Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng NgãiThực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng NgãiThực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng NgãiThực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng NgãiThực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng NgãiThực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng NgãiThực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng NgãiThực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH HOÀI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
ĐÀ NẴNG, 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN CHIẾN THẮNG
ĐÀ NẴNG, 2018
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, công tác giảm nghèo bền vững luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và nhận thức rõ tầm quan trọng và tính cấp thiết của nó Do đó Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả quan trọng, tác động mạnh đến việc thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững; đã tạo điều kiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo, về cơ sở hạ tầng từ thôn, xã, đến huyện và tỉnh nghèo được tăng cường; người nghèo đã từng bước tiếp cận được các dịch vụ xã hội
cơ bản, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm đều đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Cụ
thể, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 Chính phủ về “Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo”; Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về“Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020”; Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia
Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là một chủ trương lớn, then chốt trong sự nghiệp cách mạng nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần làm giảm khoảng cách chênh lệch về mức sống, mức phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000
Ba Tơ là một trong sáu huyện miền núi, nằm về phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ngãi với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 113.669,52 hécta, chiếm 1/5 tổng diện tích tỉnh Quảng Ngãi Địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi, thung lũng
và có nhiều sông, suối Đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao hiểm trở nối liền với các huyện miền núi xung quanh Về đơn vị hành chính, Ba Tơ
Trang 4có 20 xã, thị trấn, có 119 thôn (trong đó 112 thôn và 07 tổ dân phố), với 216 khu
dân cư Trong đó có 14 xã, thị trấn thuộc an toàn khu và diện xã đặc biệt khó khăn
(theo Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ)
Mật độ dân thưa 48,95 người/km2 sống tập trung tại Thị trấn Ba Tơ, xã Ba Vì và xã
Ba Động
Trong những năm qua, huyện Ba Tơ đã có nhiều giải pháp, định hướng nhằm xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho người dân, đặc biệt là trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, trong đó từ năm
2013 đến 2017 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện bình quân hằng năm giảm 5,6%/năm, đạt
chỉ tiêu kế hoạch (chỉ tiêu kế hoạch từ 4% - 7%), về cơ bản huyện đã xoá được hộ
đói kinh niên Trong đó về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây dựng
phát triển, nổi bật là trung tâm Thị trấn Ba Tơ; về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên đáng kể; lĩnh vực văn hóa - xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc chăm lo đến đời sống của nhân dân; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện luôn được giữ vững, ổn định
Tuy nhiên, với đặc điểm là huyện miền núi, nên điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí ở một số nơi còn thấp; một số hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại; Ba Tơ vẫn còn là một trong những huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ; Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, vẫn còn nhiều bất cập: tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra, các chính sách đầu tư phát triển đã hướng vào trợ giúp cho huyện và các xã đặc biệt khó khăn nhưng chưa đủ mạnh và đồng bộ, việc sử dụng các nguồn lực trong giảm nghèo chưa tương xứng với tiềm năng: vốn, lao động, kinh nghiệm sản xuất; việc tuyên truyền nâng cao ý thức thoát nghèo cho người dân còn hạn chế; cơ chế thực hiện chưa phù hợp với đặc thù vùng miền và đặc điểm văn hóa, tập quán của người dân Một bộ phận người nghèo, nhất là người đồng bào DTTS và một số chính quyền địa phương nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giảm nghèo, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng, chưa thật sự chủ động, nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo,
Qua những bất cập nêu trên và xuất phát từ tình hình thực tiễn của huyện,
Trang 5nhằm để đưa ra những đề xuất, định hướng và giải pháp mang tính khoa học, phù hợp với địa phương nhằm đẩy mạnh công tác giảm nghèo nhanh, bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, tôi lựa chọn đề tài
“Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài nghiên cứu luận văn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác xóa đói, giảm nghèo luôn là một chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng mỗi năm ngân sách Nhà nước đã dành hàng chục nghìn tỷ đồng đầu tư, hỗ trợ trực tiếp cũng như lồng ghép, thông qua các chương trình, dự án, chính sách cho giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Có thể nói vấn đề nghèo, đói như một thực tế khách quan và được chính thức thừa nhận từ năm 1993, sau hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo được tổ chức tại
Băng Cốc (Thái Lan) bởi Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á Thái Bình Dương của
Liên Hiệp Quốc (ESCAP) Để đáp ứng nhu cầu nắm bắt thực trạng và hoạch định chính sách, đã có những cuộc điều tra, nghiên cứu về đói nghèo và giảm nghèo Đáng chú ý là các cuộc điều tra đói nghèo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
(LĐTBXH), Tổng cục Thống kê (TCTK), các nghiên cứu của Trung tâm Khoa học
xã hội và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Uỷ
ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tại Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã mở ra một thời kỳ
mới - thời kỳ đổi mới toàn diện, triệt để và sâu sắc mọi mặt đời sống của đất nước, trong đó có lĩnh vực kinh tế, nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đó là chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với sự đổi mới này, trong những năm đầu của thập kỷ 1990 đã có nhiều nhà nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội Việt Nam Cụ thể vào năm 1993, tác giả Nguyễn Văn Tiêm
xuất bản sách “Giàu nghèo trong nông thôn Việt Nam”; Năm 1994, tác giả Nguyễn Văn Thiều xuất bản sách “Biến động giàu nghèo và phân hoá xã hội ở nông thôn nước ta” Qua hai nghiên cứu trên, các tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng
phân hoá giàu nghèo và quá trình phân tầng xã hội ở một số tỉnh thuộc khu vực
Trang 6nông thôn Việt Nam Năm 1998, trong một công trình nghiên cứu được xuất bản
với tiêu đề “Khủng hoảng phát triển ở các vùng miền núi Việt Nam”, Jamieson và
các cộng sự đã khái quát những khó khăn và thách thức thành 4 vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm: Nghèo đói; Sức ép dân số; Môi trường bị suy thoái; và
sự phụ thuộc của người DTTS vào các hệ thống bên ngoài cũng như sự lề hóa của nền kinh tế các DTTS Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác của tác giả Lê Xuân Bá
và các cộng sự vào năm 2001với tác phẩm “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”; Tác giả Hà Quế Lâm vào năm 2002 với tác phẩm “Xoá đói giảm nghèo
ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp”; Tác giả Ngô Văn Lệ và các cộng sự năm 2004 với tác phẩm “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng”; Năm 2003 nhóm nghiên cứu do tác giả Bùi Văn Đạo phụ trách với tác phẩm “Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam” Vào năm 2006, Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản công trình “Nghèo
và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004”, do tập thể các nhà nghiên cứu
biên soạn, dưới sự chỉ đạo của GS.TS Đỗ Hoài Nam, dựa trên cơ sở phân tích các
số liệu nghèo đói quốc gia và các cuộc điều tra xã hội học, nêu lên bức tranh toàn cảnh về nghèo đói và giảm nghèo, các nguyên nhân nghèo, đề xuất các định hướng, giải pháp giảm nghèo và phát triển bền vững ở Việt Nam Năm 2012 PGS.TS Lê
Quốc Lý với cuốn sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo- Thực trạng và giải pháp”
đã nêu một số lý luận về xóa đói, giảm nghèo; những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo; thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010; một
số chương trình xóa đói giảm nghèo điển hình của Việt Nam thời gian qua; đánh giá tổng quát thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001-2010; định hướng và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới; một số cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam; giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới
Ngoài ra, trên các Tạp chí trong nước luôn phải kể đến một số bài viết đăng
