1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý công: Quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Trà Bồng - Tỉnh Quảng Ngãi

137 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu lý luận thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số từ thực tiễn của huyện Trà Bồng, để đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số huyện Trà Bồng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VÕ THỊ MAI VỸ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TRÀ BỒNG,

TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

VÕ THỊ MAI VỸ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TRÀ BỒNG,

TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHẠM ĐỨC CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của cá nhân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, những

tư liệu trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng

Thừa Thiên Huế, ngày tháng năm 2019 Học viên

Võ Thị Mai Vỹ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được giúp đỡ quý báu và sự động viên tận tình của cô giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo, cơ quan làm việc, anh chị em đồng nghiệp và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn PGS.TS Phạm Đức Chính đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan ban, ngành, hội đoàn thể huyện

đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng kết quả nghiên cứu luận văn không thể không tránh khỏi những hạn chế, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô, đồng nghiệp để công trình hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Học viên

Võ Thị Mai Vỹ

Trang 5

MỤC LỤC Trang bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục viết tắt

Danh mục các bảng biểu

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN TRÀ BỒNG 8 1.1 Một số khái niệm 8

1.1.1 Khái niệm về người dân tộc thiếu số 8

1.1.2 Khái niệm về việc làm 9

1.1.3 Khái niệm giải quyết việc làm 11

1.2 Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số 12

1.2.1 Đặc điểm người dân tộc thiểu số 12

1.2.2 Đặc điểm việc làm của người dân tộc thiểu số 13

1.2.3 Đặc điểm về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số 15

1.2.4 Vai trò giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số 17

1.2.5 Ý nghĩa giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số 19

1.3 Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số 21

1.3.1 Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm 21

1.3.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc tiểu số 22

1.3.3 Nội dung quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số 24

Trang 6

1.4 Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về về giải quyết việc làm cho

người dân tộc thiểu số 35

1.4.1 Các nhân tố tự nhiên 35

1.4.2 Nhân tố về kinh tế - xã hội 36

1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số 41

1.5.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 41

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Trà Bồng 43

Tiểu kết Chương 1 45

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRÀ BỒNG 46

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội 46

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên 46

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế 48

2.1.3 Đặc điểm văn hóa, xã hội 51

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc tiểu số ở huyện Trà Bồng 53

2.2.1 Thực trạng về lao động, việc làm của người dân tộc tiểu số 53

2.2.2 Thực trạng Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số giai đoạn 2014 - 2018 60

2.3 Đánh giá chung 87

2.3.1 Những kết quả đạt được 87

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 90

Tiểu kết Chương 2 98

Trang 7

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN

ĐỊA BÀN HUYỆN TRÀ BỒNG 99

3.1 Quan điểm, mục tiêu và phương hướng giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Trà Bồng 99

3.1.1 Quan điểm về giải quyết việc làm của huyện Trà Bồng 99

3.1.2 Mục tiêu về giải quyết việc làm 100

3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm đối với người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Trà Bồng - tỉnh Quảng Ngãi 102 3.2.1 Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giải quyết việc làm 102

3.2.2 Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về giải quyết việc làm 105

3.2.3 Nâng cao năng lực đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm……….……… 107

3.2.4 Huy động và tổ chức thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước các nguồn vốn cho giải quyết việc làm 109

3.2.5 Đề xuất và đa dạng hóa về tạo việc làm và giải quyết việc làm 112

3.2.6 Tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng vào sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội về giải quyết việc làm 116

3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý về giải quyết việc làm 118

3.3 Một số kiến nghị 120

3.3.1 Kiến nghị đối với Trung ương 120

3.3.2 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi 120

3.3.3 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân huyện Trà Bồng 121

Tiểu kết chương 3 123

KẾT LUẬN 124 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DÂNH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Diện tích, dân số huyện Trà Bồng năm 2018 46

Bảng 2.2 Dân số chia theo dân tộc năm 2018 47

Bảng 2.3 Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn của một số ngành chủ yếu 48

Bảng 2.4 Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Trà Bồng 50

Bảng 2.5: Thống kê tỷ lệ lao động dân tộc tiểu số trong cơ cấu lao động toàn huyện giai đoạn 2014-2018 53

Bảng 2.6: Thống kê tỷ lệ lao động dân tộc tiểu số tham gia vào các thành phần kinh tế giai đoạn 2014-2018 56

Bảng 2.7 Bố trí việc làm cho sinh viên cử tuyển 59

Bảng: 2.8 Số cán bộ công chức làm công tác LĐ TB&XH 62

của huyện và các xã 62

Bảng: 2.9 Trình độ của cán bộ công chức cấp xã trên địa bàn huyện 63

Bảng: 2.10 Sản lượng, năng suất đạt được về gia súc, gia cầm, thủy sản và cây nông, lâm nghiệp 69

Bảng 2.11 Chỉ tiêu xuất khẩu lao động qua các năm 72

Bảng: 2.12 Thực hiện chỉ tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Nghị quyết Đại hội Đảng huyện Trà Bồng nhiệm kỳ 2015 - 2020 77

Bảng 2.13 Thống kê kết quả cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng CSXH huyện Trà Bồng giai đoạn 2014 -2018 86

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động là một trong những vấn đề quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội (KT- XH) của mỗi quốc gia Thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở nước ta trong những năm trở lại đây luôn là chủ

đề nóng và được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm sâu sắc Điều này được thể hiện thông qua các văn kiện của Đại hội Đảng qua các thời kỳ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định "Giải quyết tốt lao động, việc làm

và thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội” [1, tr 18]

