Đồng thời với việc nghiên cứu đặc trưng về cú pháp - ngữ nghĩa, chúng tôi còn xem xét một số vấn đề về câu cảm thán từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng để có thể nêu lên được các giá trị cơ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
CÂU CẢM THÁN TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội - 2004
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
CÂU CẢM THÁN TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
CÂU CẢM THÁN TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội - 2004
Trang 4ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
CÂU CẢM THÁN TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành : Lý luận ngôn ngữ
Trang 5V Cái mới của luận án
VI Cơ cấu của luận án
2.1.1 Các phương tiện biểu thị cảm thán trong câu cảm thán tiếng Việt
2.1.1.1 Từ cảm thán
a/ Vai trò của từ cảm thán trong việc tạo lập câu cảm thán
b/ Phân loại từ cảm thán trong tiếng Việt
c/ Mô tả vị trí, cách dùng từ cảm thán trong câu cảm thán
2.1.1.2 Các phương tiện biểu thị cảm thán khác
Trang 62.1.2.1 Phân loại câu cảm thán tiếng Việt theo cấu trúc cú pháp
2.1.2.2 Phân tích cấu trúc cú pháp của câu cảm thán tiếng Việt
110
110
111 a/ Kiểu loại 1: Câu cảm thán không có nòng cốt câu
b/ Kiểu loại 2: Câu cảm thán dùng từ cảm thán với cấu trúc câu:
"Từ cảm thán + NCC"
c/ Kiểu loại 3: Câu cảm thán có cấu trúc: "YCT + NCC"
d/ Kiểu loại 4: Câu cảm thán có cấu trúc: "NCC + YCT"
e/ Kiểu loại 5: Câu cảm thán có yếu tố cảm thán xen vào giữa
3.1 Vài nét mở đầu
3.1.1 Một số nét về lý thuyết tam phân trong ngôn ngữ học hiện đại
3.1.2.Sự cần thiết phải xem xét câu cảm thán từ góc độ ngữ nghĩa,
126
126
Trang 73.2.1 Mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của
câu cảm thán
3.2.1.1 Mối quan hệ tương ứng (đối xứng)
3.2.1.2 Mối quan hệ không tương ứng (phi đối xứng)
3.2.2 Các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau thể hiện qua
3.3.1 Các cặp đối lập tương ứng trong cảm thán
3.3.1.1 Cảm thán hiển ngôn và cảm thán hàm ngôn
3.3.1.2 Cảm thán chân và cảm thán nguỵ (cảm thán thật và
cảm thán giả)
3.3.1.3 Cảm thán hướng nội và cảm thán hướng ngoại
3.3.1.4 Cảm thán độc thoại và cảm thán đối thoại
3.3.1.5 Cảm thán đơn và cảm thán kép
3.3.2 Mối quan hệ giữa "cái chủ quan"và "cái thực tại
khách quan"
3.3.3 Vai trò của một số yếu tố đồng văn bản trong cảm thán
3.3.3.1 Vai trò của đồng văn bản kế cận câu cảm thán trong
việc tạo tiền đề cảm thán và lý giải cảm thán
Trang 8KẾT LUẬN 186
NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CẦN ĐƢỢC
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
CCT : Câu cảm thán
YCT : Yếu tố cảm thán NCC : Nòng cốt câu
Trang 101.2 Việc phân loại câu trong ngôn ngữ học cho đến nay cũng có nhiều quan điểm không thống nhất Có nhiều cách phân loại khác nhau tùy theo từng trường phái và dựa vào những tiêu chuẩn rất khác nhau Hiện nay có ba cách phân loại chính: dựa vào cấu tạo; dựa vào mối quan hệ với hiện thực; phân loại theo mục đích giao tiếp:
- Dựa vào cấu tạo để phân loại câu sẽ được hai kiểu loại: câu đơn và câu ghép
- Dựa vào mối quan hệ với hiện thực sẽ có hai kiểu câu: câu khẳng định
+ Câu nghi vấn: có mục đích nêu lên sự hoài nghi của người nói
và chờ đợi sự trả lời, giải thích của người tiếp nhận câu đó
+ Câu cầu khiến (câu mệnh lệnh): có mục đích nói lên ý chí của
Trang 11người nói bày tỏ ý mong muốn yêu cầu, đòi hỏi, bắt buộc người nghe thực
hiện điều được đặt ra trong câu
+ Câu cảm thán: có mục đích nói lên các tình cảm khác nhau của người nói, được dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khác thường của người nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hay ám chỉ
Tuy nhiên, trên thực tế, để vạch ra được ranh giới giữa câu cảm thán với các kiểu loại câu khác phân theo mục đích phát ngôn không phải là một vấn đề đơn giản và dễ dàng, bởi vì có những câu có dạng phủ định nhưng lại biểu thị ý khẳng định hoặc có những câu có dạng câu hỏi nhưng lại biểu thị ý cảm thán v v
Bất kỳ câu nào cũng có một mục đích ngôn trung nhất định, đồng thời cũng có những dấu hiệu hình thức riêng Vì vậy cách phân loại này không chỉ
là phân loại theo công dụng đơn thuần mà còn là cách phân loại theo công dụng và ngữ pháp
Hiện nay việc phân loại câu vẫn còn nhiều ý kiến rất khác nhau Thậm chí có ý kiến phủ định sự tồn tại độc lập của câu cảm thán trong tiếng Việt mặc dù thực tế nó vẫn tồn tại và có những dấu hiệu hình thức riêng biệt khác với các kiểu loại câu khác Vì vậy, đây cũng là một lý do khiến chúng tôi thấy cần nghiên cứu sâu về câu cảm thán tiếng Việt để khẳng định vị trí của nó trong hệ thống câu tiếng Việt
1.3 Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính điển hình Trong tiếng Việt, các ý nghĩa ngữ pháp như: thời, thể, số đều được thể hiện bằng các từ ngữ riêng biệt nằm trong một trật tự từ nhất định của cấu trúc Các từ ngữ, các yếu tố cảm thán trong cấu trúc tạo lập câu cảm thán cũng nằm trong những đặc trưng đó
Trang 121.4 Do đặc trưng của ngôn ngữ đơn, lập thanh điệu tính, do tác động của các yếu tố văn hoá nên tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm Các từ
