Bài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN gồm 87 trang, bản đẹp, được chuyển từ word, dễ dàng chỉnh sửa và tách trang làm tài liệu tham khảo. KHÔNG KHUYẾN KHÍCH COPY TOÀN BỘ. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tàiTừ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng KHCN hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Bước vào thế kỷ XXI, trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, giao thông vận tải, môi trường... đều có những biến đổi to lớn do tác động của cuộc cách mạng KHCN. Cùng với việc xuất hiện những cơ hội mới cho sự phát triển thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế, KHCN, thông tin... sẽ là những thách thức không nhỏ đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Nhờ vận dụng nhanh chóng và sáng tạo những thành tựu mới nhất của KHCN, cũng như tận dụng có hiệu quả làn sóng đổi mới công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học... nên cục diện hiện nay của nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới đã có sự thay đổi căn bản. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, trên quy mô toàn cầu, nhiều nước đã xây dựng cho mình cơ cấu sản xuất và nền tảng của sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc ứng dụng các thành tựu KHCN, nhất là các công nghệ cao; các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với nền tảng là hoạt động xửlý thông tin; tri thức và quyền sở hữu trí tuệ đang được coi là tài sản quan trọng và quý báu nhất của mỗi quốc gia, sáng tạo là động lực của sự phát triển.
Trang 2
mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người Bước vào thế kỷ XXI, trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, giao thông vận tải, môi trường đều có những biến đổi to lớn do tác động của cuộc cách mạng KH&CN Cùng với việc xuất hiện những cơ hội mới cho sự phát triển thì nguy cơ tụt hậu về kinh tế, KH&CN, thông tin sẽ là những thách thức không nhỏ đối với nhiều quốc gia trên thế giới
Nhờ vận dụng nhanh chóng và sáng tạo những thành tựu mới nhất của KH&CN, cũng như tận dụng có hiệu quả làn sóng đổi mới công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học nên cục diện hiện nay của nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới đã có sự thay đổi căn bản Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, trên quy
mô toàn cầu, nhiều nước đã xây dựng cho mình cơ cấu sản xuất và nền tảng của sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc ứng dụng các thành tựu KH&CN, nhất là các công nghệ cao; các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với nền tảng là hoạt động xử lý thông tin; tri thức và quyền sở hữu trí tuệ đang được coi là tài sản quan trọng và quý báu nhất của mỗi quốc gia, sáng tạo là động lực của sự phát triển
Việt Nam quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, tiềm lực KH&CN còn yếu, trình
độ công nghệ còn lạc hậu, do đó quá trình CNH, HĐH đất nước tất yếu phải được tiến hành thông qua cách mạng KH&CN
Nhận thức được vai trò to lớn của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước, trước hết là sự phát triển của kinh tế - xã hội, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn rất quan tâm và đã đề ra một số nghị quyết về KH&CN (như Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị khoá IV; Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khoá VI; Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị và Nghị quyết TW7 khoá VII ) Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, sự quan tâm của Đảng về KH&CN được thể hiện rõ nét trong các Nghị quyết của
Trang 3
Đại hội lần thứ VIII và thứ IX của Đảng, nhất là trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Với sự quan tâm và lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với lĩnh vực KH&CN, từ sau năm 1996 đến nay, KH&CN Việt Nam đã có những bước phát triển nhảy vọt, góp phần to lớn vào thắng lợi của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên: "Nền KH&CN nước ta phát triển còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH, còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực" [16, tr.51] Nguyên nhân chủ yếu là: Một số chủ trương của Đảng về KH&CN chưa được thể chế hoá đầy đủ, chưa được quán triệt trong hoạt động thực tế của các cấp chính quyền, các Bộ , ngành, địa phương; phương pháp quản lý nhà nước đối với KH&CN chưa đổi mới kịp thời; chậm tổng kết thực tiễn để phát hiện những vướng mắc nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động KH&CN để đổi mới, thể chế hoá cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống Tất cả đã làm cho hiệu quả tác động của các chủ trương, chính sách về KH&CN còn hạn chế, triển khai thiếu đồng bộ, đưa đến trình độ KH&CN nước ta còn lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới Đây cũng là mặt hạn chế và khó khăn lớn nhất trong sự phát triển của nền kinh tế nước ta khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO
Chính vì vậy , việc nghiên cứu, tổng kết về quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện Định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước là một vấn đề rất cần thiết, giúp chúng ta hiểu được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển KH&CN Việt Nam, thấy được những thành tựu và hạn chế của KH&CN Việt Nam, từ đó tìm ra những giải pháp chủ yếu cho việc nâng cao và phát triển tiềm lực KH&CN nước ta trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, trong đó giải pháp quan trọng hàng đầu là tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với khoa học - công nghệ Với những lý do đó, tôi đã chọn vấn đề: "Đảng Cộng
sản Việt Nam lónh đạo phát triển khoa học và công nghệ từ năm 1996 đến năm 2006"
làm đề tài cho luận văn thạc sĩ, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trang 4
Đã có nhiều tài liệu, nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu lý luận trong nước và quốc tế viết về KH&CN như:
- PTS Danh Sơn (chủ biên), Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát
triển kinh tế - xã hội trong CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, 1999
- PTS Trần Thanh Phương, Tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
đối với nền kinh tế các nước tư bản phát triển, một số gợi mở về thời cơ và thách thức đối với Việt Nam, Luận án PTS Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
1996
- PTS Trần Thanh Phương, Tác động và những hệ quả kinh tế - xã hội của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ với sự phát triển ngưỡng cửa năm 2000, Hà Nội
- Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, Chiến lược CNH, HĐH đất nước và cách
mạng công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996
- GS.TS Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải, Tư duy khoa học trong thời đại cách mạng
khoa học công nghệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
- V.V.Đênixốp, Nguyễn Duy Thông, Nguyễn Trọng Chuẩn, Cách mạng khoa học kỹ thuật và
công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, Nxb Tiến bộ, M, 1986
- B.Kêđrốp (chủ biên), Cách mạng khoa học, kỹ thuật và CNXH, Nxb KHXH, Hà
Nội, 1978
Một luận văn, luận án các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển có bàn đến vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội cũng như việc ứng dụng các thành tựu của KH&CN hiện đại trong các lĩnh vực kinh tế, như:
- Nguyễn Kim Phúc, Khoa học và công nghệ đối với phát triển nuôi trồng thủy sản
Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005
- Nguyễn Đức Lợi, Vận dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trong sự phát triển nông
nghiệp nước ta, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2000
- Cao Quang Xứng, Tiến bộ khoa học, công nghệ và tiến trình hình thành kinh tế tri
thức ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2003
Trang 5
- Nguyễn Minh Ngọc, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của ngành thuế
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2005
Nhiều bài viết của nhiều tác giả được đăng tải trên các tạp chí như:
- Đặng Ngọc Dinh, Vấn đề định hướng chiến lược phát triển khoa học công nghệ
Ngoài ra còn có những tài liệu dùng trong các lớp tập huấn giảng viên Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh các trường Đại học và Cao đẳng tổ chức hàng năm như: "Khoa học
và công nghệ quá độ sang thế kỷ XXI và toàn cầu hoá" của GS.TSKH Vũ Đình Cự (2000);
"Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam" của TS Chu Văn Cấp
(2003)
Nhưng tất cả đều mới chỉ đề cập đến vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung và của đất nước nói riêng, chưa có một công trình, một đề tài khoa học nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển KH&CN ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất
là trong giai đoạn từ 1996 đến năm 2006 Tuy nhiên để làm rõ những yêu cầu, nhiệm vụ của đề tài này, luận văn có kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn quá trình nhận thức và lãnh đạo, chỉ đạo của TW Đảng, Chính phủ về phát triển KH&CN từ 1996 đến 2006, qua đó khẳng định việc đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định làm cho KH&CN trở thành động lực mạnh mẽ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ hội nhập
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Trang 6
- Trình bày có hệ thống đường lối, chủ trương phát triển KH&CN của Đảng từ
1996-2006, nêu rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng trong việc thực hiện các Nghị quyết của Trung ương về KH&CN
- Nêu những kết quả nổi bật đã đạt được trên một số lĩnh vực KH&CN, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong quá trình Đảng lãnh đạo phát triển KH&CN thời kỳ CNH, HĐH đất nước
