1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới

123 375 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới hạn này sẽ tập trung giải quyết các nội dung sau: i Chính sách đa dạng hoá nguồn thu cho GD ĐH, trong đó chú trọng các vấn đề: Ngân sách nhà nước cho GD ĐH, chính sách thu hút nguồn

Trang 1

Viện khoa học giáo dục việt nam

-

Báo cáo kết quả nghiên cứu

Đề tài Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học

Trang 2

2 Ths Vương Hồng Hạnh, Viện KHGD Việt Nam - Thư ký đề tài

3 Ths Vũ Thị Hồng Khanh, Viện KHGD Việt Nam

4 TS Đỗ Thị Bích Loan, Viện KHGD Việt Nam

5 Ths Bùi Thị Tính, Viện KHGD Việt Nam

6 TS Trần Thị Bích Liễu, Học viện QLGD

Đơn vị/cá nhân phối hợp chính

1 Học viện Quản lý Giáo dục

2 Vụ Đại học và Sau đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 Một số chuyên gia của các trường đại học

Danh mục những từ viết tắt

Trang 3

Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Summary of research outcomes

I Các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu 5

1.3 Những đặc điểm chính trong phát triển GD ĐH và những ảnh hưởng đến

quản lý tài chính GD ĐH của một số quốc gia lựa chọn

2.2 Chính sách phân bổ và sử dụng tài chính trong GD ĐH 65 2.3 Phân cấp quản lý trong GD ĐH nhằm tăng tính tự chủ và trách nhiệm xã

hội của các trường đại học

78

III Những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo vận dụng trong quản lý

tài chính giáo dục đại học Việt Nam

87

3.4 Những bài học kinh nghiệm trong đổi mới quản lý tài chính GD ĐH trên

thế giới có thể tham khảo, vận dụng vào đổi mới quản lý GD ĐH Việt Nam

Trang 4

của một số nước trên thế giới

Mã số: B 2006-37-26

Chủ nhiệm đề tài: TS Vương Thanh Hương Tel.: 0913517745

Email: vthuong_nied@yaoo.com hoặc huong.tv@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam

Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 6/2006 đến tháng 6/2008

1 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm ra những xu hướng chung và sự khác biệt về quản lý tài chính cho GD ĐH

ở một số nước;

- Rút ra những bài học kinh nghiệm và khuyến nghị có thể vận dụng cho GD ĐH Việt Nam

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Các vấn đề then chốt liên quan đến nội dung nghiên cứu

2.2 Những cải cách về quản lý tài chính GD ĐH của một số nước trên thế giới 2.3 Các bài học kinh nghiệm và khuyến nghị có thể vận dụng cho GD ĐH Việt Nam

3 Giới hạn nghiên cứu

3.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài giới hạn ở tiếp cận theo hướng nghiên cứu chính sách về quản lý tài chính GD ĐH của một số nước lựa chọn Giới hạn này sẽ tập trung giải quyết các nội dung sau:

(i) Chính sách đa dạng hoá nguồn thu cho GD ĐH, trong đó chú trọng các vấn

đề: Ngân sách nhà nước cho GD ĐH, chính sách thu hút nguồn thu của các

trường, học phí, tài trợ sinh viên (gồm học bổng và tín dụng sinh viên);

Trang 5

cho các trường ĐH, theo dõi và đánh giá

(iii) Phân cấp quản lý trong GD ĐH nhằm tăng tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại học

3.2 Giới hạn các nước lựa chọn nghiên cứu

Căn cứ theo giới hạn của đề tài và các vấn đề nghiên cứu chính, các nước

được lựa chọn phân tích dựa trên một số tiêu chí sau:

- Đảm bảo có được tương đối thông tin, dữ liệu để có thể so sánh;

- Có những đổi mới trong chính sách quản lý tài chính GD ĐH liên quan đến

đa dạng hoá nguồn lực và sử dụng có hiệu quả tài chính trong GD ĐH những thập niên gần đây;

- ảnh hưởng rõ nét của chính sách đổi mới quản lý tài chính tác động đến phát triển GDĐH trong nước;

- Có cùng những vấn đề quan tâm về phát triển GD ĐH trong nền kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập

- Có thể rút ra bài học tham khảo cho GD ĐH Việt Nam

Do vậy các nước được ưu tiên lựa chọn là: Hoa kỳ thuộc châu Mỹ; Trung

Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore – thuộc Châu á Trong đó Trung quốc

là nước có nền kinh tế chuyển đổi, phát triển GD ĐH Trung quốc có nhiều điểm

tương đồng với GD ĐH Việt Nam Các nước Anh, Pháp, Hà Lan và một số nước khác trong khối OECD thuộc châu Âu Các nước lựa chọn thuộc châu Âu

và Hoa Kỳ là những nước có nền kinh tế phát triển, GD ĐH của họ là hạt nhân

và động lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế – xã hội Đây thực sự là những kinh nghiệm, thực tiễn quí báu mà GD ĐH Việt Nam có thể học hỏi trong nhiều mặt, đặc biệt có cả quản lý tài chính

Trang 6

nội dung chính của đề tài đã được liệt kê ở mục 3.1

- Phương pháp chuyên gia: Giúp phân tích, so sánh và đánh giá những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản lý tài chính GD ĐH Việt Nam

5 Tóm tắt kết quả nghiên cứu

(i) Đề tài nêu tóm tắt cách hiểu một số khái niệm về quản lý tài chính GD ĐH, bối cảnh phát triển GD ĐH trong xu thế toàn cầu hoá và đưa ra những đặc điểm chính trong phát triển GD ĐH của một số nước lựa chọn nghiên cứu như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore

(ii) Tổng quan và phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến quản lý tài chính GDĐH của một số nước lựa chọn nghiên cứu Phần này chú trọng phân tích chính sách đa dạng hoá nguồn thu của các trường ĐH, chính sách phân bổ ngân sách và sử dụng có hiệu quả nguồn thu từ nhiều nguồn khác nhau, kiểm tra, giám sát kinh phí trong quản lý tài chính ở các trường ĐH và chính sách phân cấp quản lý có ảnh hưởng tới quản lý tài chính ở GD ĐH

(iii) Cung cấp thông tin ngắn gọn về phát triển GD ĐH Việt Nam hiện nay, quản

lý tài chính trong GD ĐH Các bài học rút ra từ nghiên cứu kinh nghiệm quản lý tài chính của các nước lựa chọn có thể thấy trên các yếu tố :

- Về đa dạng hoá nguồn thu cho các trường ĐH

- Về phân bổ kinh phí và sử dụng có hiệu quả nguồn thu từ nhiều nguồn ở các trường ĐH

- Tự chủ và chịu trách nhiệm của các cơ sở GD ĐH, đặc biệt tính tự chịu trách nhiệm trong quản lý tài chính ở các trường

Trang 7

in some foreign countries project code: B2006-37-26

Principle researcher: Dr Vuong Thanh Huong

Organization: Vietnam Institute for Educational Sciences

Research period: June 2006 – June 2008

1 Purpose of the research

- To find general trends and disparities on financial management of higher education in some foreign countries

- To find out lessons learned and give suggestions that can be used for Vietnam higher education

2 Contents of the research

- Main issues related to contents of the research project

- Reforms on financial management of higher education in some foreign countries

- Lessons learned and suggestions that can be used in Vietnam higher education

3 Scope of the research

3.1 Scope of the research contents

The research will focus on policies of financial management in some foreign selected countries Contents of the research will deal with main issues as following:

(i) Policy on diversification of income generations at higher education

institutions

(ii) Policy on funding allocation and its use in term of effective usage

(iii) Decentralization in higher education management

3.2 Scope of foreign selected countries

The foreign countries will be selected if meet some general criteria:

- have enough information for comparative study (easily to gain information)

- have renovations in fields of financial management in higher education recently, which can be effected on their development of higher education

- be interested in development of higher education in globalization and

Trang 8

Singapore … and some OECD countries

4 Research methods

- Documentation reviews

- Expert method

5 Summary of the main research

(i) This research has contributed to the understanding towards some of the definitions of financial management in higher education; provided the context

on development of higher education in global trends and key characteristics of some selected foreign countries in development of their higher education such as USA, China, South Korea and Singapore

(ii) Review and analyse data and information related to financial management

of higher education in selected foreign countries This part focuses mainly on policy on diversification of income generations at higher education institutions, policy on funding allocation and use it effectively, monitoring and evaluation of using funds from various sources at higher education institutions and policy on decentralization in management that can be affected in financial management (iii) Briefly provide information on development of Vietnam higher education, its financial management recently Lessons learned on financial management from experience of selected foreign countries can be seen on:

- Diversification of income generations in higher education institutions

- Funding allocation and effective use of funding from different sources

- Autonomy and accountability of higher education institutions, especially accountability in financial management of higher education institutions

Trang 9

Phần 1: Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Giáo dục đại học (GD ĐH) trong thế kỷ 21 đã chứng tỏ tầm quan trọng là hạt nhân trung tâm của nền kinh tế ngày càng phát triển và trước xu thế hội nhập

và toàn cầu hoá GD ĐH là nhân tố quan trọng tạo nên bước nhảy vọt về tri thức

và công nghệ của một quốc gia Trước nhu cầu cấp bách về việc phải mở rộng qui mô nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong khi nhà nước chỉ có thể tăng cường một phần không đáng kể về đầu tư tài chính cho các trường đại học Do vậy, mọi quốc gia dù phát triển hay đang phát triển đều rất coi trọng các chính sách đa dạng nguồn lực cho GD ĐH và việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được đầu tư như ngân sách nhà nước, đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm, xưởng trường, sản phẩm nghiên cứu khoa học, cơ sở vật chất hiện hữu, đất đai nhà cửa …

Trong nền kinh tế thị trường, áp lực về cải cách tài chính cho GD ĐH đã tăng lên ở hầu hết các nước Phần đông các quốc gia đều tìm kiếm những giải pháp nhằm khắc phục sự khan hiếm về nguồn vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn này cho các trường đại học đi kèm với những cải cách cơ bản, đặc biệt liên quan đến các chính sách quản lý, sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có

