1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên quận 12 thành phố hồ chí minh

128 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp quản lý có cơ sở khoa học và có tính khả thi cao, vận dụng phù hợp với thực tiễn thì sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ ĐỨC PHONG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

QUẬN 12 - THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ ĐỨC PHONG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

QUẬN 12 - THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN XUÂN TẾ

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn quí Thầy, Cô khoa Quản lý giáo dục trường Đại học Giáo Dục - ĐHQGHN đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ

em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đặc biệt em

xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Tế - Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Thành Phố

Hồ Chí Minh - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em trong quá trình thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các bạn đồng nghiệp ở Trung tâm Giáo dục Thường Xuyên Quận 12- Thành phố Hồ Chí Minh, các cơ quan đoàn thể xã hội, phụ huynh học sinh trên địa bàn quận 12 đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp thông tin, số liệu, cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu thực tế để làm luận văn của chúng tôi

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Học viên cao học

Lê Đức Phong

Trang 4

ii

KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

iv

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ x

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU viii

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Câu hỏi nghiên cứu 2

3 Giả thuyết khoa học 2

4 Mục đích nghiên cứu 2

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5.1 Khách thể nghiên cứu 3

5.2 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

8 Phương pháp nghiên cứu 3

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 3

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

8.3 Nhóm phương pháp thống kê 4

9 Đóng góp của luận văn 4

10 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN 12 - THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Đạo đức 8

1.2.2 Giáo dục đạo đức 10

1.2.3 Quản lý 11

Trang 7

v

1.2.4 Quản lý giáo dục 13

1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức 14

1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông tại trung tâm giáo dục thường xuyên 14

1.3.1 Khái quát quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên 14

1.3.2 Ý nghĩa, mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh 16

1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh 18

1.3.4 Phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh 20

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 22

1.4 Những tác động cơ bản đến việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trung tâm giáo dục thường xuyên 25

1.4.1 Mục tiêu, đặc điểm của giáo dục thường xuyên 25

1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên 27

1.4.3 Các phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN 12 - THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH 31

2.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội - giáo dục của Quận 12 31

2.2 Thực trạng về đạo đức và hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh TT.GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 32

2.2.1 Khái quát về trung tâm GDTX Quận 12- thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 32

2.2.2 Thực trạng đạo đức của học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 34

2.2.3 Thực trạng hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 44

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 51 2.3.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và CMHS về quản lý hoạt

Trang 8

vi

động giáo dục đạo đức cho học sinh 51

2.3.2 Thực trạng về sự tác động của các lực lượng giáo dục đối với hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 52

2.3.3 Thực trạng phối hợp của trung tâm GDTX Quận 12 với các lực lượng giáo dục 53

2.3.4 Thực trạng xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 55

2.3.5 Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 56

2.4 Đánh giá chung 58

2.4.1 Những ưu điểm và hạn chế 58

2.4.2 Nguyên nhân của tình hình yếu kém 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62

CHƯƠNG 3: QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN 12 - THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH 63

3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 63

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 63

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 63

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 64

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 64

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 64

3.2.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 65

3.2.2 Kế hoạch hoá quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 68

3.2.3 Tổ chức có hiệu quả việc triển khai thực hiện kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh 69

3.2.4 Nâng cao vai trò của GVCN trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 71

3.2.5 Phát huy tính tích cực của Đoàn thanh niên trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học 77

3.2.6 Làm tốt công tác tư vấn học đường đối với học sinh 79

Trang 9

vii

3.2.7 Tổ chức tốt việc phối hợp giữa trung tâm, gia đình và xã hội trong hoạt

động giáo dục đạo đức cho học sinh 82

3.2.8 Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức cho học sinh 87

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 89

3.4 Thăm dò mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 91

3.4.1 Mục đích thăm dò 91

3.4.2 Nội dung thăm dò 91

3.4.3 Địa bàn thăm dò 91

3.4.4 Kết luận rút ra từ thăm dò 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96

1 Kết luận 96

2 Kiến nghị 97

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 97

2.2 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh 97

2.3 Đối với Trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

Trang 10

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1: Quy mô học sinh, cán bộ, giáo viên, công nhân viên trung

tâm GDTX Quận 12 33 Bảng 2 2: Ý kiến của học sinh về sự cần thiết của GDĐĐ 34 Bảng 2 3: Nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức cần

được giáo dục cho học sinh GDTX hiện nay 35 Bảng 2 4: Thái độ của học sinh GDTX đối với các quan niệm về đạo

đức 37 Bảng 2 5: Những lỗi thường mắc phải của học sinh trung tâm

GDTX Quận 12 40 Bảng 2 6: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi tiêu cực đạo

đức của học sinh 41 Bảng 2 7: Tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ trong trung tâm

GDTX 44 Bảng 2 8: Mức độ thực hiện hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung

tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ chí Minh 45 Bảng 2 9: Ý kiến đánh giá về nhận thức mức độ thực hiện các nội

dung GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố HCM 46 Bảng 2 10: Các hình thức giáo dục đạo cho học sinh học sinh trung

tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ chí Minh 47 Bảng 2 11: Các biện pháp GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX

Quận 12 49 Bảng 2 12: Nhận thức về quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh

trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 51

Trang 11

ix

Bảng 2 13: Đánh giá mức độ quan trọng của các lực lƣợng giáo dục

đối với hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12, TP.Hồ Chí Minh 52 Bảng 2 14: Thực trạng sự phối hợp của trung tâm GDTX Quận 12 với

các lực lƣợng để GDĐĐ học sinh 54 Bảng 2 15: Kế hoạch hoạt động GDĐĐ cho học sinh 55 Bảng 2 16: Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động GDĐĐ cho học

sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh 56

Bảng 3 1: Sự cần thiết của 8 biện pháp 92 Bảng 3 2: Tính khả thi của 8 biện pháp 93

