Thời đại công nghệ thông tin phát triển nên một số ít người Việt trong đó có học sinh còn chưa chú ý trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình mà sử dụng tiếng Việt một cách “lai căng”, pha tạp….điều đó làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt và chất lượng học tập của các em không được cao. Hơn nữa, dạy văn là dạy làm người, dạy cho học sinh luôn hướng tới “chân, thiện, mĩ”, học sinh được hoàn thiện nhân cách, đồng thời dạy cách nói, cách viết sao cho đúng và hay. Vì lẽ đó nhiệm vụ của người dạy văn là rất quan trọng. Người giáo viên không chỉ truyền thụ cho học sinh kiến thức văn hóa phổ thông về văn học mà song song với nó là khả năng vận dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong cách nói, cách viết của học sinh. Để làm được điều đó người giáo viên phải chủ động trong việc nhận diện, tìm tòi ra những lỗi mà học sinh thường hay mắc phải giúp các em hoàn thiện năng lực viết văn không chỉ đúng mà còn hay. Các lỗi về chính tả là rất nhiều song những lỗi cơ bản sau là học sinh hay mắc phải nhất: Lỗi về thanh điệu; lỗi về vần; lỗi về phụ âm đầu; lỗi về dùng từ sáo rỗng… trong những lỗi thường gặp trên tôi nhận thấy lỗi về phụ âm đầu, về thanh điệu là các em mắc nhiều, thậm chí là thành hệ thống.
Trang 1PHÒNG GD-ĐT
TRƯỜNG THCS
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
“CÁCH KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HỌC TẬP TRONG MÔN NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 6”.
Môn: Ngữ văn
Tổ: Khoa học xã hội
Mã: 31
Người thực hiện:
Điện thoại:
Email:
, tháng 2 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Lời giới thiệu: 3
2 Tên chuyên đề: 4
3 Tác giả chuyên đề: 4
4 Chủ đầu tư tạo ra chuyên đề : 5
5 Lĩnh vực áp dụng chuyên đề: 4
6 Ngày chuyên đề được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 4
7 Mô tả bản chất của chuyên đề: 4
7.1.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu : 4
7.1.1 Đối tượng : 4
7.1.2 Phương pháp: 4
7.2 Các biện pháp thực hiện: 4
7.2.1 Đối với Giáo viên : 5
7.2.2 Đối với học sinh : 5
7.3 Cơ sở khoa học : 6
7.3.1 Cơ sở lí luận: 6
7.3.2 Cơ sở thực tiễn: 6
7.4 Các yêu cầu đối với học sinh và giáo viên: 7
7.4.1 Đối với học sinh: 7
7.4.2 Đối với giáo viên: 7
7.5 cách khắc phục lỗi chính tả nhằm nâng cao chất lượng học tập trong môn ngữ văn của học sinh lớp 6 7
8 Những thông tin cần được bảo mật : 13
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng chuyên đề: 13
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng chuyên đề: 13
10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng chuyên đề theo ý kiến của tác giả: 13
10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng chuyên đề theo ý kiến của tổ chức, cá nhân: 14
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng chuyên đề lần đầu 15
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đại từ điển tiếng Việt,Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa-Thông tin,1999.
2 Tiếng Việt thực hành,NXB Giáo dục, 1995.
3 Từ điển chính tả tiếng Việt, NXB Văn hóa-Thông tin, 2000
4 Từ điển Tiếng Việt Hoàng Phê chủ biên, NXB Đà Nẵng, 2004
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU , ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
“CÁCH KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP
TRONG MÔN NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 6”.
