Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều hành động mang ý nghĩa trao hay nhận nào đó, chẳng hạn như: tặng cho ai đó một cuốn sách, nhận được một bông hoa từ người nào đó… ho
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
ĐÀO THỊ HỒNG HẠNH
C¢U TRAO - NHËN TRONG TIÕNG NHËT
(§èI CHIÕU VíI TIÕNG VIÖT)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
ĐÀO THỊ HỒNG HẠNH
C¢U TRAO - NHËN TRONG TIÕNG NHËT
(§èI CHIÕU VíI TIÕNG VIÖT)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62 22 01 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT THANH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
Đào Thị Hồng Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh, người cô kính yêu đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và tạo điều kiện cho tôi có được môi trường học tập và nghiên cứu thuận lợi nhất
Tôi xin cảm ơn Khoa Tiếng Nhật thương mại, Trường Đại học Ngoại thương, Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi thực hiện khảo sát, thu thập tư liệu hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn Trường Đại học Ngoại thương - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tác giả luận án
Đào Thị Hồng Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận án 4
6 Bố cục của luận án 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Nhận diện câu trao - nhận trong tiếng Nhật 6
1.1.2 Một số nghiên cứu của các nhà Nhật ngữ học liên quan tới câu trao - nhận 12
1.1.3 Một số nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học liên quan tới câu trao - nhận 17
1.2 Một số lý thuyết cơ bản được sử dụng trong luận án 21
1.2.1 Về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu 22
1.2.2 Lý thuyết ngữ pháp hóa 27
1.2.3 Lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu và lý thuyết dịch thuật 36
Tiểu kết 40
Chương 2 CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU CÓ ĐỘNG TỪ v TRAO - NHẬN LÀM VỊ NGỮ TRONG TIẾNG NHẬT 42
2.1 Nhóm động từ trao - nhận trong tiếng Nhật 42
2.1.1 Nhóm động từ biểu hiện ý nghĩa trao 42
2.1.2 Nhóm động từ biểu hiện ý nghĩa nhận 44
2.1.3 Phân biệt các động từ trao - nhận điển hình với các động từ khác cùng nhóm 45
2.2 Các lớp nghĩa của câu trao – nhận trong tiếng Nhật 46
Trang 62.2.1 Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu 47
2.2.2 Lớp nghĩa lợi ích 47
2.2.3 Lớp nghĩa không gian - động 48
2.2.4 Lớp nghĩa ơn huệ 50
2.2.5 Lớp nghĩa quyền lực 52
2.2.6 Lớp nghĩa phân biệt thân - sơ (hoặc cùng nhóm - khác nhóm) 53
2.3 Vai nghĩa và đặc trưng của 3 diễn tố trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trao - nhận trong tiếng Nhật 54
2.3.1 Các vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu 54
2.3.2 Đặc trưng của ba diễn tố trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu 58
2.4 Sự hiện thực hóa cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trao - nhận trong tiếng Nhật 64
2.4.1 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với sự có mặt đủ 3 diễn tố 64
2.4.2 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với sự có mặt ít hơn 3 diễn tố 65
2.5 Một số đặc trưng ngữ dụng của câu trao - nhận trong tiếng Nhật 66
2.5.1 Câu trao - nhận và góc nhìn của người nói 66
2.5.2 Câu trao - nhận và sự đối lập trên - dưới 68
2.5.3 Câu trao - nhận và sự đối lập cùng nhóm - khác nhóm 69
Tiểu kết 73
Chương 3 CÂU TIẾNG NHẬT CÓ ĐỘNG TỪ TRAO - NHẬN LÀM ĐỘNG TỪ BỔ TRỢ (NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGỮ PHÁP HÓA) 75
3.1 Hiện tượng biến đổi từ động từ thực thành động từ bổ trợ 75
3.2 Câu tiếng Nhật có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ 78
3.2.1 Ứng dụng lý thuyết ngữ pháp hóa vào việc nghiên cứu câu tiếng Nhật có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ 78
3.2.2 Cấu trúc câu tiếng Nhật có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ 78
3.2.3 Ngữ nghĩa của câu tiếng Nhật có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ 81
3.3 Các mức độ ngữ pháp hóa của động từ trao - nhận trong chức năng của động từ bổ trợ trong câu 83
3.3.1 Mức độ thứ nhất của quá trình ngữ pháp hóa 85
3.3.2 Mức độ thứ hai của quá trình ngữ pháp hóa 92
3.3.3 Mức độ thứ ba của quá trình ngữ pháp hóa 95
Trang 73.4 Một số biểu thức được cố định hóa từ những dạng thức ngữ pháp hóa của
động từ trao - nhận 102
3.4.1 Câu nhờ vả 102
3.4.2 Câu xin phép 103
3.4.3 Câu cảm ơn 104
Tiểu kết 106
Chương 4 ĐỐI CHIẾU CÂU TRAO - NHẬN TRONG TIẾNG NHẬT VÀ CÂU CÓ Ý NGHĨA TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT 108
4.1 Câu trao - nhận trong tiếng Việt 108
4.1.1 Khái niệm câu trao - nhận trong tiếng Việt 108
4.1.2 Câu có động từ mang nghĩa “trao” 109
4.1.3 Câu có động từ mang nghĩa “nhận” 109
4.2 Câu trao - nhận tiếng Nhật trong sự đối chiếu với các câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt 111
4.2.1 Đối chiếu câu có động từ trao - nhận làm vị ngữ trong tiếng Nhật và câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt 112
4.2.2 Đối chiếu câu trao - nhận có động từ bổ trợ trong tiếng Nhật và câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt 119
4.3 Khảo sát việc chuyển dịch câu trao - nhận từ tiếng Nhật sang tiếng Việt 128
4.3.1 Phương pháp khảo sát 128
4.3.2 Kết quả khảo sát 129
4.3.3 Một số dự báo về lỗi sử dụng câu trao - nhận trong tiếng Nhật của người Việt Nam và một số đề xuất về cách sửa lỗi 139
Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC i
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sự phân biệt nghĩa của động từ trao - nhận với các động từ cùng nhóm
chuyển dịch 13
Bảng 1.2 Các lớp nghĩa và đặc trưng/ vai nghĩa của ba diễn tố 20
Bảng 2.1 Hướng di chuyển của vật trao - nhận và sự giới hạn nhân xưng 48
Bảng 2.2 Vai nghĩa của các diễn tố trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của CTN 63
Bảng 2.3 Góc nhìn và việc lựa chọn động từ trong câu 67
Bảng 2.4 Sự phân biệt mức độ lịch sự giữa các động từ trao - nhận 69
Bảng 3.1 Khả năng kết hợp với các hình vị thể hiện ý nghĩa ngữ pháp của động từ khi đảm nhiệm chức năng ĐTBT trong câu 81
Bảng 4.1 Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu mang ý nghĩa 118
“trao” trong tiếng Nhật và tiếng Việt (trường hợp ĐTTN làm vị ngữ) 118
Bảng 4.2 Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu mang ý nghĩa “nhận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt (trường hợp ĐTTN làm vị ngữ) 119
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ quan hệ giữa các thành tố của hành động “trao” 43
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ quan hệ giữa các thành tố của hành động “nhận” 44
Sơ đồ 2.3 Lớp nghĩa không gian – động 48
Sơ đồ 2.4 Đối lập trong - ngoài và hoạt động của động từ trao - nhận 71
Sơ đồ 3.1 Quá trình chuyển nghĩa của động từ やる[yaru] trong câu 96
Sơ đồ 3.2 Quá trình chuyển nghĩa của động từ あげる[ageru] trong câu 98
Sơ đồ 3.3 Quá trình chuyển nghĩa của động từ くれる[kureru] trong câu 100
Sơ đồ 3.4 Quá trình chuyển nghĩa của động từ もらう[morau] trong câu 101
Sơ đồ 3.5 Sơ đồ phân loại câu trao - nhận 105
Trang 10Ký hiệu viết tắt nguồn trích dẫn:
- V : Ví dụ đƣợc trích từ các tác phẩm văn học Việt Nam
- VD: Ví dụ đƣợc trích từ các tác phẩm văn học Nhật Bản đƣợc dịch sang tiếng Việt
- N: Ví dụ đƣợc trích từ các tác phẩm văn học Nhật Bản
- S: Ví dụ đƣợc trích từ sách và giáo trình dạy tiếng Nhật
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, nhu cầu tìm hiểu tiếng Nhật ngày càng tăng cùng với sự phát triển của quan hệ ngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa giữa hai nước Cho tới nay, đã có không ít công trình nghiên cứu ở bậc tiến sĩ, thạc sĩ về một số vấn đề của tiếng Nhật như thành ngữ, tục ngữ, thuật ngữ, nhóm từ gốc Hán, nhóm từ ngoại lai, từ xưng hô, một số dạng câu tiêu biểu… góp phần tìm hiểu các đặc trưng của ngôn ngữ này từ góc độ của người Việt Nam và trong sự so sánh, đối chiếu với tiếng Việt Những nghiên cứu này đã có những đóng góp đáng trân trọng trong việc giới thiệu tiếng Nhật với tư cách là một đối tượng trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung, nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ so sánh đối chiếu nói riêng ở Việt Nam
Có thể nói tiếng Nhật được xem là một ngôn ngữ tương đối khó đối với người Việt Nam Cái khó thường được kể tới là sự phức tạp của hệ thống văn tự và các lớp từ vựng có nguồn gốc khác nhau, sự rắc rối của những quy tắc ngữ pháp do đặc điểm loại hình chắp dính tạo nên và sự chặt chẽ về ngữ dụng do những quy định tinh tế trong quá trình sử dụng phụ thuộc vào quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp Trong những cái khó mà không chỉ người Việt Nam thường nhắc tới có câu trao - nhận, một loại câu khá đặc biệt của tiếng Nhật
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta bắt gặp rất nhiều hành động mang ý nghĩa trao hay nhận nào đó, chẳng hạn như: tặng cho ai đó một cuốn sách, nhận được một bông hoa từ người nào đó… hoặc cũng có thể là làm giúp ai hay được ai làm giúp một việc gì đó như: giặt hộ bộ quần áo, mua hộ món đồ… Hành động cho hay nhận ấy trong mỗi ngôn ngữ đều có những cách thức biểu đạt riêng với sự chi phối của các yếu tố liên nhân như quan niệm về bổn phận, sự hàm ơn… mang đặc trưng tư duy văn hóa dân tộc Trong tiếng Nhật, để diễn đạt ý nghĩa trao - nhận nói trên, tồn tại một nhóm câu riêng biệt được gọi là “câu trao - nhận” (授受文)