4 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển KH&CN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu quan điểm, đường lối của Đảng về KH&CN giai đoạn 1996-2006 và chứng minh trên một số lĩnh vực như nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp; nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.2 Nguồn tư liệu
- Các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh
- Các văn kiện của Đảng về KH&CN, đặc biệt là các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và các Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư
- Các văn bản pháp luật của Nhà nước về KH&CN
- Các số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường (nay là Bộ Khoa học và công nghệ)
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành như thống kê, so sánh, đồng đại, lịch đại, phân tích - tổng hợp
6 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn làm rõ những bước phát triển trong tư duy và đường lối phát triển KH&CN của Đảng từ 1996-2006; làm rõ sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực
cụ thể như nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp từ đó khẳng định những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo phát triển KH&CN
- Những kết quả của luận văn góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
2 chương, 6 tiết
Trang 8
Chương 1
Đường lối phát triển khoa học và công nghệ của đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1996 - 2006)
1.1 Vai trò của khoa học, kỹ thuật và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.1 Theo quan điểm của các nhà kinh điển mác xít
Khoa học là một hệ thống những tri thức chân thực về thế giới, được khái quát, đúc rút từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn, phản ánh những thuộc tính, kết cấu, những mối liên hệ bản chất của sự vật, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Khoa học, kỹ thuật, công nghệ bắt nguồn từ sản xuất, từ đấu tranh xã hội, từ nhu cầu khám phá và
cải tạo thế giới của con người Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen đã đi
đến nhận định: " Như thế là ngay từ đầu, sự phát sinh và phát triển của các ngành khoa học
đã do sản xuất quy định " [31, tr.659] Khoa học chân chính bắt nguồn từ những nhu cầu của đời sống xã hội và có sứ mệnh phục vụ con người, phục vụ xã hội, chính nhu cầu thực tiễn là động lực thúc đẩy khoa học phát triển Ph.Ăngghen viết: "Nếu trong xã hội xuất hiện một nhu cầu kỹ thuật thì điều đó sẽ thúc đẩy khoa học tiến lên nhiều hơn một chục trường đại học" [34, tr.271]
Cùng với việc chỉ ra nguồn gốc, động lực phát triển của khoa học, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã coi khoa học "là một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng" [30, tr.500] Thiên chức của khoa học là đi tìm chân lý khách quan, khám phá bản chất của chính sự vật, là "nói bằng ngôn ngữ của chính bản thân sự vật", chỉ ra những thuộc tính, những mối liên hệ bên trong của sự vật, cung cấp bức tranh chân thực về thế giới Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Giải thích những thuộc tính khác nhau ấy, tức là những thuộc tính
mà chỉ những giác quan khác nhau mới thu nhận được, dựng mối liên hệ nội tại giữa chúng với nhau, đó chính là nhiệm vụ của khoa học " [31, tr.723] Nói đến khoa học là nói đến sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo, tiếp cận chân lý, là quá trình nâng cao nhận thức đến một trình
độ mới Ph.Ăngghen còn chỉ ra rằng: "Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay
Trang 9- Thứ nhất, khoa học với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, ra đời khi xã hội có
sự phân công lao động thành lao động chân tay và lao động trí óc; khoa học là kết quả tất yếu của phân công lao động xã hội, khoa học xuất hiện khi hoạt động nhận thức khách quan
đã trở thành một loại công việc đặc thù của một số ít người, của một nhóm người hoặc một
số tổ chức xã hội đặc biệt nào đó Nội dung của khoa học chính là sự phản ánh đúng đắn thế giới khách quan, nói cách khác, đối tượng của khoa học chính là thế giới khách quan, thực tại khách quan Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của khoa học là tính khách quan của nó, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất cứ một cá nhân hay một tập đoàn xã hội nào Trong xã hội có giai cấp, tính khách quan của khoa học thường phù hợp với lợi ích của những giai cấp đang lên, những giai cấp đại diện cho một PTSX mới, cho một chế độ xã hội mới đang hình thành và phát triển
Khoa học ra đời, tồn tại và phát triển xuất phát từ những đòi hỏi, nhu cầu của hoạt động thực tiễn của con người, trước hết là hoạt động sản xuất vật chất Thực tiễn lao động sản xuất vừa là mục đích tối cao, vừa là nguồn gốc ra đời và là động lực phát triển của khoa học, ngược lại những tri thức khoa học càng phát triển và chính xác bao nhiêu thì càng đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của quá trình hoạt động thực tiễn, quá trình lao động sản xuất của con người
- Thứ hai, khoa học có vai trò là một động lực của lịch sử, một lực lượng cách mạng,
đồng thời cũng là một tác nhân, một lực lượng trong LLSX xã hội
Trong tác phẩm "Lược thảo phê phán khoa kinh tế chính trị" (viết năm 1843-1844),
Ph.Ăngghen đã cho rằng: "khoa học thì ngày lại càng làm cho các lực lượng tự nhiên phải phục tùng loài người" [28, tr.774] Khoa học đã thúc đẩy sản xuất phát triển, làm thay đổi
bộ mặt thế giới một cách nhanh chóng Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, sở dĩ giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra những LLSX nhiều hơn và đồ sộ hơn LLSX của tất cả các thế hệ trước gộp lại nhờ áp dụng những thành tựu khoa học trong việc chinh phục tự nhiên Không chỉ
Trang 10
khẳng định vai trò của khoa học trong việc thúc đẩy LLSX phát triển, C.Mác còn coi khoa học là lĩnh vực sản xuất trí óc, xem xét khoa học với tư cách là một thành tựu sản xuất độc lập và "khoa học gia nhập quá trình lao động với tư cách là một sức mạnh độc lập" [33, tr.525, 908]
Trong Phê phán khoa kinh tế chính trị (1857-1858), khi phân tích vai trò của khoa
học trong việc làm biến đổi, thay thế các xã hội khác nhau trong lịch sử, C.Mác đã nêu
tư tưởng coi khoa học là một trong những mặt, những hình thức biểu hiện sự phát triển của LLSX C.Mác viết: "Chỉ riêng sự phát triển của khoa học - nghĩa là của hình thái của cải căn bản nhất, vừa là sản phẩm, vừa là nhân tố sản xuất ra của cải - cũng đủ để làm cho các xã hội ấy tan rã" [35, tr.60-61]
C.Mác còn nói rõ hơn tư tưởng coi khoa học là một LLSX, khi ông cho rằng: "Trong
số lực lượng sản xuất ấy có cả sự phát triển của khoa học" [35, tr.358], hay "Có một lực lượng sản xuất khác mà tư bản có được không mất khoản chi phí nào, - đó là sức mạnh của khoa học" [35, tr.483]
- Thứ ba, không chỉ thừa nhận khoa học là một lực lượng, một yếu tố thúc đẩy LLSX
phát triển, C.Mác còn cho rằng, đến một giai đoạn phát triển nào đó, khoa học sẽ trở thành LLSX trực tiếp C.Mác nhận định: "Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến [Wissew knowledge] đã chuyển hoá đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp" [35, tr.372] Mác còn cho rằng: Để phát huy tác dụng của khoa học đối với sản xuất, để khoa học trở thành LLSX trực tiếp, thì phải có phát minh, sáng tạo, tiến bộ
kỹ thuật để cách mạng hoá công cụ sản xuất, đồng thời người lao động phải có tri thức khoa học, có đủ năng lực áp dụng khoa học vào thực tiễn sản xuất
Hơn nữa, khoa học vốn là sản phẩm của tư duy, của trí tuệ, của lao động trí óc, muốn trở thành LLSX trực tiếp, khoa học phải cần đến hoạt động thực tiễn của con người Trong
Gia đình thần thánh, C.Mác đã chỉ rõ: "tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì
hết Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [29, tr.181] Tư tưởng ở đây chính là tư tưởng khoa học, lý luận khoa học Theo quan điểm của C.Mác, khoa học tự bản thân nó không thể tạo ra bất kỳ một tác động nào, càng không thể chuyển hoá thành LLSX, mà phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người mới phát huy được tác dụng, mới tạo thành sức mạnh vật chất Nói về mối quan hệ giữa khoa học với
Trang 11
tính cách là một hình thái ý thức xã hội với LLSX, trong lời nói đầu Góp phần phê phán
trong pháp quyền của Hêghen, C.Mác đã viết: "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể
thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng" [28, tr.580]
V.I.Lênin - người kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, người đã đứng ra bảo
vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đã thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của khoa học kỹ thuật đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga Theo quan điểm của V.I.Lênin:
- Phát triển khoa học, kỹ thuật là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng và củng cố chế
độ kinh tế XHCN
- Phát triển khoa học, kỹ thuật là biện pháp quan trọng số một để nước Nga có thể đuổi kịp và vượt các nước TBCN, chỉ khi nào CNXH có năng suất lao động cao hơn năng suất lao động của CNTB thì mới có thể chiến thắng được CNTB
Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò quan trọng của khoa học, kỹ thuật đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin đã dành nhiều thời gian và tâm sức cho việc tìm biện pháp để phát triển khoa học, kỹ thuật cho quá trình xây dựng CNXH V.I.Lênin đã đề xuất một loạt các biện pháp phát triển khoa học, kỹ thuật trong điều kiện của CNXH:
Một là, thực hiện điện khí hoá toàn quốc
Hai là, sử dụng đội ngũ chuyên gia tư sản và đào tạo đội ngũ chuyên gia công nông