1 Lời giới thiệu:
Ngày nay, đất nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới, điều đó đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam ta phải có ý thức nâng cao vai trò của bản thân trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng cách trau dồi kiến thức … Để hòa mình vào biển lớn nhân loại mà chúng ta không bị khuất lấp hay là bị hòa tan vào
đó, chúng ta luôn phải có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong đó
có Tiếng Việt của chúng ta, vì cha ông ta từng nói “ tiếng nói là thứ của cải vô cùng quý giá của dân tộc” Thời đại công nghệ thông tin phát triển nên một số ít người Việt trong
đó có học sinh còn chưa chú ý trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình mà sử dụng tiếng Việt một cách “lai căng”, pha tạp….điều đó làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt và chất lượng học tập của các em không được cao Hơn nữa, dạy văn là dạy làm người, dạy cho học sinh luôn hướng tới “chân, thiện, mĩ”, học sinh được hoàn thiện nhân cách, đồng thời dạy cách nói, cách viết sao cho đúng và hay Vì lẽ đó nhiệm vụ của người dạy văn là rất quan trọng Người giáo viên không chỉ truyền thụ cho học sinh kiến thức văn hóa phổ thông về văn học mà song song với nó là khả năng vận dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong cách nói, cách viết của học sinh Để làm được điều đó người giáo viên phải chủ động trong việc nhận diện, tìm tòi ra những lỗi mà học sinh thường hay mắc phải giúp các em hoàn thiện năng lực viết văn không chỉ đúng mà còn hay Các lỗi về chính tả là rất nhiều song những lỗi cơ bản sau là học sinh hay mắc phải nhất: Lỗi về thanh điệu; lỗi về vần; lỗi về phụ âm đầu; lỗi về dùng từ sáo rỗng… trong những lỗi thường gặp trên tôi nhận thấy lỗi về phụ âm đầu, về thanh điệu là các em mắc nhiều, thậm chí là thành hệ thống
Đó là lý do tôi chọn Sáng kiến kinh nghiệm “ Cách khắc phục lỗi chính tả nhằm nâng cao chất lượng học tập trong môn Ngữ văn của học sinh lớp 6” Với sáng kiến này tôi
mong muốn giúp học sinh khắc phục được những lỗi cơ bản nhất về chính tả nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn nói riêng và các môn học khác trong nhà trường
Trang 5nói chung Tôi muốn đưa ra một vài mẹo nhỏ để giúp các em nhớ và tránh lỗi sai thông thường nhất, và viết chuẩn tiếng Việt.
Nghiên cứu Sáng kiến kinh nghiệm này tôi chú ý đến đối tượng là học sinh trường THCS Lũng Hoà cụ thể là học sinh lớp 6A(Lớp do tôi trực tiếp giảng dạy )các em học sinh trong lớp đông, một nửa số học sinh có lực học Trung bình và một số em rất ngại học văn
2 Tên chuyên đề:
“CÁCH KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP
TRONG MÔN NGỮ VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 6”.
3 Tác giả chuyên đề:
- Họ và tên:
- Địa chỉ tác giả chuyên đề: Trường THCS
- Số điện thoại : E-mail:
4 Chủ đầu tư tạo ra chuyên đề:
5 Lĩnh vực áp dụng chuyên đề: Áp dụng vào môn Ngữ Văn 6
6 Ngày chuyên đề được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Chuyên đề này tôi áp dụng lần đầu: Năm học 2018 – 2019 ( Lớp 6A , 6D )
Lần 2 : Năm học 2019-2020 (Lớp 6A, 6D ).
7 Mô tả bản chất của chuyên đề:
Phần nội dung chuyên đề.
7.1.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu :
7.1.1 Đối tượng :
- Học sinh lớp 6 Trường THCS
.1.2 Phương pháp:
- Điều tra,chấm bài, phát hiện, nghiên cứu, phân tích, so sánh, nhận xét, đánh giá, tổng hợp …
7.2 Các biện pháp thực hiện:
Môn Ngữ văn là tổng hợp kiến thức của ba phân môn Văn học, Tiếng Việt,Tập làm văn.
Vì vậy :
Trang 67.2.1 Đối với Giáo viên :
Khảo sát bài viết của học sinh (bài kiểm tra 15 phút, 45 phút, kiểm tra học kỳ, vở soạn
và vở bài tập của học sinh) Tôi nhận thấy các em thường mắc các lỗi sau: lỗi phụ âm đầu; lỗi thanh điệu; lỗi kết hợp các chữ cái, lỗi không viết hoa tên riêng ….
7.2.2 Đối với học sinh :
Với sáng kiến này tôi mong muốn giúp học sinh khắc phục được những lỗi cơ bản nhất về chính tả nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn nói riêng và các môn học khác trong nhà trường nói chung Tôi muốn đưa ra một vài mẹo nhỏ để giúp các em nhớ và tránh lỗi sai thông thường nhất, và viết chuẩn tiếng Việt.
