1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

skkn mon chinh ta lop 5

11 321 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 121,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân môn chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các quy tắc và các thói quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt.. Ngay từ đầu ở bậc Tiểu học trẻ cần phải được học môn chí

Trang 1

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Chúng ta đều biết rằng: “ Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động giao tiếp” Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta không chỉ lúc nào cũng giao tiếp bằng ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết đóng vai trò quan trọng của Tiếng Việt Yêu cầu đầu tiên và quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả Có nghĩa là khi thể hiện ngôn ngữ viết cần phải tuân theo hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Hay nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của ngôn ngữ viết được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân Mục đích của nó là phương tiện thuận tiện cho việc giao tiếp bằng chữ viết làm cho người viết và người đọc đều hiểu thống nhất những điều đã viết Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ mới không bị cản trở giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước và đời sau

Vì vậy việc dạy chính tả đúng phải được coi trọng ngay từ bậc Tiểu học Việc dạy chính tả được hiểu như rèn luyện việc thực hiện những chuẩn mực của ngôn ngữ viết ở các lớp Tiểu học, chính tả sẽ tạo điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ cả một đời người trong các em

Qua được học chính tả, các em nắm bắt được các quy tắc chính tả và hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả Từ đó có thói qnen viết đúng chính tả, giúp cho

sự hoàn thiện nhân cách của học sinh Nó bắt đầu từ việc thuận tiện trong tiếp thu tri thức qua các môn học ở Tiểu học đến việc xây dựng các văn bản trong quá trình giao tiếp trong học tập

Chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học bao gồm nhiều phân môn Phân môn chính tả có nhiệm vụ chủ yếu rèn cho học sinh nắm các quy tắc và các thói quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng Việt Cùng với các phân môn khác,

Trang 2

chính tả giúp cho học sinh chiếm lĩnh văn hoá, là công cụ để giao tiếp, tư duy để học tập, trau dồi kiến thức và nhân cách làm người Ngay từ đầu ở bậc Tiểu học trẻ cần phải được học môn chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có thể sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cả cuộc đời

Chính tả có tầm quan trọng như vậy nên môn học này cần phải được coi trọng ở các trường Tiểu học Nhưng trên thực tế ở địa phương tôi, hiện tượng học sinh viết sai chính tả là khá phổ biến Cụ thể ở lớp tôi, hiện tượng học sinh viết sai chính tả nhất là những âm dễ lẫn lộn như: s – x; tr – ch và dấu ngã Vấn

đề này có thể do học sinh phát âm sai dẫn đến hiểu sai và viết sai chính tả Bên cạnh đó hệ thống sách giáo khoa, bài tập chính tả chưa xây dựng theo vùng, miền Nên việc dạy và học chính tả còn gặp nhiều khó khăn

Trước tình hình như vậy, việc nhìn nhận lại thực trạng về việc dạy chính

tả để từ đó tìm ra một số giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng học chính tả cho học sinh là hết sức cần thiết Đặc biệt là việc cải tiến cách dạy chính tả sao cho khoa học, cho hiệu quả hơn Coi trọng phương pháp dạy chính

tả có ý thức để việc viết đúng chính tả trở thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh ngay từ lớp đầu cấp

Xuất phát từ những quan điểm trên, tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu

kinh nghiệm: “Giúp học sinh viết đúng Chính tả ở lớp 5” để góp phần nâng

cao chất lượng dạy – học phân môn Chính tả

II NỘI DUNG:

1.CƠ SỞ LÝ LUẬN:

1.1/ Cơ sở về ngữ âm học.

a Mối quan hệ giữa âm chữ và nghĩa.

- Chữ viết của Tiếng Việt là chữ viết ghi âm nên nguyên tắc chính tả chủ yếu của Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là mỗi âm vị được thể hiện

Trang 3

bằng một tổ hợp chữ cái, mỗi âm tiết, mỗi từ có một cách viết nhất định Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng Để phát huy một cách có ý thức đặc biệt là những vùng phương ngữ, việc dạy chính tả phải theo sát nguyên tắc này Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để điều chỉnh chữ viết

b Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ.

Ở Tiếng Việt, nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học, ngoài ra chính tả Tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc như: Nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt… Khi viết chính tả phát âm thế nào thì viết thế ấy Hiện tượng cách phát âm ở những vùng miền khác nhau (phương ngữ), trong khi đó hệ thống ghi âm tiêu chuẩn của Tiếng Việt lại chưa được xác định một cách chính thức Do đó khó có thể phổ biến rộng rãi hệ thống ấy được Hơn nữa trong Tiếng Việt việc phát âm không phù hợp với tiêu chuẩn lại có trường hợp trong đó một từ đồng thời mang hai biến thể phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn

Ví dụ: chong chóng – trong tróng

Hoặc có khi cùng một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết

Ví dụ: /z/

/i/

Bản thân hệ thống âm vị Tiếng Việt còn một số vị âm không ghi thống nhất, một âm có thể ghi bằng nhiều con chữ

/k/

d: dải lụa gi: giải thÝch

i: lÝ luận y: Lý Thường Kiệt

c (con cuốc)

k (c¸i kim)

q (tổ quốc)

Trang 4

Hoặc trong bộ chữ cái Tiếng Việt còn chữ “h” là một hiện tượng đặc biệt.