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động

ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Huyện Trà Bồng là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi có địa hình rất phức tạp, địa thế núi cao, đất dốc hiểm trở, có nhiều sông suối chằng chịt, có núi rừng trùng điệp Lao động người DTTS chiếm tỷ trọng gần 65% dân số toàn huyện Đa số người DTTS tại đây sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm nghiệp Cùng với xu thế đô thị hóa làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp đã khiến cho thời gian nông nhàn của người lao động tăng cao Lao động người DTTS bị đẩy vào thị trường lao động khi chưa trang bị đầy đủ những yêu cầu cần thiết

để đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động hiện nay Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao

Trang 12

2

động người DTTS nói riêng vẫn còn một số hạn chế nhất định Việc triển khai các văn bản hướng dẫn liên quan đến công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động và các văn bản pháp luật liên quan đến việc làm cho lao động chưa được thực hiện đầy đủ Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người DTTS chưa thực sự phù hợp với thực tiễn tại địa phương, coi trọng về số lượng hơn chất lượng đào tạo Nhiều người DTTS được đào tạo nghề nhưng không tìm được việc làm Tỷ lệ lao động là người DTTS thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng gia tăng, kéo theo các hệ lụy về các tệ nạn

xã hội

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý Nhà nước

về giải quyết việc làm đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Trà Bồng - Tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài nghiên cứu khoa học, hy vọng góp phần tìm ra giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người DTTS nói riêng là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Vấn đề này được đề cập rất nhiều trong các văn kiện của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước và các Nghị định của Chính phủ Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề này Cụ thể như sau:

- Nguyễn Hoàng Hiệp (2013), “Quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Long An Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện hành chính Quốc gia Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo việc làm và công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho thanh niên nông thôn trong tỉnh Trên cơ sở lý luận trong chương 1, tác giả đã đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên

Trang 13

địa bàn tỉnh Long An Trên cơ sở những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của vấn đề nghiên cứu Tác giả xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Long An Song các giải pháp còn mang tính định hướng, chưa thực hiện việc dự báo nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương trong thời gian đến, chưa thực hiện việc điều tra khảo sát để đánh giá trình độ, tay nghề của thanh niên để có các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong điều kiện mới

- Ngô Thị Hồng Nhung (2010), “Nhìn lại một năm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ”.Tác giả đã đưa ra đánh giá tổng quan sau một năm thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề giải quyết việc làm cho nông thôn Bài viết đưa ra những kết quả đã đạt được, đồng thời cũng phản ánh những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện

Đề án Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị để nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện đề án, tổ chức đào tạo nghề hiệu quả, hợp lý góp phần tạo công ăn việc làm cho nông dân

- Trần Văn Tùng (2014) “Nghiên cứu giải pháp giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn” Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế của Học viện Nông nghiệp Việt Nam Luận văn đã trình bày khái quát những lý luận liên quan đến công tác giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số, trên cơ sở lý luận đã trình bày, tác giả tiến hành chọn mẫu điều tra nghiên cứu bằng phương pháp định lượng, phân tích công tác giải quyết việc làm cho lao động người DTTS tỉnh Lạng Sơn Căn cứ vào những vấn để tồn tại trong công tác giải quyết việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số tỉnh Lạng Sơn Tác giả xây dựng các giải pháp khá hợp

lý và cụ thể, góp phần nâng cao công tác giải quyết việc làm cho lao động là người đồng báo dân tộc thiểu số khá khoa học.Tác giả chưa kiến nghị các cấp

Trang 14

4

các ngành có liên quan trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung và lao động người dân tộc thiểu số nói riêng

- “ Giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Châu Trâm Trong luận văn này, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề liên quan đến việc làm, thất nghiệp và tình hình giải quyết việc làm trên địa bàn thị xã Điện bàn, tỉnh Quảng Nam, đồng thời tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp thiết thực

để góp phần giải quyết việc làm cho người lao động (2017)

- “ Việc làm cho đồng bào dân tộc ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam” Luận văn thạc sĩ của Võ Thị Thanh Tuyền Kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả đã làm rõ một số nội dung về việc làm của người dân tộc thiểu số ở nông thôn và đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở một số địa phương và rút ra kinh nghiệm cho huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam (2012)

- “ Giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắc Lắc” Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Việt Anh Trong bài viết này đã khái quát những vấn đề cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số ở Đắc Lắc (2011)

- “ Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên” Làm rõ những ưu điểm, hạn chế vấn đề quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên trong thời gian qua

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả nhận thấy cơ bản các đề tài nêu trên chỉ tập trung vào công tác giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người dân tộc thiểu số nói riêng Chưa có công trình

Trang 15

nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước về việc làm cho người cho lao động người DTTS một cách cụ thể

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận QLNN về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số

- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Trà Bồng

- Trên cơ sở, mục đích và phương hướng của huyện Trà Bồng

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị thực hiện giải pháp để hoàn thiện hoạt động QLNN về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Trà Bồng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 16

+ Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:

- Phương pháp thống kê: để thu thập và xử lý dữ liệu, phục vụ nghiên cứu định lượng và để tóm tắt thông tin, hỗ trợ cho việc tìm hiểu rõ vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để tìm hiểu, xem xét những nghiên cứu trước đây về nội dung đề tài Qua đó, rút ra những nội dung cần bổ sung, làm sáng tỏ mà nghiên cứu trước chưa đề cập

- Phương pháp so sánh: để tìm ra điểm giống và khác nhau của những vấn đề cần nghiên cứu, giúp việc phân tích, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, khoa học và chính xác hơn

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của cả nước và của các địa phương, từ đó phân tích, vận dụng hoàn thiện vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

