Với trách nhiệm đào tạo ra nguồn nhân lực chính thúc đẩy cho sự phát triển của huyện Đan Phượng nói riêng và đất nước nói chung, các nhà giáo dục, đặc biệt là các nhà QLGD cần phải ý thứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HÀ THỊ THÙY LINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HÀ THỊ THÙY LINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 8 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Thu Hằng
Hà Nội - 2017
Trang 3Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Thị Thu Hằng – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện
và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình khảo nghiệm thực tế
Xin được gửi lời đến người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu trong thời gian qua
Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hà Thị Thùy Linh
Trang 4ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông BGH : Ban giám hiệu
CNTT : Công nghệ thông tin GDĐĐ : Giáo dục đạo đức GDTX : Giáo dục thường xuyên GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo GVBM : Giáo viên bộ môn GVCN : Giáo viên chủ nhiệm HĐND : Hội đồng nhân dân
HS-SV : Học sinh – sinh viên LLGD : Lực lượng giáo dục LLQL : Lực lượng quản lý
NGLL : Ngoài giờ lên lớp TNCS HCM : Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh TNVN : Thanh niên Việt Nam
THCS : Trung học cơ sở UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Đạo đức, GDĐĐ, hoạt động GDĐĐ 9
1.2.2 Quản lý,quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 11
1.2.3 Cộng đồng, huy động cộng đồng 13
1.3 Lý luận chung về hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng 14
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của GDĐĐ đối với việc phát triển toàn diện cho HS THPT 14 1.3.2 Mục tiêu, nội dung, phương pháp GDĐĐ cho HS THPT 15
1.3.3 Vai trò của cộng đồng trong giáo dục đạo đức cho HS THPT 17
1.3.4 Sự phối hợp giữa các lực lượng trong cộng đồng và nhà trường trong GDĐĐ cho HS THPT 18
1.3.5 Vai trò của Hiệu trưởng trường THPT trong việc phát triển mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng 19
1.4 Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng 20
1.4.1 Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường, gia đình, cộng đồng về sự phối hợp trong GDĐĐ cho HS THPT 20
1.4.2 Lập kế hoạch xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho HS THPT 21
Trang 6iv
1.4.3 Triển khai kế hoạch phối hợp với gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho HS
THPT 22
1.4.4 Chỉ đạo các hoạt động phối hợp với gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho HS THPT 22
1.4.5 Giám sát và đánh giá các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng 23
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng 23
1.5.1 Các yếu tố khách quan 23
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 25
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2 28
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘITHEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 28
2.1 Giới thiệu về đặc điểm kinh tế, xã hội và giáo dục huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 28
2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội 28
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục huyện Đan Phượng những năm qua 28
2.1.3 Vài nét về các trường THPT huyện Đan Phượng - thành phố Hà Nội 30
2.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT công lập thuộc huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng 32 2.2.1 Mục đích 32
2.2.2 Nội dung 32
2.2.3 Phương pháp 33
2.2.4 Đối tượng 34
2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng 34
2.3.1 Kết quả thực trạng hoạt động GDĐĐ cho HS của các trường THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 34
2.3.2 Kết quả thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng 41
Trang 7v
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT huyện
Đan Phượng thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng 50
2.4.1 Những điểm mạnh 50
2.4.2 Những điểm còn hạn chế 51
2.4.3 Nguyên nhân 52
Tiểu kết chương 2 54
CHƯƠNG 3 55
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP THUỘC HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘITHEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 55
3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS 55
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 55
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 55
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 55
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi, hiệu quả 56
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS THPT56 3.2 Các biện pháp đề xuất trong quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng 56
3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức về vai trò vàt trách nhiệm của việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 57
3.2.2 Tổ chức xây dựng kế hoạch phối hợp và phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội để GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 60
3.2.3 Cải tiến cách thức triển khai kế hoạch xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 62
3.2.4 Thành lập ban chỉ đạo các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc GDĐĐ cho học sinh THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 66
Trang 8vi
3.2.5 Đổi mới cơ chế giám sát mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng
và đánh giá hiệu quả của việc phối hợp này trong việc GDĐĐ cho HS THPT huyện
Đan Phượng, thành phố Hà Nội 68
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS 71
3.4 Khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của biện pháp đã nêu 72
3.4.1 Mục đích, nội dung, cách thức khảo nghiệm 72
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 73
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 84
Trang 9vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Thống kê học lực của HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
trong 03 năm gần đây (từ năm 2014 đến năm 2017) 30
Bảng 2.2 Thống kê hạnh kiểm của HS THPT huyện Đan Phượng trong 3 năm gần
trong việc GDĐĐ cho HS 45
Bảng 2.11 Tình hình trao đổi, phối hợp của nhà trường với cộng đồng trong việc
GDĐĐ cho HS 46
Bảng 2.12 Tỷ lệ ý kiến đánh giá mức độ tác động của các yếu tố bối cảnh đến hiệu
quả quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS 49
Bảng 3 1 Kết quả thăm dò ý kiến về tính cấp thiết các biện pháp quản lý hoạt động
GDĐĐ cho HS 73
Bảng 3.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS 74
Trang 10viii
DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1 Tính cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 74 Biểu đồ 3.2 Tính khả thi của các biện pháp 75
Trang 11trong câu tục ngữ: “Tiên học lễ, hậu học văn”, muốn nói rằng con người trước khi học văn hóa phải học đạo đức, học lễ nghĩa “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự
lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kỹ năng
Ngày nay, phương châm “Dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ
tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ GDĐĐ luôn được quan tâm hàng đầu Sinh
thời, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến vấn đề GDĐĐ: “Dạy cũng như
học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định ” Người
cho rằng: “Có tài không có đức chỉ là người vô dụng Có đức mà không có tài thì
làm việc gì cũng khó”
Quan niệm về vai trò của GDĐĐ đã được khẳng định từ lâu, tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển không ngừng của xã hội, vấn đề GDĐĐ và đẩy mạnh GDĐĐ lại phải đối mặt với nhiều thách thức mới Có thể nói từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường và bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng
và toàn diện thì việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xây dựng hệ giá trị đạo đức mới phù hợp với thực tiễn ở nước ta đã và đang đặt
ra nhiều vấn đề cần giải quyết Việc hội nhập kinh tế thị trường sâu rộng cùng với