Nó vừa sử dụng độc lập làm đại diện cho phụ âm /h/ thể hiện bằng con chữ “h”, vừa được sử dụng theo cách ghép với các con chữ khác làm đại diện cho 7 âm nữa đó là: ch, gh kh, nh, ngh, ph, th Do vậy khi sử dụng cần chú ý không nên lầm tưởng là trong Tiếng Việt có phụ âm kép Dù “h” đứng một mình hay “h” đứng sau các chữ khác (c, g, k, n, ng, p, t) thì ch, gh, kh, nh, ngh, ph, th đều có giá trị như nhau Mỗi hình thức trong 7 hình thức đó đều chỉ thay thế cho 1 âm

mà thôi Do vậy có quan niệm g đơn, g kép, ng đơn, ng kép là bất hợp lý Cách nhận biết tốt nhất về “ng” và “ngh” là dựa vào khả năng kết hợp chung với nguyên âm

Trước những bất hợp lý trên, việc xác định những trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng những biến thể phát

âm địa phương, đồng thời phải giải nghĩa để sử dụng dựa vào các văn cảnh cụ thể để ghi nhớ cho học sinh cách phân biệt chính tả

Do vậy hai nhiệm vụ chủ yếu của việc đề cao nguyên tắc dạy học chính tả

có ý thức là: giải quyết những vấn đề tồn tại của chữ quốc ngữ Tôn trọng nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực, phải chú ý cách phát âm của địa phương

1.2 Cơ sở thực tế.

Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học nhận thức hiện thực khách quan mang đậm màu sắc cảm tính Các giác quan như tai, mắt được sử dụng nhiều trong nhận thức sự vật, cho nên trực quan cụ thể là những yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên nhận thức và tư duy của học sinh Tiểu học “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Khi dạy chính tả cho học sinh Tiểu học cần vận dụng triệt để đặc điểm, nhận thức của trẻ em ở lứa tuổi này

VD: Nghe và quan sát cách phát âm đúng để phát âm đúng Quan sát cách viết đúng để viết đúng , dần dần học sinh sẽ tích luỹ được những kinh nghiệm, làm giàu thêm tri thức chính tả cho bản thân Kết quả là các em nhận thức được những vốn kinh nghiệm một cách có ý thức, tạo nên kĩ năng kĩ xảo cho các em

Trang 5

Từ đó giúp các em dễ dàng trong việc tiếp thu các tri thức của các môn học, nhất là trong phân môn Tập làm văn

2 NỘI DUNG:

2.1/ Thực tế trình độ chính tả của học sinh Tiểu học.

Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu khảo sát sách vở chính tả, vở tập làm văn của học sinh bản thân tôi nhận thấy: Vở chính tả, tập làm văn của các

em và các vở khác mắc khá nhiều lỗi chính tả Thống kê số lỗi chính tả của các

em tôi thấy có 2 lỗi cơ bản sau

- Lỗi chính tả do không nắm vững chính tả: lỗi này thường gặp khi viết các phụ âm đầu: d/gi; ch/tr; ng/ngh

- Lỗi do không nắm vững cấu trúc âm tiết của Tiếng Việt và không hiểu cấu trúc nội bộ của âm tiết Tiếng Việt nên học sinh viết sai

VD: quanh co; khúc khuỷ; ngoằn nghèo

Để sửa lỗi này tôi đã cố gắng dạy cho học sinh nắm vững âm chính trong Tiếng Việt Muốn viết đúng chính tả thì phải phát âm đúng vì chính âm đi trước chính tả Do vậy tôi phải chú trọng việc phát âm chuẩn cho học sinh trong các giờ tập đọc Ngoài ra việc đổi mới các phương pháp dạy học và áp dụng qui trình soạn giáo án theo hướng đổi mới, giúp học sinh nắm bắt các mẹo luật chính tả cũng hết sức cần thiết để giúp học sinh viết đúng chính tả Trong phạm

vi nghiên cứu đề tài, tôi xin được thống kê số liệu học sinh mắc lỗi chính tả ở lớp tôi thu được đầu năm như sau

Lớp Tổng số

học sinh

Các lỗi chính tả thường mắc

/ ˜ d/gi/r; tr/ch; s/x; g/gh Cấu trúc âm tiết

Thực tế về chất lượng dạy chính tả của giáo viên Tiểu học còn hạn chế Giáo viên ra trường còn gặp nhiều lúng túng về nội dung và phương pháp và cách rèn kỹ năng cho học sinh Những tồn tại trên dẫn đến chất lượng học chính

tả của học sinh còn nhiều hạn chế Để khắc phục tình trạng này thì trước hết cần phải thường xuyên bồi dưỡng giáo viên để giáo viên có đủ kinh nghiệm, trình

Trang 6

độ giúp học sinh nắm được quy tắc chính tả, hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính

tả, bỏ được thói quen phát âm sai, viết sai

2.