Quản lý tài chính GD ĐH đang là vấn đề được tranh luận nhiều trên các diễn

đàn trong nước và quốc tế Năm 2005, Ngân hàng thế giới đã phối hợp với Viện Phát triển Giáo dục (Hàn Quốc) tổ chức hội thảo quốc tế tại Seoul (6-8/4/2005)

về “Cải cách tài chính cho GD ĐH trong nền kinh tế tri thức (Financing reforms for tertiary education in the knowledge economy) Nhiều vấn đề được tranh luận sôi nổi dựa trên kinh nghiệm của nhiều nước như: Các chính sách về phân bổ tài chính, công thức phân bổ tài chính, tự chủ của các trường ĐH trong quản lý và chi tiêu, hệ thống vay tín dụng sinh viên…

Trang 10

Một trong những yếu kém của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam là nguồn tài chính còn eo hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước Nguồn thu từ học phí còn ít ỏi (chiếm khoảng 35%) Tình trạng này xuất phát từ thói quen bao cấp còn nặng nề, cơ chế huy động thành phần ngoài công lập chưa thích hợp, nguồn lực cho nghiên cứu triển khai còn quá nhỏ bé (1,24%), thiếu cơ chế, chính sách phù hợp và các trường đại học chưa tích cực, chủ động trong việc khai thác và huy

động các nguồn ngoài ngân sách nhà nước

Việt Nam hiện đang xây dựng đề án cải cách toàn diện giáo dục đại học tiến tới xây dựng một nền giáo dục đại học có chất lượng, ngang tầm khu vực và quốc tế Vấn đề đổi mới quản lý, trong đó có đổi mới quản lý tài chính cho GD

ĐH là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu và học hỏi những kinh nghiệm thành công, thất bại ở nhiều nước trên thế giới Chính vì vậy, đề tài “nghiên cứu

so sánh về quản lý tài chính giáo dục đại học trên thế giới” được đặt ra nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay là phù hợp và có tính cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm ra những xu hướng chung và sự khác biệt về quản lý tài chính cho GD ĐH

ở một số nước;

- Rút ra những bài học kinh nghiệm và khuyến nghị có thể vận dụng cho GD ĐH Việt Nam

3 Nội dung nghiên cứu

3.1 Các vấn đề then chốt liên quan đến nội dung nghiên cứu

3.2 Những cải cách về quản lý tài chính GD ĐH của một số nước trên thế giới 3.3 Các bài học kinh nghiệm và khuyến nghị có thể vận dụng cho GD ĐH Việt Nam

4 Giới hạn nghiên cứu:

4.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu:

Đề tài giới hạn ở tiếp cận theo hướng nghiên cứu chính sách về quản lý tài

Trang 11

chính GD ĐH công lập của một số nước lựa chọn Giới hạn này sẽ tập trung giải quyết các nội dung sau:

(i) Chính sách đa dạng hoá nguồn thu cho GD ĐH, trong đó chú trọng các vấn

đề: Ngân sách nhà nước cho GD ĐH, chính sách thu hút nguồn thu của các

trường, học phí, tài trợ sinh viên (gồm học bổng và tín dụng sinh viên);

(ii) Chính sách phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho GD ĐH, trong

đó chú trọng các vấn đề cơ chế phân bổ ngân sách, công thức phân bổ ngân sách cho các trường ĐH, theo dõi và đánh giá

(iii) Phân cấp quản lý trong GD ĐH nhằm tăng tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại học

4.2 Giới hạn các nước lựa chọn nghiên cứu:

Căn cứ theo giới hạn của đề tài và các vấn đề nghiên cứu chính, các nước

được lựa chọn phân tích dựa trên một số tiêu chí sau:

- Đảm bảo có được tương đối thông tin, dữ liệu để có thể so sánh;

- Có những đổi mới trong chính sách quản lý tài chính GD ĐH liên quan đến

đa dạng hoá nguồn lực và sử dụng có hiệu quả tài chính trong GD ĐH những thập niên gần đây;

- ảnh hưởng rõ nét của chính sách đổi mới quản lý tài chính tác động đến phát triển GDĐH trong nước;

- Có cùng những vấn đề quan tâm về phát triển GD ĐH trong nền kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập

- Có thể rút ra bài học tham khảo cho GD ĐH Việt Nam

Do vậy các nước được ưu tiên lựa chọn là: Hoa kỳ thuộc châu Mỹ; Trung

Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore – thuộc Châu á Trong đó Trung quốc

là nước có nền kinh tế chuyển đổi, phát triển GD ĐH Trung quốc có nhiều điểm

tương đồng với GD ĐH Việt Nam Các nước Anh, Pháp, Hà Lan và một số

Trang 12

nước khác trong khối OECD thuộc châu Âu Các nước lựa chọn thuộc châu Âu

và Hoa Kỳ là những nước có nền kinh tế phát triển, GD ĐH của họ là hạt nhân

và động lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế – xã hội Đây thực sự là những kinh nghiệm, thực tiễn quí báu mà GD ĐH Việt Nam có thể học hỏi trong nhiều mặt, đặc biệt có cả quản lý tài chính

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Tổng quan tài liệu: Hồi cứu tư liệu và các dữ liệu có liên quan đến giới hạn 3 nội dung chính của đề tài đã được liệt kê ở mục 4.1 Thông tin được phân tích theo nội dung nghiên cứu và lựa chọn các nước có thông tin để bố trí, sắp xếp phù hợp với nội dung

- Phương pháp chuyên gia: Giúp phân tích, so sánh và đánh giá những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản lý tài chính GD ĐH Việt Nam

6 Sản phẩm chính của đề tài:

- Báo cáo tổng kết và tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài

- 02 bài báo đăng trên tập chí Khoa học giáo dục

- Vương Thanh Hương Phát triển giáo dục ngoài công lập ở Hàn Quốc Tạp chí Khoa học Giáo dục số 19, tháng 4/2007, trang 59-63

- Vương Thanh Hương Tìm hiểu về vấn đề học phí trong phát triển GD ĐH Tạp chí Khoa học Giáo dục số 36, tháng 9/2008

Trang 13

Phần 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu

I Các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.1 Các khái niệm chính có liên quan

(i) Đầu tư phát triển giáo dục 1

Theo nghĩa rộng, đầu tư là ”sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định

trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để có được các kết quả đó” (Giáo

trình Kinh tế đầu tư, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, NXB Thống Kê, Hà Nội 2004)

Các nguồn lực được huy động vào đầu tư có thể là tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, vốn, công nghệ Các kết quả thu được ở đây có thể là lợi ích kinh

tế xã hội (đạt được thông qua việc nâng cao trình độ dân trí, tăng trưởng kinh tế nhờ tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân

và sự phát triển của từng cá nhân trong xã hội) hoặc lợi ích tài chính (thể hiện ở lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ việc đầu tư)

Nghiên cứu về đầu tư phát triển giáo dục cho phép trả lời câu hỏi: Đầu tư phát triển giáo dục là gì? Hiệu quả của đầu tư phát triển giáo dục đem lại cho chủ thể đầu tư? Cách thức đo lường hiệu quả giáo dục? Việc đầu tư cho giáo dục hiện nay có đem lại hiệu quả cho nhà đầu tư và xã hội không? Hiệu quả đó có tương đương với hiệu quả đem lại nếu ta sử dụng nguồn vốn này để đầu tư phát triển các ngành kinh tế khác không? Đầu tư cho cấp bậc học nào thì đem lại hiệu quả lớn hơn (đối với xã hội và đối với nhà đầu tư)? Với một khoản vốn đầu tư nhất định để đầu tư cho phát triển giáo dục ở một cấp học, nên đầu tư vào khu vực tư nhân hay khu vực công cộng?,

1

Xem thêm: Hồ Thanh Bình Tổng quan kinh nghiệm quốc tế về kinh tế giáo dục Đề tài cấp Viện: V2006-12

Trang 14

(ii) Phân loại các hình thức đầu tư phát triển giáo dục

Có nhiều cách khác nhau để phân loại các hình thức đầu tư phát triển giáo

dục Nhìn từ phía cung và phân theo chủ thể đầu tư, có thể chia thành các nhóm:

- Đầu tư của khu vực công cho giáo dục (bao gồm đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức, cộng đồng dân cư ở địa phương, cho giáo dục)

- Đầu tư của khu vực tư nhân cho giáo dục (đầu tư của các cơ sở giáo dục tư thục)

Phân theo chủ thể đầu tư nhưng nhìn từ góc độ cầu, ta có:

- Đầu tư của cá nhân cho giáo dục (người học hoặc gia đình người học)

- Đầu tư của các doanh nghiệp/tổ chức sử dụng lao động cho giáo dục

- Đầu tư của Chính phủ cho giáo dục

Như vậy, có thể thấy rằng đầu tư của xã hội cho giáo dục xét theo góc độ cung và cầu nhìn chung là không giống nhau

(iii) Cỏc nguồn tài chớnh đầu tư cho giỏo dục

Theo Điều 101, Luật Giỏo dục Việt Nam năm 2005, cỏc nguồn tài chớnh đầu tư cho giỏo dục gồm:

(i) Ngõn sỏch nhà nước;

(ii) Học phớ, lệ phớ tuyển sinh; cỏc khoản thu từ hoạt động tư vấn,

chuyển giao cụng nghệ, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của cỏc cơ sở giỏo dục; đầu tư của cỏc tổ chức, cỏ nhõn trong nước và nước ngoài để phỏt triển giỏo dục; cỏc khoản tài trợ khỏc của tổ chức, cỏ nhõn trong nước và nước ngoài

theo quy định của phỏp luật

(iv) Chi phí và lợi ích của đầu tư cho giáo dục

Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph Stiglitz đã khẳng định rằng “Giáo dục không phải là hàng hoá công cộng thuần tuý”2 Do vậy không thể áp dụng tuỳ

Trang 15

tiện các qui luật của kinh tế thị trường vào giải quyết những vấn đề chi phí và lợi ích trong giáo dục Trong cơ chế thị trường, tuỳ theo các bậc học mà nhà trường

có thể cung cấp những loại hình dịch vụ khác nhau như dịch vụ học tập, dịch vụ nghiên cứu, dịch vụ phát triển trí tuệ, đạo đức, văn hoá, thể lực hay các dịch vụ