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã kéo theo sự thay đổi hệ thống định hướng giá trị của một bộ phận lớn người dân Việt Nam, làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực và ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống của rất nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là HS, sinh viên Đánh giá thực trạng này, tại Hội nghị lần thứ 2 Ban
Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII đã nhấn mạnh: “Đặc
biệt đáng lo ngại trong một bộ phận HS, SV có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước”
Trang 122
Lứa tuổi HS THPT là thời kỳ sự phát triển thể chất đã bước vào giai đoạn phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Đây cũng là thời kỳ nhân cách được định hình và phát triển dưới những sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố bên ngoài Chính
vì vậy, việc GDĐĐ để hình thành cho các em – đối tượng chuẩn bị trở thành chủ nhân tương lai của đất nước – những thói quen trong hành vi để trở thành phẩm chất đạo đức trong nhân cách là một trong những công việc quan trọng để trang bị cho các em hành trang vững vàng trước khi bước vào cuộc sống
Huyện Đan Phượng là huyện đầu tiên của thành phố Hà Nội được Phó Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là huyện đạt chuẩn “Nông thôn mới” khi đáp ứng đủ rất nhiều tiêu chí được đề ra trong đó có tiêu chí về giáo dục đào tạo Trong những năm gần đây, huyện Đan Phượng là một trong những khu vực có tốc
độ đô thị hóa mạnh mẽ và có nhiều chuyển biến về các mặt kinh tế, xã hội, giáo dục
và văn hóa Các em HS nói chung và các em HS THPT trên địa bàn huyện Đan Phượng nói riêng rất dễ dàng tiếp nhận những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực do sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và hội nhập Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chưa thực sự chặt chẽ cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống, hành vi vi phạm pháp luật
và việc HS THPT đánh nhau mang tính chất bạo lực xảy ra trong thời gian gần đây Tại các trường THPT huyện Đan Phượng trong giai đoạn gần đây những hành vi như trốn học, trộm cắp, nghiện trò chơi điện tử, hút chích ma túy…đặc biệt là tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng, đối tượng không chỉ là nam học sinh
mà còn có cả nữ học sinh Tình trạng nữ học sinh bỏ học vì mang thai ở tuổi vị thành niên cũng có chiều hướng gia tăng
Với trách nhiệm đào tạo ra nguồn nhân lực chính thúc đẩy cho sự phát triển của huyện Đan Phượng nói riêng và đất nước nói chung, các nhà giáo dục, đặc biệt
là các nhà QLGD cần phải ý thức được sự cần thiết phải chấn chỉnh tình trạng xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận HS THPT và cần phải định hướng tìm tòi các biện pháp quản lý tốt nhất hoạt động GDĐĐ cho HS, huy động được cộng đồng tham gia vào hoạt động GDĐĐ cho HS nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
Mặc dù có rất nhiều các biện pháp đã được nghiên cứu và đề xuất, nhưng trên thực tế thì hiệu quả đem lại chưa cao Có những ý kiến cho rằng việc GDĐĐ
Trang 133
cho HS bậc tiểu học và THCS được làm rất tốt nhưng khi đến bậc THPT thì đạo đức của các em HS lại đi xuống Vậy nguyên nhân do đâu? Phải chăng chỉ GDĐĐ cho HS trong nhà trong là chưa đủ mà cần huy động được cả gia đình và cộng đồng tham gia tích cực vào việc GDĐĐ cho HS? Xuất phát từ những lý do khách quan và
chủ quan nói trên, tôi chọn đề tài “ Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng” Tôi
rất mong muốn sẽ góp phần hoàn thiện hơn việc QLGD đạo đức cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng trong giai đoạn hiện nay, từ đó có những đề xuất, kiến nghị hữu ích tới Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT trên toàn quốc theo hướng huy động cộng đồng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động giáo dục đạo cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng, luận văn lý giải và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng, qua đó có những đề xuất, kiến nghị hữu ích tới Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT trên toàn quốc
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng
- Phân tích thực trạng hoạt động GDĐĐ cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng trong giai đoạn hiện nay, qua đó có những đề xuất, kiến nghị hữu ích tới Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công
Trang 144
tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPTquốc theo hướng huy động cộng đồng
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng như thế nào?
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo cho HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng hiện nay được thực hiện như thế nào?
- Biện pháp quản lý nào sẽ giúp cho chủ thể quản lý các hoạt động phối hợp hiệu quả giữa các lực lượng nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc GDĐĐ
cho HS THPT?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Chất lượng GDĐĐ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhiều khâu trong quá trình đào tạo, trong đó một trong những yếu tố quan trọng đó là công tác quản lý hoạt động GDĐĐ Trong những năm gần đây, việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho
HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã có những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết và chịu nhiều ảnh hưởng của các nhân tố ngoài nhà trường như gia đình và cộng đồng Chúng ta cần huy động các lực lượng ngoài nhà trường như gia đình và cộng đồng tham gia tích cực hơn nữa vào hoạt động GDĐĐ cho HS thì chất lượng GDĐĐ cho HS THPT sẽ được nâng cao
7 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT của ba trường THPT công lập huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội (Trường THPT Tân Lập, trường THPT Đan Phượng và trường THPT Hồng Thái) theo hướng huy động cộng đồng Qua đó, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT trên địa bàn Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng; có những đề xuất, kiến nghị hữu ích tới Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT trên toàn quốc theo hướng huy động cộng đồng
8 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu (bao gồm văn kiện, tài liệu lý luận, sách, báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu) nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, phỏng vấn, quan sát, lấy ý kiến chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm nhằm khảo sát, đánh giá công tác quản lý hoạt
Trang 155
động giáo dục và thu thập thêm các thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Các phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp thống kê toán học và sử dụng phần mềm tin học nhằm xử lý kết quả nghiên cứu
9 Những đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: góp phần làm rõ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng
- Về mặt thực tiễn: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho
HS THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng trong giai đoạn hiện nay, qua đó có những đề xuất, kiến nghị hữu ích tới Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT trên toàn quốc theo hướng huy động cộng đồng
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục cho HS các trường
trung học phổ thông theo hướng huy động cộng đồng
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường trung
học phổ thông công lập thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng
Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường
trung học phổ thông huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội theo hướng huy động cộng đồng
Trang 166
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử của nhân loại từ xưa đến nay, đạo đức có vai trò quan trọng và
là một bộ phận không thể thiếu trong nền tảng tinh thần của xã hội Đạo đức góp phần điều chỉnh hành vi của con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác vì nội hàm của nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức bao giờ cũng đề ra một tiêu chuẩn để hướng hành động, đồng thời nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức bao hàm giá trị của lời khuyên con người hướng đến cái thiện Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội,
từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế
Nhà giáo dục học và tâm lý học Liên Xô A.X.Makarenco đã nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể và đặc biệt nhấn mạnh vai trò của GDĐĐ Nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể của ông đã trở thành một trong năm con đường giáo dục được sử dụng rộng rãi hiện nay Theo quan điểm hiện đại, năm con đường giáo dục bao gồm: con đường hoạt động dạy học, con đường hoạt động lao động, con đường hoạt động xã hội, con đường hoạt động tập thể và con người hoạt động vui chơi Với hệ thống lý thuyết này, có thể thấy rằng nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể do Makarenco đề xuất hoàn toàn phù hợp và
có giá trị kế thừa trong giai đoạn phát triển mới của lĩnh vực giáo dục
Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà triết học và khoa học ngày nay, các quốc gia phát triển trên thế giới đều rất chú trọng đến GDĐĐ cho HS và đã đưa những chương trình giáo dục cụ thể vào trong trường trình giáo dục trong nhà trường Tại Nhật Bản, triết lý GDĐĐ đã được đưa vào chương trình khung quốc gia gồm 06 mục tiêu: 1 Tinh thần tôn trọng nhân phẩm; 2 Nhiệt tâm kế thừa, phát triển văn hóa truyền thống và sáng tạo văn hóa giàu tính cá nhân; 3 Nhiệt tâm phát triển một đất nước và xã hội dân chủ; 4 Ý thức đóng góp cho sự phát triển của một thế giới hòa bình; 5 Khả năng tự quyết định một cách độc lập ; 6 Ý thức đạo đức Với
sự quan tâm của chính phủ tới việc GDĐĐ được thể hiện một cách cụ thể như vậy,
có thể thấy rằng, GDĐĐ cho con người nói chung và HS, sinh viên nói riêng đã được xem như mục tiêu hàng đầu của ngành giáo dục nước Nhật Đây cũng là xu
Trang 177
hướng chung của rất nhiều quốc gia trên thế giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng mà còn là nhà tư tưởng lớn về đạo đức Vấn đề đạo đức luôn là một trong những vấn đề trọng tâm mà Người luôn chú trọng trong xây dựng đất nước và phát
triển con người Người đã từng nói: “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước,
không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [32, tr.252 – 253] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức là nền tảng của người cách mạng Để có được đạo đức cách mạng mỗi người phải
chăm lo tu dưỡng, kiên trì bền bỉ suốt đời “Đạo đức cách mạng không phải từ trên
trời sa xuống , nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng
cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [33, tr.293]
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu về vấn
đề này như: Hà Thế Ngữ, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thị Mỹ Lộc và nhiều tác giả khác
Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí và ý nghĩa của GDĐĐ cho HS với giáo trình “Giáo dục học tập 1 và tập 2”- Nxb giáo dục (1999) Trong các nghiên cứu của mình, tác giả Hà Thế Ngữ luôn chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học xã hội nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho HS
Trong đề tài khoa học cấp Nhà nước “Phát triển văn hóa, con người và
nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001-2005) do tác
giả Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm đã xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để khảo sát hành vi và hoạt động nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách, thực hiện GDĐĐ trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất
của việc thực hiện chất lượng giáo dục: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức
GDĐĐ trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho con người, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong
Trang 188
trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ, nâng cao nhận thức cho mọi người “ [47, tr.171-176]
Cuốn “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho HS trường trung học phổ thông (Tài liệu dùng cho giáo viên THPT)” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phương Liên đã tập trung vào nghiên cứu, hướng dẫn các phương pháp, kỹ năng giáo dục kỹ năng sống cho HS THPT, qua đó góp phần quan trọng trong việc bổ sung các kiến thức hữu dụng cho các giáo viên, nhà quản lý giáo dục
về GDĐĐ cho HS THPT, giúp nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS THPT
Ngoài ra còn có một số luận án tiến sỹ, đề tài thạc sỹ nghiên cứu vấn đề đạo đức, nhân cách HS, sinh viên Sự ra đời của các công trình nghiên cứu, luận văn, giáo trình… của rất nhiều nhà khoa học đã cho thấy sự quan tâm của những người làm công tác giáo dục đối với vấn đề GDĐĐ, đặc biệt là GDĐĐ cho HS Luận án tiến sĩ
“Quản lý sự liên kết của các trường THPT với các lực lượng xã hội trong xây dựng môi trường giáo dục hiện nay” của tác giả Lê Gia Thanh Luận án tiến sĩ “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay” của tác giả Mai Thị Như Hoa Luận văn thạc sĩ “Vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội hiện nay” của tác giả Trần Phúc Thăng Luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Cầu Giấy, Hà Nội” của tác giả Lê Thị Thanh Bình…
Vấn đề về đạo đức, GDĐĐ cho HSSV đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Các công trình nghiên cứu đã phân tích vấn đề GDĐĐ dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều sự tác động khác nhau, rất phong phú, đa dạng và có chiều sâu Tuy nhiên, qua các tài liệu tìm được, tác giả chưa thấy có công trình nào trực tiếp nghiên cứu GDĐĐ cho HS THPT theo hướng xã hội hóa giáo dục tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Vì vậy tôi chọn đề tài này với hy vọng góp một phần nhỏ để tham gia vào công tác giáo dục HS THPT của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội Những tư liệu trên là hết sức quý giá để tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu và đề xuất biện pháp giải quyết Tôi đã kế thừa trực tiếp những nghiên cứu trên đây, dựa vào sự gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để triển khai nghiên cứu của mình
Trang 19Dưới góc độ Triết học Mác – Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo Như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc [9,tr.137]
Dưới góc độ Đạo đức học, “đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc và chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội” [52, tr.12]
Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người [47, tr.170-171]
Đạo đức không xuất phát từ tiên nghiệm lại càng không phải lực lượng xuất phát từ bên ngoài xã hội, đạo đức là sản phẩm của xã hội Đạo đức được hình thành
từ mối quan hệ giữa con người với con người và mang bản chất xã hội Về bản chất, đạo đức là những quy tắc, chuẩn mực trong quan hệ xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong các hoạt động thực tiễn của xã hội và sự tồn tại của nó là do
xã hội quyết định Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở kinh tế, xã hội nên với mỗi hình thái kinh tế của mỗi một dân tộc tại mỗi một giai đoạn lịch sử khác nhau thì đạo đức lại có những nguyên
Trang 2010
tắc, chuẩn mực khác nhau Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các chuẩn mực đạo đức tại mỗi một hình thái kinh tế trong một giai đoạn lịch sử của một dân tộc cũng không thể phủ nhận tính nhân loại chung của đạo đức Như vậy, đạo đức vừa có tính giai cấp, tính dân tộc vừa có tính thời đại, tính nhân loại
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các quy tắc, chuẩn mực của đạo đức dần biến đổi Các giá trị đạo đức hiện nay là sự đan xen giữa giá trị đạo đức truyền thống và các giá trị đạo đức mới được xác lập dựa trên sự tiến bộ, phát triển của nhân loại
1.2.1.2 Giáo dục đạo đức
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến các
chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài xã hội đối với các cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [27, tr.23]
GDĐĐ cùng với các quá trình giáo dục khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông có vai trò quan trọng trong việc giúp HS hình thành và phát triển ý thức, niềm tin, tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức Từ đó giúp HS biết cách ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa bản thân với gia đình, bản thân với xã hội, với lao động, với tự nhiên và có trách nhiệm với chính bản thân mình, góp phần quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách cho HS