tải như: PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc: Để đẩy mạnh công tác XĐGN ở miền Trung, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận số 3 (58), 2003; TS Đoàn Minh Tuệ: Giải pháp XĐGN, thực hiện công bằng xã hội ở nông thôn Bắc Trung Bộ, Tạp chí Lý luận Chính trị,
Trang 710/2002; Từ Thanh - Kim Ngọc Đàm: Thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất
ở, nhà ở cho hộ đồng bào DTTS nghèo, Tạp chí Cộng sản số 790 (8-2008); GS, TS
Hồ Văn Vĩnh: Để công tác XĐGN tiến triển vững chắc, Tạp chí Cộng sản, số 782 (12/ 2007); TS Nguyễn Hải Hữu: Hướng tới giảm nghèo toàn diện bền vững, công bằng và xã hội, Tạp chí Cộng sản, số 9 (5/2006); Thanh Hùng: XĐGN ở vùng Bắc Trung Bộ, Tạp chí Cộng sản, số 5 (3/2006); TS Đỗ Thanh Phương: Tỉnh Kon Tum với công tác XĐGN, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 1 (74), 2006; TS Nguyễn Văn Nam: Giải quyết việc làm và thu nhập trong quá trình xoá đói giảm nghèo ở Tây Nguyên, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 2 (75), 2006; ThS Nguyễn Hoàng Việt:
Giảm nghèo bền vững để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Cộng sản
số 72 tháng 11/2016
Đặc biệt nghiên cứu sâu sắc về vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải kể đến
báo cáo phân tích xã hội quốc gia năm 2009 của Ngân hàng thế giới (WB-2009),
trong đó đã tổng kết các nhóm đồng bào DTTS đang gặp bất lợi ở 6 yếu tố cơ bản dẫn đến kết quả sinh kế thấp hơn so với nhóm đa số, đó là bất lợi về tiếp cận giáo dục, di chuyển lao động, tiếp cận thị trường, tín dụng, đất sản xuất và định kiến của nhóm đa số đối với các nhóm đồng bào DTTS Qua báo cáo đã nhận định được không có một yếu tố duy nhất giải thích sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm
đồng bào DTTS và nhóm đa số, mà 6 yếu tố trên kết hợp lại tạo thành một “vòng luẩn quẩn” dẫn đến đói nghèo trong đồng bào DTTS giảm chậm Và vào năm 2011,
dựa trên kết quả khảo sát tại các tỉnh Kon Tum, Bình Thuận, Lạng Sơn, Hải Dương
và An Giang, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) công bố nghiên cứu “Giảm nghèo tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức” Khi phân tích bối cảnh nghèo và
đồng bào DTTS, nghiên cứu này đề cập đến những khó khăn chính như: sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, giải quyết thực trạng của vấn đề lao động việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, chất lượng giáo dục và các rào cản ngôn ngữ
Năm 2012 nghiên cứu của Baulch và Vũ: đã phân tích vai trò của đặc điểm gồm: đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã…và hiệu quả thu nhập của các đặc điểm do ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được qua điều tra mức sống, ví dụ như chất lượng đất, chất lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với người DTTS… đến sự khác biệt về thu
Trang 8nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và các nhóm DTTS Khác biệt về đặc điểm đóng góp gần một nửa vào khác biệt về mức sống giữa nhóm đa số và các nhóm DTTS; ngược lại, khác biệt về hiệu quả thu nhập đóng góp trên một nửa vào sự khác biệt về mức sống Nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ và tiền gửi chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong thu nhập của các nhóm DTTS so với nhóm đa số
Ngoài ra UN, WB và NGOs quốc tế đã thực hiện một số nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến diễn biến nghèo đói của các DTTS Việt Nam Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu đó, Gay McDougall năm 2010, một chuyên
gia độc lập về các vấn đề dân tộc thiểu số của Liên hợp quốc, chỉ rõ: “Một số nhà phân tích dự đoán, biến đổi khí hậu có thể làm cho mực nước biển tăng lên, có khả năng ảnh hưởng đến hàng triệu người sống ở vùng đồng bằng và vùng ven biển, đòi hỏi phải tái định cư hàng loạt ở các khu vực miền núi… Và điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến diễn biến kinh tế xã hội của các DTTS”
Báo cáo của Oxfam và ActionAid năm 2012 tổng hợp kết quả theo dõi nghèo nông thôn tại mạng lưới các điểm quan trắc giai đoạn 2007-2011 cũng cho thấy mức độ giảm nghèo không đồng đều giữa các địa bàn dân cư Theo đó, tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ tại các vùng DTTS giảm chậm và còn ở mức rất cao Người dân còn gặp bất lợi đa chiều, điển hình là bất lợi về điều kiện sống, tiếp cận thị trường, việc làm phi nông nghiệp và chống đỡ rủi ro Tỷ lệ hộ thuần làm nông nghiệp còn khá cao, trong khi đây là một tiêu chí nghèo quan trọng
theo cảm nhận của người dân Tình trạng “thiếu ăn” vào thời điểm giáp hạt, gặp
thiên tai dịch bệnh vẫn là thách thức lớn đối với một bộ phận dân cư ở vùng DTTS Ngay trong một cộng đồng cũng có nhiều nhóm gặp khó khăn đặc thù, như nhóm nghèo kinh niên, nhóm nghèo tạm thời, nhóm nghèo dễ bị tổn thương, và nhóm cận nghèo hoặc mới thoát nghèo, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm
Năm 2012 một nghiên cứu của Andrew Wells-Dang áp dụng cách tiếp cận
“lệch chuẩn tích cực” (positive deviance) vào việc tài liệu hóa các yếu tố tạo nên
“điểm sáng” giảm nghèo tại một số vùng DTTS có tốc độ giảm nghèo nhanh và chi
tiêu bình quân đầu người tăng khá trong 10 năm qua Nghiên cứu chỉ ra con đường
thoát nghèo của các cộng đồng DTTS khảo sát là: sản xuất nông sản hàng hóa (xuất
Trang 9phát từ sản xuất tự cấp tự túc), tiếp theo là thâm canh rồi đa dạng hóa (trong nông nghiệp, thương mại, dịch vụ), cuối cùng là hợp nhất với sự đầu tư vào giáo dục Tác
giả cho rằng cần có thêm các nghiên cứu khác nhằm kiểm định giả thuyết trong các bối cảnh khác nhau của các nhóm DTTS đa dạng
Báo cáo của Oxfam Anh và ActionAid Việt Nam được thực hiện vào năm
2013 tập trung vào nghiên cứu một số điểm sáng trong mô hình giảm nghèo ở các tỉnh Nghệ An, Đắk Nông và Hà Giang đã chỉ ra những cách thức/con đường khác nhau trong giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số trong vùng nghiên cứu
Từ thực tiễn về công tác giảm nghèo ở nước ta cho thấy tình trạng nghèo trong các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những điểm quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước ta trong việc thực hiện công tác giảm nghèo bền vững nhằm tạo động lực trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đây là một thách thức ngày càng tăng và kéo dài Giữa dân tộc đa số với các đồng bào DTTS, bất bình đẳng về thu nhập và cơ hội đang có xu hướng gia tăng Đối với huyện Ba Tơ, về công tác giảm nghèo trong thời gian qua tuy có nhiều thay đổi và có chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn chưa thật sự mang tính bền vững và ổn định Do đó việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các
dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016 –
2020 trên địa bàn huyện là hết sức cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
để đánh giá chính xác, khách quan giữa việc áp dụng các lý luận chính sách và kết quả thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu
số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra những điểm còn hạn chế, bất cập của chính sách giảm nghèo bền vững áp dụng trong thực tiễn hiện nay, từ đó đề xuất ra
Trang 10các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện thêm chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở Việt Nam nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính
sách giảm nghèo bền vững đối với người dân tộc thiểu số;
Thứ hai, tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo
cho người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi để từ đó tìm ra những bất cập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở đây;
Thứ ba, đề xuất các định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng
cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số, hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
đối với người dân tộc thiểu số được thực thi trên địa bàn một huyện cụ thể
4.2 Phạm vi thời gian: Các số liệu nghiên cứu thực địa thu thập được trong
05 năm (giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017) Luận văn được nghiên cứu trong
phạm vi huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Thực hiện đề tài vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước,
bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề giảm nghèo bền vững ở nước ta nói chung và huyện
Ba Tơ nói riêng Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài được nghiên cứu trong thời gian qua
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê kết hợp với các phương pháp: phân
Trang 11tích chính sách, phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải, thống kê, nghiên cứu tài liệu, khảo sát, tổng kết thực tiễn trong đánh giá thực hiện chính sách giảm nghèo
bền vững ở địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã tổng quan được cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời biết vận dụng các lý thuyết về quy trình phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công nhằm đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương;
Việc nghiên cứu đề tài nhằm chứng minh cho việc vận dụng các lý thuyết phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo, từ đó góp phần hoàn thiện thêm chính sách bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ nói riêng
và nước ta nói chung nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững đã ban hành