Câu trao - nhận (CTN) thường giữ một vị trí khá độc lập trong hầu hết các giáo trình dạy tiếng Nhật cho người nước ngoài như một dạng câu cần được lưu ý đặc biệt Dạng câu này cũng từng được khá nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản và nước ngoài quan tâm bởi không chỉ là một loại câu về phương diện ngữ pháp có dấu hiệu
từ vựng đứng cuối để nhận dạng nhằm diễn đạt các ý nghĩa từ cụ thể đến trừu tượng
về “sự trao - nhận” mà còn bởi sự phức tạp về phương diện ngữ dụng
Trang 12Cho tới nay, ở nước ngoài đã có một số nghiên cứu đối chiếu về CTN tiếng Nhật với một số ngôn ngữ cùng loại hình như tiếng Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ hay khác loại hình như tiếng Trung Quốc, tiếng Thái Song ở Việt Nam, có thể nói chưa
có một công trình hay chuyên luận nào nghiên cứu loại câu này một cách toàn diện
từ góc độ của người Việt Nam, trong sự so sánh với tiếng Việt, ngoài một số bài báo hoặc luận văn dừng ở mức độ giới thiệu Loại câu này chỉ được nhắc đến như một kiểu câu trong một số giáo trình ngữ pháp tiếng Nhật dạy cho người Việt và chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu cấu trúc và hướng dẫn cách sử dụng ở trình độ sơ cấp và trung cấp Tuy nhiên, các giới thiệu và hướng dẫn này cơ bản chỉ tập trung vào những đặc điểm bộc lộ ở cấu trúc nổi, còn những đặc điểm thuộc cấu trúc sâu bên trong và những vấn đề thuộc về bản chất trong hoạt động của dạng câu này vẫn chưa được đề cập tới đầy đủ, chưa giúp được người Việt hiểu được những đặc điểm mang tính cơ bản của nhóm câu này trong sự so sánh với những cách diễn đạt tương
tự trong tiếng Việt Đặc biệt, hiện tượng hư hóa dần ý nghĩa từ vựng của các động
từ trao - nhận (ĐTTN) dẫn đến khả năng hoạt động với tư cách là những yếu tố ngữ pháp trong câu, một trong những biểu hiện của quá trình ngữ pháp hóa với các mức
độ khác nhau, hầu như chưa nhận được sự quan tâm và biện giải đúng mức của cả giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy và học tiếng Nhật
Chính vì những lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài “Câu trao - nhận
trong tiếng Nhật (Đối chiếu với tiếng Việt)” với mong muốn làm rõ đặc điểm hoạt
động của các câu có ĐTTN từ góc độ kết học, nghĩa học và dụng học, đồng thời chú
ý tới quá trình biến đổi từ các nghĩa từ vựng đến nghĩa ngữ pháp của nhóm động từ này khi hoạt động trong câu như một trong những biểu hiện của hiện tượng ngữ pháp hóa vốn tồn tại khá phổ biến trong tiếng Nhật Thông qua việc đối chiếu với những câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt, chúng tôi mong muốn luận án góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt, đồng thời bổ sung thêm cứ liệu cho những nghiên cứu ngữ nghĩa - ngữ dụng của tiếng Nhật tại Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích của luận án là thông qua việc nghiên cứu CTN trong tiếng Nhật và đối chiếu với những câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt để làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của một dạng câu cần được lưu ý của tiếng Nhật từ cách tiếp cận của
Trang 13người phi bản ngữ, đồng thời làm rõ những tương đồng và khác biệt về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của CTN tiếng Nhật và những cách biểu hiện tương trong tiếng Việt
2.2 Nhiệm vụ
- Trình bày các đặc trưng cơ bản của CTN từ bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, trong đó tập trung khảo sát cấu trúc nghĩa biểu hiện của CTN trong tiếng Nhật với những đặc trưng dụng học chi phối việc hình thành các lớp nghĩa cơ bản
- Phân tích quá trình ngữ pháp hóa của các ĐTTN dẫn tới sự thay đổi chức năng ngữ pháp của động từ và thay đổi nghĩa tình thái của câu
- Đối chiếu với những câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt nhằm phát hiện ra những nét tương đồng và dị biệt trong việc tri nhận ý nghĩa và sử dụng các phương thức ngôn ngữ biểu hiện ý nghĩa trao - nhận của hai ngôn ngữ
- Khảo sát phương thức chuyển dịch Nhật - Việt và ngược lại nhằm dự báo một số lỗi và biện pháp sửa lỗi, góp phần phục vụ việc dạy và học tiếng Nhật cho người Việt và dạy tiếng Việt cho người Nhật Bản
3 Đối tượng nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là loại CTN trong tiếng Nhật được xác định bằng yếu tố hình thức là 7 ĐTTN điển hình, trong đó có 5 động từ mang nghĩa “trao, cho” là: やる [yaru], あげる[ageru],さしあげる [sashiageru], くれる[kureru], くだ
さる[kudasaru] và 2 động từ mang nghĩa “nhận” là:もらう [morau] và いただく[itadaku] trong tiếng Nhật, đối chiếu với các câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng
Việt, cụ thể là câu có các động từ: cho, tặng, biếu, được, nhận, lĩnh, hưởng, xin và nhóm câu có các từ: cho, hộ, giúp, giùm…
3.2 Ngữ liệu nghiên cứu
Tư liệu khảo sát của luận án là các câu có ĐTTN của tiếng Nhật được trích từ các tác phẩm văn học Nhật Bản, các sách giáo khoa dạy tiếng Nhật cho người nước ngoài, các từ điển mẫu câu tiếng Nhật và một số câu trích từ các hội thoại trong cuộc sống hàng ngày… Để làm đối tượng đối chiếu, luận án sử dụng các câu biểu hiện ý nghĩa tương đương được trích từ một số tác phẩm văn học Việt Nam và một số tác phẩm văn học Nhật Bản đã được dịch sang tiếng Việt
Do số lượng câu tiếng Nhật được sử dụng làm ví dụ minh họa khá nhiều nên luận án chỉ thực hiện chú thích phiên âm quốc tế đối với trường hợp xuất hiện động
từ ở những phần phân tích lý luận Những trường hợp còn lại luận án chỉ ghi chú
Trang 14nghĩa tiếng Việt Ngoài ra, việc chú thích nguồn của những ví dụ trích dẫn cũng được thực hiện đầy đủ với phần khảo sát chuyển dịch bởi đây là căn cứ để phân loại
và phân tích cách thức chuyển dịch Đối với một số ví dụ mang tính phổ biến và những ví dụ trích trực tiếp từ các hội thoại sinh hoạt hàng ngày của người Nhật, luận án không chú thích nguồn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trước nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu như trên, luận án áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: Để làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng của CTN trên nguồn ngữ liệu là các câu xuất hiện trong các tác phẩm văn học hiện đại Nhật Bản, giáo trình dạy tiếng, hội thoại thông thường, luận án áp dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng, kết hợp với các thủ pháp cải biến, so sánh nhằm tìm ra những lớp nghĩa cơ bản và đặc thù của dạng câu này
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa CTN trong tiếng Nhật
và câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt
- Phương pháp đối chiếu dịch thuật: Dựa trên kết quả khảo sát chuyển dịch CTN xuất hiện trong các tác phẩm văn học hiện đại Nhật Bản và các tác phẩm dịch tiếng Việt, luận án phân tích, hệ thống lại các cách dịch để đưa ra những nhận xét về phương thức diễn đạt ý nghĩa trao - nhận trong hai ngôn ngữ Nhật - Việt
Bên cạnh những phương pháp giúp cho những nghiên cứu định tính, trong những trường hợp cần thiết, luận án có bổ sung thủ pháp thống kê nhằm phục vụ cho những kết luận mang tính định lượng
5 Đóng góp của luận án
- Về mặt lý luận
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp một bức tranh tương đối đầy đủ, hệ thống về CTN trong tiếng Nhật từ phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng, bao gồm những trường hợp câu có ĐTTN trực tiếp giữ vai trò vị ngữ
và câu có ĐTTN đã bị hư hóa ở các mức độ khác nhau dưới tác động của quá trình ngữ pháp hóa khi đảm nhiệm chức năng của từ bổ trợ, thông qua đó, góp phần cung cấp thêm cứ liệu về một loại câu vốn tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ song được biểu thị bằng các phương thức không như nhau dưới tác động của đặc trưng về loại hình ngôn ngữ và đặc điểm văn hóa dân tộc
Trang 15Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được cấu tạo gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 2: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trao - nhận có động từ trao - nhận
làm vị ngữ trong tiếng Nhật
Chương 3: Câu tiếng Nhật có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ (nhìn
từ góc độ ngữ pháp hóa)
Chương 4: Đối chiếu câu trao - nhận trong tiếng Nhật và câu có ý nghĩa tương
đương trong tiếng Việt
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nhận diện câu trao - nhận trong tiếng Nhật
1.1.1.1 Câu trao - nhận trong hệ thống phân loại câu chung
Trong tiếng Nhật, CTN (授受文) thường được đề cập tới như một cách diễn đạt (表
現) phổ biến, song cũng rất đặc biệt không chỉ bởi ý nghĩa mà chúng thể hiện mà còn bởi tính phức tạp, tinh tế trong mối quan hệ giữa những người tham gia sự tình bị chế định bởi điều kiện sử dụng, bởi những giá trị ngữ dụng xã hội bề sâu và bởi cả những đặc điểm tư duy mang tính đặc trưng của người Nhật Trong hoạt động ngôn ngữ, hành động trao - nhận thường được thể hiện dưới dạng thức của câu có động từ mang ý nghĩa trao hoặc nhận Với tư cách là một trong các dạng câu của tiếng Nhật, CTN luôn đáp ứng các tiêu chí chung về đơn vị câu - đơn vị hết sức cơ bản của ngôn ngữ
Câu trong tiếng Nhật, cũng như ở mọi ngôn ngữ, là một đơn vị với chức năng nổi bật, mang tính khu biệt so với các đơn vị ở các cấp độ khác là chức năng thông báo Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học Nhật Bản, đơn vị này luôn dành được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, song mỗi người từ góc độ riêng của mình đưa ra những định nghĩa thể hiện các cách nhận diện riêng Có những nhà nghiên cứu thuần túy xuất phát từ góc độ ngữ âm khi nhận diện câu, như Hashimoto
(1948) đã đưa ra đi ̣nh nghĩa: “Câu là một chuỗi âm thanh liên tục , đầu câu và cuối