cảm thán của tiếng Việt vừa phong phú về số lượng vừa đa dạng về khả năng biểu thị các cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu câu cảm thán trong tiếng Việt là một việc làm cần thiết, giúp ích cho việc nghiên cứu, học tập và sử dụng ngôn ngữ
1.5 Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, từ các tác phẩm văn học, nhất là truyện ngắn, thơ đến lời ăn tiếng nói hàng ngày, câu cảm thán, từ cảm thán đều được sử dụng với tần số cao, tạo nên một phong cách độc đáo của tiếng Việt
Do đó, việc nghiên cứu cách tổ chức câu cảm thán để biểu hiện hành vi cảm thán còn giúp cho việc tìm hiểu phong cách văn học của mỗi nhà văn, mỗi thể loại văn học; đồng thời giúp cho việc rèn luyện phong cách tu từ học
1.6 Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu vào miêu tả, phân loại, xác định câu cảm thán về mặt cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa Hơn nữa, việc nghiên cứu câu trên bình diện chức năng dụng học hiện nay đang là hướng được đẩy mạnh và có nhiều ý kiến thảo luận, tranh cãi Mặc dù vậy, cũng chưa có tác giả nào đi sâu khảo sát mặt dụng học của câu cảm thán Nghiên cứu theo hướng ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt thực hành cho người Việt Nam và cả cho người nước ngoài học tiếng Việt cũng chưa có công trình nào đáng kể
Tất cả những vấn đề trên đây có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tế trong việc hiểu và sử dụng câu cảm thán tiếng Việt
Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn: “Câu cảm thán trong tiếng
Việt” làm đề tài luận án của mình
II MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Trang 132.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm:
2.1.1 Khảo sát, mô tả và phân loại câu cảm thán trong tiếng Việt về cấu trúc
cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa Từ đó nêu lên những đặc trưng cơ bản về hình
thức cấu trúc và nội dung biểu hiện của câu cảm thán trong tiếng Việt Bởi vì cũng như khi nghiên cứu về câu nói chung, nhà ngôn ngữ học không thể chỉ coi trọng một mặt ngữ pháp hay ngữ nghĩa, không nên tách rời hình thức ra khỏi ý nghĩa
2.1.2 Đồng thời với việc nghiên cứu đặc trưng về cú pháp - ngữ nghĩa, chúng tôi còn xem xét một số vấn đề về câu cảm thán từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng để có thể nêu lên được các giá trị cơ bản của câu cảm thán trong tiếng Việt, giúp hiểu thấu đáo các nét sắc thái cảm thán được thể hiện trong câu cảm thán và hiểu sâu hơn tầm tác động của câu cảm thán trong hành chức 2.1.3 Từ tất cả các nghiên cứu đó, luận án khẳng định sự tồn tại độc lập của câu cảm thán trong tiếng Việt với những đặc trưng riêng biệt của nó cả về hình thức và nội dung, phân biệt với các kiểu loại câu khác trong tiếng Việt
2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nguồn tƣ liệu khảo sát:
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Với mục đích đã đặt ra, đối tượng nghiên cứu của luận án là các câu cảm thán và sự hoạt động của chúng trong các loại hình văn bản như: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, văn tế và trong khẩu ngữ v.v…
Cụ thể, chúng tôi khảo sát cả những câu cảm thán chính danh (dùng từ cảm thán )lẫn những câu cảm thán lâm thời (dùng các yếu tố cảm thán khác ngoài từ cảm thán như: phó từ, trợ từ , kết từ, từ gọi-đáp, từ tục, các dạng thức hỏi và phủ định đặc biệt biểu thị ý cảm thán.)
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 14Nghiên cứu về câu cảm thán tiếng Việt có thể nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực cả về ngữ pháp , ngữ nghĩa và ngữ dụng Trong mỗi lĩnh vực đó lại có thể
đi sâu nghiên cứu một vài vấn đề cụ thể Chẳng hạn, về ngữ dụng có thể phân tích chi tiết về hội thoại, về hành vi cảm thán, về các biểu thức cảm thán, về
hành động ngôn ngữ biểu lộ trong các hành vi cảm thán v.v
Mặt khác, cũng có thể mở rộng nghiên cứu đối chiếu, so sánh câu cảm thán trong tiếng Việt với câu cảm thán trong các ngôn ngữ khác Nhưng với những mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, với khuôn khổ của một luận án là một chuyên luận có tính tổng quan về câu cảm thán trong tếng Việt, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các khía cạnh có tính khái quát, hệ thống và cơ bản
về câu cảm thán trong tiếng Việt trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Trong đó, trọng tâm là vấn đề về hình thức cấu trúc của câu cảm thán tiếng Việt, từ đó có thể xem xét, nhìn nhận câu cảm thán từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng
Chúng tôi cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu câu cảm thán về mặt đồng đại và chưa đi sâu vào nghiên cứu mặt lịch đại của câu cảm thán Trong luận
án này chúng tôi cũng không tiến hành so sánh, đối chiếu một cách hệ thống giữa câu cảm thán trong tiếng Việt với câu cảm thán trong các ngôn ngữ khác
Chúng tôi hy vọng những kết quả nghiên cứu của luận án này sẽ là cơ
sở để chúng tôi có thể có những nghiên cứu tiếp theo sâu hơn, tỉ mỉ hơn về câu cảm thán trong tiếng Việt
2.2.3 Nguồn tư liệu khảo sát:
Đề tài nghiên cứu "Câu cảm thán trong tiếng Việt” là một đề tài rất