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các hội đoàn thể các cấp để hiểu rõ hơn về chính sách giảm nghèo bền vững; xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ quá trình và kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ba Tơ, từ
đó định hướng góp phần hoàn thiện hơn nữa, nâng cao hiệu quả chất lượng của chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong những năm tiếp theo
Đề tài đã hệ thống hóa một cách logic các giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số Việc thực hiện chính sách bền vững đem lại hiệu quả thiết thực, giúp đồng bào dân tộc thiểu số có khả năng tiếp cận các chính sách giảm nghèo bền vững và tham gia cùng với Nhà nước để đưa các chính sách giảm nghèo đi vào thực tiễn, ngày càng mang lại hiệu quả, đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững mà Đảng, Chính quyền huyện Ba Tơ đã đề ra, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
7 Kết cấu của luận văn
Trang 12Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Nghèo và nghèo đa chiều
Hiện nay, khái niệm về “nghèo” được thể hiện qua rất nhiều quan niệm khác
nhau trên thế giới Tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc vào tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm
và định nghĩa về nghèo đói Trong đó có thể hiểu một cách chung nhất là: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN) thì: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, tháng 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các
chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn
ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các
Trang 14dịch vụ
Qua các khái niệm trên cho thấy khái niệm về “nghèo đa chiều” đã xuất phát
từ quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự
thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Vậy nghèo
đa chiều là khi con người không được đáp ứng đảm bảo các nhu cầu cơ bản trong
cuộc sống ở mức tối thiểu nhất
1.1.2 Chuẩn nghèo và đo lường nghèo
Chuẩn nghèo là thước đo hay tiêu chí để xác định đối tượng nghèo hay không nghèo, trên thế giới hiện đang áp dụng các hình thức chuẩn nghèo như sau:
- Chuẩn nghèo là dựa vào thu nhập hay chi tiêu, được qui đổi thành tiền, xuất phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản tối thiểu, mỗi người cần phải
có một khoản thu nhập/chi tiêu ở mức độ tối thiểu để thỏa mãn các nhu cầu đó Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập/chi tiêu được nhiều quốc gia sử dụng, trong đó có Việt Nam, nhằm làm cơ sở xác định đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp của Nhà nước
- Chuẩn nghèo quy ra 1USD hoặc 2 USD (theo sức mua tương đương) là
cách Ngân hàng thế giới đưa ra nhằm để so sánh mức độ nghèo đói giữa các quốc gia, đây không phải chuẩn nghèo các quốc gia sử dụng để hoạch định chính sách giảm nghèo
- Chuẩn nghèo đa chiều, là tiêu chí đo lường sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản của mỗi con người, phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn nhất định
Vậy có thể hiểu chuẩn nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo, đường nghèo) là
mức thu nhập tối thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản cho con người có thể tiếp tục tồn tại; chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian; chuẩn nghèo là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định đối tượng nghèo và không nghèo Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo
qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn so với chuẩn nghèo
Tại một thời điểm nhất định có thể tồn tại nhiều đường nghèo khác nhau, ví dụ: đường nghèo thu nhập, đường nghèo lương thực thực phẩm, đường nghèo chung, đường nghèo về y tế, đường nghèo về giáo dục, đường nghèo quốc tế, đường
Trang 15nghèo quốc gia, đường nghèo địa phương…
Ngày 15/9/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
1614/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”,chuẩn nghèo
giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin
1.1.3 Giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững
Trong tiến trình phát triển của một quốc gia, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau: tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện giảm nghèo nhanh và ngược lại thực hiện tốt công tác giảm nghèo sẽ là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng mang tính bền vững Và trong mối quan hệ biện chứng qua lại này thì yếu tố giảm nghèo vẫn
là yếu tố phụ thuộc và chịu sự chi phối của yếu tố tăng trưởng kinh tế Giảm nghèo chỉ mang tính tương đối vì nghèo có thể tái lặp lại nếu các giải pháp giảm nghèo đưa ra chưa thật sự bền vững, phù hợp hoặc quy định về chuẩn nghèo đã có sự thay đổi hoặc bị biến động khác bởi các tác động khác đến đời sống xã hội như: khủng hoảng lạm phát, thiên tai Do đó việc đánh giá kết quả mức độ giảm nghèo thì cần phải được xem xét trong một khoản không gian, thời gian nhất định, cụ thể
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì Tuy nhiên khi nói đến việc phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững thì vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến và
là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững Và phát triển kinh tế bền vững là cơ sở, điều kiện cần thiết để giảm nghèo bền vững Qua thực tiễn trong thực hiện công tác giảm nghèo, ta có thể hiểu: giảm nghèo bền vững là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ cho người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp
Trang 16họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, họ không còn tái nghèo, không bị thụt lùi
so với quy định chung về chuẩn nghèo
Về chính sách giảm nghèo bền vững có thể hiểu: “là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước”
1.1.4 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Việt Nam là quốc gia có 54 thành phần dân tộc khác nhau, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% tổng dân số của cả nước Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam
Theo báo cáo "Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam" của Ngân hàng Thế giới (WB) được công bố ngày 5/4/2018, có 1,8 triệu người dân
tộc thiểu số ở Việt Nam thoát nghèo, giảm từ 8,4 triệu năm 2010 xuống còn 6,6 triệu người trong năm 2016 Tuy nhiên trong số 9,1 triệu người nghèo ở Việt Nam năm 2016, nhóm dân tộc thiểu số chiếm 72%, tương đương với 6,6 triệu người Có thể thấy trong thời gian qua các dân tộc thiểu số ở Việt Nam giảm nghèo nhanh nhưng chưa thật sự bền vững, họ còn đối mặt với nhiều thách thức; Nguyên nhân dẫn tới đói nghèo tập trung ở những hộ gia đình vùng sâu, vùng xa…do người
nghèo gặp khó khăn vì trình độ học vấn thấp (75% người lớn ở các hộ gia đình nghèo có học vấn từ tiểu học trở xuống, dưới 7% có trình độ trung học)
Vì vậy, trong thời gian qua thực hiện chính sách giảm nghèo nói chung và chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch
về mức sống giữa miền núi và đồng bằng, nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư Đồng thời thể hiện sự quyết tâm của Việt Nam trong việc cam kết thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc
Đối với Việt Nam, công tác giảm nghèo có ý nghĩa hết sức đặc biệt vì đây là
Trang 17mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với xu thế hội nhập quốc tế Vì vậy, để giải quyết vấn đề nghèo đói cần phải
có những chính sách phù hợp với thực tiễn, ngoài ra không chỉ dựa vào kinh nghiệm trong nước mà đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận mới giải quyết một cách khoa học - đó là gắn kết tăng trưởng với giảm nghèo, giảm nghèo phải bảo đảm tính bền vững, công bằng, toàn diện và hội nhập
Trong công cuộc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, để thành công thì đòi hỏi sự quan tâm, tham gia của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là tầng lớp nhân dân vì vấn đề đói nghèo không phải là vấn đề riêng của người nghèo, hay của Chính phủ, mà là vấn đề chung của cả nước, của toàn xã hội trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước
1.2 Chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
1.2.1 Các quan điểm, mục tiêu giảm nghèo bền vững nói chung và đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, có những chính sách phù hợp trong công tác xóa đói, giảm nghèo; luôn xác định là một trong những vấn đề xã hội được đặt vào vị trí ưu tiên giải quyết trong phát triển xã hội, là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia, là mục tiêu quan trọng trong phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Quan điểm, định hướng và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước luôn được thể hiện rõ trong các Đại hội của Đảng, cụ thể:
Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định, thực hiện kinh tế thị trường
phải “thừa nhận trên thực tế sự phân hoá giàu nghèo nhất định trong xã hội”, coi
đó là một hiện tượng xã hội đang hiện hữu, chi phối đời sống xã hội Đại hội cũng
đã chỉ rõ, khuyến khích các tầng lớp nhân dân vươn lên làm giàu, đẩy mạnh xoá
đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo gắn với mục tiêu “phải luôn luôn quan tâm bảo vệ lợi ích người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, coi trọng xoá đói giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả” [30]