cấu có dấu hiê ̣u kết thúc ngữ âm và cuối câu bao g iờ cũng có sự tham gia của âm điê ̣u đặc thù ” [dẫn theo131, tập I, tr.44] Cũng có những trường phái nghiên cứu
hoàn toàn dựa trên đặc trưng về mặt ngữ nghĩa của câu, như Eichi (1976) coi câu là
“đơn vi ̣ cơ bản nhất có chức năng thể hiê ̣n phá n đoán, thái độ, tình cảm của chủ thể
ngôn ngữ ” [dẫn theo131, tập I, tr.44] Một nhà nghiên cứu khác là Yamada cũng
cùng cách tiếp cận khi cho rằng : “Câu là một hình thức ngôn ngữ biểu hiê ̣n một tư
tưởng thống nhất ” [dẫn theo131, tập I, tr.44] Khuynh hướng thứ ba, không kém
phổ biến khi nhận diện câu hoàn toàn dựa trên tiêu chí về cấu trúc với những đặc điểm tiêu biểu của ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính, sự phân chia chức năng ngữ pháp của từng bộ phận có thể kết dính với nhau một cách khá cơ động, trong đó sự
có mặt của động từ ở cuối câu là điều kiện quan trọng nhất đảm bảo sự tồn tại của một câu Bên cạnh đó, việc sử dụng đồng thời các tiêu chí để xem xét đơn vị câu
Trang 17cũng được một số người đề xuất Temura (1982), một trong những nhà ngôn ngữ theo cách tiếp cận này cho rằng đối với mô ̣t ngôn ngữ như tiếng Nhâ ̣t , mô ̣t phát thoại nếu đặt trong một ngữ cảnh nhất định thì chỉ cần thỏa mãn ho ặc điều kiê ̣n về hình thức, hoặc điều kiê ̣n về nghĩa đã được coi là mô ̣ t câu Nhưng nếu tách hoàn toàn khỏi ngữ cảnh thì một phát thoại phải thỏa mãn đầy đủ cả các điều kiện về hình thức, cấu trúc và nghĩa mới có được coi là mô ̣t câu đúng Theo quan điểm của các
nhà ngữ pháp học hiện đại Nhật Bản như Masuoka và Takubo thì “Câu là một đơn
vị ngôn ngữ chứa đựng một nội dung nhất định và được đánh dấu bằng dấu chấm câu để thể hiện sự hoàn chỉnh về mặt hình thức” [107, tr.2]
Với các cách tiếp cận không hoàn toàn giống nhau đối với đơn vị câu, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số cách phân loại câu trong tiếng Nhật Bên cạnh các cách phân loại theo mục đích phát ngôn, theo cấu trúc, theo nghĩa của động từ vốn xuất hiện phổ biến tại các sách giáo khoa tiếng Nhật (sách dạy cho người nước ngoài và người Nhật), cách phân loại câu theo cú pháp dựa trên cơ
sở ngữ nghĩa của Temura (1982) được nhiều người chú ý Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và cú pháp trong tiếng Nhật, Temura đã đề cập đến vai trò của phân từ ngữ pháp (PTNP) đối với một ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính như tiếng Nhật Sự tình của câu được biểu hiện thông qua vị ngữ hoặc sự kết hợp giữa vị ngữ và bổ ngữ Căn cứ vào việc sử dụng PTNP có thể nhận biết được quan hệ của danh từ với vị từ, qua đó phân biệt cấu trúc cú pháp thể hiện nghĩa sự tình của câu Với cách phân loại này, Temura đã đưa ra 5 loại câu thể hiện 5 kiểu sự tình với cấu trúc cú pháp khác nhau
Loại thứ nhất: Câu miêu tả một sự tình hành động, được chia làm 5 tiểu loại:
- Câu diễn tả hành động của 2 đối tượng: Đây là loại câu diễn tả sự tác động, sự hướng tới của một đối tượng tới đối tượng khác, hoặc diễn tả sự tác động qua lại của
hai đối tượng Loại câu này bao gồm câu có các động từ như: 投げる[nageru] (ném) 見
る[miru] (nhìn, xem), 賛成[sansei] (tán thành), 似る[niru] (giống), 会う[au] (gặp gỡ),
- Câu chuyển động và biến hóa: Tiểu loại câu này bao gồm các câu diễn tả sự chuyển động dời khỏi điểm xuất phát, chuyển động hướng tới điểm đích hoặc sự thay
đổi trạng thái của chủ thể với sự có mặt của các động từ như: 出る [deru] (ra khỏi), 通
る[tooru] (đi qua), 乗る[noru] (lên tàu xe), なる [naru] (trở nên, trở thành)…
Trang 18- Câu diễn tả hành động của một đối tượng tác động lên một đối tượng khác khiến đối tượng này thay đổi vị trí ban đầu Các động từ tham gia cấu tạo dạng câu
này gồm: 入れる[ireru] (cho vào), 乗せる[noseru] (cho lên)…
- Câu thể hiện sự tương tác giữa hai đối tượng: Loại câu này bao gồm hai dạng câu: câu diễn đạt ý nghĩa trao - nhận và câu thể hiện yêu cầu, đề nghị, mệnh lệnh Câu diễn đạt ý nghĩa trao - nhận bao gồm các câu có động từ mang ý nghĩa
trao như: 与える[ataeru] (trao), 教える[oshieru] (dạy), 見せる[miseru] (cho xem),
紹介する[shoukaisuru] (giới thiệu), やる[yaru] (cho), あげる[ageru] (cho, biếu,
tặng) và các câu có động từ mang nghĩa nhận như: 受ける[ukeru] (nhận), 習う
[narau] (học), 買う[kau] (mua), 借りる[kariru] (vay, mượn), 預かる[azukaru] (giữ)
Câu thể hiện yêu cầu, đề nghị, mệnh lệnh của đối tượng này đối với đối tượng
khác là loại câu có các động từ như: 命令する[meireisuru] (ra lệnh), 要求する [youkyuusuru] (yêu cầu), 頼む[tanomu] (nhờ vả), 勧める[susumeru] (khuyên)
Loại thứ hai: Là loại câu miêu tả tình cảm với 2 tiểu loại, phân biệt nhau theo
từ loại của vị ngữ là động từ hay tính từ
- Câu miêu tả tình cảm với động từ làm vị ngữ gồm câu có các động từ như: 泣
く[naku] (khóc), 驚く[odoroku] (ngạc nhiên), 楽しむ[tanoshimu] (vui), 悲しむ [kanashimu] (buồn)
- Câu miêu tả tình cảm với vị ngữ là tính từ: Dạng câu này thường bao gồm các
tính từ làm vị ngữ như: 怖い[kowai] (sợ), 懐かしい[natsukashi] (nhớ nhà), 楽しい [tanoshii] (vui), うらやましい[urayamashii] (sướng)
Loại thứ ba: Là loại câu miêu tả sự tồn tại, được chia thành 4 tiểu loại nhỏ:
- Câu miêu tả sự tồn tại của một sự kiện
- Câu miêu tả sự tồn tại của người hay vật tại một thời điểm, trong một không gian nào đó
- Câu tồn tại sở hữu
- Câu biểu thị sự tồn tại của một bộ phận hay một nhóm nào đó
Trang 19なにか質問したい人はありませんか。(Có ai muốn hỏi gì không? )
Loại thứ tư: Câu miêu tả tính chất và trạng thái với 3 tiểu loại, dựa trên đặc
điểm của tính chất hay trạng thái được miêu tả trong câu
- Câu miêu tả đặc điểm, tính chất, trạng thái của đối tượng (người hoặc vật) về một phương diện cụ thể nào đó
- Câu miêu tả đặc điểm đặc, tính chất, trạng thái mang tính tương đối
- Câu miêu tả đặc điểm, tính chất mang tính tuyệt đối
Loại thứ năm: Câu phán đoán, giải thích có vị ngữ là danh từ Với loại câu này,
người nói muốn đưa ra một phán đoán, một thông tin đến người nghe
Như vậy, với hệ thống phân loại của Temura, CTN là một tiểu loại câu thuộc nhóm miêu tả sự tình hành động, được phân biệt với các tiểu loại khác trong nhóm
về tính chất của sự tình, thể hiện sự tương tác giữa hai đối tượng
1.1.1.2 Khái niệm câu trao - nhận trong tiếng Nhật
Nếu hiểu CTN là câu biểu thị sự chuyển dời của một vật nào đó từ đối tượng này sang đối tượng khác thì theo Temura (1982) và Masuoka, Takubo (1992), nhóm động
từ được coi là mang ý nghĩa trao - nhận có thể tham gia cấu tạo câu được liệt kê khá
rộng, bao gồm các động từ như: 貸す[kasu] (cho vay, cho mượn), 借りる[kariru] (vay,
mượn), 渡す[watasu] (đưa), 買う[kau] (mua), 売る[uru] (bán), 与える[ataeru] (cho, tặng), 受ける[ukeru] (nhận) … Tuy nhiên, tại hầu hết các sách giáo khoa về tiếng
Nhật cho người Nhật và sách dạy tiếng Nhật cho người nước ngoài đều thống nhất liệt
kê chỉ có 7 đô ̣ng từ được coi là điển hình nhất vào nhóm ĐTTN (授受動詞) đặc trưng của tiếng Nhật Đó là các động từ: や る [yaru], あ げ る [ageru], さ し あ げ る[sashiageru], くれる[kureru], くださる[kudasaru], もらう[morau] và いただく[itadaku] 7 động từ này được phân biệt với các động từ còn lại Sự phân biệt dựa trên sắc thái nghĩa do các động từ khi xuất hiện trong câu đem lại
Nếu xét về ý nghĩa từ vựng thì cả 7 ĐTTN và nhóm các động từ còn lại đều diễn
tả sự chuyển dời của vật từ đối tượng X sang đối tượng Y Các động từ 貸す[kasu]
Trang 20(cho vay, cho mượn), 借りる[kariru] (vay, mượn), 渡す[watasu] (đưa), 買う[kau] (mua), 売る[uru] (bán), 与える[ataeru] (cho, tặng), 受ける[ukeru] (nhận) … chỉ
diễn tả sự chuyển dời thuần túy mang tính chất cơ ho ̣c thể hiê ̣n sự thay đổi vi ̣ trí của
vâ ̣t
Trong khi đó, đối với các động từ thuộc nhóm 7 ĐTTN, bên cạnh ý nghĩa thể hiện sự chuyển dời của vật từ đối tượng này sang đối tượng khác giống như các động từ khác, chúng còn có khả năng sử dụng nhằm thể hiện thái đô ̣, tình cảm và mục đích của người trao , người nhận Ngoài ra , viê ̣c sử du ̣ng các đ ộng từ trong nhóm này còn ch ịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi mối quan hệ giữa những người tham gia sự việc, bởi những quy tắc về quan hệ trên - dưới, quan hê ̣ thân - sơ giữa người nói, người trao và người nhâ ̣n , bởi điều kiện, ngữ cảnh giao tiếp Bên cạnh đó, nhóm ĐTTN còn có khả năng đảm nhiệm những chức năng cú pháp riêng khi được ngữ pháp hóa Cái đó làm nên sự khác biệt lớn giữa nhóm ĐTTN và những động từ khác gần về ý nghĩa
Như vậy, khái niệm CTN trong tiếng Nhật được hiểu hạn chế là kiểu câu diễn
tả sự chuyển dời sự vật từ đối tượng X sang đối tượng Y kèm theo sự đánh giá, thái
độ biết ơn hay ban ơn của những người tham gia sự tình và những người tham gia giao tiếp Về mặt hình thức, sự có mặt của một trong 7 động từ thuộc nhóm ĐTTN
đã nêu ở trên là tiêu chí hình thức đầu tiên và quan trọng nhất để nhận diện một câu
có được coi là CTN hay không
Nếu xuất phát từ hướng đi của vật được trao - nhận thì 7 động từ này được chia làm ba nhóm nhỏ:
- Nhóm thứ nhất: mang nghĩa chung là “trao, cho” biểu thị vật thể di chuyển từ người nói (hay thuộc nhóm hoặc cộng đồng người nói) tới người nghe, hoặc từ người nào đó tới người khác, bao gồm các động từ: やる[yaru], あげる[ageru] và
- Nhóm thứ hai: cũng mang nghĩa là “trao, cho”, song đối tượng được tiếp nhận vật thể là người nói hoặc cộng đồng/tập thể được coi là cùng nhóm với người nói bao gồm các động từ くれる[kureru] và くださる[kudasaru]
- Nhóm thứ ba: mang nghĩa “nhận” biểu thị ý nghĩa về sự tiếp nhận vật thể, bao gồm động từ もらう[morau], いただく[itadaku]
Trang 21Nhưng nếu xuất phát từ giá trị ngữ dụng thì 7 động từ trên lại chỉ được phân thành 2 nhóm:
- Nhóm thứ nhất: mang ý nghĩa trung hòa, gồm các động từ やる[yaru]、あげる[ageru], くれる[kureru] và もらう[morau]
- Nhóm thứ hai: mang ý nghĩa kính trọng, lịch sự (đối với người khác) gồm động từ くださる[kudasaru] hoặc khiêm tốn (đối với bản thân) là さしあげる[sashiageru] và いただく[itadaku]
Trong phạm vi của luận án, chúng tôi tập trung khảo sát dạng câu biểu thị ý nghĩa trao - nhận với tiêu chí hình thức là sự có mặt của một trong 7 động từ trình bày ở trên Trong một số trường hợp có thể chọn các động từ cũng biểu thị
ý nghĩa tương tác giữa hai đối tượng nhưng ngoài nhóm này, song chủ yếu chỉ nhằm mục đích so sánh để làm nổi bật đặc điểm của những câu chứa một trong 7 động từ tiêu biểu này mà thôi
Về vị trí và chức năng ngữ pháp của các ĐTTN trong câu, phần lớn các nhà ngữ pháp học Nhật Bản thống nhất đối với việc tách ra làm hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất: Các câu có ĐTTN hoa ̣t đô ̣ng với tư cách là đô ̣ng từ chính, mang nghĩa từ vựng cụ thể và độc lập đảm nhiệm chức năng vi ̣ ngữ Đây là loại câu được một số sách giáo khoa tiếng Nhật gọi là “câu trao - nhâ ̣n trực tiếp” (直接授受文) (1.1) 太郎 は 花子に本をあげました。
Taro cho Hanako cuốn sách
Động từ あげる[ageru] trong ví dụ trên được dùng với nghĩa “cho” và giữ chức năng là động từ vị ngữ của câu
- Trường hợp thứ hai : Các câu có ĐTTN hoạt động với tư cách là đ ộng từ bổ trợ (ĐTBT) cho một động từ chính khác, có chức năng tạo ý nghĩa tình thái cho câu chứ không trực tiếp biểu thị ý nghĩa từ vựng Dạng câu này, trong một số sách giáo khoa tiếng Nhật được gọi là “câu trao - nhâ ̣n gián tiếp” (間接授受文)
(1.2) 太郎 は 花子に英語を教えてあげた。
Taro đã dạy tiếng Anh cho Hanako
Động từ あげる[ageru] trong câu trên giữ vai trò của một ĐTBT, đứng sau
động từ chính 教える[oshieru] (dạy) để mang lại ý nghĩa tình thái cho câu, biểu thị sắc thái về một hành động được thực hiện đem lại lợi ích cho người khác
Trang 22Như vậy, sự phân chia thành “câu trao - nhận trực tiếp” và “câu trao - nhận gián tiếp”
là sự phân loại câu dựa trên chức năng cú pháp của ĐTTN trong câu chứ không phải là
sự phân chia dựa trên đặc điểm ngữ nghĩa của câu Chúng tôi sẽ sử dụng hai thuật ngữ này trong quá tình phân tích đặc điểm cấu trúc cũng như đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của CTN trong tiếng Nhật ở những chương tiếp theo của luận án
trao - nhận
1.1.2.1 Nghiên cứu câu trao - nhận từ bình diện cấu trúc
CTN đã được đề cập đến như một hiện tượng ngữ pháp khá đặc biệt trong diện mạo chung của ngữ pháp tiếng Nhật Xét về mặt cấu trúc, phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi chia CTN thành 2 dạng cấu trúc điển hình: cấu trúc CTN khi động
từ hoạt động với chức năng động từ thực (ĐTT) biểu đạt nghĩa chuyển dời vật thể trực tiếp và CTN có động từ hoạt động với chức năng ĐTBT (thường đứng sau và hỗ trợ nghĩa tình thái cho một động từ thực khác) Yamaoka Seiki (1993) đã khái quát cấu trúc CTN có ĐTT thành 3 nhóm với 6 cấu trúc dựa trên sự phân biệt về vai nghĩa, góc nhìn và vị thế giao tiếp Cũng tác giả này năm 2008 đã đưa ra 6 cấu trúc CTN khi các động từ hoạt động với chức năng của ĐTBT
Một trong những vấn đề về cấu trúc được nhiều nhà ngữ pháp quan tâm là vai trò của các PTNP đánh dấu người hưởng lợi trong cấu trúc câu có ĐTBT PTNP trong cấu trúc câu dạng này không chỉ đánh dấu người thực hiện hành động, người thụ hưởng hành động mà còn góp phần làm rõ tính chất, đặc điểm của lợi ích mà người trao đem đến cho người nhận Yamada (2004) đã đưa ra nguyên tắc sử dụng PTNP như sau:
- Đối với các ĐTT đứng trước có người hưởng lợi thì sẽ giữ nguyên PTNP do các động từ đó chi phối, còn trường hợp muốn nhấn mạnh người hưởng lợi thì sử dụng
PTNP のために[notameni] (để, vì )
- Đối với trường hợp ĐTT đứng trước là động từ nội động (自動詞) hay động
từ không có người hưởng lợi thì cũng sử dụng のために[notameni]
Tuy nhiên, tác giả cũng chưa phân tích để thống kê đầy đủ tất cả các loại PTNP
có khả năng xuất hiện trong cấu trúc CTN
1.1.2.2 Nghiên cứu câu trao - nhận từ bình diện ngữ nghĩa
Những nghiên cứu về nghĩa của CTN cũng được chia thành hai vấn đề: nghĩa của CTN có động từ thực và nghĩa của CTN có ĐTBT Hidaka (2007) đã phân biệt nghĩa của các ĐTTN làm vị ngữ trong câu với các động từ cùng có ý nghĩa chuyển dịch
Trang 23khác nhằm nêu rõ đặc trưng nghĩa của nhóm ĐTTN trong câu Các động từ được tác
giả đưa ra so sánh bao gồm 7 động từ nhóm trao - nhận và các cặp động từ: mua - bán,
vay - cho vay, gửi - giữ
Bảng 1.1 Sự phân biệt nghĩa của động từ trao - nhận với các động từ cùng nhóm
Theo tác giả để thể hiện ý nghĩa trao đổi, cho đi và nhận lại dựa trên việc
chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với một vật nào đó thì chỉ có nhóm 7
ĐTTN và cặp động từ mua - bán mới có khả năng đảm nhiệm Tuy nhiên, sự khác biệt giữa 2 nhóm này ở chỗ sự cho hay nhận của ĐTTN không đòi hỏi sự đền bù
hay bồi thường từ phía người trao hay người nhận
Ijima (1997) và Yamaoka (2008) đều cho rằng cấu trúc nghĩa của CTN là một cấu trúc đa tầng gồm 2 tầng nghĩa: sự chuyển dịch có mục đích của vật được trao tặng từ điểm xuất phát đến điểm đích và tính lợi ích từ chủ thể hành động tới người hưởng lợi
Trong những nghiên cứu có bàn đến nghĩa của CTN có ĐTBT, có thể kể đến những tác giả tiêu biểu như: Mastushita (1930), Toyota (1974), Masuoka (2001), Yamada (2004)… Hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu này không hoàn toàn như nhau Mastushita chủ yếu theo hướng phân loại hành động tính chất hay mức độ mà lợi ích đem lại Toyota tập trung phân tích nghĩa dựa trên sự khác biệt giữa ý nghĩa trao tặng trong ngôn ngữ và ý nghĩa trao tặng trên thực tiễn cuộc sống Trong khi đó Yamada chủ yếu tập trung vào phân loại câu từ góc độ phân tích mức độ sắc thái “ơn huệ” hay “có lợi ích” do các động từ đem lại
Ngoài những nghiên cứu mang tính lý luận trên, còn có hàng loạt những nghiên cứu bàn đến những vấn đề cụ thể trong nội bộ từng nhóm cấu trúc câu Sau đây là một số kết quả nghiên cứu cụ thể:
Trang 24Harata (2006) khi khảo sát nghĩa của câu với kết cấu ~V てくれる[Vte kureru]
đã kết luận: Nghĩa biểu thị trạng thái, kết quả hành động là nét chính nghĩa có thể giúp phân biệt sự khác nhau giữa các kết cấu ~V てやる[Vte yaru], ~V てもらう[Vte morau] và ~V てくれる[Vte kureru] trong một số trường hợp ~V てやる[Vte yaru],
~V てもらう[Vte morau] có thể dùng trong dạng ý chí, dạng dự định, mong muốn nhưng ~V てくれる[Vte kureru] thì không Ngược lại, trong các trường hợp biểu thị trạng thái kết quả trong quá khứ khi đi với dạng giả định thì chỉ có thể dùng ~V てく
れる[Vte kureru]
Phát triển nghĩa ơn huệ trong câu ~V てくれる[Vte kureru] với trường hợp chủ ngữ là bất động vật và danh từ trừu tượng, Harata cho rằng đây là nét đặc trưng riêng của câu ~V てくれる[Vte kureru] mà không thể tìm thấy trong các CTN với các kết cấu khác Sự tri nhận về ơn huệ của người nói trong câu ~V てくれる[Vte kureu] không chỉ giới hạn ở hành động của người hay động vật mà còn mở rộng đối tượng đối với chủ thể là bất động vật và danh từ trừu tượng Trường hợp này cũng
có thể coi là một cách thể hiện thái độ khiêm nhường của người nói, một trong những biểu hiện của phạm trù kính ngữ trong tiếng Nhật
Kế thừa nghiên cứu về ngữ nghĩa kết cấu ~V てもらう[Vte morau] nhằm thể hiê ̣n ý đồ của người nói trong câu nhờ vả và câu xin phép c ủa Yamada (2004), Suchiwaro (2008) đã phân loại kết cấu ~V てもらう[Vte morau] theo 4 dạng câu: câu nhờ vả, câu chỉ thị, câu nguyện vọng và câu xin phép Tác giả đã phân tích một cách khá chi tiết về đă ̣c trưng ngữ nghĩa, đă ̣c điểm của chủ thể thực hiê ̣n hành đô ̣ng và chủ thể thu ̣ hưởng hành đô ̣ng, đă ̣c điểm của các đô ̣ng từ đứng trước và khả năng tham gia hành vi thụ hưởng Từ đó tác giả đã khái quát được các nét nghĩa cơ bản và đă ̣c trưng của kết cấu
~V てもらう[Vte morau] trong các da ̣ng câu thể hiê ̣n ý đồ của người nói
Seto (2010) đã tiế n hành khảo sát thực tra ̣ng sử du ̣ng câu sai khiến có sử
dụng kết c ấu ~V てもらう[Vte morau] đối với người bản ngữ Qua viê ̣c khảo sát trên cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết , tác giả đã phân tích cấu trúc nghĩa của câu sai khiến v ới kết cấu ~V てもらう[Vte morau] thành 3 lớp nghĩa chính : nghĩa ơn huê ̣, nghĩa yêu cầu, xin phép và nghĩa khiêm nhường
- Nghĩa ơn huệ : Theo tác giả cũng như mô ̣t số nhà nghiên cứu đi trước thì
“nghĩa ơn huê ̣” là mô ̣t trong những nét nghĩa trung tâm của các kết cấu ~V てあげる
Trang 25[Vte ageru], ~V てくれる[Vte kureru], ~V てもらう[Vte morau] nói chung Tuy nhiên, nếu sử du ̣ng các kết cấu ~V てあげる[Vte ageru] dễ đem la ̣i ấn tượng ban
ơn và phá vỡ mối quan hê ̣ t ương tác trong giao tiếp nên kết cấu này thường ít xuất hiê ̣n trong câu sai khiến Do vâ ̣y, khi muốn thể hiê ̣n sắc thái nghĩa ơn huê ̣ mà không muốn để la ̣i ấn tượng không thoải mái cho người nghe , người Nhâ ̣t có xu hướng chọn câu sai khiến có sử dụng kết cấu ~V てもらう[Vte morau]
- Nghĩa xin phép: Để diễn tả ý nghĩa muốn nhâ ̣n đư ợc sự cho phép của người khác, trong tiếng Nhâ ̣t sử du ̣ng các cấu trúc nhờ vả với ph ần cuối của động từ có dạng thức ~させてください [sasete kudasai] và cấu trúc mệnh l ệnh với d ạng thức ngắn ~させてくれ[sasete kure] Tuy nhiên, sắc thái nghĩa xin phép bô ̣c lô ̣ trong các kết cấu với ~させてもらう[sasete morau] lại là những cách diễn đạt rất đặc trưng của tiếng Nhật, khó tìm thấy trong các ngôn ngữ khác
- Nghĩa khiêm nhường: Dù xuất hiện trong ngôn ngữ viết hay ngôn ngữ nói , các cấu trúc câu sai khiến sử dụng ~V てもらう[Vte morau ] có mang nét nghĩa khiêm nhường phần lớn đều là câu mang tính chất trình bày , tuyên ngôn Đây là