2/ Về chương trình sách giáo khoa (SGK)

Trước hết phải khẳng định rằng môn Tiếng Việt ở Tiểu học SGK đã xác định được những trọng điểm chính tả cơ bản cần dạy cho học sinh Các bài tập trong SGK cũng khá đa dạng, phù hợp với từng khối lớp và cấu trúc đi từ dễ đến khó

Tuy nhiên về hạn chế SGK còn đánh đồng nội dung dạy học trong cả nước cho nên có thể nói nội dung dạy chính tả trong SGK Tiếng Việt vừa thừa lại vừa thiếu do chưa sử lý được việc dạy chính tả theo khu vực Thừa ở các em vừa phải luyện tập ở cả những nội dung mà các em đã biết, không mấy khi sai sót Thiếu ở chỗ không đủ thời gian để đi sâu hơn, luyện tập nhiều hơn để tránh những lỗi mà các em thường mắc phải Nội dung chính tả được trình bày trong SGK Tiểu học còn mang tính ngẫu nhiên, chủ quan, áp đặt, không được xây dựng dựa trên sự điều tra khảo sát tình hình chính tả ở từng vùng, từng khu vực Chính tả trong SGK chưa thống nhất, điều này cũng gây không ít khó khăn cho việc dạy học chính tả ở Tiểu học

3 HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.

Qua kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn tôi nhận thấy rằng trọng điểm chính tả mà học sinh lớp tôi mắc phải chính là do lỗi phát âm địa phương không phân biệt được giữa d/gi/r; ch/tr; s/x; g/gh Trước thực tế như vậy, bản thân tôi phải hết sức cố gắng nỗ lực nhiều mặt như: tâm lý học lý luận dạy học, các kiến thức về ngữ âm, về văn học làm sao phải để học sinh “tâm phục khẩu phục”

Có như vậy chất lượng giáo dục chính tả vùng phương ngữ mới thu được kết quả như mong muốn

Muốn làm được điều đó, trước hết tôi phải đặt phân môn chính tả nằm trong mối quan hệ giữa các phân môn khác của Tiếng Việt, đặc biệt là phân môn tập đọc, Luyện từ và câu Học sinh muốn viết đúng được thì phải hiểu được nghĩa và phát âm đúng từ đó Nếu học sinh phát âm sai, tuỳ tiện sẽ dẫn đến hiểu sai và viết sai hoặc do thói quen lâu ngày không được sửa chữa Trong

Trang 7

các giờ tập đọc, tôi dành nhiều thời gian hơn cho việc sửa lỗi phát âm cho học sinh Giáo viên phát âm mẫu cho học sinh học tập và hướng dẫn cách phát âm tỉ

mỉ Đặc biệt tôi không bao giờ được phạm sai lầm về lỗi phát âm này Nếu không việc sửa lỗi của giáo viên sẽ mất tác dụng

Ngoài ra tôi hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả trên cơ sở hiểu đúng nghĩa của từ Muốn viết đúng một từ, học sinh phải biết đặt từ đó trong mối quan hệ với cụm từ và các văn bản Nếu ta tách từ đó ra khỏi văn bản có thể học sinh sẽ không hiểu được nghĩa và do đó dẫn đến việc viết sai chính tả

VD: Khi đọc tiếng “cuốc” nếu không đặt nó trong mối quan hệ, cụm từ, câu thì rất khó xác định nghĩa để viết đúng Nhưng nếu đặt nó trong câu: “Mẹ

em vác cuốc ra đồng” hoặc trong từ “Tổ quốc” thì học sinh dễ dàng viết đúng

Bên cạnh đó muốn học sinh viết đúng giáo viên phải cho học sinh nắm được khả năng kết hợp của các kí hiệu từ trong các trường hợp sau:

+ Các con chữ phụ âm kết hợp với các con chữ nguyên âm để tạo nên phụ

âm đơn như “gi”, “qu” Con chữ phụ âm đi trước, con chữ nguyên âm đi sau Trong thực tế chính tả, khi xuất hiện “q” thì nhất thiết sẽ có “u” đi kề liền Đây

là luật yêu cầu học sinh cần nắm vững

+ Các con chữ phụ âm kết hợp với nhau để tạo nên phụ âm đơn

VD “ngh”, “ng”, “gh”, “tr” Trong Tiếng Việt dùng 9 kí hiệu từ đơn: ph, th,ch, kh, nh, ng, gh, ngh, tr Với hình thức chuỗi như vậy không bao giờ được phép kết chuỗi đảo ngược các thứ tự sắp xếp như rt, hn