Trang 18Đại hội lần thứ IX, đã có bước phát triển mới: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội” [31]
Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục chỉ rõ và đề ra mục tiêu cụ thể: “Khuyến khích mọi người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính sách xoá đói, giảm nghèo”, “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”; phấn đấu đến năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn 10 - 11% (năm 2005, tỉ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 22%) [32]
Đặc biệt, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đại hội
lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch về mức sống giữa nông thôn với đô thị” Chỉ tiêu phấn đấu cụ thể: “Tỉ lệ hộ nghèo giảm 2%/năm”; dựa trên cơ sở sự định hướng chiến lược “Tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn Có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tạo động lực để phát triển; điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư” [32]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) vẫn tiếp tục
coi trọng và ưu tiên giải quyết vấn đề nghèo và giảm nghèo bền vững Trong đó,
Đảng ta nêu rõ “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên
Trang 19Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị” [33]
Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã chỉ rõ phải đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số Chú trọng các giải pháp tạo điều kiện và khuyến khích các hộ nghèo, cận nghèo phấn đấu tự vươn lên thoát nghèo bền vững; đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Quan điểm lãnh đạo của Đảng khi áp dụng phương pháp đo
lường nghèo đa chiều, “tiếp cận chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều”
- nghèo được đo lường không chỉ bằng tiêu chí thu nhập mà còn bằng cả nhóm tiêu chí phi thu nhập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững với mục đích tác động tốt hơn, toàn diện hơn đến người nghèo, giúp bảo đảm mức sống tối thiểu, đồng thời đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, từng bước giảm nghèo
bền vững Đảng ta đã chỉ rõ “phải đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù ”; “Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động
để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất hợp lý Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao động” Có thể khẳng định đây là sự lãnh đạo hướng đến
các chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro, tầng trên cùng của hệ thống an sinh
xã hội nhằm giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, tạo thu nhập, có được
năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với thiên tai, rủi ro [34]
Qua đó thấy được quan điểm của Đảng ta chỉ ra những định hướng lớn, lãnh đạo cụ thể từng mặt của công tác an sinh xã hội dựa trên cơ sở lý luận về chức năng,
Trang 20cấu trúc, mô hình, các trụ cột, sự phân tầng của chính sách an sinh xã hội, cách tiếp cận mới về tạo việc làm, giảm nghèo đa chiều bền vững; về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân, trợ giúp xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội ở mức độ tối thiểu nhằm trợ giúp khó khăn, phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là nhóm yếu thế, hướng đến nền an sinh xã hội toàn dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Mục tiêu của công tác giảm nghèo nhanh, bền vững
Vào ngày 19/5/2011, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII của Đảng, nhằm cụ thể hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 Nghị quyết cũng đã đề ra mục tiêu tổng
quát, đó là: “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”;
Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia;
1.2.2 Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định nghèo hiện nay
- Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo mới được áp dụng từ năm
2016 đến nay [18]
Thực hiện Quyết định số 1614/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày
15/9/2015 Phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020” thì tiêu chí về
thu nhập và tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản để xác định mức chuẩn nghèo, cụ thể các tiêu chí về thu nhập:
- Chuẩn mức sống tối thiểu: từ 1.300.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực thành thị và 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn
Trang 21- Chuẩn nghèo chính sách: từ 1.000.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực thành thị và 800.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn
- Chuẩn mức sống trung bình: từ 1.950.000 đồng/người/tháng trở xuống và 1.500.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản:
Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin
Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt bao gồm: trình độ giáo dục của người
lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin; Ngưỡng thiếu hụt đa chiều đối với một hộ gia đình là từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
1.2.3 Các chính sách giảm nghèo bền vững
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo, định hướng của Đảng về thực hiện công tác giảm nghèo, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo để đẩy mạnh mục tiêu giảm nghèo bền vững trên phạm vi
Cụ thể Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP gồm: Tiếp tục thực hiện các chế độ,
Trang 22chính sách hiện hành về hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo ở các huyện nghèo có sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng mức hỗ trợ, mức đầu tư Thực hiện cơ chế, chính sách, giải pháp đặc thù đối với các huyện nghèo, cụ thể là: Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất; Tăng cường,
hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú
y, vệ sinh an toàn thực phẩm cho các huyện nghèo để xây dựng các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thành những trung tâm chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ và dịch vụ thúc đẩy phát triển sản xuất trên địa bàn; Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại đầu tư sản xuất, chế biến, kinh doanh trên địa bàn huyện nghèo; Hỗ trợ mỗi huyện 100 triệu đồng/năm
để xúc tiến thương mại, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, nhất là nông, lâm, thủy đặc sản của địa phương; thông tin thị trường cho nông dân; Khuyến khích, tạo điều kiện và có chính sách ưu đãi thu hút các tổ chức, nhà khoa học trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ ở địa bàn, nhất là việc tuyển chọn, chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất ở các huyện nghèo Chính sách xuất khẩu lao động: hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo ngoại ngữ, bồi dưỡng văn hóa, đào tạo định hướng Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí Chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo: Thực hiện chính sách luân chuyển và tăng cường cán bộ tỉnh, huyện về xã đảm nhận các cương vị lãnh đạo chủ chốt để tổ chức triển khai thực hiện cơ chế, chính sách đối với các huyện nghèo; thực hiện chế độ trợ cấp ban đầu đối với cán bộ thuộc diện luân chuyển; có chế độ tiền lương, phụ cấp và chính sách bổ nhiệm, bố trí công tác sau khi hoàn thành nhiệm vụ; Có chính sách hỗ trợ và chế độ đãi ngộ thỏa đáng để thu hút khuyến khích trí thức trẻ về tham gia tổ công tác tại các xã thuộc huyện nghèo
Chính sách tín dụng:
Trong những năm qua Chính sách tín dụng cho hộ nghèo luôn được Nhà nước quan tâm, phát triển nguồn vốn tín dụng qua Nhân hàng Chính sách xã hội và đến nay vẫn còn hiệu lực Có thể nói đây là một chính sách mang lại hiệu quả cao trong công tác giảm nghèo bền vững thể hiện sự quyết tâm chỉ đạo, lãnh đạo trong công tác giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta Hiện nay các chính sách tín dụng
Trang 23dành cho đối tượng là hộ nghèo, cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã được Ngân hàng CSXH triển khai rộng rãi, cụ thể như: Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo; Quyết định số 54/2012/QĐ-CP ngày 04/12/2012 của Chính phủ về việc ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn
2012 - 2015 (thay thế Quyết định 32/ 2007/QĐ-TTg ngày 5/3/2007); Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ cận nghèo; Quyết định số 157/2007/QĐ-CP ngày 27/9/2007 của Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên Riêng đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04 tháng 12 năm 2012 Ban hành chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012 – 2015, theo đó thực hiện cho vay vốn đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định đời sống, thoát nghèo bền vững
Có thể nói điểm sáng trong các chính sách giảm nghèo Nhà nước ta là việc đẩy mạnh các chính sách tín dụng của Ngân hàng CSXH dành cho đối tượng hộ nghèo, là chương trình được triển khai rộng rãi, đáp ứng một lượng lớn nhu cầu vốn của hộ nghèo, tác động trực tiếp và mang lại hiệu quả thiết thực Trong giai đoạn từ
2002 đến 2017, Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho vay trên 31,8 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác Qua đây đã giúp trên 4,5 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút, tạo việc làm cho gần 3,4 triệu lao động, hơn 3,5 triệu lượt học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập Nhờ nguồn vốn tín dụng chính sách, tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 giảm từ 17% xuống 7%; giai đoạn 2005 - 2010 từ 22% xuống 9,45%; giai đoạn 2011-2015 từ 14,2% xuống 4,25% cuối năm 2015
