Tạp chí Khoa học Công nghệ Điện: Số 02/2018 trình bày các nội dung chính sau: Bảo vệ lưới điện, giảm thiểu và quản lý nguy cơ sự cố vòng chèn J trong hệ thống đường hơi tuabin, thay thế thiết bị đo giúp cải thiện bảo vệ chống nước xâm nhập vào tuabin, dòng chảy môi trường để nhà máy thủy điện Yeywa phát điện bền vững,... Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.
Trang 1TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM - TRUNG TÂM THÔNG TIN ĐIỆN LỰC
CHỐNG NƯỚC XÂM NHẬP
VÀO TUABIN
Trang 2Số 2 tháng 4 năm 2018
Trong số này
Phụ trách nội dung:
PHẠM THỊ THU TRÀ
Ban biên tập:
NGUYỄN KHẮC ĐIỀM
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
NHỮ THỊ HẠNH
VŨ GIA HIẾU
CHU HẢI YẾN
NGUYỄN THỊ DUNG
NGUYỄN THỊ VINH
BÙI THỊ THU HƯỜNG
Tổ chức nội dung & xuất bảnï:
TRUNG TÂM THƠNG TIN ĐIỆN LỰC
(EVNEIC)
Tòa soạn và trị sự:
Tầng 15, Tháp A, Tòa nhà EVN,
Số 11 Phố Cửa Bắc, Quận Ba Đình,
Tp Hà Nội
ĐT: 04.669.46738
Fax: 043.7725192
Email:thongtindienluc@yahoo.com
Giấy phép xuất bản:
Số 249/XB - BC ngày 23/5/1985
Tài khoản:
Trung tâm Thông tin Điện lực:
102010000028666
Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội
Ảnh bìa: Các kỹ sư của Cơng ty Siemens kiểm tra tuabin
Nguồn: siemens.com
Bảo vệ lưới điện
Khi trạm biến áp trở nên tinh vi hơn, chúng cũng dễ bị tổn thương hơn trước những yếu tố khĩ lường từ bọn khủng bố, mẹ thiên nhiên
và khơng gian mạng Để đáp lại, ngành điện đang nhanh chĩng triển khai các chiến lược để củng cố và tăng khả năng phục hồi trạm.
1
4
Các nhân viên nhà máy cần biết được loại cơng nghệ vịng chèn nào được lắp đặt trong thiết bị của họ và hiểu cách tốt nhất để kiểm tra hệ thống đường hơi của họ để xác định những vấn đề tiềm ẩn trong thời gian dừng máy bảo trì định kỳ.
Giảm thiểu và quản lý nguy cơ sự cố vòng chèn J trong hệ thống đường hơi tuabin
Các bộ chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ cải thiện khả năng phản ứng, khả năng hiển thị hệ thống và nâng cao tuổi thọ thiết bị
Hệ thống bảo vệ chống nước xâm nhập vào tuabin được thiết kế để tránh nước lọt vào, gây hư hại cho tuabin
Thay thế thiết bị đo giúp cải thiện bảo vệ chống nước xâm nhập vào tuabin
12
Làm mát để phát công suất cao
Vào ngày hè nĩng bức, khơng khí giãn nở và trở nên lỗng hơn so với ngày mát Nếu tuabin khí hoạt động với một thể tích khơng khí hút vào khơng đổi, thì lưu lượng khối của khơng khí đi vào máy nén sẽ giảm, làm giảm đáng kể tính năng và sản lượng điện.
15
Cơng nghệ máy bù đồng bộ đang hồi sinh vì, khi nhiều nguồn năng lượng tái tạo được tích hợp vào lưới điện, thì đây là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để duy trì chất lượng lưới điện và hỗ trợ giải trừ sự cố.
Một công cụ cũ được phát hiện trở lại để giải quyết nhứng thách thức mới của lưới điện
21
Phần mềm điều khiển kết nối hệ thống
Hệ thống điều khiển chiếu sáng kết nối hệ thống giúp tiết kiệm điện chiếu sáng trung bình tới 47%, làm cho những giải pháp này trở nên hấp dẫn với các cơng ty điện lực.
24
32
Giới thiệu hai sáng kiến của anh Lê Chí Trung, cơng nhân bậc 7/7 của Điện lực Mỹ Tho, Cơng ty Điện lực Tiền Giang Các sáng kiến này đều giúp đảm bảo an tồn và tiết kiệm thời gian, chi phí trong quá trình thi cơng lưới điện và máy biến áp.
Sáng kiến “lắp tời điện cho xe tải” và “thiết kế chế tạo máy xác định cực tính máy biến áp”
Dòng chảy môi trường để nhà máy thủy điện Yeywa phát điện bền vững
Bài báo này trình bày một nghiên cứu về dịng chảy mơi trường ở hạ lưu Nhà máy thủy điện Yeywa trên sơng Myitnge
28
1
KHCN Điện, số 2.2018
TRẠM BIẾN ÁP CỦA MỸ ĐANG ĐƯỢC CỦNG CỐ
Ở Mỹ cĩ khoảng 300.000 dặm (480.000km) đường dây truyền tải điện cao
áp và khoảng 2 triệu dặm (3,2 triệu kilơmét) đường dây phân phối điện áp thấp phục vụ khoảng 300 triệu khách hàng Đĩ là những đường cấp điện cho hàng triệu khách hàng điện ở Mỹ Tuy nhiên, việc kiểm sốt và bảo
vệ các hệ thống điện ngày càng phức tạp trị giá 400 tỷ USD của quốc gia này lại nằm trong chưa tới 80.000 trạm biến áp chính
Trục trặc xảy ra trong bất kỳ trạm biến
áp nào, dù chỉ trong vài giây, cũng cĩ thể khiến khách hàng bị mất điện Những sự cố nghiêm trọng hơn cĩ thể gây mất điện trên diện rộng làm ảnh hưởng đến hàng ngàn,
cĩ thể hàng triệu khách hàng và kéo dài nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày
ĐẠN, BOM VÀ TIN TẶC
Trong thập kỷ qua, ngành điện Mỹ đã phải nghiêm túc xem xét những thiệt hại tiềm ẩn do các hành động khủng bố gây ra
Nỗi lo đĩ lại càng tăng sau một nghiên cứu năm 2014 của Ủy ban Điều tiết Năng lượng
BẢO VỆ LƯỚI ĐIỆN
Liên bang của Mỹ (FERC) kết luận rằng một cuộc tấn cơng phối hợp vào chín trạm biến áp chủ chốt cĩ thể làm mất điện cả nước Mỹ, một số khu vực cĩ thể bị mất điện tới vài tuần hoặc thậm chí vài tháng Nghiên cứu này khơng chỉ dựa vào giả thuyết, mà nĩ được thực hiện sau khi cĩ cuộc tấn cơng bắn tỉa thực tế vào trạm 500kV Metcalf của Cơng
ty Pacific Gas and Electric (Mỹ) vào tháng 4 năm 2013 Hơn một trăm viên đạn cỡ 30 đã làm vơ hiệu 17 máy biến áp Gần đây hơn, vào tháng 9 năm 2016, một tay súng đã bắn hỏng một trạm biến áp ở bang Utah, khiến 13.000 khách hàng bị mất điện trong một ngày Cơng ty điện lực này phải chờ vài tháng để sửa chữa hoặc thay thế máy biến áp
bị hỏng của trạm
Cho đến nay, vẫn chưa xảy ra cuộc tấn cơng lớn nào bằng chất nổ vào trạm biến áp ở Mỹ, mặc dù cĩ nhiều âm mưu nhưng đã thất bại trước khi cĩ thể gây thiệt hại đáng kể Một vụ tấn cơng bằng bom sẽ tác động trên diện rộng hơn nhiều nếu như bị kích nổ ở trên khơng bằng thiết bị hạt nhân Sức nĩng dữ dội từ vụ nổ và giãn nở gần như tức thời của khí quyển sẽ làm cho tầng điện ly tăng tốc đột ngột ra phía ngồi Khi đĩ, các hạt tích điện tăng tốc trong tầng điện ly sẽ gây ra một xung điện từ (EMP) cĩ thể cảm ứng những điện áp và dịng điện, gây tổn hại cho các đường dây điện và các mạch điều khiển đường dây Cả Nga và Mỹ đều đã thử nghiệm phương thức tấn cơng này,
và họ đã chứng minh rằng nĩ hoạt động!
Rào bảo vệ máy biến áp do Phịng thí nghiệm Quốc gia Idaho thiết kế Nhiều rào chắn này cĩ thể được liên kết với nhau để tạo thành một rào chắn đạn hồn chỉnh chống lại nhiều mối đe dọa (Ảnh; st)
Khi trạm biến áp trở nên tinh vi hơn cũng là lúc chúng dễ bị tổn thương hơn trước những yếu tố khĩ lường từ bọn khủng
bố, mẹ thiên nhiên và khơng gian mạng Để ứng phĩ với vấn đề này, ngành điện Mỹ đang nhanh chĩng triển khai các chiến lược để củng cố và tăng khả năng phục hồi trạm.