rộng, đòi hỏi nguồn tư liệu lớn Từ thế kỷ XV, chữ Nôm đã được sử dụng nhiều hơn và phát triển hơn trước đó Nhưng do phạm vi của luận án chỉ nghiên cứu câu cảm thán ở mặt đồng đại, nên chúng tôi đã chọn khảo sát tư
Trang 15liệu từ tiếng Việt hiện đại là chính và cơ bản là từ các tác phẩm văn học hiện đại Do lí do về thể loại, chúng tôi có tính đến việc so sánh đối chiếu với một
số văn bản cũ Chẳng hạn, trong thơ văn chữ Nôm, văn tế, các tác giả vẫn sử dụng những biểu thức cảm thán Ngoài ra chúng tôi còn thống kê các câu cảm thán từ trong các từ điển tiếng Việt phổ cập, từ các cuộc điều tra khảo sát khẩu ngữ
Từ nguồn tư liệu được lựa chọn đó, chúng tôi đã thống kê được 5126 câu cảm thán các loại để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận án này
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong thực tế sử dụng, do tần số xuất hiện của câu cảm thán ít hơn so với câu tường thuật nên chúng tôi phải tập hợp một số lượng dữ liệu lớn những câu cảm thán trong tiếng Việt Trên cơ sở đó, chúng tôi phân tích, phân loại và qui về các nhóm câu cảm thán có những đặc tính tương đồng để tiến hành mô tả câu cảm thán về phương diện hình thức, ngữ nghĩa và ngữ dụng
Từ đó rút ra những nhận xét có tính tổng hợp theo con đường qui nạp
Trong khi mô tả, chúng tôi tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu các loại cấu trúc để xác định các đặc trưng và ý nghĩa của câu cảm thán trong tiếng Việt
Sử dụng rộng rãi các thao tác cải biên, thay thế trong cấu trúc để phát hiện các đặc điểm và giá trị cơ bản của câu cảm thán tiếng Việt
Đó là những phương pháp và thủ pháp chính mà chúng tôi đã sử dụng trong nghiên cứu của mình
IV Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
4.1 Về mặt lý luận:
Trang 164.1.1.Luận án nghiên cứu câu cảm thán trong bối cảnh chung về câu, góp phần bàn bạc và thảo luận về câu cảm thán, về vấn đề xác định đặc trưng của câu cảm thán trong tiếng Việt
Quan điểm của chúng tôi là: Trong tiếng Việt, câu cảm thán là một kiểu câu tồn tại độc lập với những chức năng và đặc trưng riêng biệt của
nó, phân biệt với các kiểu loại câu khác
4.1.2.Nghiên cứu câu cảm thán tiếng Việt cho phép xác định rõ hơn bốn vấn đề sau đây:
- Khái niệm câu cảm thán trong tiếng Việt
- Cấu trúc của câu cảm thán tiếng Việt
- Cách thức nhận diện câu cảm thán về mặt hình thức, ngữ nghĩa
- Vị trí, vai trò của câu cảm thán với những hoạt động chức năng giao tiếp của nó trong hệ thống câu tiếng Việt hiện đại
4.2.Về mặt thực tiễn:
Đề tài luận án này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt thực hành cho học sinh, sinh viên Việt Nam cũng như cho người nước ngoài học tiếng Việt biết sử dụng tốt các câu cảm thán, các yếu tố cảm thán của tiếng Việt để diễn
tả chính xác cảm xúc của mình
Đồng thời, do xác định được các sắc thái tình cảm khác nhau được thể hiện q ua các câu cảm thán trong hệ thống ngôn ngữ nên có thể ứng dụng vào việc phân tích, cảm thụ hoặc sáng tác các tác phẩm văn học
Kết quả nghiên cứu cũng có thể bổ sung hoàn thiện các cuốn từ điển tiếng Việt về các từ cảm thán, câu cảm thán hoặc các sách công cụ dùng cho việc dạy tiếng Việt
Trang 17V CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN
5.1 Đây là một chuyên luận đầu tiên khảo sát có tính hệ thống và tỉ mỉ
về câu cảm thán trong tiếng Việt
5.2 Luận án khẳng định sự tồn tại của câu cảm thán trong tiếng Việt với
những đặc trưng riêng biệt của nó
5.3 Đưa ra một hệ thống các tiêu chí cơ bản để nhận diện câu cảm thán
tiếng Việt; chỉ rõ các phương tiện biểu thị cảm thán và cấu trúc ngữ pháp của
câu cảm thán tiếng Việt
5.4 Luận án đề cập đến phương diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu
cảm thán tiếng Việt Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về câu cảm thán trong
tiếng Việt
VI CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN:
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận án được chia thành ba
chương:
- Chương I: Tổng quan
(gồm 20 trang)
Nội dung chính của chương này là:
+ Điểm lịch sử nghiên cứu vấn đề
+ Khẳng định quan điểm: trong tiếng Việt có kiểu câu cảm thán tồn tại độc lập với các đặc trưng riêng biệt của nó
+ Xác định những khái niệm lí thuyết cơ bản liên quan đến
đề tài
- Chương II: Những đặc điểm về hình thức của câu cảm thán tiếng Việt
(gồm 88 trang) Nội dung chính của chương này là:
Trang 18+ Phân tích các phương tiện biểu thị cảm thán trong câu cảm thán tiếng Việt
+ Phân tích cấu trúc cú pháp của câu cảm thán tiếng Việt Qua đó đưa ra một hệ thống các tiêu chí cơ bản để nhận diện câu cảm thán trong tiếng Việt
- Chương III : Câu cảm thán - nhìn từ góc độ ngữ nghĩa và ngữ dụng
(gồm 60 trang) Trong chương này, chúng tôi đề cập đến một số vấn đề về phương diện ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu cảm thán để từ đó có cái nhìn
Trang 191.1.1 Nhóm các tác giả có đề cập đến vấn đề: “câu cảm thán” hay
“câu cảm xúc’ nhưng không xếp thành một loại câu riêng biệt, tồn tại độc lập trong hệ thống ngôn ngữ
1.1.1.1 "Gần đây, theo ý kiến của L.Bloomfield, có người không tách câu cảm thán ra thành kiểu câu riêng nằm trong cùng một bình diện với 3 kiểu câu kia Họ cho rằng 3 kiểu câu kia đều có thể là câu cảm thán khi đưa vào chúng những mức độ tình cảm khác nhau " [4, tr 224]
