Có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học bàn về XHHGD như: Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật, Lê Quốc Hùng-2004, Xã hội hóa giáo dục và vai trò của nhà nước- GS, TS
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Mã ngành:6014.01.14
Người hướng dẫn: PGS.TS Dương Thị Hoàng Yến
Hà Nội, tháng 06/2017
Trang 2DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nước ta đang bước vào quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa và chịu nhiều tác động của yếu tố ngoại cảnh như xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế, cơ chế thị trường, kinh tế tri thức… Để đáp ứng được điều đó thì vấn đề ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng Việt Nam nằm trong khu vực châu Á nên ngoài ảnh hưởng của xu thế hội nhập chung của thế giới còn ảnh hưởng lớn của xu thế hội nhập khu vực châu Á Vì thế, việc tiếp cận với giáo dục các nước châu Á phát triển đã được chú ý, đặc biệt với các nước có nền giáo dục tiến tiến như Singapo, Nhật Bản Muốn đạt được mục tiêu tiếp cận với giáo dục các nước châu Á nói chung, Nhật Bản nói riêng thì việc quan trọng là ngôn ngữ Vì thế, việc học tiếng Nhật hiện nay đang trở thành một trào lưu khá phát triển Khi việc học tiếng Nhật mở rộng thì một vấn đề đặt ra là quản lý việc dạy học tiếng Nhật trong các nhà trường theo các hướng cụ thể thế nào?
Ngày 26/08/2016, Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016-2017 nêu rõ: Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cấp học Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình ngoại ngữ 10 năm đối với giáo dục phổ thông Xây dựng, hoàn thiện chương trình, sách giáo khoa, hệ thống học liệu ngoại ngữ trực tiếp và trực tuyến đáp ứng mục tiêu đào tạo chung Xây dựng chương trình, tài liệu dạy và học ngoại ngữ tăng cường, chuyên ngữ và song ngữ ở các cấp học và trình độ đào tạo Triển khai đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên theo chuẩn đầu ra ngay trong quá trình và theo kết quả từng giai
đoạn giáo dục, đào tạo
Quyết định số 1400/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Về việc phê duyệt
Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 –
2020" Trong mục tiêu chung chỉ rõ “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến
rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với
Trang 4một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.” Như vậy, việc dạy- học ngoại ngữ nói
chung, tiếng Nhật nói riêng đã và đang được triển khai rộng rãi Điều đó, đòi hỏi việc quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật phải được đặt ra để đạt hiệu quả
Hiện nay, trong xã hội, giao lưu quốc tế đang ngày càng mở rộng trên mọi lĩnh vực, rất nhiều học sinh Việt Nam và gia đình có xu hướng cho con đi du học nước ngoài để có cơ hội mở mang nhận thức và tìm kiếm việc làm tốt thì việc học ngoại ngữ càng được quan tâm Nếu trước đây, môn ngoại ngữ trong các nhà trường là một môn phụ, ít được chú trọng thì nay vai trò của nó đã có sự thay đổi Ngoài tiếng Anh được coi là ngôn ngữ rất được phổ biến và đang rất được chú trọng thì tiếng Nhật cũng đang được các nhà trường chú ý Để triển khai việc dạy- hoc tiếng Nhật trong nhà trường thì rất cần các nguồn lực hỗ trợ vì tiếng Nhật hiện tại đang được triển khai ở một số trường chứ không rộng rãi như tiếng Anh
Vấn đề quản lý dạy học tiếng Nhật đang được đặt ra với nhiều nội dung, trong đó có vấn đề xã hội hóa rất cần thiết Tuy nhiên, trong thực tế, do một số nguyên nhân như tiếng Nhật chưa phổ biến, tiếng Anh đang được quan tâm hơn…nên hiện nay, tại quận Ba Đình chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề
này Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài “Quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở các trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo hướng xã hội hóa giáo dục” được đặt ra và nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật theo hướng xã hội hóa giáo dục ở trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, đề xuất biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao kết quả dạy học tiếng Nhật theo hướng xã hội hóa của các trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Trang 53.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học tiếng Nhật tại trường THCS 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo hướng xã hội hóa giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật đang được triển khai ở một
số trường THCS trên địa bàn quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, nhưng kết quả còn hạn chế do cộng đồng dân cư chưa nhận thức rộng rãi về dự án dạy tiếng Nhật thuộc Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 cũng như sự hạn chế về các nguồn lực và môi trường thực hành tiếng Nhật trong các nhà trường THCS Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý theo hướng thu hút được sự tham gia của cộng đồng, của những tổ chức sử dụng và phát triển văn hóa Nhật Bản thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Nhật tại các nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ và
tiếng Nhật tại trường THCS theo hướng xã hội hóa giáo dục
5.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo hướng xã hội hóa giáo dục và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS quận
Ba Đình, thành phố Hà Nội theo hướng xã hội hóa giáo dục
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài:
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Sử dụng tiếp cận xã hội hóa trong giáo dục
để nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật tại các trường THCS
quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
6.2 Giới hạn về địa bàn khảo sát: Khảo sát tại 04/04 trường THCS ở quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội có triển khai việc dạy học tiếng Nhật gồm trường THCS Thăng Long, trường THCS Thành Công, trường THCS Nguyễn Công Trứ và trường THCS Nguyễn Tri Phương
6.3 Giới hạn về đối tượng khảo sát:
Trang 6- CBQL: 04 hiệu trưởng, 04 hiệu phó phụ trách chuyên môn, 4 tổ trưởng chuyên môn tổ Ngoại ngữ, 02 chuyên viên phòng GD&ĐT Ba Đình
- GV dạy tiếng Nhật: 08/08 giáo viên tiếng Nhật
- Học sinh các lớp học tiếng Nhật: 420 học sinh ở 9 lớp học tiếng Nhật khối 6,7,8 của 04 trường ( Thăng Long: 03 lớp, Thành Công: 02 lớp, Nguyễn Công Trứ:
02 lớp, Nguyễn Tri Phương: 1 lớp)
6.4 Giới hạn về thời gian: Thời gian lấy số liệu: Từ năm học 2014- 2015 đến năm
học 2016-2017
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích-Tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa các các tài liệu
lý luận quản lý dạy học ngoại ngữ tại trường THCS, và các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: dành cho cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh)
- Phương pháp phỏng vấn: với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các giáo viên dạy giỏi, học sinh và cha mẹ học sinh và đại diện các tổ chức tham gia dạy và học tiếng Nhật tại Hà Nội
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật tại trường THCS theo hướng xã hội hóa giáo dục
Trang 7Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật tại trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo hướng xã hội hóa giáo dục
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật tại trường THCS quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo hướng xã hội hóa giáo dục
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG NHẬT TẠI
TRƯỜNG THCS THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học
Sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều vào trình độ tri thức của người dân Để có tri thức, vấn đề giáo dục luôn được các quốc gia ưu tiên hàng đầu Giáo dục góp phần vào việc xây dựng nhân cách cho con người và phải cung cấp kĩ năng cho lực lượng lao động của quốc gia Nền giáo dục của xã hội cần phải xây dựng cho con người kĩ năng khai thác, sử dụng những thông tin để đáp ứng yêu cầu của công việc Nói đến giáo dục thì một trong những hoạt động quan trọng
nhất là dạy và học “Hoạt động dạy- học đạt được hiệu quả tối ưu trong trường hợp có sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học của học sinh, trong đó sự hỗ trợ của giáo viên và của học sinh trùng nhau tạo nên sự cộng hưởng của chính quá trình dạy học đó”[16, tr 137,138] Điều đó cũng đặt ra vấn đề
phải quản lý hoạt động dạy học Có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học hoặc liên quan đến quản lý hoạt động dạy học
Một số công trình nghiên cứu như: Hoạt động dạy học ở trường THCS, 2000- Nguyễn Ngọc bảo, Hà Thị Đức; Lý luận dạy học ở trường THCS,2005- Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiểm; Một số vấn đề về quản lý giáo dục và khoa học giáo dục,1986- Phạm Minh Hạc; Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO & TQM, 2004- Đặng Quốc Bảo; Giáo dục Việt Nam- Đổi mới và phát triển hiện đại hóa, 2007- Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức; Đại cương khoa học quản lý, 2010- Trần Khánh Đức; Những vấn đề cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, 1989- Nguyễn Ngọc quang; Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS thực hiện chương trình SGK mới tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục- Nguyễn Kim Phụng; Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THPT huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục- Vũ Trí Thức, trường
Trang 9ĐHP Hà Nội; “ Quản lý dạy học theo hướng đảm bảo chất lượng tại trường Tiểu học tỉnh Vĩnh Long”, luận án Tiến sĩ Giáo dục- Phạm Huy Tư…
Hầu hết các công trình nghiên cứu này đều hướng tới việc nêu ra đặc điểm, cách quản lý hoạt động dạy học có hiệu quả nhất từ các góc độ khác nhau hoặc ứng dụng cụ thể trong một phạm vi tác giả nghiên cứu
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý xã hội hóa giáo dục
Mỗi quốc gia muốn phát triển giáo dục đều cần có sự vào cuộc của các lực lượng xã hội Vì thế, xã hội hóa giáo dục là vấn đề đã được nhiều người nghiên cứu, đề cập Có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học bàn về
XHHGD như: Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật, Lê Quốc Hùng-2004,
Xã hội hóa giáo dục và vai trò của nhà nước- GS, TS Nguyễn Vân Nam; Xã hội hóa giáo dục ( 2001)- Chủ biên: PGS Võ Tấn Quang; Đề án Xã hội hóa giáo dục
và đào tạo (1998)- Bộ Giáo dục và Đào tạo; Xã hội hóa giáo dục- Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nguyễn Sinh Huy; Xã hội hóa và sự hình thành định hướng giá trị, Võ Tấn Quang; Xã hội hóa giáo dục- một động lực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Nguyễn Mậu Bành; Xã hội hóa giáo dục- Một điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Nguyễn Văn Sơn;
; Đề án xã hội hóa giáo dục- đào tạo của Bộ Giáo dục- Đào tạo của ; Đề án Sự công bằng xã hội về giáo dục và giải pháp xã hội hóa giáo dục – đào tạo Công Đoàn Việt Nam; Các giải pháp về tổ chức và cơ chế chính sách nhằm triển khai thực hiện xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo của Vụ Tổ chức
cán bộ-Bộ Giáo dục- Đào tạo…
Theo tác giả Phạm Bích Thủy trong luận án Tiến sĩ Giáo dục học “ Quản
lý hoạt động xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non trên địa àn thành phố Hải Phòng trong bối cảnh đổi mới giáo dục” thì quản lý XHHGD được nghiên cứu ở
nước ngoài tập trung vào các hướng nghiên cứu như: Huy động cộng đồng cùng tham gia giáo dục; Dân chủ hóa giáo dục; phân cấp quản lý giáo dục; Công bằng