thông qua hai con đường: sử dụng đội ngũ chuyên gia từ xã hội cũ để lại; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia công nông
Ba là, học tập, tiếp thu, kế thừa những thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến của các
nước tư bản, trong đó việc học tập các chuyên gia tư sản là vấn đề được V.I.Lênin hết sức
coi trọng và đề cập trong nhiều tác phẩm Đây là tư tưởng rất táo bạo và đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược thiên tài của V.I.Lênin
Tư tưởng của V.I.Lênin về vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với công cuộc xây dựng CNXH có ý nghĩa to lớn trong xây dựng nền kinh tế nước Nga sau Cách mạng tháng Mười
và sự nghiệp phát triển khoa học, kỹ thuật của Liên Xô sau này
Trang 12
Tư tưởng của V.I.Lênin nói riêng, của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung về vai trò của khoa học, kỹ thuật có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với các nước đang xây dựng CNXH hiện nay trong việc nắm bắt thời cơ để thúc đẩy khoa học, kỹ thuật phát triển
1.1.2 Khoa học và kỹ thuật trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về khoa học và từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã nhận thức một cách sâu sắc ý nghĩa, vai trò to lớn của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Người coi "Thời đại của chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển mạnh, thời đại XHCN " [37, tr.174] Chính vì thế, Người khẳng định một cách dứt khoát rằng, cách mạng XHCN phải gắn liền với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật , đồng thời Người cũng tin tưởng, CNXH cộng với khoa học chắc chắn sẽ mang lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho loài người nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng
Khái quát thực trạng và những khó khăn to lớn của miền Bắc khi bước vào thời kỳ quá độ, xét từ góc độ khoa học và kỹ thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "trình độ khoa học,
kỹ thuật của ta hiện nay còn thấp kém Lề lối sản xuất chưa được cải tiến nhiều Cách thức làm việc còn nặng nhọc Năng suất lao động còn thấp kém Phong tục tập quán lạc hậu còn nhiều" [38, tr.77]] Vì thế, "Nhiệm vụ của khoa học là ra sức cải biến những cái đó Khoa học là tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột và đấu tranh giữa con người với thiên nhiên" [38, tr.77] Ngay từ khi miền Bắc triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1958-1960), cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hoá XHCN, coi cách mạng khoa học và kỹ thuật là then chốt
Theo Người, trong chế độ XHCN, khoa học là tài sản chung của toàn dân chứ không phải của riêng một nhóm người nào Tiến bộ của khoa học, kỹ thuật hướng về con người, bởi vì mục đích cao cả và đầy tính nhân văn của CNXH là giải phóng con người, phát triển con người toàn diện Trong xã hội mới, những thành tựu của khoa học và kỹ thuật được sử dụng vì sự tiến bộ xã hội, vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân lao động
Nói về mối quan hệ biện chứng giữa khoa học, kỹ thuật với sản xuất và đời sống xã hội, trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội nghị phổ biến
Trang 13
khoa học, kỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho CNXH thắng lợi" [38, tr.78]
Có thể nói, tư tưởng về sự phát triển xã hội bằng biện pháp phát triển khoa học, kỹ thuật là một nét độc đáo, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh Khi cho rằng, chúng ta phải dựa vào khoa học để tăng năng suất lao động, để cải thiện không ngừng đời sống nhân dân
và bảo đảm cho sự thắng lợi của CNXH , Người đã nhìn thấy ở khoa học, kỹ thuật một nguồn lực quan trọng của sự phát triển xã hội Nhờ có tri thức khoa học, con người có thể hạn chế những sai lầm, lệch lạc mang nặng tính chủ quan, kinh nghiệm trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, và do vậy làm cho quá trình phát triển của xã hội ngày càng gần hơn, phù hợp hơn với quy luật khách quan Vì thế, Người đòi hỏi cán bộ và nhân dân phải tích cực học tập, rèn luyện thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học, "cái gì trái với khoa học chúng ta kiên quyết chống" Người còn đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ giáo dục khoa học, kỹ thuật cho nhân dân, coi việc cung cấp tri thức khoa học, kỹ thuật là một nội dung cơ bản của giáo dục Người viết:
Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công [36, tr.81]
Đó cũng chính là một trong những hình thức căn bản để xã hội hoá tri thức khoa học, để khoa học thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Hồ Chí Minh còn cho rằng: Việc áp dụng rộng rãi những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân nhằm đưa nước ta trở thành một nước văn minh, hiện đại là công việc rất quan trọng và cần thiết Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh, công việc ấy không thể tiến hành một cách tùy tiện, thiếu sự kiểm tra, giám sát
Là một người đã từng đặt chân tới nhiều nước công nghiệp phát triển trên thế giới, Hồ Chí
Trang 14
Minh đã chứng kiến cả mặt tích cực, tiến bộ lẫn những mặt tiêu cực và hậu quả mà cuộc cách mạng này đưa lại Chính vì vậy, Người đòi hỏi: những tri thức khoa học, kỹ thuật đem phổ biến phải thiết thực, chính xác; nếu chỉ phổ biến rồi bỏ mặc quần chúng, không quan tâm theo dõi họ có thực hiện được hay không, kết quả thực hiện tốt hay xấu, "như vậy là thiếu tinh thần trách nhiệm" Tư tưởng này của Người có ý nghĩa rất sâu sắc, thấm đượm tinh thần của chủ nghĩa nhân văn: tất cả vì lợi ích chung, vì một cuộc sống tốt đẹp hơn của con người Ngày nay, khi phải đối mặt với những hậu quả nghiêm trọng do sự lạm dụng khoa học, kỹ thuật vì những toan tính vụ lợi, ích kỷ của con người gây ra, chúng ta lại càng cảm nhận rõ hơn chiều sâu cũng như ý nghĩa vượt thời đại trong tư tưởng của Người
Hơn nửa thế kỷ qua, nền khoa học, kỹ thuật và công nghệ nước ta đã có những bước chuyển biến tích cực trên mọi phương diện và do vậy, có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức, khoa học, kỹ thuật và công nghệ biểu hiện như là nguồn lực cơ bản nhất, như là "chìa khoá" của sự phát triển xã hội, thì việc kế thừa và phát huy những tư tưởng đúng đắn của các nhà kinh điển mác xít và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học, kỹ thuật, lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, từng bước tiến lên một nền KH&CN hiện đại, đáp ứng các yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sớm tạo ra "vũ khí" cho thắng lợi của cuộc đấu tranh xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu để
Trang 15
Là một Đảng mác xít, từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi cương lĩnh hành động của mình Cơ sở lý luận để hình thành đường lối của Đảng về khoa học, kỹ thuật chính là những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh như đã phân tích ở phần trên
Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của khoa học, kỹ thuật lần đầu tiên được chính thức nêu lên trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960):
Đi đôi với cuộc cách mạng về tư tưởng, cần phải tiến hành cuộc cách mạng XHCN về văn hoá và kỹ thuật Mục tiêu của cuộc cách mạng văn hoá và kỹ thuật
là làm cho nhân dân lao động đông đảo có trình độ văn hoá vững vàng, nắm được những hiểu biết cần thiết về khoa học và kỹ thuật, và vận dụng được những hiểu biết
đó vào công cuộc cải biến bộ mặt lạc hậu của văn hoá và kỹ thuật nước ta, xây dựng một nền văn hoá, khoa học và kỹ thuật hiện đại [20, tr.550]
Việc đưa ra quan điểm đó của Đảng là một tất yếu khách quan, phù hợp với bối cảnh lịch sử cụ thể của nước ta lúc bấy giờ Sau khi hoà bình lập lại, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH trong điều kiện có nhiều khó khăn Lịch sử để lại cho chúng ta một nền sản xuất nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, trình độ kỹ thuật sản xuất thấp kém, tư liệu lao động giản đơn, công cụ lao động phổ biến là thủ công, lao động chưa được tổ chức, phân công một cách hợp lý Do đó muốn đi lên CNXH, chúng ta phải tạo ra được cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH Đảng đã nhận thức được rằng, khoa học, kỹ thuật là không thể thiếu và giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta
Quan điểm này của Đảng được tiếp tục thể hiện trong Nghị quyết 157 của Ban Bí thư (khoá III), đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12/1976) nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của khoa học, kỹ thuật đã được nâng lên một bước Sự nhìn nhận về vị trí, vai trò của khoa học, kỹ thuật đối với sự nghiệp xây dựng CNXH trở nên rõ nét hơn Đảng nhận thức được rằng: "đẩy mạnh công tác khoa học, kỹ thuật sẽ giúp chúng ta xoá bỏ nhanh tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, rút ngắn thời gian xây dựng CNXH"[21, tr.552] Từ đó Đảng chỉ rõ: Khoa học, kỹ thuật phải là một trong những nhân tố hàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, tiết kiệm đạt hiệu quả cao, thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, do vậy trong ba cuộc cách mạng, "cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt" [21, tr.508]
Trang 16
Quan điểm của Đại hội được khẳng định rõ trong Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị khoá IV (20/4/1981) về chính sách khoa học và kỹ thuật Nghị quyết đánh dấu sự khởi đầu trong chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động KH&CN ở Việt Nam
Trên cơ sở nhận định tình hình công tác khoa học và kỹ thuật trong thời gian qua, Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu của chính sách khoa học và kỹ thuật nước ta, đồng thời đã đề ra những phương hướng chủ yếu cho khoa học và kỹ thuật ở Việt Nam trong các lĩnh vực cụ thể, phương hướng phát huy và phát triển tiềm lực khoa học và kỹ thuật cũng như những vấn đề cơ bản trong tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với khoa học và kỹ thuật