Chính sách hỗ trợ về nhà ở:
Nhằm hỗ trợ các hộ nghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững, Nhà nước ta đã có những chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và đây cũng là mục tiêu quan trọng trong việc thực hiện các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo trong cả
Trang 24nước Cụ thể các Chính sách này được thực hiện như Quyết định 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở
Và vào ngày 29/10/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 67/2010/QĐ-TTg để bổ sung thêm đối tượng là các hộ nghèo, có khó khăn về nhà
ở Đến ngày 10/8/2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định TTg về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-
33/2015/QĐ-2015 (Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg giai đoạn 2)
Riêng đối với các hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn, Thủ tướng Chính
phủ có Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 “về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn” nhằm mục đích cùng với việc thực hiện các chương
trình kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta trực tiếp hỗ trợ hộ đồng bào DTTS nghèo để có điều kiện phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, sớm thoát nghèo;
Quyết định số 2085/QĐ-TTg “về việc phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020”
Chính sách hỗ trợ y tế: Hiện đang thực hiện theo Nghị định 62/2009/NĐ-CP
ngày 27/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều Luật bảo hiểm Y tế; Thông tư số 09/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế; Quyết định 538/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020; Quyết định 705/QĐ-TTg ngày 08/5/2013 của Chính phủ về nâng mức hỗ trợ đóng thẻ bảo hiểm y tế cho một số đối tượng người thuộc hộ cận nghèo nhằm mục đích nhằm hỗ trợ miễn phí 100% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo để người nghèo được khám, chữa bệnh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người
nghèo
Chính sách hỗ trợ giáo dục: Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho hộ nghèo
hiện nay thực hiện theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ và Nghị định 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy
Trang 25định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm
2014-2015, có hiệu lực thực hiện từ 01/9/2013
Chính sách hỗ trợ về trợ giúp pháp lý:
Trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ pháp lý như: tư vấn pháp luật, hòa giải, đại diện, bào chữa, kiến nghị miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật nhằm giải toả vướng mắc pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật để họ tự mình biết cách ứng xử phù hợp với pháp luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Chính sách hỗ trợ về trợ giúp pháp lý, cụ thể được Quốc hội nước CHXHCN
Việt Nam ban hành Luật trợ giúp pháp lý ngày 29/6/2006, Chính phủ đã ban hành: Quyết định số 52/2010/QĐ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn 2011 – 2020; Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 phê duyệt Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và Quyết định 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu
số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 – 2020
Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững theo Quyết định số 1489/2012/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ:
Mục tiêu là: “Cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo
ở các vùng nghèo; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”
Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên:
Với sự hỗ trợ từ Ngân hàng thế giới (NHTG), Chính phủ Việt Nam thực hiện
Trang 26Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên (GNTN) dưới hình thức một dự án phát triển cộng đồng từ năm 2014 đến năm 2019 ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên của Việt Nam Dự án tập trung vào 130 xã, thuộc 26 huyện nghèo của 6 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam và Quảng Ngãi nhằm mục tiêu nâng cao mức sống thông qua cải thiện cơ hội sinh kế tại các xã nghèo của dự án
Mục tiêu phát triển của Dự án là cải thiện cơ hội sinh kế cho các hộ nghèo và cộng đồng ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam thông qua: cải thiện khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ bản ở cấp cộng đồng, đặc biệt là liên quan đến sản xuất nông nghiệp và khả năng tăng thu nhập; giải quyết khó khăn trong tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên và các cơ hội thị trường; và hỗ trợ đầu tư địa phương (từ cấp huyện trở xuống) để tăng cường sự liên kết
1.3 Nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.3.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
Muốn thực hiện một chính sách giảm nghèo bền vững thì yêu cầu các cơ quan từ Trung ương đến cấp cơ sở là xã, phường, thị trấn thì đều phải xây dựng Kế hoạch thực hiện theo từng nội dung: Tổ chức điều hành, cung cấp các nguồn vật lực, thời gian triển khai thực hiện, thực thi chính sách, kiểm tra, đôn đốc, điều chỉnh
kế hoạch thực thi chính sách do cơ quan có thẩm quyền các cấp thực hiện; Xây dựng nội quy, quy chế về tổ chức điều hành chính sách, trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hành của cá nhân, tổ chức tham gia, tổ chức điều hành chính sách, các biện pháp về khen thưởng, kỷ luật,
1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Giúp cho mọi người dân, đặc biệt là các đối tượng được thụ hưởng chính sách khi tham gia thực hiện sẽ hiểu rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu thực hiện của chính sách, về những chủ trương, đường lố đúng đắn của Nhà nước trong việc xây
dựng, thực thi chính sách để họ có ý thức và thực hiện tốt chính sách đã ban hành
Qua phổ biến, tuyên truyền chính sách giúp cho nhà điều hành, thực thi chính sách, trực tiếp nhất là cán bộ làm công tác chính sách có trách nhiệm trong tổ chức thực thi chính sách, nắm rõ tính chất qui mô,ý nghĩa và tầm quan trọng của chính sách để họ tích cực tìm kiếm các giải pháp thực hiện hiệu quả
1.3.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Trang 27Trong tổ chức thực thi chính sách, muốn chính sách có hiệu quả thì trong quá trình thực hiện cần phải có sự phân công rõ ràng, cụ thể, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ban, ngành và giữa các cấp Nếu sự phân công không rõ ràng,
sự phối hợp không đồng bộ sẽ dẫn đến chính sách thực hiện chậm, đùn đẩy trách nhiệm và thiếu đồng bộ, không hợp lý và kém hiệu quả, thực hiện sai
1.3.4 Duy trì chính sách
Là một yếu tố đảm bảo cho chính sách tồn tại, phát triển và phát huy được hiệu quả trong quá trình thực thi chính sách, do cần phải có đội ngũ cán bộ thực hiện, nguồn lực tài chính và công cụ quản lý đủ để thực hiện, duy trì chính sách
Trong quá trình thực thi chính sách, nếu gặp những khó khăn, thách thức do tác động của xã hội hay môi trường thực hiện chính sách thì cơ quan Nhà nước cần
sử dụng các công cụ quản lý tác động tạo môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi chính sách hiệu quả
1.3.5 Điều chỉnh chính sách
Trong quá trình triển khai thực thi chính sách thì cần phải có những điều chỉnh, bổ sung chính sách nhằm phù hợp với thực tiễn, yêu cầu quản lý nhằm để phát huy hiệu quả cao nhất của chính sách Do đó cơ quan nào ban hành chính sách
cơ quan đó có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách
Tuy nhiên trong quá trình thực thi chính sách thì có thể điều chỉnh biện pháp,
cơ chế thực hiện và các nội dung khác nhưng không được làm thay đổi những mục tiêu của chính sách, vì nếu thay đổi mục tiêu thì chính sách sẽ sai với mục đích xây dựng chính sách ban đầu và qua đây xem chính sách đã thất bại Quá trình này cần kiến thức, kỹ năng, tổng hợp kinh nghiệm trong thực tiễn để thực hiện và điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn
1.3.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
Để triển khai, thực thi chính sách có hiệu quả, phù hợp với thực tiễn thì trong quá trình thực hiện chính sách nhà quản lý cần theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách, qua đây kịp thời bổ sung và hoàn thiện chính sách, chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách
1.3.7 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách
Trang 28Đây quá trình đánh giá, kết luận về tính hiệu quả trong công tác chỉ đạo điều hành, chấp hành, thực thi chính sách của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm chính sách về chỉ đạo điều hành là các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở
Về thước đo đánh giá kết quả thực hiện chính sách đó là: hiệu quả chính sách đem lại, tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách của đối tượng thực thi và tham gia; ý thức chấp hành các quy định về cơ chế, biện pháp thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian quy định
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam
1.4.1 Những thuận lợi