đào tạo chuyên sâu… Do giáo dục không phải là hàng hoá công thuần tuý nên không thể phó mặc cho thị trường điều tiết mà cần có sự can thiệp, điều chỉnh của nhà nước Ví dụ nhà nước cần đầu tư phần lớn các chi phí cho giáo dục phổ thông để phát triển vốn con người vì lợi ích trước mắt và lâu dài của xã hội, trong khi đó giáo dục đại học cần huy động đóng góp nhiều từ gia đình, doanh nghiệp

và cộng đồng Xét từ lợi ích kinh tế của đầu tư cho giáo dục3, tỷ suất lợi nhuận

đầu tư cho giáo dục tiểu học đạt mức cao nhất 20%, trung học 14% và đại học 11% trong thời kỳ 1974-1992 Trong khi đó, đối với các dự án của Ngân hàng thế giới trong giai đoạn 1983-1992, tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào nông nghiệp là 11%, công nghiệp là 12% và cơ sở hạ tầng là 16% Như vậy, dưới góc độ kinh tế,

tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào giáo dục luôn đạt ở mức cao4

Đối với GD ĐH khi được đầu tư phát triển ngành công nghiệp GD ĐH sẽ

có những đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội Ví dụ hệ thống

GD ĐH Hoa Kỳ với hơn 4000 trường cao đẳng, đại học đã tạo ra tổng giá trị sản phẩm giáo dục ước tính tới 197 tỷ đô la, chiếm 3% tổng sản phẩm trong nước của Hoa Kỳ vào năm 2000.5

(v) Tài chính giáo dục và quản lý tài chính GD ĐH

Mảng tài chính giáo dục có thể chia làm hai phần là tài chính của khu vực giáo dục công lập và tài chính của giáo dục ngoài công lập ở các cấp bậc học khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân Việc phân chia này nhằm giúp nhận rõ cơ chế vận hành, những điểm mạnh và yếu của hai khu vực giáo dục này Đề tài giới hạn phân tích về tài chính đối với giáo dục công lập

Trang 16

Đối với giáo dục công, nghiên cứu tài chính giáo dục tập trung vào phân tích các nguồn thu, các khoản chi phí và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu và khoản chi; Xem xét tính hợp lý của các tỷ lệ (Tỷ lệ chi NSNN cho giáo dục chiếm trong GDP; và các cơ cấu (cơ cấu các nguồn thu; và cơ cấu chi NSNN cho giáo dục theo cấp bậc học và trình độ đào tạo, theo nội dung kinh tế (chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản), theo cấp ngân sách (trung ương, địa phương),

Đối với giáo dục ngoài công lập, do các cơ sở giáo dục này phải tự huy

động nguồn tài chính sao cho đảm bảo được nhu cầu chi của chính cơ sở mình nên ngoài việc phân tích cơ cấu các nguồn thu và chi cho giáo dục ngoài công lập trong mối tương quan với giáo dục công lập, các nghiên cứu tập trung vào phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của cơ sở giáo dục

Ngoài ra, tài chính giáo dục còn tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể của nguồn thu và chi phí như vấn đề học phí, lương giáo viên,

Quản lý tài chính GD ĐH theo nội dung quản lý nhà nước về giáo dục

được hiểu là huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để phát triển GD ĐH

(vi) Chi phí giáo dục 6

Có ba cách phân loại như sau:

1 Phân theo hình thức chi: Theo cách này, chi phí giáo dục được phân thành chi phí thường xuyên (chi vận hành) và chi phí cơ bản (chi đầu tư) Trong phạm vi hai loại này, các khoản chi được chia nhỏ hơn Cụ thể như sau:

Chi thường xuyên:

Trang 17

- Chi mua hàng hóa và dịch vụ

- Tiền thuê (đất, nhà cữa, máy móc)

- Chi duy tu, bảo dưỡng nhà cữa

- Chi duy tu, bảo dưỡng đồ gỗ và thiết bị

- Chi tiền nước, điện, điện thoại

- Chi văn phòng phẩm và thiết bị nhỏ

- Chi tiền sách và những tài liệu dạy học khác

c) Các khoản chi chuyển giao:

- Giáo dịch với chính quyền địa phương và cấp trên

- Giáo dịch với giáo viên, phụ huynh học sinh và học sinh

- Quản lý hành chính nhà trường (vật tư, nhân lực và tài chính) d) Các hoạt động xã hội và hỗ trợ học sinh:

- Căng tin và ăn trưa

- Chi y tế

Trang 18

- Tài liệu chỉ dẫn về nhà trường 3) Phân theo nguồn tài chính: Tài chính của nhà trường có thể do nhiều cơ quan cấp, và cho nên có thể có nhiều kiểu ra quyết định và quy trình phân bố kinh phí khác nhau Điều có ích là phân loại chi phí giáo dục theo nguồn thu tài chính để biết được cơ cấu chi theo từng nguồn thu như thế nào Thường có các nguồn tài chính sau đây:

sở giáo dục để sử dụng Ví dụ, Bộ Giáo dục hoặc Sở giáo dục trả lương trực tiếp cho giáo viên; chính quyền thành phố tự trị trả trực tiếp cho nhà thầu xây dựng trường học; Bộ giáo dục hoặc Sở Giáo dục trả trực tiếp cho nhà thầu sách giáo khoa để cung cấp tiếp cho nhà trường hoặc địa phương; (b) Chi của chính phủ cho các cơ sở giáo dục mà các cơ sở này có trách nhiệm tự trang trải các hoạt

động giáo dục Ví dụ chính phủ chi một khoản phù hợp hay một khoản kinh phí trọn gói cho trường đại học sau đó trường này sử dụng để trả lương cán bộ/nhân viên và mua các nguồn lực khác; sự phân bổ một khoản kinh phí nhà nước hàng năm cho nhà trường công lập tự chủ; hỗ trợ của chính phủ cho các trường tư thục; chi của chính phủ dưới dạng hợp đồng cho một công ty tư nhân tiến hành nghiên cứu giáo dục…

7

Các khái niệm từ mục (vii) – (xi) tham khảo từ “Education database: definition and explanations”

Trang 19

Chi trực tiếp của cơ quan chính phủ không bao gồm trả học phí cho sinh viên hoặc gia đình sinh viên nhập học tại các trường công lập, thậm chí nếu có dòng chi cho học phí

(viii) Hỗ trợ tài chính cho sinh viên (Financial aid to students): Hỗ trợ tài chính

cho sinh viên cần được phân biệt dưới hai hình thức:

a/ Học bổng chính phủ và các khoản tài trợ khác của chính phủ cho sinh viên/gia

đình sinh viên Hỗ trợ này bao gồm học bổng và các khoản tài trợ tương tự khác như (học bổng, phần thưởng, cổ phiếu….); Giá trị của các hỗ trợ đặc biệt cung cấp cho sinh viên dưới hình thức tiền mặt hoặc trọn gói chẳng hạn như miễn phí

đi lại hoặc giảm giá đi lại trên các phương tiện giao thông công cộng, trợ cấp gia

đình hoặc trợ cấp nuôi con theo hiện trạng gia đình của sinh viên Những hỗ trợ khác dưới dạng giảm thuế, trợ cấp đóng thuế … không được hỗ trợ

b/ Tín dụng sinh viên: Được báo cáo dựa trên cơ sở chung - đó là không khấu trừ hoặc phải trả lãi thực từ người vay (là sinh viên hoặc gia đình sinh viên) Lý do là

số tiền vay bao gồm cả học bổng và trợ cấp là phù hợp để tính hỗ trợ tài chính cho người học Tuy nhiên lãi suất và tiền trả nợ cho người cho vay thông qua người đi vay cần được xem xét để tiếp cận giá trần của vốn vay sinh viên đối với những người cho vay (cả công lập và tư nhân) vì khoản tiền phải trả không phải trả ngay hiện tại mà sau khi sinh viên ra trường (khi có việc làm)

(ix) Chi phí cho nghiên cứu: Tất cả chi phí cho nghiên cứu được thực hiện ở

trường ĐH và các cơ sở GD ĐH kể cả nghiên cứu được cấp kinh phí từ quĩ nhà trường nói chung, hoặc quĩ độc lập hoặc hợp đồng ký kết với các nhà tài trợ công

và tư Chỉ có một ngoại lệ là các chi phí cho cá nhân, tổ chức độc lập, các viện nghiên cứu của chính phủ không tính đến trong các trường hợp mối quan hệ giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu chỉ thuần tuý là quản lý hành chính

(x) Ngân phiếu (vouchers): Có nhiều cách hiểu về ngân phiếu giáo dục Theo

nghĩa hẹp, ngân phiếu giáo dục được hiểu là:

- Sinh viên hoặc gia đình họ được nhận một ngân phiếu giáo dục có giá trị bằng

Trang 20

một khoản tiền chỉ để sử dụng riêng cho chi phí GD ĐH;

- Sinh viên mang ngân phiếu giáo dục đến trường nơi họ nhập học và nhà trường sau đó được nhà nước trả cho số tiền tương đương giá trị ghi trong ngân phiếu này

Theo nghĩa rộng ngân phiếu giáo dục được hiểu là chính sách tài chính trong GD ĐH dựa trên sinh viên chứ không phải trên nhà trường

(xi) Công thức phân bổ tài chính (formula) được hiểu là một công cụ phân bổ

tài chính tới các cơ sở đào tạo Công thức được xây dựng dựa trên một tập hợp các qui định để phân bổ tài chính theo các yếu tố giá thành khác nhau Công thức được áp dụng cho tất cả các cơ sở GD ĐH trong hệ thống theo cùng một phương thức Công thức có thể được diễn tả khác nhau như “trên cơ sở đầu vào” hoặc “trên cơ sở đầu ra” nhưng yếu tố quyết định chính là số sinh viên ở các ngành học khác nhau được nhóm lại theo các nhóm ngành rộng hoặc hẹp Công thức có khi liên quan trực tiếp tới số lượng sinh viên ra trường được cấp bằng, số lượng tốt nghiệp này được xem như yếu tố phản ánh giá thành hỗ trợ chứ không phải giá trị của bằng cấp hoặc một vài đo đạc khác

