Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung tài liệu “Lịch sử giáo dục và khoa cử Việt Nam” có bố cục 7 chương: Chương 1: Nền giáo dục dân gian Việt Nam, bàn sơ lược một s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
LỊCH SỬ GIÁO DỤC VÀ KHOA CỬ VIỆT NAM
(Lưu hành nội bộ)
BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
LỊCH SỬ GIÁO DỤCVÀ KHOA CỬ VIỆT NAM
(Lưu hành nội bộ)
ThS NGUYỄN BẢO KIM
Trang 3MỞ ĐẦU
Mục tiêu của tài liệu “Lịch sử giáo dục và khoa cử Việt Nam” đảm bảo cho sinh viên đại học sư phạm ngành lịch sử hệ thống kiến thức về sự hình thành, phát triển của nền giáo dục và khoa cử Việt Nam từ thời nguyên thủy đến năm 2000 để vận dụng vào giảng dạy lịch sử ở bậc trung học phổ thông Vì vậy khi biên soạn tài liệu “Lịch sử giáo dục và khoa cử Việt Nam”, chúng tôi dựa trên những cơ sở quan trọng sau:
- Đảm bảo tính chính xác khoa học và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục lịch sử
- Tăng cường tính thực hành trong học tập, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học
- Phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập để nắm vững kiến thức, nội dung môn học kết hợp với vận dụng vào dạy học ở bậc trung học phổ thông Trong khi biên soạn, chúng tôi kế thừa thành tựu nghiên cứu trong nhiều chuyên khảo, giáo trình đại học sư phạm trong nước
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung tài liệu “Lịch sử giáo dục và khoa cử Việt Nam” có bố cục 7 chương:
Chương 1: Nền giáo dục dân gian Việt Nam, bàn sơ lược một số nền văn
hóa thời kỳ sơ khai của lịch sử các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam Đặc điểm, mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục của nền giáo dục dân gian Việt Nam
Chương 2: Giáo dục Việt Nam thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc đến thời Ngô – Đinh – Tiền Lê (khoảng thế kỷ VII TCN đến năm 1009), sơ lược về những thành
tựu giáo dục dân gian trong thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc, tình hình phát triển Nho học ở nước ta dưới thời Bắc thuộc và những biểu hiện bước đầu của nền Nho học Việt Nam dưới thời Ngô – Đinh – Tiền Lê
Chương 3: Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học Việt Nam từ nhà Lý đến nhà Nguyễn (1009 – 1919), bàn về tầm quan trọng của giáo dục Nho học đối với
chế độ phong kiến Việt Nam; hệ thống trường, cấp học Nho học thời Lý – Trần và
Lê – Nguyễn Một số sách Nho học cơ bản và nội dung chủ yếu của giáo dục Nho
học; các lối văn và chế độ thi cử Nho học thời phong kiến Cuộc vận động cải
cách giáo dục của các sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX
Chương 4: Nền giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc, nêu rõ bản chất chính
sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam và tình hình phát triển hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam từ năm 1861 đến năm 1945 được triển khai thực hiện qua các giai đoạn: ở Nam Kỳ (1861 – 1886); ở trên toàn lãnh thổ Việt Nam trải qua các giai đoạn: (1886 –1917) và (1917 – 1945)
Chương 5: Tình hình giáo dục Việt Nam thời Chính phủ Trọng Kim, trong vùng Pháp tạm chiếm và ở miền Nam Việt Nam (9/3/1945 – 30/4/1975), bàn về
những nét mới của chương trình giáo dục Hoàng Xuân Hãn được thực hiện ở Việt Nam từ 9/3 đến 19/8/1945; Tình hình giáo dục nước ta trong những vùng Pháp tạm chiếm (1948 – 1954) và tình hình giáo dục của miền Nam Việt Nam từ năm
1954 đến 1975
Chương 6: Nền giáo dục của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bàn về những chủ trương, chính sách đúng đắn
Trang 4và nhất quán của Đảng - Chính phủ từ khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945) cho đến năm 2000 Những nét chính về sự nghiệp xây dựng, phát triển hệ thống giáo dục quốc dân từ cấp phổ thông đến sau đại học từ năm 1945 đến năm 2000, qua đó nêu bật tính ưu việt của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Đầu mỗi chương có tóm tắt nội dung cơ bản Cuối mỗi chương có hệ thống câu hỏi học tập và ôn tập chương
Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp để tài liệu được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Trang Chương 1 Nền giáo dục dân gian Việt Nam
trước thời Bắc thuộc……… 3
1.1 Sơ lược một số nền văn hóa thời kỳ sơ khai của lịch sử các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam ……….4
1.2 Mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục của nền giáo dục dân gian Việt Nam……… 7
1.3 Đặc điểm của nền giáo dục dân gian Việt Nam……… 11
Chương 2 Giáo dục Việt Nam từ thời Văn Lang – Âu Lạc đến thời Ngô-Đinh-Tiền Lê (thế kỷ VII TCN-1009)……12
2.1 Giáo dục thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc (VII -179 TCN)……… 12
2.2 Giáo dục thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 938)………… 13
2.3 Giáo dục thời Ngô – Đinh – Tiền Lê (938 – 1009)……….15
Chương 3 Giáo dục khoa cử Nho học Việt Nam từ nhà Lý đến nhà Nguyễn (1009 – 1919) 18
3.1 Nhận thức của giai cấp phong kiến Việt Nam về tầm quan trọng của giáo dục Nho học……… 18
3.2 Trường học thời phong kiến………20
3.3 Các cấp học Nho thời phong kiến……… 23
3.4 Một số sách Nho học cơ bản thời phong kiến……….24
3.5 Nội dung giáo dục Nho học………27
3.6 Các lối văn……… 28
3.7 Tình hình khoa cử Nho học ở Việt Nam từ nhà Lý đến nhà Nguyễn (1009 – 1919)……… 29
3.8 Cuộc vận động cải cách giáo dục của các sĩ phu yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX……….41
3.8.1 Hoàn cảnh lịch sử……….43
3.8.2 Đông Kinh nghĩa thục……… 44
3.8.3 Những chủ trương cải cách giáo dục………45
Chương 4 Nền giáo dục Việt Nam thời Pháp thuộc (1861 – 1945)……… 46
4.1 Chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam……….46
4.2 Chế độ giáo dục của Pháp ở Nam Kỳ (1861 – 1886)……… 48
4.3 Chế độ giáo dục của Pháp ở Việt Nam (1886 – 1917)………59
Trang 64.4 Chế độ giáo dục của Pháp ở Việt Nam (1917 – 1945) ……… 52
Chương 5 Tình hình giáo dục thời chính phủ
Trần Trọng Kim, trong vùng Pháp tạm chiếm
và ở miền Nam Việt Nam (9/3/1945 – 30/4/1975)……… 60 5.1 Tình hình giáo dục ở Việt Nam thời
Chính phủ Trần Trọng Kim (9/3 – 19/8/1945)……….60
5.2 Tình hình giáo dục Việt Nam trong vùng Pháp tạm chiếm (1948 – 1954)…61
5.3 Tình hình giáo dục ở miền Nam Việt Nam từ 1954 – 1975…………63
Chương 6 Nền giáo dục của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…… 70
6.1 Chính sách, chủ trương của Đảng và Chính phủ về giáo dục……….71 6.2 Sự phát triển của giáo dục phổ thông……… 76 6.3 Sự phát triển của giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp…….83
Phụ lục 1 Những trạng nguyên trong lịch sử khoa cử
Việt Nam……… 96
Phụ lục 2 Văn bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám Hà Nội…… 103
Phụ lục 3 Tài liệu về khoa cử và giáo dục của ông cha….110
Phụ lục 4 Tóm tắt sự thay đổi cấu trúc và tên gọi các
cấp học và lớp học trong hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam (1939 – 2000) 117
Tài liệu tham khảo……… 119
Trang 7Chương 1 GIÁO DỤC DÂN GIAN VIỆT NAM
Việt Nam là một trong những nơi phát tích của loài người Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy dấu vết của người vượn, người khôn ngoan ở Việt Nam Từ người khôn ngoan đến cuối thời đại đồ đá cũ trở đi, các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam
đã xây dựng nên những nền văn hóa bản địa đó là: nền văn hóa Sơn Vi, nền văn hóa Hòa Bình và nền văn hóa Bắc Sơn Tiếp theo đó là các nền văn hóa tiền Đông Sơn, văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và nền văn hóa Đồng Nai
Điểm qua một số nền văn hóa thời kỳ sơ khai của lịch sử các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay để khẳng định rằng, dù chưa có nền giáo dục, song
đã có hiện tượng giáo dục, những yếu tố của sự truyền dạy những kinh nghiệm về lao động sản xuất và đời sống xã hội Những mầm móng giáo dục nguyên thủy được kế thừa và phát triển qua biết bao thế hệ để dần hình thành một nền giáo dục dân gian
Giáo dục dân gian ra đời ngay từ lúc cộng đồng các cư dân xuất hiện và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, được bồi đắp, bổ sung, phát triển và tồn tại qua các thế hệ, các thời kỳ lịch sử một cách bền vững, phong phú cho đến ngày nay
1.1 Sơ lược một số nền văn hóa thời kỳ sơ khai của lịch sử các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam
Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người Các nhà khảo cổ học
đã tìm thấy dấu vết của người vượn ở Việt Nam, gần giống với người vượn Bắc Kinh được phát hiện ở Chu Khẩu Điểm, sống cách đây khoảng 20 – 50 vạn năm
Ở hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), đã tìm thấy một số răng người vượn, sống cách đây khoảng 20 vạn năm Ở một số địa phương khác, như Núi Đọ (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), An Lộc (Bình Phước)…, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy nhiều công cụ đá ghè đẽo rất thô sơ, giống với công cụ đá thời đại
sơ kỳ đá cũ Tiếp đó, các mảnh tước, hạch đá, trốp pơ được phát hiện ở Thanh Hóa, Đồng Nai, Bình Phước giống như những công cụ đá Núi Đọ Những bằng chứng khảo cổ học này là cơ sở quan trọng về việc xuất hiện người vượn ở Việt Nam
Các nhà khảo cổ học cũng tìm được những hóa thạch răng của người khôn ngoan ở giai đoạn sớm tại hang Thẩm Ồm (Nghệ An), Hang Hùm (Yên Bái), Thung Lang (Ninh Bình), cách đây khoảng 60.000 đến 125.000 năm Từ Người khôn ngoan đến cuối thời đại đồ đá cũ trở đi, các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam
đã xây dựng nên những nền văn hóa bản địa
Văn hóa Sơn Vi, cách ngày nay khoảng 11.000 đến 30.000 năm, của các
cư dân thời hậu kỳ đồ đá cũ ở Việt Nam sống tập trung ở các gò đồi trung du trên một địa bàn rộng lớn, kéo dài từ Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang đến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị Văn hóa Sơn Vi đại diện cho dạng hình xã hội chuyển tiếp từ miền núi xuống đồng bằng Các bộ lạc thuộc văn hóa Sơn Vi đã biết ghè đẽo những công cụ chặt, nạo… bằng đá cuội Công cụ đặc trưng của văn hóa Sơn Vi thể hiện một bước tiến bộ rõ rệt trong kỹ thuật chế tác đá, tuy vẫn còn một số ít những công cụ mang dấu vết kỹ thuật thô sơ của thời kỳ đồ đá cũ
Trang 8Sự xuất hiện người khôn ngoan thuộc nền văn hóa Sơn Vi cũng đánh dấu một bước chuyển biến trong tổ chức xã hội, các thị tộc và bộ lạc ra đời Mỗi thị tộc gồm vài ba chục gia đình, sống ở một khu vực nhất định Mỗi gia đình lại có những thành viên thuộc vài ba thế hệ cùng chung huyết tộc Một số thị tộc có quan hệ họ hàng, cùng nguồn gốc tổ tiên, sống gần nhau, hợp thành bộ lạc Các thành viên trong một bộ lạc có quan hệ hôn nhân với nhau – trai gái của các thị tộc trong cùng một bộ lạc lấy nhau, lập thành một gia đình riêng
Văn hóa Hòa Bình Đã mở rộng địa bàn của các cư dân từ Hòa Bình, Sơn
La, Lai Châu, Hà Giang, Ninh Bình đến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị Văn hóa Hòa Bình thuộc thời đại đá mới Di tích của nền văn hóa này được phát hiện đầu tiên ở Hòa Bình, cách ngày nay khoảng từ 7.500 năm đến 17.000 năm
Công cụ lao động của cư dân Hòa Bình có nhiều loại hình phong phú, đa dạng, được chế tác từ các nguyên liệu khác nhau, thể hiện một bước tiến so với thời văn hóa Sơn Vi Tiêu biểu là những công cụ cuội ghè đẽo một mặt, như rìu ngắn, nạo hình dĩa, rìu bầu dục…, cũng có một số công cụ ghè hai mặt và vẫn sử dụng công cụ cuội nguyên thủy Ngoài ra, có một số công cụ làm bằng xương, vỏ trai, công cụ mài lưỡi
Cư dân văn hóa Hòa Bình sống chủ yếu bằng săn bắt, hái lượm và có khả năng biết đến nông nghiệp sơ khai – trồng rau quả, cây có củ Tập tục phổ biến của cư dân Hòa Bình là chôn người chết ở nơi cư trú – tập tục phổ biến của người nguyên thủy nói chung Họ đã biết làm các đồ trang sức, như vỏ ốc biển được mài
và có lỗ để xâu dây đeo Ý niệm về tín ngưỡng vật tổ sơ khai cũng đã nảy sinh
Văn hóa Bắc Sơn, cách đây khoảng 10.000 năm, phát triển từ nền văn hóa Hòa Bình Địa bàn cư trú của các bộ lạc Bắc Sơn thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An… Công cụ lao động phổ biến của họ là rìu mài lưỡi Họ cũng biết làm đồ gốm, tuy còn ít, hình dáng thô và
độ nung chưa cao Tuy vậy, đây là một bước tiến trong sự phát triển; mở đầu cho nền văn hóa đá mới có gốm Cư dân Bắc Sơn ngoài hái lượm, săn bắt còn đánh cá, chăn nuôi và làm nông nghiệp sơ khai và đã có cuộc sống định cư ổn định Đồ trang sức có nhiều loại hơn trước, ngoài những vỏ ốc biển như thời văn hóa Hòa Bình, còn có những đồ trang sức làm bằng đá phiến có lỗ đeo, các chuỗi hạt bằng đất nung giữa có xuyên lỗ Họ cũng có tập tục chôn người chết và chôn theo cả công cụ lao động