Trang 12

x

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3 1: Tỷ lệ đánh giá sự cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp 94

Sơ đồ 3 1: Sự phối hợp giữa Trung tâm – Gia đình – Xã hội 86

Sơ đồ 3 2: Mối quan hệ giữa các biện pháp QL HĐ GDĐĐ 90

Trang 13

là một người có đạo đức Ngược lại, sẽ bị coi là người thiếu đạo đức

Đạo đức là cái gốc con người Mục đích của việc giáo dục đạo đức trong nhà trường là nhằm hình thành nhân cách cho học sinh Hội nghị lần thứ II-BCH TW Đảng khóa VIII khẳng định “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [13, tr33]

Giáo dục đạo đức là một trong những mục tiêu của giáo dục phổ thông Điều này đã được xác định rõ ở Điều 2, Chương I – Luật Giáo Dục “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc” [26, tr1]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả Tài lẫn Đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc rất quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sồng xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định” [20,tr65]

Giáo dục đạo đức là một trong những hoạt động giáo dục cơ bản giữ vị trí đặc biệt quan trọng

Trong xu hướng toàn cầu hóa diễn ra trong mọi mặt đời sống xã hội, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức của thời đại Đó là

Trang 14

2

hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng của một số thanh niên, học sinh Thực tiễn cho thấy, chất lượng dạy và học chỉ được nâng cao khi chúng ta biết quan tâm một cách đầy đủ đến hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường nói chung và tại các trung tâm giáo dục thường xuyên nói riêng Đối với trung tâm GDTX Quận

12 - thành phố Hồ Chí Minh với chất lượng học sinh đầu vào đa dạng, yếu về học lực và ý thức rèn luyện thấp, nên hoạt động giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh lại càng mang tính phức tạp Ở các bảng thống kê, số học sinh xếp loại hạnh kiểm loại trung bình, loại yếu năm sau cao hơn năm trước, đó chính

là thực trạng đáng báo động hiện nay

Để hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trung tâm GDTX Quận

12 - thành phố Hồ Chí Minh thực sự hiệu quả, tháo gỡ được những khó khăn hiện nay cần phải có những biện pháp quản lý đúng đắn Chính vì những lý do trên và điều kiện hoạt động của bản thân, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu:

“Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - Thành phố Hồ Chí Minh ” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức hiện nay diễn ra như thế nào?

- Cần có những biện pháp nào để quản lý hoạt động giáo dục đạo đức đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay?

3 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp quản lý có cơ sở khoa học

và có tính khả thi cao, vận dụng phù hợp với thực tiễn thì sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

4 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 -

Trang 15

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục

thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

6 Phạm vi nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên

- Nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 – thành phố Hồ Chí Minh

- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

8 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các luận văn, luận án, đề tài, các văn bản pháp lý, các tài liệu

có liên quan tới vấn đề nghiên cứu để làm luận cứ khoa học cho các biện pháp

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp quan sát các hoạt động giáo dục đạo đức tại trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục đạo đức

Trang 16

4

- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia

- Phương pháp khảo nghiệm

8.3 Nhóm phương pháp thống kê

Nhằm xử lý số liệu thu được

9 Đóng góp của luận văn

Đánh giá một cách đầy đủ và khách quan về thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động GDĐĐ, tìm ra được những mặt mạnh, mặt yếu, những hạn chế cần khắc phục của hoạt động GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

Đề xuất hoàn thiện các biện pháp quản lý có tính khả thi, hiệu quả về hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX, phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay và phù hợp với đặc điểm đối tượng học sinh THPT tại trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục

nghiên cứu, luận văn có cấu trúc 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho

học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học

sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

5

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN QUẬN 12

THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của

dư luận xã hội Những tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, đạo đức học đã được hình thành hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học phương Đông: Trung Quốc, Ấn Độ,… và triết học phương Tây: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại,…

Ở phương Đông, người Trung Quốc cổ đại đã có những quan điểm đạo

đức học rất sớm Đạo ban đầu chỉ có nghĩa là con đường đã đi theo Thuyết

Văn giải tự, về sau có thêm nghĩa là con đường có chí hướng nhất định,

hướng dẫn hành vi con người theo một phương hướng nào đó Nói tóm lại,

đạo là con đường sống của con người trong xã hội Đức trong nghĩa thông

dụng của người Trung Quốc cổ đại chỉ đức hạnh tốt, phần tốt đẹp, thẳng thắn

của con người Đức thường được hiểu là biểu hiện của đạo Nói đạo đức liền

nhau thường để chỉ những yêu cầu, những nguyên tắc cuộc sống đặt ra, đòi hỏi mọi người tuân theo

Theo quan điểm của Khổng Tử ( 551- 479 – TCN ), “đạo” và “đức” gắn chặt với nhau Bao quát những quan hệ lớn nhất theo Nho giáo, Kinh Lễ nêu ra mười đức là: “cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân, tôi trung”

Ở phương Tây, tư tưởng đạo đức học của người Hy Lạp cổ đại chú trọng lý

Trang 18

6

giải sự hình thành các chuẩn mực luân lý và tập tục, tìm cách phân biết giả, thiện - ác,… Các nhà triết học - thần học coi con người và xã hội chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Mọi biểu hiện đạo đức của con người đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên Đạo đức học lúc này được coi là học thuyết về phẩm hạnh

thật-Nhà triết học Socrat (470 – 399 – TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức

Aristoste (384 – 322 – TCN) lại cho rằng không phải hy vọng vào thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức

Học thuyết Mác – Lênin quan niệm: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc

Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển: “Đạo đức đã trở thành mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển xã hội” [18,tr 47] và “Đạo đức cũng như ý thức đã là sản phẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [17,tr21]

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu những quan điểm đạo đức Mác – Lênin và đã làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức Người quan niệm đạo đức mới: Đạo đức Cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [20, tr 377]

Trang 19

7

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây

Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Về mặt lý luận, Người đã có những quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức Về thực tiễn, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt đặc biệt quang trọng Cũng như V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lược, sách lược mà còn bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình

Như vậy, theo Hồ Chí Minh: Học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng không chỉ để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù của giai cấp và dân tộc mà còn để xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội XHCN “Muốn xã hội chủ nghĩa phải có con người xã hội chủ nghĩa Muốn có người xã hội chủ nghĩa phải có

tư tưởng xã hội chủ nghĩa” [19,T9, tr296] Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cấp thiết

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của các tác giả:

GS.TS Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con

người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và nêu lên 6 biện pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục trung tâm trong việc giáo dục đạo đức cho con người, kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy

cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người” [17,tr172-176]

Trang 20

8

GS.TS Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ

nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh và đưa ra một số định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh cho học sinh trường phổ thông

GS.TS Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục

đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các

bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học

để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh

PGS.TS Phạm Khắc Chương nghiên cứu: Một số vấn đề giáo dục đạo

đức ở trường trung học phổ thông - rèn ý thức đạo đức công dân

Một số luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục cũng nghiên cứu vấn đề này

như: Lê Quang Tuấn (2008) Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo

đức cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh; Hoàng Minh Toàn (2011) Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Cộng Hiền – Hải phòng trong giai đoạn hiện nay

Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung GDĐĐ, định hướng các giá trị đạo đức, các biện pháp GDĐĐ cho học sinh Nhưng, hiện nay ít có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tại các trung tâm GDTX nói chung và trung tâm GDTX Quận 12 nói riêng Vì vậy, tôi chọn đề tài giáo dục đạo đức và các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Đạo đức

Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là 2 bộ phận của một xã hội Xét đến cùng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Con người cũng là một thực thể

Trang 21

9

xã hội, do đó,con người có 2 đặc tính: tính xã hội và tính tự giác Hai đặc tính này luôn quy định và chế ước lẫn nhau

- Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học XH) thì: “Đạo đức là

những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [ 30,tr 211]

- Theo giáo trình “Đạo đức học” (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội –

Năm 2000): “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng

xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [18,tr 8]

- GS.TS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân

lý, những quy định và chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng bên trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã

mở rộng và đạo đức gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống…

Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chắt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật đời sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân được xã hội hóa Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.” [28, tr7]

- Sách giáo khoa “Giáo dục công dân 10” (NXB Giáo dục ) quan

niệm: “Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của xã hội.” [6,tr 63]

- PGS.TS Phạm Khắc Chương thì cho rằng: “Đạo đức là một hình

thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội, nhờ

Trang 22

10

nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mính sao cho phù hợp với lợi ích,

hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ xã hội giữa con

người với con người, giữa cá nhân và xã hội.” [10, tr51]

Mặc dù cò nhiều định nghĩa khác nhau, diễn đạt dưới các hình thức

khác nhau, chúng ta có thể tiếp cận khái niệm này dưới những góc độ:

Về góc độ XH: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản

ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh hoặc chi

phối hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự

nhiên, giữa con người với xã hội và với chính bản thân minh

Về góc độ tâm lý: Đạo đức là những khuynh hướng tốt trong tâm ta, mà

những khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến

cho mọi người chung quanh ta được chuyển hóa, an vui lợi ích Như vậy, đạo

đức là cái tốt bên trong nhưng được đánh giá bằng biểu hiện ở bên ngoài

Về góc độ cá nhân: Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác,

lương tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằng hạnh phúc

và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa con người

với tự nhiên, với XH, giữa bản thân họ với người khác và với chính bản

thân mình

Các giá trị đạo đức trong XH của chúng ta hiện nay là thể hiện sự kết

hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu thế tiến bộ của

thời đại, của nhân loại Lao động sáng tạo, nguồn gốc của mọi giá trị là một

nguyên tắc đạo đức có ý nghĩa chỉ đạo trong giáo dục và tự giáo dục của con

người hiện nay

1.2.2 Giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là một hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế

hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực, giá trị đạo đức theo yêu cầu của

xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức của cá nhân, nhằm góp phần

phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của

xã hội

Trang 23

11

Giáo dục đạo đức là nhằm hình thành cho con người những quan điểm

cơ bản nhất, những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất của xã hội Nhờ đó con người có khả năng lực chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng ĐĐXH cũng như tự đánh giá suy nghĩ về hành vi của bản thân mình Vì thế hoạt động giáo dục đạo đức góp phần vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người mới phù hợp với từng giai đoạn phát triển xã hội “GDĐĐ là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [18, tr 85]

Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các quá trình của bộ phận khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, nhằm giúp cho học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện

Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng; có mối gắn bó mật thiết với giáo dục pháp luật

Giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục truyền thống tốt đẹp của ông cha ta, giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc và kế thừa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại; giúp cho học sinh thấy được và biết giữ gìn những thành quả cách mạng, đồng thời phải được tuân thủ theo nguyên tắc: Đảm bảo tính thống nhất, tính thực tiễn trong quá trình dạy và học, đảm bảo các chuẩn mực XHCN được xã hội thừa nhận Quá trình giáo dục đạo đức bao gồm các tác động của rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài Do đó, giáo dục đạo đức chỉ đạt hiệu quả khi nhà sư phạm biết tổ chức phù hợp, hình thức đa dạng phong phú khơi dậy được tính tích cực, chủ động sáng tạo và tự giáo dục của người học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục

1.2.3 Quản lý

Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành

Xã hội phát triển thì trình độ tổ chức, điều hành cũng được nâng lên, phát

Trang 24

12

triển theo Sự phát triển xã hội loài người dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có

ba yếu tố cơ bản là: lao động, tri thức và quản lý

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và đạt được những thành công to lớn Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong xã hội, trong quá trình sản xuất để đạt được mục đích đã định

Theo Các Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người) Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu

vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [8, tr 480]

Các nhà lý luận trên thế giới như: Frederich Wiliam Taylor 1915) Mỹ ; Henry Fayol (1841-1925) Pháp ; Max Weber (1864-1920) Đức;… đều cùng chung quan niệm: “Quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội”

(1856-Tác giả Nguyễn Minh Đạo viết: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ

chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế,

… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát

Trang 25

13

triển của đối tượng” [12,tr97]

Từ những quan niệm trên, có thể xác định: Quản lý là sự tác động có tổ

chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức

để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

1.2.4 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là gì, cũng đã được các nhà nghiên cứu về giáo dục

và quản lý giáo dục đưa ra nhiều định nghĩa dưới các góc độ khác nhau:

“Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và

hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích bảo đảm cho việc hình thành nhân cách cho thế

hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và tận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như những qui luật chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”.[27,tr7]

“Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra Trong thực tế, Quản lý giáo dục là quá trình tác động

có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra”.[23,tr16]

“Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ, mà còn cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ, cho nên, quản lý công tác giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân” [1,tr110]

Từ những định nghĩa trên, theo tôi: “Quản lý giáo dục là sự tác động

có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư

Trang 26

14

phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng phương pháp hiệu quả nhất.”

1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

Quản lý hoạt động GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt kết quả mong muốn

Về bản chất, quản lý hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ (nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, tình cảm, hành vi và thói quen Đó là những nét tính cách của nhân cách, ứng xử đúng đắn trong XH)

Quản lý GDĐĐ phải hướng tới việc làm cho mọi lực lượng giáo dục nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác GDĐĐ Quản lý hoạt động GDĐĐ bao gồm việc quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài trung tâm nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ GDĐĐ, biến quá trình giáo dục thành quá trình

có việc to, người có việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau Có đức phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà có hại cho dân Mặt khác, phải thấy

Trang 27

của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 2, Chương I, Luật Giáo

dục 2005) Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua công tác

giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên Công tác này đòi hỏi phải tiến hành một cách liên tục, thường xuyên và trở thành những nội dung không thể thiếu được trong các mặt giáo dục của trung tâm nhằm tạo ra lớp người “vừa hồng, vừa chuyên” như mong muốn của chủ tịch

Hồ Chí Minh kính yêu

Giáo dục và Đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần 2 (khóa VII) đã xác định mục tiêu chủ yếu của giáo dục và đào tạo là: Thực hiện giáo dục toàn diện về đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học; hết sức coi trọng giáo dục chính trị,

tư tưởng nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng nêu:

“Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống cho học sinh, sinh viên Cải tiến việc giảng dạy và học tập các bộ môn khoa học Mác-Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh” [15, tr478]

Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cách, giúp con người phát triển toàn diện Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người phải có đức, có tài mới đóng góp được nhiều lợi ích cho xã hội Mỗi

Trang 28

16

giai đoạn lịch sử phát triển xã hội có mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp hình thức giáo dục cụ thể nhằm xây dựng nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội Chính vì thế, để có những con người toàn diện, có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH đất nước trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo cần phải: “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp” [15, tr 131]

Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trước hết cần phải nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh Đây là nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa cấp bách, đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.3.2 Ý nghĩa, mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh

1.3.2.1 Ý nghĩa giáo dục đạo đức

* Giáo dục đạo đức và những yếu tố tác động đến quá trình giáo dục đạo đức:

- Đạo đức theo nghĩa thông thường nhất là những quy tắc ứng xử giữa người này với người khác, với xã hội, với thiên nhiên phù hợp với lợi ích tồn tại và phát triển xã hội loài người

- Đạo đức có vai trò động lực tinh thần to lớn đối với sự phát triển, tiến bộ xã hội được nhiều nhà khoa học thừa nhận và được các quốc gia quan tâm sâu sắc

- Giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến con người nhằm hình thành những phẩm chất tốt đẹp nơi con người, hướng con người tới cái chân thiện, cái thiện, cái mỹ, chống cái ác, cái xấu, cái giả, đưa xã hội ta đạt tới mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Học sinh được giáo dục thông qua ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội Ba môi trường này tác động ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành phẩm chất, đạo đức con người Không thể nói môi trường

Trang 29

17

nào quan trọng hơn hay ít quan trọng hơn

* Việc hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức của con người:

- Cấp thấp nhất là thói quen: Thói quen là việc làm, lời nói, cách cư

xử được lặp đi lặp lại nhiều lần, trở thành một phản xạ có điều kiện Ví dụ thói quen nói lời “cảm ơn”, “xin lỗi”,… Thói quen tốt hay xấu đều do quá trình giáo dục từ trong gia đình, đến nhà trường và ngoài xã hội

- Cơ sở hình thành nhân cách của mỗi con người là hành vi Hành vi

là cách ứng xử trong một hoàn cảnh nhất định, hành vi tốt phù hợp với lợi ích con người thì tạo thành thói quen tốt và thói quen xấu sẽ dẫn đến hành vi xấu