L.Bloomfield cho rằng: về phương diện cấu trúc, câu "là phạm vi lớn
nhất của những mối quan hệ ngữ pháp chính danh", và "là đơn vị được cấu tạo bằng những thành tố ngữ pháp …" [26, tr 12]
Nếu áp dụng quan điểm của L.Bloomfield vào phân tích tiếng Việt thì
rõ ràng câu cảm thán sẽ bị gạt ra ngoài danh sách các kiểu loại câu
Cao Xuân Hạo cũng cho rằng, định nghĩa này vẫn còn "những thiếu sót" và "dĩ nhiên có thể bổ sung thêm vào những đặc trưng ấy những đặc
trưng khác nữa, như "cái ấn tượng về sự trọn vẹn mà người bản ngữ thể nghiệm (Hagège 1982)" và "câu là phát ngôn tối giản … đứng về phương
Trang 20diện chủ quan (tức trên quan điểm của người nói) có tính chất trọn vẹn"
(Mathesius, 1936) [trích theo 26, tr 12]
Những điều bổ sung đó lại là cực kỳ quan trọng để phân tích và chứng minh cho sự tồn tại độc lập của câu cảm thán trong hệ thống câu của mỗi ngôn ngữ Bởi vì câu cảm thán là kiểu loại câu đặc biệt, "tính trọn vẹn" của nó nhiều khi được nhận ra là do dựa vào cảm thức của người bản ngữ
1.1.1.2 Hoàng Trọng Phiến, trong “Ngữ pháp tiếng Việt (Câu)"
(1980), đã “chia câu ra thành: câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến và câu than gọi” [38, tr 269] và ông “không cho câu cảm xúc là một loại câu Bởi lẽ cảm xúc
và cái ý nghĩa sắc thái tình cảm của chủ thể phát ngôn thì câu nào lại không có” [38, tr 269]
Nhưng trong cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" (1991), Hoàng
Trọng Phiến đã khẳng định sự tồn tại độc lập của câu cảm thán trong tiếng Việt:"Phân loại câu theo mục đích nói thì có 4 kiểu câu là: Câu tường thuật(câu kể),câu nghi vấn(câu hỏi), câu mệnh lệnh(câu cầu khiến), câu cảm thán(câu cảm).[39,tr.316-317]
1.1.1.3 Lê Cận, Phan Thiều (1983), trong "Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt" (tập 2), cho rằng: “các loại câu kể, câu hỏi, câu cầu khiến kèm theo ngữ
điệu cảm thán của người nói và (hoặc) kèm theo một trong số những đơn vị cảm thán đều có thể trở thành những câu cảm thán” [6, tr 256]
1.1.1.4 Theo Cao Xuân Hạo: “Câu cảm thán” chỉ là câu trần thuật có màu sắc cảm xúc được đánh dấu mà thôi” [26, tr 208] Ông đã dùng thuật ngữ: câu cảm thán đặt trong dấu “…” như là một cách “mượn từ” chứ không thừa nhận đó là tên gọi chính thức về một kiểu loại câu trong tiếng Việt
Ở một trang khác, ông lại viết: “Trong những câu có sắc thái cảm thán
thường trong phần thuyết có chứa đựng những từ cảm thán như: “thay”, “biết
bao”, “biết mấy” ….” [26, tr 90]
Trang 21Nhưng cũng chính trong cuốn sách này, đây đó ở nhiều chỗ, ông lại
viết về “câu cảm thán” như một kiểu loại câu tồn tại đương nhiên và đã được
công nhận Chẳng hạn:
Ông đã viết: “… những câu cảm thán có tính chất cố định như: “chết
cha!” [26,tr.94]
Khi nói về kiểu câu có trật tự ngược thuyết - đề, ông viết: “ … ở đây sở
dĩ nó (đề) đứng sau (thuyết) là vì cảm xúc khiến cho người nói có xu hướng nói ngay phần thuyết ra, như trong kiểu câu cảm thán…”[26,tr.92]
Ở một phần khác, ông lại viết: “… chẳng hạn như câu cảm thán có thứ
tự thuyết - đề như: “Cao quý thay hành động của các anh !”.[ 26,tr.183]
Khi nói về “câu nghi vấn có giá trị cảm thán”, ông viết: “… có nhiều
kiểu câu cảm thán sử dụng một hình thức nghi vấn …” [26,tr.224]
Như vậy, mặc dù cho rằng câu cảm thán chỉ là " câu trần thuật có đánh dấu" và không xếp nó vào một kiểu loại câu riêng khi phân loại câu theo mục đích giao tiếp, nhưng có lẽ, Cao Xuân Hạo vẫn còn phân vân về vấn đề này Điều đó chứng tỏ sự tồn tại thực sự của câu cảm thán và nó có một vị trí của riêng mình trong tiếng Việt đủ để các nhà nghiên cứu Việt ngữ học không thể không nhắc đến nó với tư cách là một kiểu loại câu riêng biệt với những đặc trưng riêng biệt
1.1.2 Nhóm các tác giả đã đề cập đến câu cảm thán như một kiểu loại câu tồn tại độc lập trong hệ thống ngôn ngữ:
1.1.2.1 Quan điểm của các tác giả nước ngoài và Việt Nam về vấn đề câu cảm thán trong một số tiếng nước ngoài:
- CT Onions (1969) đã công nhận: "Trong tiếng Anh, có 4 kiểu câu cơ
bản: câu khẳng định, câu mệnh lệnh, câu hỏi và câu cảm thán" [69, tr 3]
Trang 22- Dale E.Elliott (1971) đã viết: “Tôi muốn nêu lên rằng có một bộ các
câu có thể xác định về mặt ngữ pháp trong tiếng Anh mà tôi sẽ gọi là câu cảm thán" và “câu cảm thán trong tiếng Anh là kiểu câu có cú pháp và ngữ nghĩa
độc đáo, riêng biệt” [70, tr 231-232]
Dale E.Elliott cũng đã đưa ra và phân tích một số ví dụ về câu cảm thán trong tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Rumani, tiếng Đức , tiếng Nga, tiếng Thổ nhĩ kỳ, tiếng Trung Quốc , và tiếng Nhật Ông đã viết :" hình thức nhận diện có tính hình thái học xảy ra trong cả câu hỏi lẫn câu cảm thán" và "hiện tượng này đã xuất hiện trong 6 họ ngôn ngữ"[70,tr.244-245] Kết thúc chuyên luận của mình, Dale E.Elliott đã kết luận:" Những sự kiện được đưa ra trong tiếng Anh và những sự giống nhau đáng lưu ý trong các ngôn ngữ là đủ để giả định rằng : Lý thuyết chung về cấu trúc ngôn ngữ sẽ phải biện minh cho các đặc trưng ngữ nghĩa và cú pháp riêng biệt của cấu trúc câu cảm thán"[70,tr.246]