Văn hóa Phùng Nguyên ra đời vào cuối thời đá mới Đó là văn hóa sơ kỳ thời đại đồng thau ở Việt Nam, tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ hai TCN, cách ngày nay khoảng 4000 năm Di chỉ văn hóa Phùng Nguyên tìm thấy ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng ngày nay
Tiếp theo văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun thuộc trung kỳ và hậu kỳ thời đại đồng thau, nằm trong thời kỳ Tiền Đông Sơn Các nền văn hóa này trực tiếp xây dựng cơ sở cho văn hóa Đông Sơn ra đời sau đó Ở vùng Bắc Trung Bộ cũng xuất hiện văn hóa của các bộ lạc Hoa Lộc, Cồn Chân Tiên (Thanh Hóa), các bộ lạc vùng sông Mã (Sơn La)
Các chủ nhân của những nền văn hóa Tiền Đông Sơn nêu trên đã biết làm nông nghiệp trồng lúa và gieo trồng các cây lương thực khác bằng cuốc đá Công
cụ bằng đá được chế tác đạt đến trình độ phát triển cao (như rìu, bôn tứ diện được
Trang 9mài nhẵn, có kích thước nhỏ, các lưỡi cuốc đá mài nhẵn có chuôi để tra cán…) Tuy chưa có công cụ bằng đồng, song cư dân đã biết sử dụng nguyên liệu bằng đồng và kỹ thuật luyện kim Đây là cơ sở cho sự ra đời của nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc và nhà nước sơ khai ở giai đoạn văn hóa Đông Sơn
Cư dân văn hóa Tiền Đông Sơn sống bằng nông nghiệp với hai ngành chính trồng trọt và chăn nuôi Nghề thủ công như đan lát, dệt vải… phát triển ở một số bộ lạc, các đồ trang sức như vòng tay, hạt chuỗi bằng đá được khoan tiện tinh vi Nổi bật trong nghề thủ công là nghề làm đồ gốm và luyện kim rất phát triển
Trong giai đoạn văn hóa đồng thau sơ kỳ (văn hóa Tiền Đông Sơn) còn có văn hóa Tiền Sa Huỳnh ở Nam Trung Bộ Văn hóa Tiền Sa Huỳnh (hay văn hóa
Sa Huỳnh giai đoạn sớm) có niên đại 4.000 – 3.000 năm cách ngày nay Chủ nhân của nền văn hóa này đã tiến đến thời đại sơ kỳ kim khí và đã biết kỹ thuật luyện kim Họ sống rải rác ở các tỉnh Nam Trung Bộ mà nhiều di tích được phát hiện ở Quảng Nam, Đà Nẳng, Quảng Ngãi, Khánh Hòa Công cụ lao động tìm được bằng sắt (cuốc, thuổng, liềm) và một ít bằng đồng Vũ khí bằng sắt cũng khá nhiều Như vậy, nghề rèn sắt đã phát triển Ngoài ra nghề gốm, xe sợi, dệt vải, làm đồ trang sức, nấu cát làm thủy tinh cũng đạt được kỹ thuật cao
Chủ nhân của văn hóa Tiền Sa Huỳnh là tổ tiên của chủ nhân văn hóa Chăm sau này ở vùng đất Trung Bộ
Không thuộc văn hóa Tiền Đông Sơn, ở Đông Nam Bộ cách đây khoảng
4000 – 5.000 năm cũng đã xuất hiện nền văn hóa Đồng Nai Chủ nhân của nền văn hóa này đã tụ cư ở vùng đồng bằng Nam Bộ, tại các vùng đất đỏ bazan Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước ngày nay và vùng ngập nước, sình lầy ven biển Họ sống bằng nghề trồng lúa nước và các cây lương thực khác Họ cũng làm nghề khai thác sản vật rừng, săn bắt, làm nghề thủ công Công cụ lao động còn bằng đá (cuốc, rìu) song đã xuất hiện nhiều công cụ bằng đồng và sắt Đồ trang sức được chế tác bằng đá, thủy tinh, đồng, sắt
Trình bày sơ lược một số nền văn hóa thời kỳ sơ khai của lịch sử các cư dân trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã khẳng định rằng, dù chưa có nền giáo dục, song đã có hiện tượng giáo dục, những yếu tố của một số sự truyền dạy những kinh nghiệm về lao động sản xuất và đời sống xã hội Bởi vì, không có sự truyền dạy như vậy từ thế hệ này sang thế hệ khác thì làm sao những cư dân bản địa này có thể tồn tại và phát triển thành một đại gia đình các dân tộc Việt Nam ngày nay
Việc chế tác công cụ bằng đá rồi bằng kim khí lúc đầu có thể do từng người riêng lẻ thực hiện, song sự phát triển của chế tạo công cụ lao động, vũ khí,
đồ trang sức, đồ gốm nhất định phải có sự truyền dạy của những người giàu kinh nghiệm, những người già trong cộng đồng cho lớp con cháu ngày một đông Sự truyền dạy này cũng không phải chỉ có một người đảm nhận mà còn có sự đóng góp, bổ sung của cả cộng đồng, nhất là lớp trẻ vừa tiếp nhận kinh nghiệm của ông cha, vừa có sức sáng tạo
Hiện tượng giáo dục trong cộng đồng như vậy đã tạo được cuộc “cách mạng đá mới”; đó là giai đoạn hình thành văn hóa đá mới sau các nền văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn, chuyển sang giai đoạn hậu kỳ đá mới, cách ngày nay khoảng 5000 – 6000 năm Cuộc “Cách mạng đá mới” là kết quả phát triển tư duy,
Trang 10năng lực của cư dân thời bấy giờ Họ được giáo dục, truyền dạy và tự bồi dưỡng, sáng tạo về kỹ thuật chế tác đá, làm đồ gốm Nhờ đó mà nâng cao đời sống vật chất và tinh thần lên một bước Chắc chắn, việc truyền dạy và sáng tạo của cả cộng đồng làm cho kỹ thuật làm đồ gốm thời hậu kỳ đá mới ở Việt Nam có bước phát triển cao hơn thời sơ kỳ đá mới Các di chỉ Mai Pha (Lạng Sơn), Nậm Tun (Lai Châu), Sập Việt (Sơn la), Cái Bèo (Hải Phòng), Đa Bút (Thanh Hóa), Trại Ổi (Nghệ An), Thạch Lạc (Hà Tỉnh), Bàu Tró (Đồng Hới), Bàu Cạn (Gia Lai – Kon Tum), Đraixê (Đăk Lăk), Cầu Sắt (Đồng Nai)… chứng tỏ nghề gốm của các cư dân trên khắp cùng của tổ quốc Việt Nam ngày nay đã phát triển với kỹ thuật làm tay, hoặc bằng bàn xoay Sản phẩm gốm đã có hình dáng đẹp (đáy tròn, miệng loe hay bóp vào) và hoa văn phong phú (hoa văn dây thừng, hoa văn sóng nước, hình
ô trám…), sự phát triển như vậy nhất định phải do sự truyền kinh nghiệm và sáng tạo trong lao động
Đời sống tinh thần của các cư dân trên đất nước Việt Nam ngày nay ở thời nguyên thủy cũng ngày một tiến bộ Họ biết làm đẹp với các đồ trang sức, quý trọng người chết với tục chôn, có ý niệm về thế giới bên kia Trong quan hệ giữa người sống trong một thị tộc, giữa các thị tộc trong một bộ lạc ngày càng tốt đẹp: biết kính trên nhường dưới, tôn trọng người già, yêu quý trẻ thơ, bình đẳng giữa các lớp người cùng tuổi và khác tuổi, tương trợ giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, khi gặp thiên tai, hoạn nạn… Tất cả những thái độ, cách cư xử tốt đẹp như vậy trong quan hệ cộng đồng đều do giáo dục của những người lớn tuổi đối với thế hệ trẻ
Những mầm móng giáo dục nguyên thủy trên được kế thừa và phát triển qua biết bao thế hệ để dần hình thành một nền giáo dục dân gian
1.2 Mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục của nền giáo dục dân gian Việt Nam
Ra đời trong điều kiện tự nhiên và xã hội vào buổi đầu của lịch sử dân tộc, các dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam đã xác định ngày càng rõ mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục
Mục đích:
Trải qua bao thế hệ, nhân dân ta đã khẳng định mục đích của việc giáo dục
là bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ “thành người” có đạo lý Đạo lý của người Việt Nam thể hiện thái độ đối với lao động sản xuất (quan hệ với tự nhiên), tinh thần, trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cộng đồng (quan hệ với xã hội)
Mục đích giáo dục được xác định như vậy nên từ buổi đầu dựng nước đã xuất hiện gần như đồng thời ba câu chuyện truyền thuyết về “Lạc Long Quân –
Âu Cơ” “Sơn Tinh – Thủy Tinh” và “Thánh Gióng” để giáo dục cho các thế hệ về cội nguồn dân tộc, quyết tâm đấu tranh với thiên nhiên để dựng nước và đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm để giữ nước Nhớ về cội nguồn, tôn kính tổ tiên, lao động thông minh, sáng tạo, quyết chiến quyết thắng chống kẻ thù xâm lược là những nội dung cơ bản không thể thiếu của đạo lý Việt Nam
Nội dung giáo dục:
Qua những câu ca dao, tục ngữ, những bài vè, những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, lời ru… đã hàm chứa nội dung lòng yêu nước, yêu quê hương, lòng thương người, yêu quý lao động, yêu chính nghĩa, ghét phản tà, tinh
Trang 11thần vị tha, nhân nghĩa, lòng dũng cảm, không sợ khó, sợ khổ để hoàn thành nghĩa
vụ chính đáng
Lòng kính trọng, yêu thương ông bà, cha mẹ, người lớn tuổi, tổ tiên, anh hùng dân tộc là nội dung được đặc biệt coi trọng trong giáo dục thế hệ trẻ Những câu ca dao, tục ngữ ngắn gọn, súc tích là những lời răn dạy gắn liền với mọi hoạt động trong đời sống, ví như:
Đối với cha mẹ:
“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Đối với thầy học:
“Muốn sang thì bắt cầu kiều,
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”
Hoặc:
“Không thầy đố mày làm nên”
Hay:
“Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”
Đối với bà con hàng xóm, láng giềng phải có quan hệ tốt đẹp:
“Bán anh em xa, mua láng giềng gần”
Hay:
“Tối lửa tắt đèn có nhau”
Nhân dân lao động gắn liền với công cuộc sản xuất, cho nên những hiểu biết về thiên nhiên, điều kiện canh tác, lịch thời vụ, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, nghề thủ công… là nội dung giáo dục cơ bản được truyền dạy qua bao thế
hệ bằng những câu ca dao, tục ngữ, những bài vè, hò, hát, …
Về thời tiết, sự đoán định khá chính xác, được xây dựng trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm phong phú trong lao động sản xuất và gần đạt được sự khái quát khoa học, như các câu:
“Thâm đông, hồng tây, dựng may,
Ai ơi ở lại vài ngày hãy đi”
Hoặc:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
Hay nhìn trăng mà đoán nắng mưa:
“Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”
Trang 12Tùy theo địa hình từng vùng, những người dân lao động cũng “dự báo thời tiết” cho địa phương mình:
“Mây che núi Đọ thì mưa” (núi Đọ ở Thanh Hóa) Hoặc:
“Rú Lần đội mũ thì mưa” (rú Lần ở Nghệ An)
Những khẳng định mang yếu tố khoa học mà ngày nay chúng ta cần phân tích:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Về lao động sản xuất, những kinh nghiệm được đúc kết thành những bài học chỉ dẫn về kỹ thuật gieo trồng, như:
“Khoai đất lạ, mạ đất quen”
“Nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”
“Tháng giêng là tháng ăn chơi, Tháng hai tỉa đậu, tháng ba trồng cà…”
Trong nghề thủ công, việc hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm về kỹ thuật sản xuất được coi trọng Ví như, việc truyền dạy kỹ thuật làm đồ gốm của người Bắc Sơn trong việc lấy đất sét nhào với cát để khi nung, đồ gốm không bị rạn nứt
Việc giáo dục trẻ em rất được coi trọng, thường thông qua đồng dao và trò chơi trẻ em:
Đồng dao là những lời hát cho trẻ em, của trẻ em, phản ảnh những hiểu biết cần thiết đối với đời sống trẻ em một cách thiết thực Đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát, bài ru em, những lời sấm (thường của người lớn mượn lời trẻ em để phổ biến)
Trò chơi trẻ em có nhiều loại với những nội dung rất phong phú, có thể tạm chia ra: trò chơi vận động (dung dăng dung dẻ, chơi khăng, chơi đáo), trò chơi học tập (đánh chuyền, đánh ô), trò chơi mô phỏng (đi chợ, làm nhà, bày tiệc, bán hàng…), trò chơi sáng tạo (xếp thuyền, đánh trận, chơi diều…)
Qua đồng dao, trò chơi trẻ em, phù hợp với tùng lứa tuổi, trình độ hiểu biết của trẻ em, mà xác định nội dung giáo dục
Đối với trẻ thơ, khoảng 1 – 5 tuổi, lời ru của bà, mẹ, chị, những lời hát, kể chuyện cho trẻ con nhằm truyền những tình cảm thắm thiết, ngọt ngào, cung cấp bồi dưỡng những hiểu biết đơn giản, hấp dẫn Ví như, các bài hát ru tập cho con nhận biết bố mẹ, những người quen thân trong gia đình, tập cho các cháu biết lẫy, tập trườn, tập ngồi, tập đi Tiếp đó là nhận biết về các vật dụng, con vật quanh nhà như con dao, cái chổi, con chó, con mèo, con gà… Những loại đồ gia dụng và con vật đến với trẻ em qua lời hát, những cử chỉ âu yếm, những động tác nhẹ nhàng, những lời căn dặn ngắn gọn, thân thương
Kiến thức cung cấp cho trẻ rất phong phú, từ việc nhận thức thế giới xung quanh mình, các em có những hiểu biết thông thường về cách tính đơn giản, qua các trò chơi “Đánh chuyền”, “Đánh ô ăn quan” Các em biết phép cư xử trong gia
Trang 13đình, “đi thưa về trình”, biết vâng lời cha mẹ “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư” và nhiều tri thức về cuộc sống gia đình và phần nào trong sản xuất
Nội dung giáo dục nêu trên mang tính toàn diện, trực quan kết hợp học với hành, góp phần đào tạo những con người biết lao động sản xuất, sống có đạo lý
Phương pháp giáo dục:
Giáo dục dân gian không chỉ diễn ra trong gia đình mà được mở rộng ra ngoài xã hội Hình thức giáo dục chủ yếu, có tính phổ biến trong xóm làng Việt Nam ngày xưa là các lễ hội dân gian
Lễ hội là một hình thức giáo dục truyền thống để tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, những người sáng lập làng xã, những người có công với đất nước, ghi nhận
và nhắc nhở những sự kiện anh hùng trong công cuộc bảo vệ, xây dựng quê hương, đất nước
Do nhu cầu học tập, kế thừa lịch sử, phát huy truyền thống dân tộc đã giúp nhân dân ta có nhiều hình thức tôn vinh những sự kiện, nhân vật anh hùng Lễ hội
là một hình thức để thực hiện mong muốn này