xã hội trong giáo dục với nhiều công trình nhiên cứu, bài viết chủ yếu mang tầm vĩ
mô hoặc ghi lại từ thực tiễn một số mô hình đã thành công trong huy động cộng đồng tham gia cùng làm giáo dục nhưng cùng hướng đến mục tiêu như UNESCO
Trang 10“ Đảm bảo sự công bằng trong giáo dục đó là giáo dục phải được cung cấp cho tất cả mọi người Mọi người đều có cơ hội học tập như nhau từ người nghèo đến trẻ em đường phố , những người ở vùng nông thôn hay miền núi, hải đảo, những người dân tộc thiểu số…tất cả đều có cơ hội học tập” [14, tr11] Trong nước, có
nhiều công trình nghiên cứu và có sự tương đồng về quan niệm XHHGD với các
nhà nghiên cứu nước ngoài Trong các văn bản mang tầm quốc gia như Đề án “ Qui hoạch phát triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005- 2010” của Bộ GD&ĐT
hay Quyết định số 711/QĐ-TTG ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt “ Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” đều xác định rõ “Vai trò chủ đạo, mang tính toàn diện, thống nhất của nhà nước nhằm thu hút mọi tiềm năng để phát triển giáo dục XHHGD có thể coi là một chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, bởi nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài và căn bản nhằm đạt được mục tiêu giáo dục” [ 14, tr 14] Các công trình
nghiên cứu chủ yếu theo các hướng: vai trò của quản lý XHHGD; nội dung của quản lý XHHGD; giải pháp quản lý XHHGD tuy nhiên đều trên tầm vĩ mô và đều nhấn mạnh đến việc thu hút mọi người dân và toàn xã hội tham gia cũng giáo dục, xác định rõ vai trò của nhân dân, nhà nước, xã hội trong việc tập hợp nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần cho giáo dục
Trong luận văn nghiên cứu về XHHGD “ Quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học phổ thông công lập huyện Đức Thọ, tỉnh Lâm Đồng
của Võ Hùng Phi lại chỉ ra việc nghiên cứu vấn đề thực hiện XHHGD ở nước ngoài như Nhật bản, Hàn Quốc, Hoa Kì và ở Việt Nam qua các thời kì: phong kiến
và Pháp thuộc, trong và sau kháng chiến, thời kì đổi mới…
Nhìn chung, nghiên cứu về XHHGD thì nhiều nhưng XHHGD trong dạy học tiếng Nhật thì chưa có đề tài nào nghiên cứu
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ và quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS theo hướng xã hội hóa giáo dục:
Trang 11Giáo dục phải hướng đến đào tạo những công dân toàn cầu, có trình độ
ngôn ngữ để tiếp nhận kiến thức mới Vì thế, việc dạy học ngoại ngữ luôn được
các quốc gia rất chú ý, Việt Nam cũng vậy
Để đảm bảo mục tiêu hội nhập quốc tế theo xu hướng toàn cầu hóa, từ bậc Tiểu học, vấn đề dạy- học ngoại ngữ đã được Bộ Giáo dục dề cập đến rất nhiều trong quá tình đổi mới chương trình, sách giáo khoa, hợp tác giáo dục…Nhiều văn bản đã được ban hành, nhiều hội thảo được tổ chức với qui mô quốc gia, nhiều dự
án ngoại ngữ được tiến hành nhằm nâng cao chất lượng day- học ngoại ngữ trong
các nhà trường phổ thông Đặc biệt trong “ Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” - Hà Nội, 2008 Với đề án này,
việc quản lý dạy- học ngoại ngữ được đề cập cụ thể, qui mô nhằm nâng cao chất lượng dạy- học ngoại ngữ ở nước ta, trong đó có đề cập đến việc dạy- học tiếng Nhật trong nhà trường phổ thông
Nhật Bản là một quốc gia châu Á có nền giáo dục tiên tiến và đất nước Nhật Bản từ một nước nghèo tài nguyên, hay bị thiên tai trở thành một cường quốc với nền kinh tế rất phát triển Để có điều đó, Nhật Bản đã rất chú trọng đào tạo con người Do đó, việc học tập Nhật Bản không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia khác cũng đang tiến hành; mặt khác, muốn học hỏi một quốc gia thì cần hiểu ngôn ngữ của quốc gia đó Việc dạy- học tiếng Nhật ở trường phổ thông của nước ta mới tiến hành chưa lâu: năm 2003 Việt Nam và Nhật Bản kí kết thỏa thuận khung về việc
dạy thí điểm tiếng Nhật trong trường phổ thông Việt Nam trong “ Đề án dạy thí điểm tiếng Nhật trong trường THCS và THPT Việt Nam” Đề án này góp phần
chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu hợp tác ngoại giao, kinh tế , khoa học kĩ thuật,…phát triển quan hệ hai nước lên một tầm cao mới hiệu quả hơn Từ
năm 2013, đề án này trở thành một phần trong “ Đề án dạy và học ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2008-2020” nay gọi là “ Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020” Theo đó, Bộ tiếp tục triển khai dạy và học tiếng Nhật
trong các trường phổ thông, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các Trung tâm giáo dục thường xuyên Bên cạnh đó, ưu tiên xây dựng và phát triển chương trình 6 bậc năng lực với tài liệu giảng dạy và học tập tiếng Nhật khác nhau cho các đối tượng
Trang 12để đảm bảo chứng chỉ của Việt Nam cũng được công nhận tại Nhật Bản, tạo điều kiện cho công dân Việt Nam dễ dàng đến Nhật Bản học tập, lao động và giao lưu hơn
Sau khi đề án dạy tiếng Nhật được triển khai tại một số thành phố, đa số phụ huynh có nhu cầu cho con theo học tiếng Nhật đều rất phấn khởi nhưng điều băn khoăn của họ là kinh phí cho việc dạy học tiếng Nhật phụ thuộc phần lớn vào xã hội hóa Điều này cũng gây khó khăn cho việc phát triển, mở rộng qui mô dạy tiếng Nhật trong các trờng phổ thông; mặt khác, một số vấn đề khó khăn khi dạy tiếng Nhật như giáo viên tiếng Nhật thiếu về số lượng và chưa đạt chuẩn trình độ, thiết bị, đồ dùng dạy học tài liệu tham khảo cho việc dạy học tiếng Nhật còn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học Tại các trường Sư phạm đào tạo giáo viên ngoại ngữ chỉ tập trung vào tiếng Anh Do đó, giáo viên tiếng Nhật dạy cho các trường phổ thông lại không được đào tạo theo Sư phạm mà chỉ ở các trường ngoại ngữ, là việc tại các trung tâm tiếng Nhật
Vì thế, khi triển khai việc dạy tiếng Nhật ở trường phổ thông thì một vấn đề đặt ra là quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật thế nào cho hiệu quả Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về công tác quản lý để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường phổ thông Ngoại ngữ cũng không tách rời hệ thống các môn học nên đa số các biện pháp quản lý dạy- học nói chung đều có thể áp dụng khi nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động dạy- học ngoại ngữ nói chung và tiếng Nhật nói riêng
Nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ trong nhà trường có rất nhiều đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nhưng chỉ tập trung
chủ yếu ở môn tiếng Anh Ví dụ: Tuyển tập các bài báo khoa học Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ, 1995-2005- Nguyễn Thị Thu Phương; Các biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn ngoại ngữ cho sinh viên tại Học viện hành chính quốc gia, Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục Trương Thị Thu Thủy-2008; Biện pháp quản lý hoạt động dạy- học môn ngoại ngữ tại học viện thanh- thiếu niên Việt Nam, Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Đỗ Thị Thu Hà- 2008;
Trang 13Các công trình nghiên cứu đều đã đạt những thành tựu nhất định về lý luận
và thực tiễn nhưng chỉ tập trung ở môn tiếng Anh và các biện pháp quản lý chung Đến nay, vấn đề quản lý hoạt động dạy- học tiếng Nhật tại trường THCS là vấn đề mới và chưa có tác giả nào đề cập, triển khai nghiên cứu Việc quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật trong các nhà trường chủ yếu là quản lý về chương trình, giáo viên; mà như trên đã trình bày, giáo viên tiếng Nhật chưa được đào tạo bài bản cho dạy phổ thông, chương trình chỉ ở mức thí điểm, cơ sở vật chất chủ yếu dựa vào xã hội hóa Do đó, việc quản lý hoạt động này để nâng cao chất lượng dạy học là việc làm cần thiết Muốn nâng cao chất lượng dạy- học tiếng Nhật thì phải quản lý tốt
và có những giải pháp phù hợp với từng yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy học tiếng Nhật Các công trình nghiên cứu về quản lý dạy học tiếng Nhật và nhất là theo hướng xã hội hóa giáo dục càng chưa có nên đây là vấn đề rất mới, khó khăn Vì thế, khi tác giả lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài này sẽ tham khảo, kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ nói chung và tiếp tục đề ra một số giải pháp mới về quản lý hoạt động dạy- học tiếng Nhật tại trường THCS quận Ba Đình, Hà Nội nhưng chỉ trong giới hạn theo hướng
xã hội hóa giáo dục
Nghiên cứu quản lý hoạt động dạy- học tiếng Nhật tại trường THCS theo hướng xã hội hóa giáo dục ngoài việc nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật, tác giả hướng theo nội dung xã hội hóa giáo dục Vấn đề xã hội hóa giáo dục không chỉ hiểu đơn thuần là huy động nguồn vốn từ các nguồn lực xã hội cho việc dạy- học tiếng Nhật mà cần hiểu hai chiều là sự đóng góp của hoạt động dạy- học tiếng Nhật cho xã hội, tạo được sản phẩm phục vụ nhu cầu xã hội Do đó, vấn đề nghiên cứu ngoài những nội dung về quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật thì sẽ đặt ra những biện pháp theo định hướng xã hội hóa
Như vậy, nét mới của đề tài là quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS và theo hướng xã hội hóa giáo dục
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm quản lý và quản lý giáo dục
Trang 141.2.1.1 Khái niệm quản lý: Quản lý đã trở thành nhân tố của sự phát triển xã
hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan
đế mọi người Quản lý phối hợp các bộ phận , các hoạt động riêng lẻ của xã hội tạo
nên hiệu quả mang cấp số nhân cho sự phát triển xã hội Quản lý là một hoạt động
quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người
đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn Nghiên cứu về quản lý sẽ giúp cho con người có được những kiến
thức cơ bản nhất, chung nhất đối với hoạt động quản lý Quản lý là khái niệm rất
chung, dùng cho cả quá trình quản lý xã hội ( xí nghiệp, trường học, đoàn thể…)
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý và quản lý ở nhà trường:
Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ cức để vẫn hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định
Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức
và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với qui luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động
F.W Taylor cho rằng: Quản lý là biết chính xác điều muốm người khác là, sau đó thấy họ hòa thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
H Koontz thì khẳng định: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức )
Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ”
Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn
Trang 15Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về quản lý như sau:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”
Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của quản lý
1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội Lĩnh vực này ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống Quản lý giáo dục cho thấy điển hình nhất về quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách Sự hình thành và phát triển nhân cách đưa ra cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài
Về khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát: “Hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân
- Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội [6;86]
- Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có
ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, sự phát triển tâm lý, thể lực của trẻ em.”