Trang 3Thiết bị chống sét và che chắn thích
hợp dây và cáp điều khiển có thể giúp
giảm nhẹ tác động của EMP
CỦNG CỐ CHỐNG LẠI CÁC CUỘC
TẤN CÔNG MẠNG VÀ TẤN CÔNG
VẬT LÝ
Đạn và chất nổ không phải là phương
tiện duy nhất để những kẻ lập dị và
khủng bố tấn công hệ thống điện Khi
tự động hóa trạm biến áp càng tinh vi
hơn, thì mối đe dọa tiềm ẩn của tấn công
mạng càng tăng lên Các trạm biến áp
có nhiều điểm để virus xâm nhập vào hệ
thống điện Và chúng ta biết rằng vũ khí
trên không gian mạng cũng có thể gây
tổn hại nghiêm trọng - như từng xảy ra
trong cuộc tấn công của Stuxnet vào nhà
máy hạt nhân của Iran vào năm 2014
Tập đoàn Độ tin cậy Điện Bắc Mỹ
(NERC) đang giúp xây dựng các tiêu
chuẩn bảo vệ cơ sở hạ tầng quan trọng
(CIP) cho ngành điện Mỹ An ninh mạng
và an ninh vật lý đều là ưu tiên hàng đầu
khi xây dựng CIP Tuy nhiên, do các cuộc
tấn công trên thực tế và hiện trạng trên
thế giới, nên trọng tâm đã dồn vào an
ninh vật lý Và không có gì đáng ngạc
nhiên khi mà trong hơn một thế kỷ qua,
các thiết bị quan trọng của trạm biến áp
quá lắm cũng chỉ được bảo vệ bằng hàng
rào vẫn có thể nhìn qua được hoặc đạn
bắn qua được Điều này giờ giờ cần được
xem xét và thay đổi
Các nhà cung cấp hiện đang chào bán
những bức tường chống đạn dựng xung
quanh các trạm hiện có Các tấm chắn
chống đạn đã có sẵn để bảo vệ các máy
biến áp riêng lẻ Trong một động thái
liên bang khác, Phòng thí nghiệm quốc
gia Idaho đã phát triển một hệ thống rào
chống đạn để bảo vệ trạm biến áp khỏi
mối đe dọa như đạn bắn, xe chứa vật liệu
nổ và vòi rồng
HỦY HOẠI DO THIÊN NHIÊN
Hủy hoại do thiên nhiên cũng có thể
khủng khiếp như do con người gây ra
sở tại bang New York, Mỹ), đang xây dựng
đê và tường để bảo vệ các trạm biến áp chống lại triều cường kèm theo bão Một
số công ty khác, như Centerpoint Energy (trụ sở tại bang Texas, Mỹ) đã nâng cao nền máy biến áp, nhà điều khiển và các thiết bị quan trọng khác lên cao hơn bãi bồi
VÀ TAI HỌA TỚI TỪ MẶT TRỜI
Không gian vũ trụ thậm chí cũng có thể tác động tới như phương tiện truyền thông định kỳ cảnh báo về những cơn bão mặt trời sắp xảy ra, có thể tạo ra trường điện từ đủ mạnh để phá vỡ nhiều mảng lớn của lưới điện Bắc Mỹ Giới báo chí nhắc nhở chúng
ta về ngày 13 tháng 3 năm 1989, khi hàng triệu người ở tỉnh Quebec (Canada) bị mất điện 12 giờ đồng hồ Đồng thời, trên khắp nước Mỹ, từ bờ Đại Tây Dương tới bờ Thái Bình Dương, đã bùng phát hơn 200 vấn đề trên lưới điện Những vụ mất điện này xuất hiện sau một đám mây chứa cả tỷ tấn khí phun ra từ mặt trời với tốc độ một triệu dặm một giờ đổ xuống từ trường của Trái đất
Kết quả là những dòng điện rất lớn, nguy hại, cảm ứng bởi từ trường trái đất (GIC) đã chảy qua các đầu trung tính của các máy biến áp lớn
NERC đã ban hành các tiêu chuẩn và các thủ tục về cải tạo thiết bị và hầu hết, nhưng không phải tất cả, các chuyên gia đều cho rằng chúng ta đã giải quyết được hiệu quả vấn đề rắc rối này Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, giới truyền thông vẫn sẽ lớn tiếng cảnh báo mỗi khi những vết lóa mặt trời xuất hiện
CHI TIẾT LÀ ĐIỀU RẤT QUAN TRỌNG
Cùng với những bức tường chống ngập nước, các tủ điều khiển được nâng cao và các tấm chắn chống đạn, thì để củng cố hiệu quả cũng cần phải chú ý kỹ tới việc đảm bảo các thiết bị trạm biến áp khó nhìn thấy hơn Việc che chắn, nối đất thích hợp
và cách điện đúng cách cho dây dẫn phòng điều khiển có thể tạo nên sự khác biệt giữa việc thà mất công một chút còn hơn là bị
Năm 1971, trạm nghịch lưu (biến dòng điện một chiều thành xoay chiều) Sylmar ở Nam California đã bị phá hủy nghiêm trọng sau trận động đất mạnh 6,7 độ Richter Siêu bão Sandy đã khiến một phần tư khách hàng ở Manhattan bị mất điện sau vụ cháy nổ khủng khiếp tại trạm biến áp bị ngập nước năm 2012 Có rất nhiều ví dụ khác, và theo DOE, số vụ mất điện do thời tiết khắc nghiệt dự kiến sẽ còn tăng lên vì biến đổi khí hậu làm tăng tần suất và cường độ của các cơn bão, bão tuyết, ngập lụt và các sự kiện cực đoan khác
BẢO VỆ CHỐNG NGẬP LỤT VÀ TRIỀU CƯỜNG KÈM THEO BÃO
Một số công ty điện lực vùng ven biển, như Công ty Con Ed (trụ
dừng máy trong điều kiện ngập lụt Khả năng phục hồi, cấp điện trở lại sau khi bị cắt điện chịu ảnh hưởng rất nhiều từ việc thay thế và nối lại dây và cáp Ở đây một lần nữa, việc che chắn và lựa chọn cách đi dây có thể tạo nên tất cả sự khác biệt này
Biên dịch: Bùi Thị Thu Hường
Theo “T&D World”, số 5/2017
Các vụ mất điện quan sát được trên hệ thống điện lớn, từ năm 1992-2012 (Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ) (Ảnh minh họa)
Con Edison đã xây dựng kế hoạch củng cố để bảo vệ khỏi ngập lụt cho các trạm biến
áp trên mặt đất Lưu ý đến công trình đê chắn bao quanh (Ảnh minh họa)
Trạm biến áp gần trung tâm thành phố Galveston, Texas, đã được đặt trên “cọc”
bê tông để bảo vệ trạm khỏi triều cường kèm theo bão trong tương lai (Ảnh: st )
Tủ bảo vệ lắp trên bệ mới có thể nâng cao lên trên mức ngập lụt dự kiến (Ảnh: st )
Do thời tiết
Không liên quan tới thời tiết
Chưa được phân loại
Các biện pháp củng cố cuối cùng (từ năm 2014-2016)
+ Các tủ rơle phân phối và có thể điều chỉnh nâng lên cao + Nâng cao nhà điều khiển
+ Nâng cao các hộp đấu nối + Thay đổi điều khiển sang dùng sợi quang + Nền tảng thiết kế tương lai sẽ phù hợp với cấp độ mới của các dự án tương lai
Tường cao chống lũ Hộp rơle
Máy cắt Máy cắt
Máy biến áp điều khiểnBuồng
Bơm
Ống nước thải
Từ đường dây
phân phối điện
Đường dây điện Hộp đấu nối Đường điều khiển/bảo vệ
Cách điện Đường dầu
Trang 44 KHCN Điện, số 2.2018 5
Tám mươi phần trăm chạm chập điện
trên đường dây phân phối trên không là
thoáng qua Các recloser bố trí dọc theo
đường dây phân phối sẽ phát hiện và giải
trừ những chạm chập thoáng qua này Các
recloser phân chia đường dây phân phối
thành nhiều phân đoạn Chúng mở hoặc
đóng những phân đoạn đường dây này một
cách độc lập với đường dây chính, giải trừ
các chạm chập mà không làm gián đoạn cấp
điện cho toàn bộ đường dây hoặc toàn bộ hệ
thống phân phối Mặc dù việc giải trừ chạm
chập chính xác được recloser hỗ trợ này giúp
cung cấp điện liên tục cho các khách hàng
ở những khu vực không bị chạm chập này
ảnh hưởng, nhưng một hệ thống phân phối
thông thường vẫn có thể gặp khó khăn khi
xảy ra chạm chập Tuy nhiên, một thế hệ các
bộ cảm biến chuyên dụng mới đang giúp
nâng bảo vệ lên một tầng cao mới
chập mới này gửi các tín hiệu phát hiện chạm chập tới bộ điều khiển hoặc rơle recloser để các thiết bị bảo về đưa ra quyết định tốt hơn