Các làng đều thờ thành hoàng, những vị tiền hiền có công khai hoang, sáng lập ấp, xây dựng quê hương Các nghề đều có tổ sư, người đã sáng lập, truyền dạy một nghề nghiệp cho dân làng Lòng biết ơn đối với các vị thành hoàng, tiền hiền, các tổ sư thể hiện tấm lòng “uống nước nhớ nguồn”, tự hào, tôn trọng nghề nghiệp Những ngày tế lễ làm cho tình làng nghĩa xóm thêm đậm đà, thắm thiết, gắn chặt những người cùng sống trên một địa bàn
Qua các lễ hội, công lao của các anh hùng, những người có công với quê hương đất nước, thành tựu trong lao động chân tay và trí óc thường được tái hiện qua thơ ca, những màn diễn xướng, lưu truyền rộng rãi trong nhân dân từ thế hệ này sang thế hệ khác Những điều ấy có tác dụng mạnh mẽ trong việc giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lòng biết ơn tổ tiên Từ đó mỗi người xác định cho mình nghĩa vụ đối với hiện tại và tương lai
Trong bài “Lịch sử chống xâm lăng” tài liệu sưu tầm trong các đợt thực tế chuyên môn của sinh viên khoa Sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ XX có những câu sau:
“Lạc Long là tổ tiên ta,
Nước non từ trước gọi là Lĩnh Nam
Lịch niên hơn bốn ngàn năm, Hoàng dân số ngoại hai trăm ức người…
Nước non vẫn nước non này,
Từ xưa che chở vần xây mấy người
Đổng vương chẳng nói chẳng cười,
Ào ào ngựa sắt, bời bời ám binh
Lĩnh Nam hơn sáu mươi thành, Hai Bà Trưng đã dẹp bình như không
Trang 14Bà Triệu cũng gái má hồng,
Chỉ non thề biển chẳng dung giặc thù…
Hai lần đánh dẹp Nguyên binh,
Trần Hưng Đạo ấy uy danh ai bằng,
Bắt Toa Đô, giết Mã Nhi, Bạch Đằng Giang ấy để bia muôn đời
…Xem như ruột thịt cho gần,
Phải thương, phải xót quây quần với nhau
Phúc có mừng, họa cùng đau,
Một gan, một ruột ghi sâu chữ đồng”
Lời thơ làm sống lại những sự kiện, nhân vật lịch sử, khắc sâu vào lòng người, thúc giục mọi người học tập, noi gương tổ tiên, ra sức bảo vệ non sông đất nước
Tóm lại, giáo dục theo nghĩa rộng là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội loài người Không có giáo dục, con người không thể tồn tại và phát triển Vì vậy, cùng với sự ra đời của con người và xã hội, giáo dục cũng hình thành với hình thức thấp – những hiện tượng giáo dục thời nguyên thủy
Trên cơ sở giáo dục nguyên thủy ấy, nền giáo dục dân gian Việt Nam ra đời Nền giáo dục này tuy không có trường lớp, thầy giáo, học sinh, không có sách
vở, nhưng qua lời truyền dạy, chỉ dẫn tận tình cụ thể, thiết thực của cha mẹ, ông
bà, những người lớn tuổi đã làm cho các thế hệ trẻ trưởng thành nhanh chóng trong lao động sản xuất và trong quan hệ xã hội
Mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục dân gian được gạn lọc, bổ sung làm phong phú qua thời gian và tồn tại suốt chiều dài lịch sử dân tộc đã đào tạo biết bao thế hệ con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, anh dũng, sáng tạo trong chiến đấu và xây dựng tổ quốc và trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Nền giáo dục dân gian tiếp tục tồn tại cùng với giáo dục nhà trường và sau này với nhiều hình thức giáo dục khác nữa là công cụ sắc bén cho việc đào tạo, rèn luyện thế hệ trẻ, một trong những cơ sở để xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa sau này
Cần tiếp thu những giá trị của giáo dục dân gian có chọn lọc để phát triển cao hơn
1.3 Đặc điểm của nền giáo dục dân gian Việt Nam
Đặc điểm của nền giáo dục dân gian là: không có thầy, không có trường, lớp, không có sách vở Thầy giáo là ông bà, cha mẹ, anh chị trong gia đình, là những người cùng tộc, những lớp người lớn tuổi trong cộng đồng Trường lớp là gia đình, những cuộc sinh hoạt chung, trong lao động sản xuất Sách vở là lời truyền miệng, điều răn dạy về lao động sản xuất và quan hệ trong cuộc sống Nội dung giáo dục chủ yếu là chế tác công cụ sản xuất, những hiểu biết cần thiết về lao động, những thay đổi của điều kiện tự nhiên, cách xử lý trong quan hệ cộng đồng, sự giao tiếp xã hội Cách giáo dục xuất phát từ tình thương, trách nhiệm, nghĩa vụ của những thành viên trong gia đình, thị tộc, bộ lạc
Trang 15Giáo dục dân gian ra đời ngay từ lúc cộng đồng các cư dân xuất hiện và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, được bồi đắp, bổ sung, phát triển và tồn tại qua các thế hệ, các thời kỳ lịch sử một cách bền vững, phong phú cho đến ngày nay Tìm hiểu giáo dục dân gian, một bộ phận của văn hóa dân gian, chúng ta sẽ nhận thức đúng tính bản địa, sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam, vượt qua bao nhiêu khó khăn trở ngại của thiên nhiên và đời sống xã hội để không ngừng phát triển Qua đó chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm quý giá cho việc xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ngày nay – nền giáo dục đậm đà bản sắc dân tộc, của dân, do dân và vì dân
Câu hỏi ôn tập Chương 1
1 Anh (chị) hãy trình bày khái quát những thành tựu văn hóa của các cư dân sống trên lãnh thổ Việt Nam thời sơ sử
2 Anh (chị) hãy phân tích những đặc điểm của nền giáo dục dân gian Việt Nam
3 Anh chị hãy làm rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục của nền giáo dục dân gian Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên) 1996 Lịch sử giáo dục Việt Nam (trước cách mạng tháng 8- 1945) Hà Nội: NXB Giáo dục
Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) 2000 Hà Nội: Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục
Phan Ngọc Liên Giáo dục và thi cử Việt Nam (trước cách mạng tháng Tám 1945) 2006 Hà Nội: NXB Từ điển bách khoa
Trang 16Chương 2
GIÁO DỤC VIỆT NAM TỪ THỜI VĂN LANG –
ÂU LẠC ĐẾN THỜI NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ
Về mặt tư tưởng, tinh thần, trong một chừng mực nhất định, các chính quyền đô hộ phong kiến phương Bắc đã mở trường học, đưa Nho giáo vào nước
ta làm công cụ thống trị Đã có một số người Việt đã học hành và thi đỗ ra làm quan với chính quyền đô hộ phong kiến phương Bắc Tuy nhiên đối với đại đa số nhân dân ta, sức sống của nền văn hóa dân gian lúc bấy giờ đã có sức đề kháng mạnh: một số nguyên lý của Nho giáo không thể đứng vững, nhiều quy tắc Nho giáo đã bị Việt hóa
Giáo dục Nho học thời Bắc thuộc tuy không phải là nền giáo dục dân tộc, song là giáo dục chính thống đầu tiên ra đời ở nước ta Cùng với Phật giáo và Đạo giáo, Nho học đã đặt cơ sở cho việc xây dựng giáo dục nhà trường Việt Nam
Với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 đã chấm dứt hơn
1000 năm Bắc thuộc và mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho nước ta Trong khoảng gần một thế kỷ đầu tiên của nền độc lập tự chủ (938 – 1009), giáo dục chưa có điều kiện phát triển mạnh Tuy nhiên, đã tạo cơ sở cho việc xây dựng một nền giáo dục phát triển vào các triều đại sau này
2.1 Giáo dục Việt Nam thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc (khoảng thế kỷ VII đến năm 179 TCN)
Nhà nước Văn Lang ra đời vào giai đoạn văn hóa Đông Sơn (khoảng thế
kỷ VII TCN), trong tình hình phân hóa giai cấp chưa sâu sắc Tuy vậy, sự ra đời của một nhà nước sơ khai đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử dân tộc với sự ra đời của một nền văn minh cao hơn – văn minh Sông Hồng hay văn minh Việt cổ
Vừa mới dựng nước, nhân dân Văn Lang đã phải liên tiếp đấu tranh chống
sự xâm lược từ bên ngoài, chủ yếu là các triều đại phong kiến phương Bắc Song công cuộc xây dựng đất nước vẫn được tiến hành Trên cơ sở của nghề nông trồng lúa nước, cư dân thời Hùng Vương đã đạt được một trình độ cao về văn hóa
Vào cuối đời các vua Hùng, nạn ngoại xâm càng trở thành mối đe dọa lớn, trực tiếp trên đất nước Văn Lang Sau khi thống nhất Trung Quốc (năm 221 TCN), Nhà Tần đem 50 vạn quân xâm lược lãnh thổ các dân tộc Việt ở phía Nam sông Dương Tử Hàng vạn quân Tần kéo vào xâm chiếm Văn Lang Nhân dân
Trang 17Văn Lang đã đoàn kết đánh bại quân xâm lược, giết chủ tướng Đồ Thư, quân Tần phải rút chạy về nước
Sau chiến thắng này, Thục Phán thay Hùng Vương, lập nước Âu Lạc (khoảng cuối thế kỷ 3 TCN) Nước Âu Lạc tiếp tục sự phát triển của nước Văn Lang trên một địa bàn rộng lớn hơn với các bộ tộc Tây Âu và Lạc Việt Nền văn minh Sông Hồng – văn minh Việt cổ phát triển thành văn minh Văn Lang – Âu Lạc với trình độ cao hơn trước
Về đời sống tinh thần, cư dân Văn Lang – Âu Lạc đã đạt đến trình độ thẩm
mỹ, tư duy khoa học khá cao Từ ý thức cộng đồng đã nảy sinh việc thờ cúng tổ tiên, tôn sùng các anh hùng, thủ lĩnh Các tục lệ cưới xin, ma chay, các hình thức sinh hoạt lễ hội chứng tỏ đời sống tinh thần khá phong phú Đương nhiên các hình thức giáo dục dân gian thời kỳ này cũng rất phát triển, tạo cho cư dân ý thức cùng chung một cội nguồn, một tổ tiên, một tập quán Trình độ sản xuất phát triển, đặc biệt kỹ thuật đúc đồng đã đạt tới mức cao mà sản phẩm tiêu biểu là trống đồng, chứng tỏ đã có một sự giáo dục được tổ chức tốt trong cộng đồng
Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, bắt nguồn từ thời đại đồng thau đến sơ kỳ đồ sắt, mang bản sắc dân tộc, là cội nguồn sức mạnh tinh thần của những con người Việt cổ chống lại
sự đồng hóa của phong kiến phương Bắc
Cho đến nay, các nhà sử học vẫn chưa xác định một cách cụ thể, có đầy đủ chứng cứ khoa học về sự ra đời chữ viết của người Việt cổ thời kỳ văn minh Văn Lang – Âu Lạc để có thể tìm hiểu về nền giáo dục nhà trường của thời kỳ này
2.2 Giáo dục Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 938)
Sau mấy lần vũ trang xâm lược bị thất bại, Triệu Đà thực hiện mưu kế điều tra, do thám tình hình, chia rẽ, ly tán nội bộ chính quyền Âu Lạc, rồi năm 179 TCN bất ngờ đem quân đánh chiếm Âu Lạc Từ đây cho đến khi nổ ra cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ (905) và chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền (938), nhân dân ta rơi vào ách thống trị của các triều đại phong kiến phương Bắc hơn 10 thế kỷ
Với mục đích đánh chiếm lâu dài nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc đã tích cực thực hiện mọi thủ đoạn, biện pháp cai trị để đàn áp về quân sự, đồng hóa về văn hóa, biến nước ta thành quận, huyện của Trung Quốc
Về mặt tư tưởng, tinh thần, ngay ở thời Tây Hán, trong một chừng mực nhất định, chính quyền đô hộ đã đưa Nho giáo vào nước ta làm công cụ thống trị Tuy nhiên sức sống của nền văn hóa dân gian của nước ta lúc bấy giờ đã có sức đề kháng mạnh: một số nguyên lý của Nho giáo không thể đứng vững ở đất Giao Chỉ, Cửu Chân, nhiều quy tắc Nho giáo đã bị Việt hóa
Đến đầu thế kỷ I, các vua nhà Hán đưa người Trung Quốc sang ở lẫn với nhân dân ta, dạy cho người bản xứ biết nói tiếng Trung Quốc, học đôi chữ Hán để làm mất đi nền văn hóa cổ truyền và làm cơ sở cho việc tiếp thu văn hóa Hán Tiến thêm một bước, các quan Thái thú Giao Chỉ, Cửu Chân được lệnh triều đình đưa chữ Hán vào Giao Châu, mở trường dạy để dân ta theo “lễ nghĩa Trung Hoa”
từ cách ăn mặc, lấy vợ, lấy chồng, làm mũ, giày… Trong bài sớ của Thái thú Hợp Phố là Tiết Tổng dâng lên vua Ngô là Tôn Quyền năm 231 có nói: “Triệu Đà nổi dậy ở Phiên ngung, vỗ về thần phục được vua Bách Việt, đó là miền đất về phía
Trang 18Nam quận Châu Nhai Hiếu Vũ (nhà Hán) giết Lữ Gia, mở 9 quận đặt chức Thứ
sử ở Giao Chỉ, dời những người phạm tội ở Trung Quốc sang ở lẫn vào các nơi ấy, cho học sách ít nhiều, hơi thông hiểu lễ hóa Đến khi Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân, dựng nhà học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa Từ đấy trở đi (tức từ thời Triệu Đà về sau), hơn 400 năm, dân tựa hồ đã có quy cũ”
Biện pháp di dân kết hợp “giáo hóa” tại chỗ là biện pháp vô cùng thâm hiểm, khá nhất quán của chính quyền phong kiến phương Bắc để đồng hóa nhân dân ta
Như vậy, giáo dục nhà trường mà Nho giáo là nội dung chủ yếu đã xuất hiện ở nước ta từ buổi đầu công nguyên Chính sách “dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa” cho dân Giao Chỉ, Cửu Chân được chú trọng và ngày càng đẩy mạnh Nhiều nho sĩ người Trung Quốc được cử sang Giao Chỉ để “dạy chữ Thánh hiền”,
“khai hóa” cho người bản xứ Trong số đó, Sĩ Nhiếp được xem như người có công
mở mang giáo dục ở đất Giao Châu, được tôn làm “Nam giao học tổ” (ông tổ của việc học ở đất phương Nam), được gọi là Sĩ Vương (tuy không làm vua)
Tuy nhiên, việc đánh giá Sĩ Nhiếp ngay ở thời phong kiến dân tộc sau này cũng có những ý kiến trái ngược nhau Lê Văn Hưu cho rằng: “Sĩ Vương biết lấy khoan hậu, khiêm tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt tới quý, thịnh một thời Lại hiếu nghĩa thức thời, tuy tài và dũng không bằng Triệu Vũ Đế, nhưng chịu nhún mình thờ nước lớn để giữ vững bờ cõi có thể gọi là người trí Tiếc rằng con nối không gánh vác nổi cơ nghiệp của cha, để cho bờ cõi nước Việt
đã toàn thịnh mà lại bị chia cắt, đáng buồn thay”
Ngô Sĩ Liên và các tác giả khác của Đại Việt sử ký toàn thư cũng đánh giá cao Sĩ Nhiếp: “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau,
há chẳng lớn sao?”