Nghị quyết 37 đã đánh dấu bước phát triển mới về nhận thức của Đảng đối với sự phát triển khoa học, kỹ thuật nước ta, tạo ra những đổi mới cơ bản trong phát triển khoa học,
kỹ thuật và trong mối quan hệ giữa khoa học, kỹ thuật với phát triển kinh tế - xã hội Có thể nói, so với những văn kiện trước đó của Đảng, việc xây dựng chiến lược khoa học, kỹ thuật lần này là một bước tiến mới Lần đầu tiên, Đảng đã đưa ra được một chính sách khoa học
và kỹ thuật thống nhất, có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh, góp phần đưa hoạt động khoa học, kỹ thuật gắn bó hơn với sản xuất và đời sống, đặt nền móng cho việc chuyển sang một thời kỳ phát triển KH&CN theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định những nguyên tắc cơ bản của chính sách Nhà nước về KH&CN trong thời
kỳ đất nước vừa thống nhất, đi lên CNXH
Với Nghị quyết này, lần đầu tiên Việt Nam có một chính sách thành văn về KH&CN Tuy nhiên, Nghị quyết 37 ra đời trong hoàn cảnh nền kinh tế đất nước quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ với cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp nặng nề, LLSX bị kìm hãm, cho nên khoa học, kỹ thuật vẫn phát triển chậm, các nguồn lực sẵn có chưa được phát huy đầy đủ
Đến Đại hội lần thứ V (3/1982), xuất phát từ quan điểm coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, tính "chiến lược" của khoa học, kỹ thuật trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở nên rõ nét hơn, đã có sự phát triển trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về khoa học, kỹ thuật, góp phần quan trọng vào những thắng lợi nhất định của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại hội chỉ rõ: "tiến bộ khoa học và kỹ thuật phải trở thành một nội dung chủ yếu của kế hoạch kinh tế - xã hội ở tất cả các ngành, các cấp"; nhiệm vụ của
Trang 17
công tác KH&CN giai đoạn 1981-1985 là: "Làm tốt việc ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Triển khai có hiệu quả các chương trình khoa học và kỹ thuật trọng điểm " [22, tr.94] Khoa học và kỹ thuật phải phục
vụ tốt nhất cho việc đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý Phải ứng dụng rộng rãi thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật, đặc biệt chú ý những thành tựu về sinh học nhằm thúc đẩy nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp chế biến phát triển Đồng thời, phải hướng khoa học và kỹ thuật phục vụ các ngành công nghiệp quan trọng
Như vậy, có thể thấy, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, Đảng ta đã rất quan tâm phát triển KH&CN, tuy nhiên đến trước khi đổi mới toàn diện đất nước, đường lối của Đảng về KH&CN chưa thực sự phát huy được vai trò của KH&CN trong việc thúc đẩy đất nước phát triển
1.2.2 Sự phát triển trong quan điểm của Đảng về khoa học và công nghệ thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước (1986-1996)
Đại hội VI (12/1986) của Đảng đã mở đầu cho một giai đoạn mới - giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước, giai đoạn đổi mới tư duy lý luận của Đảng và cũng là mốc đánh dấu sự
đi lên của quá trình xây dựng chiến lược KH&CN của Đảng ta
Trên cơ sở đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ V của Đảng, Đại hội đã đặt ra nhiệm vụ hàng đầu của công tác khoa học và kỹ thuật là: xây dựng cho kỳ được một chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật làm luận cứ cho chiến lược kinh tế - xã hội, định hướng cho sự phát triển khoa học và kỹ thuật Trên cơ sở đó, Đại hội đưa ra những chủ trương, chính sách về khoa học, kỹ thuật đúng đắn, phát huy vai trò động lực của khoa học, kỹ thuật trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội
Điều đáng chú ý hơn trong chiến lược khoa học, kỹ thuật mà Đảng đề ra tại Đại hội
VI là chính sách về đầu tư, chủ trương thực hiện các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện
và giải quyết quyền lợi thích đáng để phát huy trí tuệ, tài năng của đội ngũ cán bộ khoa học,
kỹ thuật được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau; đồng thời Đại hội cũng đã đề ra một số chủ trương mới về cơ cấu tổ chức các cơ quan khoa học, kỹ thuật
Trang 18
Với những chủ trương đó, sau Đại hội VI, khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt, song để phục vụ tốt hơn sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đối mặt với những thách thức mới trên con đường hội nhập, Đảng cần phải có một Nghị quyết mới, đầy đủ hơn, hệ thống hơn, phù hợp hơn nữa về KH&CN
Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khoá VI "Về KH&CN trong sự nghiệp đổi mới" (30/3/1991) đã chỉ rõ: chúng ta phải quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật "để quyết tâm xây dựng, phát triển nền KH&CN nước ta, bảo đảm cho KH&CN thực hiện được vai trò nhận thức và cải tạo xã hội " [23, tr.560] Từ
đó Nghị quyết đề ra những nhiệm vụ cấp bách và cơ bản của KH&CN, những biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển KH&CN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước, trong đó xây dựng một hệ thống 8 biện pháp trải rộng trên các lĩnh vực Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khoá VI là Nghị quyết thể hiện quan điểm mới của Đảng trong lĩnh vực KH&CN, phù hợp với tình hình chung của công cuộc đổi mới đất nước Nghị quyết đã hình thành những nguyên tắc cơ bản của chính sách KH&CN của Đảng trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đó là chính sách trong thời kỳ khai phá những hướng
đi mới cho KH&CN Việt Nam theo cơ chế thị trường, trong điều kiện đa phương hoá và mở cửa, hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới
Đại hội lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã thông qua một số văn kiện có tính bước
ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội từ 1991 đến 2000 Đại hội đã khẳng định các quan điểm, chủ trương, chính sách đổi mới của Đại hội VI, từ đó xác định một số luận điểm về công tác KH&CN:
Một là, KH&CN giữ vai trò then chốt trong sự phát triển LLSX và nâng cao trình độ
quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế Khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu, đóng vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới
Hai là, hoạt động KH&CN phải đảm bảo cơ sở khoa học cho các quyết định quan
trọng của các cơ quan lãnh đạo, quản lý; là công cụ chủ yếu để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế - xã hội; khoa học xã hội phải góp phần xứng
Trang 19Chủ trương, chính sách, phương hướng đối với khoa học, kỹ thuật nêu trong văn kiện của Đại hội VII đã thể hiện những đổi mới trong chính sách KH&CN, ghi thêm một dấu ấn quan trọng trên bước đường cải cách thể chế KH&CN trong xu thế chung của cuộc cải cách kinh tế và xã hội hướng vào sự hình thành những biện pháp, chính sách và cơ sở pháp lý điều tiết nền kinh tế thị trường ở nước ta
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (14/7/1994) về "Phát triển công nghiệp và công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH" đã đánh giá: Mấy chục năm qua, trong những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, công tác nghiên cứu, triển khai KH&CN có tiến bộ, góp phần tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật bước đầu cho CNXH, tuy nhiên nhìn chung còn rất yếu kém [24, tr.441-442]
Từ đó Nghị quyết nêu rõ định hướng nhiệm vụ phát triển KH&CN đến 2000 là "phát triển KH &CN - nền tảng của phát triển công nghiệp theo hướng CNH, HĐH "; "phải gắn khoa học - công nghệ với sản xuất, dịch vụ; gắn các chương trình phát triển khoa học - công nghệ với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, khuyến khích sự sáng tạo của các nhà khoa học, đồng thời coi trọng phát huy sáng kiến của người lao động " [24, tr.463] Đặc biệt, điểm mới ở đây là Đảng đã xác định cơ chế đúng đắn trong việc thúc đẩy sự phát triển của KH&CN, đó là "tạo lập thị trường cho KH&CN để sản phẩm của các hoạt động khoa học - công nghệ được lưu thông như các hàng hoá cao cấp khác" [24, tr.463]
Những chủ trương, chính sách, phương hướng và nhiệm vụ phát triển KH&CN được đề
ra trong Đại hội VII và Hội nghị Trung ương 7 khoá VII được tiếp tục khẳng định và phát triển
ở Đại hội lần thứ VIII và các văn kiện tiếp theo của Đảng khoá IX, thể hiện sự phát triển trong nhận thức và quan điểm của Đảng về vai trò của KH&CN đối với quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam
Trang 20
Như vậy, cho đến trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, qua các kỳ Đại hội, mặc dù vai trò của KH&CN trong các văn kiện của Đảng được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng tất cả đều thể hiện rằng: vai trò của KH&CN đã được Đảng ta nhận thức
từ rất sớm và đúng đắn, chủ trương, đường lối về phát triển KH&CN mà Đảng đưa ra đã dần dần thay đổi phù hợp với tình hình và yêu cầu phát triển của đất nước, đặc biệt từ khi nền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN
1.3 Đường lối phát triển khoa học và công nghệ của Đảng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1996 - 2006)
1.3.1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), và đường lối phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau 10 năm tiến hành đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được những thành tựu cơ bản và quan trọng Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị - xã hội
ổn định, quốc phòng - an ninh được củng cố vững chắc, quan hệ đối ngoại được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ của đất nước, đối với Đảng và Nhà nước được nâng lên Những thành tựu đó đã đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng thời tạo