Hệ thống này sẽ nhanh chóng thông báo rằng có chạm chập (thường trong vòng 6 mili giây sau khi sự cố xảy ra), bộ điều khiển hoặc rơle recloser sẽ có được thông tin cần thiết
để áp dụng sơ đồ bảo vệ tốt nhất cho tình huống này trong khi chạm chập đang xảy ra trên đường dây
Các công ty điện lực đã áp dụng các bộ chỉ thị mạch bị chạm chập (FCI) để xác định
vị trí chạm chập đã nhiều thập kỷ nay, nhưng
ý tưởng sử dụng chúng để cải thiện bảo vệ
là mới Để tăng cường bảo vệ, hệ thống FCI phải cung cấp thông tin cho các bộ điều khiển recloser và các rơle lộ xuất tuyến nhanh hơn theo nhiều bậc độ lớn Những hệ thống cảm biến tốc độ cao này là tối ưu cho các ứng dụng trung áp sau đây:
• Các sơ đồ bảo vệ kết hợp tiết kiệm cầu chảy và cầu chảy nổ sớm sử dụng chung recloser hoặc rơle;
• Bảo vệ chọn lọc chính xác ở những chỗ chuyển tiếp từ đường dây ngầm lên đường dây trên không;
• Bỏ qua trễ phối hợp để tăng tốc độ bảo
vệ và giảm thời gian dòng điện chạm chập gây hư hại
Các hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo
vệ bao gồm máy phát và thu tín hiệu chạm chập Máy phát tín hiệu chạm chập chứa một máy biến dòng và kẹp vào một đường dây
lộ xuất tuyến trên không Máy phát tín hiệu
CÁC CHIẾN LƯỢC THAY THẾ CHO NHỮNG SƠ ĐỒ BẢO VỆ CHUYÊN BIỆT
Sử dụng một sơ đồ bảo vệ duy nhất không phải lúc nào cũng là lý tưởng đối với các phân đoạn đường dây có cả đường dây ngầm và đường dây trên không hoặc các phân đoạn đường dây có mạch rẽ được bảo
vệ bằng cầu chảy có mức độ quan trọng và khả năng tiếp cận khác nhau
Ví dụ, một số khu vực trong cùng một phân đoạn có thể yêu cầu thời gian trễ cho recloser
để cầu chảy nổ trước (tiết kiệm recloser) trong khi các khu vực khác lại được hưởng lợi từ việc recloser tác động nhanh hơn (tiết kiệm cầu chảy) Nếu áp dụng một sơ đồ duy nhất cho các phân đoạn khác nhau này sẽ dẫn đến
bỏ lỡ nhiều cơ hội tối ưu hóa các chỉ số của
hệ thống điện, như là Chỉ số Thời gian Gián đoạn Trung bình của hệ thống (SAIDI), Chỉ số Tần suất Gián đoạn Trung bình Thoáng qua (MAIFI) và Chỉ số Thời gian Gián đoạn Trung bình của Khách hàng (CAIDI) Các chỉ số này cung cấp thông tin chi tiết giúp người vận hành giảm số lần mất điện trong tương lai để phục vụ khách hàng tốt hơn
CÁC HỆ THỐNG CHỈ THỊ CHẠM CHẬP CẤP ĐỘ BẢO VỆ TỐI ƯU HÓA BẢO VỆ ĐƯỜNG DÂY
Một phương pháp bảo vệ mới và tiết kiệm là cải thiện tính năng của các recloser
đã có trong một hệ thống Các kỹ sư bảo vệ
hệ thống phân phối có thể thực hiện việc này bằng cách lắp đặt một hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ Hệ thống chỉ thị chạm
chạm chập thu năng lượng từ đường dây mà chúng gắn vào, cho phép chúng hoạt động
mà không cần acqui Khi vượt ngưỡng nhả được đặt trước, máy phát trong bộ phát tín hiệu chạm chập sẽ gửi tín hiệu không dây tốc
độ cao tới máy thu tín hiệu chạm chập Mỗi máy phát cũng định kỳ gửi tín hiệu radio về trạng thái liên kết đến máy thu để cho biết máy phát vẫn hoạt động
Trong hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ, máy thu tín hiệu chạm chập có thể đồng thời nhận được thông tin chạm chập từ nhiều máy phát tín hiệu chạm chập, làm tăng đáng kể hiệu suất truyền thông không dây bởi vì mỗi máy phát có thể truyền thông ngay lập tức Máy thu truyền thông cho rơle bảo vệ bằng cách sử dụng một giao thức tốc độ cao
Rơle bảo vệ hoặc bộ điều khiển recloser sử dụng thông tin chạm chập từ hệ thống phát
và thu này để tối ưu hóa các sơ đồ bảo vệ khi xảy ra chạm chập Nếu mất truyền thông radio
từ các máy phát, thì bộ điều khiển rơle hoặc recloser vẫn tiếp tục hoạt động với các sơ đồ bảo vệ tiêu chuẩn
SƠ ĐỒ BẢO VỆ HỖN HỢP
Đối với một phân đoạn lộ xuất tuyến phân phối đã cho, hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ tối ưu hóa hoạt động điều khiển recloser để giảm các sự cố gây mất điện (SAIDI) hoặc chạm chập thoáng qua (MAIFI) Bổ sung hệ thống máy phát và thu vào bộ điều khiển hoặc rơle recloser cho phép các kỹ sư bảo vệ phân phối điện kết hợp các sơ đồ bảo vệ và tạo ra các sơ đồ kết hợp để cân bằng các chỉ số SAIDI và MAIFI
Ví dụ 1: Nổ cầu chảy là chính và tiết
kiệm cầu chảy là phụ
Các sơ đồ nổ cầu chảy thường được sử dụng ở các khu vực đô thị nơi mà các lộ xuất tuyến có nhiều mạch nhánh Trong sơ đồ này, một chạm chập trên một mạch nhánh làm
nổ cầu chảy ở đầu của mạch nhánh này Mất điện chỉ giới hạn trong mạch nhánh này, và bộ điều khiển recloser ngăn không cho đóng lại đường dây chính, giúp cải thiện chỉ số MAIFI
Nhược điểm của phương pháp này là chạm
chập thoáng qua có thể làm nổ cầu chảy và gây mất điện lâu dài cho mạch nhánh, ảnh hưởng đến chỉ số SAIDI Để tối ưu hóa cả hai chỉ số SAIDI và MAIFI, các kỹ sư bảo vệ phân phối điện có thể sử dụng sơ đồ kết hợp nổ cầu chảy và tiết kiệm cầu chảy, sử dụng hệ thống chỉ báo chạm chập cấp độ bảo vệ
Họ có thể lắp các cảm biến truyền tín hiệu chạm chập lên các mạch nhánh vốn thích hợp hơn với tiết kiệm cầu chảy Những mạch nhánh này có thể có một phụ tải quan trọng hoặc hay bị chạm chập thoáng qua Khi rơle hoặc recloser xác định có chạm chập trên các mạch nhánh này, bảo vệ có thể ngay lập tức chuyển sang tiết kiệm cầu chảy, recloser tác động trước khi nổ cầu chảy
Ví dụ 2: Tiết kiệm cầu chảy là chính và
nổ cầu chảy là phụ
Khi tiết kiệm cầu chảy là sơ đồ bảo vệ chính, thì nỗ lực tối đa là giải trừ tất cả các chạm chập thoáng qua trên lộ xuất tuyến Phương pháp này thường được áp dụng ở các vùng nông thôn, địa bàn cấp điện lớn, địa hình gồ ghề, các khu vực có thời tiết khắc nghiệt, và khi có ít nhân viên Mục đích
là chỉ cắt điện khi có chạm chập vĩnh cửu Tiết kiệm cầu chảy cải thiện chỉ số SAIDI và các chi phí vận hành và bảo trì Nhược điểm của sơ đồ này là tự động đóng lặp lại nhiều lần khiến cho chỉ số MAIFI kém Trong một
sơ đồ kết hợp, các kỹ sư bảo vệ phân phối điện có thể sử dụng các cảm biến phát tín hiệu chạm chập trên những mạch nhánh thích hợp, là nơi mà nổ cầu chảy có lợi hơn Đây có thể là các nhánh có mật độ phụ tải thấp, không quan trọng hoặc là những địa điểm mà các kỹ thuật viên ngành điện có thể dễ dàng thay thế cầu chảy Khi rơle hoặc recloser xác định có chạm chập trên các mạch nhánh này, thì bảo vệ có thể ngay lập tức chuyển sang nổ cầu chảy
BẢO VỆ TẠI NHỮNG CHỖ CHUYỂN TIẾP TỪ LỘ XUẤT TUYẾN ĐƯỜNG DÂY NGẦM LÊN ĐƯỜNG DÂY TRÊN KHÔNG
Các lộ xuất tuyến có chỗ chuyển tiếp từ đường dây ngầm lên đường dây trên không
Các bộ chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ cải thiện khả năng phản ứng, khả năng hiển thị hệ thống và nâng cao tuổi thọ thiết bị.