mô ̣t trong những đă ̣c trưng của ngôn ngữ nói tiếng Nhâ ̣t
1.1.2.3 Nghiên cứu câu trao - nhận từ bình diện ngữ dụng
Điểm qua các nghiên cứu về CTN từ bình diện ngữ dụng, có thể nhận thấy các tác giả thường tập trung vào các vấn đề cơ bản như: quy định về góc nhìn, tính
có hướng và tính lịch sự
Temura (2005) đã nói đến vai trò của góc nhìn đối với việc sử dụng các ĐTTN Khi người trao đóng vai trò là chủ ngữ của câu thì sẽ sử dụng các động từ
[kudasaru] Khi người nhận đóng vai trò chủ ngữ của câu thì động từ được sử dụng
Trang 26ra Điều đó đồng nghĩa với việc rất khó chuyển một câu chủ động dạng trao - nhận sang câu bị động tương ứng với nó Tuy nhiên, tính có hướng trong nhóm ĐTTN tồn tại ở những mức độ khác nhau nên khả năng chuyển đổi sang câu bị động tương ứng cũng không giống nhau Các động từ やる[yaru], あげる[ageru],くれる [kureru], くださる[kudasaru], tính chỉ hướng rất đậm nét nên hoàn toàn không có dạng bị động tương ứng Đối với các động từ もらう[morau], いただく[itadaku], tính chỉ hướng yếu hơn nên trong một số trường hợp có khả năng có dạng bị động tương ứng nhưng khả năng này cũng rất hạn chế
Yamamoto (2003) tập trung phân tích chức năng g iao tiếp được thể hiê ̣n trong CTN gián tiếp Theo tác giả này, về cơ bản, 3 nhân tố cấu thành ý nghĩa trao - nhâ ̣n
là người trao, người nhâ ̣n và đánh giá của người trao và người nhâ ̣n đối với hành vi trao - nhâ ̣n Tuy nhiên, điều đáng nói là khi thiếu mô ̣t trong 3 nhân tố cơ bản trên thì trong nhiều trường hợp những kết cấu trao - nhâ ̣n (khi ĐTTN đóng vai trò ĐTBT ) vẫn đươ ̣c sử du ̣ng Tác giả gọi những trường hợp này là những trường hợp mang tính phái sinh
Một số nhà nghiên cứu khác quan tâm tới sắc thái lịch sự do CTN đem lại Kanekubo (1993) và Hashimoto (2001) cho rằng việc sử dụng các kết cấu ~V
thấp vị trí của người nói, còn ~V てやる[Vte yaru] lại thể hiện ý đồ nâng cao vị thế của người nói nên thường ít được sử dụng hơn Riêng Hashimoto đã đưa ra 2 nguyên tắc đối với việc sử dụng CTN trong giao tiếp
- Nguyên tắc nhấn mạnh sắc thái ơn huệ: Làm rõ tình cảm của người nhờ vả đối với hành động mang lại ơn huệ của đối tác
- Nguyên tắc thân mật: Làm rõ và tăng thêm sự thân mật của người tham gia giao tiếp
Trên cơ sở lý thuyết cơ bản về tính lịch sự trong ngôn ngữ, Yokokura (2012)
đã nghiên cứu tính lịch sự trong CTN của tiếng Nhật Một trong những dẫn chứng khá điển hình về tính lịch sự thể hiện trong ngôn ngữ chính là kính ngữ trong tiếng Nhật Tính lịch sự biểu hiện qua kính ngữ được thể hiện bằng cách biến đổi từ vựng Khác với kính ngữ, yếu tố lịch sự trong các CTN được thể hiện thông qua sự hiện thực hóa ý nghĩa trao hay nhận bằng các kết cấu cụ thể Tính lịch sự của dạng câu này được tác giả khảo sát trên 3 điểm chính:
Trang 27- Khảo sát “tính chi phối” thể hiện trong CTN thông qua cách hiện thực hóa
“tính chi phối” trong CTN nói chung
- “Tính chi phối” được hiện thức hóa trong CTN có tác dụng điều chỉnh khoảng cách cá nhân như thế nào so với các yếu tố điều chỉnh khoảng cách cá nhân khác Trên
cơ sở làm rõ nét đặc trưng của cách điều chỉnh khoảng cách cá nhân trong CTN, có thể rút ra cơ chế hoạt động của “tính chi phối” trong từng ngữ cảnh cụ thể
Có thể nói, nghiên cứu CTN có một ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu những đặc trưng về loại hình và đặc trưng văn hóa trong ngôn ngữ của tiếng Nhật, một ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính Những nghiên cứu về dạng câu này ngày càng tiếp cận gần hơn với mục đích sử dụng của câu trong giao tiếp Nếu như ở những công trình nghiên cứu thời kỳ đầu tập trung chủ yếu đến nghĩa gốc (nghĩa trong từ điển) của ĐTTN thì ở những công trình sau, các động từ này được nghiên cứu khi nằm trong cấu trúc cú pháp câu với tư cách là một dạng câu đặc thù của tiếng Nhật Những nghiên cứu gần đây lại tiếp cận CTN bằng những xu hướng nhấn mạnh vào sự tri nhận của người Nhật về ý nghĩa trao - nhận dẫn tới khả năng ứng dụng của dạng câu này trong những chiến lược giao tiếp nhất định
1.1.3 Một số nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học liên quan tới câu trao - nhận
Tại Việt Nam, trước đây vấn đề CTN cũng đã được đề cập tới ở những mức
độ khác nhau trong một số công trình của các nhà nghiên cứu, tiêu biểu là Nguyễn Kim Thản (1977), Cao Xuân Hạo (1991), Hoàng Trọng Phiến (2008), Nguyễn Đức Tồn (1998), Nguyễn Văn Hiệp (2012) Trong công trình “Động từ tiếng Việt” của Nguyễn Kim Thản (1997), nhóm ĐTTN lần đầu tiên được đề cập tới dưới tên gọi là nhóm động từ “phát nhận” trong sự khu biệt với những nhóm động từ khác Tại các chuyên luận ngữ pháp tiếng Việt khác, nhóm động từ này cũng được nhắc tên hoặc được nghiên cứu theo những cách tiếp cận riêng của mỗi tác giả trong tổng thể các kiểu câu chung của tiếng Việt, chứ phần lớn chưa được lấy ra làm đối tượng nghiên cứu chuyên sâu riêng
Trang 28Trong thời gian gần đây, nhóm ĐTTN bắt đầu được lựa chọn làm đối tượng cho một số công trình nghiên cứu chuyên biệt Dưới đây là một số khuynh hướng và một số đại diện nghiên cứu tiêu biểu
1.1.3.1 Nghiên cứu từ bình diện ngữ nghĩa
Nguyễn Thị Quy (1995) trong khi tập trung vào việc mô hình hóa cấu trúc
tham tố của các vị từ hành động tiếng Việt trên chiều [± chủ ý] đã phân tích khá
kỹ lưỡng từ “cho” và nhận xét rằng “cho” là một từ được dùng để đánh dấu bổ
ngữ chỉ vai người hưởng lợi “Việc làm hộ, làm giúp, làm cho ai một việc gì đó bao hàm ý định giúp đỡ người ấy, làm thay người ấy vì người ấy không làm được, hoặc làm được nhưng sẽ đỡ tốn thì giờ, công sức hay sẽ có lợi Một hành động như thế chỉ có thể là chủ ý ” [45, tr.73 ] Khi phân loại vị từ hành động, tác
giả xếp nhóm vị từ gần gũi với từ “cho” và “gửi” như: cho, biếu, tặng, đút lót,
dâng, hiến, trả, gả, bán, cấp, cấp phát… vào nhóm các vị từ [± tác động] ba diễn
tố Khung diễn tố của các vị từ này gồm có ba vai: vai người cho/gửi, vai người nhận và vai vật được đem cho/gửi Vai thứ nhất thường có nét nghĩa [+ người] Vai thứ hai có khả năng thay thế [+ người] bằng [+ động vật], còn vai thứ ba thường là [- người] và không loại trừ khả năng [+ người] Tuy nhiên, cách sắp
xếp trật tự của các bổ ngữ chỉ hai diễn tố người nhận và vật được cho/gửi của các
vị từ không giống nhau
Có thể nói, công trình “Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu - Với nhóm vị
từ trao/tặng (trong tiếng Anh và tiếng Việt)” của Lâm Quang Đông trong thời
gian gần đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu nhất về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị ngữ là vị từ đa trị mang ý nghĩa trao/tặng của tiếng Việt và tiếng Anh Đây là một trong những công trình hướng vào chiều sâu nghĩa của ngôn ngữ trong thời kỳ hậu cấu trúc luận ở Việt Nam Đối tượng khảo sát của công trình tập trung vào một nhóm động từ rất rất cơ bản trong tiếng Việt cũng như tiếng Anh Đây là nhóm động từ tham gia biểu thị những
sự tình phức tạp liên quan tới nhiều đối tượng Công trình đã phân tích một cách hệ thống, chi tiết các lớp nghĩa và vai nghĩa của 3 diễn tố trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có nhóm vị từ trao/tặng với những mối quan hệ đa chiều, phức tạp, nhiều tầng bậc Theo tác giả, các đối tượng cụ thể tham gia vào
sự tình trao/tặng bao gồm: người trao/tặng, người nhận và vật trao/tặng Tuy nhiên, những vật trao/tặng trong mỗi sự tình trao/tặng lại có những đặc trưng
Trang 29phức tạp khác nhau, “những đặc trưng này có tác động đến vai nghĩa của
chúng trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, tạo cho câu những ý nghĩa khác nhau, mỗi ý nghĩa ứng với một cách mô tả sự tình nhất định.” [15, tr.104] Lâm
Quang Đông cho rằng về cơ bản, cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao/tặng bao gồm 4 lớp nghĩa:
- Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu (Control - possession): Đây là lớp nghĩa cơ
bản của nhóm vị từ trao/tặng “Người thực hiện hành động khiến cho người nhận có được một cái gì đó, được sở hữu nó hoặc chí ít là được quyền kiểm soát sử dụng
nó ” [15,tr.110] Tác giả cho rằng phạm vi kiểm soát - sở hữu của hai đối tượng người cho và người nhận với vật trao/tặng có nhiều trường hợp chồng chéo lên nhau hoặc có những điểm mơ hồ chứ không phải luôn có ranh giới rõ ràng Trong các ngôn ngữ khác, có những vị từ trao/tặng không thể hiện ý nghĩa “chuyển quyền sở hữu” nhưng ý nghĩa “chuyển quyền kiểm soát” được coi là ý nghĩa cốt lõi nhất, cơ bản nhất của các vị từ trao/ tặng
- Lớp nghĩa không gian - động (Spatial - dynamic): Lớp nghĩa này thể
hiện một đặc trưng quan trọng trong ngữ nghĩa của nhóm vị từ trao/tặng Đó là thể hiện sự chuyển động có hướng của vật trao/ tặng Quá trình chuyển hướng của vật trao/ tặng bắt đầu với điểm xuất phát là người trao và dừng lại ở mốc là người nhận
- Lớp nghĩa lợi ích (Human interest): Bao gồm 2 nhóm: lợi ích âm tính và lợi
ích dương tính Khi người nhận được hưởng lợi, được quyền kiểm soát sở hữu vật trao/ tặng hay được quyền sử dụng nó cho mục đích của mình thì ý nghĩa lợi ích là dương tính Trong trường hợp này, tiếp thể đồng thời mang thêm vai nghĩa đắc lợi thể (Beneficiary) Khi tiếp thể không được hưởng lợi gì từ hành động trao/ tặng, ngược lại là đối tượng bị hại thì ý nghĩa lợi ích là âm tính Trong trường hợp này tiếp thể mang vai nghĩa của một thụ thể (Patient)
- Lớp nghĩa quyền lực (Power): Thể hiện ý nghĩa quyền lực có 3 nhóm cơ