Vua Tự Đức và các sử thần nhà Nguyễn trong Quốc sử quán lại đánh giá khác về Sĩ Nhiếp Vua Tự Đức cho rằng: “Sĩ Nhiếp chẳng qua là một thái thú nhà Hán, tùy thời nịnh hót, cầu sao cho mình được an toàn, chứ không có mưu lược tài cán gì giỏi cả, đến nỗi truyền được hai đời đã mất, có gì đáng khen! Thế mà sử cũ cho rằng Ủy Đà cũng không hơn được, chẳng cũng là lời khen quá đáng ư!” Các tác giả “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” cũng khẳng định rằng: “Xét
ra, Sĩ Nhiếp chỉ là một thái thú nhà Hán, chưa hề xưng vương, sử cũ (tức Đại Việt
sử ký toàn thư) chép riêng một kỷ, đem so với nghĩa lễ chép Cương mục của Chu
Tử thì không hợp, nay tước bỏ đi”
Sự thực thì Sĩ Nhiếp mở trường học, đưa hàng trăm sĩ phu Trung Quốc sang Giao Châu để cùng ông đẩy mạnh việc truyền bá Nho giáo và Hán học nhằm thực hiện chính sách đồng hóa nhân dân ta Việc mở trường cũng chỉ ở Luy Lâu, Long Biên và một số vùng trung tâm ở châu trị, quận trị; ảnh hưởng việc giáo dục của Sĩ Nhiếp cũng không lớn lắm trong cả nước Dù vậy, một cách khách quan, cũng thừa nhận rằng, Sĩ Nhiếp là một người mở trường học đầu tiên ở Việt Nam, phổ biến tư tưởng và văn học Trung Quốc vào Việt Nam
Với sức sống của mình, nhân dân Việt Nam thời Bắc thuộc cũng có những phản ứng đối với việc du nhập và phát triển giáo dục của phong kiến Trung Quốc
ở Giao Châu Trước hết, ngay từ đầu thế kỷ III TCN đã có người nước ta sang du
Trang 19học ở kinh đô Trung Quốc thời Tần (Lạc Dương) Đó là Lý Ông Trọng đã thi đỗ
và làm quan ở “thiên triều” vào thời Sĩ Nhiếp, một số nho sĩ Giao Châu cũng đã
đỗ đạt và làm quan với nhà Hán Lý Tiến là Thứ sử Giao Châu Lý Cầm là Tư lệ hiệu úy Trương Trọng làm Thái thú Kim Thành, Khương Công Phụ làm Gián nghị đại phu, Khương Công Phục (em của Khương Công Phụ, đỗ tiến sĩ như anh
ở thời nhà Đường) làm Bắc Bộ Thị lang…
Thời Tam Quốc (220 – 280) và thời Tấn (265 – 420), nhiều người Trung Quốc tiếp tục sang ta mở trường học Thời Tôn Quyền (222 – 252), Ngu Phiên bị đày sang Giao Châu, “tuy là thân tù tội nhưng giảng học không biết mỏi” Đỗ Tuệ thời Tấn, Tống (420 – 479) cũng chăm mở mang trường học để truyền bá Nho giáo Tình hình đó đến đời Đường lại càng phát triển Ngoài việc học tập ở nước
ta, một số người còn được sang học ở kinh đô Trường An của Nhà Đường
Dù có trường học, có người đỗ đạt, song không thể xem giáo dục của các triều đại phong kiến Trung Quốc mở ở Giao Châu là nền giáo dục dân tộc của Việt Nam mà là giáo dục nô lệ của chế độ đô hộ phương Bắc Tuy vậy, trong một chừng mực nhất định, Nho giáo và Hán học ít nhiều cũng thâm nhập vào xã hội Việt Nam từ đầu thời Bắc thuộc Nhưng đại bộ phận nhân dân Giao Châu vẫn sống trong các làng xã cổ truyền, giữ được giáo dục dân gian từ bao đời lưu lại và phát triển Nền văn hóa, giáo dục truyền thống này vẫn có vai trò lớn trong việc đào tạo những con người Việt Nam, không bị đồng hóa mà còn “Việt hóa” một số yếu tố văn hóa Trung Quốc xâm nhập vào nước ta lúc bấy giờ Điều này tạo nên một sức mạnh để liên tiếp nổi dậy chống chính quyền đô hộ, để cuối cùng đã thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, xây dựng nền độc lập tư chủ Ngay một số nho sĩ Giao Châu tuy đỗ đạt, làm quan song không phải chỉ lo phục
vụ triều đình phong kiến phương Bắc mà quên nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc Ví như, Tinh Thiều học giỏi, đỗ cao, chỉ được bổ dụng làm chức Quảng Dương môn lang (chức gác cổng thành) Ông tức giận vì bị khinh bạc nên bỏ về theo Lý Bôn khởi nghĩa và giữ chức quan văn của nhà nước Vạn Xuân độc lập
Từ thế kỷ III, đạo Phật đã du nhập vào nước ta qua những con đường thủy,
bộ, qua việc buôn bán và truyền đạo của một số nhà sư nước ngoài (Ấn Độ, Trung Quốc) Phật giáo cũng thành lập một trường học ở Luy Lâu để đào tạo những tăng
ni, những thiền sư thông kinh kệ, uyên bác Đạo giáo cũng ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội nước ta, trước cả Nho học
Giáo dục Nho học thời Bắc thuộc tuy không phải là nền giáo dục dân tộc, song là giáo dục Nho học đầu tiên ra đời ở nước ta Cùng với Phật giáo và Đạo giáo, Nho học đã đặt cơ sở cho việc xây dựng giáo dục nhà trường Việt Nam Tuy nhiên với sức sống của dân tộc, của nền giáo dục dân gian nói riêng, Phật giáo, Đạo giáo, nhất là Nho học cũng có những biến đổi phù hợp với phong tục tập quán, văn hóa dân tộc để góp phần xây dựng nền Nho giáo chính thống Việt Nam
từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX
2.3 Giáo dục thời Ngô – Đinh – Tiền Lê (938 – 1909)
Do cuộc đấu tranh bền bỉ, anh dũng của dân tộc ta, chế độ đô hộ của phong kiến phương Bắc đã chấm dứt vĩnh viễn Một thời đại mới – thời đại độc lập, tự chủ theo chế độ phong kiến mở ra
Năm 905, khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ thắng lợi Họ Khúc xây dựng nền
tự chủ đất nước và tiến hành một cuộc cải cách về nhiều mặt Sử cũ ghi rằng, ở
Trang 20thời kỳ này “chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị” khiến cho “nhân dân đều được yên vui”
Trong sự rối ren của chế độ phong kiến phương Bắc, năm 917, nhà Nam Hán ra đời ở miền Nam Trung Quốc và âm mưu xâm chiếm lại Giao Châu Chúng
đã vấp phải sức kháng chiến mạnh mẽ của nhân dân ta
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 củng cố nền độc lập vững chắc của nước
ta, “làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa”
Tiếp theo triều Ngô (939 – 967), là quốc gia Đại Cồ Việt thời Đinh – Tiền
Lê (968 – 1009)
Trong khoảng gần một thế kỷ đầu tiên của nền tự chủ độc lập, nước ta phải
lo chống ngoại xâm, lại nội chiến liên miên, nhất là vào thời kỳ “Loạn 12 sứ quân” nên các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê chỉ lo ổn định về chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển kinh tế, chứ chưa có điều kiện chăm lo giáo dục
Trường học chủ yếu được mở ở các chùa để dạy cho các sư sãi và tín đồ Phật tử Trường chùa đào tạo được nhiều người thông kinh kệ, giỏi cả chữ Hán và chữ Phạn Tầng lớp trí thức đầu tiên của nước Việt Nam độc lập thuở ấy là các nhà sư; họ tinh thông cả Nho học lẫn Phật học và Đạo giáo, như các nhà sư Đỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu (Khuông Việt), Đa Bảo, Vạn Hạnh Nhiều thiền sư còn xuất thế, tham gia công việc triều chính giúp vua trị nước, yên dân; có người được phong quốc sư (Vạn Hạnh), được các vua tin dùng, sứ nước ngoài phải nể
sợ
Trong các công tác đối ngoại, đặc biệt với triều đình phong kiến phương Bắc, các nhà sư lúc bấy giờ không chỉ tỏ ra tài cao, học rộng mà còn thể hiện tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc cao Năm 987, vua Tống cử Quốc tử giám Bác sĩ là
Lý Giác, một người uyên thâm trong làng Nho học Trung Quốc lúc bấy giờ sang
sứ nước ta nhằm bắt Đại Cồ Việt phải khuất phục trước sức mạnh của triều đình nhà Tống Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) cử một nhà sư giỏi là Đỗ Pháp Thuận (có tài liệu ghi là Đỗ Thuận) đóng giả làm Giang lệnh, chèo đò sang đón sứ Tống Để
tỏ ra có tài văn thơ, khi đò đến giữa sông, Lý Giác nhìn thấy đôi ngỗng đang bơi
đã ứng khẩu ngâm hai câu thơ:
“Nga nga lưỡng nga nga, ngưỡng diện hướng thiên nha”
Tạm dịch: “Ngỗng kia, ngỗng một đôi, ngửa mặt nhìn chân trời”
Thiền sư Đỗ Pháp Thuận vừa chèo thuyền vừa đọc tiếp 2 câu cho bài thơ được hoàn chỉnh: “Bạch mao phô lục thủy, hồng trạo bãi thanh ba”
Tạm dịch: “Lông trắng phô nước biếc, rẽ sóng, chèo hồng bơi”
Quốc tử giám Bác sĩ Lý Giác vô cùng kinh ngạc vì tài làm thơ của một anh chèo đò phương Nam, tỏ lòng khâm phục và cũng luôn luôn tỏ ra kính nể triều đình Tiền Lê
Như vậy, trong bước đầu độc lập, tuy triều đình chưa có điều kiện mở trường học, song cùng với nền giáo dục dân gian, các chùa đã đảm nhận việc đào tạo và sản sinh nhiều nhân tài nổi tiếng Đây là cơ sở của việc xây dựng một nền giáo dục phát triển vào các triều đại sau này
Trang 21Câu hỏi ôn tập Chương 2
1 Anh (chị) hãy khái quát tình hình giáo dục Việt Nam thời kỳ Văn Lang –
Âu Lạc (khoảng thế kỷ VII đến năm 179 TCN) Dựa vào tài liệu nào để nói rằng:
“Thời kỳ này nước ta có thể đã có chữ viết riêng”?
2 Anh chị hãy nêu những nét chính về tình hình giáo dục Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 938) Tại sao giáo dục Nho học ở nước ta thời kỳ này không phát triển?
3 Anh chị hãy trình bày tình hình giáo dục ở nước ta thời Ngô – Đinh – Tiền Lê (năm 938 – 1909) Nêu đặc điểm của nền giáo dục thời kỳ này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên) 1996 Lịch sử giáo dục Việt Nam (trước cách mạng tháng 8- 1945) Hà Nội: NXB Giáo dục
Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) 2000 Hà Nội: Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục
Phan Ngọc Liên Giáo dục và thi cử Việt Nam (trước cách mạng tháng Tám 1945) 2006 Hà Nội: NXB Từ điển bách khoa
Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn 2001 Đại cương lịch sử Việt Nam Hà Nội: NXB Giáo dục
Trang 22Chương 3 CHẾ ĐỘ GIÁO DỤC, KHOA CỬ NHO GIÁO VIỆT NAM
TỪ NHÀ LÝ ĐẾN NHÀ NGUYỄN (1009 – 1919)
Sau khi giành được độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam quán triệt
tư tưởng Nho giáo, rất coi trọng việc giáo dục, vì họ nhận thức được rằng đó là biện pháp chủ yếu để đào tạo nhân tài cho đất nước
Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối và Thất thập nhị hiền Năm 1076, vua Lý cho thành lập Quốc tử giám bên cạnh Văn Miếu, đây là trường đại học đầu tiên của Việt Nam Trên tinh thần đó, năm 1281, vua Trần mở thêm nhà học ở phủ Thiên Trường Thời Lê – Nguyễn, hệ thống trường học được kiện toàn cả về lượng và chất: ngoài Quốc tử giám và các trường quốc lập khác ở kinh đô, hệ thống các trường học ở phủ huyện được thành lập Ngoài ra các trường tư thục được mở ở khắp các thôn xóm Các trường tư thục là cơ sở đào tạo chủ yếu của nước ta thời phong kiến
Từ năm 1396, nhà Trần bắt đầu đặt ra 3 cấp thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, người đỗ thi Hội thì vua thi một bài văn sách để xếp bậc Nhưng do đất nước có nhiều biến cố, việc thi cử chưa thực hiện đúng kế hoạch ngay cả mấy chục năm đầu của thời Lê mãi đến năm 1466 mới thực hiện đúng quy chế đã định
Để đỗ được một danh hiệu trong tam khôi, người đi thi phải vượt qua ba
kỳ thi: Hương, Hội, Đình với những quy định của trường quy hết sức nghiêm ngặt
Đầu thế kỷ XX, trong cuộc vận động cải cách dân chủ, trường học kiểu mới là Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội Đông kinh nghĩa thục chủ trương bãi bỏ chế độ giáo dục và khoa cử kiểu cũ; chủ trương học chữ Quốc ngữ; học các môn thiết thực và chú trọng đến thực tiễn Việt Nam Tháng 12/1907, Phủ Thống sứ Bắc Kỳ thu hồi giấy phép hoạt động của Đông kinh nghĩa thục
3.1 Nhận thức của giai cấp phong kiến Việt Nam về tầm quan trọng của giáo dục Nho học
Sau khi giành được độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam quán triệt
tư tưởng Nho giáo, rất coi trọng việc giáo dục, vì họ nhận thức được rằng đó là biện pháp chủ yếu để đào tạo nhân tài cho đất nước Chính vì thế, từ năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc tử giám bên cạnh Văn Miếu
Đến đời Lê, từ vua đến quan cũng đều cho rằng: “Sự nghiệp trị nước lớn lao của đế vương không gì cần kíp hơn nhân tài, điển chương chế độ đầy đủ của nhà nước tất phải chờ ở các bậc hậu thánh Là bởi trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc, chế tác mà không dựa vào thánh nhân đời sau thì đều chỉ là cẩu thả tạm
bợ mà thôi, sao có thể đạt tới chính trị phong hóa phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ” (Văn bia do Đỗ Nhuận soạn năm 1484)
Nói về sự coi trọng việc giáo dục của triều Lê ngay từ buổi đầu dựng nước, trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn viết: “Năm Mậu thân, niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1428), hạ chiếu trong nước dựng nhà học, dạy dỗ nhân tài, trong kinh có Quốc tử giám, bên ngoài có nhà học các phủ Nhà vua thân hành chọn con
Trang 23cháu các quan và thường dân tuấn tú bổ sung vào học các cục chầu cận, chầu ở ngự tiền và sung vào giám sinh Quốc tử giám, lại hạ lệnh cho viên quan chịu trách nhiệm tuyển rộng cả con em nhà lương gia ở dân gian sung vào sinh đồ ở các phủ
để dạy bảo.”