XÂY DỰNG SƠ ĐỒ
BẢO VỆ TỐT HƠN
Một hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ sẽ tối ưu
hóa tác động điều khiển recloser, nhờ đó giảm bớt số
lần mất điện hoặc chạm chập thoáng qua (Ảnh: st )
Trang 5tạo ra các thách thức về bảo vệ cho các công ty điện
lực Các chạm chập ngầm thường là vĩnh cửu, trong
khi chạm chập trên không thường là thoáng qua
Các công ty điện lực thường không muốn đóng
lặp lại trên các chạm chập gần vị trí chuyển tiếp
từ đường dây ngầm với đường dây trên không, vì
có nhiều khả năng đây là chạm chập vĩnh cửu trên
đường dây ngầm Đóng lặp lại các chạm chập vĩnh
cửu gây căng thẳng cho cơ sở hạ tầng và thiết bị
và có thể làm hỏng cáp và các đầu nối Vì vậy, biết
chính xác vị trí của chạm chập là rất quan trọng để
lựa chọn sơ đồ bảo vệ tốt nhất
Hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ cho
phép bảo vệ tinh chỉnh tại các chỗ chuyển tiếp lộ
xuất tuyến ngầm lên đường dây trên không Các
kỹ sư bảo vệ phân phối có thể đặt máy phát tín
hiệu chạm chập ở các điểm chuyển tiếp đường
dây trên không và đường dây ngầm Nếu một
thiết bị phát hiện chạm chậm phát hiện ra một
chạm chập, nó sẽ gửi tin nhắn đến máy thu được
kết nối với rơle lộ xuất tuyến này Khi đó rơle này
có thể thay đổi sơ đồ bảo vệ của nó Phương pháp
tra, giúp cải thiện chỉ số CAIDI Khả năng sớm xác định phân đoạn bị chạm chập là đặc biệt hữu ích khi có nhiều đường dây lộ xuất tuyến, khó di chuyển đến nơi bị chạm chập và cách xa các con đường lớn, hoặc khi các đội thợ đường dây gặp điều kiện thời tiết xấu
HỆ THỐNG CHỈ THỊ CHẠM CHẬM CẤP ĐỘ BẢO VỆ CÓ THỂ CẢI THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA RECLOSER
Các recloser là những bổ sung rất có giá trị cho bất kỳ
hệ thống phân phối điện nào vì chúng giúp nâng cao độ tin cậy hệ thống, và có thể cải thiện đáng kể hoạt động của chúng với các cảm biến có khả năng phát hiện chạm chập, truyền thông tin rất có giá trị về vị trí chạm chập một cách nhanh chóng tới thiết bị điều khiển recloser hoặc rơle Bổ sung các hệ thống chỉ thị chạm chập cấp
độ bảo vệ giúp tạo ra cơ hội để tối ưu hóa các sơ đồ bảo
vệ trong các thiết bị điều khiển rơle hoặc recloser
Khi kết hợp các hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ với các thiết bị điều khiển recloser tiên tiến và các rơle lộ xuất tuyến sẽ mang lại các lợi ích chính cho
hệ thống phân phối điện bao gồm:
• Cải thiện các chỉ số SAIDI, CAIDI và MAIFI do kết hợp các sơ đồ tiết kiệm cầu chảy và nổ cầu chảy;
• Bảo vệ chính xác hơn cho những nơi chuyển tiếp
từ đường dây ngầm lên đường dây trên không, nhờ đó giảm số lần mất điện vĩnh cửu và nguy cơ đóng mạch lại khi có chạm chập trên đường dây ngầm;
• Bảo vệ nhanh hơn trên các lộ xuất tuyến hình tia do không mất thời gian chờ đợi cho việc phối hợp;
• Tăng tuổi thọ thiết bị;
• Cải thiện độ ổn định hệ thống và chất lượng điện;
• Cải thiện an toàn;
• Giảm thời gian tuần tra tìm vị trí chạm chập
Các bộ điều khiển recloser tiên tiến và rơle lộ xuất tuyến giúp cải thiện các chỉ số độ tin cậy bởi vì chúng
sử dụng các phương pháp phát hiện chạm chập chính xác hơn, giải trừ một lượng lớn hơn các chạm chập thoáng qua và cho phép áp dụng các sơ đồ cô lập chạm chập và khôi phục cấp điện thật hiệu quả Bằng cách bổ sung các hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo vệ cho những hệ thống bảo vệ hiện có, các công ty điện lực có thể nâng cao hơn nữa độ tin cậy, đạt được thêm nhiều lợi ích của hệ thống phân phối điện và tối ưu hóa hệ thống điện
Biên dịch: Minh Đức
Theo “ELP”, số 3/2018
chọn lọc tinh chỉnh này làm giảm số lần mất điện và cải thiện các chỉ số SAIDI
BỎ QUA THỜI GIAN TRỄ CHO PHỐI HỢP
Để giải trừ các chạm chập đường dây và thiết bị dọc theo mạch phân phối, các kỹ sư cài đặt một trình tự các thao tác trong các thiết bị bảo vệ quá dòng bằng cách quy định các đường cong và chế độ đặt đặc tính thời gian-dòng điện nhất định Điều này được gọi là phối hợp
Có sự phối hợp này giữa các thiết bị bảo vệ được lắp đặt theo cấu hình nối tiếp và cả giữa các thiết bị bảo vệ
và cầu chảy Một hệ thống chỉ thị chạm chập cấp độ bảo
vệ cung cấp cho recloser hoặc rơle các thông tin cần thiết
để giảm thời gian trễ cho việc phối hợp không cần thiết
Ví dụ, những người vận hành có thể sử dụng hệ thống này
để xác định khi nào chạm chập là ở phía thượng nguồn
từ recloser tiếp theo, trên các mạch nhánh không có cầu chảy, hay là trên các phân đoạn đường dây chính không có cầu chảy Khi đó hệ thống này có thể tác động nhanh hơn trong những trường hợp như vậy
BẢO VỆ NHANH HƠN
Giảm thời gian chạm chập không chỉ cải thiện các chỉ số
độ tin cậy mà còn có những lợi ích sau:
• Tăng tuổi thọ thiết bị: Giải trừ các chạm chập trước khi chúng phát triển đầy đủ, giúp giảm căng thẳng cho cơ sở
hạ tầng;
• Cải thiện độ ổn định hệ thống: Thời gian giải trừ chạm chập ngắn làm giảm dao động điện áp và sụt áp;
• Tăng độ an toàn: Thời gian chạm chập kéo dài có thể làm tăng nguy cơ hỏa hoạn hoặc điện giật
Trong các điều kiện chạm chập, điện áp có thể dao động
Các pha liền kề với pha bị chạm chập có thể bị sụt áp Rút ngắn thời gian chạm chập giúp giảm tác động của sai lệch điện áp, đặc biệt quan trọng đối với các thiết bị như là thiết bị điện tử của hộ tiêu thụ vốn có dung sai chất lượng điện nhỏ
Các dây dẫn bị cây cối hoặc các thiết bị khác chạm vào khi xảy ra chạm chập có thể gây tóe lửa Chạm chập càng lâu trên đường dây, thì tóe lửa càng kéo dài, và có thể dẫn đến hỏa hoạn thảm khốc Các dây dẫn bị đứt hoặc rơi xuống cũng có thể gây nguy hiểm điện giật Cách ly chạm chập càng nhanh sẽ làm giảm nguy cơ hỏa hoạn và các mối nguy an toàn khác
Bộ điều khiển recloser có thể lấy thông tin phát hiện chạm chập từ hệ thống chỉ báo chạm chập cấp độ bảo vệ
và gửi lại cho SCADA hoặc hệ thống quản lý mất điện Điều này giúp cho đội thợ đường dây biết được thông tin cụ thể hơn về vị trí và pha bị chạm chập, giảm thời gian tuần
Cải thiện thông tin vị trí chạm chập cho phép nhân viên giảm
thời gian tuần tra và lái xe trực tiếp đến mạch nhánh hoặc phân
đoạn bị chạm chập, nhờ đó cải tiến chỉ số CAIDI (Ảnh: st)
của bất kỳ tổn thất tín hiệu tải ba nào do cảm ứng đột biến điện, hay còn gọi là các
lỗ hổng tải ba gây ra
Smart-Gap tác động nhanh hơn so với các giải pháp truyền thống kiểu khe hở phóng điện, dập đột biến điện trong vòng chưa tới 0,5 msec, giúp giảm thiểu bất kỳ tổn hao tín hiệu nào
Smart-Gap không cần bảo dưỡng là một sự thay thế lý tưởng cho đèn phóng điện trong chất khí hoặc bảo vệ bằng khe
hở không khí, vốn cần phải bảo trì thường xuyên Kích thước nhỏ gọn của Smart-Gap giúp dễ dàng cải tạo lại đường dây, thay thế các bộ điều chỉnh dòng và các máy biến điện áp kiểu ghép nối tụ điện (CCVT)
Biên dịch: Chu Hải Yến
Theo “T&D World”, số 3/2018
Công ty AMETEK Power Instruments (Mỹ) vừa tung ra thị trường sản phẩm Smart-Gap, một sản phẩm để giải trừ đột biến điện trên các hệ thống tải ba trên đường dây điện
Smart-Gap cải thiện tính năng và độ tin cậy của việc truyền thông tải ba trên đường dây điện bằng cách giảm thiểu tác động
THIẾT BỊ GIẢI TRỪ ĐỘT BIẾN ĐIỆN TRÊN ĐƯỜNG DÂY ĐIỆN
Kích thước nhỏ gọn của Smart-Gap giúp bạn dễ dàng cải tạo lại đường dây
(Ảnh: st)
Trang 6KHCN Điện, số 2.2018
8
Hệ thống bảo vệ chống nước xâm nhập
vào tuabin được thiết kế để tránh nước lọt
vào, gây hư hại cho tuabin Hư hại tuabin hơi
do nước xâm nhập là mối quan ngại lớn về
kinh tế, độ an toàn và độ tin cậy Mọi kết nối
với tuabin đều có thể là nguồn nước tiềm ẩn,
xâm nhập từ thiết bị bên ngoài hay là tích tụ
hơi nước ngưng tụ
CÁC YÊU CẦU VỀ BẢO VỆ CHỐNG
NƯỚC XÂM NHẬP TUABIN (TWIP)
Tiêu chuẩn TDP-1 của ASME, “Ngăn ngừa
hư hại tuabin hơi dùng để sản xuất điện do
nước: Các nhà máy đốt nhiên liệu hóa thạch”,
ban hành năm 2013, nêu rõ nếu một thiết
bị nhà máy điện tuabin hơi bị trục trặc, hệ
thống TWIP cần:
• Phát hiện sự có mặt của nước trước khi
nước gây ra hư hại
• Cách ly nước bằng thao tác thủ công
hoặc tốt hơn, bằng phương tiện tự động
• Nếu phát hiện có nước thì phải loại bỏ
nước bằng thao tác thủ công hoặc tốt hơn là
bằng phương pháp tự động
Ngoài ra, “Không một sự cố đơn lẻ nào về
thiết bị, linh kiện, hoặc tín hiệu, hay là mất
điện có thể dẫn đến nước hoặc hơi nước
lạnh lọt vào tuabin.”