Nghiên cứu Sáng kiến kinh nghiệm này tôi chú ý đến đối tượng là học sinh trường THCS Lũng Hoà cụ thể là học sinh lớp 6A , 6D (Lớp do tôi trực tiếp giảng dạy ) các em học sinh trong lớp đông, một nửa số học sinh có lực học Trung bình và một số em rất ngại học văn
7.3.1 Cơ sở lí luận:
Từ xa xưa cha ông ta đã luôn có ý thức bảo vệ, quý trọng tiếng nói của dân tộc Kho tàng ngôn ngữ luôn được bồi đắp qua các thế hệ làm cho tiếng Việt ngày càng hoàn thiện, tiếng Việt ngày càng giàu và đẹp, từ nền văn học dân gian phong phú ta đã
có một nền văn học viết hiện đại đậm chất Việt Nam trong đó có thể kể tên các nhà văn lớn của chúng ta như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Tố Hữu….Điều đó khẳng định khả năng diễn đạt phong phú và trong sáng của tiếng Việt.
Kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của cha ông ta, ngày nay việc giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Bác Hồ từng
nói “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó ngày càng phổ biến và rộng khắp” Nhưng trong thực tế
sử dụng tiếng Việt ngoài việc phát âm chuẩn (khi nói), sử dụng từ ngữ chính xác, đúng ngữ pháp và phong cách cùng với việc sử dụng đúng chính tả nhiều khi chưa được các
em học sinh quan tâm Là một giáo viên dạy văn khi chấm bài kiểm tra mà các em học sinh mắc lỗi chính tả nhiều, tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở : làm thế nào để giảm bớt tình trạng này? Đây là một câu hỏi không phải là dễ có đáp án ngay trong ngày một ngày hai được, bởi giảng dạy ở một trường các em học sinh hầu hết đều ở nông thôn, các em ít có điều kiện tiếp xúc với sách báo, tài liệu tham khảo không nhiều, việc dành
Trang 7thời gian cho học tập là rất hạn chế vì các em còn phải phụ giúp cha mẹ kiếm sống Một số em học sinh có điều kiện hơn thì lại rất lười học, lười đọc, dẫn đến vốn từ vựng nghèo nàn Với sự phát triển của công nghệ thông tin, khi có điều kiện vào mạng, các
em thường hay quan tâm tới các trang mạng xã hội, các em học đòi theo các cách viết
“thời @” để thể hiện mình Vì vậy khi viết văn bản hiện tượng mắc lỗi chính tả còn nhiều, học sinh thường nói như thế nào thì viết như thế Một số em mắc lỗi chính tả là
do nhận thức, không phân biệt được nên viết thế nào cho đúng, nhưng cũng có em mắc lỗi do thói quen viết tùy tiện…
Xuất phát từ thực tiễn của học sinh, trong quá trình kiểm tra vở viết trên lớp, vở soạn bài, vở bài tập, chấm bài kiểm tra…số bài viết không đạt yêu cầu về chuẩn mực tiếng Việt ở lớp 6 chiếm một số lượng khá lớn Nguyên nhân chính là các em sai lỗi chính tả: nhầm lẫn giữa các phụ âm; dấu; dùng từ sai, xáo rỗng, lạc phong cách, diễn đạt lủng củng, thiếu lôgic, câu “câu cụt, câu què…” đây là một vấn đề cần khắc phục ngay đối với học sinh trường THCS Lũng Hoà nói chung và lớp 6 nói riêng.
