cụ thể, rõ ràng chẳng hạn phải lựa chọn những bài tập đọc mà trong đó chứa nhiều phụ âm l / n,
ch / tr để học sinh đọc đợc tiếp cận nhiều hơn với các kiểu phụ âm này
Giáo viên đa ra những tình huống cụ thể và giải nghĩa một số từ học sinh dễ nhầm lẫn
VD : Từ “No” và từ “lo” khi phát âm nếu không phát âm chuẩn 2 từ này rất dễ nhầm lẫn nghĩa của nhau
Từ “no” nghĩa của nó là chỉ lợng thức ăn vào dạ dày tơng đối đầy đủ thì xuất hiện trạng thái no Còn từ “lo” chỉ sự suy nghĩ của con ngời về một vấn