ra những tiền đề cần thiết để đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tuy tình hình kinh tế - xã hội của đất nước đã đi vào thế ổn định sau 10 năm đổi mới, nhưng muốn tiến hành thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phải dựa vào KH&CN, phải phát triển KH&CN
Nhận thức được vai trò của KH&CN đối với sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia trong tình hình mới, Đại hội khẳng định: "Khoa học và công nghệ là động lực của CNH, HĐH" [15, tr.85]; "Phát triển KH &CN, nâng cao năng lực nội sinh để thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH " [15, tr.37], từ đó xác định 5 phương hướng chủ yếu cho hoạt động KH&CN nước ta trong giai đoạn 1996-2000:
1 Vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; phát triển và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ làm chỗ dựa khoa học cho việc triển khai thực
Trang 213 Chú trọng đúng mức nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, làm chỗ dựa lâu bền cho nghiên cứu ứng dụng, triển khai và tiếp nhận các thành tựu mới về KH&CN
4 Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền KH&CN tiên tiến Đẩy mạnh các hình thức đào tạo cán bộ khoa học ở trong và ngoài nước Gấp rút đào tạo lớp chuyên gia đầu đàn Sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ hiện có Bố trí lại lực lượng KH&CN theo hướng gắn KH&CN với giáo dục đào tạo, gắn nghiên cứu - triển khai với sản xuất và dịch vụ Tăng cường cơ sở vật chất cho các ngành KH&CN
5 Xây dựng và thực hiện tốt hệ thống chính sách và cơ chế đồng bộ cho phát triển KH&CN [15, tr.104-106]
Với những phương hướng đã nêu, Đại hội đã đưa ra chương trình phát triển KH&CN, bảo vệ môi trường sinh thái, trong đó xác định mục tiêu:
Phát triển KH&CN, nâng cao năng lực nội sinh, coi đó là nhân tố quan trọng
để thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH Xây dựng luận cứ khoa học cho các định hướng phát triển đất nước, các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước; tiếp thu được các thành tựu KH&CN thế giới, lựa chọn và làm chủ công nghệ chuyển giao vào Việt Nam Bước đầu phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao Thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các ngành sản xuất từ 10%/năm trở lên [15, tr.188]
Đại hội chỉ rõ những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để phát triển KH&CN nước ta đến năm 2000:
- Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành sản xuất và dịch
vụ chủ yếu, đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các lĩnh vực sản xuất then chốt
Trang 22
- Phát triển các công nghệ cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân Phát triển công nghệ sinh học nhằm tạo ra và nhân mạnh các giống cây trồng, vật nuôi mới Xây dựng các khu công nghệ cao tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
- Phát triển khoa học xã hội và nhân văn, nắm vững những luận điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu những vấn đề
lý luận của công cuộc đổi mới và phát triển trong thời kỳ mới; làm rõ bản chất của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN; làm rõ vấn đề Nhà nước pháp quyền trong điều kiện Đảng cầm quyền, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới; xây dựng các mục tiêu chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Phát triển các ngành khoa học tự nhiên, nghiên cứu một số vấn đề cơ bản
có triển vọng của khoa học hiện tại và tương lai áp dụng các biện pháp khoa học
- công nghệ và đổi mới thể chế, chính sách quản lý nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
- Đẩy mạnh việc bảo hộ sở hữu công nghiệp, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh trong cơ chế thị trường và khuyến khích sáng tạo của các nhà khoa học Sớm xây dựng và ban hành Luật Khoa học và công nghệ, tạo lập thị trường cho hoạt động KH&CN Nhà nước có chính sách khuyến khích ứng dụng các tiến bộ khoa học thông qua các biện pháp ưu đãi về thuế, tín dụng, xuất khẩu Thu hút nhiều nguồn vốn để tăng nhanh đầu tư cho KH&CN Sử dụng hợp lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường sinh thái [15, tr.188-191]
Những phương hướng, nhiệm vụ về phát triển KH&CN ở nước ta được Đảng đề ra tại Đại hội lần này là sự kế thừa, bổ sung và phát triển đường lối phát triển KH&CN những năm trước đó, đặc biệt là những năm đổi mới toàn diện đất nước Trong tình hình mới, đường lối phát triển KH&CN của Đại hội VIII được đề cập tương đối toàn diện, từ mục tiêu chung đến những phương hướng và nhiệm vụ cụ thể trên các lĩnh vực
Các quan điểm của Đại hội là những định hướng lớn, tạo tiền đề thúc đẩy cho KH&CN Việt Nam phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong
Trang 23tư duy, quan điểm của Đảng về KH&CN, góp phần đưa KH&CN phục vụ có hiệu quả hơn
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Nghị quyết ra đời khi đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã có những tiền đề mới, những thắng lợi mới để chuyển sang thời kỳ cách mạng mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước với những đòi hỏi mới Những nhân tố phát triển đang được phát huy, nền kinh tế đã và đang nhanh chóng hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, quốc phòng - an ninh được củng cố vững chắc; chính trị được giữ vững và ổn định; đường lối mở cửa và hội nhập quốc tế của Đảng với chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã gặt hái được nhiều thành công bước đầu Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam
đã được thử thách và khẳng định trước bạn bè và thế giới, đất nước đang có thế và lực mới trên con đường hội nhập và phát triển
Chính sự phát triển của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đã buộc bất cứ quốc gia nào (kể cả các nước phát triển nhất) cũng phải điều chỉnh lại chiến lược phát triển của mình bằng chiến lược phát triển các công nghệ mới Trong lĩnh vực kinh tế, trình độ phát triển KH&CN, năng lực nội sinh của một quốc gia chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, là chìa khoá để mở ra và khai thác những tiềm năng của đất nước Do vậy, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, tất cả các nước, dù giàu hay nghèo, dù ở trình độ phát triển cao hay thấp đều phải hướng tới làm chủ và chiếm lĩnh những đỉnh cao của tiến bộ KH&CN
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có một số Nghị quyết về KH&CN như: Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị khoá IV, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khoá VI, Nghị quyết Trung ương 7 khoá VII Những Nghị quyết đó đã nêu ra
Trang 24
phương hướng, chủ trương đúng đắn và phù hợp Nhưng có những chủ trương chưa được cụ thể hoá kịp thời, quan điểm tư tưởng của Đảng về KH&CN chưa được quán triệt sâu sắc, ngay cả trong các tổ chức cơ sở Đảng và các cơ quan khoa học Cho nên chưa thực sự tạo nên nhu cầu và động lực cho sự phát triển của KH&CN nước nhà, chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của đất nước và những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá
Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII là Hội nghị đầu tiên
mà Bộ Chính trị đã bàn một cách toàn diện và cụ thể để ra một Nghị quyết về KH&CN, đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về KH&CN (cùng với Nghị quyết về giáo dục và đào tạo) ra đời đã được chuẩn bị rất công phu, tập trung được trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các nhà sản xuất kinh doanh Nghị quyết đã thể hiện quyết tâm cao của Đảng trong việc dành mọi ưu tiên cao nhất cho KH&CN, phản ánh được nguyện vọng thiết tha của đông đảo cán bộ khoa học, toàn dân và toàn xã hội, muốn cho KH&CN được đặt đúng vị trí là quốc sách hàng đầu, góp phần làm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững
Đánh giá về thực trạng KH&CN Việt Nam, Nghị quyết khẳng định: Việc thực hiện các nghị quyết của Đảng về KH&CN (Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị khoá 4, Nghị quyết
26 của Bộ Chính trị khoá VI, Nghị quyết Trung ương 7 khoá VII) đã bước đầu nâng cao tiềm lực KH&CN của đất nước, thúc đẩy việc đưa các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống, góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng khoảng kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết để bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Tuy nhiên, "Nền KH&CN nước ta phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH, còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực" [16, tr.51] Trình độ công nghệ thấp, chậm được đổi mới trong nhiều ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội Sản phẩm nghiên cứu KH&CN trong nước chưa nhiều, tỷ lệ ứng dụng vào sản xuất và đời sống còn thấp Còn có tình trạng nhập khẩu các thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả gây ảnh hưởng đến năng suất lao động và môi trường sinh thái
Nhiều vấn đề nảy sinh trong công cuộc đổi mới chưa được làm sáng tỏ về phương diện lý luận Nhiều vấn đề kinh tế - xã hội thiếu những dự báo khoa học
Trang 25Cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nghiên cứu khoa học còn quá nghèo nàn, lạc hậu; thông tin KH&CN quá thiếu và không kịp thời
Hệ thống tổ chức các cơ quan nghiên cứu - triển khai tuy đã được sắp xếp một bước nhưng vẫn còn trùng lắp, chưa đồng bộ, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, giảng dạy với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và với quốc phòng - an ninh, giữa các ngành khoa học, giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn Tinh thần hợp tác giữa các nhà khoa học và giữa các cơ quan nghiên cứu khoa học còn yếu [16, tr.51-53]