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên một trạng thái mới về chất”
Trang 16Trong quản lý giáo dục các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không tách biệt, tạo thành hoạt động quản lý thống nhất
Từ những khái niệm nêu trên, phạm vi nghiên cứu này xác định: Quản lý giáo dục là quá trình vận dụng nguyên lý, khái niệm, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục Quản lý giáo dục là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt mục tiêu xác định
1.2.2 Khái niệm hoạt động dạy học
1.2.2.1 Khái niệm hoạt động dạy học
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, tác giả Hà Thế Ngữ đã
quan niệm: "Hoạt động dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh, trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy dạy học đã đặt ra" [18, tr11]
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng “ Nói đến dạy học là nói đến hoạt động dạy và học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kỹ xảo và thái độ tích cự đối với học tập và cuộc sống.” [20, tr 10]
Nhìn chung các quan niệm đều thống nhất: Hoạt động dạy học là quá trình truyền thụ, lĩnh hội những kỹ năng, kỹ xảo và phương pháp nhận thức của con người Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và người học (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học
Quan niệm trên về hoạt động dạy học đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới đáp ứng được yêu cầu của thời đại Trong quá trình dạy học không thể thiếu một trong hai quá trình bộ phận này, nếu không thì quá trình đó không diễn ra
Trang 17Vậy, hoạt động dạy học là hoạt động trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người giáo viên làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
1.2.2.2 Khái niệm hoạt động dạy: Theo các tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và một số tác giả khác thì hoạt động dạy của người giáo viên “Đó là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức-học tập của học sinh, giúp học sinh tìm tòi, khám phá tri thức, qua đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân.”[16, tr 135]
Ngày nay trong quá trình hoạt động chung đó, người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học để giúp họ tự khám phá tri thức, ngoài ra giáo viên cũng có chức năng truyền thụ tri thức nhưng chỉ khi người học thật cần thiết Song, chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy Người giáo viên phải suy nghĩ để giúp người học sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có của mình, những tri thức họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống để tạo nên
sự hiểu biết của mình
Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất tốt đẹp của con người mới
1.2.2.3 Khái niệm hoạt động học
“Hoạt động học của học sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức , tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình nhằm thu nhận, xử lý
và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó, người học thể hiện mình, tự biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình.” [16-tr135]
Học là hoạt động do được sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển nên nó là hoạt động nhận thức đặc biệt Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người Đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác Sự học tập của
Trang 18học sinh cũng là quá trình phản ánh như vậy Sự phản ánh đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất của tính chất cải tạo đó là sự sáng tạo Sự phản ánh đó có tính tích cực thể hiện ở chỗ nó được thực hiện trong tiến trình phân tích – tổng hợp của não người và có tính lựa chọn Trong vô số những
sự vật và quá trình của hiện thực khách quan, chủ thể tích cực lự chọn những cái trở thành đối tượng phản ánh của họ Vì vậy, với tư cách là chủ thể có ý thức, học sinh có khả năng phản ánh khách quan về nội dung và chủ quan về hình thức, nghĩa là về nội dung học sinh có khả năng phản ánh đúng bản chất và những quy luật của thế giới khách quan, còn về hình thức, mỗi học sinh có phương pháp phản ánh riêng của mình.Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức nổi
tiếng của V.I.Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” (Bút ký Triết học – NXB Sự thật, Hà Nội 1963
Tr 189)
Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học được sự lãnh đạo,
tổ chức, điều khiển của giáo viên với những điều kiện sư phạm nhất định nên nó có tính độc đáo, thể hiện như sau: Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà là tái tạo lại tri thức của nhân loại đã tạo ra; trong một thời gian tương đối ngắn, học sinh có thể lĩnh hội một khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi, vì vậy trong quá trình học tập, học sinh phải củng
cố, tập vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhằm biến chúng thành tài sản của riêng bản thân mình Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó trong quá trình nhận thức của học sinh để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với quá trình nhận thức của người học sinh
Vậy, hai mặt hoạt động dạy và hoạt động học có quan hệ chặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia và ngược lại
1.2.3 Khái niệm hoạt động dạy học tiếng Nhật
Căn cứ vào một số khái niệm về hoạt động dạy học, ta có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hoạt động dạy học tiếng Nhật Dựa trên quan niệm của tác giả Hà Thế Ngữ, có thể hiểu: Hoạt động dạy học tiếng Nhật là một quá trình hoạt
Trang 19động thống nhất giữa giáo viên dạy tiếng Nhật và học sinh học tiếng Nhật, trong
đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của giáo viên dạy tiếng Nhật, học sinh tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tiếng Nhật nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy dạy học tiếng Nhật đã đặt ra
Dựa trên quan niệm của tác giả Phạm Viết Vượng, đề tài xác định: dạy học tiếng Nhật bao gồm hoạt động dạy và học tiếng Nhật của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức về tiếng Nhật, hình thành hệ thống kĩ năng, kỹ xảo và thái độ tích cực đối với học tập tiếng Nhật
và vận dụng tiếng Nhật vào cuộc sống
Hoạt động dạy học tiếng Nhật cũng bao gồm hoạt động dạy tiếng Nhật và hoạt động học tiếng Nhật Cụ thể:
Hoạt động dạy của người giáo viên tiếng Nhật: Đó là hoạt động của giáo
viên dạy tiếng Nhật thực hiện việc lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức-học tập của học sinh học tiếng Nhật, giúp học sinh tìm tòi, khám phá tri thức
về tiếng Nhật, qua đó thực hiện có hiệu quả việc học của bản thân về môn học tiếng Nhật Người giáo viên tiếng Nhật phải suy nghĩ để giúp học sinh tiếp nhận,
sử dụng những kiến thức từ đơn giản nhất về tiếng Nhật và kết hợp với những kinh nghiệm đã có của mình thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống để tạo nên sự hiểu biết của mình về tiếng Nhật cung cấp cho học sinh
Hoạt động học của người học tiếng Nhật: Hoạt động học tiếng Nhật của học
sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình về tiếng Nhật nhằm thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó, người học thể hiện mình, tự biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình về một môn ngoại ngữ mới là tiếng Nhật Qua việc học tiếng Nhật, học sinh không chỉ hiểu biết về ngôn ngữ mà còn hiểu thêm về đất nước, con người Nhật Bản Từ đó biết học hỏi nghị lực, cách sống của một dân tộc, hiểu hơn những kiến thức đã biết về tiếng Nhật qua các phương tiện thông tin đại chúng mà học sinh đã tiếp cận Hoạt động học không chỉ học ở thầy cô trên lớp mà còn là học ở nhiều nguồn thông tin khác
Trang 201.2.4 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật theo hướng XHHGD
1.2.4.1 Quản lý hoạt động dạy học- Quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật
Quản lý HĐDH chính là các biện pháp tác động của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, … nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn có, tạo động lực đẩy mạnh quá trình dạy học của nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường theo yêu cầu trong năm học
Quản lý hoạt động dạy học chính là sự tác động lên đội ngũ giáo viên, học sinh qua việc thực thi các chức năng quản lý kế hoạch, tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh nhằm thực hiện mục tốt nhất mục tiêu giáo dục Trong đó, người thầy đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt học sinh đi tìm chân lý Người học chủ động tiếp cận chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu Đặc biệt vai trò người học trên cơ
sở hướng dẫn của người giáo viên biết tự xây dựng kế hoạch, tự kiểm tra đánh giá
để đạt chuẩn với yêu cầu trong giáo dục
Mục tiêu quản lí hoạt động dạy học: Đảm bảo thực hiện đầy đủ các mục tiêu,
kế hoạch đào tạo và nội dung, chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian
quy định; đảm bảo hoạt động dạy học đạt chất lượng cao
Nội dung quản lý hoạt động dạy học gồm:
- Quản lý mục tiêu, nội dung dạy học: Quản lý việc xây dựng, quản lý việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, thái độ và phát triển trí tuệ cho học sinh, việc chấp hành nội quy, quy chế về đào tạo, như: điều lệ, nội quy, chế độ…
- Quản lý chất lượng dạy học: Việc phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiên các biện pháp khắc phục những yếu kém nhằm đảm bảo được chất lượng dạy học và đạt được yêu cầu của xã hội đối với dạy học
Bên cạnh đó, các nhà trường còn chú trọng đến các nội dung quản lý như:
- Quản lý kiểm tra, đánh giá, xác nhận trình độ văn bằng, chứng chỉ
- Quản lý hoạt động ngoài lớp, ngoài nhà trường và quản lý điều phối các hoạt động của các tổ chức sư phạm trong nhà trường Việc quản lý hoạt động dạy học phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc quản lý giáo dục nói chung và áp dụng những nguyên tắc đó vào quá trình dạy học ở phạm vi một nhà trường nói riêng
Trang 21Vậy, quản lý hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS là những tác động có mục đích, hợp qui luật khách quan của hiệu trưởng nhằm điều khiển quá trình dạy học tiếng Nhật của giáo viên và học sinh, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu dạy học tiếng Nhật đề ra là hình thành cho học sinh kiến thức kĩ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Nhật và có thái độ tích cực sử dụng tiếng Nhật trong học tập, giao tiếp
1.2.4.2 Khái niệm xã hội hóa giáo dục
Theo tác giả Lê Quốc Hùng trong “Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp
luật” thì “ Xã hội hóa giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế- xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập.” [5- Tr 17]
Xã hội hóa giáo dục được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục Xã hội hóa giáo dục là làm cho hoạt động giáo dục trở thành hoạt động chung của toàn xã hội Trong điều 1 Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ định nghĩa như sau: “ Xã hội hóa hoạt động giáo dục là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển sự nghiệp giáo dục nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về vật chất và tinh thần của nhân dân.”