Trên cơ sở khuyến khích việc học tập, Nhà Lê còn rất chú ý đến việc thi
cử để tuyển chọn nhân tài
Năm 1434, vua Lê Thái Tông hạ chiếu nói: “Muốn có được nhân tài trước hết phải lựa chọn kẻ sĩ, mà phép chọn lựa kẻ sĩ phải lấy thi cử làm đầu Nhà nước
ta từ thuở xưa loạn lạc, người anh tài như lá mùa thu, bậc tuấn kiệt như sao buổi sớm Thái tổ ta trước, ban đầu dựng nước, mở mang nhà học hiệu, dùng cổ thái lao để tế Khổng Tử, rất mực sùng Nho, trọng đạo, nhưng vì nước mới dựng nên chưa kịp đặt khoa thi Trẫm nối theo chí hướng người xưa, lo được nhân tài để thỏa lòng mong đợi.”
Văn bia 1484 – 1487 đời vua Lê Thánh Tông viết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp Bởi vậy, các vị vua tài giỏi đời xưa chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài”
Đến thời Nguyễn, năm 1814, vua Gia Long cũng nói: “Học hiệu là nơi chứa nhân tài, phải giáo dục có căn bản thì mới có thể thành tài, trẫm muốn bắt chước người xưa, đặt nhà học để nuôi học trò ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều nổi để cho nhà nước dùng”
Năm 1827, vua Minh Mạng nói với đình thần rằng: “Trẫm từ khi thân chinh đến nay, chưa từng lúc nào không lấy việc đào tạo nhân tài làm việc ưu tiên… Đế vương ngày xưa dùng người có phải vay mượn nhân tài ở nơi khác đâu”
Do nhận thức như vậy, các triều đại thường thi hành những chính sách khuyến khích việc học tập và đỗ đạt
Năm 1486, nhà Lê quy định những người làm thuê làm mướn có biết chữ
và có Ty Thừa tuyên bản xứ chuẩn cho thì được miễn sung quân
Năm 1488, vua Lê Thánh Tông lại hạ chiếu cho “các sĩ nhân đã từng đi học, biết làm văn, có hạnh kiểm đã thi đỗ và được miễn tuyển thì miễn cho nửa phần thuế và sai dịch.”
Đối với những người đỗ đạt, nhà nước phong kiến có ý thức dùng biện pháp để làm thêm sự vinh quang của họ như tổ chức lễ vinh quy rất long trọng, dựng bia Tiến sĩ ở Văn Miếu
3.2 Trường học thời phong kiến
3.2.1 Trường học thời Lý – Trần
Tình hình giáo dục thời Ngô – Đinh – Tiền Lê vì thiếu tư liệu lịch sử nên không biết được rõ ràng Qua một số tài liệu ít ỏi có thể biết rằng lúc bấy giờ các lớp học được mở trong các chùa Ví dụ; Lý Công Uẩn lúc còn nhỏ, theo học ở các chùa Lục Tổ, tức chùa Cổ Pháp ở Bắc Ninh Ngoài các lớp học do nhà chùa mở, trong dân gian có mở trường học Hiện nay không thể xác định được Chỉ biết rằng, lúc bấy giờ có một số nhà sư có học vấn cao như Ngô Chân Lưu, Đỗ Thuận, Vạn Hạnh… Do vậy, Ngô Chân Lưu được Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng và Lê
Trang 24Đại Hành phong làm Tăng thống và mời tham dự triều chính như một vị cố vấn của vua Sư Đỗ Thuận cũng được Lê Đại Hành sử dụng làm cố vấn và có khi còn được cử ra đón tiếp sứ giả Nhưng ngoài các nhà sư còn có rất nhiều trí thức khác được đảm nhiệm các trọng trách triều đình và ở các địa phương Ngay từ thời Ngô, sau khi lên ngôi, Ngô Quyền đã “đặt trăm quan, chế định triều nghi, phẩm phục” Các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê nhiều lần sai sứ giả sang Trung Quốc
Như vậy, mặc dù tình hình giáo dục thời kỳ này như thế nào không biết được cụ thể nhưng kết quả là đã đào tạo được một đội ngũ đủ khả năng gánh vác các công việc đối nội và đối ngoại của nhà nước
Từ thời Lý về sau, cùng với sự phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, chế độ giáo dục ngày càng có nề nếp
Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì:
- Từ năm 1070, vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) bắt đầu “làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng tử đến học ở đây”
- Năm 1076, Lý Nhân Tông (1072 – 1128) cho thành lập Quốc tử giám bên cạnh Văn Miếu, “chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc
tử giám”
- Năm 1253, Trần Thái Tông (1225 – 1239) “lập Quốc học viện, đắp tượng Khổng Tử, Chu công, Á Thánh (Mạnh Tử), vẽ tranh 72 người hiền để thờ” Ngay sau đó, vua Trần “xuống chiếu vời nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng Tứ thư, Lục học”
- Năm 1281, thời Trần Nhân Tông (1279 – 1292), nhà Trần lại mở thêm nhà học ở phủ Thiên Trường
- Cuối thời Trần, năm 1397, nhà Trần đặt chức giáo thụ ở các châu, trấn Lời chiếu của vua Trần Thuận Tông viết: “Đời xưa, nước có nhà học, đảng có nhà
tự, Toại có nhà tường là để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tục, ý trẫm rất chuộng như vậy Nay quy chế ở kinh đô đã đầy đủ mà ở châu, huyện thì còn thiếu, làm thế nào rộng đường giáo hóa cho dân? Nên lệnh cho các phủ lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau: phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa 12 mẫu, phủ châu nhỏ 10 mẫu để chi dùng cho việc học trong phủ châu mình (một phần để cúng ngày mùng một, một phần cho nhà học, một phần cho đèn sách) Lộ quan và quan đốc học hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghệ, cứ đến cuối năm thì chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc” Ngô Sĩ Liên nhận xét về việc ấy như sau:
“Bấy giờ có chiếu lệnh này, còn gì tốt đẹp bằng thế nữa? Nhưng lệnh này không thấy thi hành, vì không phải là bản ý của nhà vua, mà vì Quý Ly muốn làm việc cướp ngôi, mượn việc ấy để thu phục lòng người mà thôi”
3.2.2 Trường học thời Lê – Nguyễn
Trường học Quốc lập chủ yếu ở kinh đô vẫn là Quốc tử giám Ngoài ra còn có một số trường khác dành riêng cho những đối tượng đặc biệt
a Quốc tử giám
Việc điều hành trường Quốc tử giám đời Lý như thế nào không có tư liệu nói rõ Thời Trần được biết qua là người đứng đầu Quốc tử giám gọi là Tư
Trang 25Nghiệp Chu Văn An được cử là Quốc tử giám tư nghiệp Đến thời Lê, các quan chức quản lý và giảng dạy, học sinh, chế độ dạy và học ở trường Quốc tử giám mới được biết tương đối rõ ràng
Đầu thời Lê, người đứng đầu Quốc tử giám gọi là Tế Tửu (hiệu trưởng); giáo viên có các chức Trực giảng, Bác sĩ, Giáo thụ Đến thời Lê Thánh Tông, còn đặt thêm chức Ngũ kinh bác sĩ Từ thời Trung hưng về sau (thời Lê Trang Tông
1533 – 1548), bỏ chức Ngũ kinh bác sĩ, các chức khác đều như cũ
Học sinh Quốc tử giám gọi là giám sinh Khi mới lập, giám sinh là con vua
và các đại thần Thời Trần, mở rộng cho con em các quan lại khác và dân thường Trước khi có các cấp thi Hương thi Hội, giám sinh không có hạn định về học lực,
về sau những người thi trượt Thái học sinh được vào học ở đây
Ví dụ, kỳ thi Thái học sinh năm 1305, có 44 người đỗ, còn 330 người trượt được vào học trường Quốc tử giám
Thời Lê Thánh Tông, giám sinh trường Quốc tử giám gọi là sinh viên ba
xá Đó là những người đã đỗ Hương cống và thi Hội đỗ một hay hai kỳ gọi là trung xá sinh, đỗ một kỳ gọi là hạ xá sinh
Tổng số xá sinh là 300 người (mỗi xá 100 người) Các nhà xá sinh được nhà nước cấp học bổng: thượng xá sinh mỗi tháng một quan, trung xá sinh mỗi tháng 9 tiền, hạ xá sinh mỗi tháng 8 tiền
Về chế độ dạy và học ở trường Quốc tử giám, theo “Trị bình bảo phạm”
do vua Lê Tương Dực (1509 – 1511) ban hành chế độ học tập của giám sinh quy định như sau:
Mỗi tháng giảng hai kỳ, nội dung là giảng kinh truyện
Tập làm văn, mỗi tháng 4 kỳ Đúng ngày quy định, học trò đến chép đề về nhà làm, hẹn 5, 6 hôm thì nộp bài để chấm
Cũng có khi làm bài tại lớp, hạn trong ngày phải làm xong Các bài văn được đánh giá theo bốn bậc là: ưu (giỏi), bình (khá), thứ (trung bình), liệt (kém) Thứ, chia thành “thứ mác” và “thứ cộc” (trung bình kém)
Học sinh vào các ngày mùng một và rằm phải mặc mũ áo đúng quy định Học sinh phải cố gắng học tập và tuân thủ học quy, nếu vi phạm sẽ bị phạt, cụ thể là: Người nào dám cầu may bên cạnh (nhìn bài), rong chơi đường sá, trễ bỏ việc học, thiếu điểm một lần thì phạt 140 tờ giấy trung chỉ, thiếu điểm hai lần thì phạt
200 tờ giấy trung chỉ, thiếu điểm 3 lần thì đánh 40 roi, thiếu điểm 4 lần thì tâu lên
bộ Hình xét hỏi, thiếu điểm 1 năm thì bắt sung quân
Học sinh nội trú nếu vắng qua đêm hoặc nghỉ một hai ngày đều phải xin phép xá và trường Các con em quan lại trong triều được ngoại trú nhưng hàng ngày phải có mặt từ sáng để học tập
Thời gian học tập là 3 năm để thi Hội, nếu không đỗ, ở lại học chờ thi khoa sau cho đến khi đỗ
b Các trường Quốc lập khác ở kinh đô
Ngoài Quốc tử giám, thời Trần còn có Tựu Thiện đường là nhà học của thái tử Thời Lê, số trường thuộc loại này có Ngự tiền cận thị cục, Chiêu văn quán, Tứ lâm cục, Trung thư giám, Sùng văn quán
Trang 26Ngự tiền cận thị cục là trường đào tạo các quan lại lớp dưới Học sinh mãn khóa phải dự một kỳ thi do Bộ Lại tổ chức Người trúng tuyển được bổ làm Huyện thừa
Chiêu văn quán là trường dành riêng cho con cái quan nhất phẩm và con trưởng của quan tam phẩm Học sinh theo học ở đây được gọi là “nho sinh”
Tứ lâm cục là trường dành riêng cho con các quan từ tam phẩm đến bát phẩm Người học cũng được gọi là “nho sinh”
Trung thư giám là trường đào tạo thư lại Tiêu chuẩn tuyển sinh là những người đã trúng tuyển trong các kỳ thi viết và thi toán Người học được gọi là “Hoa văn học sinh”
Sùng quán văn là trường dành riêng cho con em quý tộc và quan lại cao cấp Sau 3 năm học tập, học sinh ở đây phải dự một kỳ thi do Bộ Lại tổ chức Nội dung thi gồm có 1 bài ám tả và hai bài kinh nghĩa lấy trong Tứ thư Người trúng tuyển được sung vào các chức văn võ, như vậy không phải qua thi Hương, thi Hội
mà cũng được làm quan
Thời Nguyễn, năm 1803, trường Quốc tử giám được lập ở Huế gọi là nhà Quốc học Năm 1821, Minh Mạng lại đổi nhà Quốc học thành Quốc tử giám Các giám sinh được cấp học bổng
Bên cạnh Quốc tử giám còn có một số nhà học khác gồm các nhà học của vua, hoàng tử và các con cháu các hoàng thân và được gọi bằng nhiều tên khác nhau
Về nhà học của vua, năm 1810, Gia Long sai dựng điện Dưỡng Tâm để làm nơi đọc sách
Năm 1821, Minh Mạng xây thêm nhà Trí Nhân Đường để đọc sách và sáng tác
Năm 1848, Tự Đức mở viện Tập Hiền để nghe giảng bài Nhà học này khai giảng vào ngày tốt sau khi tế lễ Nam giao Mỗi tháng vua học 6 ngày vào các ngày 2, 8.12.18.22 28; nghỉ học 2 tháng (tháng 11 và 12)
Nhân viên làm việc ở đây gồm:
2 giảng quan,
6 nhật giảng quan,
4 Chuyên viên tiếp bút thiếp
Năm 1887, Đồng Khánh cho xây Thái Bình Ngự Lãm Thư Lâu làm nơi cất giữ sách và đọc sách Ít lâu sau bị hỏng Năm 1919, Khải Định cho làm lại, đặt tên
là Thái Bình Lâu Nhà này cũng là nơi vua tự học Nhà học của các hoàng tử lúc đầu chỉ có Tập Thiện Đường, lập năm 1817
Năm 1823 Minh Mạng đặt các giáo quan:
Giáo đạo (quan văn tam phẩm trở lên)
Tán thiện 2 người (quan văn từ ngũ phẩm)
Ban độc 4 người (quan văn lục thất phẩm)
Trang 27Nội dung học tập từ tiểu học trở lên, sách học từ Minh tâm bảo giám đến
25 và chắt của vua từ 12 tuổi trở lên, sau đổi từ 10 đến 35 tuổi
Học sinh ở đây được cấp học bổng: hạng nhất 5 quan, hạng nhì 4 quan, hạng ba 3 quan và hạng tư 2 quan
Cuối mỗi quý, mỗi năm có xếp hạng: ưu, bình, thứ, liệt và có phần thưởng Tôn Học Đường đến năm 1871 thì bỏ vì học sinh nghỉ nhiều hơn học nên giao cho gia đình quản lý
c Các trường Quốc lập ở các địa phương
Năm 1397, Hồ Quý Ly lấy danh nghĩa vua Trần Thuận Tông ra lệnh mở trường học ở các lộ và đặt chức giáo thụ để quản lý việc giáo dục nhưng việc đó chưa kịp thực hiện
Đến thời Lê, các trường học ở phủ huyện mới được thành lập ở xung quanh kinh đô và vùng đồng bằng Trông coi việc học ở phủ là Giáo thụ, ở huyện
là Huấn đạo
Trường học phủ huyện đặt Văn chỉ của phủ huyện hoặc ở công đường phủ huyện Trường tập hợp học sinh vào những ngày sóc, vọng hàng tháng để giảng kinh sử, làm văn, chấm bài và bình văn
Trước khi có khoa thi, học sinh có thể được tập trung vài tuần để ôn luyện