bản là nhóm hướng thượng (suspectus), nhóm hướng hạ (despectus) và nhóm trung hòa (neutral)
Trên cơ sở phân tích các lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao/ tặng, tác giả đã khái quát và hệ thống hóa vai nghĩa của từng diễn tố: diễn tố thứ nhất (người thực hiện hành động trao/ tặng), diễn tố thứ hai (người tiếp nhận hành động trao/ tặng ) và diễn tố thứ ba (vật được trao/ tặng)
Trang 30Bảng 1.2 Các lớp nghĩa và đặc trưng/ vai nghĩa của ba diễn tố [15,tr.134] Các lớp nghĩa Đặc trưng/ Vai nghĩa của ba diễn tố
Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu Người kiểm soát
Tác thể Nguồn
Tiếp thể Chủ sở hữu Nghiệm thể
Đối thể
Lớp nghĩa không gian - động Tác thể
Nguồn Địa điểm
Tiếp thể Đích Địa điểm
Đối thể
Lớp nghĩa lợi ích Người làm ơn
Tác thể
Đắc lợi thể Thụ thể
Đối thể Tạo thể
Lớp nghĩa quyền lực [quyền uy]
(M6) CHO <Đối thể; Tiếp thể>
- Cấu trúc mở rộng: Dạng cấu trúc này bao gồm các diễn tố, chu tố mặc định
và phi mặc định Số lượng chu tố mặc định của các vị từ nằm về phía cực gián tiếp
sẽ có khả năng cùng xuất hiện nhiều hơn so với các vị từ nằm về phía cực trực tiếp Tác giả cũng đã mô hình hóa sự thể hiện cấu trúc nghĩa biểu hiện trên cấu trúc cú pháp của câu với nhóm vị từ này bằng 8 dạng trật tự cơ bản, trong đó 3 dạng trật tự
sử dụng trong cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh, 3 dạng chỉ sử dụng trong tiếng Việt và 2 dạng chỉ sử dụng trong tiếng Anh
1.1.3.2 Nghiên cứu từ bình diện ngữ dụng
Nguyễn Đức Tồn (1998) và Chử Thị Bích (2006) đã tìm hiểu sự khác nhau về
sắc thái ngữ nghĩa trong nhóm từ đồng nghĩa cho, biếu, tặng Cả hai tác giả đều thống
nhất quan điểm rằng trong tiếng Việt, nhóm từ đồng nghĩa cho/tặng cùng biểu thị hành động “chuyển cái sở hữu của mình cho người khác mà không đòi đổi lấy gì cả”
Trang 31Nguyễn Đức Tồn đã khảo sát 3 động từ: cho, biếu, tặng và chỉ ra sự khác
biệt về vị thế giao tiếp giữa người trao - người nhận, về thái độ của người trao đối với người nhận và thái độ của người trao đối với vật được trao Sau khi khảo sát hàng loạt trường hợp cụ thể, tác giả đã đưa ra kết luận thành phần quy định sự khu
biệt khá tinh tế giữa các từ cho, biếu, tặng chính là tác tố T2 (vật được trao/tặng)
Khi T2 là những vật có giá trị vật chất hay ý nghĩa sử dụng thì có thể đi với động từ
cho và biếu Ngược lại, động từ tặng xuất hiện khi T2 là vật mang gía trị tinh thần
Trong trường hợp T2 có giá trị vật chất hay ý nghĩa sử dụng thì giá trị này cũng bị đặt xuống hàng thứ yếu mà người trao tự gắn cho nó một giá trị tinh thần mà mình muốn mang đến cho người nhận
Đồng nhất quan điểm với Nguyễn Đức Tồn, nhưng Chử Thị Bích đã mở
rộng đối tượng khảo sát gồm các động từ như: cho, tặng, biếu, thưởng, hiến, thí,
kỷ niệm… Về cơ bản, các kết luận của Chử Thị Bích trùng với kết luận của
Nguyễn Đức Tồn, song cũng đã có một số phát hiện đáng chú ý liên quan tới vị
thế, lứa tuổi của đối tượng tiếp nhận vật hay ngữ cảnh giao tiếp Ví dụ động từ cho
chỉ dùng cho “đối tượng tiếp nhận thuộc lớp trẻ, không dùng cho người cao tuổi,
nhất là người già” [5, tr.76] Ngoài ra, động từ cho không dùng trong giao tiếp quy
thức mà chỉ dùng trong giao tiếp thân tình Nhưng trong giao tiếp thân tình động
từ này cũng chỉ hoạt động trong trường hợp hội thoại có tính bình dân, thân mật
mà không dùng trong những trường hợp giao tiếp trang trọng, chính thức Còn
động từ biếu chỉ dùng cho đối tượng giao tiếp thuộc người cao tuổi, người già cả,
không dùng cho lớp trẻ, đặc biệt là trẻ nhỏ, thường được dùng trong giao tiếp thân
tình Nhưng khác với cho là biếu có thể dùng trong hội thoại có tính bình dân, thân
mật, nhưng cũng có thể sử dụng khi muốn biểu thị sắc thái trang trọng [5, tr.77]
Với việc đi sâu phân tích sự khác biệt về vị thế giao tiếp, thái độ đánh giá của người trao - người nhận đối với vật trao/tặng và ý nghĩa biểu thị của vật trao/ tặng, nhiều nhận xét của các tác giả trên về những đặc điểm khu biệt đặc trưng của các động từ mang nghĩa trao - nhận rất đáng lưu ý và có giá trị tham khảo tốt
1.2 Một số lý thuyết cơ bản được sử dụng trong luận án
Với đối tượng nghiên cứu là CTN trong tiếng Nhật, luận án sẽ nghiên cứu trên
cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Ở bình diện kết học, luận án tập trung vào việc mô tả cách thức biểu hiện sự tình trao - nhận trong câu với các mô hình cấu trúc được đánh dấu bằng các ĐTTN có thể tham gia Tuy nhiên, cấu trúc đối với CTN của tiếng Nhật lại không phải là vấn đề phức tạp bởi đã có một sự phân loại
Trang 32rất hệ thống, chặt chẽ và khá đầy đủ Do vậy, vấn đề nghĩa và đặc điểm ngữ dụng là hai vấn đề chúng tôi quan tâm đặc biệt Khi nghiên cứu ngữ nghĩa của dạng câu này, chúng tôi chú ý đến cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu và quá trình ngữ pháp hóa dẫn đến sự thay đổi nghĩa của các ĐTTN trong câu Với mục đích như trên, luận án cơ bản sẽ sử dụng một số lý thuyết liên quan đến vấn đề cấu trúc vị từ - tham thể, vai nghĩa, lý thuyết ngữ pháp hóa Những vấn đề của dụng học liên đến CTN trong tiếng Nhật khá phức tạp và mang nhiều nét đặc trưng của tiếng Nhật, vì thế chúng tôi sẽ đề cập tới khi trình bày về những vấn đề liên quan đến đặc điểm ngữ dụng của câu Bên cạnh đó, việc đối chiếu những những câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt, khảo sát khả năng cảm thụ ý nghĩa trao - nhận cũng như khả năng chuyển dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt cũng cần thiết sử dụng lý thuyết đối chiếu và dịch thuật
1.2.1 Về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
1.2.1.1 Cấu trúc vị từ - tham thể của câu
Ngữ pháp chức năng với xuất phát điểm là hệ chức năng và một phần của lý thuyết dụng học về tương tác ngôn từ đã nghiên cứu câu trên cả ba bình diện: nghĩa học, kết học và dụng học Cấu trúc vị từ - tham thể là kết quả của việc nghiên cứu câu trên bình diện nghĩa học, mà cụ thể hơn chính là nghiên cứu câu trên bình diện nghĩa biểu hiện Theo Cao Xuân Hạo, nghĩa của câu là một cấu trúc có nhiều tầng Các tầng nghĩa trong câu phối hợp với nhau tạo thành nghĩa hành chức (tức nội dung thông báo) của câu [22, tr.103] Trong khi phê phán quan điểm cho rằng nghĩa của câu thuần túy là tổng hợp nghĩa của các từ, Cao Xuân Hạo nhấn mạnh rằng các
sự tình được biểu hiện trong ngôn ngữ bằng những câu mà hạt nhân là khung vị ngữ, gồm lõi vị ngữ (mà trung tâm là vị từ) và các tham tố của nó trong đó có một tham
tố làm “đề” Câu có thể chia thành ba loại theo vị từ hành động, vị từ quá trình, vị từ trạng thái và vị từ quan hệ với số lượng các diễn tố và vai nghĩa của các diễn tố cùng với một vài chu tố [22, tr.232]
Nghĩa biểu hiện hay còn được gọi là nghĩa miêu tả [27, tr.36)] là phần phản ánh trong ngôn ngữ sự tri nhận và trải nghiệm của con người về thế giới Mỗi câu biểu hiện một sự tình “Mỗi sự tình là một cấu trúc nghĩa gồm bản thân sự tình đó do vị từ biểu hiện và các tham tố như các vai trong một màn kịch nhỏ do vị từ làm trung tâm Như vậy, cấu trúc của ý nghĩa biểu hiện chính là cấu trúc của các vai nghĩa” [21, tr.327]
Trong cấu trúc vị từ - tham thể, vị từ là yếu tố giữ vai trò trung tâm nêu đặc trưng hoặc quan hệ của sự việc Mỗi vị từ do nội dung ý nghĩa của nó mà ấn định số lượng cũng như vai trò của các tham thể đi cùng Về phía mình, các tham thể sẽ là
Trang 33những thực thể chịu sự chi phối trực tiếp của ý nghĩa vị từ Do vậy, tùy theo của đặc trưng riêng của mỗi vị từ mà chúng ta có cấu trúc vị từ - 1 tham thể, 2 tham thể hay
3 tham thể Theo Lâm Quang Đông, vị từ “là trung tâm của câu nên bản chất ngữ nghĩa của vị từ là căn cứ để phân tích các lớp nghĩa, xác định các tham thể, luận giải các mối quan hệ nghĩa, xác định vai nghĩa của các tham thể, từ đó quy nạp, tổng kết thành mô hình cấu trúc mang tính khái quát.” [15, tr.13]
Sự ánh xạ giữa vai nghĩa và quan hệ ngữ pháp cũng là một vấn đề lý thuyết hết sức quan trọng Trong lý luận ngôn ngữ học, vai nghĩa thường được coi là yếu tố quyết định trong khi khái quát hóa sự thể hiện cú pháp những tham tố của một vị từ, là công cụ chuẩn để tổ chức cấu trúc tham tố vị tính trong ngữ vựng, trong đó các tham tố được xác định theo nghĩa Lâm Quang Đông trong công trình của mình [15, tr.42- 45] đã phân tích những khác biệt của các khung ngữ pháp GB (Chi phối và Ràng buộc), LFG (Ngữ pháp chức năng từ vựng) và FG (Ngữ pháp chức năng) trong việc đưa ra những giải thuyết khác nhau trong việc đề ra những định hướng cho việc ánh xạ những biểu hiện từ vựng lên cấu trúc ngữ pháp Tác giả cũng đã tổng kết được 3 phương diện được coi là đặc trưng xác định kiểu ánh xạ giữa biểu hiện từ vựng và biểu hiện ngữ pháp, đó là: Biểu hiện từ vựng được ánh xạ hoặc lên cấu trúc sâu hoặc trực tiếp lên cấu trúc bề mặt của câu; Việc ánh xạ chịu hạn chế của thang bậc vai nghĩa; Điều kiện ánh xạ thể hiện những hạn chế hoặc phương án ưa thích về biểu thức cú pháp của các tham tố
1.2.1.2 Vị từ và các vai nghĩa
Có thể nói, người đầu tiên nghiên cứu vai nghĩa là L Tesnière Ông là người có đóng góp lớn trong việc tách ngôn ngữ ra khỏi ảnh hưởng của logic học mà ngữ pháp truyền thống đã mắc phải Theo ông, ngữ pháp là vấn đề của ngôn ngữ chứ không phải của logic L.Tesnière cho rằng câu chỉ có một đỉnh duy nhất là vị từ vị ngữ Vị từ vị ngữ là trung tâm tổ chức ngữ nghĩa và cú pháp của câu Nghĩa của vị từ quy định khung tham tố của nó, hay nói cách khác nghĩa của vị từ quy định số lượng và tính chất của các tham tố chỉ các vai nghĩa tham gia vào sự tình mà câu đó biểu hiện