- John Eastwood (1994), trong cuốn: “Oxford Guide to English Grammar” đã xác nhận: “Câu cảm thán là loại câu nói với sự nhấn mạnh và tình cảm”[77, tr 24]
- Kersti Bửrjars và Kate Burridge (2001), trong cuốn "Introducing English Grammar” viết: “Câu cảm thán có cấu trúc rất đặt trưng” [78, tr
Trang 23- Bằng việc đưa ra phân tích cấu tạo ngữ pháp của một số ví dụ trong tiếng Pháp, Nguyễn Kim Thản cũng khẳng định có kiểu loại câu cảm thán trong tiếng Pháp Ông viết:
"Bất kỳ câu nào cũng có một mục đích nhất định Tuỳ theo từng ngôn ngữ, những câu có mục đích khác nhau như vậy có thể khác nhau ít nhiều về cấu tạo ngữ pháp Ví dụ trong tiếng Pháp:
- Il est grand (Nó lớn.) là câu tường thuật
- Est il grand? (Nó có lớn không?) là câu nghi vấn
- Qu’ il soil grand ! (Ước rằng nó lớn!) là câu cầu khiến
- Qu’ il est grand! (Sao mà nó lớn thế!) hay Combien il est grand! (Nó lớn biết bao!) là câu cảm thán; loại câu này vừa dựa vào sự thêm các hư từ, vừa dựa vào ngữ điệu"
[45,tr,507]
- Mai Ngọc Chừ và các tác giả khác (2001) trong cuốn "Các ngôn ngữ phương Đông" - (Nxb ĐHQG) đã khẳng định: trong tiếng Nhật, tiếng Hàn
Quốc, tiếng Malai cũng có câu cảm thán:
+ Trong tiếng Nhật: "Câu cảm thán có một số phương thức biểu thị chính sau:
a Biểu thị bằng thán từ đứng đầu câu như: [ma a],
[a a],
b Biểu thị bằng các trợ từ cảm thán ở cuối câu như:
[na a], [ne],
[11, tr 129]
+ Trong tiếng Hàn: Các tác giả đã đưa ra bảng phân loại câu
tiếng Hàn căn cứ theo các đuôi kết thúc câu, trong đó có câu cảm thán.[11, tr 263]
Trang 24+ Trong tiếng Melayu: các tác giả viết: "Câu cảm thán là câu thể hiện tình cảm, thái độ của người nói trước một hiện thực khách quan", kiểu: Borobudu indah sekali! (Borobudu đẹp
quá!) [11, tr 499]
v.v
Trong khuôn khổ một luận án, không thể nêu hết các ý kiến khẳng định
sự tồn tại của câu cảm thán trong các thứ tiếng trên thế giới nên chúng tôi chỉ điểm qua một số ý kiến có tính đại diện nêu trên Nhưng từ đó cũng đã có thể thấy được: Trong nhiều ngôn ngữ có một kiểu câu là câu cảm thán tồn tại độc lập với những đặc điểm về hình thức cấu trúc và chức năng riêng biệt của nó
1.1.2.2 Quan niệm của giới ngôn ngữ học Việt Nam về câu cảm thán
trong tiếng Việt:
Tiêu biểu là các tác giả sau: (chúng tôi giới thiệu theo năm xuất bản sách)
- Đinh Trọng Lạc (1964), Giáo trình Việt ngữ (tập 3, tu từ học), Nxb
Giáo dục, Hà Nội
- Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt (tập 2),
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
- Hoàng Trọng Phiến (1991), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb
Trang 25Các tác giả trên đều đã đề cập đến vấn đề dưới những tên gọi khác nhau như: “Câu cảm xúc, “câu biểu cảm”, “câu than”, “câu cảm thán” nhưng
dù khác nhau về cách gọi tên, song các tác giả đều đã đặt ra được các vấn đề sau:
a.Về khái niệm câu cảm thán
Xu hướng chung đều xuất phát từ mục đích, chức năng của câu để khẳng định:
- “Câu cảm thán là để biểu hiện những tình cảm khác nhau …” [30, tr
- "Câu cảm thán được dùng khi cần thể hiện riêng một mức độ nhất định của những tình cảm khác nhau hoặc thái độ của người nói" [40, tr 317]
v.v…
Có thể nói, các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm là: Câu cảm
thán có mục đích thể hiện cảm xúc, tình cảm, trạng thái tinh thần đặc biệt của
người nói
Trang 26b Về phân loại câu cảm thán, các tác giả đều xác nhận:
Câu cảm thán thể hiện tính đa dạng của tình cảm, cảm xúc, trạng thái
tinh thần của con người như: vui mừng, giận dỗi, yêu thương, căm ghét, phấn khởi, buồn chán, kinh ngạc, tuyệt vọng, đau đớn, thích thú, khinh bỉ, thán phục … nhưng hầu như các tác giả đều chưa đi sâu vào việc phân loại câu cảm thán và chưa đưa ra một hệ thống tiêu chí phân loại câu cảm thán
c Về các hình thức cấu trúc của câu cảm thán:
Các nhà nghiên cứu đều đã đưa ra các ý kiến sau:
*/ Về mặt ngữ pháp: trong giới Việt ngữ học vẫn còn chưa thực sự thống nhất ý kiến khi xác định vị trí của từ cảm thán trong hệ thống từ loại tiếng Việt
+ Câu cảm thán dùng các phương tiện tình thái khác như phó từ, trợ từ, tính từ (cảm xúc), ngữ điệu, và một số khuôn hình không chứa thán từ
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ở những mức độ nhất định đều đã đề cập đến một số hình thức cấu trúc của câu cảm thán nhưng vẫn chưa có sự phân tích kỹ lưỡng về kiểu câu này, có lẽ do các công trình nghiên cứu đó không phải là chuyên luận về câu cảm thán Vì vậy, câu cảm thán mới chỉ
Trang 27được đề cập đến như sự không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu về tiếng Việt nói chung và về câu trong tiếng Việt nói riêng
1.2 Những khái niệm lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài:
1.2.1.Khái niệm "câu":
Nghiên cứu câu cảm thán là nghiên cứu câu theo mục đích phát ngôn Nhưng để đi đến giải thích về câu cảm thán phải đề cập đến vấn đề định nghĩa
"câu"
Cho đến nay vẫn có rất nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa "câu" Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất về một định nghĩa câu gồm các ý sau:
+ Câu là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ
+ Về mặt hình thức: câu có cấu tạo ngữ pháp tự lập và có ngữ điệu kết thúc
+ Về mặt nội dung: câu có nội dung là một tư tưởng tương đối trọn vẹn