Từ nhu cầu học tập của bản thân học sinh, giáo viên phải tìm ra những lỗi sai chính
tả phổ biến từ đó giúp các em biết những lỗi sai của mình mà tự có biện pháp, ý thức sửa chữa, hiểu và thấy được cái hay cái đẹp của tiếng Việt, thêm yêu tiếng Việt có khả năng sử dụng những hiểu biết đó để viết văn cho đúng, cho hay đồng thời góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
7.3.2 Cơ sở thực tiễn:
Từ thực tế trên, tôi mạnh dạn đưa ra những giải pháp khắc phục sau: đưa học sinh tuân thủ theo quy ước chung được trình bày trong từ điển, nhưng giáo viên phải đơn giản hóa, cụ thể hóa bằng những ví dụ cụ thể Để làm được điều này giáo viên phải tận tình và có hiểu biết để thông qua các giờ dạy học văn bản, giờ dạy Tiếng Việt, Tập làm văn trên lớp Mặt khác khuyến khích những học sinh có điều kiện mua từ điển, mượn của giáo viên hoặc thư viện nhà trường và tận dụng thời gian sử dụng chúng Đưa ra một số mẹo dễ nhớ, dễ hiểu bằng những ví dụ cụ thể sinh động Đồng thời thông qua các bài viết văn, giáo viên chấm chữa thật kỹ lưỡng, sau đó yêu cầu học sinh chữa lại vào phần sau của bài, khi chữa xong giáo viên thu lại kết quả học sinh đã chữa và nhận xét, nếu học sinh có tiến bộ trong các bài viết sau thì giáo viên có thể khuyến
Trang 8khích, động viên kịp thời những học sinh đó; trong giờ trả bài giáo viên chú trọng nhiều vào các lỗi học sinh hay mắc trong đó có lỗi chính tả và chữa cho học sinh
7.4 Các yêu cầu đối với học sinh và giáo viên:
7.4.1 Đối với học sinh:
Lỗi viết hoa là một trong những loại lỗi chính tả xuất hiện nhiều trong các bài viết của học sinh Lỗi viết hoa có hai kiểu nhỏ: viết hoa sai quy định và viết hoa tùy tiện.
Viết hoa sai quy định : Viết hoa các danh từ riêng, danh từ riêng là những từ chỉ sự vật, sự việc cụ thể như tên người, tên địa danh, khác với danh từ chung chỉ những sự vật, sự việc chung chung như cây cối, hoa lá, đất đai Khi viết các danh từ riêng cần viết hoa các chữ cái đầu tiên của các chữ, ví dụ như: Hà Nội, Phú Thọ, Lũng Hoà, Đoan Hùng….sông Hồng ,Trung Quốc, Lào ; tên người: Trần Văn Nga, Đỗ Anh Minh, Triệu Thị Mai Dung… Chú ý không được viết hoa tất cả các chữ cái: BỒ SAO, YÊN LẬP, TRIỆU THỊ MAI DUNG(chỉ viết hoa kiểu này khi nó là tiêu đề hay một mục lớn), hay chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của chữ đầu tiên và chữ cuối cùng như: Vĩnh Tường, Lưu văn lâm, Lưu văn Lâm….
Viết hoa tùy tiện: là viết hoa đơn vị từ vựng bình thường không nằm trong quy định chính tả về viết hoa: ví dụ: Chế độ Phong kiến tàn ác, chủ nghĩa Xã hội….
7.4.2 Đối với giáo viên:
Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng là một khái niệm rộng, với kiến thức và
hiểu biết còn hạn chế của cá nhân nên tôi không có tham vọng nêu tất cả những
gì liên quan tới quy tắc của tiếng Việt mà chỉ đưa ra một cách nhỏ để chữa lỗi
thường gặp cho học sinh “Cách khắc phục lỗi chính tả nhằm nâng cao chất lượng học tập trong môn Ngữ văn của học sinh lớp 6”
7.5.1 Hướng dẫn học sinh: “Cách khắc phục lỗi chính tả nhằm nâng cao chất lượng học tập trong môn Ngữ văn của học sinh lớp 6”:
Lỗi viết hoa là một trong những loại lỗi chính tả xuất hiện nhiều trong các bài viết của học sinh Lỗi viết hoa có hai kiểu nhỏ: viết hoa sai quy định và viết hoa tùy tiện.
Viết hoa sai quy định : Viết hoa các danh từ riêng, danh từ riêng là những từ chỉ sự vật, sự việc cụ thể như tên người, tên địa danh, khác với danh từ chung chỉ những sự
Trang 9vật, sự việc chung chung như cây cối, hoa lá, đất đai Khi viết các danh từ riêng cần viết hoa các chữ cái đầu tiên của các chữ, ví dụ như: Hà Nội, Phú Thọ, Lũng Hoà, Đoan Hùng….sông Hồng ,Trung Quốc, Lào ; tên người: Trần Văn Nga, Đỗ Anh Minh, Triệu Thị Mai Dung… Chú ý không được viết hoa tất cả các chữ cái: BỒ SAO , YÊN LẬP , TRIỆU THỊ MAI DUNG(chỉ viết hoa kiểu này khi nó là tiêu đề hay một mục lớn), hay chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của chữ đầu tiên và chữ cuối cùng như: Vĩnh tường, Lưu văn lâm, Lưu văn Lâm….