- Hành vi lập lại một cách thường xuyên trở thành hành động Hành động phù hợp với quy tắc ứng xử do xã hội quy định được xem là hành động

có đạo đức, nếu ngược lại là hành động phi đạo đức, bị xã hội lên án

- Nhận thức đạo đức: Con người có đạo đức tốt nhận thức được đúng, sai, tốt, xấu, biết làm theo cái tốt, điều hay lẽ phải và không làm điều xấu

- Nhận thức đạo đức cấp độ cao hơn là dám đấu tranh bảo vệ cái tốt,

lẽ phải và chống lại cái xấu, điều ác Đấu tranh với chính mình để vượt qua cám dỗ của những suy nghĩ và hành động trái với đạo đức, đạo lý làm người

1.3.2.2 Mục tiêu giáo dục đạo đức

Mục tiêu GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, biết sống vì mọi người, trở thành một công dân tốt, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước

Nhà trường phải trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết: “Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới của nước nhà, có nhân sinh quan trong sáng, có quan điểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới” [21, tr 13]

Hình thành ở học sinh thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn, trong sáng với bản thân, mọi người trong xã hội và sự nghiệp cách mạng XNCH

Trang 30

18

của Việt Nam Rèn luyện ở học sinh ý thức tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, chấp hành nghiêm pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật lao động, yêu lao động, yêu khoa học và những thành tựu, giá trị văn hóa tiến bộ của loài người và không ngừng phát huy những truyền thống cao đẹp của dân tộc, giáo dục cho học sinh trung học phổ thông tình yêu tổ quốc, gắn với tinh thần quốc tế vô sản

1.3.2.3 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức

Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông bao gồm việc giáo dục ý thức đạo đức, giáo dục tình cảm đạo đức và giáo dục hành vi đạo đức với các nhiệm vụ cụ thể sau:

Một là, làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, tính chân lý khách quan của các giá trị đạo đức, nhân văn, nhân bản của tư tưởng đó, coi đó là kim chỉ nam cho hành động của mình và thấm nhuần chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm việc theo pháp luật, sống có kỷ cương nền nếp, có văn hóa trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và quan hệ giữa con người với nhau

Hai là, làm cho học sinh nhận thức ngày càng sâu sắc nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực và các giá trị đạo đức XHCN Biến các giá trị đó thành ý thức tình cảm hành vi, thói quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày

Ba là, giúp học sinh phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân, hình thành và phát triển ý thức đạo đức, rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử đạo đức Phát triển các giá trị đạo đức cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và thời đại

Tóm lại, nhiệm vụ của quá trình GDĐĐ này không những định hướng cho các hoạt động GDĐĐ mà còn định hướng cho hoạt động dạy học nói chung, dạy bộ môn giáo dục công dân nói riêng

1.3.3 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh

Ngày 29/8/2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số

Trang 31

19

50/2007/QĐ-BGDĐT quy định về công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp với mục đích rèn luyện và phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống văn minh, tiến bộ, góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh - sinh viên và trong mục 4 của Điều 4 về nguyên tắc có nêu rõ: “Đảm bảo phát huy tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh, sinh viên, biến quá trình giáo dục, rèn luyện thành tự giáo dục, tự rèn luyện” và định ra ba nội dung GDĐĐ như sau:

* Giáo dục phẩm chất chính trị, tư tưởng

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức cho HS THPT rất quan trọng góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục nhân cách phát triển toàn diện, hài hòa đáp ứng yêu cầu mới của XH Nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị đạo đức là “Tăng cường giáo dục thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng cách mạng XHCN cho HS Nâng cao lòng yêu nước XHCN, ý thức về thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước, ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ công dân thể hiện trong cuộc sống và học tập, lao động và hoạt động chính trị

XH, giáo dục kỷ luật và phát luật, gáo dục lòng yêu thương con người và hành vi ứng xử có văn hóa”.[16,tr88-89]

* Công tác giáo dục đạo đức

- Giáo dục lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, biết trân trọng các giá trị đạo đức của dân tộc, xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân, tư cách, tác phong đúng đắn của người công dân

- Giáo dục các chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ xã hội, phê phán những hành vi không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức

- Giáo dục hành vi đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp

* Công tác giáo dục lối sống

- Giáo dục nhận thức, hành vi, thói quen của lối sống văn minh, tiến

bộ, phù hợp với bản sắc dân tộc Việt Nam

Trang 32

20

- Giáo dục trách nhiệm của cá nhân trước tập thể và cộng đồng, biết ủng hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ, phù hợp với bản sắc dân tộc, biết phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ

1.3.4 Phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh

Để đạt mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, giúp học sinh nhận thức và thực hiện đúng đắn những chuẩn mực đạo đức của xã hội thì phương pháp GDĐĐ là một thành tố quan trọng

có tính quyết định trong quá trình GDĐĐ Phương pháp giáo dục trong nhà trường là cách thức hoạt động gắn bó với nhau của người giáo dục và người được giáo dục, nhằm hình thành và phát triển nhân cách, phẩm chất theo mục tiêu giáo dục Phương pháp GDĐĐ rất đa dạng và phong phú, nó có một số nhóm sau:

 Nhóm phương pháp hình thành ý thức đạo đức cá nhân:

Nhóm phương pháp tác động đến ý thức, tình cảm, ý chí nhằm hình thành ý thức cá nhân cho học sinh, nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức

về đạo đức Đó là những chuẩn mực quy tắc, cách ứng xử giao tiếp, thái độ hành vi đối với con người, tự nhiên, xã hội về cái đúng, cái sai, cái chân - thiện

- mỹ trong cuộc sống Nhóm phương pháp này gồm các phương pháp sau:

+ Phương pháp đàm thoại: Đây là phương pháp trực tiếp giữa chủ thể

giáo dục và đối tượng giáo dục giúp cho HS có cơ hội trao đổi quan điểm, ý kiến của mình về các vấn đề đặt ra Qua đó, các em có cách đánh giá chính xác với các sự kiện, hiện tượng xã hội cũng như thế giới xung quanh Từ đó

sẽ có thái độ đúng đắn, có trách nhiệm với chính bản thân mình và xã hội

+ Phương pháp giảng giải và khuyên răn: Nhà giáo dục dùng lời nói

để giải thích, chứng minh các chuẩn mực xã hội đã được qui định nhằm giúp cho người được giáo dục hiểu và nắm được ý nghĩa, nội dung, quy tắc của việc thực hiện các chuẩn mực này

Trang 33

21

 Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình thành

kinh nghiệm ứng xử xã hội:

+ Đòi hỏi sư phạm: Giáo viên nêu lên các đòi hỏi sư phạm, đề ra yêu

cầu đạo đức cho học sinh

+ Tạo dư luận xã hội: Dư luận xã hội được tạo ra và thông qua sự đánh

giá tập thể đối với hành vi cá nhân, nhóm tập thể tạo ra được dư luận lành mạnh, cần lôi cuốn học sinh tham gia vào các hoạt động của tập thể lớp, trường, giúp các em đánh giá đúng các hoạt động đó

+ Phương pháp luyện tập: Tổ chức cho học sinh thực hiện một cách

đều đặn và có kế hoạch hành động nhất định nhằm biến các hành động đó thành thói quen ứng xử

+ Phương pháp giao công việc: Đây là phương pháp lôi cuốn học sinh

vào các hoạt động đa dạng, phong phú của trường, lớp, đoàn thanh niên, Qua đó giúp các em đúc kết được những kinh nghiệm trong quan hệ với mọi người theo những chuẩn mực đạo đức xã hội qui định

+ Phương pháp rèn luyện: Phương pháp này giúp các em củng cố

những hành vi được hình thành trong cuộc sống

+ Phương pháp tạo tình huống giáo dục: Đưa ra những tình huống mà

buộc học sinh phải lựa chọn Nó giúp học sinh suy nghĩ, đấu tranh, xem xét lại hành động của mình có phù hợp với yêu cầu và chuẩn mực đạo đức xã hội không, phải lựa chọn quan điểm, thái độ, hành vi phù hợp

 Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi

ứng xử của học sinh:

Đây là nhóm phương pháp tổ chức dưới các hình thức hoạt động và giao lưu vô cùng phong phú và đa dạng trong mọi sinh hoạt của đời sống: Văn nghệ, TDTT, lao động, học tập, giao lưu văn hóa, Hoạt động giao lưu trong và ngoài nhà trường vô cùng quan trọng, cung cấp cho học sinh những kinh nghiệm quan hệ xã hội và ứng xử xã hội Nhóm này gồm các phương pháp sau:

Trang 34

22

+ Phương pháp thi đua: Kích thích sự phấn đấu của học sinh giúp các

em tự khẳng định mình thông qua các đợt thi đua để phấn đấu vươn lên thành đạt trong cuộc sống

+ Phương pháp nêu gương: Dùng những tấm gương sáng về đạo đức của

tập thể hay cá nhân để kích thích người được giáo dục cảm phục và làm theo

+ Phương pháp khen thưởng: Là phương pháp kích thích sư phạm

bằng cách khẳng định và biểu dương thành tích của cá nhân hay tập thể học sinh Phương pháp này có tác dụng rất lớn: Tạo cho tập thể, cá nhân học sinh phấn khởi, kích thích được tính tự giác, tích cực rèn luyện phấn đấu vươn lên học tập theo những chuẩn mực đạo đức của xã hội Đồng thời nêu gương cho tập thể, kích thích sự phấn đấu vươn lên của các cá nhân khác có lợi cho phong trào, tránh được các hành vi tiêu cực trong xã hội

+ Phương pháp kỷ luật: Phê bình, cảnh cáo hay các hình thức kỷ luật

khác là phương pháp biểu thị sự không đống tình, phản đối, phê phán những hành vi sai trái của người được giáo dục so với chuẩn mực xã hội đề ra Giúp học sinh nhận ra lỗi lầm của mình, biết ăn năn, hối lỗi và từ bỏ những thói quen, hành vi sai trái của mình Từ đó, điều chỉnh hành vi của mình theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội

Hình thức GDĐĐ cho HS trong trung tâm có thể thông qua giáo dục truyền thống; thông qua con đường dạy học đặc biệt là bộ môn GDCD; thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, TDTT, ; thông qua các phong trào

“Đền ơn, đáp nghĩa”, “Lá lành đùm là rách”, từ thiện, nhân đạo, tình nguyện, ; thông qua các tấm gương sáng của các thầy cô giáo và ý thức tự rèn của cá nhân

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

1.3.5.1.Yếu tố xã hội

Môi trường xã hội là sự tác động thường xuyên, hàng ngày của các hiện tượng chính trị, kinh tế, xã hội đối với nhận thức, hiểu biết của học sinh, điều

Trang 35

23

chỉnh thế giới quan, nhân sinh quan của học sinh theo các chiều hướng khác nhau, đa dạng và khá phức tạp, có khi các em rất khó phân biệt được thật và giả, tốt và xấu, hiện tượng và bản chất Môi trường xã hội chính là thuốc nhử hàng đầu thử thách trí tuệ, nhân cách, phẩm giá con người đối với học sinh