Tuy nhiên, không nên hiểu xã hội hóa giáo dục một cách đơn giản dưới góc độ huy động nguồn vốn đầu tư mà phải mở rộng ra nhiều góc độ, phạm vi khác nhau Trước hết, là dưới góc độ của người đi học Xã hội hóa giáo dục ở đây có nghĩa tạo điều kiện để làm sao cho người đi học được tham gia vào việc quản lý của trường cũng như xây dựng chương trình học tập, giảng dạy
Xã hội hóa giáo dục nhìn từ phía thầy giáo, nhà trường chính là nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự do giảng dạy của họ hơn nữa
Dưới góc độ phụ huynh, xã hội hóa giáo dục là nhằm đảm bảo cho họ quyền tự
do lựa chọn nơi học tập cho con em của họ
Như vậy, xã hội hoá giáo dục không chỉ bó hẹp trong việc huy động nguồn vốn đầu tư mà còn ở nhiều góc độ và phạm vi khác nhau, như: Tạo điều kiện cho người
Trang 22đi học được tham gia vào quản lý của nhà trường cũng như chương trình học tập
và giảng dạy Bằng hình thức đó là sự tham gia của các hội đồng đại diện cho học sinh; họ kết hợp với nhà trường, giảng viên trong việc xét chọn, đánh giá, góp ý về chương trình và phương pháp giảng dạy… Đối với giảng viên, xã hội hoá giáo dục chính là việc nhà trường đảm bảo cho giảng viên quyền tự do giảng dạy của họ Từng trường, từng địa phương, từng thầy giáo, cô giáo, từng học sinh được quyền
có chương trình cũng như có cách thức giảng dạy khác nhau sao cho phù hợp và đạt hiệu quả nhất Góc độ của phụ huynh, học sinh: khi xã hội hoá giáo dục họ sẽ đảm bảo cho họ về quyền chọn lựa môi trường học tập cho con em mình
Xã hội hóa giáo dục là vận động toàn xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, nhằm phát huy truyền thống hiếu học và tiềm năng con người trong quá trình xây dựng nền giáo dục hiện đại dưới sự quản lý của nhà nước để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao mức hưởng thụ giáo dục
của nhân dân “Xã hội hóa giáo dục trở thành một nguyên lý tổ chức giáo dục trong xã hội mà tư tưởng cốt lõi của nguyên lý là coi cách mạng như một sự nghiệp của quần chúng Với một nước đang còn nhiều khó khăn về kinh tế- xã hội thì xã hội hóa lại là một quan điểm phải được quán triệt sâu sắc, bởi chỉ tiếp cận với chủ trương này thì mới huy động được tổng lực của xã hội vào sự nghiệp xây dựng cả nước thành một xã hội học tập.” [4, tr47]
Trong văn kiện Hội nghị lần thứ tư ba chấp hành TW Đảng khóa VIII chỉ rõ
xã hội hóa giáo dục là “huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lí của nhà nước” Với khá đông người, xã hội hóa được hiểu đơn giản và phiến diện là huy động sự đóng góp vật chất của dân vào sự nghiệp giáo dục Nghị quyết 90-CP của Chính
phủ ngày 21/08/1997 đã xác định khái niệm xã hội hóa giáo dục như sau: “Xã hội hóa giáo dục là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn
xã hội vào sự nghiệp phát triển giáo dục; là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân và đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp đóng tại địa hương và của từng người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi tường
Trang 23kinh tế, xã hội lành mạnh, thuận lợi cho hoạt động giáo dục; là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lưc trong xã hội (kể cả nước ngoài), phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này.”[31]
Xã hội hóa giáo dục gồm 2 thành phần chính:
+ Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời để là việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho
xã hội ta trở thành xã hội học tập
+ Vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo dục, tạo môi trường giáo dục tốt lành, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục gia đình
và ngoài xã hội, tăng cường trách nhiệm của các cấp đối với sự nghiệp giáo dục
Về xây dựng một xã hội học tập, nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này Trong giai đoạn hiện nay, khi sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông dang rất mạnh mẽ, cong người phải có năng lực nhận thức, xử lý và chọn lựa những thông tin có ích và từ đó biết vận dụng sáng tạo nó Như vậy, giáo dục của xã hội phải xây dựng cho con người năng lực đón nhận, xử lý, sản xuất , truyền bá, sử dụng những thông tin để xã hội có những tri thức mới Nền giáo dục phải hướng vào đào tạo con người năng động, sáng tạo Muốn vậy, bản thân họ phải học tập suốt đời và mỗi quốc gia phải xây dựng một xã hội học tập Theo Phạm Tất Dong, trong “ Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam”, khái niệm “xã hội học tập” được tiếp cận bằng nhiều phương pháp khác nhau Trong đó, theo tiếp cận lịch sử-
xã hội thì “ Thực chất bên trong của mô hình xã hội học tập là xây dựng và phát triển một phong trào học tập rộng rãi trong nhân dân” [4, tr45] và “Xét trên bình diện toàn cầu, xã hội học tập là sản phẩm tất yếu của kinh tế tri thức” [4, tr47]
Xây dựng xã hội học tập để mọi người trong xã hội được học tập suốt đời
1.2.4.3 Nội dung của XHHGD trong hoạt động dạy học:
Theo công trình nghiên cứu trong “Xã hội hóa giáo dục” của Viện Khoa học giáo dục [8]: các quốc gia đều có nét chung là sự cần thiết có sự tham gia của toàn
xã hội vào phát triển giáo dục để mọi người được hưởng thụ cơ hội giáo dục và tham gia dưới nhiều hình thức đóng góp cho sự phát triển giáo dục
Trang 24Công trình nghiên cứu đó cũng chỉ ra nội dung của công tác xã hội hóa giáo dục gồm có: toàn xã hội, toàn dân tham gia vào các hoạt động giáo dục; đa dạng hóa các hình thức nhà trường; đa dạng hóa các nguồn lực làm giáo dục; huy động toàn xã hội xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục; huy động xã hội tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình giáo dục
Việc thực hiện XHHGD đầy đủ phải thể hiện được hai chiều: Một chiều nhà trường đón nhận các nguồn lực từ xã hội vào và chiều ngược lại: nhà trường phải phát huy tác dụng của mình vào xã hội bằng cách nâng cao chất lượng giáo dục, tạo nguồn lao động cho tương lai để phục vụ lại xã hội Bên cạnh đó, nhà trường phổ thông công lập cũng phát huy ảnh hưởng tích cực của mình đến xã hội qua việc tổ chức các hoạt động xã hội cho học sinh tham gia Hai mặt, hai chiều của hoạt động XHHGD có mối quan hệ biện chứng: không thể tồn tại mặt này mà không có mặt kia Chúng còn được thực hiện đồng thời, không thể thực hiện quá trình này rồi mới thực hiện quá trình kia Có chiều huy động nguồn lực từ xã hội cho giáo dục thì phải có chiều đóng góp của xã hội cho giáo dục
Trong quản lý hoạt động dạy học, quan điểm này thể hiện rõ trong nội dung sau:
• Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào xây dựng môi trường cho hoạt động dạy học ở nhà trường
“ Các lực lượng xã hội, tùy khả năng, có thể tham gia vào hoạt động giáo dục như: xây dựng kế hoạc giáo dục địa phương, góp ý vào nội dung và phương pháp giáo dục ở một mức độ nhất định, tham gia quản lý giáo dục bao gồm tham gia vào việc đánh giá giáo dục, đánh giá học sinh, tham gia tổ chức các hoạt động ngoại khóa và ngoài nhà trường, có thể tham gia hướng dẫn lao đọng, đào tạo nghề, thực nghiệm khoa học và sản xuất… Những hoạt động này mang tính chuyên nghiệp, cần được tiến hành dưới sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn về giáo dục và các nhà trường, các thầy cô giáo Ở đây cũng chỉ ra vai trò và trách nhiệm của giáo dục nhà trường, giáo viên trong XHH chương trình giáo dục”[tr57, 8]
Trang 25Lực lượng xã hội đầu tiên tham gia vào hoạt động dạy học ở nhà trường là gia đình Gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng với lứa tuổi học sinh phổ thông, gia đình là trường học đầu tiên và cha mẹ là thầy giáo đầu tiên Gia đình sẽ quyết định cho con học ở đâu, theo mô hình giáo dục nào Trong hoạt động dạy học ở nhà trường đều cần có sự hỗ trợ của gia đình để tạo điều kiện về vật chất, tinh thần cho hoạt động dạy học trong nhà trường tiến hành
Gia đình không chỉ ủng hộ về vật chất và tinh thần mà còn giúp hoạt động dạy học đạt hiệu quả bằng việc kiểm tra, đôn đốc việc học của con em Hoạt động dạy học của nhà trường muốn phong phú, các hoạt động trải nghiệm của học sinh chỉ có được khi được gia đình đồng thuận, ủng hộ, hỗ trợ
