Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn rất lúng túng, việc quản lý và chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống chưa triệt để, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HẰNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi
Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên
cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hiển
Trang 4Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HẰNG, người hướng dẫn khoa học đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn
tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn: UBND Huyện Đan Phượng – Thành phố Hà Nội, Phòng giáo dục và đào tạo, BGH,GVCN, Bí thư đoàn của 3trường THCS trên địa bàn Huyện Đan Phượng cung cấp tài liệu, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu và khảo nghiệm phục vụ cho vấn
đề nghiên cứu của đề tài
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bản thân tôi đã rất cố gắng, nỗ lực, song luận văn chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
PHẠM THỊ HIỂN
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU,CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ
GD& ĐT Giáo dục và đào tạo
GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của đề tài 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 8
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 8
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 9
1.2 Lý luận về giáo dục kỹ năng sống 12
1.2.1 Khái niệm kỹ năng sống 12
1.2.2 Giáo dục kỹ năng sống 13
1.2.3 Các thành tố của giáo dục kỹ năng sống 14
1.3 Lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống 23
1.3.1 Khái niệm về quản lý giáo dục kỹ năng sống 23
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 25
1.4 Đặc điểm tâm lí học sinh Trung học cơ sở 28
1.4.1 Đặc điểm sinh lý 29
1.4.2 Đặc điểm tâm lý – xã hội 29
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống trong trường Trung học cơ sở 31
Trang 71.5.1 Năng lực của Hiệu trưởng 31
1.5.2 Văn hóa và cơ sở vật chất nhà trường 32
1.5.3 Nội dung chương trình giáo dục KNS 33
1.5.4 Giáo dục gia đình và xã hội 33
1.5.5 Tự giáo dục của bản thân học sinh 34
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 TH C TR NG GI O DỤC V QU N HO T ĐỘNG GI O DỤC NĂNG SỐNG CHO H C SINH C C TRƯ NG TRUNG H C CƠ S HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, TH NH PHỐ H NỘI 36
2.1 Khái quát về huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội 36
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên-kinh tế và xã hội huyện Đan Phượng 36
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục của huyện Đan Phượng 38
2.2 Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng 41
2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 41
2.2.2 Nội dung khảo sát 42
2.2.3 Phương pháp khảo sát 42
2.2.4 Thang đánh giá kết quả khảo sát 42
2.3 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các trường trung học cơ sở 43
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên về mục tiêu hoạt động giáo dục KNS cho học sinh các trường trung học cơ sở 43
2.3.2 Thực trạng về thực hiện nội dung giáo dục KNS cho học sinh các trường trung học cơ sở 45
2.3.3 Thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục KNS cho học sinh 47
2.3.4 Thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục KNS cho học sinh 50
2.3.5 Thực trạng kiểm tra - đánh giá kết quả giáo dục KNS cho học sinh 53
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh các trường trung học cơ sở 54
Trang 82.4.1 Thực trạng quản lý xây dựng mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh của
các BGH nhà trường 54
2.4.2 Thực trạng quản lý việc triển khai nội dung giáo dục KNS cho học sinh 56
2.4.3 Thực trạng quản lý việc sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực trong hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 57
2.4.4.Thực trạng quản lý việc sử dụng các hình thức trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh 59
2.4.5 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 62
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh 64
2.6 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở 66
2.6.1 Những kết quả đạt được 66
2.6.2 Những hạn chế 66
Tiểu kết chương 2 68
CHƯƠNG 3 IỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 69
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở huyện Đan Phượng 69
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 69
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 69
3.1.3 Nguyên tắc 3: Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của hoạt động giáo dục kỹ năng sống 70
3.1.4 Các biện pháp đề xuất phải đảm bảo tính thiết thực và khả thi 70
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh các trường Trung học sở 71
Trang 93.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống thiết
yếu cho mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường 71
3.2.2 Quản lý việc xây dựng mục tiêu chuẩn giáo dục kỹ năng sống thiết yếu phù hợp với lứa tuổi học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường 73
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho giáo viên 75 3.2.4 Quản lý việc giáo viên triển khai nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hình thức giáo dục KNS 78
3.2.5 Phát huy vai trò chủ thể các lực lượng sư phạm trong GDKNS cho học sinh THCS 82
3.2.6 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá và thi đua khen thưởng hoạt động giáo dục kỹ năng sống 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 89
3.4 Khảo sát tính khả thi và sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 91
3.4.1 Đối tượng khảo sát 91
3.4.2 Cách thức tiến hành khảo sát 91
3.4.3 Mục đích khảo sát 91
3.4.4 Nội dung khảo sát 91
3.4.5 Các biện pháp khảo sát 91
3.4.6 Kết quả khảo sát 92
3.4.7.Tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 94
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC ẢNG