Một công ty điện lực ở vùng Đông Nam
nước Mỹ đang gặp các vấn đề về độ tin cậy
của các thiết bị chống nước xâm nhập vào
tuabin đã được lắp đặt tại những cơ sở khác
nhau của công ty Sự cố hệ thống bảo vệ
đã gây hư hại lớn cho tuabin của một trong
những nhà máy này
Một số nhà máy điện đơn lẻ của công ty
điện lực này đã liên hệ với Công ty Fossil Power
Systems (FPS, của Canada), bởi vì những
người vận hành muốn tìm ra giải pháp cho
các thiết bị TWIP hoạt động sai của họ Một
nhóm kỹ thuật của công ty đã được thành
lập Mục đích là để đánh giá các sự cố của
thiết bị bảo vệ chống nước xâm nhập tuabin
tại các nhà máy điện khác nhau đã được báo
cáo và phát triển một cấu hình thiết bị đo
tiêu chuẩn có thể sử dụng được tại tất cả các
cơ sở Các nhà máy điện này bao gồm từ các
CÁC YÊU CẦU VỀ QUY TRÌNH VÀ ỨNG DỤNG
Mặc dù các tham số thiết kế quá trình trong từng nhà máy có thể khác nhau, nhưng đối với các hệ thống TWIP, nhìn chung các tham số này là:
• Tái nhiệt lạnh: 800 psi (5,5MPa) ở 700F (370oC)
• Trích hơi ở tầng cánh 6: 800 psi (5,5MPa)
ở 700F (370oC)
• Trích hơi ở tầng cánh 12: 300 psi (2,07MPa) ở 700F (370oC)
• Tái nhiệt nóng: 800 psi (5,5MPa) ở 1.100F (593oC)
• Trích hơi ở tầng cánh 9: 500 psi (3,45MPa) ở 900F (482oC)
Độ dẫn điện danh nghĩa của nước là từ 1 đến 5 microsiemens Vì đây là các công trình lắp đặt cải tạo nên chỉ cần một tín hiệu đầu
ra duy nhất 4-20mA để sử dụng cặp dây hiện
có tới hệ thống điều khiển phân tán (DCS) trong phòng điều khiển Ngoài ra, thiết bị
đo này cũng cần phải tự chẩn đoán, chỉ thị chạm chập, và cũng phải an toàn khi sự cố
để mở van thoát nước tự động
Nhóm kỹ thuật của công ty đã thu thập
từ các nhà máy điện những dữ liệu về các thiết bị đo khác nhau đã từng hoạt động tại
cơ sở của công ty Các đặc tính của những công nghệ sẵn có này đã được đánh giá và
so sánh với các yêu cầu
Các lựa chọn tập trung vào hai công nghệ cho ứng dụng này: Các thiết bị đo đầu
dò độ dẫn điện và thiết bị radar có sóng dẫn hướng Dựa trên tính năng của thiết bị đo
và lịch sử hoạt động, các thiết bị đo đầu dò
độ dẫn điện FPS Aquarian đã được lựa chọn cho thử nghiệm cải tạo toàn phần đầu tiên của nhà máy
CÁC CẤU HÌNH CỘT ĐẦU DÒ
Một số cấu hình cột đầu dò đã được xem xét Có hai cột đầu dò điển hình nhất cho ứng dụng này Tuy nhiên, nhóm kỹ thuật của công
ty đã yêu cầu bổ sung một số điểm mức để có thêm chỉ dẫn và lựa chọn điều khiển Sau đó cũng có thể đánh giá tính năng lịch sử của hệ
Thay thế thiết bị đo giúp cải thiện bảo vệ
CHỐNG NƯỚC XÂM NHẬP
VÀO TUABIN
nhà máy nhiệt điện than kiểu cũ đến các nhà máy chu trình kết hợp kiểu mới
Các nhà máy điện này có nhiều loại thiết bị đo TWIP khác nhau (Hình 2), bao gồm các thiết bị nguyên thủy và các công nghệ đã được cải tạo như là thiết bị truyền tín hiệu so lệch áp suất (DP), tiếp điểm phao, hệ thống radar sóng dẫn hướng, máy đo lực nổi kiểu từ tính và máy truyền tín hiệu mức hạt nhân Do những hư hại tuabin xảy ra gần đây tại một nhà máy do nước xâm nhập, nên nhóm kỹ thuật của công ty đã dành ưu tiên cao cho dự án này
thống để phát hiện các vấn đề về hệ thống thoát nước trong mọi điều kiện của nhà máy, chẳng hạn như năng lực van không đủ
Họ đã chọn bốn thiết bị điện tử và cột đầu dò AQ1000P, sử dụng một mođun 4-20mA để chuyển đổi phát hiện mức điểm đầu dò sang một đầu ra 4-20mA duy nhất với các chức năng mức như sau:
• Đầu dò 4: Báo động mức cao-cao, tín hiệu 19,7mA
• Đầu dò 3: Báo động mức cao, tín hiệu 16,0mA
• Đầu dò 2: Mở van thoát nước (điều khiển bởi DCS), tín hiệu 12,0mA
• Đầu dò 1: Chỉ thị thấp, đóng van xả (do DCS điều khiển), tín hiệu 8,0mA
• Không có nước: Tín hiệu 4,3mA
• Chạm chập: Tín hiệu 0,0mA
Để phân tích chạm chập hệ thống, tín hiệu mức đầu ra 4-20mA đã được đấu nối tiếp với rơle “mức chạm chập” (trạng thái nước trên hơi, trình tự mức sai) và rơle “chạm chập mạch điện tử” (dây đầu dò bị đứt, mất nguồn điện AC, sự cố mạch điện tử) Với cách bố trí này, dễ dàng nhận diện được các tình trạng chạm chập trong DCS nếu tín hiệu 4-20mA giảm xuống bằng 0 (Hình 3)
Tổng cộng đã lắp đặt tám hệ thống thiết bị đo đầu dò độ dẫn điện Aquarian AQ1000P tại một cơ sở Một bố trí lắp đặt điển hình được thể hiện trong sơ đồ Hình 4 (bình thoát nước điển hình và bố trí thiết bị đo), và Hình 5 (công trình lắp đặt hệ thống TWIP điển hình) Tính năng của hệ thống này đáp ứng tất cả yêu cầu và mọi cải tạo bổ sung đã được cho phép Những cải tạo bổ sung này
Ống hơi chuyển động
Bình thoát nước
Báo động mức cao
Báo động
Cầu dao
xả nước bằng tay
Tiếp điểm
vị trí van
Chỉ thị vị trí van Thoát nước
LE
LE
Hình 1 Mô tả một bình thoát nước và hệ thống thiết bị đo điển hình (Ảnh minh họa)
Hình 2 Vị trí đặt thiết bị đo bảo vệ chống nước xâm nhập tuabin Sơ đồ
cho thấy các vị trí đặt thiết bị đo điển hình trong một hệ thống TWIP trong nhà máy điện Các nhà máy mà FPS nghiên cứu có nhiều thiết bị đo TWIP, bao gồm cả thiết bị nguyên thủy và thiết bị thay thế (TWIP) (Ảnh minh họa)
Trang 7• Nhỏ gọn, phù hợp với không gian chật hẹp Không cần phải hiệu chuẩn
• Phát hiện nước ở cả trạng thái hơi bão hòa và hơi quá nhiệt
• Cung cấp bảo vệ tự an toàn và có thể phát hiện được cả nước có độ dẫn điện thấp
• Mỗi đầu dò cung cấp một tín hiệu độc lập Có thể được thử nghiệm và bảo dưỡng trong khi nhà máy đang hoạt động cũng như khi ngừng
• Ít phải bảo trì theo các trạng thái quy trình hơi quá nhiệt sạch
• Thông thường có thể cải tạo sửa đổi bằng cách sử dụng van xả nước ngưng hiện
có của nhà máy và các kết nối thiết bị đo quy trình
• Các loại vật liệu ống bằng thép cacbon
và crôm molipđen sẵn có để đáp ứng các điều kiện thiết kế quy trình
• Đáp ứng các yêu cầu của ASME TDP-1 cho bảo vệ TWIP
Một hệ thống TWIP hoạt động đúng chức năng rất quan trọng để bảo vệ chống lại hiện tượng nước xâm nhập vào tuabin hơi, có khả năng theo dõi, phát hiện, cô lập và loại bỏ nước xâm nhập vào các bộ phận quan trọng, ngăn ngừa hư hại
Biên dịch: Gia Hiếu
Theo “Power”, số 2/2018
Tín hiệu đầu dò
Mođun 4-20mA
Các kết
nối tới
đầu dò
tại cột
Rơle mức chạm chập
Tới DCS
Rơle chạm chập mạch điện tử
Hình 3 Xác định các tình trạng chạm chập Sơ đồ này cho thấy tín
hiệu đầu ra của mạch điện tử AQ1000P là 4-20mA Trong cấu hình
này, có thể xác định các tình trạng chạm chập trong hệ thống điều khiển
phân tán nếu tín hiệu 4-20mA giảm xuống bằng 0 (Ảnh minh họa)
1 Đường hơi chính
2 Bình thoát nước
3 Van cách ly cột
4 Van xả cột
5 Cột đầu dò với hộp đấu dây
6 Mạch điện tử đầu dò AQ1000P 4 7.Van xả tự động
Hình 4 Bình thoát nước điển hình và bố trí thiết bị đo Sơ đồ cho
thấy bố trí bình thoát nước (nước ngưng) phía dưới vòi hơi chính, với
các vị trí của van xả và thiết bị khác đã được xác định Lưu ý vị trí của
các thiết bị điện tử đầu dò AQ1000P (Ảnh minh họa)
được phối hợp để trùng với thời gian ngừng hoạt động
của nhà máy
Tổng cộng có 169 thiết bị thay thế đã được lắp đặt
trong thời gian 5 năm, đã khôi phục lại được mức bảo vệ