- Công tác giảm nghèo trong nhiều thập kỷ qua luôn được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm và đặt lên vị trí hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điều này nhận thấy rõ qua các kỳ Đại hội Đảng về đường lối xây dựng đất nước, phát triển KT-XH đã không ngừng từng bước được bổ sung và hoàn thiện, việc tổ chức triển khai thực hiện từ trung ương đến địa phương từng bước đã phù hợp, đi vào cuộc sống, thể hiện được đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, phát huy được những mặt tích cực, tạo được môi trường, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển KT – XH của đất nước Qua đây, nhiều địa phương đã cụ thể hóa chiến lược phát triển riêng của địa phương mình phù hợp với thực tế, đẩy mạnh công tác chỉ đạo, lãnh đạo phát triển KT – XH, giải quyết thỏa đáng trong công tác xóa đói, giảm nghèo
- Về công tác dân tộc, nhất là trong đồng bào DTTS, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách thể hiện sự đoàn kết dân tộc, đồng thời đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống trong cộng đồng đồng bào DTTS Có thể nói vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn được Đảng ta xác định có một vị trí then chốt, chiến lược quan trọng trong sự nghiệp cách mạng nước ta Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản được nêu rõ trong Nghị quyết số 24-NQ/TW của
BCH Trung ương Đảng “Về công tác dân tộc: “Vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và
Trang 29đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng… với nội dung: Bình đẳng, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển” và tại Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng
định rõ Điều này đã được xác định rõ trong Hiến pháp và được thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội về quyền bình đẳng giữa các dân tộc Việt Nam Mặt bằng của dân trí ngày một được nâng lên, văn hoá xã hội được phát triển phong phú hơn, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của đồng bào lên một bước cao; bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc luôn được tôn trọng, giữ gìn và phát huy tốt Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của BCH Trung ương Đảng khóa IX cũng đã khẳng định:
“Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh – quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề
xã hội, thực hiên tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các DTTS ”; “Ưu tiên đầu tư phát triển KT-XH các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo tăng cường sự quan tâm, hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước” Và thực tế đã có nhiều chương trình chính sách
ưu tiên cho miền núi, cho đồng bào DTTS như các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững (30a, 135 ), Dự án giảm nghèo Tây Nguyên, chương trình tín dụng của Ngân hàng CSXH, Ngân hàng NN&PTNT
- Đảng, Nhà nước ta tiếp tục có nhiều ban hành, bổ sung và hoàn thiện các hệ thống chính sách nhằm hỗ trợ, đầu tư cho người nghèo, hộ nghèo, nhất là người đồng bào DTTS về tất cả mọi vấn đề về đời sống xã hội như: nhà ở, đào tạo nghề, y tế, giáo dục, chính sách an sinh xã hội, đất sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầng đây là những điều kiện cần thiết để giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững
- Sự thay đổi rõ rệt trong nhận thức đến hành động của các cấp ủy, chính quyền địa phương, Mặt trận và các Hội, Đoàn thể và đặc biệt là tàng lớp nhân dân, người thu hưởng các chính sách giảm nghèo đã từng bước được nâng cao, tạo sự đồng thuận trong xã hội Công tác giảm nghèo ngày càng huy động được nhiều nguồn lực xã hội hóa, triển khai ngày càng đồng bộ, hiệu quả hơn
- Đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ngày càng vững vàng về chuyên môn, tính chuyên nghiệp thể hiện rõ ở kết quả thực hiện, được thường xuyên bồi
Trang 30dưỡng, tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc có thể nói là lực lượng quan trọng trog công tác tham mưu, thực hiện có hiệu quả của chương trình xóa đói, giảm nghèo
1.4.2 Khó khăn, thách thức
- Sự khủng hoảng kinh tế thế giới là căn dịch tài chính mà các quốc gia trên thế giới đều bị tác động, trong đó có Việt Nam cũng không ngoài các quốc gia bị tác động về tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu hàng hóa, việc làm cho người lao động
kể cả thu hút đầu tư Đồng thời nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn và bất cập do đó đã ảnh hưởng đến qua trình phát triển KT – XH của đất nước và công tác xóa đói giảm nghèo cho những năm tiếp theo
- Điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, cơ sở hạ tầng ở vùng miền núi, vùng đồng bào DTTS còn khó khăn, vì vậy hầu hết về kinh tế xã hội ở miền núi phát triển còn chậm, nhiều địa phương còn lúng túng trong định hướng phát triển KT – XH, nhất
là việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác còn lạc hậu, chưa có sự đầu tư, còn mang tính tự cung, tự cấp, chưa trở thành sản xuất hàng hóa nên dẫn đến trong thực hiện công tác giảm nghèo gặp khó khăn, hiệu quả chưa cao
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hành hành của một số cấp, ngành còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là cấp cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, vùng đồng bào DTTS thể hiện nhiều yếu kém trong khâu tổ chức thực hiện, quản lý hay
giám sát, đánh giá chương trình giảm nghèo
1.5 Kinh nghiệm một số địa phương về giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số
1.5.1 Huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam
Huyện Bắc Trà My được tái lập từ huyện Trà My theo Nghị định số
72/NĐ-CP ngày 20.6.2003 của Thủ tướng Chính phủ gồm 12 xã và một thị trấn với tổng số
80 thôn, trong đó có 8 xã nằm trong vùng đặc biệt khó khăn, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 4.952 hộ với 22.407 người, chiếm tới 52,8% dân số
Huyện Bắc Trà My đã thực hiện nhiều giải pháp để xóa đói giảm nghèo, trong đó đặc biệt là chính sách cho đồng bào DTTS đã đạt những thành tựu rất quan trọng Cụ thể với các chính sách giảm nghèo bền vững như:
Trang 31- Chính sách hỗ trợ cán bộ giảm nghèo cấp xã: Trong năm 2012, đã hỗ trợ
45.708.000 đồng cho 13 cán bộ cấp xã, thị trấn theo Quyết định số 2323/QĐ- UBND của tỉnh Quảng Nam
- Chính sách hỗ trợ về y tế cận nghèo, hộ đồng bào DTTS: Hỗ trợ mua và
cấp thẻ BHYT cho 2.814 người với tổng kinh phí 931.011.300 đồng
- Chính sách hỗ trợ về giáo dục, trong đó đặc biệt quan tâm học sinh là con
em đồng bào DTTS: 196 học sinh, sinh viên được hỗ trợ 50% học phí với tổng kinh
phí 155.817.000 đồng
- Triển khai chương trình Cán bộ đảng viên huyện Bắc Trà My đồng hành cùng người nghèo: với 105 đơn vị tham gia đã hỗ trợ được hơn 45 triệu đồng tiền mặt, 01 nhà kiên cố mới, 09 con bò giống, 37 con heo giống, 60 con gà giống, 12.000 cây keo lai, 250 cây gió, 140 cây chuối
Với những chính sách trên của tỉnh Quảng Nam và huyện Bắc Trà My, Quảng Nam, trong quá trình thực hiện các chương trình giảm nghèo bền vững cho người dân tộc thiểu số ở huyện Bắc Trà My, huyện đã huy động được sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, toàn xã hội vào công tác giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo ngày càng giảm Nhận thức của người nghèo về tự thoát nghèo ngày càng được cải thiện Người nghèo ngày càng tiếp cận được các dịch vụ xã hội như vốn, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, kỹ năng Đại bộ phận người nghèo được quan tâm hỗ trợ về vật chất và động viên về tinh thần
1.5.2 Tỉnh Kon Tum
Kon Tum là tỉnh giáp với huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nên có nhiều đặc thù như địa hình, khí hậu, tỉ lệ dân tộc thiểu số tương tự như huyện Ba Tơ nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nói chung Trong những năm qua, tỉnh Kon Tum đã có nhiều chính sách quan tâm đến công tác giảm nghèo, nhất là các chính sách đối với người đồng bào DTTS Với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp và
sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của đồng bào các dân tộc trong tỉnh, kết quả đã làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn vùng dân tộc và miền núi, cụ thể:
- Mở dạy các lớp dạy nghề trong lao động nông thôn, ưu tiên đối tượng là con em đồng bào DTTS, đồng thời kết nối với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh
để tuyển dụng lao động Do đó, những năm qua, đời sống vật chất và tinh thần của
Trang 32đồng bào được nâng lên từng bước, trong 5 năm qua (2011-2015), số lao động được
giải quyết việc làm là 29.017 người; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 35,8% năm
2011 lên 42% năm 2015; tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 4,62%/năm, từ 33,36% năm 2011 xuống 10,26% cuối năm 2015
- Đầu tư đồng bộ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong tỉnh, ưu tiên cho các tuyến đường giao thông huyết mạch về trung tâm hành chính các xã, huyện miền núi Vì vậy kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong tỉnh thay đổi rõ rệt: 100% xã
có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% xã được sử dụng điện lưới quốc gia với trên 98,4% số hộ được sử dụng điện