Bảng 1.1 Nhận thức chung về mục tiêu GDKNS cho học sinh theo quan điểm của CBQL và GV 44 Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL, GV về các nội dung GDKNS cho học sinh 45 Bảng 2.3 Cơ sở vận dụng các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh 47 Bảng 2.4 Mức độ sử dụng của giáo viên về các biện pháp giáo dục KNS 48 Bảng 2.5 Đánh giá của GV về mức độ sử dụng các hình thức hoạt động GDKNS cho học sinh 50 Bảng 2.6 Đánh giá năng lực tổ chức các hình thức giáo dục KNS của GV cho học sinh 51 Bảng 2.7 Đánh giá việc thực hiện kiểm tra- đánh giá kết quả giáo dục KNS cho học sinh 53 Bảng 2.8 Thực trạng việc CBQL việc xây dựng mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường 55 Bảng 2.9 Thực trạng việc quản lý thực hiện nội dung giáo dục KNS ở các trường THCS trên địa bàn huyện Đan Phượng 56 Bảng 2.10 Đánh giá mức độ quản lý việc sử dụng các phương pháp GDKNS cho học sinh 58 Bảng 2.11 Đánh giá mức độ quản lý việc sử dụng các hình thức GDKNS cho học sinh 60 Bảng 2.12 Thực trạng quản lý việc đánh giá công tác kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện hoạt động giáo dục KNS 63 Bảng 2.13 Đánh giá của CBQL, GV về những yếu tố hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS 64 Bảng 3.1 Kết quả trưng cầu ý kiến về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động GD KNS cho học sinh THCS huyện Đan Phượng 92 Bảng 3.2 Kết quả trưng cầu ý kiến về mức độ khả thi của các biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS huyện Đan Phượng 93 Bảng 3.3 Tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản
lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS huyện Đan Phượng 94
Trang 11DANH MỤC CÁC IỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ giáo dục KNS cho học sinh THCS 52 Biểu đồ 3.1.Tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho HS THCS huyện Đan Phượng 95
Sơ đồ 3.1: Mối quan hệ giữa các biện pháp 90
Trang 12"Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt"
Điều 2 Luật giáo dục được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã ghi rõ: " Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
Trang 131.2 Về mặt thực tiễn
Trong xu thế hội nhập hợp tác cùng phát triển hiện nay đòi hỏi mỗi cá nhân phải nhanh chóng “hoà nhập” nhưng “không hoà tan” Xã hội ngày càng phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ một mặt đem đến cho con người những thuận lợi và cơ hội để phát huy tiềm năng của bản thân Mặt khác cũng mang lại cho con người đặc biệt là những thế hệ trẻ những khó khăn, thách thức đòi hỏi con người phải trang bị cho mình cả kiến thức và những KN sống cần thiết để giải quyết và nỗ lực vượt qua GD trong xu hướng hiện nay trên thế giới đã chú trọng hướng vào mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực vừa có đầy đủ tri thức và những KN sống để nâng cao giá trị của mỗi cá nhân Thực tế cho thấy, GD nước ta còn ít quan tâm đến việc GDKNS cho người học, dù đã có lồng ghép một vài nội dung GDKNS trong các môn học: sinh học, văn học, lịch sử, GD công dân… và hoạt động ngoài giờ lên lớp trong nhà trường Trọng tâm chính trong các trường học vẫn nặng về dạy chữ hơn dạy cách làm người Chưa chú ý dạy cho học sinh cách đương đầu với những khó khăn của cuộc sống như cha mẹ ly hôn, gia đình phá sản, kết quả học tập kém, tránh lối sống thực dụng Nên các em chưa hiểu nhiều về giá trị của cuộc sống và những KNS mà con người cần có
Từ thực trạng trên, căn cứ chỉ thị 40/2008/CT–BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và Kế hoạch số 1842/GDĐT – TrH ngày 29/8/2008 của Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội về “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013, thì việc rèn luyện KNS cho học sinh bậc THCS là một trong 5 nội dung thiết thực để xây dựng trường học thân thiện Đây là cơ sở pháp lý để việc giáo dục
kỹ năng sống (GDKNS) cho học sinh bậc THCS được quan tâm nhiều hơn từ trước tới nay
Lứa tuổi học sinh THCS (thiếu niên) là một giai đoạn chuyển tiếp trong
Trang 14sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và trưởng thành Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, cho thấy nội dung
cơ bản và sự khác biệt về mọi mặt của cơ thể Trong tuổi này, các em sẽ bị tác động từ nhiều yếu tố khác nhau này các em được gia đình xem như một thành viên tích cực, được giao những nhiệm vụ cụ thể Nhà trường nơi các em đến lớp, sinh hoạt và học tập, nơi có nhiều tác động nhất nhất đối với các em, tại
đó vị trí của mình có nhiều thay đổi thể hiện trong các hoạt động học tập, sinh hoạt và vui chơi giải trí tập thể Xã hội là môi trường để các em bắt đầu được thừa nhận như một thành viên tích cực, bản thân các em cũng hứng thú và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, muốn thể hiện, ham tìm hiểu và tự chứng minh mình Bởi vậy, gia đình và nhà trường - những người đang trực tiếp dạy dỗ thiếu niên - cần nắm được vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lí đặc biệt này Đồng thời, những khó khăn, thuận lợi cũng là kim chỉ nam trong việc đào tạo nên những chủ nhân tương lai của đất nước Trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay, có rất nhiều trường hợp học sinh với một số lượng lớn là học sinh cấp 2 rơi vào các hiện tượng như: quậy phá, trầm cảm, thậm chí là tự tử Đây là một trong những biểu hiện của hiện tượng bất ổn tâm lí Vậy nguyên nhân của nó là gì Nó là trực tiếp bản thân hay chịu tác động của những tác nhân nào Học tập, cuộc sống và xã hội có tác động không và tác động như thế nào Và phải làm sao để học sinh trung học cơ sở có thể vượt qua những hiện tượng như trên Là nhà quản lý học sinh trung học cơ sở, việc tìm câu trả lời cho các câu hỏi nêu trên là điều vô cùng cần thiết
Trong thực tiễn hiện nay nhận thức về kỹ năng sống, cũng như việc thể chế hóa giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục nói chung và trung học cơ sở nói riêng ở nước ta chưa thật cụ thể Việc hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các cấp học, bậc học còn nhiều hạn chế Các chương
Trang 15trình giáo dục kỹ năng trong các nhà hiệu quả không cao, công tác quản lý chưa sát sao Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn rất lúng túng, việc quản lý và chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống chưa triệt để, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống còn đơn điệu, chưa thực sự thu hút được học sinh tích cực tham gia hoạt động Trên thực tế đã có nhiều sách
và công trình nghiên cứu về kĩ năng sống cũng như quản lý hoạt động giáo dục
kĩ năng sống, tuy nhiên cho đến thời điểm này chưa có công trình nào nghiên
cứu sâu về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cơ bản, thiết yếu cho học
sinh Trung học cơ sở tại địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội trong thời đại hiện nay