+ Về lý luận:

Luận văn làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giải quyết việc làm nói chung và giải quyết việc làm cho người DTTS trên địa bàn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 17

+ Về thực tiễn:

Luận văn mang ý nghĩa tham khảo đối với công tác quản lý nhà nước các cấp, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các doanh nghiệp, hộ gia đình về giải quyết việc làm cho người DTTS, góp phần nâng cao hình ảnh của người DTTS

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 03 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giải quyết việc làm đối với người DTTS huyện Trà Bồng;

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm đối với người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 18

1.1.1 Khái niệm về người dân tộc thiếu số

Trong tác phẩm "Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc", J.V Stalin định nghĩa "Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa"

Theo nghĩa rộng, khái niệm Dân tộc được hiểu đó là một quốc gia dân tộc, là một cộng đồng chính trị- xã hội, bao gồm tất cả các dân tộc (cả dân tộc

đa số và dân tộc thiểu số) sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia thống nhất

Theo nghĩa hẹp, khái niệm Dân tộc lại đồng nghĩa với cộng đồng tộc người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu số của một dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ quốc gia hoặc ở nhiều quốc gia khác nhau nhưng được liên kết với nhau bằng ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người [3, tr 39]

Cho đến thời điểm hiện nay, xét trên bình diện quốc tế, mặc dù quyền của người DTTS đã được khẳng định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (ICCPR - Điều 27) và Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm

1992, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa nào về "dân tộc thiểu số" (Trên thực tế, một số văn kiện về QCN của châu Âu, cụ thể như Công ước Châu Âu

về bảo vệ người thiểu số (Điều 2) hay Văn kiện Cô-pen-ha-gen, chỉ có hiệu lực trong phạm vi khu vực)

Trang 19

Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa

ra khái niệm tại khoản 2 điều 4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; khoản 3 - Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia"

Từ những phân tích có thể hiểu khái niệm người dân tộc thiểu số là người thuộc dân tộc có số dân ít hơn với dân tộc đa số trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có những đặc điểm riêng về chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán 1.1.2 Khái niệm về việc làm

Trong tác phẩm nổi tiếng Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [14, tr.112] Điều đó có nghĩa nhân tố có tính chất quyết định trong lịch sử, xét đến cùng là việc sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Ở đây, lao động được xem xét ở khía cạnh thứ nhất – lao động để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt

Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật” [16] Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động (ILO.1993) và được áp dụng ở nhiều nước Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc

Trang 20

10

ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có một số công ước quan trọng như: công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)…

Theo điều 9, Chương II Bộ luật lao động năm 2012 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm, Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm” [17, tr 39]

Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau: Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật cho công việc đó

Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng hiện vật

Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện:

Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động

và các thành viên trong gia đình

Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm

Hai điều kiện trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là việc làm, quan niệm đó đã góp phần mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ Luật lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm

Trang 21

Như vậy, có thể kết luận rằng: Việc làm là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm

1.1.3 Khái niệm giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội

Như vậy, giải quyết việc làm là nhằm khai khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả Chính vì vậy, giải quyết việc làm phù hợp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó, có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước

Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư, tiến bộ khoa học - kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó

Thứ hai, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động

và sự di chuyển của lao động, chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Thứ ba, thực hiện các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao, các giải pháp về quản lý thị trường, kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm

Chỉ khi nào trên thị trường người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành Giải quyết

Trang 22

12

việc làm cần phải được xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của nhà nước

Vì vậy “giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh

tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm” 1.2 Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số

1.2.1 Đặc điểm người dân tộc thiểu số

Người DTTS có truyền thống đoàn kết; có nền văn hóa cực kỳ đặc sắc

và hấp dẫn; nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghèo của người dân tộc thiểu số còn hạn chế, một số có tính tự ti mặc cảm, một số khác còn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước; tập quán sản xuất mang tính tự cung tự cấp, phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên; đông con

Người DTTS chủ yếu sống ở vùng nông thôn, lao động có tính thời vụ,

có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi Điều này do lao động người dân tộc thiểu số sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng tôi đưa ra một

số đặc điểm ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp

- Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thôi quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của lao động người DTTS

- Lao động người DTTS ở nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm

lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động

- Lao động người DTTS có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi

Trang 23

nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động

- Thu nhập của người DTTS còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh

tế - xã hội đặc biệt khó khăn

- Trình độ lao động của người DTTS thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém, đa số người DTTS sống bằng nghề nông nghiệp, làm thuê, làm mướn,thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn

so với lao động trong các ngành kinh tế khác

- Đa số người DTTS về ý thức học tập còn kém; lười biếng học tập, không có ý thức vươn lên; khả năng tiếp thu chậm; chưa hình thành thái độ, tư tưởng học tập đúng đắn; trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương và tinh thần hợp tác trong sản xuất chưa tốt, khả năng tư duy chủ động, sáng tạo trong công việc chưa cao

1.2.2 Đặc điểm việc làm của người dân tộc thiểu số

Thứ nhất, việc làm của lao động dân tộc thiểu số chủ yếu là việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp Lao động dân tộc thiểu số chậm thích nghi hơn với việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp so với lao động người Kinh Những việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp của lao động dân tộc thiểu số cũng chủ yếu là trên những ngành nghề truyền thống và du lịch trên cơ sở khai thác bản sác văn hóa dân tộc Người lao động dân tộc thiểu số thường làm việc trong những ngành nông, lâm nghiệp, những loại việc làm có thể khai thác tài nguyên tự nhiên chính nơi họ sinh sống Việc làm của họ phần nhiều phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và sức lao động của chính mình Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu việc làm của người lao động dân tộc thiểu số càng mang tính thủ công, nặng nhọc và có thu nhập thấp và

ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu việc làm hữu hình

Trang 24

14

Thứ hai, việc làm của lao động người dân tộc thiểu số mang tính cộng đồng cao Đồng bào các dân tộc thiểu số có đặc điểm là tính cộng đồng của họ rất cao, họ luôn tôn trọng già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, tôn trọng cán

bộ cuộc sống luôn dựa vào cộng đồng Tính cộng đồng của đồng bào các dân tộc thiểu số được thể hiện không chỉ ở trong các hoạt động văn hóa hay sinh hoạt hàng ngày mà còn ở cả trong các hoạt động sản xuất Con người trong cộng đồng các dân tộc thiểu số cùng gắn bó với nhau trong các quyền lợi về

sở hữu tư liệu sản xuất và phân phối sản phẩm Việc quyết định sản xuất như thế nào, chọn những hình thức việc làm nào để tạo thu nhập của người lao động dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng nhiều từ tính cố kết cộng đồng Một hộ gia đình người Kinh có thể dễ dàng khi quyết định lựa chọn một ngành nghề mới chưa phổ biến ở xóm làng, địa phương mình Tuy nhiên, đối với một hộ gia đình người dân tộc thiểu số thì việc lựa chọn ngành nghề cho gia đình mình thường chịu sự ảnh hưởng rất lớn từ cộng đồng buôn, bản Việc quản lý

tư liệu sản xuất để tạo việc làm (đặc biệt là đất, rừng) thường được thực hiện trên cơ sở cộng đồng buôn, bản

Thứ ba, việc làm của đồng bào dân tộc thiếu số có đặc điểm chủ yếu là làm theo kinh nghiệm Đối với đa số lao động dân tộc thiểu số, khi thực hiện quá trình sản xuất họ thường chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Trình độ sản xuất nông nghiệp còn rất thấp, tập quán canh tác chính vẫn là phát đốt cốt trỉa Khi thực hiện quá trình sản xuất, đồng bào dân tộc thiểu số thường căn cứ vào kinh nghiệm quan sát bầu trời, cây cỏ để dự báo thời tiết, trong chọn giống cây trồng, vật nuôi (qua các đặc điểm về hình dáng và màu sắc), trong chăm sóc bảo vệ và chữa bệnh cho cây, con và các kinh nghiệm trong luân canh, xen canh, Sự tiếp cận của người dân với các phương thức sản xuất mới và các tiến bộ kỹ thuật còn rất ít Do trình độ học vấn thấp, tỷ lệ mù chữ và tái

Trang 25

mù cao, thiếu kiến thức về các kỹ thuật mới, chỉ quen làm ăn theo kinh nghiệm là chính, sẽ gặp khó khăn khi tiếp nhận các hoạt động sinh kế mới Thứ tư, việc làm của lao động dân tộc thiểu số mang tính chất tự cung

tự cấp cao Lối canh tác của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu dựa vào tự nhiên (trồng trọt không bón phân, tưới nước, chăn nuôi không cần chuồng trại, ).Trong quá trình sản xuất cũng như tìm kiếm, tạo việc làm, đồng bào dân tộc thiểu số thường thể hiện tính bảo thủ, bình quân, tự cung tự cấp, khép kín Tính thụ động và thực dụng chỉ quen sống dựa vào tự nhiên để khai thác, chậm thích nghi với sự biến đổi của thị trường Vấn đề tạo những việc làm mới cho lao động dân tộc thiểu số thường phải có sự tham gia hỗ trợ của các cấp chính quyền, các đơn vị kinh tế quốc phòng Bản thân người lao động dân tộc thiểu số thường thụ động trong việc tìm kiếm, phát triển những hình thức việc làm

1.2.3 Đặc điểm về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số Những đặc điểm về việc làm của đồng bào dân tộc thiểu số đã như đã nêu ở trên đòi hỏi giải quyết việc làm cho họ cũng phải có những đặc thù riêng, Theo tác giả, đặc điểm giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số thể hiện ở chỗ:

Một là, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số phải gắn liền với việc giải quyết vấn đề đất sản xuất, đất rừng, hỗ trợ cây, con giống Như chúng ta đã phân tích ở trên, việc làm của người dân tộc thiểu số chủ yếu là việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp Vì thế đất, rừng là những tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng đối với vấn đề giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số Thực tế những năm qua cho thấy trong hầu hết những chương trình liên quan đến vấn đề việc làm, phát triển kinh tế cho người dân tộc thiểu số thường gắn với vấn đề giao đất, giao rừng và hỗ trợ cây, con giống cho đồng bào (chương trình 134, 135, 30a) Bên cạnh đó, cùng với những chính sách

Trang 26

16

quan tâm phát triển nông nghiệp, để tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao năng suất lao động cho lao động dân tộc thiểu số phải thúc đẩy phát triển các ngành nghề truyền thống Do lao động người dân tộc thiểu số thường chậm thích nghi với việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp nên muốn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động trong vùng dân tộc thiểu số phải dựa vào những yếu tố văn hóa, tập quán canh tác của đồng bào Thúc đẩy tăng việc làm phi nông nghiệp cho lao động dân tộc thiểu số bằng cách phát triển các ngành nghề truyền thống gắn với việc khôi phục, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phục vụ cho hoạt động du lịch, dịch vụ như dệt thổ cẩm, hàng thủ công

mỹ nghệ, chế tác nhạc cụ…

Hai là, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số phải dựa vào tính cộng đồng.Việc làm của người dân tộc thiểu số mang tính cộng đồng rất cao nên việc giải quyết việc làm cho đồng bào phải biết khơi dậy tính cộng đồng Tính cộng đồng trong giải quyết việc làm thể hiện ở chỗ: đề cao vai trò của cộng đồng, dựa vào cộng đồng để thực hiện các chính sách, chương trình giải quyết việc làm và giải quyết việc làm phải hướng đến đảm bảo lợi ích cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số