1.2 Bối cảnh phát triển giáo dục đại học trong xu thế toàn cầu hóa

Trên thế giới GD ĐH được xem là ưu tiên quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế – xã hội Đó là kho tàng và là người bảo vệ nền văn hóa, là tác nhân thay đổi nền văn hóa, là động lực của phát triển kinh tế quốc gia và là công

cụ cho việc thực tiễn hóa tinh thần tập thể Tuyên bố của Hội nghị quốc tế về GD

ĐH do UNESCO tổ chức năm 1998 đã chỉ rõ: ”Sứ mạng của GD ĐH là góp phần

vào yêu cầu phát triển bền vững và phát triển xã hội nói chung” Thế giới hiện

đại của GD ĐH trên thế giới đang diễn ra những cải cách sâu rộng với các xu hướng sau8:

8

Trần Khánh Đức Chất lượng giáo dục đại học và phát triển Kỷ yếu hội thảo các giải pháp cơ bản nâng cao chất

Trang 21

(i) Xu hướng đại chúng hoá: Chuyển giáo dục tinh hoa (elite) sang giáo

dục đại chúng và phổ cập (massification and universalization) Qui mô giáo dục đại học của nghiều nước tăng nhanh như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc

(ii) Xu hướng đa dạng hoá (diversification): Phát triển nhiều loại hình

trường với cơ cấu đào tạo đa dạng về trình độ và ngành nghề theo hướng hàn lâm (academic) hoặc nghề nghiệp và công nghệ - chú trọng thực hành (professional and technology);

(iii) Tư nhân hoá/dân doanh hoá (privatization): để tăng hiệu quả đào tạo và

thu hút nhiều nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho GD ĐH ;

(iv) Bảo đảm chất lượng (quality assurance) và nâng cao khả năng cạnh

tranh, chuyển đổi văn bằng, chứng chỉ, trao đổi sinh viên Tập đoàn hoá (corporatization) các trường đại học;

(v) Phát triển mạng lưới các đại học nghiên cứu để trở thành trung tâm sản

xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại Thông qua đào tạo và nghiên cứu để phát hiện và thu hút nhân tài KH-CN;

(vi) Đẩy mạnh các loại hình dịch vụ đào tạo nhân lực quốc tế và khu vực

Các trường đại học trở thành mạng lưới các cơ sở dịch vụ đào tạo nhân lực thu hút vốn đầu tư vào đào tạo từ nhiều nước đặc biệt là các nước

đang phát triển có nhu cầu tiếp cận với công nghệ hiện đại

Trong lĩnh vực quản lý và quản lý tài chính GD ĐH, những khuynh hướng cải cách được thể hiện ở 5 chủ đề chính: (i) Việc mở rộng và đa dạng hóa số lượng nhập học, các tỉ lệ tham gia, số lượng và loại hình trường; (ii) Đổi mới quản lý tài chính được tính đến trong bối cảnh các trường ĐH phải chịu áp lực tài chính do ngân sách nhà nước phân bổ cho các cơ sở GD ĐH thấp và bị cắt giảm,

đội ngũ cán bộ giảng dạy được xem như quá đông, chi trả thấp (hoặc không được

Trang 22

trả lương), thiếu phương tiện nghiên cứu khoa học hoặc thư viện và các phòng thí nghiệm xuống cấp; (iii) Thị trường – uy thế của định hướng thị trường, các giải pháp và sự tìm kiếm nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước; (iv) Nhu cầu đối với

tự chịu trách nhiệm của các trường đại học; (v) Tăng hiệu quả và chất lượng đối với quá trình dạy-học

(i) Việc mở rộng và đa dạng hóa

Một vấn đề quan trọng được nhấn mạnh trong khung cải cách GD ĐH trên thế giới là việc mở rộng và đa dạng hóa được điều tiết bởi nhu cầu của sự phát triển và khả năng vươn lên của nhân loại và nhu cầu cạnh tranh ngày càng tăng của nền kinh tế công nghệ và kỹ thuật

Các nhân tố chính cho việc mở rộng và đa dạng hóa bao gồm: (a) Mở rộng giáo dục cơ bản và trung học tạo nên nhu cầu tiềm năng lớn cho giáo dục đại học; (b) Tỉ lệ tăng trưởng trong tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học lựa chọn GD

ĐH – tỉ lệ này, với nhiều lí do khác – là một thành tố của nhu cầu thị trường lao

động, các tỉ lệ thu hồi, truyền thống và đô thị hóa hợp lí; (c) Đa dạng hóa GD

ĐH và khả năng mới cho mở rộng GD ĐH để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh và phức tạp của thế giới hiện đại; (d) Tăng cường hỗ trợ của các chính phủ trên thế giới để sinh viên được bình đẳng tiếp cận GD ĐH; (e) Mở rộng số lượng (hoặc thời gian đi học) của GD ĐH trên một sinh viên Liên quan đến thời gian đi học nói trên, người ta nói tới các nhân tố cả mở rộng và thu hẹp Vấn đề mở rộng trước đây bao gồm việc mở rộng tri thức, tăng cường các mức độ kỹ năng và khả năng được yêu cầu trong nền kinh tế hiện đại và cạnh tranh toàn cầu, và nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên là điểm tựa cho khuynh hướng tự nhiên của phát triển chuyên môn để đạt được số lượng bằng cấp giáo dục cao hơn Thời gian sau này, tại một vài nước đã phát triển mạnh các chu kỳ đào tạo ngắn hơn ở các cơ sở không phải trường đại học, và điều này đã khắc họa những cải cách

được thể chế hóa để ngăn cản việc người học dành thời gian quá mức cho học tập

Trang 23

vì mục đích bằng cấp

Theo Salmi (1992)9 cách tiếp cận hiệu quả nhất là chiến lược đa dạng thể chế khi mà nhu cầu xã hội trong GD ĐH được quản lí thông qua sự phát triển đa dạng các cơ sở đào tạo phù hợp, chi phí thấp trên cơ sở của sứ mạng, chức năng

và loại hình dịch vụ khác nhau của nhà trường Điều này đã được phản ánh trong việc tăng cường các khuynh hướng hướng tới các trường cao đẳng cộng đồng, các chương trình giáo dục người lớn, đào tạo kỹ thuật, giáo dục thường xuyên và các chương trình học tập từ xa

(ii) áp lực tài chính buộc các trường ĐH phải đổi mới cách thức quản lý

Chủ đề được quan tâm nhiều nhất trong những năm 1990 là khó khăn về tài chính - điều kiện chủ chốt được nhấn mạnh trong tuyên bố của Ngân hàng thế giới năm 1994 là GD ĐH đang trong khủng hoảng về tài chính trên toàn thế giới10 Có bốn yếu tố chính góp phần vào những khó khăn về tài chính nói trên Thứ nhất là áp lực nhập học như đã nói ở phần trên, đặc biệt ở các nước có số lượng học sinh tốt nghiệp trung học tăng nhanh đi kèm với tỉ lệ nhập học đại học thấp và khả năng không đáp ứng được của các trường ĐH so với nhu cầu tăng lên Lí do thứ hai là xu hướng giá thành đào tạo trong GD ĐH tăng lên nhanh hơn giá cả trong nền kinh tế nói chung, khuynh hướng này diễn ra nhanh bởi giá thành tăng rất cao của công nghệ và những thay đổi nhanh chóng trong các lĩnh vực học tập có nhu cầu lớn Lí do khó khăn thứ ba của GD ĐH là gia tăng sự khan hiếm của nguồn thu công phân bổ cho GD ĐH – một hoạt động phải cạnh tranh mạnh mẽ với các nhu cầu công khác chẳng hạn như giáo dục cơ bản, cơ sở hạ tầng công cộng, sức khỏe và duy trì trật tự xã hội, bảo tồn và bền vững môi trường, chăm lo nhu cầu của người nghèo và cũng là sự bất lực của nhiều quốc gia nơi nguồn thu chỉ dựa vào phương pháp cũ là tăng thuế thu hồi của các doanh nghiệp do nhà nước làm chủ Yếu tố thứ tư là vấn đề chính trị Đó là việc không

9

Jamil Salmi (1992) Higher education and economic development: strategies for reform The WB, EDI, March

Trang 24

thỏa mãn ở nhiều quốc gia do việc cứng nhắc và kém hiệu quả của khu vực công nói chung và sức ì hướng tới các giải pháp thị trường bao gồm tư nhân hóa, bãi

bỏ qui định, phi tập trung hóa các chức năng vẫn được xem là “công lập”

(iii) Hướng tới thị trường

Chương trình cải cách của những năm 1990s và mở rộng tới thế kỷ sau là việc định hướng tới thị trường hơn là tới sở hữu công hoặc các qui định và kế hoạch của chính phủ11 Chú trọng đến định hướng thị trường của GD ĐH là khuynh hướng chiếm phần lớn trên thế giới của chủ nghĩa tư bản thị trường và các nguyên tắc của nền kinh tế tự do mới

GD ĐH đáp ứng các điều kiện được tác giả Barr xác định như đặc điểm của hàng hóa tư nhân, phù hợp với các yếu tố thị trường Thứ nhất, GD ĐH khụng thể cư xử như một hàng hoỏ cụng thuần tuý bởi vỡ nú chỉ đưa ra cỏc điều kiện kinh doanh (cung cú giới hạn) bao gồm (thường sẵn sàng với một giỏ) và sự

từ chối (khụng theo yờu cầu của tất cả mọi người), những điều này khụng đỏp ứng cỏc đặc điểm của hàng hoỏ cụng12 nhưng phản ỏnh tối thiểu một vài điều kiện quan trọng của hàng hoỏ tư nhõn Thứ hai, khỏch hàng của GD ĐH cần được cung cấp thụng tin thoả món nhu cầu của họ và những nhà cung cấp thường đưa ra ớt thụng tin hay cỏc điều kiện mà đú là cỏc ý tưởng cho cỏc lực lượng thị trường hoạt động Định hướng thị trường này dẫn đến cỏc yếu tố của khung cải cỏch như học phớ và sự chuyển đổi một số gỏnh nặng tài chớnh của