hoặc một thái độ, một tình cảm, một cảm xúc của người nói
+ Về mặt chức năng: câu có chức năng hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất
Như vậy, có thể thấy rằng câu là một địa hạt, một cấp bậc của ngôn ngữ học Câu là một đơn vị hội tụ các bình diện của ngôn ngữ học, biến các đơn vị ngôn ngữ thành đơn vị nói năng, đơn vị giao tiếp Câu đã được chú trọng nghiên cứu trong ngôn ngữ học Những nội dung cơ bản trong định nghĩa nêu trên sẽ là cơ sở về mặt lí thuyết cho việc nghiên cứu về câu cảm thán cả về mặt hình thức lẫn nội dung và chức năng của nó
Trang 28Từ khái niệm về câu nói trên và kết hợp với một số ý kiến khác, chúng tôi xác định nghiên cứu câu cảm thán đặt trong bối cảnh của việc nghiên cứu câu nói chung
"Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ, trong đó cả ba bình diện đều được thể hiện "[26,tr.7] Vì vậy, việc nghiên cứu câu phải chú ý đến cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Phải tìm được những cấu trúc ngữ pháp đặc trưng của kiểu loại câu cần phân tích phù hợp với những qui tắc của ngôn ngữ đó Đây cũng là một vấn đề đặc biệt khó đối với câu cảm thán tiếng Việt, một kiểu loại câu cho đến nay vẫn còn ít được nghiên cứu nhất trong các kiểu loại câu Về mặt nội dung ngữ nghĩa, rõ ràng câu không chỉ biểu thị một
tư tưởng, thông báo một sự việc mà còn thể hiện thái độ, sự đánh giá hoặc tình cảm, cảm xúc của người nói mà câu cảm thán lại là kiểu loại câu mang sắc thái tình cảm, cảm xúc sâu đậm nhất và tinh tế nhất trong các kiểu loại câu
"Câu là sự diễn đạt, là tượng trưng gây ra trong tâm lý người nghe sự kết hợp của một vài biểu tượng ,và cũng là phương tiện kích thích tâm lý ở người nghe sự kết hợp của các biểu tượng ấy."(ý kiến của H.Pao-lơ) [trích theo 45,tr.499].Như vậy nghiên cứu câu cảm thán phải chú ý đến những vấn
đề về ngôn ngữ - tâm lý học Đặc biệt là đối với câu cảm thán, việc phân tích tâm lý của chủ thể cảm thán và đối thể cảm thán sẽ giúp hiểu rõ nội dung ngữ nghiã của câu cảm thán
Theo Vinogradop: "Trong câu không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực"[trích theo 45,tr.500] Vì vậy nghiên cứu về câu cảm thán cũng phải chú ý đến các vấn đề của ngôn ngữ - xã hội học Đó cũng là vấn đề rất thú vị khi phân tích mối quan hệ giữa chủ thể cảm thán và khách thể cảm thán thể hiện qua câu cảm thán
Trang 29Theo Đỗ Hữu Châu: " nhờ vào mối quan hệ qua lại tương tác với các câu khác và với chỉnh thể của cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn mà câu mới có "bộ mặt" cụ thể và thích hợp " [9,tr.134].Như vậy, câu chỉ được nhận diện đầy đủ khi đặt nó trong mối quan hệ với các câu khác trong văn bản và với toàn văn bản Đối với câu cảm thán thì vai trò của đồng văn bản lại càng đặc biệt quan trọng
Từ những cơ sở lí luận đó, nếu đi sâu vào nghiên cứu câu cảm thán sẽ
có được những kết quả thú vị về lí thuyết và bổ ích về thực tiễn giao tiếp ngôn
Những cảm xúc, tình cảm này là cảm xúc được “kích động” “của chủ quan người nói đứng trước hiện thực” (theo Nguyễn Tài Cẩn), là “cảm xúc cảm tính hoặc lý tính” (theo Nguyễn Kim Thản) và “có thể được thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau” (theo Nguyễn Anh Quế) [41, tr 170]
Như vậy, tựu trung lại: Từ cảm thán là một từ loại được dùng để biểu thị trực tiếp những cảm xúc cảm tính hoặc lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước hiện thực khách quan bất ngờ
Trang 30Về thuật ngữ: luận án này dùng thuật ngữ “câu cảm thán” khi nghiên
cứu về từ hoặc lớp từ trong cấu trúc câu và thống nhất với cách dùng thuật
ngữ “từ cảm thán” khi nghiên cứu về từ hoặc lớp từ riêng biệt Hơn nữa, vì
cho dù cách gọi khác nhau: từ cảm thán, cảm thán từ, thán từ, cảm từ, từ than
… thì nội dung ý nghĩa của các thuật ngữ đó về cơ bản là giống nhau
1.2.3.2 Về mặt hoạt động ngôn ngữ
Từ cảm thán là từ loại vừa có vai trò là từ, vừa có vai trò tương đương với câu Chính vì vậy, nếu đứng trong một câu, từ cảm thán thường làm thành phần đơn lập, nằm ngoài đoản ngữ, không có một mối liên quan nào đối với
tổ chức của đoản ngữ và thường đứng ở đầu câu
Trong chuỗi lời nói, từ cảm thán thường đứng biệt lập, tách riêng ra một mình, tạo thành một khối riêng rẽ
Từ cảm thán có thể tự làm thành một câu Đây là dạng câu cảm thán đặc biệt
Vấn đề vị trí của từ cảm thán trong hệ thống từ loại tiếng Việt cũng có nhiều ý kiến khác nhau:
Có ý kiến cho rằng: từ cảm thán là thực từ Theo Hữu Quỳnh (1979),
hệ thống từ loại được phân chia thành hai loại: thực từ và hư từ “Trong các thực từ có một loại đặc biệt, thán từ là những từ dùng để biểu thị cảm xúc Các thực từ còn lại có thể chia ra danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, trạng từ” [42, tr 81]
Có thể thấy rằng, bản thân các từ cảm thán không có chức năng định danh cảm xúc, nó chỉ làm tín hiệu biểu thị, đánh dấu cảm xúc của người nói,
muốn gọi tên loại cảm xúc đó thì phải dùng một thực từ và như vậy thì không thể coi từ cảm thán là thực từ
Trang 31Lưu Vân Lăng (1994) trong bài viết: "Thành tố cấu tạo câu và phương pháp phân tích tầng bậc hạt nhân"đã đưa ra sơ đồ trong bảng sau:
Loại hỗ trợ Loại gia tăng