và độ tin cậy tại các nhà máy điện ở 11 địa điểm, và các
nâng cấp đã được bổ sung và lên kế hoạch Các thiết bị
đầu dò độ dẫn điện FPS Aquarian đã chứng tỏ là sự lựa
chọn công nghệ thích hợp cho ứng dụng TWIP này Các
thiết bị này có một số thuộc tính như sau:
• Không có bộ phận chuyển động
• Có khả năng chịu được nhiệt độ và áp suất quy trình
cao, không bị hư hại do hiện tượng thủy kích hoặc ảnh
hưởng từ những thay đổi nhanh của quy trình
Hình 5 Lắp đặt hệ thống TWIP Ảnh cho thấy hệ thống
TWIP lắp đặt tại nhà máy điện, có thể nhìn thấy rõ các van và ống xả (Ảnh:st)
Hiệu suất tuabin hơi phụ thuộc rất nhiều vào sự toàn vẹn và tính năng của các vòng chèn giữa các tầng hơi của đường hơi Vòng chèn giữa bộ phận quay của tuabin, vòi phun tĩnh và vỏ được thiết lập bằng cách sử dụng vòng chèn hình chữ chi của mặt phân cách giữa răng vòng chèn từ cao tới thấp
Chèn hình chữ chi có dung sai nhỏ được thiết kế
để giảm độ sụt áp trên mỗi răng vòng chèn, đảm bảo chỉ một lượng nhỏ hơi lọt qua so với tổng lưu lượng hơi của tuabin Các vòng chèn J có thể thay thế được là một công nghệ vòng chèn giữa các tầng hơi thường được các nhà chế tạo thiết bị nguyên thủy (OEM) tuabin hơi sử dụng Bằng cách thay thế vòng chèn J đã bị mài mòn vào các đợt đại tu đường hơi, chủ sở hữu có thể khôi phục lại hiệu quả chèn giữa các tầng hơi
MỘT SỐ MẸO KIỂM TRA
Vòng chèn J có thiết kế hai mảnh và được lắp thủ công, làm tăng rủi ro nhầm lẫn trong lắp đặt từ phía
kỹ thuật viên lắp đặt Nếu vòng chèn không được lắp đúng cách, dây lèn sẽ bị biến dạng và uốn cong dưới ứng suất nhiệt, và có thể bung khỏi rãnh Khi
mà vật liệu giữ lỏng ra, vòng chèn có nguy cơ bị sự
cố Vật liệu vòng chèn bị bung ra có thể di chuyển
về phía hạ lưu qua đường hơi quay, gây ra hư hại đáng kể
Điều quan trọng là phải biết loại công nghệ vòng chèn được sử dụng trong đường hơi trước khi kiểm tra thiết bị Cần xem xét lại các bản vẽ cánh tuabin cho từng phần của roto để kiểm tra loại vòng chèn được sử dụng (Hình 1), vị trí của răng vòng chèn, hướng dòng hơi, và các chi tiết khác
Để bảo vệ đường hơi khỏi bị hư hại do bị các chi tiết bung ra và di chuyển, khuyến nghị mỗi năm hai
Vòng chèn J là một phần không thể thiếu trong vận hành hiệu quả tuabin hơi Sự cố của một vòng chèn J có thể gây ra thiệt hại đáng
kể cho roto tuabin khi vật liệu lăn xuống phía hạ lưu Vì lý do đó, nhân viên nhà máy cần biết được loại công nghệ vòng chèn nào được lắp đặt trong thiết bị của họ và hiểu cách tốt nhất để kiểm tra hệ thống đường hơi của họ để xác định những vấn đề tiềm ẩn trong thời gian dừng máy bảo trì định kỳ.
1 Lập kế hoạch kiểm tra là vấn đề then chốt
Vòng chèn J là một công nghệ vòng chèn giữa các tầng hơi thường được sử dụng trong tuabin hơi và được thiết kế để có thể thay thế được, do đó, người vận hành tuabin có thể khôi phục lại hiệu quả chèn giữa các tầng hơi trong quá trình đại tu đường hơi Cần xem lại các bản vẽ cánh tuabin và kỹ thuật viên phải biết loại công nghệ vòng chèn được sử dụng trong đường hơi, thì mới
dễ nhận ra các vấn đề về vòng chèn J (Ảnh minh họa )
Giảm thiểu và quản lý nguy cơ sự cố vòng chèn J trong
hệ thống đường hơi tuabin
Trang 8KHCN Điện, số 2.2018
12
lần, phải kiểm tra tình trạng các
vòng chèn bằng kính soi bên trong
Người kiểm tra bằng kính soi bên
trong cần tập trung vào mặt phân
cách giữa phía trên vành cánh quay
tới vỏ tĩnh để phát hiện các vòng
chèn J bị lỏng và bung ra Bất kỳ
vòng chèn nào nghi ngờ bị bung ra
đều phải được kiểm tra 360 độ
qua-nh tầng hơi để xem có bất kỳ mảqua-nh
vật liệu nào vỡ ra hay không
TRƯỜNG HỢP VÒNG CHÈN J
BỊ BUNG RA
Người sử dụng tuabin hơi cao áp
(HP)/trungáp (IP), hạ áp (LP) dòng
chảy kép cần chuẩn bị ngừng máy
để thực hiện kiểm tra hàng năm
bằng kính soi bên trong Thiết bị
này có độ rung cao bất thường và
gặp vấn đề chịu tải khi vận hành ở
chế độ phụ tải đáy toàn phần Một
phân tích hoạt động chỉ rõ khả năng
hư hại bên trong do vấn đề mang
tải; không thẳng hàng cũng là một
yếu tố, cần có nhiều thông tin hơn
để chẩn đoán hư hại
Trong thời gian ngừng máy
theo kế hoạch, máy dừng lại nhanh
chóng sau khi thiết bị quay không
vào khớp Máy nguội đi ở trạng thái
tĩnh tại bởi vì roto không thể xoay
được bằng tay Cần có sự trợ giúp
để chẩn đoán thiết bị quay và các
vấn đề về xoay máy Đã cố gắng
xoay roto nhưng không được; có gì
đó bên trong đường hơi đã cản trở
roto hoạt động theo thiết kế
Một thủ phạm tiềm ẩn là vòng
chèn J bị sự cố Thực tế là không
xoay được roto là dấu hiệu cho thấy
có thể có vật liệu đã di chuyển về
phía hạ lưu, và vào lúc đó, đã lên kế
hoạch kiểm tra hư hại trên đường
hơi phía hạ lưu Trong trường hợp
này, có lo ngại rằng vật liệu vòng
chèn J bị vỡ ra có thể đã đi vào hệ
thống LP
2 Tìm chỗ bung vòng chèn J Kiểm tra bằng kính soi bên trong cho thấy hình ảnh vòng chèn
J bị bung ra bên trong tuabin Ở đây, các mũi tên chỉ vào các chỗ có vấn đề của vòng chèn J, ở đó vòng chèn J và dây lèn bị bung ra khỏi rãnh vỏ, có thể làm văng vật liệu về phía hạ lưu (Ảnh: st )
Các bản vẽ vỏ tuabin đã xác định
vị trí của bốn cổng kiểm tra bằng kính soi bên trong Cổng đầu tiên
đã được mở ra và cho phép tiếp cận cửa ra IP tầng cuối cùng đến ống đầu vào LP (Hình 2)
Các nguy cơ vật liệu bị bung ra bao gồm giảm hiệu quả chèn hơi, rung động do dòng xoáy hơi nước mất ổn định, và khả năng ma sát cục bộ do vật liệu cuốn vào Trong trường hợp xấu nhất, vật liệu di chuyển có thể làm hư hại đáng kể đường hơi hạ lưu, và vật liệu ngoại lai tự do chảy qua đường hơi phá hủy các bề mặt phân cách của vòng chèn Ngay cả những vật liệu nhỏ nhất cũng có thể kẹt vào giữa các
bề mặt lắp ráp vòng chèn, và bị răng vòng chèn quay giữ lại, ảnh hưởng đến khe hở giữa chi tiết quay
và không quay và làm hư hại răng vòng chèn
Răng vòng chèn giữ lại vật liệu rời và sau đó giật mặt vòng chèn
cố định ra, tạo ra một quả cầu từ vật liệu vòng chèn và một điểm trung tâm di động làm nóng và gây rung động Trong trường hợp nghiêm trọng, điểm trung tâm này tác động lên roto khi nó đi xuống thiết bị quay Khi tốc độ giảm, quả cầu vật liệu nguội đi, nhưng nếu roto dừng vì bất kỳ lý do nào, thì vật liệu này có thể làm cho vỏ cố định dính với cánh quay, và roto bị
kẹt lại (Hình 3)
Xem kỹ các bản vẽ hệ thống (Hình 4) đã phát hiện ra một nút ống nối bắt ren đặt ở vị trí khửu ống hơi LP đi vào hệ thống LP Giàn giáo đã được dựng lên, cách nhiệt được tháo ra, và kính soi bên trong được đưa vào khuỷu ống Điều này cho phép tiếp cận tới bộ chia dòng chảy đường hơi LP và vòi phun LP tầng 1
Một dây lèn vòng chèn J đã được phát hiện, nằm ở vòi phun
LP tầng 1 (Hình 5) Do dòng chảy của đường hơi nước, mảnh vật liệu này chỉ có thể trôi từ thượng nguồn xuống Điều này chứng tỏ rằng các vòng chèn J bị sự cố tại ống xả IP
đã di chuyển xuống phía hạ lưu và rất có thể là nguyên nhân làm roto
bị kẹt Sau khi phát hiện ra dây lèn
bị dịch chuyển, người ta khuyến cáo rằng nên tháo ống LP để tạo đường vào bộ chia dòng chảy
để kiểm tra kỹ hơn và loại bỏ vật liệu Ban quản lý nhà máy cũng đã quyết định tách rời roto HP/IP ra khỏi roto LP để kiểm tra xem roto nào bị kẹt; HP/IP xoay được còn
LP thì không Tiếp cận với bộ chia dòng chảy LP và vòi phun tầng 1 cho phép kính soi bên trong tiến sâu hơn nữa vào đường hơi LP, và cho thấy một vòng chèn J bị di chuyển ở đầu của vòi phun tầng 2
KIỂM TRA MỞ VỎ
Các chuyên gia khuyến cáo nên tháo roto ra khỏi vỏ để kiểm tra đầy đủ hư hại đường hơi và loại bỏ vật liệu bị bung ra
Khi tuabin được mở ra (Hình 6),
đã cố gắng dùng một thanh đồng luồn qua một lỗ bu lông ghép nối
để quay roto Roto không chịu quay, nên họ đã dùng cầu trục
để đặt thêm lực; và roto đã quay, nhưng rất chậm Rõ ràng roto đã bị kẹt ở một điểm cao; khi quay roto
có tiếng kim loại quẹt vào vỏ Một khi điểm cao vượt ra khỏi mặt chia tách vỏ tuabin, roto lăn nhẹ nhàng
và tiếng ồn cũng biến mất
Vật liệu thể hiện trên Hình 3
đã dính vào vỏ tuabin, và xác định được rằng vật liệu vòng chèn bị giật ra đã gây ra dính roto Khi xác định có vật liệu vòng chèn J di chuyển vào đường hơi và gây cản trở, nhà máy quyết định mở roto HP/IP ra để kiểm tra thêm hư hại
do vòng chèn J gây ra
Nửa trên của vỏ HP/IP được tháo ra để kiểm tra các vòng chèn
cố định, và lúc đó lập bản đồ sự
cố và xem xét kỹ hơn các sự cố trên hệ thống ở từng tầng Phân tích sự cố cho thấy nguyên nhân gây sự cố không phải là do một
sự kiện chà xát vì răng vòng chèn vẫn còn tốt, không có dấu hiệu
“nấm” do chà xát như dự kiến Kiểm tra thêm đã xác định dây lèn bị bung ra khỏi rãnh giữ
ở năm tầng Dựa vào hiểu biết
về quá trình lắp đặt, đã xác định rằng có nhiều khả năng chính một người vận hành đã lắp đặt tất cả các bộ vòng chèn bị sự cố này Nhân viên điều tra bảo hiểm của khách hàng đã xem xét các phát hiện một cách độc lập tại chỗ mà không có sự tham gia của HRST và cũng đã có kết luận tương tự
Đã kiểm tra kết cấu toàn bộ đường hơi để xem còn có bất
kỳ nghi ngờ khác gây sự cố của vòng chèn J Cả hai roto HP/IP và
LP đã được lấy ra khỏi vỏ để tiếp cận được, và hai thanh tra được giao nhiệm vụ kiểm tra hàng trăm
3 Vật liệu vòng chèn J có thể làm cho
roto bị kẹt Một quả cầu vật liệu giật ra
khỏi bề mặt vòng chèn cố định, như thấy trên hình, có thể tự nó hàn dính với các cánh và làm cho roto bị kẹt, gây hư hại và cần phải sửa chữa (Ảnh: st )
4 Bố trí đường hơi Việc xem xét các bản vẽ hệ thống cho đường hơi trong
trường hợp này đã xác định một nút kiểm tra có vị trí chiến lược cho phép kiểm tra bằng kính soi bên trong bộ chia dòng chảy đường hơi áp suất thấp (LP) và các vòi phun LP tầng 1 (Ảnh: st )
5 Một trong những thủ phạm Một
dây lèn đã di chuyển từ thượng lưu trong đường hơi đã được tìm thấy trong vòi phun LP tầng 1, là bằng chứng rõ hơn về
sự cố của vòng chèn J phía thượng nguồn (Ảnh: st)
6 Nhìn vào bên trong tuabin LP
Nhìn thấy roto LP sau khi tháo bỏ nửa
vỏ phía bên trên Khi nửa vỏ được mở
ra, đã có thể xoay roto bằng tay, nhờ đó
có thể xác đinh rằng vật liệu vòng chèn J
đã bị giật ra (Hình 3) khiến roto bị kẹt
lại trong trường hợp này (Ảnh: st)
Trang 9Hình 1 Ảnh chụp Nhà máy thủy điện
Yeywa, Đập RCC và đập tràn (Ảnh: st)
DÒNG CHẢY MÔI TRƯỜNG
ĐỂ NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN YEYWA PHÁT ĐIỆN BỀN VỮNG
Quản lý theo cách truyền thống hồ chứa thủy điện thường dẫn tới những thay đổi đáng kể về chế độ dòng chảy tự nhiên ở hạ lưu các nhà máy thủy điện Các chuyên gia đã mô phỏng vận hành hồ chứa để phân tích tác động của các kịch bản vận hành khác nhau lên sản xuất điện năng và chế độ dòng chảy tự nhiên của hồ chứa Nhà máy thủy điện Yeywa ở Myanmar Nghiên cứu cho thấy có thể cải thiện vận hành Nhà máy thủy điện, tăng sản lượng điện, đồng thời duy trì các yêu cầu của dòng chảy môi trường đối với hệ sinh thái vùng hạ lưu.
vòng chèn J Việc kiểm tra bao gồm xác
định và loại bỏ vật liệu ngoại lai, hiển thị
tất cả các dây lèn và vòng chèn J, và đo
tất cả các khe hở đầu dây lèn và các đầu
dây gò bằng búa
Nhóm kiểm tra phải đánh dấu chỗ
phát hiện sự cố ở bất kỳ khu vực nào
bằng dấu chấm màu lam và thông báo
kỹ thuật để xử lý Tất cả vật liệu ngoại lai
cũng đã được đánh dấu
KIỂM SOÁT QUY TRÌNH
SỬA CHỮA
Trong trường hợp này, cần tiến hành
sửa chữa về kỹ thuật và xử lý, kiểm soát
theo quy trình hoạt động do HRST phát
triển Điều quan trọng là phải xác minh
bằng cấp của tất cả kỹ thuật viên lắp đặt
để họ có thể xác minh rằng tất cả vật liệu
được sử dụng là phù hợp với quy định
kỹ thuật thiết kế của nhà chế tạo thiết
bị nguyên thủy (OEM) Kích cỡ súng gò
và áp suất không khí phải đúng, và phải
thực hiện một số phép đo quan trọng
và xác nhận là trong phạm vi dung sai
Sau khi kiểm tra toàn bộ các yêu cầu
sửa chữa và thấy không còn vấn đề gì,
thì giao tuabin cho khách hàng lắp đặt
Trong trường hợp này, người ta đã tháo
bỏ 16 bộ vòng chèn để thay thế toàn bộ,
gò lại bốn vị trígồ lên đáng quan ngại, gia
công vòng chèn hai tầng quay, và mài
tất cả răng vòng chèn trước khi giao cho
khách hàng
Tuy nhiên, việc kết thúc kiểm tra và
sửa chữa vòng chèn chỉ là một phần
tương đối nhỏ trong phạm vi sửa chữa
tổng thể Khách hàng buộc phải gửi roto
về xưởng để duỗi thẳng cánh roto, vì nó
đã bị uốn cong do không thể xoay được
nó khi để nguội Công ty MD&A ở thành
phố St Louis (bang Missouri, Mỹ) thực
hiện công việc này thông qua ứng dụng
“hot shot”, và đưa roto trở lại các quy
định kỹ thuật của OEM
Biên dịch: Nguyễn Thị Dung
Theo “Power”, số 11/2017
1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC DỮ LIỆU
1.1 Đặc tính dòng chảy và các yêu cầu của dòng chảy môi trường
Trong lưu vực có hai trạm thủy văn: Trạm Hsipaw và Trạm Shwe-saryan Trạm Shwesaryan nằm ở hạ lưu Nhà máy thủy điện Yeywa,
do vậy trạm này được lựa chọn cho nghiên cứu này Kể từ cuối năm 2010, khi đập được hoàn thành, đặc tính dòng chảy sông My-itnge ở hạ lưu đập đã thay đổi Dữ liệu dòng chảy trung bình ngày được ghi lại tại điểm phía hạ lưu (trạm Shwesaryan) đã được phân tích theo hai giai đoạn, từ năm 1981 đến năm 2010 (trước khi xây đập) và giai đoạn 2011-2016 (sau khi xây dựng đập) nhằm đánh giá những thay đổi về dòng chảy tại trạm đo lường do công trình thủy điện này gây ra Dòng chảy tháng lớn nhất, trung bình, và nhỏ nhất, đối với các thời kỳ trước khi xây đập và sau khi xây đập, được thể hiện ở Bảng 1, cho thấy ảnh hưởng đối với dòng chảy sông Myitnge so với tình trạng tự nhiên
Bằng cách sử dụng các dữ liệu dòng chảy trong thời kỳ trước khi xây đập thủy điện được lưu trữ tại Trạm đo lường
Shwesary-an, có thể xác định dòng chảy môi trường trong giai đoạn nghiên cứu ban đầu Trong quá trình tính toán ảnh hưởng thủy văn dựa trên dữ liệu dòng chảy trước đây, cách tiếp cận dựa trên chế độ, tức là cách tiếp cận dải thay đổi (RVA), tỏ ra thuận lợi nhất để quy định dòng chảy môi trường
1.2 Đánh giá thay đổi thủy văn
Phương pháp RVA dựa trên một tập hợp các “chỉ