GD ĐH từ những người nộp thuế (nguồn thuế quốc gia) sang cha mẹ và sinh viờn, những người được thụ hưởng lợi ớch từ GD ĐH, gần như toàn bộ chi phớ này dành cho cụng tỏc thể chế - phũng học và thiết bị và hầu hết cỏc tỉ lệ lói suất thị trường về vay tớn dụng sinh viờn phụ thuộc vào sự lựa chọn của thị trường theo cỏc giỏ trị thực và sự thoả hiệp

Trang 25

Sự tin tưởng lớn nhất vào các tín hiệu thị trường cũng mang đến sự chuyển giao quyền lực trong việc ra quyết định không chỉ từ phía chính phủ mà còn từ phía các cơ sở đào tạo đại học và đặc biệt từ đội ngũ cán bộ - đó là khách hàng, có thể là sinh viên, các nhà kinh doanh hay công chúng nói chung Sự chuyển giao này có thể xuất hiện ‘sự nhượng bộ’ trong thuật ngữ chính trị hiện đại truyền thống Nhưng nó cũng chỉ biÓu hiÖn ‘tự do’ thậm chí ‘dân kiểm’ trong vốn từ vựng cũ, nãi c¸ch kh¸c lµ trªn giÊy tê Thực ra hệ thống tài chính các trường đại học ë một vài nước phụ thuộc đơn độc vào chính phủ, chúng được nhân đôi với quyền tự chủ của trường đại học (đặc biệt các trường ĐH hàn lâm) theo một hệ thống tự cung, tự cấp và không đáp ứng đủ cho sinh viên của trường hoặc những người phải đóng thuế Sự chuyển đổi hướng tới lòng tin, thậm chí chỉ một phần, dựa vào học phí và giả thiết sự hỗ trợ tài chính để duy trì - sự chuyển giao ảnh hưởng từ nhà trường và Bộ Giáo dục sang sinh viên và gia đình

họ Và đối với nhiều nhà kinh tế, việc chuyển giao một vài gánh nặng tài chính

từ người đóng thuế (ngân sách nhà nước) sang sinh viên và cha mẹ học sinh chỉ phản ảnh cuộc cải cách theo định hướng công bằng lớn hơn và sự liên kết khả thi hơn của những người phải trả tiền với những người thu lợi nhuận Như vậy, các trường đại học và các hệ thống GD ĐH chú trọng hơn tới cái gọi là nhân sự

có chất lượng, luân chuyển tiền mặt, vị trí thị trường, đa dạng sản phẩm và tự chịu trách nhiệm, họ sẽ hướng tới ‘tư nhân hoá’ hơn là khuôn mẫu ‘công lập’, thậm chí nếu họ vẫn duy trì kiểu trường do nhà nước quản lí, phụ thuộc hỗ trợ duy nhất vào ngân sách nhà nước và công khai thừa nhận ‘công lập’ trong sứ mạng của họ

Định hướng thị trường như vậy bao gồm (a) học phí, lệ phí, phụ cấp nghiên cứu và hướng dẫn thông qua các khoản được cấp, hợp đồng và đào tạo cho doanh nghiệp; (b) khu vực tư nhân bao gồm cả hai phía phi lợi nhuận và người cung cấp dịch vụ có thu lợi nhuận trong giáo dục đại học; (c) phân quyền

Trang 26

cho địa phương hoặc sự chuyển giao quyền lực từ chính quyền trung ương tới địa phương và (d) tự chủ thể chế, hoặc chuyển giao quyền lực từ chính quyền tại mọi cấp quản lý cho nhà trường Với việc tránh không tăng thuế và khó khăn trong việc thu thuế13 so với các nhu cầu công như giáo dục cơ bản, sức khoẻ cộng đồng, an ninh và giao thông công cộng ở nhiều quốc gia thì việc tăng kinh phí dựa trên học phí, lệ phí và mối quan hệ kinh doanh của cán bộ giảng dạy có thể chỉ là những lựa chọn làm giảm thiểu khó khăn

(iv) Tự chịu trách nhiệm

Chủ đề thứ tư nhấn mạnh trong khung cải cách quản lý và quản lý tài chính GD ĐH là tự chịu trách nhiệm Các trường đại học nên chịu trách nhiệm theo nhiều cách trước sinh viên, cha mẹ học sinh, cán bộ công nhân viên, giảng viên và trước xã hội nói chung Quan niệm phổ biến ở một số nước là trường

ĐH, đặc biệt là các trường truyền thống và học thuật thiếu trách nhiệm, đặc biệt đối với bằng tốt nghiệp đầu tiên của sinh viên Tự chịu trách nhiệm là khó đạt được vì lợi nhuận (phù hợp) cho đa dạng đối tượng và rất khó đo lường Tuy nhiên điều cần thiết nên có các hướng dẫn minh bạch để có thể đo lường tốt nhất đầu ra hoặc việc thực hiện và là định hướng tốt nhất cho phần thưởng cá nhân và tập thể thông qua các chỉ số thực hiện

(v) Chất lượng và hiệu quả

Báo cáo bài học kinh nghiệm của Ngân hàng thế giới đã xác định nhiều vấn đề chất lượng rút ra từ tình trạng quá đông sinh viên (Luật GD của nhiều nước cho phép tất cả học sinh tốt nghiệp trung học có quyền thi và trúng tuyển vào đại học, liên quan đến sự chuẩn bị sẵn sàng của sinh viên và khả năng của nhà trường), từ việc thiếu kiểm tra chất lượng hoặc cách cư xử của đội ngũ giảng viên (một phần do trả lương thấp), hoặc từ chương trình không phù hợp, không

13

Năm 1997 chính phủ Nga chỉ thu được 52% thuế Tại Matxcova, với số dân 10 triệu, chỉ có 120.000 người nộp thuế đúng hạn The New York Times International, March 8, 1998, p.3

Trang 27

đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế phát triển Chương trình nghị sự của Ngân hàng thế giới đối với nâng cao chất lượng trong những năm đầu 1990s, trong đó bao gồm chú trọng cải cách để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tăng cường tuyển chọn và đánh giá sinh viên và mở rộng, nâng cấp chất lượng cơ sở vật chất như thư viện, phòng máy, phòng thí nghiệm và thiết bị dạy học14

Cải cách quản lý và quản lý tài chính GD ĐH không thể tách khỏi vấn đề chất lượng giáo dục và đội ngũ giảng viên Thêm nữa, các nhà xây dựng chính sách đang quan tâm đến nhu cầu năng suất lớn hơn – vấn đề này gây tranh luận

về tính cần thiết của cải cách quản lý và tài chính bởi nhu cầu quan tâm cả đầu vào, hoặc giá thành cũng như đầu ra, hoặc chất lượng học tập và đội ngũ giảng viên Ví dụ các vấn đề năng suất GD ĐH cơ bản không dựa trên chi phí quá mức nhưng dựa trên việc học tập không đầy đủ15 Khung cải cách để nâng cao năng suất do vậy yêu cầu chú trọng đến: (a) giảng dạy hiệu quả bao gồm các kỹ thuật giảng dạy tốt, cụ thể yêu cầu các nguồn lực phục vụ giảng dạy phù hợp như thư viện, các phòng thí nghiệm, phòng máy, tiếp cận Internet; (b) Chương trình phù hợp bao gồm nội dung đáp ứng tri thức, cập nhật và phù hợp với sứ mạng của cơ

sở đào tạo; (c) Học tập hiệu quả bao gồm giao nhiệm vụ kịp thời, phù hợp cho sinh viên cũng như xây dựng cho họ năng lực tập trung; (d) Cấu trúc quản lý và điều hành hiệu quả Tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng sâu sắc tới việc giảm

tỉ lệ lưu ban và thời gian trung bình để tốt nghiệp, dẫn đến việc tiết kiệm và nâng cao chất lượng Những cố gắng trên hướng tới hiệu xuất, kiểm soát giá thành và gia tăng nguồn lực có thể giúp cho các nước đang phát triển giải quyết các vấn

Trang 28

1.3 Đặc điểm chính trong phát triển GD ĐH và những ảnh hưởng đến quản

lý tài chính GD ĐH của một số quốc gia lựa chọn

Bối cảnh chung trong phát triển GD ĐH bước sang thế kỷ 21 như đã trình bày ở mục trên mang tính toàn cầu, tuy nhiên từng quốc gia đều có các chính sách phát triển GD ĐH mang tính đặc thù riêng và chúng có ảnh hưởng nhất

định tới quản lý tài chính Trong khuôn khổ giới hạn, đề tài lựa chọn giới thiệu các đặc điểm chính trong phát triển GD ĐH của 4 quốc gia có những tác động rõ nét đến quản lý tài chính GD ĐH của họ trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay

(i) Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (Mỹ)

Từ những thập niờn 90 cỏc nhà giỏo dục đại học Mĩ đó đưa ra nhận định: giỏo dục đại học (GD ĐH) ở Mỹ, cũng như trờn toàn thế giới đang đối mặt với

sự khủng hoảng mà những thay đổi nhỏ và những cỏch thức làm cũ khụng thể giải quyết được vấn đề Thử thỏch của tương lai khụng phải là việc làm thế nào

để sống sút với một vài đồng đụ la mà làm thế nào để phỏt triển thịnh vượng Cỏc trường đại học cần tỡm kiếm cỏc giải phỏp để phục hồi lại niềm tin của cụng chỳng bằng việc giảm giỏ thành đào tạo, nõng cao chất lượng và sản phẩm

Một số đặc điểm kinh tế - xó hội

Mỹ là một trong cỏc quốc gia phỏt triển với nền kinh tế cú khả năng cạnh tranh cao nhất thế giới

Bảng 1: Năng lực cạnh tranh cao của nền kinh tế Mĩ (So sỏnh với 75 nước khỏc) Nước Chỉ số cạnh tranh

về mức độ tăng

trưởng

Chỉ số cạnh tranh về kĩ thuật

Chỉ số cạnh tranh về thể chế cụng

Chỉ số cạnh tranh mụi trường kinh tế vĩ mụ (2001)