Môi trường giáo dục rộng lớn đó là cộng đồng cư trú của HS, từ xóm giềng, khu phố đến các tổ chức đoàn thể XH, các cơ quan nhà nước, đều ảnh hưởng rất lớn đến việc GDĐĐ cho HS Bên cạnh việc hình thành những giá trị mới, tích cực, sự phát triển, mở cửa, hội nhập kinh tế thị trường và sự phát triển quá nhanh về khoa học công nghệ cũng làm nẩy sinh những hiện tượng tiêu cực trong XH, ảnh hưởng xấu đến tư tưởng chính trị, tình cảm đạo đức, lối sống của một bộ phận học sinh

Một môi trường XH trong sạch lành mạnh, một cộng đồng XH tốt đẹp, văn minh là điều kiện thuận lợi nhất GDĐĐ học sinh và hình thành nhân cách

HS Cần phải có sự phối hợp thống nhất giữa trung tâm, gia đình và XH nhằm

đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục XHCN Sự phối hợp này tạo ra môi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp để giáo dục đạo đức HS

1.3.5.2 Yếu tố gia đình

Đạo đức gia đình không thoát ra khỏi những giá trị đạo đức xã hội Môi trường gia đình bao gồm các giá trị văn hóa mà cộng đồng gia đình góp sức tạo lập, xây dựng, gìn giữ và phát triển tạo nên không gian sống riêng để tiếp nhận hoặc từ chối các tác động của xã hội Môi trường văn hóa gia đình có tính bền vững và kế thừa, góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách và

sự tự nhận thức của các thành viên

Gia đình với những quan hệ mật thiết, là nơi nuôi dưỡng các em HS từ

bé đến lúc trưởng thành, là cội nguồn hình thành nhân cách HS: “Nền nếp gia phong”, “Truyền thống gia đình” là những điều rất quan trọng mà người xưa

đã từng nói Trong gia đình, ông bà, cha mẹ, anh chị là tấm gương sáng để con trẻ noi theo: “Không có gì tác động lên tâm hồn non trẻ bằng quyền lực của sự làm gương Còn giữa muôn vàn tấm gương, không có tấm gương nào

Trang 36

1.3.5.3 Yếu tố nhà trường (TTGDTX)

Trung tâm với cả một hệ thống giáo dục được tổ chức quản lý bài bản

và chặt chẽ là yếu tố quan trọng nhất trong việc GDĐĐ theo những chuẩn giá trị tiến bộ, đúng đắn, theo định hướng XHCN, với hệ thống chương trình khoa học, các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo phong phú, các phương tiện

hỗ trợ giáo dục ngày càng hiện đại và đặc biệt là với đội ngũ cán bộ, giáo viên

bộ môn, giáo viên chủ nhiệm được đào tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực tổ chức lớp sẽ là yếu tố có tính chất quyết định hoạt động GĐĐD cho HS

Môi trường trung tâm trong hình thành nhân cách, đạo đức cho học sinh được xem là chủ yếu và có tính quyết định trên các phương diện hình thành nhân sinh quan, thế giới quan Việc giáo dục, hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức cho học sinh là sự thống nhất hữu cơ giữa dạy chữ và dạy người

Thực trạng môi trường trung tâm tác động đến học sinh rất phong phú

và nhiều khía cạnh với nhiều đối tượng khác nhau nhưng cùng chung một mục tiêu bảo đảm sự thành công các mục tiêu đào tạo đối với học sinh các cấp Môi trường trung tâm chính là nội dung và yếu tố có tính quyết định trong việc hình thành ý thức trách nhiệm cho học sinh Nó là một nhân tố mạnh mẽ tạo nên nhân phẩm, đạo đức của học sinh Ngoài gia đình và xã hội, nhà trường có tác động mạnh đến hướng đi, thắp sáng tương lai cho học sinh khi bước vào đời Nhà trường là nơi hình thành đạo đức cơ bản của người công dân có trí thức

1.3.5.4 Yếu tố đặc điểm tâm lý

Học sinh THPT: 15 đến 18 tuổi (tuổi mới lớn) Ở lức tuổi này đã hình thành mạnh mẽ năng lực, tự ý thức và nhu cầu tự giáo dục Vì vậy, đây cũng

Trang 37

1.4 Những tác động cơ bản đến việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trung tâm giáo dục thường xuyên

1.4.1 Mục tiêu, đặc điểm của giáo dục thường xuyên

1.4.1.1 Khái niệm giáo dục thường xuyên (GDTX)

Nghị định số 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ quy định: “GDTX

được thực hiện bằng nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ở mọi trình độ có thể học tập thường xuyên, phù hợp với hoàn cảnh từng người, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật” [11, tr14] GDTX là một trong năm bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân

Theo qua điểm UNESCO khu vực Châu Á, Thái Bình Dương thì:

“GDTX là khái niệm rộng rãi bao gồm tất cả các cơ hội học tập cho mọi người

có mong muốn và nhu cầu sau xoá mù chữ cơ bản hoặc giáo dục tiểu học” [11,tr14] Theo thuật ngữ này thì GDTX không bao gồm xoá mù chữ, mà chỉ dành cho người lớn hoặc thanh niên đã biết chữ; GDTX là một khái niệm rộng, bao gồm cả GD chính qui, GD không chính qui, GD phi chính phi, ba bộ phận này xen kẽ, nối tiếp, kế tiếp nhau trong suốt cuộc đời của mỗi người

Kế hoạch hành động quốc gia cho mọi người 2003-2015 cũng chỉ ra

GDTX là: “Các hoạt động học tập suốt đời diễn ra sau khi đã hoàn thành giáo dục tiểu học và trung học cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu của người lớn về giáo dục phổ thông và dạy nghề” [22, tr16]