Ba là, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số phải theo cách

“Cầm tay chỉ việc”.“Cầm tay chỉ việc” là một đặc trưng cơ bản trong giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số Đồng bào dân tộc thiểu

số thường làm theo kinh nghiệm, tập quán người đồng bào dân tộc thường ngại những cái mới Vì thế để giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số phải tận dụng triệt để “mô hình trình diễn”, làm mẫu với những phương pháp

cụ thể, trực quan Nông hộ đồng bào dân tộc chỉ làm theo khi họ thấy được kết quả, và có lợi ích kinh tế cụ thể Thông qua việc thiết lập mô hình trình diễn và các bước tổ chức thực hiện tiếp theo mang tính đồng bộ và có sự đồng thuận của địa phương là cơ sở để các nông hộ dân tộc thiểu số nhận thức và

Trang 27

cùng nhau tổ chức nhân rộng các mô hình sản xuất mới Trong quá trình giải quyết việc làm, phát triển sản xuất cho người lao động dân tộc thiểu số thường cần sự kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm địa phương và kiến thức khoa học mới

Bốn là, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số phải tập trung tạo điều kiện cho họ nuôi, trồng giống, cây con phù hợp với điều kiện sinh sống của họ Do đặc thù sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số thường hay

du canh, du cư, nuôi, trồng, canh tác đủ để nuôi sống sống bản thân và gia đình họ, tự cung tự cấp là chính Điều kiện sinh sống khó khăn, do đó trình độ của họ còn thấp kém, việc tiếp thu khoa học công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, nên tính bảo thủ, bình quân, tự cung tự cấp, khép kín chỉ quen sống dựa vào tự nhiên để khai thác còn phổ biến Việc xác định được những cây con có thế mạnh phù hợp với điều kiện sinh sống của họ sẽ giúp người dân tộc thiểu số thuận lợi hơn trong sản xuất, bởi họ thường thụ động hơn so với người Kinh và dễ trở lại với lối canh tác nương rẫy truyền thống, lạc hậu khi gặp những khó khăn về thị trường, giá cả, bệnh tật Vì vậy, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số phải quan tâm tới việc tạo điều kiện cho họ tiếp cận với việc nuôi trồng giống cây con phù hợp với điều kiện sinh sống của họ mới đáp ứng được nhu cầu của bản thân và gia đình họ cũng như của cộng đồng dân tộc thiểu số

1.2.4 Vai trò giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số

Giải quyết việc làm là vấn đề rất quan trọng của đời sống kinh tế, xã hội, pháp luật Hiện nay, việc làm và giải quyết việc làm luôn được các quốc gia đặc biệt quan tâm, không chỉ trên phạm vi một nước mà còn có sự liên kết giữa các quốc gia để giải quyết những vấn đề liên quan Giải quyết việc làm

có vai trò góp phần ổn định và phát riển kinh tế Đối với nước ta trong quá trình CNH, HĐH thì tạo thêm việc làm cho người lao động, kiềm chế thất

Trang 28

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao động diễn ra Thực vậy, tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cần thiết của con người và xã hội, nếu như không có sự kết hợp của sức lao động Sức lao động của con người luôn đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất ở mọi thời đại Nhân tố con người vừa là chủ thể vừa là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng ta coi việc phát huy nhân tố con người như là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Đây chính là nguồn tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi dào cần được chăm sóc để phát triển Đầu tư vào con người và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững Tuy nhiên, người lao động chỉ có thể phát huy được vai trò chủ thể của mình trong quá trình sản xuất khi họ có việc làm Việc làm đối với người lao động

là nhu cầu để tồn tại và phát triển Vì vậy, giải quyết việc làm cho người lao động nói chung luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với mọi quốc gia, mọi cấp chính quyền.Với tư cách là một bộ phận cấu thành nên lực lượng lao động

xã hội, lực lượng lao động người dân tộc thiểu số cũng có đầy đủ vai trò, tính chất của lực lượng lao động nôi chung Vì thế giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội nôi chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng

Trang 29

1.2.5 Ý nghĩa giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số

- Về mặt kinh tế

QLNN về giải quyết việc làm cho người DTTS là giải pháp có tính chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội đối với một quốc gia Giải quyết tốt vấn đề việc làm là một trong những nhân tố đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, có mức tăng trưởng cao, góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động

QLNN về giải quyết việc làm cho người DTTS chính là giải quyết đầu vào cho quá trình sản xuất sức lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số Tạo việc làm cho người lao động, giúp họ tham gia vào quá trình sản xuất là yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế nói chung và vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Đối với bất kỳ một nền kinh tế nào giải quyết tốt vấn đề việc làm cho người lao động đều là cơ sở để có nền kinh tế phát triển nhanh chóng, ngay cả khi nền kinh tế

đó có nhiều điều kiện tự nhiên không thuận lợi, ít tài nguyên, thậm chí hay bị thiên tai đe dọa

Có thể nói rằng nguồn gốc của sự tăng trưởng kinh tế chính là từ lao động của con người Chính phần lao động thặng dư của người lao động là nguồn gốc của tích lũy để mở rộng sản xuất, tạo nên sự tăng trưởng Người lao động chỉ có thể tham gia vào quá trình lao động khi có việc làm Khi người lao động có việc làm đầy đủ thì không chỉ nguồn lực con người được

sử dụng mà tất cả các nguồn lực khác đều được sử dụng có hiệu quả Giải quyết việc làm cho người lao động dân tộc thiểu số chính là cơ sở để phát huy

có hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế Hiệu quả của hệ thống chính sách liên quan đến vấn đề tạo việc làm cho đồng bào dân tộc được thực hiện đã làm cho vùng dân tộc và miền núi có nhiều đổi thay trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thu nhập của đồng bào ở khu vực dân tộc và

Trang 30

20

miền núi cùng với việc được tiếp cận các dịch vụ ngày càng tốt hơn, đặc biệt

là các dịch vụ về tín dụng, khuyến nông - lâm - ngư, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Việc thụ hưởng các dịch vụ xã hội về giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe, nước sạch và nhà ở ngày càng tăng lên.chỉ được sử dụng hiệu quả khi giải quyết việc làm đầy đủ cho người lao động

- Về mặt xã hội

Giải quyết việc làm sẽ tạo điều kiện cho người DTTS thực hiện quyền

và nghĩa vụ của mình, trong đó chính là quyền được làm việc Thông qua việc làm, con người thể hiện quyền được sống, quyền được làm việc và quyền được mưu cầu hạnh phúc

Giải quyết việc làm cho người DTTS không chỉ có nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, bởi giải quyết việc làm cho người DTTS có vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt là lao động người DTTS thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình Thực tế những năm qua cho thấy việc thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách đã tạo nên sự thay đổi tích cực nhiều mặt của đồng bào, nhất

là tạo điều kiện để bà con có thu nhập ổn định, điều kiện tiên quyết trong xoá đói, giảm nghèo bền vững Cùng với chính sách hỗ trợ đất sản xuất, Chính phủ còn ban hành khá đồng bộ hệ thống chính sách tạo điều kiện để bà con có thể tự vươn lên, như Chương trình 135, 30a… được thực hiện với các dự án

hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng hệ thống hạ tầng, đào tạo nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng, hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất Bà con dân tộc thiểu số cho biết, tất cả các chương trình, dự án của Chính phủ giúp bà con vươn lên đều cần thiết nhưng việc hỗ trợ đất sản xuất, cho vay vốn phát triển sản xuất và nâng kỹ năng sản xuất (hướng dẫn cách làm ăn, giới thiệu

Trang 31

điển hình làm tốt thông qua khuyến nông và thông tin báo chí) là đặc biệt quan trọng vì trực tiếp giúp bà con nâng cao thu nhập, biết cách khai thác lợi thế đất đai, khí hậu cô hiệu quả, giúp người lao động dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo

- Về mặt văn hóa

Khi Nhà nước đã tạo việc làm cho người DTTS thực sự có thu nhập là điều kiện để thúc đẩy văn hóa phát triển, nâng cao trình độ dân trí cũng như bảo vệ văn hóa dân tộc Thực tế cho thấy khi người dân có thu nhập thì họ sẽ góp phần làm lành mạnh nền văn hóa cũng như thuần phong mỹ tục, xây dựng văn hóa mới lối sống văn minh hiện đại, góp phần giảm tệ nạn xã hội phát sinh và an ninh quốc phòng được đảm bảo

1.3 Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số

1.3.1 Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm

Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình mà chủ thể quản

lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt được các mục tiêu đã định

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ tổ quốc xã hội” [5, tr.37]

Quản lý Nhà nước được đề cập trong đề tài này bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với

Trang 32

22

đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật

Theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu này, quản lý Nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”

Theo nghĩa hẹp: Quản lý Nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ QLNN Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn: ban hành Quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ

1.3.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người dân tộc tiểu số

Trong suốt sự nghiệp lãnh đạo Đảng ta luôn đặt con người nhân tố trung tâm, vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển Do đó vấn đề giải quyết việc làm cho lao động và đặc biệt là lao động người dân tộc thiểu

số phục vụ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế luôn là một trong những chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng đặt ra Hiện nay tình trạng thất nghiệp, người lao động không có việc làm của cả nước nói chung

Trang 33

và của huyện Trà Bồng tăng lên đáng kể, nhất là lao động người dân tộc thiểu

số Ngoài việc cày, cấy, nương, rẫy, họ không biết làm gì, không nghề nghiệp, không trình độ Trong khi họ là người rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối của quy luật thị trường, cùng với tâm lý sợ rủi ro, hạn chế về trình độ, khả năng giao tiếp kém, tự ti, nhút nhát, không muốn đi làm ăn xa… càng làm cho

cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động dân tộc thiểu số càng trở nên khó khăn hơn Tình cảnh nghèo thì càng nghèo thêm, giàu thì giàu hơn đang

là tác nhân chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi

- Giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và người dân tộc thiểu số nói riêng là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, nó thể hiện vai trò của

xã hội đối với người lao động, sự quan tâm của xã hội về đời sống vật chất, tinh thần của người lao động và nó cũng là cầu nối trong mối quan hệ giữa xã hội và con người Việc làm là nơi diễn ra những hoạt động của người lao động, những hoạt động này được công nhận qua những công việc mà họ đã làm và nó cũng là nơi để họ thể hiện những kết quả học tập của mình đó là trình độ chuyên môn

- Giải quyết việc làm là vấn đề chính để người lao động có việc làm

và có thu nhập để tái sản xuất sức lao động xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp và

do đó hạn chế được những phát sinh tiêu cực do thiếu việc làm gây ra

- Giải quyết việc làm đáp ứng nhu cầu tìm việc làm, nhu cầu lao động của con người vì lao động là phương tiện để tồn tại chính của con người

- Ở Việt Nam nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn Tại nhiều làng quê, miền núi dư thừa lao động trở nên báo động Tình trạng lao động ở các làng quê không có việc làm thường xuyên chơi bời, lêu lổng, dẫn đến sa ngã các tệ nạn xã hội Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nói chung, lao động người dân tộc thiểu số nói riêng là hết sức cần thiết và cấp bách

Trang 34

Bên cạnh đó, Nhà nước rất coi trọng xây dựng và thực hiện các chương trình mục tiêu để tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề bức xúc nhất về thị trường lao động và việc làm bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo như: Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề; Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm; Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2011 - 2015, 2016 - 2020); Chương trình tăng cường nâng cao năng lực đào tạo nghề (giai đoạn 2001- 2005, 2006 -2010); Chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ; Chương

Trang 35

trình 135, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP… các Chương trình này hướng vào hỗ trợ người thất nghiệp, người chưa có việc làm, người nghèo và nhóm xã hội yếu thế tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm trên thị trường lao động, nhằm đảm bảo an sinh xã hội, trong đó lao động vùng nông thôn là đối tượng liên quan chủ yếu

Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (gọi tắt là

Đề án 1956) Với mục tiêu đến năm 2020, sẽ đào tạo nghề cho gần 10 triệu lao động nông thôn làm việc ở khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp và bồi dưỡng đào tạo 01 triệu cán bộ công chức cấp xã, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Bên cạnh đó, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cũng đề ra chỉ tiêu đào tạo nghề cho 5,5 triệu lao động nông thôn (bình quân 1,1 triệu lao động/năm), trong đó, hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng cho 3,84 triệu lao động nông thôn, người khuyết tật, thợ thủ công, thợ lành nghề gắn với nhu cầu của thị trường lao động

1.3.4.2 Tổ chức bộ máy và bố trí nguồn nhân lực quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho người DTTS

Bộ máy quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm hiện nay ở nước ta được tổ chức như sau:

Chính phủ: Thủ Tướng Chính phủ quyết định chương trình việc làm quốc gia do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đệ trình Chính phủ quyết định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch hằng năm và 5 năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành có liên quan xây dựng đệ trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra và báo cáo Chính phủ kết quả chỉ tiêu thực

Trang 36

26

hiện tạo việc làm mới (hằng năm và 5 năm)

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó Lập quỹ giải quyết việc làm (từ nguồn ngân sách địa phương, khoản hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do Trung ương chuyển xuống và các nguồn khác) để giải quyết việc làm cho người lao động

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật

Ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn): Căn cứ hướng dẫn chuyên môn của cơ quan Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện xây dựng

kế hoạch công tác lao động tháng, quý, năm và tổ chức thực hiện Thống kê nguồn lao động của xã để trình Ủy ban nhân dân huyện có giải pháp cân đối nguồn lao động, tạo việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động, thực hiện nghĩa

vụ lao động công ích

Để công tác QLNN về giải quyết việc làm cho người DTTS có hiệu quả, đòi hỏi cơ quan chức năng nhà nước phải hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN trong vấn đề giải quyết việc làm cho người DTTS trên địa bàn Các cơ quan, Ban ngành hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý, tham mưu chính sách cho cấp trên để hệ thống QLNN về giải quyết việc làm thực hiện có hiệu quả

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước của chính quyền địa phương có tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người DTTS Bộ máy quản lý là tổ chức trung gian giúp cho tính khả thi của các chính sách áp dụng vào thực tế Việc bộ máy được tổ chức một cách khoa học theo hướng tinh giản, có sự phần công rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn sẽ tạo hiệu quả trong quản lý, giải quyết vấn đề càng nhanh chóng, thuận lợi Tuy nhiên công tác

Trang 37

quản lý của bộ máy sẽ gặp khó khăn lớn nếu một khâu, một cấp quản lý trong

hệ thống không đảm bảo được yêu cầu công việc được giao Vì vậy, muốn công tác quản lý nhà nước có hiệu quả, tổ chức QLNN đối với hoạt động giải quyết việc làm cho người DTTS phải được tổ chức thật phù hợp về cơ cấu, có

sự phân chia trách nhiệm, quyền hạn cụ thể, đồng thời phải hướng dẫm, bám sát của các ban ngành chức năng

Bên cạnh việc tổ chức bộ máy quản lý, trình độ, đạo đức của đội ngũ cán bộ quản lý cũng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác QLNN về giải quyết việc làm cho người DTTS trên địa bàn huyện Cán bộ là người trực tiếp tham gia vào công tác QLNN giải quyết việc làm ở cấp chính quyền địa phương và cũng là người tiếp xúc trực tiếp với người dân Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán

bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và tận tâm với công việc là điều kiện tiên quyết để tạo thuận lợi cho QLNN giải quyết việc làm cho người DTTS có hiệu quả cao

1.3.4.3 Tổ chức các nguồn lực

Là một huyện miền núi nghèo của tỉnh Quảng Ngãi đời sống của người dân nơi đây còn gặp rất nhiều khó khăn, và sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, ít có cơ hội tiếp cận với các điều kiện khoa học kỷ thuật Tình trạng thất nghiệp của người dân nơi đây có chiều hướng gia tăng, nhất là đối với người DTTS, khi hiện nay có một số bộ phận người DTTS còn có tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước nên không tự phấn đấu vươn lên tìm kiếm cơ hội việc làm nhằm ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình

Để giải quyết việc làm cho người DTTS thì chủ trương, chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước là một trong những yếu tố ảnh hưởng chính Việc ban hành, điều chỉnh, bổ sung chính sách một cách đồng bộ, đầy đủ, kịp thời sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến việc giải quyết việc làm cho lao động DTTS Vì vậy, giải quyết việc làm cho người DTTS huyện Trà Bồng trong

Trang 38

28

thời gian tới đòi hỏi phải tiến hành quyết liệt hơn với thực hiện đồng bộ các giải pháp gắn kết chặt chẽ với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đặc biệt cần tập trung một số các lĩnh vực sau:

- Tổ chức cơ sở đào tạo, trung tâm dạy nghề

Thực tế cho thấy phần lớn lao động DTTS có trình độ học vấn, chuyên môn nghề nghiệp, sự hiểu biết vẫn còn rất hạn chế Do vậy, công tác giải quyết, tạo việc làm cho họ muốn đạt kết quả tốt thì một trong những vấn

đề cần đặc biệt quan tâm, giải quyết đó là công tác đào tạo nghề

Việc tổ chức tốt các cơ sở đào tạo, quan tâm đầu tư thỏa đáng về trang thiết bị cũng như cho đội ngũ cán bộ đào tạo ở cơ sở, song song với nó là nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết giữa đào tạo với sử dụng lao động qua đào tạo với cơ sở sử dụng lao động có ý nghĩa quan trọng giúp lao động DTTS tìm kiếm, có việc làm phù hợp, ổn định

- Chất lượng của lao động dân tộc thiểu số

Việc làm của lao động DTTS chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: chính sách, công tác đào tạo nghề, vốn , đó là những yếu tố bên ngoài tác động, ảnh hưởng đến việc làm của họ

Một trong những yếu tố có tính quyết định đến việc làm, tạo việc làm cho lao động DTTS đó là do trình độ, năng lực, chất lượng của ngay chính bản thân họ Đối với những lao động DTTS có trình độ, hiểu biết tốt thì sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm việc làm Do vậy, việc đào tạo nói chung, đào tạo nghề nói riêng cần luôn phải quan tâm, đầu tư thỏa đáng để nâng cao chất lượng của nguồn lao động từ đây

- Vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh của lao động dân tộc thiểu số Việc làm của lao động DTTS do các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có nhu cầu sử dụng, giải quyết Bên cạnh đó, bản thân họ cũng tự sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho chính mình và các đối tượng lao động

Trang 39

khác Do vậy, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh là yếu tố cần thiết không những giúp cho họ thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, nâng cao kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà nó còn là giúp cho họ ổn định công ăn việc làm ngay tại trên chính địa phương mình

- Sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, hội đoàn thể

Các yếu tố như bản thân của lao động, chính sách, đào tạo ảnh hưởng đến việc làm của lao động DTTS Bên cạnh những yếu tố đó còn phải

kể đến sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, hội

Sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, hội có ý nghĩa quan trọng, tạo sự gắn kết giữa các lao động này với nhau, gắn kết họ với các đơn vị đào tạo, sử dụng lao động giúp họ tìm kiếm, giải quyết việc làm

1.3.4.4 Tổ chức thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm cho lao động người DTTS

Tổ chức đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân tộc thiểu số

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm

vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao

Đào tạo nghề là con đường cơ bản để giúp cho con người lĩnh hội, hình thành và phát triển tri thức, các kỹ năng chuyên môn Người lao động có trình

độ đào tạo nghề càng cao, khả năng có việc làm và mức thu nhập càng cao Phát triển đào tạo nghề là biện pháp giảm nghèo bền vững trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của mỗi cá nhân, để họ tham gia vào quá trình sản xuất xã hội, tạo ra thu nhập đảm bảo cuộc sống của chính bản thân và gia đình họ Hoạt động đào tạo nghề cho lao động ngày càng phát triển, giúp người lao động có khả năng làm chủ được công nghệ từ đơn giản đến phức tạp và hiện đại Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nhà đầu tư nước ngoài “Người lao động Việt Nam nhanh nhạy hơn nhiều so với người lao động của các nước

Trang 40

30

khác trong khu vực” Do vậy, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, tay nghề

là một trong những chính sách trọng tâm để GQVL người lao động nông thôn nói chung và lao động người DTTS nói riêng Đào tạo nghề cho lao động là hoạt động có tính xã hội, nên nhận được sự đồng thuận của người dân, các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp

và các phương tiện thông tin đại chúng

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề đã góp phần tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại, có chất lượng; tạo ra những lao động có kiến thức, có kỹ năng sản xuất hiện đại, có khả năng thích ứng với ngành nghề trong nền kinh tế Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng lao động là người nghèo, người dân tộc thiểu số, chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động và các chính sách hỗ trợ cho lao động người DTTS

Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm và dạy nghề đã nêu rõ:

“Hỗ trợ phát triển đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng cường xuất khẩu lao động

và phát triển thị trường lao động đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là ở khu vực nông thôn Nâng tỷ lệ lao động tìm việc làm qua hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm”

Giới thiệu việc làm và học nghề: Tổ chức cho người lao động đến đăng

ký tìm việc và học nghề; liên hệ với người sử dụng lao động để tìm chỗ làm việc mới; giới thiệu người lao động đang cần việc làm với người sử dụng lao động đang cần tuyển lao động; giới thiệu người lao động học nghề ở những nơi phù hợp và đủ điều kiện quy định tại Nghị định 90/CP ngày 15/12/1995 của Chính phủ và các cơ sở dạy nghề khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý

Tổ chức các hoạt động thu hút, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở giới thiệu việc làm tổ chức sàn giao dịch việc làm và tư vấn đào tạo nghề và xuất

Ngày đăng: 15/03/2021, 09:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w