và tham gia kỳ thi khảo khóa để tuyển vào danh sách những người dự thi Hương
Theo thống kê của Quốc sử quán triều Nguyễn thời Tự Đức (1847 – 1885), nước ta có 31 tỉnh và đạo, chia làm 321 phủ và huyện Số trường học phủ huyện trong cả nước có 158 trường, tính trung bình cứ hai huyện có 1 trường
d Trường tư thục ở nông thôn
Các trường tư thục là cơ sở đào tạo chủ yếu của nước ta thời phong kiến Những trường lớp này được mở ở các thôn xóm Lớp học là nhà riêng của thầy hoặc của nhà chủ nuôi thầy
Thầy giáo là những thầy đồ không có điều kiện học cao, hoặc thi không
đỗ, các ông tú, những người đỗ đạt nhưng không muốn làm quan hoặc đã từ quan… học trò gồm nhiều lứa tuổi, từ ấu học đến những người đủ trình độ để đi thi
3.3 Các cấp Nho học thời phong kiến
Từ khi bắt đầu học đến khi có thể đi thi học sinh phải qua 4 cấp học: mông học, ấu học, trung tập, đại tập
Mông học tức cấp học vỡ lòng Cấp này học những sách như: Nhất thiên
tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Tam tự kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo giáo
Trang 28huấn, Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi… Học sinh bắt đầu học chữ, học tập viết, bắt đầu làm câu đối 4 chữ Cấp này kéo dài khoảng vài ba năm
Sau khi học xong cấp mông học, học sinh được khoảng 10 tuổi bắt đầu chuyển sang cấp ấu học, trung tập, đại tập Ở các cấp học này, học sinh phải học các sách kinh điển của nhà Nho gồm Tứ thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học, Trung dung), Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu), Hiếu Kinh, các tác phẩm lịch
sử, thơ, phú…
Ở cấp ấu học, học sinh được học sử và kinh truyện, được tập làm câu đối
7, 8 chữ và bắt đầu tập viết văn sách ngắn
Sau 5,6 năm, học sinh chuyển sang cấp trung tập Ở cấp này học sinh tiếp tục học kinh truyện, học làm thơ phú, kinh nghĩa, văn sách Thầy giáo hạng này thường là Tú tài trở lên mới dạy được
Hết cấp học trung tập học sinh chuyến sang cấp đại tập Cấp này học ở trường lập ở tỉnh hoặc phủ huyện do Giáo thụ hoặc Đốc học giảng Nếu trường làng do ông Nghè dạy thì học sinh không phải lên học ở trường phủ hoặc trường tỉnh
Tập làm văn là một môn học rất quan trọng đối với những học sinh chuẩn
bị đi thi Mỗi tháng có 4 kỳ tập làm văn Học sinh đến trường nhận đề về nhà làm,
5 đến 6 ngày sau thì nộp bài gọi là văn thường kỳ Ngoài ra, mỗi tháng có 2 kỳ phải làm bài tập tại lớp, một ngày phải làm xong, gọi là văn nhật khắc
Năm nào có khoa thi, học sinh cùng làng rủ nhau làm văn Hội Quyển văn Hội làm như đi thi, do người có khoa bảng chấm Bài nào hay nhất được nhận giải thưởng bằng giấy hoa tiên hay bút mực
Việc học tập của học sinh được cả làng quan tâm Học sinh nào học giỏi được làng khen Ngược lại nhà nào có con em theo học, tuần phu đi tuần vào ban đêm không nghe tiếng học thì làng phạt
3.4 Một số sách Nho học cơ bản thời phong kiến
3.4.1 Sách sơ học
- Nhất thiên tự: (Một nghìn chữ)
Sách có 1015 chữ, đặt theo thể ca lục bát, cứ một chữ Nho thì tiếp theo nghĩa của chữ ấy Các chữ sắp đặt không theo thứ tự gì, và các câu không có ý nghĩa gì Ví dụ:
Thiên trời, địa đất, vân mây
Vũ mưa, phong gió, trú ngày, dạ đêm
Tinh sao, lộ móc, tường điềm
Hưu lành, khánh chúc, tăng thêm, đa nhiều
- Tam thiên tự: (Ba nghìn chữ)
Chữ và nghĩa kế tiếp nhau tạo thành từng đoạn hai tiếng một, cứ tiếng cuối đoạn trên ăn vần với tiếng cuối đoạn dưới Các chữ sắp đặt không theo loại mục, ý nghĩa gì
Trang 29Ví dụ:
Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn còn, tử con, tôn cháu, lục sáu, tam ba, gia nhà,
quốc nước, tiền trước, hậu sau, ngưu trâu, mã ngựa…
- Ngũ thiên tự: (Năm nghìn chữ)
Chữ và nghĩa ghép lại theo thể thơ lục bát như cuốn Nhất thiên tự, nhưng
các chữ đều sắp thành mục như: thiên văn, địa lý, quốc chánh, luân thường…
- Tam tự kinh: (Sách ba chữ)
Tương truyền do Vương Ứng Lân đời Tống (thế kỷ XII) soạn Sách gồm
358 câu, mỗi câu 3 chữ
Ví dụ:
Dưỡng bất giáo, phụ chi quá
Giáo bất nghiêm, sư chi đọa
Nuôi không dạy là lỗi của cha
Dạy không nghiêm là lỗi của thầy
Người không học không biết cư x.ử
Nhỏ không học, già làm gì
Ngọc không dũa, không thành đồ dùng
Người không học, không biết đạo lý
- Sơ học vấn tân: (hỏi về sự học)
Sách do người Việt (không ghi tên tác giả) soạn vào giữa thế kỷ XIX Sách
gồm 270 câu bốn chữ
- Ấu học ngũ ngôn thi ( Thơ năm chữ dùng cho trẻ học)
Sách gồm 278 câu thơ nói về hứng thú của việc học và ước mơ của một cậu học trò mong thi đậu trạng nguyên nên còn có tên là Trạng nguyên thi Theo Dương Quảng Hàm thì sách này cũng do người Việt soạn ra
Ví dụ:
Di tử kim mãn doanh,
Hà như giáo nhất kinh
Chu tử liệt triều khanh
Nghĩa là:
Để cho con vàng đầy rương,
Trang 30Sao bằng dạy cho một quyển sách
Họ tên chép vào sổ quế (danh sách người thi đậu),
Mặc áo đỏ tía đứng cùng các quan trong triều
- Minh tâm bảo giám: (Tấm gương báu soi sáng cõi lòng)
Sách sưu tập các câu nói của bậc thánh hiền để khuyên làm việc thiện, tránh
điều ác Sách này do người Trung Quốc soạn ra
- Minh đạo gia huấn: (Sách dạy trong nhà của Minh đạo)
Minh Đạo tức là Trình Hiệu, một bậc danh Nho đời Tống, Sách gồm 500 câu thơ 4 chữ khuyên răn về đạo làm người, cách tu dưỡng bản thân, cách đối xử
3.4.2 Sách kinh truyện: (Tứ thư, Ngũ kinh)
Tứ thư bao gồm: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học và Trung dung
- Luận ngữ: là sách do các học trò của Đức Khổng Tử biên tập lại những
điều đã ghi chép được trong khi nghe Ngài dạy học hoặc nói chuyện với các môn
đệ, với người đương thời về nhiều vấn đề như chính trị, triết lí, luân lí, học
thuật…
- Mạnh Tử là cuốn sách do Mạnh Tử viết ra bàn về tính thiện của con người, làm chính trị phải có nhân nghĩa mới mong tránh khỏi tai họa, biến loạn và chiến
tranh, giúp nhân dân sống trong cảnh an bình thịnh trị
- Đại học là sách của Tăng Tử diễn giải những điều Khổng Tử truyền lại
Sách cốt dạy đạo làm người quân tử Người quân tử hiểu sự lí của sự vật, cố đạt
đến mức chí thiện để thành người có ích cho nhân quần, xã hội
- Trung Dung: là sách nói về chủ nghĩa chiết trung của thánh hiền đời xưa và
thuật lại ý chí của Khổng Tử Sách dạy những tiêu chuẩn làm người quân tử một
cách tường tận để trở nên người có quyền bính và địa vị trong xã hội
Ngũ kinh bao gồm: Thi, Thư, Dịch, Lễ và Xuân Thu
- Kinh Thi bao gồm các bài ca dao từ đời thượng cổ, xem Kinh Thi biết
được tính tình, phong tục và chính trị các đời và các nước chư hầu bên Trung Hoa
- Kinh Thư: là bộ sách chép những điển, mô, huấn, cáo, thệ, mệnh của vua
tôi dạy bảo khuyên răn nhau từ thời Nghiêu Thuấn đến đời Đông Chu
- Kinh Dịch là sách tướng số để bói toán, xem cát hung, mà cũng là sách lí
học giải thích sự biến hóa của trời đất, muôn vật dựa theo luật âm dương và sự
biến hóa của bát quái trong vũ trụ
- Kinh Lễ là bộ sách chép những lễ nghi trong gia đình, hương đảng và triều
đình thời Xuân Thu- Chiến Quốc
- Kinh Xuân Thu là bộ sử kí nước Lỗ từ đời Lỗ Ấn Công đến đời Lỗ Ai
Công do Khổng Tử làm ra
3.4.3 Ngoại thư
Ngoại thư bao gồm bộ Cổ văn chừng vài chục cuốn, gồm các văn phẩm của các văn nhân, thi sĩ Trung Hoa từ Tiên Tần, Chư Tử đến đời Tống Bên cạnh đó còn có bộ Đường thi và mấy cuốn thi vận đời Đường, một bộ Bắc sử (sử Trung
Trang 31Quốc) từ thượng cổ đến cận kim Về sau dưới thời nhà Nguyễn có bộ Nam sử (sử nước ta) từ thượng cổ đến nhà Nguyễn
3.5 Nội dung giáo dục Nho học
Về đại thể nội dung giáo dục có thể phân làm 4 loại cơ bản sau:
3.5.1 Triết học
- Thuyết “thiên mệnh”, Khổng Tử tin rằng trời làm chủ vũ trụ Nhưng trời ở
đây không phải là một đấng Thượng đế có hình dáng, có tình cảm, có ham muốn như con người Trời chỉ là cái lý vô hình chỉ huy vạn vật Người quân tử phải biết
và làm theo “mệnh trời”
- Vạn vật biến đổi, sự biến đổi đó là do cái thể khác nhau là động và tĩnh, âm
và dương Hai thể ấy cứ liền nhau, điều hòa với nhau mà biến hóa, sinh ra trời đất
và vạn vật
- Về con người: con người là do trời sinh ra và phú cho cái tính sáng suốt để
hiểu hết sự vật Do vậy, đạo làm người phải cố gắng theo đạo trời để tiến đến chỗ
chí thiện chí mỹ
- Thuyết trung dung: trung là gốc của trời đất Con người ở đời phải giữ đạo
trung, giữ cái tâm trong sạch, đừng thái quá, đừng bất cập, đừng để dục vọng làm
vẩn đục
3.5.2 Chính trị
Nho giáo hướng đến xã hội lý tưởng Đó là xã hội phong kiến theo điển chế
nhà Chu, có tôn ti, trật tự, từ thiên tử đến các chư hầu lớn nhỏ, quý tộc, bình dân,
ai có phận nấy, có quyền lợi và nghĩa vụ sống hòa hảo với nhau, giúp đỡ nhau, giữ chữ tín với nhau, không xâm phạm nhau, ai cũng phải tu thân, nhất là các bậc vua chúa Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở, trọng hiếu đễ, yêu trẻ kính già, ai nấy đều trọng tình cảm và công bằng, không ai nghèo quá mà cũng không ai giàu quá Được như vậy thì các giai cấp hòa hợp với nhau, trên không hiếp dưới, dưới
không oán trên
Để thực hiện được xã hội như vậy thì phải chính danh, đức trị và dưỡng
dân
- Chính danh là làm rõ danh xưng, danh phận Tức là “vua cho ra vua; tôi
cho ra tôi; cha cho ra cha; con cho ra con…”
- Đức trị: danh phải gắn với đức, Chính danh sẽ dẫn đến Đức trị, tức là cai trị nhân dân bằng đạo đức Người cầm quyền phải sửa mình (tu thân) làm gương cho nhân dân noi theo Tu thân là gốc của Đức trị, vì tu thân mới có hiếu đễ, gia
đình tốt chính là nền tảng của quốc gia
- Dưỡng dân (nuôi dân) tức là làm cho nhân dân được no đủ, giàu có thì
nước sẽ thịnh Bằng ngược lại dân nghèo thì nước sẽ loạn, chính quyền sẽ bị sụp
đổ hoặc dân bỏ đi nơi khác Muốn dân giàu thì phải đánh thuế nhẹ, năm mất mùa phải giảm thuế, triều đình phải tiết kiệm, cái gì không có lợi cho dân thì đừng làm Bắt nhân dân làm việc phải tính đến thời vụ canh tác Phân phối phải quân bình,
hợp lí…
Giáo dân (dạy dân) là quan trọng vì yêu dân thì không để dân ngu dốt, dân
được giáo hóa thì dễ cai trị, dễ làm điều thiện, dễ theo lẽ phải…
Trang 323.5.3 Đạo đức
Như đã nói ở phần trên, việc tu thân rất được coi trọng, vì nó là nền tảng,
tu thân để tề gia rồi mới trị quốc, bình thiên hạ Việc tu thân chú trọng đến chữ Nhân Chữ Nhân được hiểu rất nhiều nghĩa Nhân là yêu người, hết lòng với người khác Nhân gồm cả hiếu đễ kính yêu cha mẹ anh chị em trong nhà Nhân gồm cả trung, cả nghĩa, cả dũng…
Nghĩa: là điều con người phải làm, không vì lợi ích riêng Nghĩa gắn liền với nhân và nhân là chuẩn mực, lý tưởng mà người quân tử phải rèn luyện để đạt được
Lễ: là đạo lý làm người theo các quy tắc của Khổng giáo để nuôi dưỡng tính tình, đạo đức, điều chỉnh hành vi, tiết chế các thường tình của con người
Trí: là trình độ học vấn để đạt được các đức tính cao đẹp, hiểu rõ lẽ phải, trái để hành động
Tín: là giữ lòng tin với mọi người, cũng không hẹp hòi, cố chấp đối với kẻ khác
Việc giáo dục coi trọng cả đức và trí, nhưng đức là gốc Do đó, việc giáo dục phải đề cao đức nhân lên hàng đầu
3.5.4 Xã hội
Đó là việc củng cố trật tự xã hội phong kiến Trật tự đó được mô hình hóa thành các giáo lý cơ bản là tam cương và ngũ thường Cương là cái chủ đạo, thường là cái không thay đổi Tam cương là ba mối quan hệ chính trong xã hội: vua tôi, cha con, chồng vợ Ngũ thường là năm đức tính: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
Kẻ sĩ tức là người đi học phải tuân theo tam cương, ngũ thường
3.6 Các lối văn
Ngoài việc học tập nội dung các quyển sách trên, học sinh còn phải luyện tập các loại văn thi cử: Kinh nghĩa, văn sách, thơ, phú, chế, chiếu, biểu
Kinh nghĩa:
Đây là một loại văn dùng trong thi cử, để giải thích ý nghĩa các câu trong