Nhóm tiếp dẫn Nhóm trợ cảm Nhóm than gọi Nhóm chú giải
Khởi ngữ Chuyển ngữ Trợ ngữ Cảm ngữ Thán ngữ Hô ngữ
Đề Thuyết
Trang 32Trợ từ Tính thái từ
(TTT)
TTT góp phần thực hiện mục đích phát ngôn
TTT biểu thị cảm xúc chủ quan hoặc khách quan
TTT dùng để gọi đáp
Trang 33không có ngay cả khả năng kết hợp với các đoản ngữ để biến hóa như liên từ, giới từ, trạng từ …” (theo Nguyễn Tài Cẩn) và từ cảm thán lại có khả năng
đứng độc lập, làm thành một câu nên từ cảm thán cũng không phải là hư từ
(theo cách hiểu truyền thống)
Nguyễn Kim Thản cũng không xếp từ cảm thán vào nhóm thực từ hay hư từ Ông đã đưa ra một bảng phân chia như hình sau:
Bảng1.3 [nguồn: 45,1997]
Trong nhóm thán từ ông lại chia thành hai nhóm nhỏ nữa là:
* Nhóm 1: Những thán từ thường dùng làm tín hiệu tình cảm
* Nhóm 2: Những thán từ gọi - đáp
Có lẽ, nhóm thứ 2 này không nên gọi là "Thán từ gọi - đáp" mà nên gọi
là "từ gọi - đáp" hay "tình thái từ gọi - đáp" để phân biệt hẳn với nhóm thứ 1
mà Nguyễn Kim Thản gọi là "Thán từ dùng làm tín hiệu tình cảm"
Trang 341.2.3.3 Từ những phân tích trên, luận án này nghiêng về quan điểm xác định từ cảm thán như sau:
a Từ cảm thán là một từ loại được dùng để biểu thị những cảm xúc
cảm tính hoặc lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước hiện thực khách quan bất ngờ
b Từ cảm thán không phải là thực từ, cũng không phải là hư từ - trong
hệ thống từ loại tiếng Việt, từ cảm thán đứng tách riêng thành một khối, độc lập với thực từ và hư từ
1.2.4 Khái niệm" yếu tố cảm thán":
Đây là những yếu tố ngôn ngữ dùng trong câu cảm thán để biểu thị cảm thán Yếu tố cảm thán có thể là một từ, một ngữ hoặc phương tiện ngoài từ như ngữ điệu, trật tự từ được dùng để cấu tạo câu cảm thán
1.2.5 Khái niệm "câu cảm thán" và vị trí của câu cảm thán trong tiếng Việt :
1.2.5.1 Khái niệm" câu cảm thán":
a Về mặt nội dung biểu hiện:
Câu cảm thán là câu có chức năng biểu hiện và truyền đạt những cảm
xúc cảm tính và lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước một hiện thực khách quan bất ngờ
Câu cảm thán trong tiếng Việt là một loại câu đặc biệt về mặt nội dung và có giá trị biểu cảm rất lớn
b Về mặt hình thức biểu hiện: câu cảm thán cũng là một loại câu đặc
biệt
Trong câu cảm thán, ngoài sự biểu thị nội dung cơ bản,còn có sự thể hiện cảm xúc của người nói có liên quan với nội dung cơ bản đó
Trang 35Đây là dạng thức cơ bản của câu cảm thán, gồm có hai phần và có thể biểu thị qua mô hình tổng quát sau:
Tuy nhiên, cũng có trường hợp câu cảm thán chỉ thể hiện cảm xúc Đây cũng là ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu khi cho rằng: câu cảm thán có một dạng thức rất đặc biệt là chỉ dùng từ cảm thán (từ chuyên dụng) và có thể
“làm thành một câu độc lập”
Ví dụ:
- A ! Anh Bào!
Ở đây, từ cảm thán “A” đứng độc lập và tự làm thành một câu Đây là
câu cảm thán, bộc lộ sự ngạc nhiên, sự vui mừng của người nói Đây là câu đặc biệt, không có bộ phận thể hiện nội dung thông báo một thông tin nào mà chỉ có bộ phận biểu thị cảm xúc
Ta có:
Chúng tôi gọi loại câu cảm thán đặc biệt này là "Câu cảm thán-Từ "
b Vị trí của câu cảm thán trong Tiếng Việt:
C CT = YCT
) V C (
NCC
C CT = Y CT !
Trang 36Khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn, nhiều nhà nghiên cứu thường xếp câu cảm thán vào vị trí số 4 sau 3 loại câu khác là câu tường thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh (câu cầu khiến) Thậm chí có một số nhà nghiên cứu còn xếp câu cảm thán vào chung một nhóm với câu cầu khiến Như vậy
là không thoả đáng vì đây là hai loại câu có những đặc trưng khác nhau về hình thái cũng như nội dungđược biểu hiện
Câu cảm thán là một loại câu đặc biệt trong Tiếng Việt và có vai trò quan trọng trong giao tiếp Hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu
để khẳng định về tỷ lệ phần trăm giữa câu cảm thán và 3 loại câu kia được sử dụng trong ngôn ngữ văn bản viết và ngôn ngữ nói nhưng có thể thấy câu cảm thán được sử dụng trong lời nói hàng ngày với số lượng không ít
Vấn đề không phải là xếp câu cảm thán ở vị trí nào trong bảng xếp hạng câu phân loại theo mục đích phát ngôn mà cái chính là câu cảm thán thực sự là một kiểu câu độc lập, có những dấu hiệu hình thức xác định có thể giúp ta phân biệt câu cảm thán với 3 loại câu kia
1.2.6 Ngữ điệu cảm thán
Tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: Trong chuỗi lời nói, câu cảm thán có một ngữ điệu đặc biệt gọi là ngữ điệu cảm thán Theo từ điển: "Giải thích thuật ngữ ngôn ngữ" (1996), thì ngữ điệu cảm thán (ngữ điệu than) thuộc "Ngữ điệu có đặc trưng là từ được tách ra, phát âm cao giọng hơn
so với trong câu tường thuật nhưng lại thấp giọng hơn so với trong câu hỏi"
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi không có điều kiện đi sâu khảo sát độ "cao" hay "thấp" đó của ngữ điệu cảm thán bằng các máy móc kỹ thuật nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh: Ngữ điệu cảm thán là một phương tiện hỗ trợ đặc biệt để biểu thị cảm xúc, thái độ của người nói, là dấu hiệu quan trọng để nhận biết câu cảm thán trong lời nói
Trang 37- Trong hồi ký người ta thường viết chính xác tên địa danh đấy
- Đây là tiểu thuyết chứ không phải là hồi ký !