+ Các con chữ nguyên âm kết hợp với nhau để tạo nên một kí tự nguyên

âm đôi VD: iê, ia, ươ, uô, ua, uâ

Trong quá trình giảng dạy, tôi cung cấp kiến thức này cho các em Tổng kết lại /V/ chỉ kết hợp các âm không tròn môi, không nên kết hợp với các nguyên âm tròn môi

Một điều rất quan trọng trong dạy chính tả là dạy cho các em biết được một số mẹo luật chính tả

- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một

Trang 8

cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k,gh,ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê,

iê, ie Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:

+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi…

+ Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…

+ Luật bổng - trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng) Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho

học sinh thuộc 2 câu thơ:

Em Huyền mang nặng, ngã đau

Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào

Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại)

Ví dụ: * Bổng

Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…

Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…

Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…

* Trầm:

Huyền + ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã

Trang 9

Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…

Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo…

+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn:

Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập

ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…

Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng

đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…

Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân

Ngoài ra còn một số mẹo phân biệt “ch” với “tr”, “s” với “x” Những lỗi này học sinh lớp tôi cũng mắc phải nhưng ít hơn Tuy nhiên trong một số trường hợp học sinh vẫn có thể mắc lỗi Do vậy tôi cần nắm được để hướng dẫn cho các em Chẳng hạn “tr” không đứng trước những chữ bắt đầu bằng âm đệm nhưng “ch” thì có.VD: ôm choàng, bị choáng

“tr” không bao giờ láy với “ch” và ngược lại Do đó chỉ có những từ láy cùng láy âm “tr” hoặc “ch” như: Chăm chỉ, trâng tráo, trân trân

Hoặc phân biệt s/x như: Các từ chỉ tên thức ăn hoặc đồ dùng liên quan đến thức ăn thì viết là “x” VD: Xôi, xào, xoong

Những từ chỉ thiên nhiên hoặc chỉ tên cây cối, các loại quả thì viết là “s” VD: Ngôi sao, giọt sương, sen, súng

Tuy nhiên tất cả những mẹo luật trên chỉ ở mức độ tương đối Người giáo viên phải biết áp dụng linh hoạt để giảng dạy cho các em

* Một số điểm cần lưu ý khi dạy theo quy trình một tiết chính tả theo hướng đổi mới

Trang 10

- Bước “câu hỏi gợi ý tìm hiểu nội dung đoạn viết” là bước hiệu quả chính tả thấp Vì nội dung hầu hết các em đã nắm được thông qua các bài tập đọc Bước này không kéo dài sẽ lãng phí thời gian, tăng cường cho luyện tập (với những bài chính tả so sánh mà nội dung bài không có trong danh sách tập đọc thì giáo viên có thể hỏi qua về nội dung đoạn viết)

- Bước “luyện viết chữ khó, phân biệt các cặp từ so sánh” và bước “luyện tập” có thể nhập làm thành một Đây là bước quan trọng để giúp học sinh không mắc lỗi chính tả, giáo viên cần lưu ý

- Bước “chấm và chữa bài” nên đặt ở cuối cùng trong tiết học vì việc đánh giá kết quả học sinh phải đặt sau quá trình luyện tập

Để tiết dạy chính tả đạt kết quả cao, gây hứng thú trong học tập cho học sinh, tôi thường tổ chức hoạt động học dưới hình thức trò chơi như tìm nhanh các cặp từ so sánh đối lập, tìm những bài hát ở Tiểu học có phụ âm đầu là n/l

Mục đích cuối cùng của bài chính tả là phải ghi nhớ các trường hợp viết đúng một cách có ý thức mà trong đó thực chất của loại bài so sánh là: giúp học sinh nắm vững nội dung ngữ, nghĩa của từ gắn với chữ viết Tôi so sánh để phân biệt những trường hợp dễ lẫn lộn cho các em Soạn ra những bài luyện tập phù hợp với các em ở địa phương mình Cho học sinh đặt câu với những từ dễ mắc lỗi hoặc có thể đưa ra những đoạn văn, đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗi, tìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng

Qua việc tìm hiểu nguyên nhân là: tìm được những trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh lớp tôi Qua một thời gian thực hiện, kết quả thu được như sau:

Số

TT

Lớp T.số học

sinh

Các lỗi chính tả thường mắc

/ ˜ tr/ch; s/x; gh/g cấu trúc âm tiết

III KẾT LUẬN CHUNG VÀ ĐỀ XUẤT:

Ngày đăng: 19/06/2015, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w