GDĐĐ cho HS THPT ngày nay là giáo dục cho các em tính trung thực, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, biết chia sẻ tình yêu thương…GDĐĐ giúp các em HS có những quan điểm nền tảng cơ bản về các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội Từ đó các em có cơ sở để nhận định, đánh giá, lựa chọn những phương thức ứng xử đúng đắn đối với các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như giúp các em có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống
1.2.1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức
Bản chất của hoạt động GDĐĐ là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những yêu cầu, đòi hỏi bên ngoài của xã hội về hành vi đối với mỗi cá nhân thành những nhu cầu, đòi hỏi từ bên trong của cá nhân trong các mối quan hệ, ứng xử hàng ngày đối với cộng đồng xã hội, từ đó biến thành niềm tin, thói quen của người được giáo dục
Trang 2111
Mục tiêu của hoạt động GDĐĐ cho HS là làm cho nhân cách của các em phát triển về đạo đức, giúp các em có những ứng xử đúng đắn trong các mối quan
hệ giữa bản thân đối với xã hội, đối với người khác và đối với chính bản thân mình
Hoạt động GDĐĐ cho HS trong nhà trường có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Chính từ việc được GDĐĐ, các em HS sẽ có những nền tảng, có những chính kiến của bản thân đối với các mối quan hệ, các vấn đề xảy ra xung quanh các em khi đó các em sẽ có những hành vi ứng xử đúng đắn
Hoạt động GDĐĐ cho HS THPT có quan hệ chặt chẽ với việc phối hợp với gia đình và xã hội nơi các em đang sinh sống và học tập Chính vì vậy, nhà trường cần áp dụng những phương pháp GDĐĐ với những mục tiêu đạo đức cụ thể và phối hợp được với gia đình, xã hội để đạt được những kết quả cụ thể
1.2.2 Quản lý,quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm cùng lúc với con người, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia trong mọi thời đại Quản lý hiện hữu và được biểu hiện trong mối quan hệ giữa con người với con người Trong lịch sử phát triển đã có rất nhiều các quan niệm cũng như các khái niệm khác nhau về quản lý
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt “Quản lý là một quá trình định
hướng, có mục tiêu Quản lý là hệ thống, là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chắc năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [38, tr.9]
Từ các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy quản lý có 4 chức năng cơ bản,
có liên quan mật thiết với nhau, kết hợp với nhau tạo thành một chu trình quản lý khép kín Bốn chức năng đó là: Chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra
1.2.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một bộ phận quan trọng của xã hội, vì vậy QLGD là một bộ phận
Trang 2212
không thể tách rời của hệ thống quản lý xã hội
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường hay nói rộng là quản lý
giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [45, tr.61]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành
phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [16]
Trong thực tế, “quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ
chức của cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [41, tr.16]
1.2.2.3 Quản lý nhà trường
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê Nin thì nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện các chức năng truyền thụ kinh nghiệm xã hội cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng xã hội
Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà trường ở Việt Nam: “Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của đất nước mình Vì vậy cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi, phải dạy cho họ có ý chí tự lập tự cương quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng học tập ở nhà trường chính là yếu tố quyết định đến việc xây dựng đất nước và có tầm quan trọng không thể phủ nhận
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó
diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy
và trò Trường học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [15, tr.63]
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng “Quản lý trường học là hoạt động của
các cơ quan quản lý, về bản chất là huy động các nguồn lực để tổ chức các hoạt
Trang 2313
động giáo dục trong nhà tròng theo mục tiêu giáo dục” [49]
Như vậy, nhà trường có thể coi là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội, đóng vai trò tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội Quản lý nhà trường luôn chịu sự tác động từ bên ngoài (từ các
cơ quan quản lý giáo dục cấp trên là phòng giáo dục, sở giáo dục và đào tạo các tỉnh, thành phố và Bộ Giáo dục và Đào tạo) và tác động từ bên trong (chủ thể quản
lý của chính nhà trường đó là ban giám hiệu nhà trường) Các sản phẩm do nhà trường tạo ra không phải là các loại hàng hóa thông thường mà đó là những con người có tri thức, nhân cách Vì vậy, quản lý nhà trường luôn là một công việc phức tạp, là một quá trình tác động có ý thức của bộ máy quản lý lên mọi đối tượng tham gia quá trình giáo dục của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra của nhà trường một cách hiệu quả
1.2.3 Cộng đồng, huy động cộng đồng
1.2.3.1 Cộng đồng
Theo quan điểm của Korten “Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau”
Tác giả Tô Huy Hợp thì cho rằng cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu
tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên
Như vậy cộng đồng được hiểu là tập hợp những con người có chung địa bàn sinh sống, có những mối liên kết xã hội nhất định, có chung những đặc điểm về kinh tế - xã hội - văn hóa dựa vào nhau cùng tồn tại và phát triển
Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm cộng đồng được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống kinh tế xã hội Phổ biến theo cách hiểu “cộng đồng có thể là một nhóm nhỏ dân cư cùng sinh sống tại một địa bàn địa lý” hoặc có thể là cộng đồng dân cư của một dân tộc hay nhiều dân tộc có nhiều đặc điểm chung (cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng các nước ASEAN…)
Trong lĩnh vực GDĐĐ cho HS, cộng đồng ở đây có thể hiểu đó là gia đình học sinh, chính quyền, đoàn thể , các cơ quan chức năng, các tổ chức kinh tế và cá nhân…ở địa phương Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi
Trang 24Sự gương mẫu của từng người, mối quan hệ giữa từng người với nhau từ gia đình tới cộng đồng, các phong trào văn hóa, phong trào xã hội như: phong trào đền
ơn đáp nghĩa, phong trào giữ gìn vệ sinh môi trường, phong trào thanh niên tình nguyện…đều có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách ở học sinh
Các nhà trường huy động cộng đồng vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh sẽ tạo điều kiện cho học sinh có thể tiếp cận với sự đa dạng của đời sống cộng đồng và xã hội, vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học vào các tình huống thực tế của cuộc sống, gắn cuộc sống của HS với các hoạt động của cộng đồng
1.3 Lý luận chung về hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của GDĐĐ đối với việc phát triển toàn diện cho HS THPT
Tháng 4 năm 2017 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã điều chỉnh lần cuối cùng sau khi tiếp thu ý kiến của hội đồng thẩm định Theo GS Nguyễn Minh Thuyết – tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, việc cải cách chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
là để đào tạo ra con người có phẩm chất nhân ái, khoan dung, chuyên cần, tiết kiệm, trách nhiệm, kỷ luật, trung thực, dũng cảm, có những năng lực cốt lõi: tự chủ, hợp tác, sáng tạo và một số năng lực chuyên biệt theo thiên hướng cá nhân cần cho các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp tương lai Việc này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu
giáo dục đã được ban hành trong Luật giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng
Trang 25GDĐĐ trong nhà trường là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các bộ phận khác: giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất GDĐĐ có thể coi là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm năng vững chắc cho các mặt giáo dục khác; GDĐĐ tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội, giữa con người và cuộc sống
GDĐĐ ở nhà trường bậc THPT là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có
kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực đạo đức theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức cá nhân HS, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội Quản lý tốt hoạt động GDĐĐ cho HS THPT là góp phần thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa là “nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội”
1.3.2 Mục tiêu, nội dung, phương pháp GDĐĐ cho HS THPT
1.3.2.1 Mục tiêu GDĐĐ cho HS THPT
Mục tiêu của GDĐĐ là giúp mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ của xã hội và phồn vinh của đất nước
GDĐĐ cho HS có 3 mục tiêu cơ bản là: ý thức; thái độ, tình cảm và hành vi
Cụ thể:
- Về ý thức: HS phải nắm được các nguyên tắc, các nội dung, các chuẩn mực đạo đức theo yêu cầu của xã hội Nắm được sự cần thiết phải tu dưỡng, rèn luyện mình theo các yêu cầu của chuẩn mực đạo đức để có thể trở thành những công dân tốt, những chủ nhân tương lai của đất nước GDĐĐ cho HS là giúp các em nâng cao nhận thức xã hội, ý thức về hành vi pháp luật của bản thân
- Về thái độ, tình cảm: HS có những tình cảm đúng mực, trong sáng trong các
Trang 2616
mối quan hệ xã hội với mọi người và với môi trường sống Từ đó có quan điểm và thái
độ rõ ràng trước những vấn đề đạo đức, chính trị…trong xã hội Có thái độ ủng hộ những việc làm tốt, hợp đạo lý, bày tỏ sự phản đối trước những hành vi sai trái trong xã hội
- Về hành vi: HS biết thực hiện các hành vi theo chuẩn mực đạo đức và không ngừng rèn luyện trong học tập, lao động và trong các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội; hình thành thói quen điều chỉnh các hành vi ứng xử trong giao tiếp, trong các lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội; tự giác thực hiện các chuẩn mực đạo đức và chấp hành pháp luật; có lối sống lành mạnh, tích cực đấu tranh trước những biểu hiện của lối sống ăn chơi sa đọa, trộm cắp, gian dối…; tích cực học tập, rèn luyện và hoạt động xã hội, chuẩn bị ra đời lập nghiệp
1.3.2.2 Nội dung GDĐĐ cho HS THPT
Kế hoạch triển khai quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 28/8/2015 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 – 2020” của ngành Giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã chỉ rõ: đối với giáo dục phổ thông, việc đổi mới nội dung cần: “Lựa chọn các nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa có giá trị và phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý, tình cảm và sự phát triển của HS, của xã hội và thời đại; giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức; giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, kỹ năng sống và giá trị sống đúng đắn; bố trí thời lượng phù hợp cho hoạt động Đoàn, Đội, Hội, hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới
Như vậy, việc GDĐĐ cho HS THPT cần tập trung vào một số nội dung sau:
- Giáo dục truyền thống dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, con người, không ngừng rèn luyện, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”…
- Xây dựng một số chuẩn mực về đạo đức, lối sống trong HS như: cần cù, chịu khó, say mê học tập, tinh thần vượt khó vươn lên trong học tập; lòng tự trọng,
sự tự tin, tính kỉ luật, tính tự lập, tính trung thực…Qua đó giáo dục ý thức, trách nhiệm với chính bản thân các em HS
- Xây dựng ý thức trách nhiệm với xã hội, với công việc thể hiện qua việc tôn trọng và chấp hành luật pháp, nội qui của nhà trường, qui định của địa phương;
Trang 2717
yêu thích và say mê học tập; biết đặt lợi ích của đất nước, của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân mình; biết giữ gìn và bảo vệ tài nguyên, môi trường, yêu chuộng hòa bình, bảo vệ và phát huy truyền thống, di sản văn hóa của dân tộc
- Giáo dục ý thức, trách nhiệm với gia đình thể hiện qua việc tôn trọng các thành viên trong gia đình, biết yêu thương, chia sẻ các công việc gia đình; biết gìn giữ và phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ
1.3.2.3 Phương pháp GDĐĐ cho HS THPT
Để tiến hành hoạt động GDĐĐ cho HS THPT hướng tới mục tiêu và đạt được hiệu quả, cần xây dựng hệ thống các phương pháp GDĐĐ khoa học, hợp lý Phương pháp GDĐĐ có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện mục tiêu GDĐĐ cho HS Các phương pháp được sử dụng để GDĐĐ cho HS THPT gồm có:
Phương pháp thành ý thức đạo đức: phương pháp này dựa vào những ví dụ, hình mẫu cụ thể, sống động, truyền tải những lý tưởng tốt đẹp để tác động lên nhận thức của HS, giúp HS hiểu được những giá trị nhân văn, ý nghĩa, những tấm gương đáng học tập, noi theo
Phương pháp tổ chức các hoạt động xã hội và hình thành các kinh nghiệm ứng xử xã hội: Ở phương pháp này, HS được tham gia trực tiếp, trải nghiệm các hoạt động mang tính xã hội; từ đó, hình thành hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội
Phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của HS: Đây là phương pháp dựa vào các hoạt động thi đua, khen thưởng và trách phạt để kích thích và điều chỉnh hành vi đạo đức của HS Phương pháp này là biểu hiện của một dạng thức đánh giá hành vi đạo đức của HS thông qua hoạt động cụ thể để HS hiểu được đúng/ sai, nên/ không nên và kịp thời điều chỉnh sao cho phù hợp
Ba phương pháp nói trên được sử dụng phổ biến, đặc biệt là trong nhà trường Để việc GDĐĐ cho HS THPT đạt hiệu quả, cần có sự phối hợp và sử dụng linh hoạt các phương pháp, tránh sự máy móc, cứng nhắc mới tạo sự thoải mái, cởi
mở và sẵn sàng tiếp nhận của HS
1.3.3 Vai trò của cộng đồng trong giáo dục đạo đức cho HS THPT
Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong GDĐĐ cho HS THPT: xây dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động giáo dục đạo đức, tham gia gián tiếp hoặc trực
Trang 2818
tiếp vào quá trình giáo dục đạo đức cho HS Đời sống của cộng đồng hàng ngày cũng có những ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách về tư tưởng, đạo đức, lối sống các em HS thông qua gia đình, thông qua những người bạn, người thân xung quanh các em Một cộng đồng văn vinh, tốt đẹp sẽ có những ảnh hưởng tích cực tới việc GDĐĐ cho HS, giúp các em học sinh thuận lợi hơn trong quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của bản thân và trở thành một công dân tốt Một cộng đồng thiếu lành mạnh, tồn tại nhiều tệ nạn xã hội sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới sự hình thành và hoàn thiện nhân cách của HS, tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động GDĐĐ cho HS
Ngày nay, các tổ chức cộng đồng phát triển một cách rất mạnh mẽ và đa dạng về hình thức đã thu hút một lượng lớn các em HS, SV tham gia sinh hoạt ngoài giờ lên lớp Các phong trào thể dục thể thao, văn nghệ, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, lao động công ích…có sự tác động nhất định đến sự phát triển nhân cách của các em HS, giúp các em HS có những nhìn nhận tốt đẹp, tích cực về cuộc sống gia đình, về bạn bè thầy cô và xã hội, qua đó tạo dựng niềm tin vào cuộc sống cho các em và hạn chế các hoạt động tự phát không lành mạnh – một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, hành vi thiếu đạo đức, phi văn hóa ở HS
1.3.4 Sự phối hợp giữa các lực lượng trong cộng đồng và nhà trường trong GDĐĐ cho HS THPT
1.3.4.1 Xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng
Xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để GDĐĐ cho HS là xây dựng sự kết hợp chặt chẽ các quá trình giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục cộng đồng tạo thành một quá trình giáo dục thống nhất, liên tục
và toàn vẹn, qua đó khai thác được thế mạnh của mỗi LLGD hướng vào việc phát triển nhân cách toàn diện của thế hệ trẻ