Gia đình còn có thể tham gia vào góp ý chương trình, kế hoạch dạy học qua các ý kiến, kiến nghị cho phù hợp thực tế học sinh ở từng môi trường cụ thể Nhà trường tiếp nhận các đóng góp đó để điều chỉnh kế hoạch hoạt động cho phù hợp nếu thấy hợp lý Học sinh, ngoài giờ học ở trường thì thông thường sẽ có nhiều thời gian nhất ở gia đình, do đó giáo dục gia đình góp phần không nhỏ trong việc giáo dục đạo đức và trí tuệ cho học sinh Mọi hoạt động của nhà trường đều có sự tham gia của cha mẹ học sinh qua Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp, trường Thực
tế cho thấy, trường nào làm tốt công tác cha mẹ học sinh thì các phong trào của trường đều được ủng hộ, đạt hiệu quả cao
Gia đình tham gia cùng nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục, thực hiện chương trình ngoại khóa, chương trình giáo dục dịp hè, giáo dục trên địa bàn dan cư thông qua các hoạt động như tham quan dã ngoại, lễ hội, phong trào từ thiện tình nguyện, tổ chức vui chơi, thể dục thể thao…Những hoạt động này sẽ không thực hiện được nếu không có sự ủng hộ của gia đình Hàng năm, hoạt động dạy học ở nhà trường không chỉ có sự cung cấp từ nguồn kinh phí giáo dục do nhà nước và một phần lớn còn nhờ vào sự đóng góp của gia đình học sinh, nhất là trong giai đoạn đầu tư cho giáo dục của ta tuy đã được chú ý rất nhiều nhưng cũng chưa thể bằng các nước có nền giáo dục tiên tiến và mức đầu tư cho giáo dục lớn Gia đình có những đóng góp không nhỏ cho hoạt động dạy học trong nhà trường Mặt khác, gia đình sẽ giám sát các hoạt động dạy học của nhà trường và có ý kiến
Trang 26Vì thế, hoạt động dạy học trong nhà trường sẽ phải đáp ứng yêu cầu của học sinh
và gia đình học sinh Nếu hoạt động dạy học của nhà trường tốt thì sẽ được cha
mẹ học sinh tin tưởng, sẵn sàng ủng hộ mọi mặt, ngược lại, hoạt động dạy học ở trường nào kém hiệu quả thì sẽ bị mất uy tín, số lượng học sinh sẽ giảm dần Điều
đó sẽ dẫn đến sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà trường để nâng cao chất lượng dạy học
Bên cạnh đó, các lực lượng xã hội cũng góp phần tác động vào hoạt động dạy học của nhà trường là các cơ quan đoàn thể như xuất bản sách, đồ dùng dạy học; cơ quan tài chính, bảo hiểm, giao thông công chính, điện, nước; Y tế, chữ thập đỏ; các tổ chức xã hội…Tất cả đều có vai trò trong hoạt động dạy học ở nhà trường vì mọi hoạt động ở trường học đều chịu tác động của nhiều cơ quan liên quan như sách vở, đồ dùng dạy học, nguồn tài chính trả lương cho giáo viên và các hoạt động trong trường, chăm sóc sức khỏe, điện chiếu sáng, đường xá, môi trường…Vì vậy, huy động được các lực lượng này tham gia vào hoạt động dạy học
sẽ giúp các nhà trường có điều kiện tốt nhất tiến hành các hoạt động cho học sinh Tuy nhiên, học không phải đối tượng chỉ hướng đến giáo dục mà còn hướng đến nhiều đối tượng khác trong xã hội nên việc phát huy vai trò, sự ủng hộ của các cơ quan đoàn thể này sẽ giúp nhà trường có thêm nguồn lực, có sự phối hợp cần thiết khi có nhu cầu với trường học
Môi trường xã hội có tác động lớn đến hoạt động dạy học trong nhà trường Cần khai thác các yếu tố tích cực, thuận lợi như kinh tế phát triển, giao lưu quốc tế được mở rộng, dân chủ hóa được đề cao; cần huy động lực lượng toàn xã hội vào xây dựng một môi trường dạy học tốt nhất cho học sinh Thực hiện tốt công tác XHHGD cần có sự kết hợp cao của các lực lượng xã hội để tạo lập môi trường dạy học lành mạnh, hiệu quả cho các nhà trừng để nâng cao chất lượng dạy học
• Huy động các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động dạy học ở nhà trường
Các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động dạy học trong nhà trường như việc kiểm tra, giám sát hoạt động dạy học ở nhà trường.Việc này sẽ giúp hoạt động dạy học có hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu của
Trang 27xã hội là cung cấp những con người có đủ đạo đức, năng lực, trình độ trong tương lai Việc tham gia quá trình kiểm tra, giám sát còn giúp các nhà trường thấy được những thiếu sót của mình để điều chỉnh cho phù hợp Những kết quả đạt được sau việc kiểm tra, giám sát còn là căn cứ để đánh giá hoạt động dạy học của nhà trường cao hay thấp, có được sự tín nhiệm của cha mẹ học sinh hay không
Các lực lượng xã hội có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình kiểm tra, giám sát hoạt động dạy học của nhà trường Nhà trường chủ động lôi cuốn các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát hoạt động dạy học, góp ý kiến vào nội dung, phương pháp giáo dục; rà soát kết quả dạy học, tạo quan hệ chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để nâng cao chất lượng dạy học Khi tham gia vào kiểm kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học, các lực lượng xã hội
sẽ giúp nhà trường thất những sai sót về nội dung, phương pháp, kết quả đánh giá học sinh… để điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra những ý kiến giúp việc dạy học đạt hiệu quả hơn
Để thực hiện được nội dung này đòi hỏi các lực lượng xã hội phải thật sự quan tâm, theo dõi thường xuyên các hoạt động dạy học của nhà trường qua các kênh thông tin như học sinh, tài liệu của trường, qua website, qua bảng điểm tổng kết, qua sách vở ghi chép…
• Huy động các nguồn lực đầu tư cho hoạt động dạy học ở nhà trường
Việc đầu tư của nhà nước cho giáo dục trong những năm qua đã không ngừng tăng, tuy nhiên vẫn chưa đủ để giải quyết những yêu cầu của hoạt động dạy học để đáp ứng cả về số lượng và chất lượng ngày càng tăng Vì thế, mở rộng các nguồn đầu tư về nhân lực, vật lực, tài lực của các lực lượng xã hội góp phần trang
bị đồ dùng dạy học, tài liệu cho giáo viên, học sinh, tổ chức các hoạt động phục vụ hoạt động dạy học theo tinh thần đổi mới ; giúp đỡ học sinh nghèo, học sinh thuộc diện các gia đình chính sách, khuyến khích khen thưởng cho học sinh giỏi, chăm ngoan nhằm phát hiện, bồi dưỡng tài năng để nâng cao chất lượng dạy học Sự đầu
tư đó sẽ động viên giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy, học sinh có thêm động lực học tập Việc đầu tư, giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn sẽ giúp đỡ các em có thêm điều kiện để học tập, góp phần tạo nên xã hội học tập chất lượng
Trang 28cao Cùng với chính quyền, công đoàn giáo dục cũng có những hoạt động thiết thực để đảm bảo quyền lợi của người dạy, kêu gọi ủng hộ tài chính của các tổ chức, cá nhân đầu tư cho hoạt động dạy học ở nhà trường
Huy động được các nguồn lực đầu tư cho hoạt động dạy học trong nhà trường là điều kiện để xây dựng một nhà trường theo hướng xã hội hóa, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
• Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập
Trong các hoạt động dạy học ở nhà trường THCS, ngoài hình thức học tập trên lớp, rất cần những hình thức học tập khác như tham quan các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, làng nghề truyền thống hoặc các cơ sở sản xuất…để bổ sung kiến thức thực tế Những hoạt động này thường giúp học sinh nắm kiến thức nhanh hơn, ghi nhớ lâu, hiệu quả Tuy nhiên, để thực hiện được cần có sự tham gia của các lực lượng xã hội chứ không chỉ là các thầy cô giáo Vì thế, việc phối hợp với các lực lượng xã hội tổ chức cho học sinh đi tham quan di tích lịch sử, viện bảo tàng, danh lam thắng cảnh, làng nghề, được nghe các nhân chứng lịch sử, các nghệ nhân nói chuyện…sẽ giúp học sinh hiểu hơn các bài học trong sách vở, góp phần hình thành nhân cách, rèn luyện kĩ năng sống
Các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập gồm các cá nhân, tổ chức có khả năng và điều kiện giúp đỡ nhà trường thực hiện các hoạt động dạy học đa dạng Huy động các cá nhân, tổ chức đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động cho các hoạt động này đòi hỏi các nhà trường phải xây dựng kế hoạch hợp lý, cụ thể, có lợi và đảm bảo an toàn cho học sinh thì mới có tính khả thi Các lực lượng đó trước hết là CMHS, họ là lực lượng hỗ trợ lớn nhất cho nhà trường vì muốn con học tâp, rèn luyện tốt nhất Những cuộc tham quan, dã ngoại, học ngoại khóa có sự quan tâm ủng hộ của CMHS thì sẽ hiệu quả hơn, lược lượng này sẽ giúp thầy cô, nhà trường quản lý học sinh trong thời gian học tập bên ngoài nhà trường
Bên cạnh đó, các cơ quan tổ chức nếu được huy động tham gia vào đa dạng hóa các hình thức học tập của học sinh thì sẽ tạo điều kiện để các em được trải
Trang 29nghiệm ngoài nhà trường, giúp nhà trường bổ sung thêm vốn hiểu biết cho học sinh, những kĩ năng thực tế, những trải nghiệm mà không thể làm được nếu trong khuôn khổ trường học