Xuất phát từ những lí luận và thực tiễn nói trên, cũng như xét thấy tầm quan trọng của lứa tuổi thiếu niên tại học đường, ở gia đình và trong xã hội,
tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh trung học cơ sở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” để làm
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh trong các trường trung học cơ sở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, đề tài đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS ở huyện Đan Phượng,
TP Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
Trang 16huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của Ban giám hiệu các trường trung học cơ sở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội đã được quan tâm nhưng chưa có hiệu quả cao do nhiều yếu tố như: Chưa có tài liệu chuẩn về giảng dạy kỹ năng sống, chưa có kế hoạch toàn diện đưa giáo dục kỹ năng sống vào trong nhà trường, đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo bài bản, các cơ sở trang thiết bị vật chất còn thiếu thốn…Vì vậy cần quản lý hoạt động này một cách và khoa học thì mới có thể thực hiện tốt hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý phù hợp; kế hoạch hóa hoạt động giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm của nhà trường, chỉ đạo phối hợp các lực lượng đồng bộ cùng tham gia thực hiện hoạt động thì chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống sẽ tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thiết yếu cho học sinh trong các trường trung học cơ sở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thiết yếu nhằm hình thành những kỹ năng cơ bản cho học sinh trong các trường trung học cơ sở huyện Đan Phượng,Thành Phố Hà Nội
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung
Nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thiết yếu : kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn
Trang 17đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực và kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh trung học cở sở (chủ yếu thông qua việc tổ chức các hoạt động)
6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
- Đề tài khảo sát trên các khách thể gồm: cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, bí thư đoàn thanh niên và học sinh các trường THCS huyện Đan Phượng
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống thiết yếu cho học sinh trong 3 trường Trung học cơ sở Đan Phượng, thành phố Hà Nội là: Trung học cơ sở Liên Trung, Trung học cơ sở Thượng Mỗ và Trung học cơ sở Đan Phượng
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh, thu thập, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các văn bản về chủ chương, chính sách, quy định, định hướng của Đảng, Chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội về việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; các sách báo, các bài viết của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục học,….làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra viết: Xây dựng bảng hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các trường Trung họ cơ sở huyện Đan Phượng
* Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Nhằm phân tích kết quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh để khẳng định tính hiệu
Trang 18quả của các biện pháp quản lý
* Phương pháp quan sát: Dùng để thu thập thông tin có liên quan đến thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các trường Trung học cơ sở thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trao đổi và lấy ý kiến đánh giá, nhận xét từ các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn: tiến hành trao đổi trực tiếp với học sinh, với thầy cô giáo và các nhà quản lý giáo dục trong các nhà trường
về việc triển khai và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường Trung học cơ sở huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
* Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp thống kê toán học được sử
dụng để xử lý và phân tích các kết quả nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: khảo sát và nghiên cứu thực trạng quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng sống một số trường trung học cơ sở trong huyện Đan Phượng
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở Lý luận về việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh các trường Trung học cơ sở
Chương 2 :Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh các trường trung học cơ sở huyên Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh các trường trung học cơ sở huyên Đan Phượng, Thành phố Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Trong thực tiễn có thể thấy KNS đã được truyền dạy từ đời này sang đời khác thông qua cách truyền dạy cho các thế hệ sau về cách săn bắn, cách trồng trọt, cách trốn tránh kẻ thù…Với cách truyền khẩu như vậy con người đã ngày càng tiến hóa và mở rộng vốn hiểu biết của mình và xây dựng một xã hội văn minh như ngày nay Như vậy có thể khẳng định: kỹ năng sống của con người đã được hình thành khi con người hình thành xã hội Ngày nay xã hội càng ngày càng phát triển thì kỹ năng sống cũng mở rộng phạm vi không chỉ là bản năng sống mà còn là khả năng thích ứng với xã hội
Và đến năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ KNS đã xuất hiện trong chương trình giáo dục của UNICEF với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ thông qua chương trình “giáo dục những giá trị sống” [31] Những nghiên cứu
về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS quan niệm theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội [11]
Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa nội dung GDKNS vào trong nhà trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó đã có 143 nước đưa vào chương trình chính khóa ở bậc tiểu học và bậc trung học Ở các nước phương Tây, kỹ năng sống từ lâu đã được quan tâm Mô hình giáo dục của Pháp thế kỷ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người ( hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào, trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào) và học cách sống Triết lý
Trang 20giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: cần nâng cao kỹ năng giao lưu qua nói, đọc, nghe, viết, cần phát triển khả năng suy ngẫm… Người Nhật đi vào thế
kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ và Hiệp hội ĐT và Phát triển Mỹ gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc Kết luận được đưa
ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc và Phòng thương mại và công nghiệp Úc với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc
đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Cuốn sách làm sáng tỏ hơn về các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có để thích ứng với hoàn cảnh sống
Việc giáo dục kỹ năng sống ở khu vực đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều nước Ở Lào, giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép vào chương trình đào tạo chính qui, không chính qui và các trường sư phạm đào tạo giáo viên từ năm
1997 Tại Campuchia chương trình giáo dục chính qui đã thực hiện việc tích hợp dạy kỹ năng sống vào bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12 Tại Malaysia, Bộ GD coi KNS là môn kỹ năng của cuộc sống Tháng 12 / 2003 tại Bali – Inđônesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung và cũng có nhiều điểm riêng trong quan niệm về giáo dục KNS của các nước Mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy ở hội thảo Bali là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam thuật ngữ kỹ năng sống được biết đến từ chương trình của
Trang 21UNICEF vào năm 1996 “ Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe
và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường ” Tham gia chương trình này có ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ Khái niệm kỹ năng sống được hiểu đầy đủ và đa dạng hơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do tổ chức UNESCO tài trợ được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 – 25/10/2003 Từ đó những người làm công tác giáo dục ở Việt Nam hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống và vấn đề cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ Với nhiều năm nghiên cứu về giáo dục, PGS.TS Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần Trong đó, trang bị cho học sinh sinh viên nắm vững 18 hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ
sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại Những kết quả nghiên cứu trên đã được ứng dụng vào việc xây dựng chương trình và thể hiện trong sách giáo khoa ở Tiểu học, Trung học cơ
sở, Trung học phổ thông của môn Giáo dục công dân, triển khai từ năm 2000 trên phạm vi cả nước Một trong những người có những nghiên cứu mang tính
hệ thống về kỹ năng sống và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục
và GDKNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GDKNS cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ở Việt Nam Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GDKNS trên cơ sở thực tiễn
ở Việt Nam Nội dung GDKNS được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi
có chỉ thị 40/2008 CT-BGD&ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó nội dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức giáo dục kỹ năng sống
Trang 22cho học sinh, sinh viên Mục đích hướng đến để rèn luyện cho HS, SV, kỹ năng ứng xử tốt trong mọi tình huống đặt ra, hình thành thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động trong xã hội Giáo dục cho học sinh
tự ý thức rèn luyện sức khỏe, tự bảo vệ bản thân Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, ý thức chung sống thân thiện với mọi người, giải quyết hợp lý các tình huống mâu thuẫn, xung đột xảy ra Với nhiều năm nghiên cứu về giáo dục, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn tính,
Vũ Phương Liên đã cho ra đời cuốn sách “ giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT” Cuốn sách được viết lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống và KNS, trong đó GD giao tiếp sống là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống Đây là 19 những tiền đề đưa công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông vào các nhà trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường Ngành giáo dục thành phố Hà Nội cũng đã có nhiều công văn bản chỉ đạo về việc giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong các nhà trường trung học, hàng năm đã tổ chức nhiều chuyên đề, hưởng ứng phong trào "Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực" Tuy nhiên giữa lý thuyết và thực hành vẫn còn khoảng cách khá xa đặc biệt giải pháp về quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, chưa có chương trình cụ thể
Đề tài của tác giả với mong muốn đề xuất ra các biện pháp hữu ích để nâng cao hiệu quả của việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường trung học cơ sở huyện Đan Phượng, TP Hà Nội, tạo ra
sự thống nhất nhận thức và hành động một cách hệ thống trong nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh để hội nhập với xu thế phát triển của nhà nước
Trang 231.2 Lý luận về giáo dục kỹ năng sống
1.2.1 Khái niệm k năng sống
Có nhiều quan niệm về KNS do các tổ chức quốc tế, các chuyên gia trong và ngoài nước đưa ra, trong đó có những quan điểm đáng lưu ý sau đây:
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là những KN mang tính tâm lý
xã hội và KN giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hằng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và thể giải quyết có hiệu quả những vấn đề,những tình huống của cuộc sống hàng ngày [3, tr.11] KNS còn
được xem như khả năng duy trì trạng thái khỏe mạnh về tinh thần biểu hiện qua các hành vi phù hợp khi tích cực tương tác với người khác, với những người xung quanh cũng như với nền văn hóa xã hội KNS được hình thành chủ yếu dựa trên những KN về mặt tinh thần trong đó những KN này thể hiện vai trò điều tiết cuộc sống làm cho những KN hoạt động hay những KN thể chất cũng được thực thi một cách có hiệu quả
- Theo Quĩ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF): "KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức , những giá trị và thái độ, cuối ùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống"
- Theo quan điểm của UNESCO: KNS là năng lực cá nhân để thực
hiện đầy đủ các chức năng và tham gia cuộc sống hằng ngày.[3, tr.11] Bốn
trụ cột trong GD là một cách tiếp cận KNS: KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Học để biết - Học để làm - Học để chung sống - Học để làm người Theo đó KNS được định nghĩa là những năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày
Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình
của UNICEF (1996) GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS
chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: KN tự nhận thức, KNGT, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN kiên định, KN đặt mục tiêu hướng vào các chủ đề GD
Trang 24Một số tác giả ở Viện chiến lược và chương trình GD Việt Nam lại quan niệm: KNS là những khả năng tâm lý – xã hội để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một cách tích cực, có hiệu quả
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh: KNS là những khả năng tâm lý xã
hội của mỗi cá nhân thể hiện trong hành vi thích ứng hay thích nghi tích cực
để giúp cá nhân ứng xử một cách hiệu quả trước nhu cầu, đòi hỏi và thách thức của cuộc sống hằng ngày.[17, tr.96]
Như vậy, có thể khẳng định rằng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về KNS Vì thế, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi đất nước, mỗi vùng miền, mỗi ngành trong xã hội Mỗi quan niệm lại có cách tiếp cận khác nhau, có quan niệm cho rằng KNS là mặt năng lực trong nhân cách, quan niệm khác coi KNS như một hệ thống các KN khác nhau Hầu hết các quan niệm về KNS được đề cập ở đây đều coi KNS như là khả năng tâm lí xã hội và những KN đó đều hướng tới mục đích giúp cá nhân sống an toàn, lành mạnh và phát triển toàn diện để có thể tham gia vào cuộc sống một cách tích cực nhất
Theo quan điểm riêng của cá nhân, chúng tôi cho rằng: KNS là khả
năng tâm lý – xã hội quan trọng và cần thiết được cá nhân vận dụng để giải quyết các vấn đề có hiệu quả đồng thời có những hành vi tích cực trước những thách thức trong cuộc sống hàng ngày để phát triển nhân cách toàn diện và hội nhập với thế giới
1.2.2 Giáo dục k năng sống
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại do yêu cầu của xã hội hiện đại đặt ra, có liên quan đến việc làm, sức khoẻ, đến vấn đề xung đột và bạo lực của cá nhân, của cộng đồng và xã hội
Lewis L Dunnington đã chia sẻ: Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở
Trang 25chỗ nó đem đến cho ta điều gì, mà ở chỗ ta có thái độ đối với nó ra sao, không phải điều gì xảy ra với ta,mà ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào.[3, tr.25]
Theo chúng tôi quan niệm giáo dục KNS cho học sinh được hiểu là
hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các k năng thích hợp[3,tr.32]
1.2.3 Các thành tố của giáo dục k năng sống
1.2.3.1 Mục tiêu
“Giáo dục kỹ năng sống mục tiêu là phát triển năng lực tâm lý – xã hội cho học sinh để vượt qua những thách thức của cuộc sống, đồng thời làm thay đổi những hành vi, thói quen có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội”.[4,tr56]
Trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp và tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền với gia đình, xã hội và với chính bản thân mình Giúp các em phát triển hài hòa “ Đức-Trí -Thể-Mỹ” và hội nhập với thế giới
1.2.3.2 Nội dung
Nội dung GDKNS rất phong phú, nó có thể gắn với việc giáo dục để con người có được hành động làm chủ bản thân; thích ứng trước những thay đổi của cuộc sống; giáo dục cách sống, cư xử với người khác; giáo dục lối sống lạc quan, tự tin Nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số kỹ năng sống thiết yếu cho học sinh THCS tại địa bàn huyện Đan Phượng:
* Kỹ năng giao tiếp
- Khái niệm: KNGT là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu
Trang 26hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lí bên trong của đối tượng và bản thân chủ thể GT; sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều chỉnh, điều khiển quá trình GT nhằm đạt mục đích GT
- Biểu hiện:
+ Nhận biết được cử chỉ, điệu bộ, lời nói của đối phương một cách rõ ràng, cụ thể Từ đó phần nào hiểu được tâm tư của họ và biểu lộ bằng sự đồng cảm, cảm thông, tán thành, không tán thành
+ Có thể bày tỏ sự cảm thông trước hoàn cảnh của người khác, an ủi, động viên và chia sẻ với họ, biết khích lệ họ vượt qua khó khăn
+ Có khả năng lắng nghe, quan tâm tới những điều người khác trình bày, bày tỏ, tôn trọng ý kiến của người khác
+ Có khả năng sử dụng các phương tiện GT một cách hiệu quả (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt )
+ Dễ dàng trong việc thiết lập tình bạn và chia sẻ những vấn đề quan tâm với bạn bè
+ Có khả năng thương lượng và giải quyết mâu thuẫn hay xung đột với người khác mà không gây sự xô xát, bạo lực Mặt khác, khi có sự rủ rê lôi kéo của nhóm bạn bè thì cá nhân có thể khước từ và đứng vững trước sự lôi kéo không tốt của nhóm bạn
+ Có khả năng hợp tác và làm việc theo nhóm trong học tập và các hoạt động giao lưu, hoạt động xã hội khác
Trang 27+ Đối với các em HS lứa tuổi này, KNGT có ý nghĩa rất đặc biệt, KNGT giúp các em thiết lập các mối quan hệ tình bạn, tạo sự chia sẻ, cảm thông, đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè
+ Trong KNGT còn có KNGT hiệu quả KN này giúp cho các em có thể lắng nghe và hiểu được người khác thực hiện GT của họ như thế nào
* Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
- Kỹ năng ra quyết định
Kỹ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương pháp tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc khó khăn gặp phải trong cuộc sống
Kỹ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống giúp cho con người
có được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống nếu không có kỹ năng ra quyết định, con người ta có thể có những quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ, đến công việc và tương lai của bản thân, đồng thời có thể làm ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan
Để ra được quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp những kỹ năng sống khác: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng tư duy phê phán…
Kỹ năng ra quyết định là khâu rất quan trọng của kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng giải quyết vấn đề
Kỹ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc khó khăn gặp phải Giải quyết vấn đề có liên quan tới kỹ năng ra quyết định và cần nhiều kỹ năng sống khác: giao tiếp, xác định giá trị, kiên định, tư duy phê phán…
Trang 28+ Mục tiêu có thể đặt ra trong một khoảng thời gian gần như: một ngày, một tuần – mục tiêu ngắn hạn; mục tiêu cũng có thể được đặt ra trong một khoảng thời gian xa hơn như một tháng, vài tháng – mục tiêu trung hạn; mục tieu còn có thể được đặt ra cho một giai đoạn dài hơn như một năm hoặc vài năm – mục tiêu dài hạn