Lý giải về nguyên nhân của những yếu kém trên, Nghị quyết đã chỉ rõ:
- Các cấp uỷ đảng, các cấp chính quyền chưa thực sự coi phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu, chưa tập trung trí tuệ và công sức cho sự lãnh đạo và chỉ đạo các hoạt động KH&CN Nhiều chủ trương đúng đắn về KH&CN trong các văn kiện của Đảng chậm được thể chế hoá về mặt nhà nước và chưa được thực hiện nghiêm túc
- Quản lý KH&CN trong cơ chế thị trường còn lúng túng, bất cập Việc tổ chức phân bổ lực lượng còn phân tán; việc quản lý các chương trình nghiên cứu còn mang nặng tính hành chính, dàn trải, chưa gắn chương trình nghiên cứu với chức năng và nhiệm vụ của cơ sở nghiên cứu, chưa đề cao tinh thần trách nhiệm
và phát huy tính chủ động của cơ sở và cá nhân nghiên cứu khoa học, thiếu sự kết hợp giữa chương trình kinh tế - xã hội với chương trình KH&CN; nhiều cơ quan khoa học chưa gắn với sản xuất, chưa chủ động phối hợp với địa phương để ứng dụng các tiến bộ KH&CN
Trang 26
- Công tác Đảng, công tác chính trị - tư tưởng trong một số viện nghiên cứu, trường đại học còn yếu Tác dụng lãnh đạo của tổ chức đảng ở những nơi này còn hạn chế; việc phát triển đảng trong trí thức chưa được quan tâm đầy đủ [16, tr.53-55]
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tạo điều kiện cho sự phát triển của KH&CN, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nghị quyết đã vạch ra Định hướng chung của chiến lược KH&CN đến năm 2020, đó cũng là 3 nhiệm vụ của KH&CN đến 2020:
Một là, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, đi sâu điều tra, nghiên cứu thực tế, tổng kết sâu sắc quá trình đổi mới đất nước Xây dựng, không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận về con đường đi lên CNXH của Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN
Hai là, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu KH&CN trong tất cả các ngành
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản lý và quốc phòng - an ninh, nhanh chóng nâng cao trình
độ công nghệ của đất nước Coi trọng nghiên cứu cơ bản, làm chủ và cải tiến công nghệ nhập từ bên ngoài, tiến tới sáng tạo ngày càng nhiều công nghệ mới ở nhiều khâu quyết định đối với sự phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI
Ba là, nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng, phát triển tiềm lực KH&CN của nước
nhà: đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ KH&CN lành nghề, trẻ hoá và phát triển đội ngũ cán bộ KH&CN có đủ đức và tài; kiện toàn hệ thống tổ chức; tăng cường cơ sở vật chất
- kỹ thuật; mở rộng các nguồn cung cấp thông tin Từng bước hình thành một nền KH&CN hiện đại của Việt Nam, có khả năng giải quyết phần lớn những vấn đề then chốt được đặt ra trong quá trình CNH, HĐH
Trên cơ sở xác định định hướng chung, Nghị quyết đã chỉ rõ nhiệm vụ chiến lược của các lĩnh vực KH&CN đến 2020, đồng thời xác định mục tiêu phát triển KH&CN đến năm
2000 là: nâng cao mặt bằng khoa học và dân trí để tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; phát triển tiềm lực
Trang 27"Bước phát triển mới" trong quan điểm của Đảng về KH&CN của Nghị quyết lần này được thể hiện ở những điểm sau:
- Một là, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra một hệ thống 5 quan điểm cơ bản để chỉ đạo
phát triển KH&CN nước nhà trong giai đoạn cách mạng mới trên cơ sở kế thừa những quan điểm trong các Nghị quyết trước đây nhưng nói rõ hơn, hệ thống hơn, được nâng lên tương xứng với giai đoạn phát triển cao hơn của KH&CN Việt Nam:
+ KH&CN là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công CNXH
+ KH&CN là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các ngành, các cấp,
là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng - an ninh
+ Phát triển KH&CN là sự nghiệp cách mạng của toàn dân
+ Phát huy năng lực nội sinh về KH&CN, kết hợp với tiếp thu thành tựu KH&CN thế giới
+ Phát triển KH&CN gắn liền với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững
Những quan điểm chỉ đạo nói trên của Đảng vừa là bước đi cơ bản, tuần tự bền vững, nhưng vừa chứa đựng những yếu tố tích cực, táo bạo do thời cơ mới tạo nên cho sự phát triển của KH&CN Việt Nam Sự sáng tạo trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 chính là ở chỗ chúng ta phải kết hợp hài hoà giữa những gì ta có với những gì hiện đại nhất của thế giới, từ đó thúc đẩy KH&CN nước nhà phát triển
- Hai là, để tạo ra sự phát triển thực sự của KH&CN Việt Nam trong thời kỳ đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, Nghị quyết đã đề ra hệ thống 8 giải pháp cơ bản, đó là:
- Tạo lập thị trường cho KH&CN
- Có chính sách hợp lý đối với cán bộ KH&CN nhằm khuyến khích họ phát huy mọi khả năng cống hiến cho sự nghiệp phát triển KH&CN
Trang 28
- Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào KH&CN, phát huy sáng kiến, cải tiến khoa học, sáng chế phát minh, áp dụng KH&CN vào mọi mặt của sản xuất và đời sống
- Tăng đầu tư cho phát triển KH&CN từ nhiều nguồn khác nhau, trước hết là từ ngân sách nhà nước
- Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về KH&CN
- Tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm
- Đổi mới hệ thống tổ chức quản lý hoạt động KH&CN
- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH&CN
Có thể thấy, 8 giải pháp mà Nghị quyết đưa ra có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện Việc đưa ra hệ thống đồng bộ các giải pháp này
đã thể hiện rõ sự phát triển mới trong nhận thức của Đảng về vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước trong tình hình mới
- Ba là, trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp, cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đã và
đang làm thay đổi vai trò của bốn yếu tố truyền thống trong lợi thế cạnh tranh, yếu tố trí tuệ (kỹ năng, công nghệ) ngày càng có vai trò quyết định nhất, còn các yếu tố tài nguyên, vốn, sức lao động thì ngày càng giảm vai trò Một trong những vấn đề có tính then chốt và xuyên suốt từ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển KH&CN của Đảng được nêu trong Nghị quyết là vấn đề xây dựng năng lực nội sinh cho nền KH&CN nước nhà
Nghị quyết đã chỉ rõ:
Nâng cao năng lực nội sinh về KH&CN để có khả năng tiếp thu các tri thức mới của thế giới, thích nghi, làm chủ các công nghệ tiên tiến từ nước ngoài; nghiên cứu giải quyết các vấn đề KH&CN do thực tiễn đặt ra trong quá trình phát triển; bảo đảm căn cứ khoa học cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển" [16, tr.58-59]
Đây là vấn đề có tầm chiến lược quan trọng trong toàn bộ đường lối KH&CN của Đảng ta
Tư tưởng xây dựng năng lực nội sinh về KH&CN là một bước phát triển mới trong đường lối, chính sách về KH&CN của Đảng, là sự cụ thể hoá các bài học nêu trong Cương lĩnh chính trị của Đảng: "Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
Trang 29
dân"; "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế"; nó bắt nguồn từ tư duy chiến lược trong lãnh đạo cách mạng của Đảng suốt mấy thập kỷ qua
Nghị quyết đã đề ra các biện pháp phù hợp để nâng cao năng lực nội sinh trong giai đoạn cách mạng mới; đồng thời chỉ rõ vai trò của nghiên cứu cơ bản trong mối quan hệ với nghiên cứu ứng dụng đối với việc nâng cao năng lực nội sinh về KH&CN
- Bốn là, Nghị quyết đã nhấn mạnh: "Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là
nhân tố quyết định làm cho KH&CN trở thành nền tảng và động lực mạnh mẽ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước" [16, tr.74] Vì vậy, các cấp uỷ đảng và chính quyền từ Trung ương đến
cơ sở cần sớm tổ chức cho đảng viên và quần chúng quán triệt Nghị quyết, đặc biệt là quan tâm đến việc ứng dụng KH&CN trong sản xuất và đời sống, tạo động lực, nguồn lực và môi trường thuận lợi cho KH&CN phát triển, coi KH&CN là một nội dung chủ yếu trong chỉ đạo, lãnh đạo hoạt động thực tiễn của các cấp uỷ
Như vậy, Nghị quyết Hội nghị lần 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII là một bước phát triển mới trong đường lối chiến lược của Đảng về KH&CN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Từ đây chúng ta đã có cơ sở, nền tảng cho việc thể chế hoá cơ chế, chính sách về KH&CN, tạo động lực thực sự cho sự phát triển của KH&CN đất nước trên con đường hội nhập
Với Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị khoá IV, lần đầu tiên nước ta có một chính sách thành văn về KH&CN; Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị khoá VI là nghị quyết thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng trong lĩnh vực KH&CN thì Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII là một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức và quan điểm của Đảng về KH&CN thời kỳ CNH, HĐH đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII vừa là Nghị quyết có tính chiến lược lâu dài, vừa là Nghị quyết hành động, đặt ra những vấn đề cấp bách để tháo gỡ những khó khăn hiện tại, tạo động lực mạnh mẽ cho KH&CN Việt Nam phát triển, thực sự trở thành nền tảng, động lực của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về "Định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000" là một mốc rất quan trọng trong việc đưa KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đây là một văn kiện quan trọng của
Trang 301.3.2 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và định hướng phát triển khoa học và công nghệ nước ta những năm đầu thế kỷ XXI