Giáo dục theo hướng huy động cộng đồng là sự phối hợp các LLGD để tạo ra
sự thống nhất Đây là quan điểm giáo dục có giá trị thực tiễn, bởi cùng một lúc sự hình thành và phát triển đạo đức của HS chịu sự tác động của các LLGD Nếu không có sự thống nhất giữa các LLGD sẽ dẫn tới không có sự thống nhất trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho HS
Trang 2919
1.3.4.2 Trách nhiệm của nhà trường, gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho HS
* Trách nhiệm của nhà trường:
“Nhà trường là một cơ quan của Nhà nước chuyên chính vô sản, được sự
lãnh đạo trực tiếp và chặt chẽ của Đảng, nắm quan điểm và đường lối giáo dục XHCN, có đội ngũ chuyên gia sư phạm XHCN; nhà trường là trung tâm tổ chức phối hợp và dẫn dắt công tác giáo dục của các tổ chức và các thể chế khác trong xã hội” [26] Như vậy nhà trường nói chung và giáo dục nhà trường nói riêng có vai trò
hết sức quan trọng, chịu trách nhiệm là đơn vị trung tâm tổ chức phối hợp, dẫn dắt công tác giáo dục đạo đức học HS với gia đình và cộng đồng
Để hoạt động GDĐĐ cho HS đạt hiệu quả, nhà trường cần phải biết lôi cuốn,
tổ chức, hướng dẫn gia đình và cộng đồng tham gia vào quá trình GDDĐ cho HS ở mọi nơi, mọi lúc
* Trách nhiệm của gia đình
Gia đình là nơi nuôi dưỡng các em HS về cả mặt thể chất lẫn tâm hồn Gia đình là môi trường sống, môi trường giáo dục suốt đời và có sự ảnh hưởng lớn tới
sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của các em HS từ lúc sinh ra
Gia đình cũng có trách nhiệm lớn trong việc GDĐĐ cho HS Với trách nhiệm là “tấm gương đạo đức” gần gũi nhất, tiếp xúc với các em HS nhiều nhất, gia đình cần chủ động liên hệ, phối hợp với nhà trường và cộng đồng để định hướng, tạo ra môi trường hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách của HS
* Trách nhiệm của cộng đồng
Cộng đồng có vai trò quan trọng, góp phần đắc lực giúp nhà trường và gia đình GDĐĐ cho HS, củng cố xây dựng môi trường lành mạnh để HS hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách
1.3.5 Vai trò của Hiệu trưởng trường THPT trong việc phát triển mối quan
hệ giữa nhà trường với cộng đồng
Hiệu trưởng là người lãnh đạo cao nhất trong nhà trường, chịu trách nhiệm định hướng cho toàn bộ nhà trường phát triển theo đúng lộ trình và đạt được các mục tiêu đề ra Trong quá trình thực hiện chức trách và nhiệm vụ của mình nói chung và trong việc quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS nói riêng, người Hiệu trưởng phải thể hiện được vị trí trung tâm, vai trò chủ đạo, định hướng của nhà trường trong việc phối hợp với gia đình và cộng đồng Vai trò của Hiệu trưởng trong mối quan hệ với đại
Trang 3020
diện cha mẹ HS, với các tổ chức của cộng đồng là mối quan hệ tham mưu, tư vấn, tác động và cung cấp thông tin cho nhau để cả nhà trường và gia đình đều thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ, chức trách của mình đối với việc GDĐĐ cho HS
Với vai trò là chủ tịch Hội đồng GDĐĐ cho HS của nhà trường, người hiệu trưởng sẽ thực hiện chức năng quản lý của mình trong việc GDĐĐ cho HS qua các khâu:
- Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường, sau đó là cho gia đình các em HS về việc GDĐĐ cho HS
- Xây dựng kế hoạch quản lý các hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng đồng thời xây dựng kế hoạch để phát triển mối quan hệ phối hợp này
- Chỉ đạo triển khai các kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc GDĐĐ cho HS
- Giám sát và đánh giá rút kinh nghiệm về các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho HS
1.4 Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng là
sự tác động trực tiếp, có ý thức của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) lên các khách thể quản lý hoặc tác động gián tiếp qua tổ chức Đảng cơ sở lên các thành tố tham gia vào quá trình phối hợp nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu GDĐĐ cho HS
1.4.1 Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường, gia đình, cộng đồng về sự phối hợp trong GDĐĐ cho HS THPT
Để việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng đạt hiệu quả cao, trước hết từng cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường cần được tập huấn bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng cần thiết để phối hợp với phụ huynh HS, các tổ chức tại địa phương trong quá trình GDĐĐ cho HS
Nhà trường tuyên truyền cho phụ huynh HS về quyền, bổn phận của thanh niên, thiếu niên, mục tiêu giáo dục toàn diện và hài hòa về đức, trí, thể, mỹ; các thành viên trong gia đình ứng xử mẫu mực, làm gương trong GDĐĐ cho HS; phát triển tốt các tiềm
Trang 3121
năng của mỗi học sinh; tích cực và chủ động phối hợp với nhà trường và cộng đồng trong việc GDĐĐ cho HS Trong các buổi tuyên truyền, họp phụ huynh, nhà trường cần động viên các bậc phụ huynh cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục và tạo môi trường giáo dục tốt nhất góp phần hướng dẫn, quản lý con em học tập, rèn luyện Qua đó tạo điều kiện để Ban đại diện phụ huynh HS triển khai và phát huy có hiệu quả vai trò trong các hoạt động GDĐĐ cho HS của nhà trường
Đối với các tổ chức trong cộng đồng, nhà trường khuyến khích các em học sinh tham gia các câu lạc bộ theo sở thích để các em có thêm môi trường để phát triển và hoàn thiện nhân cách Nhà trường làm việc định kỳ với công an địa phương
để nắm bắt tình hình an ninh, trật tự tại địa phương và triển khai phối hợp, thực hiện Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT/BCA-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2015 về việc hướng dẫn phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự
an toàn xã hội, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác trong ngành giáo dục; thực hiện Quy chế phối hợp giữa nhà trường và công an địa phương Nhà trường chủ động phối hợp với Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ,…triển khai những hoạt động xã hội bổ trợ cho việc GDĐĐ cho HS
1.4.2 Lập kế hoạch xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho HS THPT
Hàng năm, khi bắt đầu năm học mới, Hiệu trưởng kiện toàn Hội đồng GDĐĐ cho HS do Hiệu trưởng là người đứng đầu phụ trách Hội đồng GDĐĐ cho
HS ngoài các thành viên thuộc nhà trường, còn có đại diện thành viên của các tổ chức cộng đồng như: công an xã, Hội phụ nữ xã, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của xã… Hội đồng GDĐĐ cho HS sẽ phân tích thực trạng của hoạt động GDĐĐ cho HS, quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS, thực trạng của công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong năm học vừa qua của nhà trường có những điểm nào mạnh cần phát huy, điểm nào còn hạn chế cần khắc phục để làm cơ
sở xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong năm học này được chặt chẽ hơn
Kế hoạch GDĐĐ cho HS sau khi được nhà trường dự thảo cần gửi xin ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức cộng đồng như công an xã, hội phụ nữ xã, đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của xã…về mặt nội dung, phương pháp làm, thời
Trang 3222
gian tổ chức… Kế hoạch GDĐĐ cho HS cần căn cứ vào kế hoạch giảng dạy của nhà trường để xây dựng kế hoạch lồng ghép các hoạt động trọng điểm của các tổ chức tại địa phương để gắn chặt và phát triển hơn nữa mối quan hệ giữa nhà trường
và cộng đồng trong hoạt động GDĐĐ cho HS
1.4.3 Triển khai kế hoạch phối hợp với gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho HS THPT
Triển khai kế hoạch phối hợp với gia đình và cộng đồng trong GDĐĐ cho
HS THPT là khâu quan trọng giúp thực hiện tốt hoạt động GDĐĐ cho HS THPT.Việc triển khai kế hoạch phối hợp có đạt hiệu quả tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc bám sát kế hoạch tổng thể đã được Hội đồng GDĐĐ cho HS xây dựng về cả mặt nội dung và tiến trình thời gian
Vai trò của các thành viên khác như GVCN, GVBM, tổ chức Đoàn thanh niên, hội phụ huynh HS…rất quan trọng trong khâu triển khai kế hoạch phối hợp
Từ những kế hoạch phối hợp tổng thể đã được xây dựng, các lực lượng này sẽ xây dựng những kế hoạch riêng để phối hợp cùng nhau triển khai hoạt động GDĐĐ cho