Tiếp theo L Tesnière, Fillmore là người nghiên cứu sâu hơn về vai nghĩa Ông đã đào sâu nghiên cứu mối quan hệ nghĩa giữa vị từ và các tham tố với các vai
trò tương ứng là quan hệ nghĩa và hình thức biểu hiện hình thái nên gọi là cách hình
thái học và tiếp sau là cách ngữ nghĩa Ông đã đưa ra 6 cách ngữ nghĩa như sau:
- Agentive (A): người/vật (động vật) là chủ thể của hành động do vị từ biểu thị
- Instrumental (I): động lực hay vật thể (bất động vật) có quan hệ nhân quả với hành động hay trạng thái do vị từ biểu thị, hoặc được coi là bộ phận nghĩa của vị từ
Trang 34- Dative (D): người/vật (động vật) chịu tác động của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
- Factitive (F): đối tượng hoặc kết quả của hành động hay trạng thái do vị từ biểu thị, hoặc được coi là bộ phận nghĩa của vị từ
- Locative (L): địa điểm, vị trí hoặc định hướng không gian của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
- Objective (O): cách trung hòa nhất, là bất cứ cái gì có thể do danh từ biểu thị, đảm nhiệm vai trò gì là do ngữ nghĩa của chính vị từ, nói chung thường là sự vật chịu tác động của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị [Fillmore, dẫn theo15, tr 46]
Trên cơ sở danh sách cách của Fillmore, W L Chafe đã bổ sung thêm 3 quan hệ nghĩa là nghiệm thể, người hưởng lợi và người chịu đựng, tổng số gồm 7 vai nghĩa: tác thể, nghiệm thể, người chịu đựng, người hưởng lợi, công cụ, đối tượng và nơi chốn [56, tr.154]
Ngoài những vai nghĩa đã được Fillmore và Chafe liệt kê, một số nhà nghiên cứu như Halliday, C.Hagège, S.C.Dik … đã khảo sát sâu thêm các dạng thức vai nghĩa có thể có và bổ sung thêm nhiều vai nghĩa khác như vai đắc lợi thể (benefactive), liên đới thể (comitative), thời gian (time), nguồn (sourse), đích (goal), phương hướng (direction), tầm mức (extent)
Tổng hợp các nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước, Nguyễn Thiện Giáp (2008) đã giới thiệu 22 vai nghĩa mà hầu như ngôn ngữ nào cũng có cách thể hiện như sau: người hành động (actor), người tác động (agent), lực tác động (force), người thể nghiệm (experiencer), người/ vật bị tác động (patient), vật tạo tác (factive), người/ vật mang trạng thái (patient state), người nhận (recipient), người hưởng lợi (beneficiary), nơi chốn (locative), đích (goal), hướng (direction), nguồn (source), lối đi (path), phương thức (maner), công cụ (instrument), thời gian (time), khoảng cách không gian (extent), nguyên nhân (cause), người/ vật tồn tại (extent), điều kiện (condition), trở ngại (adversative) [21, tr 327-330]
Mặc dù số số lượng các vai nghĩa mà các nhà nghiên cứu từng đưa ra có thể không hoàn toàn như nhau, hoặc cũng có thể có một số tương đối gần nhau về tính chất, nhưng hầu hết đều chia sẻ những tính chất chung nhất của các vai nghĩa Đó là: mỗi tham tố của động từ đều được phân một hoặc một vài vai nghĩa nào đó Bên cạnh đó, mỗi tham tố của động từ luôn khác biệt với các tham tố khác của động từ
về vai nghĩa mà nó được phân, song chức năng của một loại vai nghĩa lại thống nhất
Trang 35đối với mọi động từ, trong mọi tình huống chứ không thay đổi đối với các động từ khác nhau, trong những tình huống khác nhau
Đây là những cơ sở lý thuyết rất quan trọng đối với nghiên cứu của luận án này Với đối tượng nghiên cứu là CTN trong tiếng Nhật, việc khảo sát vai trò của vị
từ là các ĐTTN và các vai nghĩa do các vị từ này chi phối bắt buộc phải dựa trên cơ
sở những lý thuyết nền tảng về vị từ và các vai nghĩa chung Tuy nhiên, việc quan tâm tới những đặc trưng riêng của quan hệ ngữ pháp và cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu cũng phải chú ý tới đặc trưng riêng của tiếng Nhật với tư cách là một ngôn ngữ điển hình của loại hình chắp dính
1.2.1.3 Vị từ và biểu hiện vai nghĩa trong câu tiếng Nhật
Một trong những đặc điểm nổi bật của câu tiếng Nhật là vị trí, chức năng của mỗi thành phần câu không hoàn toàn trùng với các ngôn ngữ khác như tiếng Việt, tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ khác Có khá nhiều ý kiến khác nhau về cách phân chia thành phần câu Takahashi (2006) liệt kê thành phần câu tiếng Nhật bao gồm: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, tu sức ngữ, trạng ngữ, định ngữ, trần thuật ngữ, đề ngữ, thành phần độc lập, thành phần hạn định Tuy nhiên, phần lớn các nhà ngữ pháp học đều cố gắng lựa chọn một số thành phần được coi là quan trọng nhất Murata (2005) đưa ra 4 thành phần được coi là quan trọng nhất tham gia cấu tạo câu là: vị ngữ (述
語) Masuoka và Takubo (1992) lại cho rằng 3 thành phần quan trọng nhất của câu
là vị ngữ (述語), bổ ngữ (補足語), thành phần phụ nghĩa (修飾語) và đề ngữ/chủ ngữ (主題)
Chúng tôi cho rằng cái tạo ra sự khác biệt giữa tiếng Nhật và một số ngôn ngữ khác như tiếng Việt, tiếng Anh không nằm ở số lượng thành phần câu mà là
ở vai trò của các thành phần trong câu Trong các ngôn ngữ Ấn Âu, chủ ngữ quyết định hình thức ngữ pháp của động từ vị ngữ, trong câu không thể vắng mặt thành phần chủ ngữ Đối với tiếng Việt, từ khi thuật ngữ “nòng cốt câu” xuất hiện từ cuối những năm 60 tới nay, mặc dù các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất hoàn toàn nội dung của thuật ngữ này nhưng phần lớn đều cho rằng nòng cốt là tổ chức hạt nhân của câu và “thường gồm có chủ ngữ và vị ngữ” [66, tr.218] Sau này, trong chuyên luận nghiên cứu về thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp cũng khẳng định “Chủ ngữ là bộ phận của nòng cốt câu biểu thị chủ thể ngữ pháp của vị ngữ, tạo ra cùng vị ngữ một kết cấu có khả năng nguyên nhân hóa.” [59, tr.121], từ đó đã đưa ra một
Trang 36trong những đặc điểm cơ bản của thành phần chủ ngữ trong câu tiếng Việt, đó là tính “bắt buộc, không thể lược bỏ mà không ảnh hưởng đến tính trọn vẹn của câu”.[64, tr.121]
Trong khi đó, chủ ngữ lại không được đưa vào danh sách các thành phần quan trọng của câu tiếng Nhật mà chỉ có vai trò như một thành phần phụ trong câu Thậm chí, Mikami (1972) còn cho rằng tiếng Nhật là ngôn ngữ không có chủ ngữ bởi chức năng của chủ ngữ trong câu tiếng Nhật hoàn toàn khác với chủ ngữ trong các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung
Vai trò và vị trí của thành phần vị ngữ trong tiếng Nhật cũng không hoàn toàn giống một số ngôn ngữ khác Trong tiếng Nhật, vị ngữ được coi là thành phần
có vị trí quan trọng nhất, là thành phần trung tâm của câu, quyết định thể loại câu
Vị ngữ diễn đạt đặc trưng, hoạt động, trạng thái, tính chất của chủ thể Ngoài ý nghĩa từ vựng, vị ngữ còn là nơi có thể nối ghép các thành tố biểu thị ý nghĩa về thời, thể Trong câu, thành phần vị ngữ luôn đứng ở cuối câu, sau tất cả các thành phần khác Khác với các ngôn ngữ Ấn Âu, tiếng Nhật không có sự phân biệt về sự thay đổi hình thái của từ trong câu Tất cả các ý nghĩa về thời, thể đều được thể hiện bằng những dạng thức riêng biệt nối chặt với động từ vị ngữ, lắp ghép thành chuỗi khi cần biểu thị một hoặc một số nghĩa ngữ pháp nào đó Bên cạnh đó, động từ vị ngữ trong tiếng Nhật khi đi vào giao tiếp, bên cạnh gánh nặng về chức năng hình thái còn chứa đựng các thành tố văn hóa thể hiện lối ứng xử, vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp
Khi hoạt động trong câu, mỗi vị từ đều có khả năng quy định những vai nghĩa nhất định Các kiểu loại vai nghĩa trong tiếng Nhật có lẽ cũng không có những khác biệt đáng kể so với những loại vai nghĩa trong các nghiên cứu mang tính phổ quát của các học giả nước ngoài Song, một điểm làm nên đặc trưng của tiếng Nhật là các vai nghĩa đều được đánh dấu bằng những PTNP Với trật tự cơ bản của câu tiếng Nhật là S (Subject) – O (Object) – V (Verb), thông thường, vị ngữ nằm ở vị trí cuối câu Các thành phần phụ - các vai nghĩa do vị ngữ quy định như chủ ngữ/đề ngữ, bổ ngữ và thành phần phụ nghĩa khác luôn đứng trước vị ngữ và được đánh dấu về mặt chức năng cú pháp và cả chức năng ngữ nghĩa bằng những PTNP khác nhau
Về mặt chức năng cú pháp, thành phần đề ngữ được đánh dấu bằng phân từ は[wa], chủ ngữ được đánh dấu bằng phân từ が[ga], bổ ngữ được đánh dấu bằng phân từ
を[wo], trạng ngữ chỉ địa điểm được đánh dấu bằng phân từ で [de] Nếu từ góc độ vai nghĩa cũng có thể thông qua những “mác” được đánh dấu để nhận diện từng loại vai
Trang 37nghĩa Ví dụ: vai người/vật là chủ thể của hành động do vị từ biểu thị thì đánh dấu bằng phân từ は [wa] hoặc が[ga], vai liên đới thể được đánh dấu bằng phân từ と [to], vai thời gian thì sử dụng に [ni], vai phương hướng thì sử dụng へ[he] Tuy vậy, có một số vấn đề cần lưu ý: Thứ nhất, bên cạnh một số vai nghĩa luôn chỉ biểu được đánh dấu bằng một loại phân từ (vai chủ thể của hành động, vai đối tượng hành động, vai thời gian ), cũng có một số vai nghĩa, việc sử dụng yếu tố đánh dấu nào phụ thuộc vào vị từ Ví dụ vai địa điểm có thể được đánh dấu hoặc bằng phân từ に[ni] nhưng cũng có thể bằng で [de]; Vai phương hướng ngoài phân từ へ[he], cũng có thể sử dụng cả に[ni], vai nguồn
có thể biểu thị bằng に[ni] hoặc から[kara] Thứ hai, do số lượng PTNP có hạn nên nảy sinh tình trạng một phân từ có thể được sử dụng để đánh dấu nhiều hơn một vai nghĩa Ví
dụ như phân từ で[de] có thể đánh dấu các vai nghĩa địa điểm, phương thức, công cụ ; Phân từ に[ni] có thể đánh dấu các vai nghĩa về địa điểm, đích của chuyển động hay đối tượng chịu tác động của hành động do vị từ biểu thị Điều này hoàn toàn khác so với tiếng Việt hoặc tiếng Hán vốn thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp phần lớn bằng trật tự từ, đôi khi là hư từ trong câu Vấn đề này sẽ được thể hiện rõ khi khảo sát hoạt động của CTN