- Biểu hiện:
+ Chúng ta thấy con người khác động vật ở chỗ: sống có ý thức và có mục đích Con người phải biết mình sống để làm gì, sống như thế nào, vì vậy trong cuộc đời con người luôn cần xác định cho mình những mục tiêu cần đạt được dựa trên những nhu cầu, mong muốn của bản thân phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
Là người biết quý trọng cuộc sống của mình thì phải biết đặt ra mục tiêu để thực hiện để cuộc sống trở nên ý nghĩa Những người sống không có mục tiêu, không có cái đích, điểm đến thì cuộc đời trở nên vô vị, có thể bị lệch lạc
Để thành công trong cuộc sống phải biết đặt cho mình những mục tiêu phù hợp với khả năng và điều kiện của mình, quyết tâm thực hiện chúng thì sẽ phát huy được hết những điểm mạnh của bản thân
- Ý nghĩa:
+ KN đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng thực hiện được mục tiêu của mình
Trang 29+ Đồng thời, giúp chúng ta có sự chuẩn bị sẵn sàng, định hướng tốt và biết xây dựng kế hoạch trong cuộc sống
+ Việc đặt mục tiêu còn giúp chúng ta sống có định hướng, không có quá nhiều ảo tưởng và tham vọng
Với HS nói chung và HS THCS nói riêng đang trong giai đoạn phát triển nhưng chưa hoàn thiện cần phải căn cứ vào khả năng, năng lực của các
em, hoàn cảnh từng gia đình để gợi ý các em lựa chọn và xác định cái đích cần đạt được trong học tập, trong cuộc sống.Vai trò của người GV rất quan trọng giúp HS xác định được mục tiêu phấn đấu
* Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó
Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn của mỗi người
Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái
độ tích cực, không dùng bạo lực thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên
và giải quyết quyền lợi các bên một cách hòa bình
Yêu cầu trước khi giải quyết mâu thuẫn là luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất
* Kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp
Nghề nghiệp trong tương lai là một trong những vấn đề quan trọng của cuộc đời mỗi con người Chọn nghề phù hợp với khả năng và nhu cầu của xã hội sẽ giúp con người phát huy hết khả năng của mình và thành đạt trong sự nghiệp Đó là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho con người có chất lượng cuộc
Trang 30sống Nếu không biết lựa chọn nghề phù hợp, con người có thể đi lầm đường, luẩn quẩn trong bế tắc, ảnh hưởng đến mặt khác của cuộc sống
Kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp là nhận thức được các yếu tố cần thiết, biết phân tích, đánh giá, tìm kiếm sự giúp đỡ trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân
Ngoài những KNS chung cần thiết cho tất cả mọi người như: KN làm xác định mục tiêu, KN giao tiếp, KN ra quyết định, KN kiên định…., nó còn
có các KNS gắn với những vấn đề cụ thể của cuộc sống hàng ngày như: vấn
đề vệ sinh, dinh dưỡng, phòng chống HIV/AIDS, vấn đề dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản… Đối với các đối tượng khác nhau, nội dung GDKNS là khác nhau, nó thay đổi và phụ thuộc vào đặc điểm địa lí, văn hóa, lứa tuổi…
1.2.3.3 Phương pháp
* Phương pháp thảo luận nhóm
Các thành viên trong nhóm nêu quan điểm của mình,nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp, được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tốt nhất được giao cho nhóm Qua cách học đó, kiến thức của sẽ bớt phần chủ quan, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của HS được rèn luyện và phát triển tốt hơn
Các bạn đều được chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau Vì vậy kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn
tự tin trong giao tiếp Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn, các em học được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn, dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và trong các mối quan hệ xã hội
Trang 31* Phương pháp trò chơi
Trò chơi học tập là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên chủ yếu là vui chơi giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng
và mệt mỏi Nhưng qua trò chơi học tập người chơi còn có thể được rèn luyện
về thể lực, rèn luyện về các giác quan, tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bè đồng đội trong nhóm, tổ, Trò chơi học tập là một hoạt động được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí.Thông qua trò chơi học tập học sinh có điều kiện “Học mà chơi, chơi và học”
Khi tham gia vào các trò chơi học tập học sinh sẽ được tưởng tượng và suy ngẫm, thử nghiệm các tình huống, cách lập luận để đạt kết quả cao Trò chơi học tập còn tạo được không khí vui tươi hồn nhiên, nhẹ nhàng sinh động trong giờ học Giúp cho khía cạnh khô khan của vấn đề học tập được giảm nhẹ và ghi nhớ của trẻ trở nên vững chắc hơn Giúp học sinh tiếp thu tri thức một cách tích cực và tự giác.Việc kết hợp sử dụng hình thức trò chơi trong học tập sẽ đưa lại hiệu quả cao trong dạy học Trò chơi học tập được sử dụng
sẽ có tác dụng tích cực nhằm thay đổi hình thức học tập và thông qua trò chơi học tập không khí lớp học sẽ trở nên thoải mái, dễ chịu, việc tiếp thu kiến thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn
* Phương pháp đóng vai
“Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định”[4, tr96] Đây là
phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm:
- HS được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
Trang 32- Gây hứng thú và chú ý cho HS
- Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của HS
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
* Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, dẫn dắt HS phát hiện vấn đề, hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức sâu sắc, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác: phát triển kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, phát huy óc sáng tạo Tình huống có vấn đề là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có
* Tổ chức hoạt động theo các chủ đề chuyên biệt về KNS
* Thông qua hình thức tham vấn trực tiếp đối với cá nhân hoặc nhóm
* Thông tình huống giáo dục và tình huống trong cuộc sống
Việc giáo dục KNS có nhiều hình thức như: tích hợp qua dạy học, tích hợp vào các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thông qua các chủ đề, tình huống trong