Hội đồng GDĐĐ cho HS của các nhà trường sẽ ban hành kế hoạch và văn bản hướng dẫn cụ thể tới các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, phụ huynh học sinh và các tổ chức chính trị, xã hội trong huyện để cùng phối hợp theo các tháng trong năm Đối với từng lớp, từng khóa Hội đồng GDĐĐ cho HS sẽ có những chỉ đạo riêng nếu cần thiết
Theo định kỳ hàng tháng, hàng quý, nhà trường thông qua các văn bản, công văn, báo cáo định kỳ sẽ cung cấp, trao đổi thông tin đồng thời triển khai các kế hoạch với chính quyền địa phương Tham mưu đưa hoạt động GDĐĐ cho HS vào một số tiêu chí thi đua như “Gia đình văn hóa – Khu phố văn hóa” Các dịp hè hàng
Trang 33Hàng tháng Hội đồng GDĐĐ cho HS sẽ có 01 buổi họp để tổng kết những hoạt động đã được thực hiện trong tháng với sự tham gia của toàn bộ giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, đoàn thanh niên trường… Tại cuộc họp này, Hội đồng GDĐĐ cho HS sẽ tổng hợp các báo cáo ngắn gọn của các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, đoàn thanh niên trường…về những nội dung đã thực hiện cũng như những khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiện các nội dung GDĐĐ cho HS theo kế hoạch đề ra Các hoạt động được tổ chức cần có những hình ảnh minh họa
để làm minh chứng và cũng là sự động viên, khích lệ tinh thần tham gia hưởng ứng của học sinh
Việc kiểm tra phải được Hội đồng GDĐĐ cho HS phải thực hiện thường xuyên, liên tục theo định kỳ hoặc đột xuất, kiểm tra chéo qua nhiều kênh như Đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm, đại diện Hội phụ huynh HS, đại diện cơ quan chính quyền địa phương…Việc đánh giá cũng phải được thực hiện trong cả một quá trình với mục đích: đánh giá đúng, kịp thời biểu dương, khen thưởng khuyến khích học sinh phấn đấu vươn lên, đồng thời ngăn chặn, phê bình những sai trái, vi phạm, thúc đẩy sự tự giác của HS
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng
1.5.1 Các yếu tố khách quan
HS THPT có độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi Ở THPT, về mặt sinh lý cơ thể cũng
Trang 3424
như đời sống tâm lý của trẻ có những biến đổi rất mạnh mẽ, chuyển từ trẻ con sang người lớn Đây là thời kỳ khủng hoảng trong quá trình phát triển của tuổi thanh thiếu niên Ở giai đoạn này, các em thường muốn thử nghiệm khả năng, mong muốn của cá nhân mình vào thực tiễn cuộc sống Trong khi vốn sống còn nghèo nàn, khả năng suy xét nông cạn nên thường dẫn đến những va vấp, gây những hậu quả tai hại cho bản thân và gia đình Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nhiều em ở độ tuổi này
đã sa vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, trấn lột, nghiện hút…làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ thông tin trên thế giới và nhất là sự phức tạp của nền kinh tế thị trường dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Điều này dẫn đến một hệ lụy về sự biến đổi tâm lý, đạo đức của thế hệ trẻ Việt Nam Các em có những nét tâm lý – đạo đức của thế hệ, mang truyền thống của dân tộc, song có cả những nét mới mang dấu ấn của thời đại
Có thể thấy ở lứa tuổi HS THPT có một số đặc điểm nổi bật sau:
- Ý thức đạo đức: Là lứa tuổi giàu ước mơ, hoài bão, có khát vọng, mong muốn được ghi nhận Các em hi vọng có thể đem những tri thức đã học được vào cuộc sống, cống hiến cho đất nước Đây là những khát khao chính đáng, phù hợp với qui luật phát triển tự nhiên của xã hội
- Tri thức, kinh nghiệm: HS THPT ngày nay được sống trong điều kiện tốt, được tiếp cận với tiến bộ khoa học, công nghệ thông tin, vì vậy, ở các em có sức khỏe, trí tuệ và sáng tạo, không ngừng tìm tòi, khám phá tri thức Các em luôn mong muốn thể hiện mình, tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng để thể hiện sự tự tin, làm chủ bản thân
- Tình cảm, thói quen: lứa tuổi HS THPT có đời sống tình cảm phong phú Ở các em tồn tại những tình cảm lớn như: tình yêu đất nước, yêu quê hương, gia đình; niềm tự hào dân tộc… Đồng thời cũng nảy nở những tình cảm riêng tư như tình bạn, tình yêu… Bởi vậy, đây là lứa tuổi nhạy cảm, dễ xúc động
- Hành vi: dưới tác động của nhịp độ phát triển không ngừng của xã hội,
đa số các em HS THPT có thái độ và hành vi tích cực Tuy nhiên, cũng tồn tại một bộ phận các em còn lệch lạc về nhận thức dẫn đến sai trái trong hành động như: lối sống thực dụng, đua đòi, ăn chơi, ỷ lại vào gia đình… Mặt trái của nền
Trang 3525
kinh tế thị trường cùng với hệ quả tất yếu của sự quan tâm chưa đúng mức của các LLGD là những nguyên nhân chính dẫn đến những biểu hiện tiêu cực trong đạo đức của HS THPT
Như vậy có thể thấy ở lứa tuổi HS THPT, các em đã có những nhận thức đầy
đủ về thế giới xung quanh Đó là điều kiện thuận lợi để các lực lượng giáo dục tham gia vào quá trình GDĐĐ cho các em, mỗi lực lượng lại đóng một vai trò và mang đến những ảnh hưởng nhất định Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng trong việc GDĐĐ cho HS Nếu các em chỉ được GDĐĐ trong nhà trường mà khi về nhà hay tham gia các hoạt động cộng đồng các
em lại tiếp xúc với nhiều hành vi trái đạo đức, vi phạm pháp luật thì việc GDĐĐ cho các em HS của nhà trường cũng trở nên vô nghĩa
Hiện nay sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh chủ yếu dựa trên
sự tự nguyện của cha mẹ HS và mang tính định hướng của nhà trường Mặc dù những năm gần đây, gia đình học sinh đã có ý thức hơn trong việc chủ động liên hệ, phối hợp với nhà trường để quản lý, giáo dục cho con em mình thông qua hoạt động của Ban đại diện phụ huynh học sinh nhưng còn chưa liên tục và tích cực
Sự phối hợp giữa nhà trường và cộng đồng cũng gặp nhiều khó khăn Hành lang pháp lý cho những hoạt động phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức chính trị, cộng đồng chưa nhiều Công tác tham mưu của nhà trường đối với địa phương chưa thường xuyên, một số nội dung tham mưu hiệu quả chưa cao
1.5.2 Các yếu tố chủ quan
Yếu tố gia đình: gia đình là nơi các em HS được nuôi dưỡng từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành, tự chủ về suy nghĩ và hành động Có thể nói gia đình chính là môi trường khách quan gần nhất tác động đến sự hình thành nhân cách của các em HS Một gia đình đầm ấm, hạnh phúc, nơi các thành viên có những suy nghĩ, tình cảm, thái độ tích cực sẽ là điều kiện thuận lợi để GDĐĐ, nhân cách tốt đẹp cho các em HS
Yếu tố nhà trường: Nhà trường là môi trường giáo dục có hệ thống nguyên tắc, qui định đầu tiên mà các em được tiếp cận Ở đó, các em HS được cung cấp tri thức, kĩ năng, định hướng về thái độ, hành vi đúng đắn Thông qua việc bồi đắp tri thức, các em mở rộng thêm vốn hiểu biết về thế giới, các giá trị nhân văn của con người Cùng với sự đánh giá thường xuyên, các em HS biết học hỏi và rèn luyện để
Trang 3626
trở nên hoàn thiện, phù hợp với các giá trị đạo đức của xã hội
Yếu tố cộng đồng: bước ra khỏi môi trường giáo dục thân thiện là gia đình và nhà trường, cộng đồng là môi trường giáo dục rộng lớn và đa diện đối với HS THPT Một môi trường cộng đồng trong sạch, lành mạnh, một cộng đồng xã hội tốt đẹp, văn minh là điều kiện thuận lợi nhất giúp cho HS THPT hình thành nhân cách tốt đẹp
Các yếu tố nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc GDĐĐ cho HS THPT Hoạt động GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng chính
là hoạt động phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng trong việc giáo dục HS để đạt được hiệu quả giáo dục Ngày 28/8/2015, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 1501/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi
đồng giai đoạn 2015 – 2020” trong đó nhấn mạnh cần phải: “Tuyên truyền nâng
cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội trong việc phối hợp giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ” Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng là điều
kiện quyết định để hoạt động GDĐĐ cho các em HS đạt được mục tiêu Muốn hoạt động GDĐĐ cho HS THPT đạt kết quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhất quán, tạo ảnh hưởng tích cực tới HS