Nguồn: Peter K Cornelius, GCR Executive Summary 2002-2003, World

Economic Forum

Trang 29

- Thu nhập bình quân đầu người cao: Trình độ chuyên gia: 96,700 USD; Trình độ tiến sĩ: 79,400 USD; Trình độ cao hoc: 59,500 USD; Trình độ cử nhân: 49,900 USD; trình độ tốt nghiệp phổ thông trung học: 36,500 USD

và chưa tốt nghiệp phổ thông: 21,600 USD

- Tuy nhiên Mỹ đang đối mặt với một số khó khăn về vấn đề tài chính mà những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp lên đầu tư và nguồn ngân sách của

GD ĐH

Theo Dennis Jones (2006), trong báo cáo về tình hình tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng của nó đối với tình hình tài chính của GD ĐH đã chỉ ra một số vấn đề sau:

• Đến năm 2013 các trường đại học trong 50 bang vẫn tiếp tục bị hạn chế

trong vấn đề ngân sách do ảnh hưởng của sự sụt giảm thuế thu nhập từ chính phủ liên bang

• Dù các bang có khả năng cân bằng ngân sách thì các bang vẫn chịu sự

thiếu hụt tài chính để duy trì các dịch vụ công

• Kết quả là các trường đại học sẽ cạnh tranh nhiều hơn đối với các nguồn

lực hiện có

• Doanh thu của toàn bộ quốc gia sẽ 5.7% thấp hơn so với yêu cầu để duy

trì các dịch vụ hiện nay

• Thu nhập cá nhân hàng năm tăng 4.5%

• Các bang và chính phủ địa phương chi để duy trì các dịch vụ thấp hơn so

với lượng kinh phí yêu cầu

• Doanh thu thấp dẫn đến việc chính phủ bang cắt giảm các nguồn ngân

sách đầu tư cho bang và chính phủ bang

Các vấn đề của giáo dục đại học Mỹ hiện nay

(i) GD ĐH đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo ra khả năng cạnh tranh cao

Trang 30

cho nước Mỹ một cách toàn diện và cơ bản Các trường ĐH nghiên cứu đóng vai trò quan trọng đối với vai trò lãnh đạo và vai trò dẫn đầu về phát triển kinh tế của Mỹ16

(ii) Hệ thống GDĐH mang tính cạnh tranh cao: Các trường đại học cạnh tranh vì sinh viên, vì từng đồng đô la cho nghiên cứu khoa học, cạnh tranh đội ngũ giảng viên và cạnh tranh vì vị thế của nhà trường trên thị trường Các trường đại học hoạt động càng ngày càng theo qui luật của thị trường hơn là theo qui định của pháp luật Sự cạnh tranh xảy ra giữa các trường đại học truyền thống và các đối thủ mới như các công ty, các doanh nghiệp đại học và đặc biệt trong khung cảnh cạnh tranh toàn cầu tạo nên những cơ hội mới cũng như những thách thức mới

cho các trường đại học và cho xã hội (Frank Newman and Lara K Couturier,

2002) Sự cạnh tranh này giúp các trường nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn và nâng cao chất lượng đào tạo Cạnh tranh làm nảy sinh sự sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm và trách nhiệm và tất cả những yếu tố này giúp nâng cao chất lượng của nhà trường

(iii) Hệ thống GD ĐH mang tính phi trung ương hoá cao

Hệ thống giáo dục của đại học Mỹ được xem là mang tính phi trung ương hoá cao Tính chất phi trung ương hoá của hệ thống GDĐH của Mĩ thể hiện ở chỗ quyền lực điều hành hệ thống GDĐH được phân cho các bang và các trường đại học hơn là tập trung vào tay chính quyền liên bang Các trường đại học có quyền tự chủ rất lớn

Bộ Giáo dục Mỹ đại diện cho chính quyền liên bang quản lí hệ thống GDĐH ở cấp liên bang Trong Bộ Giáo dục có một số các cơ quan quản lí GDĐH Luật điều hành GDĐH của Chính phủ liên bang dựa trên hai nguồn chủ

16 On becoming a productive university strategy for reducing costs and increasing quality in higher education(2005) (Edited by James E Groccia and Judith E Miller), Anker Publishing Company, Inc Bolton, Massachusetts

Trang 31

yếu: yêu cầu trách nhiệm như là điều kiện để nhận được kinh phí hỗ trợ của chính phủ liên bang và các luật khác của đất nước

Vai trò của chính phủ liên bang đối với GDĐH gần đây trở nên mạnh hơn khi Bộ trưởng Bộ GD Mỹ thành lập Hội đồng về tương lai của GHĐH tuyên bố rằng: nước Mĩ cần có một chiến lược quốc gia về GDĐH và muốn xây dựng

chuẩn quốc gia về chất lượng GD ĐH (6 th meeting regional higher education needs, 2004)

(iv) Hệ thống GD ĐH rất đa dạng về loại hình trường lớp

Bảng 2: Số trường đại học ở Hoa Kì năm 2004

- Bốn năm

- Hai năm

2,516 1,896

620

Digest Education Statistics 2004, National Center for education statistics

Trường công do bang đầu tư kinh phí có trách nhiệm đảm bảo quyền lợi học tập của cư dân trong toàn bang Trường tư, ngược lại không do bang hỗ trợ về kinh phí mà các nguồn kinh phí họ có được là nhờ sự ủng hộ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân hảo tâm Số trường tư chiếm hơn một nữa tổng số các trường đại học ở Mỹ

- Đa dạng về thành phần giáo viên, cán bộ quản lí, lãnh đạo, đội ngũ nhân viên và sinh viên

Sinh viên ở các trường đại học Mỹ ngày nay càng ngày càng đa dạng về thành phần, lứa tuổi, lĩnh vực học tập và nghiên cứu, trình độ, giới tính, dân tộc, mục đích học tập và tín ngưỡng Sinh viên phải học tập rất vất vả trong các trường đại học mới mong lấy được bằng cấp mong muốn và có được những kiến thức

Trang 32

và kĩ năng cần thiết cho công việc

(v) Hệ thống GDĐH Mỹ có một số lượng giảng viên và cán bộ nhân viên cực lớn, vào mùa thu năm 2003 có gần 3,2 triệu người làm việc, trong đó 2,3 triệu là các nhà chuyên môn và 0,9 triệu là cán bộ phục vụ Từ năm 1976 đến năm 2003, đội ngũ cán bộ quản lí và nhân viên phục vụ tăng 15% lên 25%, tỉ lệ sinh viên/giảng viên giảm từ 5,4 xuống 5,0 57% cán bộ giảng dạy làm việc toàn thời gian Độ tuổi trung bình của cán bộ giảng dạy là 50; chỉ có 8% tuổi dưới 35 Trong số cán bộ giảng dạy và phục vụ 47%, là nữ, 19,2% là người Mỹ và 8% là người có nguồn gốc khác 68 % cán bộ giảng dạy toàn thời gian và 25% bán thời gian có trình độ tiến sĩ Trên 50% cán bộ giảng dạy bán thời gian có trình độ thạc sĩ, 21 % trình độ cử nhân so với 27 % cán bộ toàn thời gian có trình độ thạc

sự gia tăng các dịch vụ trong trường đại học Một nghiên cứu của Bowling

Green State University (2003) đã phân tích các nguyên nhân này như sau:

1) Tăng giá cả liên quan đến vấn đề nhân sự: 80% chi phí trong ngân sách của GDĐH dành cho việc trả lương và thuê mướn đội ngũ cán bộ phục vụ và

Trang 33

giảng dạy Vì việc đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề nồng cốt của công tác đào tạo trong trường đại học nên việc đầu tư để nâng cao tay nghề cho đội ngũ đòi hỏi một khoản chi phí lớn, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh khi các trường đại học buộc phải trả lương cao để duy trì và giữ chân đội ngũ giảng viên có tay nghề và uy tín cao

2) Tăng giá cả liên quan đến vấn đề đầu tư kĩ thuật và cơ sở hạ tầng: hầu hết các trường đại học phải chi một khoản tiền lớn cho việc đầu tư kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin để mua các phần cứng và phần mềm phục vụ cho công tác quản lí, giảng dạy và dịch vụ và kèm theo đó là kinh phí để nâng cấp cơ

sở hạ tầng và đào tạo đội ngũ sử dụng công nghệ thông tin Thí dụ năm 2002 Bowling Green State University đã chi $50 triệu đô la Mỹ để mua sắm máy một

hệ thống máy vi tính mới và chi phí cho kĩ thuật tăng 32% so với 5 năm trước 3) Sự gia tăng của các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ chăm sóc và bảo hiểm sức khoẻ cho sinh viên

4) Sự cắt giảm nguồn tài chính cho GD ĐH của các Bang do sự suy giảm của kinh tế

Trong năm học 1980-1981 bang và các chính phủ địa phương đầu tư 50% ngân sách cho GD ĐH nhưng đến năm 1999-2000, thì ngân sách đầu tư của bang và chính quyền địa phương chỉ còn 1/3

Những đặc điểm này của hệ thống GD ĐH Mỹ có ảnh hưởng rất lớn đến phương thức đầu tư cũng như cơ chế quản lí tài chính của họ

(ii) Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

Trung Quốc hiện là nước có nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất thế giới Thời gian qua, quốc gia này cũng đã đạt được nhiều thành công trên lĩnh vực cải tổ và phát triển giáo dục đại học Nếu như ở thập niên 1980, chỉ có

Trang 34

khoảng từ 2% đến 3% học sinh tốt nghiệp phổ thông hằng năm tại Trung Quốc

là vào được đại học, thì đến năm 2003, tỷ lệ này đã tăng lên 17% Năm 2006, tại

Trung Quốc, số sinh viên tốt nghiệp tăng 22% với khoảng 4 triệu cử nhân ra

trường Dự kiến năm 2008 này, số cử nhân ra trường sẽ vào khoảng 6 triệu

Tỷ lệ phát triển nghiên cứu sinh tiến sĩ thậm chí còn tăng nhanh hơn tỷ lệ

gia tăng sinh viên tốt nghiệp đại học Trong những năm từ 1999 đến 2003, số

người được nhận bằng tiến sĩ tại Trung Quốc đã tăng gấp 12 lần so với giai đoạn

từ năm 1982 đến 1989 Số tiến sĩ đã tăng từ 14.500 người vào năm 1998 lên

khoảng 50.000 vào thời điểm này Hiện nay, Chính phủ Trung Quốc đang tập

trung đầu tư cho một số trường đại học trọng điểm như: Đại học Thanh Hoa, Đại

học Bắc Kinh, Đại học Vũ Hán , nhằm xây dựng hệ thống giáo dục đại học đạt

đẳng cấp thế giới

Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn đưa ra nhiều chính sách tạo điều

kiện cho nhiều sinh viên ra nước ngoài du học Theo thống kê của Bộ Giáo dục

Trung Quốc, từ năm 1978 đến hết năm 2004, tổng cộng đã có ngót 1 triệu người

Trung Quốc đi du học ở nước ngoài, chủ yếu tại Mỹ Đến cuối năm 2004, có

khoảng 200.000 sinh viên Trung Quốc tốt nghiệp các trường đại học ở nước

ngoài và học giả đã trở về sống và làm việc ở quê nhà Số sinh viên Trung Quốc

sang du học tại Mỹ năm 2008 này dự kiến khoảng 30 ngàn; cách đây 3 năm con

số này là khoảng 20 ngàn; cùng thời điểm đó (2005), đã có 30.000 sinh viên du

học tốt nghiệp đã quay về làm việc ở Trung Quốc Về số lượng, Trung Quốc chỉ

xếp sau Mỹ về số cử nhân được đào tạo

Số liệu về Giáo dục Cao đẳng, Đại học Trung Quốc năm 2000 và 2006

Trang 35

Trường CĐ-ĐH dân lập

Số sinh viên tại trường

-Số học viện độc lập

Số sinh viên tại học viện

- Cơ quan GD cao đẳng đại học dân lập khác

Số sinh viên đăng kí

278 1.337.900

318 1.467.000

994 nơi 939.000 Nguồn: Theo công báo thống kê của Bộ giáo dục Trung Quốc

Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang được áp dụng tác động mạnh mẽ tới toàn bộ đất nước trong hai thập kỷ qua Tác động không chỉ tới tăng trưởng nền kinh tế mà còn tới toàn bộ đời sống Giáo dục đại học tại Trung Quốc đã trải qua một quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử Sự thay đổi môi trường quốc tế và sự thay đổi nội bộ của hệ thống kinh tế đã mang lại những thách thức mới cho giáo dục đại học Để đối phó với những thách thức, một loạt các chiến lược đã được thông qua để giải quyết vấn đề khả năng tiếp cận và đảm bảo chất lượng cho quá trình tăng cường giá trị của giáo dục đại học cho người dân Trung Quốc Những thay đổi trong giáo dục đại học tại Trung Quốc trong hai thập kỷ qua bao gồm:

(i) Định hướng lại (Reorientation)

Đầu những năm 1980 ông Đặng đã tuyên bố rằng giáo dục phải được định hướng lại để phù hợp với yêu cầu của 1/công cuộc hiện đại hóa Trung Quốc, 2/của thế giới và 3/cho tương lai Nhận định của ông Đặng đã được đưa ra như một sự thay đổi cơ bản về quan niệm giáo dục của Trung Quốc Trước lời tuyên

bố của ông Đặng, giáo dục từ rất lâu đã có vị trí phục vụ cho những tư tưởng chính trị và ổn định xã hội Tư tưởng của ông Đặng về định hướng cho giáo dục

đã khuấy động một loạt các văn kiện mà trong đó đề cao quan niệm về tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội Luật giáo dục của nước Cộng hòa nhân dân TQ được ban hành năm 1985, quy định: “Giáo dục

là nền tảng của hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa và nhà nước đảm bảo ưu tiên cho

sự phát triển công cuộc giáo dục Toàn bộ xã hội phải quan tâm và hỗ trợ cho sự phát triển của công cuộc giáo dục” Sự phát triển giáo dục được tính đến cả mục

Trang 36

tiêu xây dựng Trung Quốc thành một xã hội thịnh vượng Ba mục tiêu phát triển giáo dục Trung Quốc bao gồm:

a) hình thành hệ thống giáo dục quốc dân đẩy mạnh học tập suốt đời;

b) chuẩn bị hàng trăm triệu những con người có chất lượng để tăng cao nguồn lao động, hàng triệu người thành thạo và số lượng lớn nhân tài có khả năng sáng tạo;

c) cung cấp kiến thức về đổi mới công nghệ, xây dựng kinh tế và phong phú về văn hóa

(ii) Phi tập trung hóa (Decentralization)

Sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân TQ, hệ thống giáo dục tập trung cao độ đã được thành lập vào những năm 1950 Nhà nước đã thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc lập kế hoạch, hành chính, quyết định các chương trình, giáo trình và cung cấp nguồn tài chính Việc thực hiện dựa trên hệ thống tập trung đã kìm hãm sáng kiến và sự nhiệt tình của địa phương và các tổ chức cá nhân Để “chấn hưng” lại Trung Quốc thông qua khoa học và giáo dục, cần thiết phải phi tập trung hóa việc quản lý điều hành giáo dục Liên quan đến điều khoản về giáo dục đại học, Luật giáo dục đại học của nước CHND Trung

Hoa chỉ rõ: “Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội, nhà nước đưa ra

kế hoạch cho sự phát triển giáo dục đại học, thành lập các cơ sở giáo dục đại học và xúc tiến giáo dục đại học bằng cách đa dạng hoá Nhà nước khuyến khích mọi thành phần xã hội bao gồm cả doanh nghiệp, các viện, tổ chức công hay các nhóm cũng như các cá nhân đăng ký thành lập các cơ sở giáo dục đại học theo luật và tham gia, hỗ trợ cải cách và xây dựng giáo dục đại học.” Sự

thay đổi chính sách phi tập trung hóa đã có kết quả trong việc làm nổi bật rõ sự

đa dạng hóa sở hữu các trường Đại học và nguồn tài chính cho giáo dục đại học Thế kỷ trước, các cơ sở giáo dục đại học của Trung Quốc là thuộc nhà nước và chỉ do chính quyền TW hoặc chính quyền các Tỉnh cung cấp tài chính Vài năm

Trang 37

trở lại đây, hàng nghìn các trường đại học và cao đẳng đã thuộc sở hữu tư nhân Hơn nữa, năm 2003, trong số các trường đại học, đã có 249 cơ sở tư thục mới được thành lập, tài chính cũng như tham gia điều hành là do tư nhân, nhận 680,000 sinh viên Đó là một cách thức mới để phối hợp những lợi thế của các trường đại học công lập với các doanh nghiệp tư trong việc thành lập các trường đại học Năm 2003, Bộ giáo dục đã ra văn bản để chính thức hỗ trợ cho loại hình

sở hữu mới này Nó khẳng định rằng loại trường mới này là sự đổi mới cách thức và tiếp cận có hiệu quả để đẩy mạnh tăng trưởng giáo dục đại học và đẩy mạnh nguồn giáo dục đại học một cách tốt hơn

(iii) Mở rộng phạm vi giáo dục đại học

Nhằm đẩy nhanh sự phát triển giáo dục, năm 1998, Bộ giáo dục đã xây dựng kế hoạch chấn hưng giáo dục trong thế kỷ 21 (The Plan for Revitalizing Education in the 21st Century) Một trong những mục tiêu cụ thể là đại chúng hóa giáo dục cao trung ở thành thị và những vùng phát triển hơn, và mở rộng phạm vi giáo dục đại học Kế hoạch được đặt ra là đến năm 2010, tổng tỷ lệ được tuyển vào đại học phải đạt 15% Năm 2002, mục tiêu đã đạt được, 8 năm tiếp theo kế hoạch Năm 2004, tỷ lệ đã tăng đến 19% Tại Thượng Hải, đạt gần 50% Tại Tỉnh Jilin, vùng kém phát triển hơn, tỷ lệ cũng đã tăng đến 23% Trung bình cả nước năm 1997 đạt 9,7% Sau kế hoạch 5 năm lần thứ 10, giáo dục đại học của Trung Quốc đã đạt được tỷ lệ nhập học là 22%, đó là bước đầu tiên của giáo dục đại học đại chúng

(iv) Đổi mới chương trình đào tạo

Cùng với sự thay đổi cơ sở và quan niệm, thì các chương trình trong các trường đại học cũng có sự thay đổi Tháng 6/1999, Hội nghị Quốc gia lần thứ 3 về giáo dục đã được ĐCS và Quốc vụ viện tổ chức Chủ đề trọng tâm của hội nghị là làm sâu sắc thêm cải cách giáo dục và đẩy mạnh giáo dục dựa trên chất lượng (quality – oriented education) Trong số những điểm đổi mới, có 3 điểm đáng chú ý:

Trang 38

- Thứ nhất, lồng ghép khoa học và tính nhân văn trong chương trình được ủng hộ để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của sinh viên Để đẩy mạnh hô hình lồng ghép này, Bộ giáo dục đã thành lập Ủy ban hướng dẫn về giảng dạy nhân văn như là môn học chính (The Guiding Committee for Teaching Humanities as Minor) và đã chọn 30 trường đại học thực hành mô hình lồng ghép này

- Thứ hai, là giảng dạy ngoại ngữ và tin học được đưa ra như những môn học bắt buộc Với việc gia nhập WTO, khả năng giao tiếp ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh được nhấn mạnh trong các trường đại học và cao đẳng Đến giữa những năm 1990, tiếng Anh đã trở thành một trong 3 môn học chính (cùng với toán và Hán ngữ) của thi kiểm tra đầu vào Tương tự như vậy, chứng chỉ chứng minh trình độ sử dụng vi tính cũng rất có lợi cho sinh viên tốt nghiệp tìm việc làm

- Thứ ba, đào tạo các kỹ năng thực hành ngày càng trở nên quan trọng Trong quá trình thị trường hóa, sinh viên tốt nghiệp đại học không phải ngồi lâu

để đợi quyết định đi làm, họ phải tìm việc làm thông qua phỏng vấn Làm thế nào để việc học trở thành một phần quan trọng hơn nữa trong giáo dục đại học

Để nâng cao khả năng thực hành của sinh viên, một mặt các trường đại học phải

cố gắng cung cấp các điều kiện thực hành tốt hơn, mặt khác phải xây dựng những cơ sở thực hành trong các công ty, các nhà máy và ngay cả ở trường học

(v) Đổi mới phương pháp đào tạo

Xu hướng toàn cầu hóa và sự hiện diện của kinh tế tri thức đã đặt ra các yêu cầu cao hơn cho giáo dục đại học Vụ giáo dục đại học của Bộ đã bắt đầu dự án vào năm 2003 để chọn ra 1500 môn học mẫu ở các trường đại học khác nhau và chỉ đạo trực tuyến nhằm thúc đẩy việc đổi mới phương pháp Trên

300 môn học được lựa chọn đã là tiêu biểu cho cập nhật các nội dung, sử dụng phương tiện đa truyền thông giảng dạy theo nhóm (team teaching) và hoạt động hoá sinh viên nhiều hơn

Trang 39

Dự báo, với đà phát triển như hiện nay, đến năm 2050 Trung Quốc, Ấn Độ

và Mỹ là 3 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới sẽ trở thành những cỗ máy chính tạo ra những chuyển biến lớn lao và sâu sắc về cục diện trên tất cả mọi mặt của một thế giới mới trong tương lai Yếu tố chính đóng góp vào sự trỗi dậy mạnh

mẽ của 3 quốc gia này, rõ ràng là vai trò của việc coi trọng phát triển giáo dục Trong đó, giáo dục đại học luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Thời kỳ này sẽ là thời đại trường đại học truyền thống từng bước rút khỏi vũ đài lịch sử và phương pháp dạy học liên quan đến nó cũng tiêu vong Thay thế vào đó sẽ là hệ thống giáo dục hoàn toàn mới được xây dựng trên cơ sở thông tin tiên tiến và khoa học kỹ thuật công nghệ mới Các biện pháp, hình thức mới, đa dạng, thuận tiện cho mọi ngựời học tập một cách hệ thống những kiến thức sẽ phát triển rầm rộ, trở thành dòng chính của sự phát triển của giáo dục đại học

(iii) Hàn Quốc

Các loại hình trường đại học ở Hàn Quốc là: Đại học tổng hợp, Đại học công nghiệp, Đại học giáo dục, trường cao đẳng, Đại học hàm thụ và truyền thanh, truyền hình, các trường kỹ thuật (Technology College) và các trường khác Thời gian học ở đại học từ 4 đến 6 năm Tất cả các trường đều trực thuộc

Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc

Để mở rộng quyền tự trị của các trường đại học và bình thường hoá giáo dục trung học bị lệ thuộc vào thi cử, năm 1998 chính phủ công bố hệ thống thi tuyển mới được áp dụng từ 2002 Từng trùơng đại học tự do xác định các tiêu chuẩn tuyển chọn của mình trong các chỉ số như kết quả hoạt động ở trung học, điểm thi trắc nghiệm khả năng học đại học (College Scholastic Ability Test - CSAT) hay tự luận, bằng (licenses), thư giới thiệu CSAT có 5 môn: tiếng Hàn, toán, khoa học xã hội, khoa học, ngoại ngữ (tiếng Anh) tập trung đánh giá khả năng xử lí trí tuệ và khả năng phân tích CSAT được bổ sung thêm những môn

Trang 40

tự chọn khác nhau theo xu hướng giảm các môn bắt buộc, tăng các môn tự chọn trong chương trình phổ thông mới, ví dụ ngoại ngữ 2 là một môn tự chọn từ

2001 Có 3 thời kỳ tuyển sinh: tuyển vào mọi lúc, kỳ tuyển sinh chính thức định

kỳ, kỳ tuyển sinh thêm Học sinh được phép nộp đơn vào học bao nhiêu trường cũng được Nhà nước tăng cường giúp đỡ các trường đại học địa phương Các trường trung học kĩ thuật vùng đổi thành các trường cao đẳng kĩ thuật, công nghệ với sự trợ giúp của chính phủ Hệ thống các trường cao đẳng ngày nay là các trường 2 hoặc 3 năm, được khởi đầu từ 1979 bằng cách nhập các trường cao đẳng 2 năm và các trường trung học nghề 2-3 năm Năm 2002 có 159 trường cao đẳng đào tạo 602.609 sinh viên

Bảng 4: Những thông tin chung về các trường (2002)

Các trường

Phân loại

Tổng cộng

Quốc gia

Công lập

Tư thục

Các lớp

và các khoa

Sinh viên Giáo

viên

Cao đẳng 159 (1) 7 9 143

(1) 5200 963.129 12.156 Đại học sư phạm 11 11 - - 12 23.259 721 Cao đẳng và Đại

học

163 (19)

1 Các số trong ( ), [], < > không được tính trong tổng số các trường

2 Các số trong ( ) là số phân hiệu

3 Tổng số các trường đào tạo sau đại học bao gồm cả các trường đào tạo sau đại

Ngày đăng: 05/07/2016, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
28. Paul T. Brinkman (2003), Informing the integration of tuition, student financial aid, and state appropriations policies, A Compilation of Commissioned Papers, Supported by a grant from Lumina Foundation for Education, April Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Compilation of Commissioned Papers
Tác giả: Paul T. Brinkman
Năm: 2003
34. Western Interstate Commission for Higher education (2003), Financial aid and student persistence, Policy Insights, October Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policy Insights
Tác giả: Western Interstate Commission for Higher education
Năm: 2003
35. William F. Massy (2003), Honoring the Trust Quality and Cost Containment in Higher Education, Anker Publishing Company, Inc. Bolton, Massachusetts Sách, tạp chí
Tiêu đề: Honoring the Trust Quality and Cost Containment in Higher Education
Tác giả: William F. Massy
Năm: 2003
14. Dennis Jones (2003), Policies in Sync: Appropriations, Tuition, and Financial Aid for Higher Education, A Compilation of Commissioned Papers, Supported by a grant from Lumina Foundation for Education, April Khác
15. Dennis Jones (2006), State shortfalls projected to continue despite economic gains. The national center for public policy and higher education, February Khác
16. England: HEFCE www.hefce.ac.uk and the Higher Education Policy Institute, Oxford www.hepi.ac.uk Khác
17. GCR Executive Summary 2002-2003, Peter k. Cornelius, World Economic Forumwww.vnstyle.vdc.com.vn/usefulreading/GCR_Executive_Summary_2002_03.pdf Khác
18. GCR Executive Summary 2002-2003, Peter k. Cornelius, World Economic Forumwww.vnstyle.vdc.com.vn/usefulreading/GCR_Executive_Summary_2002_03.pdf Khác
19. Phan Văn Kha (2007), Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. NXB Giáo dục Khác
20. Magarret J.Barr (2002), Academic administrator guider to: Budgets and financial management, Jossey-Bass Khác
22. Michael F. Middaugh editor (2000), Analyzing costs in higher education: what institutional researchers need to know, Jossey – Bass publishers San Francisco, number 106, Summer Khác
23. Trần Thị Bích Liễu (2008), Nâng cao chất lượng GD ĐH ở Mỹ: Những giải pháp mang tính hệ thống và định hướng thị trường. NXB đại học Sư phạm Hà Nội Khác
24. Nguyễn Quang Kính (biên dịch và giới thiệu), (2006), Cải cách giáo dục cho thế kỷ 21. Báo cáo của Uỷ ban cải cách giáo dục trực thuộc Tổng thống Hàn Quốc. NXB Giáo dục Khác
26. Nguyễn Công Giáp. Giáo trình kinh tế học giáo dục. Hà Nội, 2006 Khác
27. On becoming a productive university strategy for reducing costs and increasing quality in higher education(2005) (Edited by James E. Groccia and Judith E. Miller), Anker Publishing Company, Inc. Bolton, Massachusetts Khác
29. Rahnl Wood, Quality, Cost, and Value-Added: A Manual for Integrating Quality and Activity-Based Costing in Higher Education Khác
30. Robert E. Martin(2005), Cost control, College Access, and Competition in higher education, Edward Elgar publishing, Inc Khác
31. Singapore autonomous universities towards peaks of excellence (2004). Ministry of Education, Singapore Khác
32. Steve Gunderson, The Greystone Group. Investing in America’s Future Khác
33. Đặng Ứng Vận (2007). Phát triển giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường. NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Số trường đại học ở Hoa Kì năm 2004 - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 2 Số trường đại học ở Hoa Kì năm 2004 (Trang 31)
Bảng 4: Những thông tin chung về các trường (2002) - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 4 Những thông tin chung về các trường (2002) (Trang 40)
Bảng 6: Tỷ lệ sinh viên đại học tham gia mô hình SFS - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 6 Tỷ lệ sinh viên đại học tham gia mô hình SFS (Trang 63)
Bảng 7: Ngân sách của SV ở các ĐH công lập ở Mỹ - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 7 Ngân sách của SV ở các ĐH công lập ở Mỹ (Trang 64)
Bảng 9 : Nguồn tài chính cho các tr−ờng ĐH và CĐ tại Anh Quốc (2001/2002) - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 9 Nguồn tài chính cho các tr−ờng ĐH và CĐ tại Anh Quốc (2001/2002) (Trang 72)
Bảng 11: Các cách tiếp cận khác nhau tới kiểm tra tài chính - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 11 Các cách tiếp cận khác nhau tới kiểm tra tài chính (Trang 86)
Sơ đồ 5: Cơ cấu tổ chức hệ thống quản lí trường đại học - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Sơ đồ 5 Cơ cấu tổ chức hệ thống quản lí trường đại học (Trang 91)
Bảng 13: Ngân sách chi cho GD&amp;ĐT giai đoạn 2002-2007 - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 13 Ngân sách chi cho GD&amp;ĐT giai đoạn 2002-2007 (Trang 98)
Bảng 14: Học phí trung bình ở các tr−ờng ĐH úc (2004) - Nghiên cứu quản lý tài chính giáo dục đại học của một số n ớc trên thế giới
Bảng 14 Học phí trung bình ở các tr−ờng ĐH úc (2004) (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w