số ảnh hưởng thủy văn” (IHA) để đặc trưng các chế độ dòng chảy tự nhiên và dòng chảy bị ảnh hưởng, bằng cách sử dụng 32 tham số IHA được chia làm 5 chủng loại: Độ lớn, khoảng thời gian, thời gian, tần suất, và tốc
độ thay đổi
Đối với chuỗi dữ liệu trước khi xây đập và sau khi xây đập, có thể tính các giá trị trung vị của từng thuộc tính trong số 32 thuộc tính trên Đối với các trường hợp không có dữ liệu tiêu chí dòng chảy trên dòng sông này và không có đủ thông tin sinh thái, dải IHA được đóng khung trong phạm vi các giá trị trung vị thứ
25 và 75 của dòng chảy ngày, trong thời kỳ trước khi xây đập, với ngụ ý rằng 50% các năm trước khi xây đập
có các giá trị IHA thuộc dải mục tiêu này
Mức độ ảnh hưởng thủy văn D là thước đo định lượng độ sai lệch của chế độ dòng chảy trong thời kỳ sau khi xây đập, được định nghĩa trong công thức sau:
Di = [(N0 – Ne)/Ne] * 100%
Trong đó:
Di = mức độ ảnh hưởng thủy văn đối với chỉ số thứ i
No = số năm sau khi có đập quan sát được mà ở đó giá trị của tham số thủy văn nằm trong phạm vi dải tiêu chí RVA; và,
Ne = số năm kỳ vọng sau khi có đập mà giá trị tham
số nằm trong dải tiêu chí RVA
Giá trị của Di trong dải từ 0 đến 33% là ít hoặc không thay đổi, từ 33 đến 67% là thay đổi ở mức vừa phải, và
từ 67 đến 100% là có mức độ thay đổi lớn Ngoài ra, chỉ
số tích hợp duy nhất D0 trong công thức sau, là giá trị trung bình của 32 bậc thay đổi đối với 32 tham số IHA thể hiện sự thay đổi thủy văn tổng thể:
1.3 Vận hành hồ chứa có tính đến dòng chảy môi trường
Mô hình mô phỏng hệ thống hồ chứa HEC-Res-Sim đã được sử dụng để mô phỏng vận hành hồ chứa và Nhà máy thủy điện Yeywa Mô hình này có
ba mođun chính: Thiết lập lưu vực, mạng hồ chứa và mođun mô phỏng
Việc mô phỏng đã được tiến hành với năm kịch bản liên quan tới đường cong quy tắc vận hành hiện nay
Trang 10KHCN Điện, số 2.2018
16
Hình 5 thể hiện sản lượng điện thực tế và mô phỏng đối với thời kỳ 2011-2013 Kết quả của
mô hình cho thấy rõ mô hình mô phỏng hồ chứa có thể thể hiện và mô phỏng hệ thống thủy điện ở mức chấp nhận được
Dòng chảy ngày tại trạm Shwesaryan trong thời kỳ 2011 đến 2016 được tính toán bằng mô hình mô phỏng Sau đó, các tiêu chí RVA đối với 32 thuộc tính thủy văn dược tính toán theo các điều kiện dòng chảy tự nhiên (trước khi xây đập) được cho trong Bảng 3 (cột 2 và cột 3) Lưu ý rằng các dòng chảy tháng trung vị trên Hình 4 cho thấy một mẫu hình gia tăng từ tháng 4 đến tháng
8 và một mẫu hình giảm dần từ tháng 9 đến tháng 3 Thời kỳ dòng chảy thấp kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5 Đối với thời kỳ dòng chảy thấp, dòng chảy tháng trung vị cao hơn trong thời kỳ sau khi có đập Số năm kỳ vọng, số năm quan sát, mức độ thay đổi về thủy văn và các cấp (mức thay đổi cao, trung bình và thấp của các tham số riêng lẻ) được
3)
Hình 4 Dòng chảy tháng trung vị tại Trạm Shwesaryan theo quy tắc vận
hành hồ chứa hiện nay (Ảnh minh họa)
Hình 5 Sản lượng điện mô phỏng và thực tế cho thời kỳ 2011-2013
(Ảnh minh họa)
Dòng chảy trước khi bị ảnh hưởng (1981-2010) Dòng chảy sau khi bị ảnh hưởng (2011-2016)
Quan sát
Quan sát
Mô phỏng
Từ mô hình mô phỏng, có thể tính
toán sản lượng thủy điện ngày của
nhà máy thủy điện cũng như dòng
chảy bị ảnh hưởng và mức độ thay
đổi thủy văn tại trạm Shwesaryan
cho từng kịch bản Các kịch bản được
phân tích là:
• Kịch bản 0: Mô phỏng từ năm
2011 đến năm 2016 bằng cách sử
dụng quy tắc vận hành hiện nay;
• Kịch bản 1: Vận hành hết công
suất nhà máy điện;
• Kịch bản 2: Mô phỏng bằng cách
sử dụng chính sách vận hành được phát
triển nhằm tối ưu hóa sản lượng điện;
• Kịch bản 3: Mô phỏng sao cho
dòng chảy tại hạ lưu nhà máy điện
luôn nằm trong dải RVA quy định; và
• Kịch bản 4: Mô phỏng hồ chứa
để cân bằng hai mục tiêu này
2 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
2.1 Yêu cầu về dòng chảy môi
trường
Bảng 2 nêu các yêu cầu của dòng
chảy môi trường đối với sông
My-itnge dựa trên phương pháp
Tes-sman, phương pháp đường cong
khoảng thời gian dòng chảy (FDC) và
phương pháp cách tiếp cận dải thay
đổi (RVA) Hình 3 thể hiện đường
cong khoảng thời gian dòng chảy
hằng tháng trong thời kỳ trước khi
xây đập (1981-2010) tại trạm
Shwe-saryan, và yêu cầu dòng chảy tối
thiểu được đặt là Q95, bằng 138m3/s
Hình 4 là đầu ra của phần mềm IHA
mô tả các kịch bản dòng chảy tháng
trung vị trước khi xây đập và sau khi
xây đập tại trạm Shwesaryan Dễ
thấy là chế độ dòng chảy đã bị ảnh
hưởng rất nhiều do vận hành các nhà
máy thủy điện
2.2 Vận hành hồ chứa với các
kịch bản thay thế
Trước tiên, mô phỏng hồ chứa
được tiến hành bằng cách sử dụng
BẢNG 4 TÓM TẮT KẾT QUẢ CÁC KỊCH BẢN NGHIÊN CỨU ĐỂ VẬN HÀNH ĐẬP Kịch bản Thay đổi sản lượng điện so với trường hợp cơ sở (%) Số các tham số RVA Mức độ tổng thể của HA (%)
Thấp Trung bình Cao
0 Trường hợp cơ sở 3 15 14 70(H)
BẢNG 1 ĐẶC TÍNH DÒNG CHẢY TẠI TRẠM SHWESARYAN (M 3 /S) Thời kỳ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Trước khi xây đập (1981-2010)
Min 74 90 113 107 112 170 385 616 584 383 225 105 Trung bình 243 203 182 170 198 325 601 1062 1027 805 553 336 Max 435 335 305 292 454 739 1364 1592 1545 1634 1064 628
Sau khi xây đập (2011-2016)
Min 195 186 223 229 229 224 286 376 684 438 310 241 Trung bình 277 264 254 280 303 261 355 1023 983 633 457 316 Max 373 347 326 324 440 346 400 1683 1478 982 738 434
Tháng Lưu lượng
BẢNG 2 YÊU CẦU DÒNG CHẢY MÔI TRƯỜNG HẰNG THÁNG TẠI TRẠM SHWESARYAN (M 3 /S) Phương pháp Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12
Tessman 200 200 182 169 200 200 258 438 423 351 237 200
RVA
255 183 166 151 156 232 464 925 842 638 430 280
266 218 187 183 222 384 626 1191 1190 852 644 367
Hình 2 Đường cong quy định của Nhà máy thủy điện Yeywa (Ảnh minh họa)
Giới hạn trên Mực nước trung bình Giới hạn dưới
Hình 3 Đường cong khoảng thời gian dòng chảy tháng tại Trạm Shwesaryan
(Ảnh minh họa)
3 /s)
Tỉ lệ phần trăm thời gian
quy tắc vận hành hiện nay (Kịch bản 0) Sản lượng điện trung bình hằng năm theo mô phỏng là 3.403GWh, trong khi đó sản lượng điện thực tế là 3.194GWh Kết quả mô hình tương ứng tốt với sản lượng điện đo được trên thực tế, với giá trị sai số hiệu dụng là 108GWh, hệ số giá trị xác định (R2) là 0,849 và giá trị hiệu suất Nash-Sutcliffe (E) tương ứng là 0,846
xác định bởi các tham số tương ứng nằm trong dải tiêu chí RVA sau khi vận hành đập được thể hiện trên Bảng 3 (cột 4 và cột 7)
Số các tham số phân loại là mức
độ ảnh hưởng thấp, trung bình,
và cao tương ứng là 3, 15, và 14,
và mức độ trung bình của ảnh hưởng thủy văn đối với kịch bản này là 70%, như vậy là tương ứng với dải trung bình của các mức
độ ảnh hưởng Kịch bản 0 được
sử dụng làm chuẩn để so sánh các kịch bản khác
Chính sách hiện nay theo quan sát là trường hợp xấu nhất về ảnh hưởng thủy văn đối với chế độ dòng chảy tự nhiên Kịch bản 1 cho sản lượng điện cao nhất, và mức độ ảnh hưởng thủy văn tổng thể trong phạm vi chủng loại thay đổi trung bình Theo Kịch bản 4, mức độ thay đổi dòng chảy tự nhiên là thấp nhất, bằng 29% Tuy