Bên cạnh sự tác động to lớn của sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng, hiệu quả của việc GDĐĐ cho HS THPT còn chịu sự chi phối từ chính bản thân các em HS Các em HS THPT là đối tượng giáo dục đã có sự hình thành về mặt nhận thức, tự chủ về hành vi và suy nghĩ cá nhân Hơn nữa, ở lứa tuổi này, các em có xu hướng muốn khẳng định bản thân, muốn được nhìn nhận như một người trưởng thành, song còn non nớt và thiếu chính kiến trước sự tác động mạnh mẽ của môi trường xung quanh Bởi vậy, một trong những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động GDĐĐ cho HS ở lứa tuổi THPT chính là sự tự giáo dục của bản thân HS Kết quả của quá trình tự nhận thức, rèn luyện và rút kinh nghiệm của các em cùng với những tác động của các yếu tố giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội mới chính là kết quả cuối cùng của hoạt động giáo dục Do vậy, trong quá trình xác lập mục tiêu và phương thức giáo dục cần chú trọng động viên, khích lệ những biểu hiện đạo đức tốt, đồng thời nhắc nhở,
có biện pháp uốn nắn đối với những suy nghĩ, hành vi đạo đức lệch lạc
Trang 3727
Tiểu kết chương 1
GDĐĐ cho HS THPT hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hình thành, phát triển nhân cách cho HS GDĐĐ cho HS là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi toàn xã hội phải quan tâm, trong đó, nhà trường giữ vai trò chủ đạo
GDĐĐ cho HS THPT theo hướng huy động cộng đồng giúp hình thành mô hình giáo dục trong đó có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng nhằm đạt mục tiêu GDĐĐ cho HS Nhà trường với vai trò là hạt nhân trung tâm phải chủ động, đảm bảo sự phối hợp tốt nhất giữa gia đình và cộng đồng về mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục và đa dạng về hình thức giáo dục Qua
đó, phát huy những điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu của gia đình và cộng đồng nhằm đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất
Người quản lý hoạt động giáo dục cần nắm rõ đặc điểm của đối tượng giáo dục, lưu ý các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục để xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và giám sát việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để đảm bảo tính hợp lý, chính xác, đạt hiệu quả cao
Trang 3828
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 2.1 Giới thiệu về đặc điểm kinh tế, xã hội và giáo dục huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
2.1.1 Tình hình kinh tế, xã hội
Huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên 72.6 km2, diện tích đất canh tác 4.250 ha Dân số 124.900 người (theo thống kê UBND thành phố Hà Nội năm 2017), mật độ 1,994 người/km2 Cơ cấu hành chính gồm 15 xã và 1 thị trấn
Huyện Đan Phượng giáp ranh với các huyện Từ Liêm, Hoài Đức, Phúc Thọ Dân cư trong huyện phân bố thành ba vùng: vùng trong đồng bằng, vùng ngoài bãi
có đê và vùng bãi bồi ven sông Tỷ lệ dân số hàng năm là 1,1% Số người trong độ tuổi lao động là 94.301 chiếm 61% dân số
Huyện Đan Phượng có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế và là huyện có nhiều ngành nghề nông nghiệp như: cấy lúa nước, làm đậu, nấu rượu và chăn nuôi gia súc, trồng hoa Nhiều nơi trong huyện cũng đã áp dụng thành công nhiều mô hình chăn nuôi lợn siêu nạc, bò thịt BBB và bò sữa; áp dụng công nghệ vào các khâu trong quy trình sản xuất Đan Phượng còn nỗ lực phát triển công nghiệp Huyện đã hình thành 5 cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với hơn 530 doanh nghiệp Trong các năm gần đây, diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm nên các hộ nông dân huyện Đan Phượng đã có những bước chuyển đổi nghề nghiệp mạnh mẽ
Cuối năm 2015, huyện Đan Phượng là huyện đầu tiên của Thủ đô Hà Nội được Thủ tướng chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2011-
2015 khi có 14/15 xã đạt chuẩn nông thôn mới
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục huyện Đan Phượng những năm qua
Đan Phượng là huyện có truyền thống văn hóa lâu đời Các cấp lãnh đạo từ Huyện ủy, Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng và các cấp, các ban ngành của huyện đều nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện nhà, từ đó tập trung chỉ đạo, lãnh đạo đầu tư đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục
Trang 3929
Huyện Đan Phượng là đơn vị dẫn đầu các ngành học, bậc học trong các huyện ngoại thành của TP Hà Nội Quy mô các ngành phát triển toàn diện và vững chắc trong tất cả các ngành học, bậc học Chất lượng giáo dục các ngành học, bậc học cao và tương đối ổn định
Về mạng lưới trường lớp: Toàn huyện Đan Phượng có 54 trường học trong
đó 17 trường mầm non, 16 trường tiểu học, 16 trường THCS, 3 trường THPT công lập, 1 trường dân lập và 1 trung tâm GDTX
Số lượng giáo viên của 3 trường THPT công lập là 261 giáo viên
Số lượng HS THPT năm 2016 là: 4120 HS, duy trì sĩ số đạt 98% Thi tốt nghiệp năm 2016 – 2017 đạt 98% Tuyển sinh vào 10 đạt 86% HS tốt nghiệp THCS
Để có được những thành tựu trên là nhờ:
- Huyện Đan Phượng là huyện có truyền thống văn hóa hiếu học lâu đời sự nghiệp giáo dục đào tạo của huyện đã được Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội, các cơ quan ban ngành của thành phố thường xuyên quan tâm giúp đỡ Đảng
bộ, HĐND, UBND huyện và 15 xã, thị trấn luôn luôn xác định rõ nhiệm vụ, vị trí, vai trò của sự nghiệp giáo dục – đào tạo từ đó tập trung chỉ đạo, lãnh đạo đầu tư đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục địa phương phát triển
- Nhân dân trong huyện cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng có truyền thống hiếu học Con em đi học ngày càng tăng, nhất là đối với bậc học THPT
- Công tác chỉ đạo của Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội và huyện Đan Phượng
có nhiều định hướng đổi mới đúng đắn, đồng thời tổ chức có hiệu quả
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế địa phương chưa phát triển nên sự đầu tư cho giáo dục còn hạn chế Số lượng HS tăng nhanh ở bậc học trung học cũng như các bậc khác mâu thuẫn với sự đáp ứng của tiềm năng cơ sở vật chất
Tóm lại: Quan hơn 30 năm đổi mới, giáo dục huyện Đan Phượng giữ vững thế ổn định và có bước phát triển vững chắc Thời gian qua, trong hoàn cảnh xã hội trong nước và quốc tế có nhiều biến động phức tạp song giáo dục đào tạo của huyện Đan Phượng vẫn đạt được nhiều thành tựu, được sở giáo dục đào tạo Hà Nội đánh giá là đơn vị đứng trong tốp đầu của thành phố về giáo dục và đào tạo
Trang 4030
Bảng 2 1 Thống kê học lực của HS THPT huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
trong 03 năm gần đây (từ năm 2014 đến năm 2017) (Nguồn: Hệ thống thông tin quản lý giáo dục – Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
% 2014-2015 4090 506 12,4 2465 60,2 1006 24,6 101 2,5 13 0,3 2015-2016 4066 521 12,8 2648 65,2 847 20,9 36 0,9 6 0,1 2016-2017 4120 593 14,5 2639 64,1 829 20,1 54 1,3 5 0,1
Qua bảng số liệu 2.1 trên cho thấy sự nghiệp giáo dục của huyện Đan Phượng - thành phố Hà Nội đã và đang được các cấp ủy Đảng và chính quyền, nhân dân địa phương quan tâm Vì vậy, nên số HS có học lực giỏi và khá những năm gần đây có sự tăng đáng kể, tạo ra một môi trường đồng thuận cho giáo dục nói chung
và công tác GDĐĐ giáo dục của huyện Đan Phượng - thành phố Hà Nội nói riêng cũng được chuyển biến sang trang sử mới
Bảng 2.2 Thống kê hạnh kiểm của HS THPT huyện Đan Phượng trong 3 năm gần đây
(Nguồn: Hệ thống thông tin quản lý giáo dục – Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Học lực HS
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
2014-2015 4090 3451 84,3 515 12,5 106 2,4 86 2,1 2015-2016 4066 3690 90,8 323 7,9 39 1,0 7 0,2 2016-2017 4120 3621 87,9 407 9,9 83 2,1 9 0,2
Nhìn chung, trong những năm gần đây số lượng HS trong các trường công lập THPT huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội được đánh giá hạnh kiểm tốt có tăng rõ rệt
2.1.3 Vài nét về các trường THPT huyện Đan Phượng - thành phố Hà Nội
Tính tới thời điểm hiện tại, có 03 trường THPT công lập được xây dựng trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, đó là: trường THPT Đan Phượng, trường THPT Tân Lập và trường THPT Hồng Thái Trường THPT Đan Phượng là trường có bề dày lịch sử hơn 50 năm với nhiều thành tích đóng góp được Sở Giáo