Viết hoa tùy tiện: là viết hoa đơn vị từ vựng bình thường không nằm trong quy định chính tả về viết hoa: ví dụ: Chế độ Phong kiến tàn ác, chủ nghĩa Xã hội….
7.5.2 Khắc phục lỗi nhầm lần giữa L và N; Ch và Tr; X và S; D,R và Gi
Học sinh thường hay nói ngọng, do vậy khi nói thế nào thì viết như vậy Để khắc phục lỗi này có cách sau:
7.5.3 Khắc phục lỗi nhầm lần giữa L và N
- Sửa lỗi nói ngọng, tập đọc ghép các từ: nỗi lòng, nặng lòng, nai lưng, năng lực, lá nón, lão nông…
- Dựa vào âm đệm: L: thông thường đứng trước các âm đôi (nguyên âm đôi) N thường không đứng trước các nguyên âm đôi Như vậy nếu đứng trước nguyên âm đôi thì viết
L và (uốn lưỡi đọc) đọc L Ví dụ: luyến tiếc, luyện tập, liên lụy…
- Dựa vào láy âm: Khi đứng ở vị trí thứ nhất trong từ láy, L có thể láy với các âm đầu khác, còn N ít có khả năng này: Ví dụ:
+ L láy với X: lao xao, lăng xa lăng xăng…
+ L láy với H: hay lam hay làm, loay hoay, lúi húi…
+ L láy với T: le te, lon ton, lúng túng…
+ L láy với B: lắp bắp, lạch bạch,……
+ L láy vơi V: lởn vởn, lặt vặt….
+ L láy với M: lan man, lơ mơ, liên miên….
Trang 10+ L láy với Ch: chói lọi, cheo leo, ……
+ N chỉ láy được với Gi: gian nan, gieo neo,…
7.5.4 Khắc phục lỗi nhầm lần giữa Ch và Tr.
- Sửa lỗi nói ngọng, tập đọc ghép các từ ví dụ: tranh chấp; chân trâu (chân con trâu), trân châu (ngọc trai quý), chạm trổ, chén mắt trâu….
- Dựa vào thanh điệu: ở từ Hán Việt những âm tiết mang dấu nặng (.) và dấu huyền (\) đều đi với Tr chứ không đi với Ch ví dụ: trịnh trọng, giá trị, trạm xá, trần thế, truyền thống….
- Dựa vào láy âm: khi không rõ nói (viết) Ch hay Tr nhưng có thể láy âm đầu với các
âm khác thì có thể viết Ch ví dụ: chơi bời, cheo leo, chi li…
- Dựa vào từ vựng: những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết Ch ví dụ: cha, chú, chị, chồng, cháu…Những từ chỉ đồ dùng trong gia đình cũng được viết Ch ví dụ: cái chạn, chăn, chiếu, chảo….(trừ trường hợp: cái tráp) Cây thực vật thân tre, gỗ viết bằng Tr ví dụ: tre, trúc…Cây thực vật không phải thân tre, gỗ viết ch ví dụ: chuối Cây thực vật thân tre gỗ ra hoa kết quả viết Ch ví dụ: chanh, chôm chôm…
* Cần phân biệt cặp: (1)Chuyện – Truyện: khi là danh từ chỉ các tác phẩm, viết truyện: truyện dài, truyện ngắn, truyện cổ tích, viết tự truyện…Khi chỉ hành động hoặc trạng thái của hành động, sự diễn ra của hành động viết chuyện: chuyện làm ăn, chuyện ngày xưa, chuyện đùa, nói chuyện… (2) Chuyền – Truyền: khi hành động, trạng thái hành động diễn ra có thể nhìn thấy vật thể chuyển động hoặc là danh từ thì viết Ch: bóng chuyền, bay chuyền, dây chuyền vàng, dây chuyền sản xuất…Khi hành động, trạng thái hành động diến ra không nhìn thấy vật thể chuyển động hoặc là sự thay đổi, chuyển động trừu tượng thì viết Tr: truyền máu, truyền sức mạnh, truyền nghề, truyền kiếp…
7.5.5 Khắc phục lỗi nhầm lần giữa S và X.
- Sửa lỗi nói ngọng, tập đọc ghép các từ ví dụ: sản xuất, sáo rỗng, sắp xếp, sâu xa, xấu
số, xuân sắc, xác suất, xuất sắc….