Đại hội lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam (4/ 2001) diễn ra trong một thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại, loài người bước sang một thế kỷ mới - "Thế kỷ XXI, tình hình thế giới sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi KH&CN sẽ có bước tiến nhảy vọt KTTT có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển LLSX Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan " [17, tr.64]; đó cũng là thế kỷ mà “Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng
lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác " [17, tr.65], “Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn ” [17, tr.66] Trong thế kỷ này, đất nước ta có cả cơ hội lớn và thách thức lớn, nhất là 4 nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra “vẫn còn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen, tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ nào” Trách nhiệm của Đảng là lãnh đạo toàn dân nắm bắt thời cơ, vượt qua thử thách, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới, tiếp tục giành được thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm (1996 - 2000), Báo cáo chính trị tại Đại hội đã khẳng định: Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng trên tất
cả các lĩnh vực, trong đó KH&CN có bước chuyển biến tích cực, gắn bó hơn với sự phát triển KT-XH, nhiều kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng trong sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội; năng lực nghiên cứu khoa học được tăng cường, ứng dụng được nhiều công nghệ tiên tiến Những thành tựu đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển KT-XH của đất nước, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế Tuy nhiên,
Trang 31
Các hoạt động KH&CN chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được Trình độ công nghệ của nước ta còn thấp kém so với các nước xung quanh, chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Năng lực tự tạo ra công nghệ mới còn rất
có hạn
Các cơ quan nghiên cứu khoa học chậm được sắp xếp cho đồng bộ, còn phân tán, thiếu phối hợp, do đó đạt hiệu quả thấp Các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, các trường Đại hội chưa gắn kết với nhau Việc đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật thiếu tập trung và dứt điểm cho từng mục tiêu Cán bộ KH&CN có trình độ cao tuy còn ít, song chưa được sử dụng tốt [17, tr.255]
Đại hội cũng chỉ rõ, nguyên nhân là do việc tổ chức thực hiện các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa tốt, kỷ luật chưa nghiêm; cơ chế, chính sách chưa đồng
bộ, chưa tạo được động lực phát triển; nhận thức của các tầng lớp nhân dân (đặc biệt là của nông dân) về vai trò của KH&CN chưa đầy đủ; cán bộ quản lý, cán bộ KH&CN, các tổ chức, cơ quan nghiên cứu khoa học chưa phát huy hết vai trò và khả năng của mình
Chính vì vậy, để đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH đất nước, tiếp tục đưa nước ta đi lên theo con đường XHCN mà Đảng đã lựa chọn, việc tạo động lực cho KH&CN phát triển là con đường và giải pháp mang ý nghĩa chiến lược cho bài toán phát triển của đất nước trong thế kỷ XXI
Tiếp tục quán triệt quan điểm cơ bản của Đại hội lần thứ VIII và Nghị quyết TW2 khoá VIII, coi phát triển KH&CN là sự nghiệp của toàn dân; KH&CN (cùng với GD&ĐT)
là quốc sách hàng đầu Đại hội khẳng định: một mặt phải làm cho khoa học thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nhu cầu của từng cá nhân, từng cộng đồng và của toàn xã hội; mặt khác, khoa học phải là một bộ phận, một nội dung quan trọng hàng đầu trong toàn bộ
kế hoạch phát triển KT - XH của cả nước, của từng khu vực và từng địa phương
Nhận thức được vai trò to lớn của KH&CN trong cuộc cạnh tranh quốc tế hiện nay; trên cơ sở đánh giá toàn diện tình hình đất nước và nhận định đúng đắn về tình hình thế giới,
Đại hội đã hoạch định Chiến lược phát triển KT - XH 10 năm 2001 - 2010 với những mục
tiêu cụ thể trên từng lĩnh vực, trong đó xác định: "Năng lực nội sinh về KH&CN đủ khả
Trang 32Đi đôi với hoạch định Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2001- 2010, Đại hội đã thông qua Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2001- 2005 Nhằm tạo ra sự phát triển đồng bộ, gắn kết quả khoa học với sản xuất, kinh doanh, quản lý và dịch
vụ, Đại hội đã chỉ rõ các nhiệm vụ chủ yếu của từng ngành khoa học (KHXH&NV, KHTN, KHCN ), từ đó đề ra một số giải pháp cụ thể về tổ chức, sắp xếp, quản lý các ngành khoa học, định hướng xây dựng một số chế độ, chính sách đối với KH&CN nhằm nâng cao hiệu quả và khai thác, phát huy tiềm năng KH&CN đất nước, trong đó Đại hội chú ý đến các vấn
- Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho KH&CN
- Có chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc, khuyến khích cán bộ KHKT bám sát cơ sở sản xuất, phục vụ các vùng khó khăn, vùng nông thôn
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong KH&CN
Trang 33
Đường lối phát triển KH&CN do Đại hội IX của Đảng đề ra là một bước phát triển
và cụ thể hoá Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, là
sự tiếp tục phát triển đường lối của Đại hội VI, VII, VIII của Đảng Những quyết định trọng đại của Đại hội, những phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển KT-XH cũng như các lĩnh vực khác thể hiện trong các văn kiện của Đại hội đã khẳng định rằng: Đại hội đánh dấu một bước trưởng thành mới của Đảng (cả về tư duy lý luận và hoạch định đường lối), đáp ứng được ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Đại hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mở đường cho đất nước tiến vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, từ tháng 7 - 2001, Bộ chính trị đã chỉ đạo việc xây dựng Văn kiện Hội nghị TW6 khoá IX, đi sâu tập trung vào kiểm điểm, đánh giá việc tổ chức thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII giai đoạn 1996-2000 Trên cơ sở các báo
cáo của các đơn vị tại các hôị thảo, Bộ chính trị đã trình Hội nghị TW6 khoá IX “Báo cáo
kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII và phương hướng phát triển KH&CN
và rút ra kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII, phương hướng phát triển KH&CN đến 2005 và 2010, trong đó khẳng định:
“Trong 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII, KH&CN nước ta đã có những đóng góp thiết thực cho việc phát triển KT-XH” [18, tr 136] Tuy vậy, kết quả thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII còn nhiều mặt hạn chế Hoạt động KH&CN chưa thực sự gắn kết hữu cơ với nhu cầu và hoạt động của các ngành KT-XH; trình độ KH&CN còn thấp so với các nước xung quanh; tiềm lực KH&CN còn yếu; thị trường KH&CN chưa phát triển, chưa
có cơ chế, chính sách đủ mạnh để vừa khuyến khích, vừa đỏi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ; cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành KH&CN còn yếu kém và lạc hậu so với
Trang 34- Sự quan tâm và chỉ đạo của các tổ chức Đảng và các cấp chính quyền đối với KH&CN chưa đúng mức; chưa thực sự coi KH&CN là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của các ngành, các cấp, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; chưa thực sự coi đó là quốc sách hàng đầu nên chưa có biện pháp mạnh để khắc phục tình trạng chậm trễ trong việc đưa NQ TW2 khoá VIII và Luật KH&CN vào cuộc sống
- Trình độ lãnh đạo công tác KH&CN của nhiều cấp uỷ còn nhiều bất cập
- Trình độ nhận thức của xã hội về vai trò của KH&CN trong phát triển còn thấp và chưa đầy đủ, không ít cán bộ KH&CN còn hoạt động xa rời thực tiễn, ý thức hợp tác trong nghiên cứu để giải quyết những vấn đề lớn của đất nước chưa trở thành nhu cầu bức thiết trong đội ngũ các nhà KH&CN
Trên cơ sở đánh giá những kết quả và hạn chế sau 5 năm thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII, Hội nghị yêu cầu các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết TW2 khoá VIII về KH&CN, đồng thời chỉ rõ: Để thực hiện thành công những định hướng chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2020 theo Nghị quyết 02 - NQ/HNTW
và Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, trong giai đoạn từ nay đến 2010, hoạt động KH&CN cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu sau:
1 Giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn do cuộc sống đặt ra Cung cấp luận cứ khoa học cho các chủ trương chính sách
2 Đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chú trọng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và thành tựu KHCN cho nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành công nghiệp công nghệ cao
Trang 35- Đổi mới quản lý và tổ chức hoạt động KH&CN gắn với đổi mới tổ chức quản lý kinh tế, đảm bảo sự gắn kết lợi ích của người sáng tạo với lợi ích của các thành phần kinh
tế Mở rộng dân chủ, phát huy tự do tư tưởng, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu khoa học và nghiên cứu lý luận Thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả và hiệu quả hoạt động của mình theo quy định của pháp luật Thực hiện cơ chế tự trang trải kinh phí cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ Kiện toàn
cơ chế quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ Đổi mới cơ chế, chính sách về đầu tư và tài chính
- Tạo lập và phát triển thị trường KH&CN Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ KH&CN và đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp Hoàn thiện môi trường pháp lý, hệ thống chính sách nhằm khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động thị trường KH&CN
- Phát triển tiềm lực KH&CN Tập trung phát triển nguồn nhân lực KH&CN; tăng cường cơ sở - kỹ thuật cho hoạt động KH&CN; phát triển hệ thống thông tin và thống kê KH&CN; xây dựng và triển khai chiến lược hợp tác quốc tế về KH&CN