Trang 38

26

Từ những đặc điểm và quan điểm trên GDTX được hiểu là hình thức đáp ứng nhu cầu người học, cung cấp các cơ hội học tập và tạo điều kiện cho người học học tập suốt đời, góp phần nâng cao dân trí - dân sinh, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

1.4.1.2 Mục tiêu giáo dục thường xuyên

Theo Luật Giáo dục 2005: GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học,

học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội

Giáo dục thường xuyên phải nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, góp phần bồi dưỡng nhân tài, tạo cơ hội thực hiện GD cho mọi người, thực hiện mục tiêu XMC, phổ cập Tiểu học, THCS và tiến tới phổ cập THPT đúng

độ tuổi trên phạm vi cả nước

1.4.1.3 Đặc điểm giáo dục thường xuyên

Giáo dục thường xuyên là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân theo Luật Giáo dục năm 2005 Trong chiến lược phát triển GD 2009-2020 của Thủ tướng Chính phủ có ghi: “GDTX được tiếp tục đẩy mạnh, tạo cơ hội cho mọi người có thể học tập suốt đời phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mình, đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, góp phần tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp của cá nhân người lao động” [7,tr10] Như vậy GDTX là một bộ phận không thể thiếu trong việc xây dựng

xã hội học tập và nâng cao nguồn lực phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước trong giai đoạn hội nhập và phát triển

Những đặc điểm của trung tâm giáo dục thường xuyên cần chú ý:

- Đối tượng được giáo dục: Hầu hết học sinh vào học tại trung tâm

GDTX đều là học sinh có học lực yếu không trúng tuyển vào các trường THPT công lập, học sinh thuộc dạng phân luồng sau THCS và học sinh có ý thức chấp hành kỷ luật chưa cao nên bị các trường THPT loại ra Học sinh lớn tuổi đã nghỉ học lâu năm nay có nhu cầu nâng cao kiến thức để tiếp tục đi học

Trang 39

27

lên cao hay tìm việc làm Học sinh thuộc diện hòa nhập cộng đồng: khuyết tật, sau cai nghiện,…Chính vì thế, công tác nâng cao chất lượng dạy và học cùng với công tác ổn định nề nếp, chuyên cần, giáo dục đạo đức lối sống cho đối tượng học sinh tại các trung tâm GDTX là một thách thức lớn

- Đội ngũ sư phạm: Theo Thông tư liên tịch số BGDĐT-BNV của Bộ GD-ĐT và Bộ Nội vụ ngày 23/8/2006 về hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập và Công văn 5344/UBND-VX của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/8/2008 về định biên các chức danh trong tổ chức bộ máy các trường học tại thành phố Hồ Chí Minh qui định thì lực lượng cán bộ - giáo viên - công nhân viên biên chế của trung tâm GDTX mỏng (không quá 35 người/đối với trung tâm hạng 2) Hơn nữa, chức năng, nhiệm vụ của trung tâm GDTX quá lớn, nên một cán bộ quản lý, giáo viên của trung tâm thường đảm nhận 2 đến 3 nhiệm vụ, làm việc và giảng dạy suốt ba ca sáng, chiều, tối nên đôi khi chất lượng công việc không cao

35/2006/TTLT Điều kiện làm việc và học tập: Rất ít trung tâm GDTX có cơ sở vật

chất khang trang, thoáng mát, “trường ra trường, lớp ra lớp” Phần lớn trung tâm GDTX đều là cơ sở tạm, mượn, ghép, chắp vá trong điều kiện môi trường xuống cấp, chật hẹp nên công tác nâng cao chất lượng dạy, học và giáo dục toàn diện cho học sinh được coi là thử thách lớn

- Về kinh phí: Là một bộ phận của hệ thống GD quốc dân, tuy nhiên

kinh phí đầu tư cho ngành học GDTX thường xuyên eo hẹp, các trung tâm GDTX phải tự cân đối nguồn kinh phí hoạt động Do đó, hiện nay, đa phần các trung tâm GDTX chỉ thực hiện một nhiệm vụ duy nhất: giáo dục thường

Trang 40

28

độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, CNH-HĐH đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ, có tính

tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng CNXH vừa

“hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ.[14,tr357-359]

Trên cơ sở mục tiêu GD-ĐT của Đảng, nội dung quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở TT.GDTX bao gồm:

- Chỉ đạo hoạt động xây dựng kế hoạch GDĐĐ: Hoạt động GDĐĐ trong trung tâm GDTX là bộ phận quan trọng trong toàn bộ hệ thống kế hoạch quản lý của trung tâm Vì vậy, phải đảm bảo tính thống nhất giữa mục tiêu GDĐĐ với mục tiêu giáo dục trong trung tâm, phối hợp cơ hữu với kế hoạch hoạt động trên lớp, lựa chọn nội dung, hình thức đa dạng thiết thực, phù hợp với hoạt động tâm sinh lý của học sinh để đạt hiệu quả cao

- Kế hoạch phải đưa ra những chỉ tiêu cụ thể và các biện pháp cụ thể

có tính khả thi

- Tổ chức bộ máy thực hiện kế hoạch đã đề ra: BGĐ trung tâm GDTX phải thành lập ban chỉ đạo (Ban đức dục hay tổ giáo dục chính trị - tư tưởng - truyền thống) và phân công nhiệm vụ cụ thể, đúng việc, đúng người

- Triển khai chỉ đạo thực hiện kế hoạch đã đề ra, thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý và tổ chức GDĐĐ

1.4.3 Các phương pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên

Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có

và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng có được của hệ thống) và khách thể quản lý (các ràng buộc của môi trường, hệ thống khác,…) để đạt được các mục tiêu quản lý đề ra Không chỉ

Ngày đăng: 16/03/2021, 23:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w