Trang 33thực tiễn Giáo dục KNS không chỉ thực hiện trong nhà trường, qua các môn học chính khóa mà còn phải được thực hiện kết hợp với nhiều cách khác như:
+ Trong sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội
+ Bằng nhiều hoạt động trải nghiệm đa dạng, phong phú như: hoạt động văn hóa, nghệ thuật; hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa; hoạt động tiếp cận khoa học-kĩ thuật; hoạt động tham quan, dã ngoại
+ Qua các hoạt động Đoàn, Đội như: Chương trình “Học làm người có ích”, Chương trình “Một ngày để sống –Sống có niềm tin”, Chương trình
“Học kì quân đội”…
1.2.3.5 Kiểm tra, đánh giá
Việc đánh giá HS qua GDKNS sẽ góp phần đánh giá chất lượng GD nói chung, đặc biệt là hạnh kiểm HS sẽ thấy được mặt mạnh, mặt yếu của bản thân để từ đó dần hoàn thiện nhân cách của mình Giúp học sinh có thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước Giúp các các em tránh xa các hành vi tiêu cực, bạo lực, lối sống ích kỉ, thực dụng, phát triển lệch lạc về nhân cách như: nghiện hút, bạo lực học đường, ăn chơi ddua đòi
Đối với giáo viên kết quả đánh giá phản ánh sự trưởng thành của học sinh và giúp GV tự đánh giá khả năng giáo dục của mình, để rèn luyện và nâng cao nghiệp vụ về GDKNS hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Đối với nhà quản lý, việc đánh giá HS qua GDKNS là kết quả để đánh giá kết quả giáo dục toàn diện Đó là cơ sở để nhà QL xây dựng mục tiêu, nội dung, phương pháp,hình thức tổ chức GD
Giáo dục kỹ năng sống không thể hình thành trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ - thay đổi hành vi Để việc đánh giá đạt được mục tiêu đề ra cần phải bám sát vào nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng cách hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình khoa học
Trang 341.3 Lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống
1.3.1 Khái niệm về quản lý giáo dục k năng sống
1.3.1.1 Quản lý
Quản lý là quá trình thực hiện để đạt đến mục tiêu của tổ chức đề ra bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management) đặc trưng cho quá trình
điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên
Theo F.W.Taylor (1856-1915), người được mệnh danh là cha đẻ của
thuyết quản lý khoa học, đã cho rằng: “ Quản lý là biết được chính xác điều
bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [13,tr.20]
Henry Fayol (1841-1925), cha đẻ của thuyết hành chính quan niệm:
“Quản lý là sự dự đoán và lập kế hoạch,tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối
cùng là kiểm tra” [13, tr20]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (Người quản lý) đến khách thể (Người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[23, tr.22]
Như vậy tuy có nhiều quan niệm quản lý khác nhau về cách diễn đạt và cách tiếp cận nhưng đều đề cập đến bản chất chung của khái niệm quản lý:
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý một tổ chức, quản lý con người
- Quản lý luôn nhằm đạt được những mục tiêu xác định của tổ chức
- Quản lý bao hàm hai yếu tố chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
- Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống, có cấu trúc vận hành trong một trường xác định
Trang 35Nói đến quản lý các nhà quản lý đều có chung quan niệm “ quản lý là một khoa học, một nghệ thuật” Là một khoa học vì QL luôn là một hoạt động
có tỏ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Nhà QL cần phải nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì quản lý mới đạt hiệu quả Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản QL là một hoạt động trong thực tiễn vô cùng phong phú và luôn biến động Không có một bài bản nào sẵn cho mọi tình huống quản lý, điều đó phụ thuộc vào năng lực, nghệ thuật giao tiếp, kỹ năng của từng nhà quản lý
Từ những nhận định trên , chúng tôi thống nhất với định nghĩa của tác giả
Bùi Minh Hiền: “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.” [13,tr.12]
1.3.1.2 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Mục đích cuối cùng cuả quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội”.[30,tr.205]
Đối với cấp vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, mục tiêu, kế hoạch, hệ thống và quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể HS, CMHS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [10,tr.11]
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.[9,tr.13]
Trang 36Ta thấy QLGD được hiểu theo cách tiếp cận nào thì nội hàm của khái niệm QLGD cũng chứa đựng những nhân tố đặc trưng sau: Chủ thể QLGD là
Bộ giáo dục và đào tạo, sở giáo dục và đào tạo, Phòng giáo dục và đào tạo, Hiệu trưởng nhà trường Nhà trường là đối tượng cuối cùng, cơ bản nhất của QLGD, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo chúng tôi là hoạt động của cán bộ quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, đoàn viên thanh niên và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực
xã hội để nâng cao các hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường Đó chính là hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động giáo dục kỹ năng sống nhằm thực hiện các các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình giáo dục và dạy KNS cho học sinh
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục k năng sống
1.3.2.1 Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng sống
Mục tiêu của quản lý hoạt động Giáo dục KNS ở trường THCS là nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tổ chức hoạt động giáo dục KNS, nhằm giúp HS có những hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại
Để quản lý tốt việc xây mục tiêu hoạt động giáo dục KNS nhà quản lý cần:
- Chỉ đạo xây dựng mục tiêu giáo dục KNS thiết yếu theo chủ đề năm học và cụ thể hóa từng tuần, tháng
- Quản lý việc xây dựng mục tiêu giáo dục KNS do GVCN đề ra và triển khai đến lớp
- Chỉ đạo xây dựng mục tiêu phù hợp với lứa tuổi học sinh
- Quản lý việc xây dựng mục tiêu để phối kết hợp các lực lượng giáo dục tham gia giáo dục KNS
Trang 37- Chỉ đạo việc xây dựng mục tiêu để kiểm tra đánh giá, khen thưởng đối với tập thể, cá nhân
Quản lý xây dựng mục tiêu cần phải chỉ đạo việc lựa chọn các hoạt động phù hợp để tích hợp nội dung giáo dục KNS cho HS Đồng thời phải có
kế hoạch hoạt động cho toàn trường, cho từng khối lớp, tiến tới ổn định thành
nề nếp Lựa chọn những KNS sẽ giáo dục cho học sinh phù hợp với từng độ tuổi Cần kết hợp khéo léo giữa hình thức và nội dung giáo dục KNS sao cho không bị chồng chéo gây nhàm chán và quá tải đối với học sinh