1.2.4.4 Nội dung của XHHGD trong hoạt động dạy học tiếng Nhật
Căn cứ vào nội dung của XHHGD trong hoạt động dạy học thì nội dung của XHHGD trong hoạt động dạy học tiếng Nhật gồm:
- Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào xây dựng môi trường cho hoạt động dạy học tiếng Nhật ở nhà trường
- Huy động các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động dạy học tiếng Nhật ở nhà trường
- Huy động các nguồn lực đầu tư cho hoạt động dạy học tiếng Nhật ở nhà trường
- Huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình đa dạng hóa các hình thức học tập tiếng Nhật
1.3 Hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS
1.3.1.Một số đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh THCS trong học ngoại ngữ
Lứa tuổi học sinh THCS (từ 11-15 tuổi) có nhiều thay đổi về thể chất, trí tuệ, tình cảm, tâm lý…Đây là lứa tuổi chuyển từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và
sự thay đổi mọi mặt rất nhanh chóng và chịu ảnh hưởng của điều kiện, môi trường sống Ở giai đoạn này học sinh có nhu cầu giao tiếp và khẳng định mình, khả năng ngôn ngữ cũng phát triển nhanh Từ chỗ các em chỉ giao tiếp với một thầy/ cô giáo trong một tập thể lớp đến phải biết giao tiếp với nhiều thầy cô giáo, nhiều môn học
ở cấp THCS, giao lưu với nhiều bạn ở các trường Tiểu học khác nhau về học cùng lớp mới Nhu cầu giao tiếp cùng khả năng ngôn ngữ phát triển nhanh nên đây là giai đoạn học sinh có thể tiếp nhận nhiều ngoại ngữ và học nhanh
Với học ngoại ngữ, đây là một đặc điểm rất quan trọng Học sinh thích tiếp cận với cái mới, hiện đại, nhất là khi các phương tiện thông tin ngày nay giúp học sinh được tiếp xúc với văn hóa của nhiều nước trên thế giới Để hiểu các thông tin
mà học sinh quan tâm thì điều không thể thiếu là ngôn ngữ Ví dụ, học sinh thích
Trang 30xem các ban nhạc, bộ phim của nước ngoài, các xu hướng thời trang, gu thẩm mĩ của học sinh các nước thì phải có ngoại ngữ, nhu cầu này thúc đẩy việc các em thích học ngoại ngữ và sẽ học nhanh Một yếu tố nữa là trào lưu học ngoại ngữ và
du học cũng khi học sinh thích tìm hiểu học hỏi ngoại ngữ để có cơ hội du học, tất nhiên ở đây có tác động và hỗ trợ rất nhiều của cha mẹ, gia đình
Một đặc điểm của lứa tuổi học sinh THCS thích được thể hiện mình nên trong việc học ngoại ngữ dễ thuận lợi vì đây là môn học ngôn ngữ đòi hỏi học sinh phải nói, giao lưu với người khác Khi có ngoại ngữ, học sinh có thể giao lưu với người nước ngoài và thêm tự tin khi vào môi trường mới Có thể nói, tâm lý lứa tuổi THCS cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc học ngoại ngữ nói chung và tiếng Nhật nói riêng
1.3.2 Đặc trưng của hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trường THCS
Tiếng Nhật là một ngôn ngữ nên hoạt động dạy học tiếng Nhật cũng mang đặc trưng của hoạt động dạy học ngôn ngữ nói chung Ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp của con người, là sự thống nhất chặt chẽ với lời nói Ngôn ngữ và lời nói là hai mặt của một hiện tượng, trong đó, ngôn ngữ chỉ một hiện thực khách quan và có tính chung toàn xã hội, còn lời nói là sự vận dụng ngôn ngữ chung của mỗi cá nhân vào các tình huống giao tiếp cụ thể nên nó mang tính cá thể Ngôn ngữ và lời nói hợp thành một thể thống nhất biện chứng giữa cái chung
và cái riêng Ngôn ngữ là một hệ thống gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và luôn mang tính chất tĩnh và ổn định; lời nói là sự kết hợp các nội dung ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp tùy từng tình huống giao tiếp cụ thể Ngôn ngữ vừa là phương tiện biểu đạt vừa là phương tiện tàng trữ những giá trị văn hóa của dân tộc ấy Dạy học tiếng Nhật có đặc trưng riêng:
1.3.2.1.Về người dạy: Tiếng Nhật là một môn ngoại ngữ mới, giáo viên dạy
tiếng Nhật gồm giáo viên Việt Nam được đào tạo chuyên ngành tiếng Nhật và giáo viên người Nhật Giáo viên Việt Nam có trình độ, khả năng của giáo viên không đồng đều, họ có có thuận lợi về giao tiếp với học sinh, hiểu tâm lý học sinh Việt Nam nhưng vốn tiếng Nhật thì không thể bằng giáo viên Nhật Ngược lại, giáo viên người Nhật thông thạo, hiểu biết về tiếng Nhật và đất nước, con người Nhật
Trang 31Bản, tâm huyết nhưng bị hạn chế về phương pháp, hình thức giao tiếp với học sinh Việt Nam, nhất là khi các em mới bắt đầu học
1.3.2.2.Về người học: Nhu cầu học tiếng Nhật ngày càng tăng do nhu cầu
cha mẹ học sinh muốn con du học Nhật Bản để tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến,
do tiếng Nhật càng trở thành ngôn ngữ được quan tâm với học sinh bởi ảnh hưởng của truyện tranh Nhật Bản, phim Nhật, đồ dùng Nhật Bản… Bên cạnh đó, việc nắm bắt, hứng thú với một ngoại ngữ mới không đơn giản, mức độ nhận thức của học sinh khác nhau, động cơ học tập khác nhau nên việc học cùng môi trường nhưng vẫn có sự phân hóa: có học sinh học giỏi, yêu thích tiếng Nhật , có học sinh học do bố mẹ thúc ép hoặc vì một lí do nào đó không phải mong muốn của học sinh nên chất lượng học không tốt, dẫn đến việc chán nản, không muốn học
1.3.2.3.Về môi trường thực hành : Việc thực hành tiếng Nhật hạn hẹp, chủ
yếu trong nhà trường: trong lớp học, giữa các lớp tiếng Nhật, các hoạt động giao lưu quốc tế, festival ngoại ngữ…
Ngoài nhà trường: các buổi giao lưu với các tổ chức Nhật Bản tại Việt Nam, trong các lễ hội có nhiều người Nhật tham gia, trại hè quốc tế…
Môi trường thực hành càng rộng, phong phú thì học sinh được vận dụng, tiếp xúc nhiều, khả năng sử dụng tiếng Nhật sẽ tốt hơn Nó ảnh hưởng lớn đến kết quả dạy học tiếng Nhật Điều đó dẫn tới nhu cầu của CMHS muốn con có môi trường học tập đầy đủ điều kiện để học tiếng Nhật tốt nhất, học sinh muốn được học tập tiếng Nhật không chỉ ở trong trường lớp mà còn ở các hoạt động ngoài nhà trường
1.3.2.3.Về chương trình dạy học tiếng Nhật ở THCS
Chương trình dạy tiếng Nhật ở Việt Nam theo giáo trình Nihongo của nhà xuất bản Giáo dục nhưng đã được các chuyên gia Nhật Bản nghiên cứu kĩ cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi THCS và mục đích đào tạo Chương trình chủ yếu theo chủ đề quen thuộc về cuộc sống xung quanh, đất nước, con người Nhật Bản, những nét văn hóa tiêu biểu, tương đồng của hai quốc gia Chương trình sắp xếp theo 4 lớp từ lớp 6 đến lớp 9 Kết thúc lớp 9, học sinh có thể đạt trình độ năng lực tiếng Nhật N5- mức độ giao tiếp thông thường Cụ thể:
Trang 32* Lớp 6: Chương trình tiếng Nhật lớp 6 biên soạn với sách Tiếng Nhật 6 Đây là
cuốn sách đầu tiên của bộ sách dạy tiếng Nhật dùng trong các trường THCS Tiếng Nhật 6 nhằm giúp học sinh bước đầu làm quen với tiếng Nhật như tiếp xúc với bảng chữ cái, tập nói, phát âm, đặt câu ở mức độ đơn giản Nội dung sách gồm: cho học sinh nói những hiểu biết của mình về đất nước Nhật Bản, giới thiệu những điều cần chú ý khi học tiếng Nhật, đặc điểm chữ viết của tiếng Nhật, cách chào hỏi, cách tự giới thiệu bản thân, luyện về chữ Hiragana, cách đếm số, tự giới thiệu
về bản thân, gia đình …
Tiếng Nhật lớp 6 học 12 bài với 105 tiết ( 3 tiết/tuần), tập trung vào luyện tập, thảo luận, hoạt động trò chơi là chính vì học sinh mới tập làm quen với một ngôn ngữ khó.Việc lặp lại để học sinh ghi nhớ là rất cần thiết nên các bài học dành phần lớn thời gian để luyện tập một đơn vị kiến thức
* Lớp 7: Tiếp nối chương trình lớp 6, chương trình lớp 7 tập trung nhiều vào luyện cấu trúc câu, viết thư, dạy- luyện chữ Hán, giới thiệu về đất nước Việt Nam, Nhật Bản, giới thiệu về sở thích
Chương trình gồm 105 tiết, vẫn tập trung vào thảo luận, luyện tập, mức độ cao hơn lớp 6 nhưng có nối tiếp mở rộng
* Lớp 8: Chủ yếu tập trung vào luyện từ loại, tả đường từ nhà đến trường, cách mời, cách dùng tên, họ của người Nhật Bản…
Chương trình lớp 8 tập trung nhiều vào ngữ pháp và yêu cầu học sinh có thể
tự trình bày vấn đề đơn giản bằng tiếng Nhật có chú ý đúng ngữ pháp Học sinh lớp 8 qua việc học ngôn ngữ hiểu thêm về văn hóa, phong tục của đất nước Nhật Bản từ cách ăn uống, mời, cách đặt tên, hỏi đường…
* Lớp 9: Chương trình lớp 9 gồm 75 tiết ( 2 tiết/tuần), gồm 8 đơn vị bài học, mỗi bài ngs với 8 tiết học trên lớp Nội dung các bài học là một số chủ đề gần gũi với lứa tuổi học sinh lớp 9 Mỗi bài học gồm các phần:
- Mục tiêu: chỉ rõ mục tiêu học sinh cần đạt được trong bài
- Hãy cùng thảo luận: đóng vai trò dẫn nhập, hướng sự chú ý của học sinh vào nội dung bài học Việc cho học sinh thảo luạn bằng tiếng Việt về chủ đề bài học sẽ tạo
Trang 33hứng thú cho các em đối với việc học cách diễn đạt bằng tiếng Nhật và phát hiện
ra những điều thú vị khi so sánh cách diễn đạt trong hai ngôn ngữ
- Hội thoại/bài khóa: gồm các bài hội thoại nhằm giúp các em làn quen với cách diễn đạt bằng tiếng Nhật khi nói về đặc điểm bên ngoài của người và vật, đặc điểm
về tính cách, trí tuệ, năng lực của mình và người khác, tình trạng sức khỏe, trình tự thực hiện các công việc, thói quen sinh hoạt của mình và người khác, khả năng thực hiện công việc, sự biến đổi về trạng thái của người và vật…
- Luyện tập và bài tập: gồm các bài luyện tập khác nhau về các cách diễn đạt theo chủ đề Phần luyện tập được tiến hành trên lớp cùng với sự tham hoặc hướng dẫn của giáo viên, phần bài tập do học sinh tự làm ở nhà
- Giải thích: là phần giáo viên sử dụng trên lớp để giải thích một số vấn đề thuộc nội dung học tập Học sinh có thể tham khảo phần này tại nhà
- Thư Nhật Bản: gồm các lá thư của một học sinh Nhật Bản gửi cho một người bạn đang sống ở Việt Nam về cuộc sống, sinh hoạt của học sinh trung học Nhật Bản nói riêng và đất nước Nhật Bản nói chung Qua đó, học sinh có dịp đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt giữa hia nên văn hóa Viêt Nam và Nhật Bản Các bức thư viết bằng tiếng Nhật sử dụng cấu trúc ngữ pháp đơn giản và nhưng từ gần gũi với các em nên sẽ giúp việc luyện đọc tiếng Nhật hiệu quả
- Tổng kết: dược bố trí sau 2 đơn vị bài học, nhằm tóm tắt lại những cấu trúc ngữ pháp đã học và ôn tập từ mới
Chương trình tiếng Nhật lớp 9 cũng là những nội dung cuối cùng của chương trình tiếng Nhật 4 năm cấp THCS Do đó, thời lượng dành cho ôn tập, chuẩn bị thi hết trình độ N5 được ưu tiên để sau khi học xong chương trình tiếng Nhật THCS, học sinh có thể giao tiếp bằng tiếng Nhật ở mức cơ bản và tiếp tục học được ở chương trình tiếng Nhật cấp THPT
1.3.3 Các thành tố của hoạt động dạy học tiếng Nhật ở trườngTHCS
1.3.3.1 Mục tiêu dạy học tiếng Nhật ở trường THCS
Mục tiêu chung của dạy học ngoại ngữ là “ Thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy- học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm
2015 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời
Trang 34triển khai chương trình dạy- học ngoại ngữ đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm 2020 tăng đáng kể tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam
có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [4,Tr.8]
Mục tiêu dạy học tiếng Nhật ở trường THCS là giúp học sinh sử dụng được tiếng Nhật như một công cụ giao tiếp ở mức phổ thông qua việc hình thành các kĩ năng giao tiếp: nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở nắm vững hệ thống ngôn ngữ tiếng Nhật cơ bản Qua đó, tìm kiếm, thu thập thông tin để nâng cao trình độ văn hóa nói chung, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và phát triển tư duy Dạy học tiếng Nhật ở trường THCS giúp học sinh:
(1) Yêu thích, sử dụng tiếng Nhật như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới dạng nghe, nói, đọc, viết
(2) Có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống về tiếng Nhật phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi
(3) Có hiểu biết khái quát về đất nước, con người, văn hóa độc đáo của Nhật Bản, từ đó tăng vốn hiểu biết về một đất nước có nền văn hóa, giáo dục, khoa học
kĩ thuật rất phát triển ở châu Á; có sự trân trọng, tự hào, có ý thức giữ gìn văn hóa
và ngôn ngữ dân tộc mình
(4) Cùng với việc giao lưu và các môn học, hoạt động giáo dục khác, bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất đạo đức, phát triển tư duy và hình thành phương pháp học tập mới
1.3.3.2 Nội dung dạy học tiếng Nhật ở trường THCS
Chương trình tiếng Nhật THCS được biên soạn theo chương trình 4 năm từ lớp 6 đến lớp 9 theo nguyên tắc Chuẩn kiến thức Khung năng lực Ngoại ngữ 6 bậc của Việt Nam và Chuẩn giáo dục tiếng Nhật của Quỹ giao lưu Quốc tế Nhật Bản như sau: Sau 3 năm Tiểu học là hoàn thiện chương trình bậc 1/6; sau 4 năm THCS ứng với bậc 2/6 và sau 3 năm THPT là bậc 3/6 Nội dung gồm:
(1) Các chủ đề gần gũi với đời sống như giao tiếp, giới thiệu, tìm hiểu văn hóa Nhật Bản…
Trang 35(2) Hệ thống kiến thức cơ bản về tiếng Nhật như các bảng chữ cái, cách sử dụng chữ cái, hệ thống ngữ âm, từ vựng, cấu trúc ngữ pháp…
(3) Hướng đến rèn cho học sinh 4 kĩ năng: nghe- nói- đọc- viết bằng tiếng Nhật Chương trình dạy học tiếng Nhật THCS là sự tiếp nối chương trình tiếng Nhật Tiểu học từ lớp 3 nên học sinh học từ Tiểu học sẽ được làm quen với tiếng Nhật cơ bản Nếu học sinh chỉ học từ THCS thì vẫn đảm bảo nội dung vì chương trình tiếng Nhật THCS cũng bắt đầu từ kiến thức đơn giản nhất để học sinh nắm bắt Mục đích nhằm giúp học sinh tiếp tục làm quen với tiếng Nhật, giúp các em có thể nghe, nói, đọc, viết được tiếng Nhật ở mức độ đơn giản , bồi dưỡng cho các em năng lực giao tiếp bằng tiếng Nhật nói riêng, năng lực giao tiếp xã hội nói chung, đồng thời tạo hứng thú và thái độ tiếp nhận đối với nền văn hóa khác- một yếu tố quan trọng trong quá trình hội nhập, giao lưu quốc tế
1.3.3.3 Phương pháp dạy học tiếng Nhật ở trường THCS
Để đạt mục tiêu giúp học sinh có thể nghe, nói, đọc, viết được tiếng Nhật ở mức độ đơn giản, bồi dưỡng cho các em năng lực giao tiếp bằng tiếng Nhật, cần
vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp “ Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu
và các nhiệm vụ dạy học” [16, tr204] Theo các tác giả trong giáo trình “ Giáo dục
học” tập 1-NXB Đại học Sư phạm năm 2015, hệ thống các phương pháp dạy học được phân loại theo nhiều loại:
- Nhóm các phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ gồm: phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu
- Nhóm phương pháp dạy học trực quan gồm: Phương pháp quan sát, phương pháp minh họa, phương pháp thí nghiệm
- Nhóm phương pháp dạy học thực hành
Trong dạy học tiếng Nhật ở THCS vẫn sử dụng một số phương pháp đó:
(1) Phương pháp thuyết trình: Giáo viên dùng lời nói để giải thích, trình bày nội dung bài học có hệ thống Đây là phương pháp lâu đời nhất, có nhiều hạn
Trang 36chế trong phát huy tính tích cực của học sinh nhưng cũng có tác dụng cung cấp kiến thức nhanh, có hệ thống
(2) Phương pháp vấn đáp: Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi theo mức độ khác nhau và thực hiện trong quá trình hỏi đáp để học sinh rút ra kiến thức Đây là phương pháp vận dụng khéo léo sẽ điều khirn hoạt động nhận thức của học sinh, kích thích phát triển tư duy
(3) Phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu: Đây là phương pháp truyền thống mà môn học nào cũng sử dụng Trong dạy học tiếng Nhật, đây là phương pháp để học sinh tiếp cận với ngôn ngữ mới trong suốtt hời gan học
ở lớp và ở nhà
(4) Phương pháp thực hành: Tất cả các môn học đều cần phương pháp này Với tiếng Nhật, phương pháp này có tác dụng để rèn 4 kĩ năng nghe- nói- đọc- viết cho học sinh tốt nhất Có thể thực hành trong lớp học với các bạn và thầy cô, có thể thực hành trong các buổi giao lưu, ngoại khóa…Để rèn luyện ngôn ngữ, đây là phương pháp đạt hiệu quả cao nhất
Hiện nay, quan điểm về phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh được chú trọng Quan điểm dạy học lấy người dạy làm trung tâm chuyển sang “dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm” Dạy học hướng vào người học nhưng giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, biết vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức
Để làm được việc này thì bản thân giáo viên phải tự đổi mới phương pháp cho phù hợp với môn học, bài học cụ thể, đặc điểm của người học, cơ sở vật chất hiện có, thời gian, thời lượng Trong dạy học tiếng Nhật cũng vậy, giáo viên có thể sử dụng các nhóm phương pháp trên nhưng để tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động tăng tính chủ động, sáng tạo tiếp nhận kiến thức thì cần vận dụng các phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh Một số phương pháp dạy học có
ưu thế trong phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh và cũng có thể sử dụng cho dạy học tiếng Nhật:
Trang 37(5) Phương pháp động não: giáo viên đưa ra chủ đề, học sinh tổ chức theo nhóm, suy nghĩ và đưa ra ý tưởng; giáo viên lắng nghe, khích lệ học sinh xây dựng ý tưởng
(6) Phương pháp trò chơi: thu hút sự chú ý, tạo không khí học tập vui tươi, có thể sử dụng để dạy kiến thức mới hoặc củng cố, vận dụng kiến thức
(7) Phương pháp đóng kịch: giáo viên tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện nhằm giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung học tập
(8) Phương pháp tình huống: giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết các tình huống thực tiễn để các em tự tìm ra kiến thức, củng cố và vận dụng Phương pháp này có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển tư duy và tưởng tượng sáng tạo của người học
(9) Phương pháp dạy học theo dự án: Học sinh được lựa chọn chủ đề, xác định các nhiệm vụ cụ thể, tự tổ chức giải quyết các nhiệm vụ Các em tự thu thập,
xử lý, phân tích các dữ liệu Các nhóm trình bày kết quả dưới dạng báo cáo bằng ngôn ngữ tiếng Nhật, Phương pháp này đòi hỏi học sinh phải có vốn từ ngữ đã khá phong phú mới diễn đạt được
Giáo viên dạy tiếng Nhật cũng phải kết hợp các phương pháp, sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dùng và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú cho học sinh Việc lựa chọn các phương pháp cần phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình, đối tượng học sinh Giáo viên phải dẫn dắt học sinh hứng thú với tiếp nhận ngôn ngữ mới để hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
1.3.3.4 Phương tiện dạy học tiếng Nhật ở THCS
Để thực hiện nhiệm vụ dạy học đạt kết quả cao, trong quá trình dạy học cần
sử dụng phương tiện dạy học Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển, phương tiện dạy học còn thay thế cho những sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà giáo viên và học sinh không thể tiếp cận trực tiếp được
Ví dụ: học sinh chưa hề đến Nhật Bản nhưng qua những đoạn phim, bức ảnh, các
em có thể hình dung về đất nước, con người Nhật Bản, điều đó góp phần cho học sinh thêm hứng thú với bài học…
Trang 38Các phương tiện dạy học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường gồm: (1) Phấn, bảng, sách giáo khoa
(2) Phương tiện trực quan: Hình vẽ, sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh, mẫu vật, (3) Các phương tiện nghe - nhìn gồm các máy móc như máy chiếu Projector, castxet, tivi, máy tính, …
(4) Các phương tiện mang thông tin như phim, băng- đĩa ghi âm, ghi hình
(5) Các máy móc hỗ trợ khác: máy quay phim, máy ảnh, máy chiếu vật thể
Phương tiện dạy học là điều kiện quan trọng để tăng hiệu quả của bài học, nhất là ở môn tiếng Nhật còn rất mới mẻ với học sinh Việc sử dụng các phương tiện phải đúng mục đích, phù hợp nội dung từng bài học, phù hợp đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THCS và phù hợp điều kiện trang thiết bị hiện có của nhà trường Mỗi loại phương tiện dạy học có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Nếu sử dụng phương tiện dạy học trong thời gian quá dài hay quá nhiều phương tiện trong một tiết học thì sẽ ảnh hưởng đến các bước của giờ lên lớp, học sinh sẽ nhàm chán, kém tập trung do lượng thông tin quá nhiều và học sinh chưa đủ thời gian để chuyển hóa lượng thông tin đó Vì vậy, giáo viên phải kết hợp sử dụng các phương tiện dạy học phù hợp; khai thác và sử dụng các đồ dùng tự làm đơn giản với các phương tiện hiện đại của nhà trường và ngoài xã hội Hiện nay, việc khai thác, sử dung các phương tiện kĩ thuật hiện đại của gia đình và ngoài xã hội nhằm hỗ trợ việc sử dụng các phương tiện dạy học trong nhà trường là yêu cầu bắt buộc với nhiều nước trong đó có Việt Nam Khi các phương tiện hiện đại ở nhà trường chưa được trang bị đủ thì sử dụng các phương tiện hiện đại ở gia đình và xã hội là việc
là cần thiết như hệ thống truyền thanh, truyền hình, mạng internet, thiết bị của các
cơ quan nghiện cứu…
Trong dạy học tiếng Nhật, các phương tiện dạy học hỗ trợ lớn cho quá trình dạy học nên nhà trường cần trang bị ở mức độ tốt nhất có thể cho giáo viên và học sinh sử dụng Điều này cũng liên quan nhiều đến hoạt động xã hội hóa giáo dục để huy động được các nguồn đầu tư cho trang thiết bị dạy học
Trang 391.3.3.5 Hình thức dạy học tiếng Nhật ở THCS
Để đạt được mục tiêu giờ học, có nhiều hình thức dạy học khác nhau Theo các tác giả trong [16, tr 246], có nhiều cách phân loại hình thức tổ chức dạy học: căn cứ vào địa điểm diễn ra hoạt động dạy học có hình thức dạy học trên lớp và ngoài lớp; căn cứ vào sự chỉ đạo của giáo viên với học sinh trong lớp thì có hình thức dạy học toàn lớp, theo nhóm hoặc cá nhân Trong hoạt động dạy học tiếng Nhật, các hình thức chủ yếu cũng vậy
(1) Học trong lớp: Đây là hình thức phổ biến nhất, các hoạt động dạy
học được tiến hành trong phạm vi nhỏ, gọn, giáo viên dễ quản lý, học sinh
có môi trường học ổn định, tạo được nề nếp học Học sinh nắm kiến thức và tìm hiểu tài liệu tại lớp, không phải di chuyển, thành phần tham gia hoạt động dạy- học ổn định
(2) Học ngoài giờ lên lớp gồm nhiều hình thức :
- Giáo viên tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh qua các buổi sinh hoạt chủ đề trước toàn trường với những hoạt động cụ thể như đóng tiểu phẩm, giao lưu với khán giả về nội dung liên quan đến Nhật Bản
- Gặp gỡ với học sinh Nhật Bản đến trường tham quan để tập sử dụng ngôn ngữ tiếng Nhật
- Qua các festival ngôn ngữ, cho học sinh tham gia thể hiện từ dẫn chương trình đến biểu diễn bằng tiếng Nhật để học sinh được thể hiện những điều đã học, vận dụng…
- Mời chuyên gia nói chuyện, giao lưu theo chủ đề liên quan đến môn học tiếng Nhật, qua đó học sinh được hỏi, được vận dụng những điều đã học
vào thực tế, nâng cao hứng thú với môn học
(3) Học qua hoạt động trải nghiệm: Hình thức học tập này rất hiệu quả, học sinh hứng thú nhưng đòi hỏi giáo viên phải mất nhiều công sức tổ chức
và cần sự giúp đỡ của nhà trường và CMHS vì đưa học sinh đi trải nghiệm thưc tế để học hỏi cầm có kinh phí, người quản lý Hình thức học tập này có nhiều loại:
Trang 40- Học sinh tham gia trại hè quốc tế tại Nhật Bản hoặc các hoạt động giao lưu quốc tế trong và ngoài nước liên quan đến Nhật Bản Để thực hiện hình thức này cần nguồn kinh phí khá lớn và nhà trường phải tìm được các chương
trình CMHS hiểu và đồng ý cho con tham gia và cùng đóng góp kinh phí
- Tham quan các cơ quan, nhà máy có liên quan đến Nhật Bản như Đại sứ quán Nhật, nhà máy liên doanh với Nhật…Qua đó, học sinh được học hỏi,
vận dụng vốn từ ngữ được học để đưa vào trải nghiệm thực tế
- Tổ chức các buổi tham quan cùng học sinh Nhật Bản đi đến bảo tàng, danh lam thắng cảnh để giới thiệu về cảnh sắc, con người, lịch sử Việt Nam và cũng so sánh với Nhật Bản để hiểu thêm về hai dân tộc và có cơ hội sử
dụng tiếng Nhật
Các hình thức học tập rất nhiều nhưng quan trọng là việc giáo viên vận dụng linh hoạt, kết hợp giữa các hình thức và có điều kiện về vật chất để tổ chức các hình thức khác nhau Điều này đòi hỏi công tác xã hội hóa càng tốt thì học sinh càng có cơ hội được tham gia các hình thức học tập phong phú, hiệu quả
1.3.3.6 Nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập của học sinh
(1) Với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi THCS, học sinh có nhu cầu học tập khác nhau, nhu cầu học đó ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức Có học sinh thích học vì sự mới mẻ của môn học và có nhu cầu chủ động tiếp nhận kiến thức, có học sinh nhu cầu học thấp và từ chối tiếp nhận kiến thức Nhu cầu học tập cao- thấp ảnh hưởng đến kết quả học tập và nó cũng phụ thuộc vào điều kiện học tập, động cơ học tập
(2) Động cơ học tập của học sinh THCS rất nhiều: học vì điểm số, học vì được cha mẹ, thầy cô động viên, học vì để được khen thưởng, học để được đi Nhật, vì đây là môn học mới lạ, vì thích môn này, vì cho đây là môn học quan trọng…Động cơ ấy còn là mong muốn tìm hiểu về đất nước, con người Nhật Bản,
sự noi gương người đi trước, giữ gìn danh dự truyền thống của gia đình, dòng họ…Tất cả tạo nên động lực thúc đẩy hoạt động học tập của học sinh Động cơ học tập là động lực thúc đẩy hoạt động học nên giáo viên phải kích thích động cơ học tập để thu hút học sinh học tập