- Tập trung chỉ đạo các nhiệm vụ trọng điểm: Đẩy mạnh nghiên cứu các lĩnh vực KHXH, tổng kết thực tiễn, xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; ứng dụng và chuyển giao KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, ứng dụng và phát triển mạnh một số ngành công nghệ cao như CNTT, CNSH trong đó chú trọng phát triển CNTT, sớm xây dựng ngành công nghiệp thông tin làm cơ sở cho việc HĐH các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo củng cố quốc phòng-an ninh, phấn đấu nâng trình độ CNTT nước ta đạt tiên tiến trong khu vực; Phát triển CNSH, tập trung vào nghiên cứu và ứng dụng phục vụ phát triển nông - lâm - ngư nghiệp, chế biến thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 36
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng và chính quyền
Trong các giải pháp nêu trên, Bộ Chính trị cho rằng: Việc đổi mới quản lý KH&CN,
ưu tiên phát triển công nghệ cao là những giải pháp đóng vai trò đột phá, tạo động lực cho KH&CN phát triển trong giai đoạn tới, đây là một điểm mới trong tư duy lý luận và đường lối của Đảng về KH&CN
Hội nghị lần thứ 6 BCH TW Đảng khoá IX và những định hướng phát triển KH&CN đến năm 2010 là một bước phát triển và cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng
về KH&CN, góp phần đưa các Nghị quyết của Đảng về KH&CN vào thực tiễn sôi động của quá trình đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước những năm đầu thế kỷ XXI với những thuận lợi
và khó khăn mới, thời cơ và thách thức mới đan xen
Việc Hội nghị TW6 khoá IX thông qua và ban hành “Kết luận về việc tiếp tục thực hiện NQ TW2 khoá VIII và phương hướng phát triển GD&ĐT, KH&CN từ nay đến năm
2005 và đến năm 2010” thay cho việc ban hành một Nghị quyết mới về hai lĩnh vực này là thể hiện sự sáng tạo của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng nói chung, lãnh đạo phát triển KH&CN nói riêng, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Trang 37
Chương 2
Quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo
tổ chức thực hiện phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 1996 - 2006
2.1 Đảng lãnh đạo phát triển khoa học và công nghệ từ 1996 đến 2000
2.1.1 Quá trình cụ thể hoá các Nghị quyết của Đảng về khoa học và công nghệ giai đoạn 1996-2000
Ngay sau khi Hội nghị Trung ương 2 kết thúc, ngày 10/1/1997, Bộ Chính trị đã ra Chỉ
thị số 12 -CT/TW về việc triển khai nghiên cứu quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết
Trung ương 2 khoá VIII, trong đó chỉ rõ: Việc tổ chức nghiên cứu quán triệt và thực hiện 2 nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bảo đảm cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, KH&CN ở nước ta thật sự là "quốc sách hàng đầu", thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ, vững chắc theo định hướng XHCN
Chỉ thị yêu cầu, các cấp uỷ đảng, các ngành, các đoàn thể cần thực hiện thật tốt những việc sau:
- Về việc tổ chức phổ biến và nghiên cứu Nghị quyết
Chỉ thị đã xác định: mục đích của việc tổ chức phổ biến và nghiên cứu Nghị quyết là: làm cho mọi cấp, mọi ngành, toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ những quan điểm cơ bản của Đảng về vị trí, vai trò, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KH&CN (và giáo dục đào tạo) trong thời kỳ CNH, HĐH và đến năm 2000; nắm vững những chủ trương, chính sách và các giải pháp đảm bảo cho các lĩnh vực này thực sự là "quốc sách hàng đầu", thực sự trở thành sự nghiệp của toàn xã hội Từ đó Bộ chính trị chỉ thị:
+ Việc phổ biến, nghiên cứu quán triệt nội dung Nghị quyết cần được tiến hành rộng rãi trong toàn Đảng, toàn dân, trước hết tập trung làm thật tốt trong nội bộ Đảng, trong hệ thống các Viện nghiên cứu, các trường học, các ngành kinh tế, các tổ chức sản xuất, kinh doanh, các nhà doanh nghiệp
+ Đổi mới phương pháp, hình thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả việc phổ biến quán triệt Nghị quyết, đồng thời phải bàn ngay chương trình hành động, bảo đảm cho tinh
Trang 38Việc tổ chức quán triệt nội dung Nghị quyết cho lãnh đạo chủ chốt các tỉnh, thành và ban ngành, đoàn thể trực thuộc Trung ương được kết hợp trong lớp nghiên cứu sâu Nghị quyết Đại hội VIII do Bộ Chính trị triệu tập
Các trường học, Viện nghiên cứu đưa nội dung Nghị quyết vào chương trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu
Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương chịu trách nhiệm biên soạn tài liệu phục vụ đợt học tập, nghiên cứu; hướng dẫn kế hoạch tổ chức triển khai đợt quán triệt Nghị quyết, chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân
- Về việc triển khai thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị chỉ thị:
+ Cấp uỷ đảng, các ban cán sự đảng, đảng đoàn có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức thực hiện đưa Nghị quyết của Trung ương vào cuộc sống một cách tích cực, chủ động và sáng tạo, tập trung vào những vấn đề bức xúc trước mắt nhằm nhanh chóng tạo ra những chuyển biến tiến bộ trong sự nghiệp phát triển KH&CN
+ Các cơ quan nhà nước, trước hết là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là
Bộ Khoa học và công nghệ) có chương trình hành động tổng thể và trước mắt cần làm ngay
để thực hiện Nghị quyết, kiểm điểm sâu sắc những ưu điểm, khuyết điểm trong những năm qua, rút ra những bài học cần thiết nhằm chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý, sớm giải quyết cho được những vấn đề nổi cộm; đồng thời phải có kế hoạch nhanh chóng thể chế hoá định hướng chiến lược phát triển KH&CN của Đảng thành chiến lược, luật pháp và chính sách
Trang 39+ Ban Khoa giáo Trung ương làm đầu mối phối hợp, cùng với Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, giúp Bộ Chính trị hướng dẫn triển khai đôn đốc, kiểm tra thực hiện, làm cho Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, đồng thời thường xuyên sơ kết và báo cáo Bộ Chính trị về kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết
Thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW của Bộ Chính trị, ngay từ tháng 2/1997, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương đã phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường, Ban Cán sự Đảng các bộ, ngành Trung ương và các cấp uỷ đảng địa phương, các Vụ, Viện, trường học,
cơ quan, các trung tâm nghiên cứu, tổ chức chính trị - xã hội đã tổ chức quán triệt sâu rộng Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII dưới nhiều hình thức khác nhau như Hội nghị cán bộ cao cấp, hội thảo, tổ chức các lớp tập huấn, học tập nghị quyết
Đến tháng 6 năm 1997, tuyệt đại đa số các tỉnh, thành phố, bộ, ngành ở Trung ương đã hoàn thành việc tổ chức quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 về KH&CN cho cán bộ chủ chốt, đến các cơ sở, cán bộ, đảng viên Nhiều bộ, ngành, cơ quan Trung ương đã xây dựng chương trình hoặc kế hoạch hành động Các cấp uỷ Đảng
và chính quyền địa phương đã ban hành các chỉ thị, nghị quyết, xây dựng chương trình hành động về KH&CN [18, tr.72-73]
Với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực KH&CN, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, bao gồm chương trình hành động về kế hoạch phát triển KH&CN, về cơ chế chính sách tạo động lực cho KH&CN phát triển, về tổ chức quản lý KH&CN
Chương trình hành động của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII là bước khởi động đầu tiên để đưa Nghị quyết vào
Trang 40
cuộc sống Điều đó chứng tỏ quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đưa KH&CN thực sự trở thành "quốc sách hàng đầu", thực sự là động lực của quá trình CNH, HĐH đất nước theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Đi đôi với việc chỉ đạo chung nhằm quán triệt và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII của Đảng về KH&CN đến các cấp, các ngành, các địa phương, Bộ Chính trị đã tăng cường chỉ đạo, ban hành nhiều Chỉ thị và Nghị quyết quan trọng nhằm phát triển KH&CN trên nhiều lĩnh vực, đó là: Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22/7/1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng CNH, HĐH; Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của
Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong quá trình CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường hoạt động của Liên hiệp các Hội KH&CN Việt Nam; Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin , và đặc biệt chú ý là Chỉ thị số
63 - CT/TW (28/2/1998) của Bộ chính trị về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH&CN phục
vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
Quán triệt quan điểm của Đại hội lần thứ VIII của Đảng về nội dung cơ bản của công nghiệp hoá trong những năm còn lại của thập kỷ 90 và về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp nước ta trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 1996-2000, ngày 28/2/1998,
Bộ chính trị đã ban hành Chỉ thị số 63 - CT/TW về đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng KH&CN phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, trong đó chỉ rõ:
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn có vai trò quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN Sự thành công của sự nghiệp đó chủ yếu phụ thuộc vào trình độ dân trí, vào việc đẩy mạnh áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học - công nghệ và phát huy lợi thế so sánh của từng vùng trong cả nước để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy sản xuất hàng hoá nông nghiệp, làm chủ thị trường trong nước, từng bước vươn ra thị trường khu vực và quốc tế
Trên cơ sở đánh giá khái quát về thực trạng tình hình nghiên cứu, ứng dụng KH&CN phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn những năm trước đó, chỉ rõ nguyên nhân chủ yếu của thực trạng, Chỉ thị đã đưa ra chủ trương việc nghiên cứu, ứng dụng thành tựu