(Thậm chí có thể đặt hai, ba dấu chấm than liên tục “!!!” để nhấn mạnh hơn)
1.2.7.4 Dấu “!” có thể được dùng cuối câu do thói quen của người viết muốn người đọc chú ý đến vấn đề nêu trong câu đó mà không nhằm mục đích
ra lệnh hay cảm thán
1.2.7.5 Như vậy, trong văn bản viết, không phải là câu nào có dấu “!” cũng là câu cảm thán nhưng cuối câu cảm thán nào cũng phải có dấu “!” Luận án này gọi dấu “!” đặt cuối câu cảm thán là “dấu cảm thán”
1.3 Tiểu kết chương:
Trang 381.3.1 Trong lịch sử nghiên cứu về câu cảm thán, có hai nhóm ý kiến khác nhau xuất phát từ quan điểm về "câu" nói chung và đi đến phủ định hoặc khẳng định sự tồn tại độc lập của câu cảm thán trong tiếng Việt
1.3.2 Qua việc giới thiệu và phân tích một số ý kiến ở cả hai nhóm đó, luận án đã đi đến khẳng định: Trong tiếng Việt và trong nhiều ngôn ngữ khác, câu cảm thán là một kiểu câu tồn tại độc lập với những đặc điểm riêng về hình thức cấu trúc và nội dung biểu hiện của nó
1.3.3 Từ sự tiếp thu các ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi muốn đưa ra ý kiến của mình về các khái niệm lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài như: khái niệm "câu", khái niệm "cảm thán", "từ cảm thán", "yếu tố cảm thán", "câu cảm thán", "ngữ điệu cảm thán" và "dấu cảm thán"
1.3.4 Tóm lại:
Câu cảm thán là loại câu đặc biệt về mặt nội dung: nó có chức năng biểu hiện và truyền đạt những cảm xúc cảm tính hoặc lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước một hiện thực khách quan bất ngờ
Câu cảm thán cũng là một loại câu đặc biệt về mặt hình thức biểu hiện Mô hình tổng quát của câu cảm thán là:
và mô hình câu cảm thán đặc biệt:
Đó là những vấn đề quan trọng đặt cơ sở nghiên cứu cho
chươngII và chươngIII của luận án
C CT = YCT
) V C (
NCC
C CT = Y CT !
Trang 39CHƯƠNG II
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ HÌNH THỨC CỦA CÂU CẢM THÁN TIẾNG VIỆT
2.1 Các đặc điểm về hình thức (Đặc điểm cấu tạo)
Câu cảm thán tiếng Việt là kiểu câu có các đặc trưng riêng về hình thức,
phân biệt với các kiểu câu khác Như đã giới thiệu trong chương I, mô hình tổng quát của câu cảm thán tiếng Việt là:
Trong mô hình này, yếu tố cảm thán ( YCT ) giữ vai trò quan trọng và có tính quyết định trong việc tạo lập câu cảm thán Vì vậy, đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố cảm thán sẽ giúp xác định được các đặc trưng về hình thức của câu cảm than Các yếu tố cảm thán có thể là từ cảm thán và các phương tiện biểu thị cảm thán khác như: một số thực từ, phó từ, trợ từ, kết từ, một số từ dùng
để gọi- đáp, từ tục, ngữ cảm thán, ngữ phủ định đặc biệt, một số hình thức hỏi, ngữ điệu và trật tự từ biểu thị ý cảm thán
2.1.1 Các phương tiện biểu thị cảm thán trong câu cảm thán
(Các yếu tố cảm thán)
Câu cảm thán dùng các phương tiện biểu thị sau:
2.1.1.1 Từ cảm thán :
a Vai trò của từ cảm thán trong việc tạo lập câu cảm thán:
Như trên đã nói, từ cảm thán là lớp từ đặc biệt, chuyên dùng để biểu thị những cảm xúc cảm tính hoặc lý tính, những tình cảm, trạng thái khác nhau của chủ quan người nói trước một hiện thực khách quan bất ngờ
Ví dụ:
(1a) [Bỗng cái vỉ buồm nó động đậy, lục đục Ngheo … Bống
C CT = YCT
) V C ( NCC
Trang 40mở tròn mắt Ngheo …] A! Con mèo, con mèo!
(Nguyễn Đình Thi, Cái tết của mèo con)
Trong truyện, lúc bà đi chợ về, cái Bống đã đoán là trong cái thúng đậy
vỉ buồm ấy chắc là “Có cái bánh đa đường, hay có một gói kẹo bột” hoặc là
“một con “phòng phòng”,con gà bằng bột xanh đỏ, thổi kêu te te, chơi xong lại được ăn”.Vì vậy, “Cái vỉ buồm nó động đậy, lục đục” và cái tiếng kêu
“Ngheo…Ngheo…” chính là một cái hiện thực khách quan bất ngờ làm nảy
sinh một cảm xúc vui mừng, ngạc nhiên ở cái Bống Chính từ cảm thán “A”
đã gánh chức năng biểu thị cảm thán, biểu thị chính xác cảm xúc, tình cảm của cái Bống lúc đó
Có thể thấy rõ điều đó qua một loạt ví dụ khác:
(2) [Lý Cường đã về! Phải biết…]A ha![ Một cái tát rất kêu]
(Nam Cao, Chí Phèo) (3) [Kiến ở đâu kéo về đông đặc, đen sẫm như dòng sông mật quấn quanh trước mặt, sau lưng chúng tôi.] Ôi![Chẳng lẽ chịu
chết ở đất này?]
(Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu ký)
(4) Ôi chao ôi, cái ngày mẹ nó xuống ổ vui thiệt là vui,
hơn cả cái ngày nó ở đồng bằng mới về!
(Nguyễn Quang Sáng, Con gà trống)
Trong các ví dụ đã nêu, ta thấy một điểm chung là: Các từ cảm thán
“A”, “A ha”, "Ôi”, “Ôi chao ôi”, vừa có vai trò là từ, vừa có vai trò tương
đương với câu
Với vai trò là một từ trong câu, từ cảm thán có quan hệ đẳng lập với nòng cốt câu và không có một mối liên quan nào với tổ chức của đoản ngữ
Trong các ví dụ (1), (2), (3),từ cảm thán “A”, “A ha”, “Ôi” đứng độc
lập tạo thành một câu riêng biệt Đây là kiểu loại câu đặc biệt, chỉ thể hiện cảm xúc và được cấu tạo bằng các từ chuyên dụng: từ cảm thán