1.3.2.2 Quản lý triển khai nội dung giáo dục kỹ năng sống
Quản lý việc triển khai nội dung giáo dục KNS Hiệu trưởng cần thực hiện những công việc sau:
- Yêu cầu GVCN, CB Đoàn,GV dạy KNS nộp báo cáo về nội dung thực hiện giáo dục KNS
- Kiểm tra hồ sơ giáo án của GV và những người được phân công chuyên đề giáo dục KNS
- Dự giờ, thăm lớp nắm được nội dung giáo viên rèn luyện KNS cho học sinh
- Làm việc với các lực lượng giáo dục trong nhà trường
- Kiểm tra đánh giá sau mỗi hoạt động giáo dục KNS
Nội dung giáo dục KNS cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các KNS cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương GV có thể lựa chọn thêm một
số KNS khác để giáo dục cho HS của trường, lớp mình cho phù hợp
1.3.2.3 Quản lý việc sử dụng các phương pháp trong giáo dục kỹ năng sống
Chương trình hoạt động giáo dục KNS cần chú ý tới việc triển khai đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động Hoạt động giáo dục KNS là hoạt động của người học, để hình thành và rèn luyện KNS, người học nhất thiết phải qua
Trang 38các hoạt động trải nghiệm Để sử dụng các phương pháp hiệu quả trong GDKNS nhà quản lý cần:
Tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thông qua các chương trình hợp tác quốc tế
Tổ chức các cuộc tọa đàm trao đổi kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục KNS thông qua tích hợp vào các môn học
Tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ về tổ chức giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL
Viết sáng kiến kinh nghiệm về các phương pháp giáo dục KNS thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
Tham quan học tập kinh nghiệm tổ chức tại các công ty chuyên về đào tạo KNS, trường đã làm tốt công tác giáo dục KNS
Việc quản lý đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động phải đạt được mục tiêu là tạo ra sự hứng thú và phát huy được tính tích cực, chủ động của HS, để HS thực sự là chủ thể của hoạt động này
1.3.2.4 Quản lý việc sử dụng các hình thức trong giáo dục kỹ năng sống
Chỉ đạo việc giáo dục KNS thông qua việc tích hợp vào các môn học thông qua các hình thức tổ chức hoạt động dạy – học theo hướng tăng cường hoạt động học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Quản lý tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường, tập trung vào việc giáo dục những KNS cơ bản, qua đó hình thành cho học sinh các giá trị sống, KNS tích cực
Chỉ đạo tổ chức hoạt động theo các chủ đề chuyên biệt về KNS
Khuyến khích việc giáo dục KNS thông qua hình thức tham vấn trực tiếp đối với cá nhân hoặc nhóm và thông qua tình huống giáo dục và tình huống trong cuộc sống
Để giáo dục KNS hiệu quả và phát triển nhân cách cho học sinh nhà
Trang 39quản lý cần phải chỉ đạo thực hiện giáo dục KNS kết hợp nhiều hình thức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, xã hội
1.3.2.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng sống
Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá phải được định hướng theo hai cách: kiểm tra từ trên xuống và tự kiểm tra đánh giá của các tổ chức tự quản của HS như tập thể lớp, chi đội, liên đội
Về cách thức tiến hành:
- Xác định được cách kiểm tra Có thể kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện KNS thông qua kết quả của các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, thông qua việc tự kiểm tra của các lớp, các chi đội có sự chỉ đạo giúp đỡ, cố vấn của GVCN đối với tập thể, cá nhân
- Xây dựng cách thức quản lý:
+ Quản lý công tác tự đánh giá hoạt động giáo dục KNS
+ Kiểm tra thường xuyên, đột xuất các hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL
+ Kiểm tra thông qua hồ sơ giáo án, kế hoạch của GV
+ Quản lý việc tuyên dương, khen thưởng và phê bình các cá nhân, tập thể trong tháng, học kỳ
+ Quản lý bổ sung cải tiến phương pháp kiểm tra đánh giá
Việc đánh giá kết quả rèn luyện KNS của HS cũng có thể được tiến hành thông qua kiểm tra sản phẩm hoạt động, qua thăm dò dư luận, trưng cầu
ý kiến tập thể
Đồng thời cần có sự tổng kết, đánh giá, khen thưởng theo nhiều mức độ khác nhau và rút ra bài học kinh nghiệm
1.4 Đặc điểm tâm lí học sinh Trung học cơ sở
Trong thực tế lứa tuổi HS THCS là một giai đoạn phát triển đầy phức tạp
và biến động khó dạy bảo nhất Ở tuổi này sự phát triển nhanh về tâm, sinh lý dẫn đến có sự không tương xứng với tốc độ phát triển về mặt xã hội
Trang 401.4.1 Đặc điểm sinh lý
Lứa tuổi HS THCS diễn ra những thay đổi lớn về sinh lý Các em tăng chiều cao, trọng lượng và sức khỏe, phát triển những đặc trưng tính dục và vóc dáng Sự thay đổi này có sự khác biệt giữa em nam và em nữ, đem đến cho các em sự bối rối, ngượng ngùng và đôi khi là thiếu tự tin với hình dáng bên ngoài cũng như sự thay đổi đó của mình
Cơ thể các em phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều Sự phát triển của hệ xương, mà chủ yếu là sự phát triển của xương tay, xương chân rất nhanh Thể tích của tim tăng nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng các mạch máu lại phát triển chậm Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, thường dẫn đến sự rối loạn của hệ thần kinh Vì thế, các em thường dễ xúc động, dễ bực tức, nổi khùng, đôi khi có những phản ứng khá gay gắt, mạnh
mẽ, không kiềm chế được bản thân Khả năng chịu đựng những kích thích mạnh bị hạn chế gây cho các em tình trạng bị ức chế, bị kích động mạnh
Hiện tượng dậy thì ở lứa tuổi HS THCS đánh dấu một quá trình thay đổi sâu sắc vì đôi khi tạo ra những khủng hoảng, lo lắng của các em trước những thay đổi mới mẻ trong bản thân mình
1.4.2 Đặc điểm tâm lý – xã hội
Lứa tuổi HS THCS là lứa tuổi chuyển tiếp từ lứa tuổi tiểu học lên THPT, các em không còn là trẻ con nhưng cũng chưa hẳn là người lớn Quá trình cá thể hóa trong giai đoạn này bao gồm sự phát triển tính độc lập các mối quan hệ gia đình, sự suy yếu các mối quan hệ ràng buộc mà trước đây là rất quan trọng đối với các em Vị thế của các em được thay đổi trong gia đình khi mà người lớn lắng nghe ý kiến và giao trọng trách, hỏi ý kiến các em trong những vấn đề quan trọng Điều này ảnh hưởng tới một số KNS cơ bản như: KNGT, KN ra quyết định, KN tự nhận thức…
Một điểm chú ý nữa ở lứa tuổi này là nhu cầu tự ý thức và tự khẳng định Các em bắt đầu quan tâm tới bản thân, đến phẩm chất nhân cách của