Tứ thư (chủ yếu là Kinh Thư) Mỗi bài gồm: phá đề, thừa đề, khởi giảng, nhập thủ, khởi cổ, trung cổ, hậu cổ và thúc cổ
Văn sách:
Đây là loại văn trình bày ý kiến riêng của bản thân về những vấn đề trong kinh nghĩa hoặc chính sự Bao gồm: Văn sách đạo hỏi về những chuyện trong kinh truyện, sử sách Văn sách mục hỏi về các vấn đề thời sự, đòi hỏi các kiến giải của người đi thi Cách làm bài văn sách không quá gò bó như kinh nghĩa, cốt trả lời cho đủ ý, câu không cần vần, các câu có thể đối nhau hay viết như văn xuôi cũng được
Thơ: (thơ Đường)
Thơ Đường có hai loại: cổ thể và cận thể
Cổ thể xuất hiện trước đời Đường, về hình thức thì tương đối tự do Có thể dài hoặc ngắn, không đòi hỏi chặt chẽ về âm điệu
Trang 33Cận thể còn gọi là kim thể, hình thành vào thời Đường, gồm luật thi và tuyệt cú Luật thi đòi hỏi một cách nghiêm ngặt, có thể 8 câu, chia làm ngũ luật (mỗi câu 5 tiếng), lục luật (mỗi câu 6 tiếng) hoặc thất luật (mỗi câu 7 tiếng)
Phú:
Là một thể văn vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi để tả phong cảnh, kể
sự việc, phát biểu cảm nghĩ về một cảnh vật, một sự kiện Có 2 loại phú là: phú cổ thể và phú Đường luật
Phú cổ thể làm theo lối văn biền ngẫu hoặc như một bài văn xuôi có vần Phú Đường luật cũng như thơ Đường, có vần, có đối và theo luật bằng, trắc Phú Đường luật có bố cục như: lung, biện nguyên, thích thực, phu diễn, nghị luận và kết
Chế: Lời của vua phong thưởng cho công thần, viết theo lối văn tứ lục biền ngẫu, mỗi câu ngắt thành hai đoạn 4-6 hoặc 6-4 và có vế đối ở từng cặp câu
Chiếu: Văn bản do vua công bố
Biểu: Bài văn của thần dân dâng lên vua để chúc mừng, tạ ơn hoặc bày tỏ nguyện vọng, viết theo lối văn tứ lục biền ngẫu, mỗi câu ngắt thành hai đoạn 4-6 hoặc 6-4 và có vế đối ở từng cặp câu: dâng biểu biểu trần tình sớ biểu
Ngoài các loại văn trên, học sinh còn phải học một số loại khác như: câu đối, văn tế, cáo, hịch…
Các loại văn này đều được giảng dạy từ thấp đến cao, từ dễ đến khó Kĩ năng làm bài được coi trọng và luyện tập thường xuyên thông qua việc tập văn định kì Nội dung kiến thức diễn đạt cũng được qui định chặt chẽ
3.7 Tình hình khoa cử Nho học ở Việt Nam từ nhà Lý đến nhà Nguyễn (1009 – 1919)
3.7.1 Tình hình khoa cử Nho học (1075 – 1396)
Trước năm 1075 tức thời Bắc thuộc và thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, ở Việt Nam chưa có thi cử Thời Hán, ở Trung Quốc thi hành chính sách tiến cử Hiếu Liêm và Mậu Tài Do đó, chậm nhất là vào thế kỷ II, có một số người Việt Nam
đã được triều đình Đông Hán công nhận hai danh hiệu đó
Thời Đường, có một số người Việt Nam đã sang Trung Quốc dự thi và đã
đỗ Tiến sĩ, và làm quan ở Trung Quốc Tiêu biểu cho số đó là gia đình họ Khương
ở quận Cửu Chân (Yên Định, Thanh Hóa) Người ông là Khương Thần Dực làm thứ sử Châu Thư, hai cháu là Khương Công Phụ, Khương Công Phục sang học ở Trường An, đỗ Tiến sĩ và được làm quan to ở Trung Quốc
Cuối đời Đường, có lẽ là do số thí sinh Việt Nam muốn tham dự các khoa thi ở Trung Quốc tương đối đông nên năm 845 nhà Đường quy định: sĩ tử An Nam thi khoa Tiến sĩ không được quá 8 người, thi khoa Minh kinh không được quá 10 người
Sau khi giành được độc lập lập, thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, nước ta cũng chưa có thi cử Vì vậy, trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú viết: “Nước ta từ các đời Đinh, Lê về trước, khoa cử còn thiếu, triều đình dùng người đại để không câu nệ, có lẽ việc cân nhắc còn rộng rãi mà thực ra thì điều mục chưa được tường.”
Trang 34Đến năm 1075, lần đầu tiên nhà Lý mở khoa thi để chọn Minh kinh bác học và Nho học tam trường Khoa ấy Lê Văn Thịnh được trúng tuyển và được
“vào hầu vua học”
Tiếp đó, nhà Lý còn tổ chức nhiều kỳ sát hạch để chọn những người biết viết chữ, biết làm toán và hình luật để làm nhân viên hành chính Ngoài ra nhà Lý còn chọn người cho vào Quốc tử giám và thi người có học sung làm quan Hàn lâm viện
Đến thời Trần, chế độ thi cử phát triển thêm một bước Năm 1232, nhà Trần tổ chức thi Thái học sinh, những người thi đỗ được chia làm 3 giáp là đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp Việc chia thành 3 giáp ở Việt Nam bắt đầu từ đây
Năm 1246, sách “Đại việt sử ký toàn thư” chép, nhà Trần định lệ thi Tiến
sĩ, cứ 7 năm 1 khoa.” Có lẽ chữ “Tiến sĩ” ở đây chép nhầm mà phải viết “Thái học sinh” mới đúng Sang năm 1247, thì tổ chức thi và bắt đầu đặt danh hiệu Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Danh hiệu Tam khôi bắt đầu có từ đây Trong thời kỳ này, Nguyễn Hiền 13 tuổi, quê ở Hà Đông đậu Trạng nguyên,
Lê Văn Hưu 17 tuổi quê ở Thanh Hóa đậu Bảng nhãn, Đặng Ma La 13 tuổi quê ở
Hà Nội ngày nay đậu Thám hoa Đó là 3 vị Tam khôi đầu tiên và cũng là 3 vị Tam khôi rất trẻ tuổi trong lịch sử khoa cử nho giáo Việt Nam
Đặc biệt Bảng nhãn Lê Văn Hưu đến đời Trần Thánh Tông (1258 – 1277) được giữ chức Hàn Lâm Viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu và được giao nhiệm vụ soạn sách Đại Việt sử ký
Ngoài 3 vị Tam khôi, khoa này còn có 48 người đỗ Thái học sinh
Từ năm 1256, nhà Trần quy định lấy 2 Trạng nguyên: một Trạng nguyên Kinh lấy ở bốn trấn miền Bắc và một Trạng nguyên Trại dành cho người đỗ đầu ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An để khuyến khích việc học tập ở vùng xa kinh đô Năm
1273, lệ lấy Trạng nguyên Kinh, Trại bị bãi bỏ
Trong thời gian chống Nguyên – Mông, việc tổ chức thi cử bị hạn chế vì điều kiện chiến tranh, có lúc đến 10 năm mới mở một khoa thi Năm 1304, thời vua Trần Anh Tông (1293 – 1314), khoa thi Thái học sinh lớn nhất kể từ đầu đời Trần được tổ chức Trong kỳ thi này, ngoài 3 người đỗ Tam khôi, những người đỗ
Đệ nhị giáp được gọi là Hoàng giáp Số người lấy đỗ cả 3 giáp là 44 người Khoa này, Mạc Đĩnh Chi quê ở Hải Dương đậu Trạng nguyên, Nguyễn Trung Ngạn quê
ở Hương Yên, 15 tuổi đậu Hoàng Giáp
Mạc Đĩnh Chi đậu Trạng nguyên năm 24 tuổi, rất thông minh nhưng tướng mạo xấu xí, vua có ý chê, Ông dâng bài phú Ngọc tỉnh liên (Sen trong giếng ngọc) làm cho vua rất khâm phục Trong thời gian làm quan, Ông được cử đi sứ Trung Quốc hai lần, do đối đáp giỏi, vua quan nhà Nguyên cũng rất khâm phục, gọi Ông
là “Lưỡng quốc trạng nguyên”
Nguyễn Trung Ngạn là vị Hoàng giáp đầu tiên trong lịch sử khoa cử nho giáo Việt Nam Ông từ nhỏ đã nổi tiếng học giỏi, người đương thời gọi là thần đồng Năm 25 tuổi cũng được cử đi sứ nhà Nguyên Do thông minh, có tài, Ông làm bài thơ tự phụ, dịch ra quốc ngữ như sau:
Giới Hiên tiên sinh tài lang miếu
Trang 35Có chí nuốt trâu từ niên thiếu
Tuổi mới mười hai Thái học sinh
Vừa đến mười sáu dự thi Đình
Hai mươi bốn tuổi làm Quan giám
Hai mươi sáu tuổi sứ Yên kinh
(16, 24, 26 tuổi nói trong bài thơ này đều tính cả tuổi mụ, thực chất là 15,
23, 25 tuổi)
Năm 1304, nhà Trần quy định nội dung 4 trường thi như sau:
Trường 1: thi ám tả cổ văn,
Trường 2: thi kinh nghĩa, thơ, phú,
Trường 3: thi chế, chiếu, biểu,
Trường 4: thi đối sách
Sau đó mở kỳ thi Đình để phân hạng cao thấp đối với những người đỗ Thái học sinh
Năm 1374, Nhà Trần bắt đầu đặt ra danh hiệu Tiến sĩ và lần đầu tiên sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi tổ chức “thi đình cho các Tiến sĩ”
Sách Quốc triều Hương khoa lục” của Cao Xuân Dục viết: “Danh hiệu tiến
sĩ thì đến năm Long Khánh (1373 – 1377) đời Duệ Tông mới thấy có (xét trước
đó đều gọi là thi thái học sinh, đến lúc ấy bắt đầu gọi là thi Tiến sĩ, nhưng xem Thái học sinh hạng ưu được gọi là Tam Khôi và Hoàng Giáp, còn lại đều gọi là Thái học sinh, thì biết Thái học sinh là Tiến sĩ vậy”
Sự phát triển của nền giáo dục và chế độ khoa cử đời Trần đã đào tạo được một đội ngũ trí thức quan lại rất đông đảo, trong đó tiêu biểu là Lê Văn Hưu, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư mạnh, Trương Hán Siêu…
Đặc biệt, thời Trần có một nhà giáo nổi tiếng đó là Chu Văn An (1292 – 1370) Ông quê ở Thanh Trì, Hà Nội, không đi thi nhưng là người có đạo đức mẫu mực, học vấn uyên bác, là thầy giáo của nhiều người đỗ đại khoa và được làm quan to ở trong triều Trong số đó có Phạm Sư Mạnh, Lê Quát tuy đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến thăm thầy thì lạy ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì lấy làm mừng lắm Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc chửi mắng, thậm chí la thét không cho vào
Thời Trần Minh Tông (1314 – 1329), ông được vua mời làm Quốc tử giám
Tư nghiệp dạy Thái tử học Trần Dụ Tông (1342 – 1369), con thứ 10 của Minh Tông ham chơi bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước Ông dâng sớ chém 7 tên nịnh thần, Dụ Tông không trả lời, Ông liền trao áo mũ từ quan
về dạy học ở Chí Linh (Hải Dương), khi nào triều đình có việc quan trọng triệu Ông đến thì ông mới về kinh đô Dụ Tông lại có ý đem chính sự trao cho Ông nhưng Ông không nhận
Năm 1370, Chu Văn An mất, Trần Nghệ Tông (1369 – 1371) sai quan đến
tế, truy tặng Ông danh hiệu “Văn Trinh Công”, cho thờ ở Văn Miếu
Trang 36Chu Văn An là một nhà giáo dục được lịch sử đánh giá rất cao Ngô Sĩ Liên đời Lê nhận xét: “Những nhà nho nước Việt ta được dùng ở đời không phải không nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh, kẻ thì chuyên lo về phú quý,
kẻ lại a dua với đời, kẻ chỉ cốt ăn lộc giữ thân, chưa có ai chịu để tâm đến đạo đức, suy nghĩ tới việc giúp vua nêu đức tốt, cho dân được nhờ ơn Như Tô Hiến Thành đời Lý, Chu Văn Trinh đời Trần, có lẽ gần được như thế Nhưng Hiến Thành gặp được vua (sáng suốt) cho nên công danh, sự nghiệp được thấy ngay đương thời Văn Trinh không gặp vua (anh minh) nên chính học của Ông, đời sau mới thấy được Huống chi tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ Ngàn năm về sau, nghe phong độ của Ông, há không làm cho kẻ điêu ngoa thành liêm chính, người yếu hèn biết tự lập được sao? Nếu không tìm hiểu nguyên cớ, thì ai biết thụy hiệu của Ông xứng đáng với con người của Ông Ông thực đáng được coi là ông tổ của các nhà Nho nước Việt ta mà thờ vào Văn Miếu.”
Phan Huy Chú thời Nguyễn, tác giả bộ sách “Lịch triều hiến chương loại chí” cũng viết; “Ông Văn Trinh học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, được đời ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ Tìm trong làng Nho ở nước Việt ta, từ trước đến nay, chỉ có mình Ông Các ông khác thực không thể so sánh được”
3.7.2 Tình hình khoa cử Nho học (1396 – 1463)
Từ năm 1396 trở về trước, việc tuyển chọn nhân tài chỉ qua một kỳ thi Thái học sinh và thi Đình mà thôi Năm 1396, nhà Trần đặt thêm kỳ thi Hương và quy định: “cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, người đỗ thì vua thi một bài văn sách để xếp bậc”
Tuy vậy, lúc bấy giờ nhà Trần đã hết sức suy yếu, Hồ Quý Ly đang chuẩn
bị cướp ngôi vua nhà Trần nên từ đó cho đến khi triều Trần diệt vong (tháng 2 năm 1400) không có kỳ thi nào được tổ chức
Mãi đến tháng 8 năm 1400, tức là sau khi triều Hồ thành lập, Hồ Quý Ly mới tổ chức kỳ thi Thái học sinh Chính Nguyễn Trãi là một trong 20 người đã đậu trong kỳ thi này
Tháng 12 năm 1400, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương Năm 1404, Hán Thương định thể thức thi chọn nhân tài: cứ tháng 8 năm nay thi Hương, ai đỗ thì được miễn lao dịch, tháng 8 năm sau thi ở Bộ Lễ, ai đỗ thì được sung tuyển bổ; lại tháng 8 năm sau nữa thì thi Hội, ai đỗ thì bổ Thái học sinh Rồi năm sau nữa lại bắt đầu thi Hương năm trước
Năm 1405, Hán Thương sai Bộ Lễ thi chọn nhân tài, đỗ được 170 người Lấy Hồ Ngạn Thần, Lê Củng Thần sung làm Thái học sinh lý hành (Thái học sinh chưa chính thức).”