- Đẩy mạnh sản xuất nông lâm nghiệp vùng dân tộc và miền núi, hình thành những vùng chuyên canh, trang trại sản xuất hàng hóa tập trung Những nơi khó khăn đang được quy hoạch, sắp xếp lại, hỗ trợ sản xuất và đời sống giúp đồng bào DTTS định canh định cư
- Công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số thường xuyên được quan tâm, có nhiều tiến bộ: đến nay 100% số xã có trường học kiên cố, 8/10 huyện, thành phố có
trường Dân tộc nội trú Cơ sở vật chất, trường lớp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
xã, thôn đặc biệt khó khăn được quan tâm đầu tư, nâng cấp, bảo đảm đáp ứng tốt cho việc dạy và học
- Nâng cao chất lượng Y tế cơ sở, nhất là vùng đồng bào DTTS được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, đồng bào nghèo được khám chữa bệnh miễn phí
và chính sách bảo hiểm y tế Qua đây mạng lưới y tế cấp xã được củng cố và tăng
cường, tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ tăng từ 55,7% năm 2009 lên 95,87% năm 2013 và 100% năm 2015, có 100% số thôn có cán bộ y tế thôn Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 82,3% năm 2011 lên 84,2% năm 2014 Thực hiện triển khai tốt các chính sách khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế
Thông qua các chương trình, chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững được đầu tư đã góp phần to lớn trong việc giúp tỉnh Kon Tum thực hiện tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển trong vùng đồng bào DTTS Do đó lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở các huyện, xã miền núi thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS luôn được phát triển ổn định, bền vững, thu hẹp khoản cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, nhất là trong cộng đồng
Trang 33người DTTS Vì vậy, đời sống đồng bào các DTTS ở tỉnh đã không ngừng phát triển, kinh tế hộ gia đình vươn lên ngày càng ổn định bền vững, bộ mặt nông thôn vùng đồng bào DTTS, miền núi đang đổi sắc, thay da từng ngày
1.5.3 Tỉnh Đắk Nông
Tỉnh Đắk Nông, đến hết năm 2017, tổng số hộ nghèo trên địa bàn tỉnh là 25.144 hộ với 112.150 nhân khẩu, chiếm 16,57% dân số So với năm 2016, tổng hộ nghèo ở Đắk Nông đã giảm 2,63%, trong đó hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giảm 9,34% Như vậy, kết quả giảm nghèo năm 2017 vượt chỉ tiêu mà Nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra là phấn đấu giảm 2% hộ nghèo, hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ giảm 4% trở lên so với năm trước Các giải pháp để đạt được mục tiêu giảm nghèo của Tỉnh Đắk Nông trong đồng bào DTTS là:
- Hỗ trợ học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số: thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo
giai đoạn 2016 -2020; chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Đắk Nông giai đoạn
2016 -2020
- Hỗ trợ lãi suất cải thiện nhà ở, nhà tiêu hợp vệ sinh, hỗ trợ lãi suất phát triển sản xuất, bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo cho đồng bào DTTS tại chỗ
- Ngoài ra, tỉnh huy động được gần 52 tỷ đồng từ các nguồn vốn khác nhau
để thực hiện công tác giảm nghèo bền vững, đặc biệt là đối tượng đồng bào DTTS
Kết luận Chương 1
Qua chương 1, cho chúng ta thấy được tổng thể và cơ bản nhất về những vấn
đề lý luận chung trong thực hiện các chính sách chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững ở Việt Nam Bản thân đã làm rõ một số vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam bao gồm các khái niệm có liên quan như, chuẩn nghèo và đo lường nghèo; chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo; các Chính sách giảm nghèo; chủ thể và đối tượng chính sách giảm nghèo bền vững; thể chế chính sách giảm nghèo bền vững; đánh giá những thuận lợi và thách thức khó khăn ảnh hưởng đến công tác giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, đồng thời nêu lên kinh nghiệm một số địa phương
về thực hiện tốt chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số
để học hỏi kinh nghiệm
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Chủ trương và chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi
2.1.1 Chủ trương giảm nghèo bền vững nói chung và đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Tỉnh Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc khu vực duyên hải miền Trung, có 14
đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố gồm 01 thành phố và 13 huyện (trong đó
có 06 huyện miền núi, 01 huyện trung du, 05 huyện đồng bằng và 01 huyện đảo);
với dân số hơn 1,2 triệu người Trong những năm qua, đời sống về vật chất và tinh thần của người dân đã không ngừng được cải thiện và nâng lên cao đáng kể Được
sự quan tâm của Chính phủ, bộ, ngành nên công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Những năm qua, trong công tác tổ chức thực hiện chính sách luôn được Đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Ngãi thường xuyên quan tâm và chỉ đạo, lãnh đạo trong tỉnh Trong đó tỉnh đã cụ thể hóa từ các Nghị quyết của Đảng, của Chính phủ, các chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo bền vững đã được Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương ban hành Để thực hiện đúng theo quan điểm, định hướng mà các chính sách về giảm nghèo bền vững của Đảng và Chính phủ đã đề ra, trong những năm qua Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch của tỉnh để chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nghèo nhanh, bền vững trong toàn tỉnh
Trong thời gian qua, công tác XĐGN của tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những kết quả cao, như:
Năng lực tổ chức, ý thức thực hiện XĐGN được nâng lên cả trong cán bộ,
Trang 35đảng viên và cộng đồng dân cư Các chính sách giảm nghèo của Nhà nước, các dịch
vụ sản xuất và dịch vụ xã hội cơ bản thì hầu hết các hộ dân ở huyện miền núi, nhất
là các hộ nghèo đồng bào DTTS đều được tiếp cận và thụ hưởng
Các chính sách XĐGN mới như các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, giúp cộng đồng đồng bào DTTS có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tốt Trong đó tỉnh đã ưu tiên bố trí các nguồn vốn cho đầu tư xây dựng các công trình, hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập đã có tác động tích cực đến đời sống và phuoeng thức sản xuất của người nghèo
Bộ mặt ở nông thôn miền núi tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là về điện, giao thông, thủy lợi, cải thiện về nhà ở, các công trình trường học, trạm y tế, qua đây đã nâng cao đáng kể mức độ hưởng thụ, trình độ dân trí cho người dân nghèo, người đồng bào DTTS
Hầu hết trình độ nhận thức, thực hiện các chính sách giảm nghèo và kiến thức trong sản xuất của hộ nghèo được nâng lên rõ rệt, nhất là hộ đồng bào DTTS
do họ được hỗ trợ trực tiếp trong sản xuất, như được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, hỗ trợ cây, con giống, phân bón, chuồng trại, do đó đã góp phần thay đổi tích cực trong tập quán canh tác và chăn nuôi của người dân
Trong công tác giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng luôn được đẩy mạnh, góp phần tạo điều kiện cho một bộ phận hộ nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống, đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững Ngoài ra để góp phần ổn định công tác cán bộ ở các xã nghèo, giúp cấp xã tổ chức triển khai, thực hiện tốt hơn các chương trình mục tiêu, chính sách, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, cấp tỉnh, huyện đã đẩy mạnh chính sách tăng cường cán bộ về xã và đảm nhiệm vị trí lãnh đạo như cán bộ nguồn, Đề án 600 trí thức trẻ
Song song với những kết quả đã đạt được, trong tỉnh vẫn còn những hạn chế, tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo như: tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh vẫn còn cao
so với tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước (cuối năm 2016 còn 13,06%, cả nước 5%) Trong đó, hộ nghèo là người đồng bào DTTS ở các huyện miền núi vẫn còn chiếm khá cao với 25.392 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 41,93% tổng số hộ đồng bào DTTS Về
cơ chế quản lý, điều hành nguồn vốn các chương trình trong công tác xóa đói giảm nghèo, chưa đồng bộ giữa ngành và địa phương nên khó theo dõi thực hiện Về
Trang 36công tác tài chính chưa thật sự tự chủ trong xây dựng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, nguyên nhân là trong công tác chỉ đạo điều hành còn lúng túng, phối hợp chưa nhất quán Thực hiện việc theo dõi chỉ đạo, đánh giá và tổng hợp báo cáo còn chậm,
do chế độ thông tin báo cáo chưa kịp thời, thiếu tính chính xác Nhiều chính sách hỗ trợ cho người đồng bào DTTS chưa được phát huy hiệu quả như hỗ trợ đất sản xuất,
về phương tiện và khoa học công nghệ Việc lựa chọn các công trình đưa vào danh mục đầu tư với quy mô lớn nhưng còn bố trí thiếu vốn, dẫn đến việc lập các thủ tục
bị chậm, phải điều chỉnh chuyển đổi danh mục đầu tư nhiều lần, nên ảnh hưởng đến công tác giải ngân không kịp thời Nhiều huyện, xã còn lúng túng trong việc xây dựng phương án và nhu cầu hỗ trợ sản xuất để có cơ sở cấp vốn, do đó dẫn đến việc thực hiện cấp vốn sự nghiệp để mua cây, con giống hỗ trợ sản xuất cũng còn chậm Chưa có quy định, định mức rõ ràng về hỗ trợ vốn các chương trình giảm nghèo Trong công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, nhất là người đồng bào DTTS thực hiện chưa tốt, thiếu tính thường xuyên, một phần cũng vì người dân ít quan tâm tham gia đăng ký học Về nội dung, chương trình đào tạo nghề còn nặng về lý thuyết, ít thực hành và chưa thực sự phù hợp với trình độ nhận thức của lao động DTTS, còn một số quy định, định mức về hỗ trợ như tiền ăn, tiền đi lại… có lúc chưa phù hợp Trong thực tế đời sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn, thu nhập còn thấp, trình độ dân trí còn hạn chế, tình trạng lao động còn thiếu việc làm, nhất là lao động nông thôn còn cao, vì vậy trong thời gian qua tỷ lệ hộ nghèo tuy có giảm nhưng chưa thật sự vững chắc