1.2.2 Lý thuyết ngữ pháp hóa
1.2.2.1 Khái niệm ngữ pháp hóa
“Ngữ pháp hóa” (Grammaticalization) là một thuật ngữ ngôn ngữ học được
sử dụng để gọi tên hiện tượng “một từ nào đó mất tính độc lập từ vựng do được sử dụng với chức năng trợ từ, hay hiện tượng biến đổi cụm từ thành hình thái phân tích tính của từ.” [65, tr.166] Thuật ngữ này cũng còn được sử dụng để nói về một quá trình biến đổi các từ có nghĩa từ vựng thành các dạng thức ngữ pháp Với tư cách là một thuộc tính động của ngôn ngữ xét ở bình diện bản thể của nó, hiện tượng này đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ học nước ngoài và giới Việt ngữ học
Trong lịch sử ngôn ngữ học, thuật ngữ “ngữ pháp hóa” được A Meilet, một học giả người Pháp, học trò của F.D Saussre sử dụng sớm nhất Ông được coi là người đầu tiên nhận thức được tầm quan trọng của ngữ pháp hóa như một vấn đề trung tâm của lý thuyết về sự thay đổi trong ngôn ngữ Khái niệm ngữ pháp hóa được ông định nghĩa là “sự quy gán đặc trưng ngữ pháp cho một từ tự thân trước đó”, là “sự tiến hóa của các dạng thức ngữ pháp (các từ chức năng, các phụ tố…) từ các dạng thức từ vựng đã có” [dẫn theo 39, tr.21] Theo quan điểm của Meilet, cùng một từ, về bản chất tùy theo mỗi ngữ cảnh sử dụng mà những tính chất khác nhau, lúc thì mang tính từ vựng, lúc lại mang tính ngữ pháp
Trang 38Những nghiên cứu về ngữ pháp hóa thực tế đã xuất hiện từ thế kỷ XIX cùng với trào lưu nghiên cứu so sánh, nhưng phải đến những năm 80 của thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu về ngữ pháp hóa mới trở thành một khuynh hướng phát triển mạnh mẽ trong ngôn ngữ học nói chung [theo 112] Có thể nói, người có những đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu lý thuyết ngữ pháp hóa hiện đại là T Givon Câu tuyên ngôn nổi tiếng “Hình thái học hôm nay là cú pháp hôm qua” đã thể hiện quan niệm của ông về những hiện tượng ngữ pháp hóa dưới góc nhìn từ ngôn ngữ học truyền thống Theo ông, ngữ pháp hóa chính là con đường biến đổi về mặt hình thái dẫn tới sự hình thành các chức năng ngữ pháp của các đơn vị ngôn ngữ Bằng các dẫn chứng về quá trình biến đổi của các từ phủ định và động từ sở hữu trong tiếng La Tinh sang tiếng Pháp, ông đã chứng minh khả năng biến đổi hết sức sinh động và linh hoạt về mặt hình thái của các đơn vị ngôn ngữ trong con đường hình thành các chức năng ngữ pháp Năm 1979, tổng kết lại các kết quả nghiên cứu, ông đã đưa ra nhận định về con đường ngữ pháp hóa như sau:
Diễn ngôn (discourse) > cú pháp (syntax) > hình thái học (morphology) > hình âm vị học (morphophonemics ) > zero [dẫn theo 112, tr.25]
Những kết quả nghiên cứu của T.Givon có giá trị to lớn, tạo tiền đề cho những nghiên cứu về ngữ pháp hóa sau này, trong đó có việc đặt tất cả các hiện tượng ngôn ngữ vào bộ khung làm việc của cú pháp hóa (syntacticization) và hình thái học hóa (morphologization) Tuy nhiên, cách tiếp cận của ông không làm rõ được hình thái của một đơn vị ngôn ngữ khi đã được ngữ pháp hóa và ông cũng không đưa ra được những tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá mức độ ngữ pháp hóa của đơn vị ngôn ngữ ấy
Khắc phục những hạn chế trên, C.Lehmann (1995) cho rằng cần phải lấy mức độ độc lập để đánh giá mức độ ngữ pháp hóa của các đơn vị ngôn ngữ Ông đã đưa ra bộ thước đo mức độ ngữ pháp hóa dựa trên các tiêu chuẩn về tính có trọng điểm (weight), tính liên kết (cohesion) và tính khả biến (variability) [112]
Cùng thời kỳ với C.Lehmann, hai nhà nghiên cứu là B.Heine và M.Reh trong công trình nghiên cứu về hiện tượng ngữ pháp hóa trong các ngôn ngữ châu Phi đã đưa ra những kiến giải dễ hiểu hơn về ngữ pháp hóa khi nghiên cứu những hiện tượng ngữ pháp hóa trong các ngôn ngữ Châu Phi theo cách tiếp cận đồng đại với
3 quá trình liên quan đến ngữ pháp hóa: quá trình ngữ âm hóa, quá trình hình thái hóa và quá trình chức năng hóa Theo B.Heine và M.Reh, hiện tượng này không chỉ giới hạn ở các ngôn ngữ châu Phi mà có thể thấy ở rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới [112, tr.29]
Trang 39Bên cạnh cách tiếp cận ngữ pháp hóa chủ yếu tập trung vào bình diện ngữ
âm học và bình diện hình thái học của C.Lehmann, B.Heine và M.Reh, còn có cách tiếp cận ngữ pháp hóa từ bình diện ngữ nghĩa học mà một trong những đại diện là E.C.Traugott Ông đã chỉ ra sự quá trình thay đổi mang tính phổ biến về mặt nghĩa trong nhiều ngôn ngữ như sau:
Định đề (propositional) > trình bày (textual) > thể hiện (expressive) [dẫn theo 110, tr.30]
Cùng đề cập tới quá trình ngữ pháp hóa liên quan đến sự thay đổi về nghĩa, nhưng khác với E.C.Traugott, Sweetser (1990) lại nhấn mạnh đến sự thay đổi về mặt nghĩa ngữ dụng Theo ông, con đường biến đổi của các biểu hiện tình thái được bắt đầu từ nghĩa tình thái đạo nghĩa (deontic modality) đến nghĩa tình thái nhận thức (epistemic modality) [112]
Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, ngữ pháp hóa vẫn tiếp tục là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Có thể kể tới tập chuyên luận tập hợp các công trình nghiên cứu của Walter Bisang, Nikolaus P.Himmelmann, Bjorn Wiemer và một số tác giả khác đề cập tới những vấn đề cơ bản nhất của ngữ pháp hóa, về mối quan hệ giữa ngữ pháp hóa và từ vựng hóa khi nên coi đó là hai khuynh hướng đối lập hay trực giao trong ngôn ngữ, về quan hệ giữa ngữ pháp hóa và ngữ dụng hóa Cũng trong tập chuyên luận này, một số kết quả áp dụng các công cụ lý thuyết của ngữ pháp hóa vào khảo sát một số hiện tượng ngôn ngữ cụ thể tại khu vực bắc Slavơ và Ban tích, Italia, Đức và khu vực Đông Nam Á cũng được một số nhà nghiên cứu công bố Đây là những nghiên cứu các trường hợp rất điển hình, có thể trở thành mẫu tham khảo cho những nghiên cứu từ cách tiếp cận ngữ pháp hóa của những người đi sau [81]
Ở Việt Nam, có thể nói cho tới nay chưa có một chuyên khảo riêng về vấn đề ngữ pháp hóa, song thực chất, vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới ở những mức độ khác nhau khi nghiên cứu từ loại, đặc biệt khi nói đến khái niệm “thực từ”, “hư từ” Các nhà Việt ngữ học đều nhận thấy hiện tượng dưới cùng một vỏ ngữ âm các từ có thể dùng theo ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của các từ loại khác nhau Hiện tượng này được nhiều người gọi là hiện tượng “chuyển loại” hay “chuyển hóa từ loại” khi công nhận rằng có hiện tượng các từ chuyển hóa từ “thực từ” sang “hư từ” Tuy vậy, cũng có ý kiến, ví dụ như Đinh Văn Đức (2001) cho rằng đây là hiện tượng một từ được sử dụng với cả hai ý nghĩa “thực” và “hư” để phục vụ hai chức năng ngữ pháp khác nhau chứ không có sự chuyển loại hoàn toàn, hay chỉ coi đó là hiện tượng mở
Trang 40rộng chức năng ngữ pháp của từ Cũng theo quan điểm này, Cao Xuân Hạo cho rằng
“một trong những đặc trưng nổi bật của ngữ pháp tiếng Việt là hiện tượng ngữ pháp hóa của các vị từ chuyển sang dùng như giới từ không hề kèm theo một quá trình chuyển hẳn từ loại trong đó vị từ dứt khoát trở thành giới từ” [24, tr.395]
Năm 2004, trong công trình nghiên cứu “Hiện tượng chuyển hóa từ thực từ sang hư từ”, Trần Thị Nhàn đã tiếp cận hiện tượng này từ lý thuyết ngữ pháp hóa Đối tượng khảo sát của công trình chỉ hạn chế ở một nhóm các từ khá tiêu biểu cho hiện tượng chuyển từ loại được lựa chọn một cách có chủ ý từ ba loại thực từ cơ bản
trong tiếng Việt là danh từ (của, bằng, trên, dưới, trong, ngoài), tính từ (liền, vừa,
mới, đã), động từ (cho, có, được, mất, đi, đến, lại, về, ra, vào, lên, xuống) Có thể
nói đây là một công trình đã trình bày một cách khá hệ thống các quan điểm nghiên cứu về ngữ pháp hóa và ứng dụng vào nghiên cứu tiếng Việt Một số trường hợp cụ thể được khảo sát kỹ lưỡng của công trình này sẽ được luận án sử dụng như những đối sánh tốt cho nghiên cứu của chúng tôi
1.2.2.2 Các bình diện nghiên cứu ngữ pháp hóa
Nhìn lại kết quả nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học, có thể thấy ngữ pháp hóa đã được tiếp cận từ 2 bình diện
Từ bình diện lịch sử, “ngữ pháp hóa được coi là một tập hợp những thay đổi ngôn ngữ của một đơn vị từ vựng trong những cách dùng nào đó trở thành đơn vị ngữ pháp, hoặc một dạng thức ngữ pháp trở nên ngữ pháp hơn” [39, tr.26] Cách tiếp cận này đạt được nhiều kết quả khi đối tượng nghiên cứu là những ngôn ngữ biến hình
Từ bình diện đồng đại, ngữ pháp hóa có cơ sở là một hiện tượng cú pháp được nghiên cứu từ quan điểm mô hình biến đổi yển chuyển, linh hoạt theo cách dùng của ngôn ngữ, có căn cứ về ngữ dụng Theo cách tiếp cận này, người nghiên cứu phải tìm hiểu tính liên tục từ những cách sử dụng nhiều phạm trù hơn đến những cách sử dụng ít phạm trù hơn, hoặc những cách sử dụng có thể thay thế cho nhau của cùng một dạng thức, một kết cấu Như vậy, “nghiên cứu ngữ pháp hóa là miêu tả đường ranh giới giữa
cú pháp và dụng pháp, không loại trừ tác động của các nhân tố ngoài ngôn ngữ cũng như
sự tương tác của chúng với các nhân tố bên trong hệ thống ngôn ngữ.” [39, tr.27]
1.2.2.3 Một số thuật ngữ trong lý thuyết ngữ pháp hóa
- Dạng thức được ngữ pháp hóa: Trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ
đều có sự phân biệt lớp từ từ vựng tính (trong nghiên cứu ngữ pháp hóa thường gọi là
từ nội dung) và lớp từ ngữ pháp tính (từ chức năng) Sự phân biệt này dựa trên các kiểu ý nghĩa chủ yếu mà từ diễn đạt: ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Từ nào