Đầu thời Lê, ngay sau khi lên ngôi, năm 1428, Lê Thái Tổ ra lệnh cho các quan văn võ tiến cử người hiền lương phương chính, nếu tiến cử được người giỏi thì được thăng thưởng; nếu vì tiền tài, vì thân quen, tiến cử người không tốt thì bị trị tội theo lệ tiến cử kẻ gian
Cuối năm đó, Lê Thái Tổ lại ra lệnh cho các quan viên và quân dân cả nước, hạn đến tháng 5 sang năm, đến Đông Kinh để các quan văn hỏi thi kinh sử,
ai tinh thông được bổ làm quan văn
Trang 37Năm 1429, Lê Thái Tổ ra lệnh “quân nhân các phủ lộ và những người ẩn dật núi rừng, nếu ai quả thực thông kinh sử, giỏi văn nghệ thì đến ngày 28 tháng 5 tới sảnh đường trình diện để chuẩn bị dự kỳ thi Minh kinh”, đồng thời các quan văn võ trong ngoài, từ tứ phẩm trở xuống, người nào thông kinh sử cũng tới sảnh đường để vào trường thi Minh kinh
Năm 1434, sau khi lên ngôi, Lê Thái Tông đã tổ chức một kỳ thi, đã chọn được 1000 học sinh, chia làm 3 bậc Bậc nhất và bậc nhì được vào học trường Quốc tử giám, bậc ba cho về học tại nhà học ở các lộ, đều được miễn lao dịch Những học trò ở nhà học các lộ, đến 25 tuổi mà thi không đỗ thì đuổi về làm dân
Tiếp đó, cũng năm 1434, nhà Lê định rõ chế độ thi cử như sau: Bắt đầu từ năm 1438, tổ chức thi Hương ở các đạo, đến năm 1439 thì thi Hội ở sảnh đường tại Kinh đô Từ đó về sau, cứ 3 năm thi một lần
Tuy vậy, quy chế này chưa được thực hiện đúng kế hoạch Năm 1438 và năm 1439 đều chưa tổ chức thi Hương và thi Hội Đến năm 1442, nhà Lê mới tổ chức được kỳ thi Hội đầu tiên Kỳ thi này, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Nhữ Hộc đỗ Tiến sĩ cập đệ, 7 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, 23 người đỗ đồng Tiến
sĩ xuất thân trong đó có Ngô Sĩ Liên
Tiếp đó các năm 1448, 1453, 1458, 1462 nhà Lê đều tổ chức thi Hội và từ năm 1463 bắt đầu định lệ 3 năm thi Hội một lần, do vậy năm 1466 lại tổ chức thi Hội tức là đã thực hiện đúng quy chế đó
Như vậy, từ năm 1396, nhà Trần bắt đầu đặt ra 3 cấp thi: thi Hương, thi Hội, thi Đình Cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, người đỗ thi Hội thì vua thi một bài văn sách để xếp bậc Nhưng do đất nước có nhiều biến cố, việc thi
cử chưa thực hiện đúng kế hoạch ngay cả mấy chục năm đầu của thời Lê mãi đến năm 1466 mới thực hiện đúng quy chế đã định
Khái quát tình hình đó, trong bài “Tiến sĩ đề danh bi ký” của Đàm Văn Lễ
có đoạn viết: “Lê Thái Tổ bình định thiên hạ, nuôi dạy anh tài, hỏi tìm rộng rãi thì cầu người ẩn dật, thu chọn quy mô thì thi khảo học trò, tuy chưa đặt khoa thi Tiến
sĩ mà khí mạnh văn học đã đủ Thái Tông dựng xây nền móng, từ năm Nhâm Tuất (1442) mở khoa thi mà nhân tài quần tụ Nhân Tông kế tiếp mở ba khoa thi mà nhân văn càng thêm rực rỡ Đến Thánh Tông Trung hưng năm Quý Mùi (1463) thì số người lấy đỗ nhiều hơn so với trước Song từ khoa Nhân Tuất (1442) đến khoa Quý Mùi (1463), khi thì 6 năm 1 khoa, lúc lại 5 năm 1 khoa, còn 3 năm 1 khoa thì năm Bính Tuất này (1466) mới bắt đầu.”
3.7.3 Chế độ khoa cử Nho học (1466 – 1919)
a Thi sơ tuyển ở huyện, châu, phủ
Theo quy định trong “Bảo kết hương thí” của nhà Lê ban hành năm 1462, những người muốn dự thi phải có giấy bảo đảm của quan địa phương về lý lịch và phải dự một kỳ thi sơ tuyển ở huyện, châu, phủ Những người bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa… dù học giỏi, văn thơ hay cũng không được đi thi
Phường chèo, con hát và những kẻ phản nghich, ngụy quan có tiếng xấu thì bản thân và con cháu đều không được dự thi Kỳ thi sơ tuyển ở địa phương gọi
là thi khảo hạch, nội dung thi ám tả, kinh nghĩa để loại bớt những người quá kém
Trang 38Khi dự kỳ thi sơ tuyển, nếu thí sinh mang sách hay mượn người làm bài hộ thị bị trị tội theo luật
Đến năm 1750, tức vào thời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740 – 1786) và thời Trịnh Sâm, do triều đình thiếu tiền cho nên cho phép thí sinh được nộp 3 quan tiền gọi là “tiền thông kinh” và được miễn thi khảo hạch “Vì thế người làm ruộng, người đi buôn, cho chí người hàng thịt, người bán vặt cũng đều làm đơn nộp tiền xin thi cả Ngày vào thi đông đến nỗi dày xéo lẫn nhau, có người chết ở cửa trường Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi thay, công nhiên làm bậy, không còn biết phép thi là gì, những người thực tài mười phần không đậu một” Do đó “hạng sinh đồ 3 quan đầy cả thiên hạ” (Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí)
Thời Nguyễn, tuy đất nước được mở rộng hơn thời Lê, nhưng số trường thi chỉ có 6 trường và địa điểm thi cũng không cố định
Ví dụ, khoa thi Đinh Mão (1807) là khoa thi Hương đầu tiên của triều Nguyễn, có 5 trường thi là: Nghệ An, Thanh Hóa, Kinh Bắc (sau đổi thành Bắc Ninh), Hải Dương, Sơn Tây
Khoa thứ hai là khoa Quý Dậu (1813) gồm 6 trường là: Quảng Đức (Thừa Thiên), Nghệ An, Thanh Hóa, Thăng Long, Sơn Nam, Gia Định
Như vậy, bắt đầu từ năm 1813, ở Nam Kỳ có một trường thi Hương là trường Gia Định
Năm 1852, lại mở thêm trường thi Bình Định, do đó số trường thi trong cả nước tăng lên 7 trường
Năm 1861, Pháp tấn công Đại đồn, rồi chiếm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa Vì vậy khoa này (Tân Dậu 1861) chỉ có 4 trường thi: Thừa Thiên (chung cho
cả Bình Định), Nghệ An, Hà Nội (chung cho cả trường Thanh Hóa) và Nam Định, còn trường Gia Định thì ngừng hẳn
Khoa thi Giáp Tý (1864), vì 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã nhường cho Pháp theo hiệp định Nhâm Tuất (5/6/1862), nên nhà Nguyễn mở thêm trường An Giang ở miền Tây Nam Kỳ, do vậy khoa thi này cũng có 6 trường là: Thừa Thiên, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, An Giang
Năm 1867, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên) vì vậy từ khoa Đinh Mão (1867), ở Nam Kỳ không còn trường thi nữa
Khoa thi Mậu Ngọ (1918) là khoa thi Hương cuối cùng, chế độ khoa cử ở Bắc Kỳ sau khoa Ất Mão (1915) đã bãi bỏ, nên ở Trung Kỳ chỉ còn lại 3 trường là Thừa Thiên, Nghệ An – Thanh Hóa và Bình Định
Trang 39Trường thi là một bãi đất trống hoặc cánh đồng đã thu hoạch Trường thi gồm 3 ngăn: ngăn trong cùng là nội trường, ngăn giữa là ngoại trường, ngăn ngoài cùng là nơi thí sinh cắm lều
Nội trường, ở giữa có giám viện (nhà họp của các quan nội trường), hai bên có nhà quan phúc khảo Phía sau nhà quan Phúc khảo có hai nhà Sơ khảo, phía sau là nhà quan Giám sát
Ngoại trường, ở giữa có thí viện là nhà họp của các quan ngoại trường Hai bên có nhà quan Chánh phó khảo, nhà quan Chánh phó phân khảo, nhà Giám sát
và Lại phòng (phòng nhân viên) Giáp nhà nội trường có nhà quan Chánh phó Đề tuyển, giữ quyển thi và khớp phách
Ngăn ngoài cùng là trường thi, chia làm 8 vi, ngăn nhau bằng một con đường chữ thập Giữa đường chữ thập có nhà thập đạo Thẳng đường thập đạo ra đằng trước có một cửa gọi là cửa tiền dành cho thí sinh làm bài xong đi ra Trường thi được chia thành 8 khu gọi là 8 vi Bốn vi trước gọi là Giáp nhất, Giáp nhị, Ất nhất, Ất nhị Bốn vi đằng sau gọi là Tả nhất, Tả nhị, Hữu nhất, Hữu nhị Mỗi vi có cửa lên nhà thập đạo Trước cửa cho thí sinh vào đều có treo bảng ghi danh sách thí sinh Trong trường thi có 3 cái chòi để các quan Ngoại trường ngồi coi thí sinh làm bài Các nhà dùng trong kỳ thi trước kia chỉ tạm dựng bằng tre lá, thi xong thì dỡ bỏ
Từ năm 1834, nhà Nguyễn bắt đầu xây trường thi Thừa Thiên trong kinh thành, phía cửa Bắc Nhà cho các quan Chánh, Phó Chủ khảo, Chánh, Phó Đề điệu, Phân khảo và Thập đạo gồm bảy căn một gian hai chái: Nhà cho các quan Giám khảo, Sơ khảo, Thể sát, Mật sát, Lại phòng nội trường gồm 3 căn, 5 gian hai chái: Nhà cho các quan Sơ khảo gồm 3 căn, sáu gian hai chái Vách sau và hai bên
tả hữu hai chái mỗi căn tính toán mở rộng một cửa vòm cong hình bán nguyệt, sau cửa nới ra thêm một chỗ nhỏ làm nhà bếp Ở mỗi cổng ra tới nhà quan Thập đạo giáp 4 vi Tả, Hữu, Giáp, Ất và nhà quan Giám khảo giáp nhà các quan sơ khảo, phúc khảo đều xây tường gạch ngăn ra Nơi 4 vi lại dựng 17 dãy mái che dài, mỗi dãy 17 gian Phàm thi Hương thì cho 4 người vào một gian, thi Hội thì cách 2 hoặc 3 gian cho một người ngồi, đều lợp bằng ngói
Ở Gia Định, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định cũng căn cứ theo quy thức của
Bộ gởi mà dựng trường thi, chỉ có 4 vi tả Tả Hữu, Giáp Ất thì để trống chứ không dựng mái che
Về thời gian tổ chức các kỳ thi Hương lúc đầu chưa có quy định, nhưng thường là năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội và đến năm Quý Mùi (1463) thì bắt đầu định lệ 3 năm thi một lần thi Hội Từ đó nhà Lê cũng theo quy chế của nhà Minh
Thi Hương vào các năm: Tý, Mão, Ngọ, Dậu
Thi Hội vào các năm: Sửu, Thìn, Mùi, Tuất
Đến đời Nguyễn, trong thời Gia Long, cứ 6 năm tổ chức một kỳ thi Hương: bắt đầu từ năm 1825 mới thực hiện quy chế 3 năm thi một lần Tuy vậy, những khi có biến cố chính trị thì kỳ thi bị hoãn, ngược lại nhà nước thỉnh thoảng còn tổ chức thêm mộ số kỳ thi gọi là “Ân khoa” Đặc biệt Thiệu Trị chỉ làm vua được 7 năm (1841 – 1847) mà liên tiếp mở ân khoa, đã tổ chức 5 khoa thi liền vào các năm 1841, 1842, 1843, 1846, 1847
Trang 40Do vậy, từ khoa thi Hương đầu tiên năm 1807 đến khoa thi Hương cuối cùng năm 1818, trong 111 năm nhà Nguyễn đã tổ chức tất cả 45 kỳ thi Hương
Kỳ thứ nhất, thi một bài kinh nghĩa có các phần phá đề, tiếp ngữ, tiền giảng, nguyên đề, đại giảng, kết luận, từ 500 chữ trở lên
Kỳ thi thứ hai, thi một bài thơ Đường luật và một bài phú cổ thể hay thể
Kỳ thứ nhất, thi văn sách 10 bài (gồm kinh, truyện, Bắc sử, Nam sử), nếu thí sinh làm được 5 bài (kinh 2 bài, truyện 1 bài, Bắc sử 1 bài, Nam sử 1 bài) là hợp lệ, nếu làm được cả 10 bài thì càng tốt
Kỳ thứ hai, thi thơ phú, mỗi loại một bài (như cũ)
Kỳ thứ ba, thi luận hai đề (1 đề chữ Nho, 1 đề chữ Quốc ngữ)
Nếu thí sinh nào tình nguyện thi dịch chữ Pháp ra chữ Quốc ngữ thì thi riêng một kỳ (đề thi do tòa Khâm sứ soạn)
Kỳ thi thứ tư gọi là kỳ phúc hạch Nội dung thi gồm có văn sách 1 bài, phú
Kỳ thứ hai, thi Luật chữ Nho hai đề
Kỳ thứ ba, thi luận chữ Quốc ngữ 2 đề
Kỳ thi phúc hạch thi một bài luận chữ nho, một bài luận chữ Quốc ngữ
Do phương thức thi là phải trúng kỳ trước mới được thi kỳ sau, nên thời gian thi Hương thường là một tháng hoặc hơn một tháng Ngày thi Hương ở các trường thi trong cả nước không thống nhất Dựa vào đặc điểm thời tiết, thời Nguyễn quy định các trường Thừa Thiên, Nghệ An thi vào tháng 7 âm lịch, các trường Hà Nội, Nam Định thì thi vào tháng 10, trường Gia Định thi vào tháng 9
Về trường quy, chế độ khoa cử ngày xưa quy định hết sức nghiêm ngặt Thí sinh không được mang tài liệu vào trường thi, nếu vi phạm thì bị cấm thi suốt đời