Có thể khẳng định nguyên nhân của các vấn đề trên một phần là do các chính sách, chương trình giảm nghèo chưa thật sự phù hợp với từng nhóm đối tượng đặc thù, nhất là người đồng bào DTTS Đối với công tác kiểm tra, rà soát và đánh giá chính sách chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục Ngoài ra nhận thức của một
bộ phận người đồng bào DTTS còn chưa đầy đủ về các chính sách giảm nghèo hoặc chưa có ý thức, nỗ lực vươn lên tự thoát nghèo, còn tâm lý tự ti, mặc cảm, hạn chế
về ngôn ngữ; vẫn còn tính trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, nguyên nhân
là được hưởng quá nhiều chính sách hỗ trợ Ngoài ra nạn tảo hôn, sinh nhiều con,
mê tín dị đoan hay tâm lý bảo thủ, cổ hũ giữ một số phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn diển ra trong cộng đồng người DTTS
Trang 37Tại Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX, tiếp tục để thể hiện sự quyết tâm trong công tác XĐGN của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục quan điểm của Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh
khóa trước và gắn với yêu cầu chuyển sang nghèo đa chiều, là “Thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm và giảm nghèo” và “Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp
đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách và người nghèo”
Đồng thời Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số 135/QĐ-UBND ngày 13/02/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 -
2020 Mục tiêu của chương trình này là: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều
kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), góp phần hoàn thành
mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIX và Nghị quyết số 19/2015/NQ-HĐND ngày 14/12/2015 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-
Trang 38mạnh phát triển kinh tế-xã hội, phấn đấu giảm nghèo nhanh và bền vững ở 6 huyện miền núi của tỉnh giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 Theo đó, mục tiêu đến năm 2020 là tập trung phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện giảm nghèo bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc; bảo vệ môi trường sinh thái; bảo đảm quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020 có 05/06 huyện miền núi thoát khỏi tình trạng huyện nghèo
Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi khóa XII, tại kỳ họp thứ 4 đã thông qua
và ban hành Nghị quyết số 37/2016/NQ-HĐND ngày 14/12/2016 của HĐND tỉnh khóa XII - kỳ họp thứ 4 về việc thông qua Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016- 2020
UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số 135/QĐ-UBND, ngày 13/02/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 - 2020
2.2 Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua
2.2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Huyện Ba Tơ nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ngãi, là một huyện miền
núi Phía đông giáp huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi); phía tây và tây nam giáp
huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum và huyện K’Bang của tỉnh Gia Lai; phía nam
và đông nam giáp huyện An Lão của tỉnh Bình Định; Phía bắc giáp các huyện
Minh Long, Sơn Hà (tỉnh Quảng Ngãi); phía đông bắc giáp huyện Nghĩa Hành (tỉnh Quảng Ngãi); Với tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 113.669,52 hécta,
chiếm 1/5 tổng diện tích của toàn tỉnh Quảng Ngãi
Huyện Ba Tơ bị chia cắt bởi nhiều đồi núi, thung lũng và sông suối, do đó địa hình hết sức hiểm trở và phức tạp Trong đó đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao hiểm trở nối liền với các huyện miền núi xung quanh như núi Cao Muôn, liền chân với các với dãy Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum và núi Lớn của huyện Mộ Đức, núi Ba Huyện (nằm giữa 03 huyện: Ba Tơ, Nghĩa Hành và Đức Phổ), dãy núi ở các huyện Sơn Hà, Minh Long (Quảng Ngãi)
Trang 39Về đơn vị hành chính, Ba Tơ có 20 xã, thị trấn, có 119 thôn (trong đó 112 thôn và 07 tổ dân phố), với 216 khu dân cư Trong đó có 14 xã, thị trấn thuộc an toàn khu và diện xã đặc biệt khó khăn (theo Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ), là các xã: Ba Chùa (ATK), Ba Động (ATK),
Ba Bích, Ba Điền, Ba Giang (KV3 và ATK), Ba Khâm, Ba Lế, Ba Nam, Ba Ngạc,
Ba Tiêu, Ba Thành (KV3 và ATK), Ba Trang, Ba Vinh (KV3 và ATK), Ba Xa
Huyện Ba Tơ có 14.604 hộ, với 58.151 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu
số Hrê chiếm 82,7%, còn lại 16,3% là dân tộc Kinh và một số dân tộc khác Mật độ dân thưa 48,95 người/km2 sống tập trung tại Thị trấn Ba Tơ và xã Ba Vì, xã Ba Đông
Dân cư trong huyện được phân bố và sinh sống không đồng đều giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở các xã vùng cao, vùng xa, trong đó người Hrê sinh sống
lâu đời nhất ở huyện và thường được gọi là Hrê (ngọn nguồn) Người Hrê thường
sống dọc ven suối, sườn núi hoặc gắn liền với các cánh đồng ruộng bậc thang theo từng làng, thôn hoặc tổ từ vài hộ đến vài chục và vài trăm hộ dân sinh sống quay quần bên nhau Họ sống chủ yếu là phát triển trồng cây keo, cây lúa nước hoặc trồng lúa rãy Người Hrê có một bản sắc văn hóa riêng biệt trong sinh hoạt, cuộc sống và phát triển kinh tế như: làm nhà sàn, nghề đan lát, dệt thổ cẩm, các lễ hội truyền thống, văn nghệ dân gian, trang sức, trang phục truyền thống của người Hrê
Huyện Ba Tơ trong những năm qua luôn gặp rất nhiều khó khăn, nhất là dân
số có hơn 70% sống bằng nghề nông, hơn 83% là người đồng bào DTTS có trình
độ dân trí còn hạn chế, điều kiện địa lý còn phức tạp, khó khân Tuy nhiên được
sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và Nhà nước cùng với tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc trong huyện, nên trong thời gian qua nền kinh tế huyện nhà
đã có những chuyển biến theo hướng tích cực và đem lại nhiều thành công
Về kinh tế, nhất là trong năm 2010 đến nay huyện đã có bước phát triển khá,
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân được đẩy mạnh đầu tư Hiện nay, trong phát triển kinh tế của huyện chủ yếu là lâm nghiệp, là trồng cây nguyên liệu, phát triển nhất là cây keo, ngoài ra tại một số xã, thị trấn trong huyện quy hoạch vùng trồng cây mì, mía Do đó đời sống vật chất và tinh thần của người dân dần được cải thiện và nâng lên đáng kể Trên địa bàn huyện về tình hình an
Trang 40ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong thời gian qua luôn luôn được giữ vững
và ổn định Điều kiện sống hưởng thụ, công tác chăm lo đến sức khỏe, đời sống cho nhân dân dần được nâng lên, nhất là trong lĩnh vực văn hóa - xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực, mạnh mẽ Đặc biệt, đó là công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và mạnh mẽ, các hộ nghèo đều được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách giảm nghèo của Nhà nước, nhất là có cơ hội nhiều hơn để tiếp cận các dịch vụ sản xuất, tăng thu nhập và dịch
vụ xã hội cơ bản; từ năm 2013 đến 2017 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện bình quân hằng
năm giảm 5,6%/năm, đạt chỉ tiêu kế hoạch (chỉ tiêu kế hoạch từ 4%-7%), về cơ bản
huyện đã xoá được hộ đói kinh niên
Là một huyện miền núi nên huyện Ba Tơ có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, trình độ dân trí còn hạn chế; vẫn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu; Theo Nghị quyết 30a của Chính phủ thì huyện Ba Tơ vẫn thuộc diện huyện nghèo
Hiện nay, trong toàn huyện về độ tuổi lao động có 30.036 lao động nằm trong độ tuổi và chiếm 54,28% tổng dân số toàn huyện Về lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp có 23.220 người, chiếm tỷ lệ cao nhất là 77,30%; ngoài ra lượng lao lao động trong lĩnh vực thủ công, tiểu thủ công nghiệp và làm việc tại gia đình có 1.121 người, chiếm 3,73%; lượng lao lao động trong lĩnh vực công nghiệp có 1.910 người, chiếm 6,35%
Ba Tơ là một huyện miền núi nên thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lũ, tỉ lệ người dân tộc Hrê chiếm 82,7%, Kinh tế - xã hội, tốc độ tăng trưởng chậm, bình quân 13,8%, thu nhập bình quân đầu người là 18,5 triệu đồng, nên đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao So sánh với mặt bằng chung của toàn Tỉnh, kinh tế huyện Ba Tơ còn nhiều khó khăn, tỷ trọng đóng góp về giá trị sản xuất cho Tỉnh còn hạn chế, mức sống của người dân còn thấp so với mức bình quân chung của Tỉnh nhà
2.2.2 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
UBND huyện Ba Tơ đã thành lập Ban Chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia huyện Ba Tơ giai đoạn 2016 - 2020 tại Quyết định số 99QĐ-UBND ngày 14/02/2017; xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm