1. Trang chủ
  2. » Địa lí lớp 10

Địa lí địa phương Cà Mau

55 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 79,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh cũng cần được giới thiệu trước một số vấn đề có liên quan đến sản xuất nông nghiệp ở địa phương như: ý nghĩa và vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với nền kinh tế của huyện (h[r]

Trang 1

ĐỊA LÝ CÀ MAU

I- MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU DẠY VÀ HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

Việc giảng dạy địa lý địa phương tỉnh Cà Mau trong nhà trường phổ thông trong tỉnhphải đạt được những yêu cầu mục đích sau:

1-Giúp cho học sinh bổ sung và nâng cao những kiến thức về tự nhiên, dân cư và kinh

tế – xã hội trong phạm vi của địa phương cấp tỉnh mà trong sách giáo khoa địa lý theo chươngtrình của bộ GD-ĐT chưa có điều kiện đưa vào

2-Giúp cho học sinh có được các kiến thức về địa lý địa phương của tỉnh nhà qua việchọc tập trên lớp, khảo sát, nghiên cứu địa lý địa phương, tạo điều kiện cho học sinh hiểu rõthực tế địa phương về những khó khăn và thuận lợi của tự nhiên, dân cư và kinh tế xã hội ởđịa phương Qua đó giúp cho học sinh có ý thức tham gia cải tạo, xây dựng địa phương, đồngthời bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp đối với quê hương đất nước

3-Học sinh học tập, khảo sát, nghiên cứu địa lý địa phương của tỉnh nhà bước đầu còntập cho học sinh làm quen với tính chất và công việc của công tác nghiên cứu khoa học về địa

lý địa phương Những kết luận rút ra từ thực tiễn địa phương, những biện pháp đề xuất đúngđắn có thể có qua học tập, qua nghiên cứu của giáo viên và học sinh về địa lý địa phương.Chúng tôi nghĩ rằng đó có thể là cơ sở để nhà trường, để giáo viên, học sinh đóng gópvốn hiểu biết của mình về địa lý địa phương tỉnh nhà trong sản xuất, trong quản lý xã hội vàcũng qua đó phát hiện được tư duy khoa học, tư duy địa lý cho học sinh phổ thông trong cácnhà trường ở tỉnh Cà Mau

4-Cũng thông qua việc học tập địa lý địa phương tỉnh Cà Mau sẽ giúp cho học sinh pháttriển được năng lực nhận thức và vận dụng kiến thức của mình vào hoàn cảnh, điều kiện củađịa phương tỉnh nhà Mặt khác thông qua học tập, khảo sát, nghiên cứu về địa lý tỉnh nhà còngiúp cho nhà trường bồi dưỡng cho học sinh các phương pháp nghiên cứu, học tập phù hợpvới trình độ của các em như các phương pháp khảo sát, điều tra, quan sát, phân tích vẽ, thiếtlập các số liệu, biểu đồ, bản đồ Từ đó giúp cho học sinh bồi dưỡng thề giới quan khoa học,phát triển năng lực trí tuệ và những kỹ năng thực tiễn

II- NỘI DUNG DẠY VÀ HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

Địa lý địa phương tỉnh Cà Mau là một bộ phận của địa lý cả nước, nó giúp chúng tatìm hiểu thực trạng tiềm năng cụ thể và đánh giá kiểm chứng lại các điều kiện tự nhiên, tàinguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh nhà so với điều kiện chung của cả nước Địa lý địaphương có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau và tuỳ theo từng mục đích nội dung vàphương pháp nghiên cứu sẽ phú hợp với những yêu cầu khác nhau Ở đây chúng tôi muốn đềcập đến yêu cầu về nội dung với mục đích là giảng dạy và học tập trong các trường phổ thôngtrong tỉnh, đồng thời phải gắn liền với phân phối chương trình địa lý địa phương và thời gianqui định của Bộ Giáo Dục và đào tạo vừa mới ban hành được áp dụng thực hiện từ năm học

2000 – 2001 như : ở lớp 6 tiết 66; ở lớp 9 tiết 32 (các bài 23,24,25) tiết 33 (các bài 26,27)chính vì vậy yêu cầu về nội dung đối với học địa lý địa phương là: các em phải có khả năngnhận biết, phân tích được một số hiện tượng địa lý trong tỉnh nhà hoặc nơi các em đang sinhsống

-Các em phải hiểu biết môi trường thiên nhiên chung quanh và có khả năng nhận biếtmối quan hệ giữa khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường

-Các em biết ứng dụng những kiến thức địa lý chung mà chương trình môn địa lý đãtrang bị, đồng thời biết đối chiếu so sánh với địa phương của tỉnh nhà kể cả việc đọc các loạibản đồ địa lý địa phương

Xuất phát từ những yêu cầu về nội dung nêu trên, chúng tôi xác định nội dung giảngdạy cụ thể gồm 03 phần chính là điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và kinh tế.1-Điều kiện tự nhiên:

Trang 2

Để tìm hiểu các điều kiện tự nhiên trong tỉnh, chúng ta thấy nó có thể tồn tại những hệthống cấp thấp hơn so với cả nước như các hệ thống khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, động thựcvật Do đó yêu cầu là phải định vị các hệ thống đó chỉ trong tỉnh Cà Mau và xác định cácmối quan hệ với nhau trên cơ sở tất cả các phần tạo nên thể tổng hợp địa lý tự nhiên của tỉnhnhà.

a-Về địa chất:

Đặc điểm địa chất có ảnh hưởng quyết định đến diện mạo của một lãnh thổ ở địaphương nên phần này không thể thiếu được vì thế mà yêu cầu học sinh nắm được lớp vỏ địachất cùng với những đặc điểm và lịch sử hình thành, phát triển của nó ở tỉnh Cà Mau

c-Về khí hậu:

Chúng ta biết rằng khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng nhất của địa lý tựnhiên Tuy nhiên trên phạm vi lãnh thổ của một tỉnh như tỉnh Cà Mau thì chúng ta chỉ yêu cầuhọc sinh nắm được những nhân tố chi phối đặc điểm khí hậu của tỉnh nhà Trong đó nêu lêncác nhân tố như: vị trí địa lý, bức xạ mặt trời, khí quyển, ảnh hưởng của địa hình, lớp phủthực vật Từ đó cho học sinh ứng dụng hiểu biết vào đánh giá tác động xấu, tốt của khí hậu,thời tiết đến sản xuất và đời sống trong phạm vi cả tỉnh hoặc nơi học sinh sinh sống

d-Thủy văn:

Thủy văn thể hiện mức độ tổng hợp cao các yếu tố địa lý tự nhiên trong môi trường vàtrên phạm vi lãnh thổ Vì vậy yêu cầu cơ bản là học sinh nắm được mạng lưới thủy văn tỉnhnhà chủ yếu là mạng lưới sông, rạch, biển, bờ biển, nước ngầm Từ đó cho học sinh ứngdụng hiểu biết vào đánh giá giá trị kinh tế cuả sông ngòi, kênh rạch tỉnh nhà, vấn đề sử dụng,bảo vệ và cải tạo

e-Thổ nhưỡng:

Như chúng ta biết ngoài mối quan hệ với môi trường tự nhiên thổ nhưỡng là đối tượnglao động của con người dùng cho sản xuất nông nghiệp Vì vậy yêu cầu cơ bản là học sinhnắm được mối quan hệ giữa thổ nhưỡng với tự nhiên địa phương, điều kiện hình thành đất,các loại đất chính và sự phân bố của chúng Qua đó học sinh ứng dụng hiểu biết vào đánhgiá, sử dụng và bảo vệ đất ở tỉnh nhà

2-Về địa lý dân cư Cà Mau:

Dân cư vừa là lực lượng sản xuất vừa là nguồn tiêu thụ của cải vật chất là đại diện cuảnền văn hóa và là cơ sở của tổ chức chính trị – xã hội ở địa phương Do đó yêu cầu học sinhnắm được những nội dung chính sau:

-Số dân, động lực tăng dân số và sự phân bố dân cư

-Cấu trúc dân số

-Nguồn lao động và việc sử dụng nguồn lao động

-Quần cư và phương hướng điều khiển dân số tỉnh nhà

Qua đó giúp học sinh thấy rõ sự phát triển và sự phân bố dân cư lao động của địaphương tỉnh Cà Mau chúng ta, sức sản xuất và sức tiêu thụ chủ yếu là điều khiển tăng gia dân

số, sử dụng lao động và giải quyết vấn đề lao động của tỉnh nhà

Trang 3

3-Về địa lý kinh tế:

Khi nói đến địa lý kinh tế địa phương là chúng ta đề cập đến thể tổng hợp kinh tế tỉnhnhà theo các cấu trúc ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và tiểuthủ công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại và du lịch cụ thể từng nhóm ngành cần đạt vềnội dung như:

a-Đối với nông lâm ngư nghiệp:

-Yêu cầu cung cấp cho học sinh nắm được cơ cấu và sự phân bố những cây trồng vậtnuôi chính của tỉnh nhà với mỗi loại cần nêu được: mục đích phương hướng phát triển, diệntích sản lượng sự phân bố, tỷ trọng so sánh (nếu có giữa tỉnh nhà với vùng và tỉnh lân cận).b-Đối với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:

-Bên cạnh đặc điểm và phát triển các ngành công nghiệp hiện tại, chúng ta cũng cầncung cấp cho học sinh hiểu biết về các ngành nghề thủ công truyền thống của địa phương tỉnh

ta, về sử dụng lực lượng lao động địa phương trong các ngành nghề, sự biến động của sảnlượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã qua, hiện tại, sắp tới

c-Đối với giao thông vận tải, thương mại-dịch vụ và du lịch:

Về giao thông cần cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về những đặc điểm chungcủa giao thông vận tải thủy bộ của tỉnh nhà, các loại hình, khả năng, phương hướng phát triểngiao thông vận tải địa phương

Về thương mại và du lịch đề cập đến các nội dung như: Đặc điểm tính chất của ngànhThương mại và Dịch dụ tỉnh nhà Trong đó cần lưu ý vị trí, thế mạnh, cơ cấu phân bổ sản xuất

và định hướng, phát triển của địa lý kinh tế thương mại và dịch vụ của tỉnh nhà Qua đó giúphọc sinh ứng dụng hiểu biết vào khai thác tài nguyên và lao động để tham gia phát triểnthương mại, dịch vụ và du lịch tỉnh nhà

III-CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU:

Cũng như môn lịch sử, chương trình môn địa lý ở trường phổ thông được xây dựngtheo kiểu đồng tâm có nâng cao dần từ THCS lên THPT Phần địa lý Việt Nam được dạytương đối hoàn chỉnh ở cấp trung học cơ sở gồm hai phần địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế Ởcấp trung học phố thông học sinh sẽ được học lại phần địa lý kinh tế xã hội Việt Nam

Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng trong chương trình địa lý Việt Nam của cả bậc trung họcphố thông thì nội dung tìm hiểu địa phương, liên hệ với thực tế, khảo sát địa phương, nghiêncứu địa lý địa phương là một bộ phận kiến thức không thể thiếu được ở cả cấp trung học cơ sở

và cấp trung học phổ thông Việc đưa những nội dung này tích hợp vào các bài giảng chínhkhóa như thế nào ở tất cả các khối lớp của bậc trung học phổ thông là hết sức cần thiết

-Căn cứ vào giáo trình địa lý địa phương của PGS – TS Lê Huỳnh và PGS – TSNguyễn Minh Tuệ cùng với hướng dẫn của Bộ Giáo Dục – Đào Tạo thì việc học tập, tìm hiểu,khảo sát và dạy địa lý địa phương là một nguyên tắc trong giảng dạy, học tập địa lý Việc tìmhiểu tự nhiên, dân cư, kinh tế – xã hội ở chung quanh làm cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơnnhững kiến thức địa lý trong sách giáo khoa, gắn việc học tập địa lý với cuộc sống ở địaphương và với việc giáo dục hướng nghiệp

Ngoài nội dung địa lý địa phương được dạy thành bài theo một hệ thống nhất định, phùhợp với cấu trúc chương trình của từng lớp, từng cấp học theo phân phối chương trình của Bộthì việc dạy địa lý địa phương còn được tiến hành dưới dạng kết hợp hay liên hệ với thực tiễntrong từng phần của nội dung bài giảng theo chương trình chính khoá của môn địa lý, hoặcbằng hình thức dạy học ngoài lớp như thực hành ngoài trời, tham gia, du lịch, cấm trại, khảosát địa lý địa phương và ở mức độ cao hơn là nghiên cứu địa lý địa phương

Môn địa lý nói chung và địa lý địa phương nói riêng cũng như một số môn học kháctrong chương trình ở nhà trường có hai hình thức dạy học: trên lớp và ngoài trời Đặc biệt, dođặc điểm của môn địa lý có liên quan chặt chẽ với thiên nhiên, với các hoạt động sản xuất củacon người, nên việc dạy ngoài lớp mang lại hiệu quả rất lớn về mặt giáo dục và giáo dưỡng.1-Dạy địa lý địa phương Cà Mau ở trên lớp:

Trang 4

a-Hình thức dạy trên lớp thông qua các tiết giảng về địa lý địa phương đã được qui địnhtrong chương trình:

Để các giờ dạy địa lý địa phương trên lớp đạt hiệu quả, những tài liệu sử dụng phảiđược nghiên cứu đầy đủ, đảm bảo tính khoa học Điều này rất cần thiết, vì thông qua giờ dạyđịa lý địa phương học sinh nắm vững một cách cụ thể nơi mình đang sinh sống, học tập, hiểuđược những thuận lợi, khó khăn của quê hương và có thái độ đúng đắn trước thực tế đó.Những giờ trên lớp về địa lý địa phương tỉnh Cà Mau trong chương trình phổ thông rất

ít (5 bài trong chương trình lớp 9, ở các lớp khác chỉ có giờ tổng kết việc khảo sát địa lý địaphương) Song người giáo viên cần phải trình bày được những đặc điểm về điều kiện địa lý tựnhiên nói chung và của từng thành phần tự nhiên, những đặc trưng về dân cư kinh tế – xã hội ,đặc điểm phát triển kinh tế và từng ngành kinh tế của địa phương tỉnh nhà

Kết hợp với những hoạt động thực hành, tham quan, khảo sát địa phương, giờ học trênlớp phải hệ thống hóa được những điều mà học sinh đã biết một cách rời rạc, lẻ tẻ để kháiquát thành những vấn đề mang tính quy luật, giúp các em hiểu sâu sắc hơn bản chất các sự vật

- Địa lý địa phương – hiện tượng địa lý ở địa phương mình Dựa vào hệ thống câu hỏi ởchương trình III sách giáo khoa Địa lý 9 NXBGD năm 2000 và các bài học cụ thể trong tập tàiliệu này giáo viên xây dựng một đề cương bài giảng theo các bước sau:

-Vị trí, giới hạn diện tích lịch sử phát triển lãnh thổ và đánh giá ý nghĩa của các yếu tốtrên đối với sự phát triển kinh tế – xã hội trong tỉnh:

+Đánh giá điều kiện tự nhiên: Phân tích từng yếu tố (địa chất, địa hình, khoáng sản, khíhậu thủy văn, thổ nhưỡng, động thực vật, các khu vực tự nhiên), nêu ý nghĩa kinh tế và khảnăng khai thác các yếu tố đó Đánh giá tổng hợp những thuận lợi và khó khăn chính của điềukiện tự nhiên, phương hướng và triển vọng khai thác, sử dụng chúng vào mục đích phát triểnkinh tế tỉnh nhà

Để dạy tốt hai phần trên, giáo viên nên sử dụng bản đồ tự nhiên và bản đồ hành chính(Việt Nam và tỉnh Cà Mau), các sưu tập về mẫu đất đá, khoáng sản, tiêu bản thực vật có ýnghĩa trong sự phát triển kinh tế, các loại tranh ảnh về tự nhiên và các cảnh quan điển hìnhtrong tỉnh

+Những vấn đề về dân cư, kết cấu dân cư phân bổ dân cư và các hình thái cư trú: ởphần nầy, giáo viên trước hết cần nêu lên vai trò ý nghĩa của dân số trong sự phát triển kinh tếcủa tỉnh nhà, sau đó phân tích các khía cạnh của dân cư, đánh giá chung về sự phát triển dân

số của tỉnh nhà so với của cả nước, phương hướng điều khiển dân số Giáo viên cần làm rõcấu trúc dân số theo độ tuổi, đặc biệt là nguồn lao động và việc sử dụng lao động ở địaphương

Để minh họa cho bài giảng, giáo viên có thể sử dụng bản đồ dân cư (Việt Nam và tỉnh

Cà Mau), xây dựng một số biểu đồ, bảng thống kê từ việc tìm hiểu địa phương, sưu tầm một

số tranh ảnh về các dân tộc Khơme, Hoa (nếu có), các điểm dân cư nông thôn và đô thị tiêubiểu

*Về kinh tế: Phân tích các mặt:

+Đặc điểm chung về phát triển kinh tế của tỉnh

+Sự chuyển biến trong cơ cấu và phân bố các ngành kinh tế quan trọng, sự phân hóacủa chúng theo lãnh thổ

+Các chính sách kinh tế và xu hướng phát triển kinh tế của tỉnh nhà trong tương lai.+Công nghiệp: Cần phân biệt các Xí nghiệp công nghiệp Trung ương với các Xí nghiệpcông nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp

Giáo viên cần làm rõ tình hình phát triển, các ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp quan trọng, sự phân bố theo lãnh thổ Đặc biệt nên giới thiệu cho học sinh cácsản phẩm truyền thống của tỉnh nhà

+Nông nghiệp: Những biến đổi về cơ cấu và phân bố sản xuất nông nghiệp, những câytrồng và vật nuôi chủ yếu, các vùng chuyên canh Đây là vấn đề hiện nay đang được quan tâm

ở tỉnh ta, vì vào ngày 27/7/2000 vừa qua UBND tỉnh Cà Mau đã có Quyết định số 14/2000/QĐ-UB về việc điều chỉnh quy hoạch sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tỉnh Cà Mau

Trang 5

+Giao thông vận tải: Nêu đặc điểm chung, tổng chiều dài các loại đường và chức năngcủa nó, các đầu mối giao thông quan trọng, khối lượng hàng hoá, người vận chuyển và luânchuyển trong tỉnh.

+Thương mại – dịch vụ: Nêu tính chất, đặc điểm và sự phân bố không gian của hoạtđộng thương mại, dịch vụ và xu hướng phát triển của tỉnh ta

Ở phần này giáo viên nên kết hợp sử dụng bản đồ kinh tế chung của tỉnh với xây dựngcác biểu đồ, bảng thống kê và tình hình phát triển các ngành kinh tế, tranh ảnh minh hoạ Kết luận: Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn của các điều kiện tự nhiên,dân cư xã hội đối với sự phát triển kinh tế tỉnh nhà Vị trí kinh tế (Tỉnh nhà) so với các tỉnhxung quanh và toàn quốc

b-Sử dụng tài liệu địa lý địa phương tỉnh Cà Mau này trong bài giảng địa lý:

Việc sử dụng tài liệu địa lý địa phương Cà Mau này có thể tiến hành bằng hai cách: kếthợp trong khi giảng đối với những bài có nội dung gắn với nội dung của tài liệu địa lý địaphương Cà Mau và gắn thực tiễn địa phương vào nội dung bài giảng

Sử dụng hai hình thức trên vào việc giảng dạy địa lý sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao

vì khi bài giảng có nhiều tài liệu thực tế ở địa phương tỉnh ta, nhất là gần với học sinh cư trúthì sẽ sống động, dễ hiểu với học sinh

Những kiến thức địa lý địa phương Cà Mau sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn những kháiniệm địa lý, bổ sung và cụ thể hoá những kiến thức tiếp thu trên lớp, đặc biệt có thể gây chohọc sinh sự hứng thú, lòng ham mê hiểu biết, muốn đóng góp sức mình vào việc làm cho địaphương tỉnh, huyện, xã mình giàu có, tiến bộ

Ngay trong các bài giảng về địa lý các Châu, sự liên hệ và so sánh theo nguyên tắc trên

sẽ giúp cho giáo viên rất nhiều trong việc mô tả những miền đất xa lạ, những vần đề kinh tếmới mẻ, làm cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh được dễ dàng

Để gắn những kiến thức địa lý địa phương Cà Mau vào nội dung bài giảng được tốt,giáo viên phải xuất phát từ những kiến thức cụ thể như sách giáo khoa và nội dung khoa họccủa bài giảng, nếu không sẽ dẫn đến sự liên hệ với địa lý địa phương Cà Mau một cách gượng

ép, chủ quan, thiếu khoa học và không tác dụng

2-Dạy địa lý địa phương Cà Mau ở ngoài lớp:

Song song với việc dạy trên lớp, có thể dạy địa lý địa phương Cà Mau ở ngoài lớp vớicác hình thức thực hành ngoài trời (hay ở trong trường), tham quan, cắm trại Đề giúp họcsinh có những hiểu biết cụ thể về quê hương mình và gây được sự say mê hứng thú cho các

em qua môn học địa lý địa phương, giáo viên nên hướng việc dạy ngoài trời vào một số nộidung sau:

-Tìm hiểu các đặc điểm về tự nhiên , môi trường ở địa phương nơi trường đóng, hoặcnơi học sinh cư trú

-Tìm hiểu các vấn đề về sử dụng và bảo vệ đất, rừng, nước sạch và môi trường ở địaphương

-Tìm hiểu các vấn đề về dân cư và những khía cạnh xã hội ở địa phương: phong tục, tậpquán, truyền thống văn hoá, sản xuất, tình hình phát triển dân số

-Tìm hiểu sự hoạt động của các ngành kinh tế chủ yếu ở địa phương

Sau đây là một số hình thức dạy địa lý địa phương Cà Mau ở ngoài lớp:

a-Xây dựng một số bài thực hành ở vườn địa lý hoặc ngoài thực địa:

Một số bài học về địa lý tự nhiên đại cương và Việt Nam có thể cho học sinh thực hành

ở vườn trường (đo nhiệt độ, ẩm, gió ) hay tập quan sát, theo dõi các hiện tượng, sự vật, sựviệc địa lý ngoài thực địa để giúp các em hiểu sâu hơn nội dung bài giảng của giáo viên,thông qua các bài thực hành, học sinh còn hiểu rõ hơn về đặc điểm tự nhiên của địa phương.Ngoài ra còn tạo cho các em thói quen quan sát để tìm hiểu, nắm vững kiến thức, cách phântích, nhận xét và nếu có điều kiện tổng hợp, đánh giá, rút ra những kết luận cần thiết cho việclao động sản xuất trên quê hương mình

b-Tổ chức đi tham quan ở các địa phương trong tỉnh:

Trang 6

Hình thức tham quan có tác dụng nhiều mặt về giáo dục tư tưởng, thẩm mỹ, trao đổihọc vấn Để đạt được những mục đích trên, người giáo viên cần phải xác định rõ nội dung kếhoạch và phương pháp tiến hành đợt tham quan.

-Nội dung tham quan phải phù hợp với yêu cầu tìm hiểu địa lý địa phương, ngoài ra cònnhằm gây hứng thú cho học sinh

-Phương pháp tiến hành phải tuỳ thuộc vào nội dung, nếu yêu cầu của chuyến thamquan là minh họa, bổ sung cho bài giảng về địa lý địa phương tỉnh nhà thì phải thực hiện saukhi giảng dạy xong phần lý thuyết

Thí dụ: Tham quan thực tế sản xuất nông nghiệp ở một xã (hay một huyện)

Nghiên cứu sự phát triển nông nghiệp của một địa phương không thể không nghiên cứucác điều kiện tự nhiên, nhất là đánh giá các điều kiện đó Vì thế trước khi tham quan, học sinhphải được giới thiệu những đặc điểm về tự nhiên (địa hình, khí hậu, đất đai ) và những đặcđiểm dân cư, xã hội ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Học sinh cũng cần được giới thiệu trước một số vấn đề có liên quan đến sản xuất nôngnghiệp ở địa phương như: ý nghĩa và vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với nền kinh tế củahuyện (hoặc tỉnh), những đặc điểm về điều kiện tự nhiên , kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến sựphát triển nông nghiệp (cơ cấu, phân bố), các ngành sản xuất chính (cây trồng, vật nuôi), diệntích, năng suất, sản lượng nông nghiệp hàng năm và đánh giá hiệu quả Những khả năng vànhững hạn chế trong phát triển nông nghiệp của địa phương

Sau buổi tham quan, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thảo luận, trao đổi những thuhoạch Cuối cùng giáo viên gợi ý học sinh sắp xếp những tài liệu đã sưu tầm, chuẩn bị báocáo tổng kết vấn đề mà cuộc tham quan đã đặt ra

c-Khảo sát địa lý địa phương Cà Mau:

Trong việc dạy học địa lý ở nhà trường phổ thông, khảo sát địa lý địa phương có một ýnghĩa rất lớn, đặc biệt đối với việc dạy và học địa lý địa phương Chính vì vậy, khảo sát địa lýđịa phương đã được qui định cụ thể và dành một số tiết nhất định trong chương trình lớp 6 (2tiết) Khảo sát địa lý địa phương Cà Mau hay tìm hiểu địa lý địa phương Cà Mau là một phầncủa chương trình nhưng dạy dưới hình thức ngoài lớp Nó không phải là những bài trên lớp có

hệ thống mà chỉ là một hoạt động được thực hiện trong chương trình của mỗi khối lớp trongnăm học

Công tác khảo sát địa lý địa phương tỉnh nhà được tiến hành dưới sự hướng dẫn, tổchức, chỉ đạo của giáo viên , chính vì vậy kết quả phụ thuộc rất nhiều vào trình độ kiến thức,trình độ hiểu biết địa lý địa phương của giáo viên, vào khả năng hướng dẫn, động viên làmcho học sinh thích thú với công tác khảo sát

*Nội dung của công tác khảo sát địa lý địa phương trong tỉnh:

+Khảo sát những hiện tượng và quá trình địa lý cụ thể xảy ra ở môi trường xung quanhtrường đóng Từ những mẫu hình sống động, học sinh sẽ có những biểu tượng, khái niệm rõràng về tự nhiên, dân cư, kinh tế của địa phương mình Từ đó có thể suy ra những hiện tượng

và quá trình tương tự về địa lý xảy ra ở xa hơn, trên mọi miền đất nước cũng như trên thếgiới

+Đối với học sinh phổ thông trung học, cùng với việc khảo sát địa lý địa phương củahuyện, tỉnh một cách hệ thống là việc liên hệ những kiến thức được học ở trường với cuộcsống xung quanh và vận dụng chúng vào thực tiễn

* Hình thức tiến hành khảo sát địa lý địa phương trong tỉnh:

+Tổ chức các buổi khảo sát tập trung cho tất cả học sinh dưới sự hướng dẫn của giáoviên

+Tổ chức các hoạt động độc lập của nhóm, tổ, qua đó phát huy được tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh

*Các phương pháp tiến hành khảo sát địa lý địa phương:

Trong quá trình khảo sát địa lý địa phương tỉnh nhà có thể áp dụng một số phương phápsau:

+Phương pháp đi thực địa

Trang 7

+Phương pháp điều tra, tìm hiểu qua nhân dân địa phương.

+Phương pháp nghe báo cáo

+Phương pháp phân tích, sử dụng tài liệu (tài liệu, số liệu, bảng biểu thống kê, bản đồ,tranh ảnh )

Do học sinh ở các khối lớp có trình độ nhận thức khác nhau, nên khi đề ra các yêu cầukhảo sát cũng cần phải chọn lọc, sao cho phù hợp với khả năng và với hiểu biết của học sinh.Thí dụ: đối Với các lớp ở trung học cơ sở, giáo viên nên cho các đề tài khảo sát về địa lý tựnhiên địa phương, chú ý đến các sự vật, hiện tượng cụ thể Đối với học sinh phổ thông trunghọc, nên chọn các đề tài địa lý, kinh tế – xã hội, những đề tài có mối quan hệ tự nhiên và kinhtế

Sau khi hoàn thành việc khảo sát địa lý địa phương, giáo viên cần giúp học sinh rút rakết luận, viết báo cáo hay chuẩn bị hội thảo

d-Nghiên cứu địa lý địa phương:

Việc nghiên cứu địa lý địa phương đối với học sinh phổ thông nhằm tạo điều kiện chocác em tiếp xúc với tự nhiên, với môi trường xung quanh mình, với các hoạt động sản xuất Qua đó giúp các em nhận thức rõ các khái niệm, các quy luật địa lý đã đựợc học tập trên lớp.Nghiên cứu địa lý địa phương được coi như một bộ phận của giáo dục hướng nghiệp, cómối quan hệ chặt chẽ với các bộ môn khoa học cơ sở khác (như sinh vật, hoá học, lịch sử ).Nghiên cứu địa lý địa phương có giá trị giáo dục rất lớn, làm cho học sinh hiểu biết về quêhương và có thái độ đúng đắn về những vấn đề mà quê hương đang đặt ra cần giải quyết.e-Các hoạt động khác trong dạy và học địa lý địa phương của tỉnh nhà:

+Tổ chức những buổi sinh hoạt khoa học về những vấn đề của địa lý địa phương: đây

là một hình thức cuốn hút những học sinh đứng ngoài tổ chức nghiên cứu địa lý địa phương,thu hút các em vào một hoạt động bổ ích, lý thú Hoạt động này nhất thiết phải có sự hướngdẫn, chỉ bảo của giáo viên nhằm đạt được mục đích đề ra Các sinh hoạt này có thể tổ chứcmỗi học kỳ một lần

+Tổ chức dạ hội địa lý địa phương : các dạ hội địa lý nói chung và dạ hội địa lý địaphương nói riêng làm cho các em dễ dàng tiếp thu bài trên lớp và yêu thích môn địa lý Trongchương trình buổi dạ hội có thể tổ chức hái hoa trả lời các câu hỏi chuẩn bị trước nhằm giúphọc sinh nắm vững địa lý, lịch sử, hoạt động kinh tế địa phương Thí dụ như các câu hỏi về ýnghĩa các địa danh, các sự kiện lịch sử, các sản vật nổi tiếng của địa phương, số dân của địaphương và những ngành nghề truyền thống của nhân dân ở địa phương

+Xây dựng góc địa lý địa phương :

Góc địa lý địa phương là nơi trưng bày có chọn lọc những mẫu đất, hoa lá, côn trùng,mẫu khảo cổ, những tài liệu thu thập được, các sổ tay ghi chép, các sản phẩm tiêu biểu của địaphương

Góc địa lý địa phương có một tầm quan trọng rất lớn trong quá trình giáo dục và giáodưỡng cho học sinh trong nhà trường Những hiện vật trưng bày ở đây có thể dùng làm tàiliệu để chứng minh cũng như so sánh khi học về các điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế củacác địa phương khác ở trong nước hay ở các nước khác Trên cơ sở của các tài liệu trực quantrưng bày trong góc địa lý ở địa phương giúp học sinh có những nhận thức từ cụ thể đến tưduy trừu tượng và có thể vận dụng vào thực tiễn

Những hiện vật của góc địa lý địa phương còn góp phần giáo dục lòng yêu nước, yêuquê hương cho học sinh và có ý thức xây dựng quê hương, bảo vệ tự nhiên, bảo vệ môi trườngsống, bảo vệ của cải vật chất do cha mẹ, bà con xóm giềng tạo ra

Sự hình thành góc địa lý địa phương cần theo một thứ tự và mục đích nhất định Nêntrình bày các hiện vật và tài liệu địa lý tự nhiên trước rồi tiếp đến kinh tế và lịch sử địaphương Mục đích của việc trình bày cần hướng người xem tìm hiểu ngày càng sâu về quêhương Cần kết hợp giữa trình bày hiện vật với các biểu đồ, bản đồ, tranh ảnh

Góc địa lý địa phương là một công cụ hữu ích để giáo dục tư tưởng cho học sinh vànâng cao chất lượng đào tạo học sinh về mọi mặt

Trang 8

IV-CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG CÀ MAU

Gồm có ba chương và 20 bài cụ thể như sau:

CHƯƠNG I : ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN TỈNH

CÀ MAU

Bài 1 : Vị trí lãnh thổ và Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau

Bài 2 : Lịch sử thành tạo và địa hình Cà Mau

Bài 3 : Khí hậu tỉnh Cà Mau

Bài 4 : Biển, sông, rạch, nước ngầm ở Cà Mau

Bài 5 : Đất trồng ở Cà Mau

Bài 6 : Thực vật - Động vật ở Cà Mau

Bài 7 : Các cảnh quan tự nhiên ở Cà Mau

Bài 8 : Đặc điểm chung thiên nhiên Cà Mau

CHƯƠNG II : ĐỊA LÝ DÂN CƯ CÀ MAU

Bài 9 : Dân số – Phân bố dân số – Gia tăng dân số

Bài 10 : Kết cấu dân số – Dân tộc ở Cà Mau

CHƯƠNG III : ĐỊA LÝ KINH TẾ CÀ MAU

Bài 11: Đặc điểm chung của nền kinh tế Cà Mau

Bài 12 : Địa lý nông nghiệp Cà Mau

Bài 13 : Ngành trồng trọt ở Cà Mau

Bài 14 : Ngành chăn nuôi ở Cà Mau

Bài 15 : Địa lý ngư nghiệp ở Cà Mau

Bài 16 : Địa lý Lâm nghiệp ở Cà Mau

Bài 17 : Địa lý công nghiệp Cà Mau

Bài 18 : Địa lý giao thông vận tải ở Cà Mau

Bài 19 : Địa lý thương mại và dịch vụ Cà Mau

Bài 20 : Các vùng kinh tế Cà Mau

Trang 9

điểm cực Bắc : 9 o 33’ Bắc (thuộc xã Biển Bạch, Thới Bình) Theo đường chim bay, từ Bắctới Nam : 100 km Điểm cực Đông: 105 o 24’ độ kinh đông (xã Tân Thuận, Đầm Dơi), điểmcực Tây: 104 o 43’ đông (xã Đất Mũi, Ngọc Hiển) Từ Tây sang Đông: 68 km.

Vùng biển chủ quyền gần 100 ngàn km2, trong đó có nhiều đảo: Hòn đá Bạc (Trần VănThời), Hòn Chuối, Hòn Buông (Cái Nước), thuộc Biển Tây; Hòn Khoai (Ngọc Hiển) thuộcBiển Đông Hòn Khoai là một cụm đảo gồm 4 đảo: Đảo Đồi mồi, Hòn Sao, Hòn Gò và lớnnhất là Hòn Khoai Cụm đảo cách đất liền khoảng 18 km, với diện tích xấp xỉ 5 km2

Cà Mau tiếp giáp với các tỉnh: Kiên giang ở phía Bắc (63 km), Bạc Liêu ở phía Đông(75 km) Còn tiếp giáp 2 biển: phía Tây giáp Biển Tây (Vịnh Thái lan), phía Đông nam vàNam giáp Biển Đông Bờ biển dài 251 km

Với vị trí giáp biển 2 mặt, Cà Mau như một bán đảo nằm ở vĩ độ địa lý thấp, tính cậnxích đạo trong thiên nhiên khá đặc trưng Tuy vậy, do cách các trung tâm kinh tế lớn quá xa(Thành phố Hồ Chí Minh 350 km, Cần Thơ 180 km) Cà mau sẽ có ít cơ hội được hưởng sứclan toả của các trung tâm trên

1-Giới thiệu vị trí địa lý và giới hạn lãnh thổ (phần đất nổi) của tỉnh Cà Mau ?

2-Xếp theo thứ thự giảm dần về diện tích, dân số của các huyện, thành phố trong tỉnh ?3-Thực hành cho học sinh tìm hiểu và giới thiệu vế vị trí địa lý, giới hạn diện tích, dân

số trong huyện, xã nơi học sinh cư trú

TÊN HUYỆN, THÀNH PHỐ, XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN TRONG TỈNH (ĐẾNCUỐI NĂM 2000)

*Thành phố Cà Mau : có 8 phường và 7 xã gồm:

Phường 1, Phường 2, Phường 4, Phường 5, Phường 6, Phường 7, Phường 8, Phường 9,

Xã Tắc Vân, Xã Tân Thành, Xã Định Bình, Xã Hoà Thành, Xã Hoà Tân, Xã Lý Văn Lâm, Xã

An Xuyên

*Huyện Thới Bình : có 1 thị trấn và 9 xã gồm:

Thị Trấn Thới Bình, Xã Tân Lộc, Xã Tân Lộc Bắc, Xã Tân Lộc Đông, Xã Biển Bạch,

Xã Biển Bạch Đông, Xã Tân Phú, Xã Hồ Thị Kỷ, Xã Trí Phải, Xã Thới Bình

*Huyện U Minh : có 1 thị trấn và 5 xã gồm:

Thị Trấn U Minh, Xã Khánh an, Xã Nguyễn Phích, Xã Khánh Lâm, Xã Khánh Hoà, XãKhánh Tiến

*Huyện Trần Văn Thời : có 2 thị trấn và 9 xã gồm:

Thị Trấn Sông Đốc, Thị Trấn Trần Văn Thời, Xã Khánh Bình, Xã Lợi An, Xã KhánhHải, Xã Khánh Bình Đông, Xã Khánh Hưng, Xã Khánh Bình Tây, Xã Khánh Bình Tây Bắc,

Xã Trần Hợi, xã Phong Lạc

*Huyện Cái Nước : có 2 thị trấn và 12 xã gồm:

Thị Trấn Cái Nước, Thị Trấn Cái Đôi Vàm , Xã Phú Hưng, Xã Lương Thế Trân, XãTân Hưng, Xã Tân Hưng Đông, Xã Tân Hưng Tây, xã Đông Thới, Xã Trần Thới, Xã Phú Mỹ,

Xã Phú Tân, Xã Hưng Mỹ, Xã Việt Khái, Xã Việt Thắng

*Huyện Đầm Dơi : có 1 thị trấn và 12 xã gồm:

Thị Trấn Đầm Dơi, Xã Tân Duyệt, Xã Tân Đức, Xã Nguyễn Huân, Xã Tạ An Khương,

Xã Tạ An Khương Nam, Xã Tạ An Khương Đông, Xã Trần Phán, Xã Quách Phẩm, Xã QuáchPhẩm Bắc, Xã Tân Thuận, Xã Tân Tiến, Xã Thanh Tùng

*Huyện Ngọc Hiển : có 1 thị trấn và 12 xã gồm:

Trang 10

Thị Trấn Năm Căn, Xã Đất Mới, Xã Hàm Rồng, Xã Hàng Vịnh, Xã Hiệp Tùng, XãTam Giang, Xã Tam Giang Đông, Xã Tam Giang Tây, Xã Tân Ân, Xã Viên An, Xã Viên AnĐông, Xã Tân Ân Tây, Xã Đất Mũi.

Toàn tỉnh có 6 huyện, 1 thành phố, 66 xã, 8 phường, 8 thị trấn

(Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau – 1997)

Bài 2

LỊCH SỬ THÀNH TẠO VÀ ĐỊA HÌNH CÀ MAU

Là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, lịch sử thành tạo Cà Mau gắn liền vớilịch sử thành tạo khu vực

Nhiều tài liệu nghiên cứu địa chất Đồng bằng sông Cửu Long đã ghi nhận: cách đâykhoảng 6 triệu năm, vào chu kỳ tạo sơn Tân sinh, toàn khu vực đã chìm xuống biển, hìnhthành các bồn nhận trầm tích Nêôgan và đệ tứ Khu vực lại được nổi lên vào thời kỳ tiền băng

hà Hôlôxen (mực nước biển thấp hơn hiện nay khoảng 120 m), lục địa Châu á rộng tớiXumatơra (Inđônêxia)

Thời kỳ băng tan (cách đây 17 đến 20 ngàn năm) mực nước biển dâng lên tới độ caocực đại (khoảng 5 ngàn năm trước), mực nước biển cao hơn hiện nay từ 4 đến 5 m Toàn bộkhu vực lại chìm dưới biển Cùng với sự sụp võng của tầng phù sa cổ, Pleistoxen và đóng góp

to lớn trong sự bồi đắp của biển và sông Mê Kông, tầng vật liệu giàu sét Hôlôxen càng dầylên Sự sụp võng không đều của tầng Pleistoxen làm thành tạo Hôlôxen càng dày khi tiến vềphía Nam Khu vực Bạc Liêu, Cà Mau lớp trầm tích này dày hàng trăm mét Thời kỳ sau đó làbiển thoái; mực nước hạ thấp dần, các lớp trầm tích mới có nguồn gốc khác nhau hình thành,phủ lên trầm tích biển (trầm tích sông, trầm tích sông biển, trầm tích lòng sông cổ, trầm tíchđầm lầy – Biển, trầm tích than bùn )

Cách đây khoảng 2.500 năm, phần lớn Đồng bằng sông Cửu Long đã được nổi lên vàđược phủ các cánh rừng ngập mặn hoặc ngập lợ Riêng đồng bằng rìa châu thổ (vùng bán đảo

Cà Mau) vẫn tiếp tục nhận sự bồi tụ của các dòng phù sa ven bờ, vừa mở rộng đồng bằng, vừanâng cao bề mặt

Với thềm lục địa mở rộng, biển nông và bãi biển thoải, dòng Biển Đông –Bắc ổn địnhvận chuyển vật liệu bồi tụ, mở rộng nhanh vùng Đất mũi Cà Mau Đoạn từ Đất mũi đến BảyHáp mỗi năm bồi mở thêm 40 đến 50 m Đất bãi bồi rộng cả chục ngàn hecta Bên cạnh đó,cũng còn những đoạn bờ biển đang diễn ra quá trình sụp lở Đoạn bờ biển sụp lở quan trọngnhất là từ Gành Hào tới Hố Gùi: 33,4 m/ năm ; Nam Hố Gùi tới Bắc Vàm Sấy: 22,6 m/ năm Trung bình mỗi năm diện tích đất lở của tỉnh lên tới hàng trăm hecta

Nằm xa đới bồi tụ trực tiếp và thường xuyên của sông Cửu long nên Cà Mau có địahình thấp Phần lớn lãnh thổ Cà Mau thuộc đồng bằng thấp, khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,5

m – 1,5 m Hướng địa hình nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam.Những vùng trũng cục bộ Thới Bình, Cà Mau nối liền với Hồng Dân, Giá Rai (thuộc tỉnh BạcLiêu) thuộc vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau , quan hệ với địa hình lòng sông cổ Những

ô trũng U Minh, Trần Văn Thời là những vùng trũng treo nội địa được giới hạn bởi đê tựnhiên của các dòng sông Ông Đốc, sông Cái Tàu, sông Trẹm và gờ đất cao ven Biển Tây.Con người thông qua hoạt động sản xuất cũng tác động rất lớn tới địa hình tự nhiên củatỉnh Hàng trăm km kinh mương, đường xá với hàng triệu mét khối đất được đào trong nhiềuthế hệ đã làm thay đổi đáng kể hình dạng bề mặt đồng bằng

Bộ phận đảo ở Biển Tây và Biển Đông tuy diện tích nhỏ (xấp xỉ 0,1% diện tích đất liềncủa tỉnh) Đây là những mảnh sót của tầng nham cổ sụt võng Nhiều tài liệu ghi nhận tuổi

Trang 11

tuyệt đối của nó tới hơn 180 triệu năm(thuộc jura giữa trung sinh) Hòn Buông có đỉnh cao 50

m, Hòn Chuối 150 m, Hòn Khoai tới 318 m Những đảo này có vị trí hết sức quan trọng trongviệc khai thác biển, phát triển du lịch và bảo vệ chủ quyền

Câu hỏi:

1-Lịch sử thành tạo Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Địa hình Cà Mau có đặc điểm gì ? Tại sao có đặc điểm đó ?

3-Thực hành: Cho học sinh quan sát địa hình nơi học sinh cư trú, cho ý kiến nhận xét và

có so sánh với địa hình trong tỉnh

Bài 3

KHÍ HẬU TỈNH CÀ MAU

Lãnh thổ Cà Mau trái từ 8o25’ Bắc (Hòn Khoai) tới 9o33’ Bắc, Cà Mau thuộc lãnh thổnội chí tuyến bắc bán cầu, gần xích đạo, đồng thời lại nằm trong khu vực gió mùa Châu á Vịtrí trên, xác định tính chất cận xích đạo, gió mùa rất đặc trưng trong khí hậu của tỉnh Đặcđiểm chung của khí hậu ở đây là có nền nhiệt cao và ổn định, có lượng mưa lớn theo mùa vàthất thường

Thời gian chiếu sáng thiên văn dài, tháng thấp nhất cũng 11,5 giờ/ngày, trung bình caonhất là 12,5 giờ/ngày Tổng số giờ chiếu sáng thiên văn có thể lên tới 4.383 giờ/ năm Song sốgiờ nắng thực tế trung bình năm chỉ là trên dưới 2.200 giờ/năm Tại Cà Mau tổng số giờ nắngthực tế trung bình năm là 2.269 giờ Như vậy số giờ nắng thực tế chỉ bằng 50 đến 60% thờigian chiếu sáng thiên văn Nguyên nhân chính do vân độ trên bầu trời của tỉnh thường cao,trung bình trên 7/10 Số giờ nắng thực tế của tỉnh Cà Mau thấp hơn so với nhiều địa phươngtrong khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ 2.400 giờ, Sóc Trăng 2.500 giờ) Phânphối giờ nắng chi thành hai mùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, số giờ nắng mỗitháng đều lớn hơn 200 giờ, trung bình 7,6 giờ/ ngày Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, trungbình là 5,1 giờ/ngày

3-Nhiệt độ:

Nhiệt độ không khí ở tầng thấp của tỉnh nhìn chung cao và ổ định Nhiệt độ trung bìnhnăm thường xê dịch từ 26o đến 27oC So với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau cónhiệt độ trung bình năm vào loại thấp (Sóc Trăng 27o, Cần Thơ xấp xỉ 27o, An Giang 27,2o,Kiên Giang 27,5o) Phân phối nhiệt độ không đều trong năm, tháng nóng nhất là tháng 4khoảng 27,8oC, tháng lạnh nhất là tháng 01 khoảng 25oC Biên độ nhiệt năm thấp khoảng2,8oC Biên độ nhiệt ngày khá cao, trung bình từ 6,5 đến 7,5oC Vào mùa khô biên độ nhiệtngày thường cao, từ 8 đến 10oC, tháng 03 và tháng 04 lên tới trên 10oC Biên độ nhiệt nămnhỏ hơn biên độ nhiệt ngày là đặc trưng của khí hậu cận xích đạo

Trang 12

Nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên tới 38o3 (tháng 4/1941 tại Cà Mau), nhiệt độ tối thấptuyệt đối là 15o3 (tháng 1/1963) Đây là những trường hợp rất hiếm.

Trong phạm vi lãnh thổ hẹp, địa hình khá đồng nhất và bằng phẳng, thấp, sự biến thiênnhiệt độ theo không gian trong tỉnh không rõ ràng

4-Tổng nhiệt hoạt động (tổng tích ôn):

Tồng nhiệt của tỉnh thường xấp xỉ 9.800oC, so với các tỉnh trong khu vực, Cà Mau cótổng nhiệt thấp hơn (Sóc Trăng 9.813oC, Bến Tre 9.904oC, An Giang 9.910oC, Kiên Giang10.044oC) Từ tháng 3 đến tháng 10 có tổng nhiệt lớn hơn 800oC Từ tháng 11 đến tháng 12năm sau tổng nhiệt thường nhỏ hơn 800oC Tháng có tổng nhiệt lớn nhất là tháng 5 (868oC),thấp nhất là tháng 2 (722,4oC) Với tổng nhiệt năm trên, Cà Mau có thể phát triển được 3 vụcây trồng nhiệt đới trong năm

5-Nhiệt độ đất:

Nhiệt độ đất trung bình năm thường biến thiên trong khoảng từ 29 đến 30oC Nhữngtháng 2, 3, 4, 5 thường trên 30oC Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (32,5oC)tháng có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối (tháng5) lên tới 68oC Từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau,nhiệt độ đất thường xê dịch trong khoảng 28o5 đến 28o7, nhiệt độ trung bình thấp nhất rơivào tháng 1 (21o1), nhiệt độ thấp nhất tuyện đối 16o9 (vào tháng 1/1963)

Biên độ nhiệt đất lúc thấp nhất và cao nhất tuyệt đối lên đến 51,1oC

Cà Mau thường diễn ra theo đợt Trong mùa mưa thường có 5 đến 7 đợt mưa gắn liền với thời

kỳ diện hội tụ nhiệt đới hoạt động trong khu vực hoặc thời kỳ xuất hiện các áp thấp trên biểnĐông và đang di chuyển vào đất liền Mỗi đợt mưa có thể kéo dài từ 10 đến 25 ngày, lượngmưa mỗi đợt thường từ 150 đến 250 mm Khác với một số tỉnh (Bạc Liêu, Sóc Trăng ) CàMau ít xuất hiện “hạn Bà chằng”

Lượng mưa phân phối không đều theo các vùng trong tỉnh, giảm dần từ Tây sang Đông.Khu vực ven biển Tây thường có lượng mưa lớn hơn 2.400 mm, vùng trung tâm khoảng từ2.200 đến 2.400mm, khu vực phía Đông có lượng mưa nhỏ hơn 2.200 mm, (bộ phận của tỉnhgiáp Bạc Liêu, thuộc Đầm Dơi có lượng mưa nhỏ hơn 2.200 mm) Thời gian mùa mưa, sốngày mưa và số giờ mưa cũng giảm dần từ Tây sang Đông

Lượng bốc hơi trung bình của tỉnh trên dưới 1.000 mm/năm Những tháng mùa mưalượng bốc hơi thường nhỏ hơn 80 mm/tháng, thấp nhất vào tháng 10 (58 mm/tháng) Nhữngtháng mùa khô lượng bốc hơi cao thường trên 100 mm/tháng Tháng có lượng bốc hơi caonhất: tháng 3 (126 mm/tháng), trung bình ngày hơn 4 mm

Độ ẩm tương đối của lớp không khí tầng thấp nhìn chung cao Độ ẩm tương đối trungbình năm tại Cà Mau là 84.4% Những tháng vào mùa khô có độ ẩm tương đối thấp

III-CHẾ ĐỘ GIÓ:

Hoàn lưu khí quyển tầng thấp đã xác lập chế độ gió của tỉnh, một điều lý thú là hướnggió ở đây hoàn toàn không chịu sự chi phối của yếu tố địa hình Chế độ hoàn lưu mùa đãquyết định chế độ gió

+Gió mùa hạ: Từ tháng 6 đến tháng 9, hướng gió ưu thế là Tây và Tây Nam với tần suấtgần tương đương Hai hướng gió Tây và Tây Nam chiếm từ 70 đến 90%, số thời gian có giótrong những tháng mùa hạ Hướng gió chính này hoàn toàn phù hợp với sự có mặt của khốiTBg hoặc EM (Tây bengan và khối khí xích đạo) Ngoài Tây và Tay Nam còn xuất hiện gió

Trang 13

nam với tần suất từ 7 đến 12%, gió Tây Bắc từ 5 đến 7% Những gió có thành phần đôngchiếm một tần suất không đáng kể.

+Gió mùa đông: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, hướng gió thịnh hành vào mùa này

là gió đông Tần suất trung bình là 43% Riêng những tháng 1, 2, 3, gió đông chiếm từ 50 đếnhơn 60% Bên cạnh hướng gió chính này còn có gió đông bắc (tháng 11, 12) với tần suất hơn30%, gió đông nam (vào những tháng 2, 3, 4) với tần suất từ 23 đến 33%, gió bắc (tháng11,12) hơn 20% Gió có thành phần tây có tần suất không đáng kể (tháng11) 6,4% Những thángchuyển tiếp giữa chế độ gió mùa hạ và chế độ gió mùa đông là tháng 5 xuất hiện gió tây nam59%, gió đông và bắc 41% Tháng chuyển tiếp từ chế độ gió mùa hạ đến chế độ gió mùa đông

là tháng 10 Ngoài ra còn xuất hiện hướng gió có thành phần bắc 20% thành phần nam 13%.Ngoài chế độ gió do hoàn lưu trong khu vực lớn, Cà Mau còn có chế độ gió địaphương: gió đất, gió biển do sự chênh lệnh về khí áp giữa lục địa và biển trong ngày Gió địaphương ở ven biển hoạt động khá mạnh giữa thời gian chuyển tiếp ngày và đêm hoặc thời kỳchuyển tiếp mùa

Vận tốc gió trung bình từ 1,5 đến 2m / giây Những tháng gió có vận tốc lớn là tháng 2,

3 Thời gian gió thổi mạnh nhất 13 giờ, ở vùng ven biển có thể có tốc độ trung bình hơn 3m/giây Những ngày lặng gió trong năm chiếm khoảng 30%

IV-CÁC HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT ĐẶC BIỆT:

1-Dông:

Ngoài chế độ gió mùa, Cà Mau còn có nhiều ngày có dông, gió mạnh từ cấp 7, 8 thậmchí tới cấp 10, 11, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất và sinh hoạt Mùa dông từ tháng 4 đếntháng 10 Hai cực đại thường xảy ra vào tháng 5 và tháng 8 phù hợp với thời kỳ khối TBgthịnh hành trong khi nhiệt độ mặt đất còn cao và thời kỳ CIT (điện hội tụ nhiệt đới) hoạt độngvới các xoáy áp thấp được hình thành trên dải này dông nhiệt thường xuất hiện vào buổi trưahay buổi chiều, cũng có trường hợp xuất hiện ban đêm Nó thường kèm theo sấm sét và mưalớn, gió giật có thể tới 40m/ giây

Cà Mau còn xuất hiện vòi rồng với gió xoáy cực mạnh có thể tới 100m/ giây, gây thiệthại lớn cho những vùng nó đi qua Vòi rồng thường xuất hiện vào đầu mùa mưa và mỗi nămthường xuất hiện 3 đến 5 lần

2-Bão:

Dải hội tụ nội tuyến CIT hoạt động thường gắn liền với sự xuất hiện bão trên biển đông.Tần suất bão đổ bộ vào duyên hải Việt Nam trung bình mỗi năm 3,74 lần Song đổ bộ vàoNam bộ chỉ 0,15 lần (bằng 4% cả nước) Bão vào Nam bộ thường trong 2 tháng 11 và 12 Vàothời kỳ này đã có xâm nhập cuả Tp hoặc Tm (khối khí tín phong, khối khí chí tuyến) nên dễ

bị lấp đầy, bão thuờng yếu hoặc tan Cơn bão số 5 (Linda) đổ bộ vào Bạc Liêu, Cà Mau ngày02/ 11/ 1997 là cơn bão thế kỷ ( cơn bão trước đó vào năm 1904 ) Tuy sức gió không mạnh(cấp 10 đến 11) nhưng đã gây thiệt hại cực kỳ to lớn về người và của Số người chết 128, sốngười mất tích 1.164, số người bị thương 601, số nhà sập 84.059 diện tích lúa bị ảnh hưởng79.072 ha, diện tích nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng 94.758 ha Tổng giá trị thiệt hại 2.712

tỷ đồng Nhiều cơn bão tuy không đổ bộ trực tiếp vào địa phương, nhưng mỗi khi xuất hiệntrên Biển Đông hoặc đổ bộ và các vùng khác của nước ta thì Cà Mau thường có mưa

Câu hỏi:

1-Khí hậu và thời tiết ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Chế độ nhiệt ẩm, gió ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

3-Nêu vài hiện tượng thời tiết đặc biệt ở Cà Mau ?

4-Thực hành: Cho học sinh ghi nhật ký về diễn biến tời tiết của địa phương thời gian 1tháng và có nhận xét ?

5-Tổ chức cho học sinh đi tham quan đài khí tượng thủy văn ở địa phương (nơi gầntrường nhất)?

6-Việc phòng, chống lụt, bão ở địa phương như thế nào ? Hãy thử lập kế hoạch phòng,chống lụt, bão nơi học sinh cư trú ?

Trang 14

KHÍ TƯỢNG VÀ THỦY VĂN TỈNH CÀ MAU

Thá

ng

Nhiệt độ trung bình các thángtrong năm

Trang 16

ng 11

Thá

(THEO NIÊN GIÁM THỐNG KÊ CÀ MAU NĂM 1999)

CÓ BIỂU ĐỒ LƯỢNG MƯA QUA CÁC NĂM KÈM THEO

Bài 4:

BIỂN, SÔNG, RẠCH, NƯỚC NGẦM Ở CÀ MAU

1-Biển và bờ biển:

Cà Mau tiếp giáp 2 biển Mặt tây giáp vịnh Thái Lan (biển Tây), có đường bờ 145 km,

có nhiều cửa sông đổ ra biển: cửa Khánh Hội (U Minh), Sông Đốc (Trần Văn Thời), Mỹ Bình(Cái Nước), Bảy Háp, Ông Trang (Ngọc Hiển) Đường bờ biển thẳng, biển nông, bồi tụ và lở

ít, riêng phía nam từ Bảy Háp đến Đất Mũi bồi nhanh Biển Tây có chế độ nhật triều khôngđều, biên triều nhỏ, thường nhỏ hơn 1 mét Đây là vùng biển có nhiều ngư trường lớn đượckhai thác mạnh vào mùa gió bắc

Mặt Đông Nam và Nam tiếp giáp biển Đông với đoạn bờ từ Gành Hào đến Rạch Gốcđang diển ra quá trình sụp lở Từ Rạch Gốc đến Đất Mũi đang trong quá trình bồi tụ Vớichiều dài 106 km, có một số sông lớn đổ ra :cửa Gành Hào, Bồ Đề, Hố Gùi

Biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, biên triều lớn trung bình khoảng 2,9 m,lớn nhất có thể đến 4,1 m Đây là vùng biển có nhiều ngư trường lớn và thường được khaithác mạnh vào mùa gió nam Biển nông, bãi biển thoải, đường đẳng sâu 6m – 10m, mở rộngcách bờ 20 – 30 km Phần lớn biển không sâu quá 50 m, độ mặn trung bình khoảng 34%o.2-Hệ thống sông, rạch:

Tổng chiều dài hệ thống sông, rạch của tỉnh khoảng 7 ngàn km, mật độ trung bình 1,34km/km2 với tổng diện tích 15 ngàn 756 ha, chiếm 3,02% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh

*Các hệ thống sông lớn:

Sông đổ ra biển Tây: có sông Bảy Háp dài hơn 50 km nối sông Gành Hào với cửa BảyHáp; sông Cửa Lớn nối hai cửa Bồ Đề và Ông Trang dài 58 km, rộng trung bình 200 m; sôngÔng Đốc từ ngã ba Tắc Thủ cửa Ông Đốc dài hơn 60 km, lòng rộng hơn 100 m, sâu 3 đến 4m; sông Cái Tàu dài 43 km, rộng 50 m, từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Tiểu Dừa; sông Trẹm từngả ba Cái Tàu chạy theo hướng Bắc qua huyện Thới Bình đổ về Kiên Giang, phần thuộc CàMau dài 36 km, rộng khoảng 50 m, sông Đồng Cùng dài khoảng 36 km đổ ra cửa Mỹ Bình;sông Bạch Ngưu từ ngã ba Tắc Thủ tới ngã ba Đình Kiên Giang với chiều dài 72 km, phầntrên đất Cà Mau khoảng 30 km, rộng từ 30 đến 40 m, sâu từ 2,5 đến 3 m

Sông đổ ra biển Đông: có sông Mương Điều từ Gành Hào qua Đầm Dơi gặp sông ĐầmDơi đổ vào sông Cửa Lớn với chiều dài 45 km, sâu từ 5 đến 6 m, rộng 80 m; sông Gành Hào

từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Gành Hào dài 56 km, rộng từ 60 đến 100 m, sâu từ 4 đến 5 m,cửa Gành Hào rộng 300 m, sâu 19 m

Ngoài ra còn có nhiều sông rạch nối các hệ thống sông trên

Do ảnh hưởng của biển, hầu hết hệ thống sông, rạch có vai trò như những lạch chuyềntriều Chế độ nước của các dòng sông phụ thuộc vào chế độ triều và chế độ mưa Chất lượngnước trong các hệ thống dòng chảy tuỳ thuộc vị trí gần hay xa biển, mùa mưa hay mùa khô.Mùa khô độ mặn nước sông cao, đầu mùa mưa vùng xa biển có độ pH thấp Hệ thống sôngbiển Đông (sông đổ ra biển Đông), biên độ mực nước lớn, tốc độ chuyền triều nhanh Khuvực sông biển Tây biên độ mực nước nhỏ, tốc độ chuyền triều chậm Ngoài chịu ảnh hưởngcủa chế độ triều ngày, hệ thống sông, rạch Cà Mau còn chịu ảnh hưởng đến chế độ triềutháng Mỗi tháng có hai kỳ triều cường, nước sông lên rất cao và xuống rất thấp vào nhữngngày 15, 16 và ngày 1, 2, 3, âm lịch Hệ thống sông, rạch của tỉnh không có lũ lớn, nhưng khi

Trang 17

mưa lớn vào ngày triều cường, mực nước sông vẫn có thể dâng cao tràn vào đồng ruộng Mựcnước lũ cao nhất có thể cao hơn ruộng 1 m Song lũ rút rất nhanh Khu vực đông bắc tỉnh cóchịu ảnh hưởng của lũ sông Hậu vào mùa mưa nhưng không đáng kể, độ mặn nước sôngxuống thấp độ PH thấp.

Sông, rạch của tỉnh có vị trí quan trọng trong giao thông và phát triển kinh tế Đặc biệt,thuận lợi đối với vùng nông thôn sâu, nơi chưa phát triển vận tải bộ Sông, rạch còn là nơicung cấp nguồn thuỷ sản rất đáng kể Ngoài hệ thống kinh rạch, Cà Mau còn có nhiều hồ,đầm Những đầm nước mặn ở ven sông, biển được giữ nước để nuôi trồng thuỷ sản Đó lànhững đầm nhân tạo Đầm tự nhiên rộng lớn nhất là đầm Bà Tường (Cái Nước) chiều dài 7

km, rộng 1 đến 2 m Ngoài việc cung cấp nguồn thuỷ sản, tương lai trở thành điểm du lịch củatỉnh

3-Nước ngầm:

Đây là nguồn quan trọng cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất của tỉnh trongmùa khô Những năm gần đây, nguồn nước ngầm được khai thác chủ yếu từ phức hệ trầm tíchPleistôxen (Q1 – Q3) Tầng này thường ở độ sâu từ 70 đến 170 m Chất lượng nước khá,thành phần muối hòa tan chủ yếu ClHCO3, NaMgCaSO4 với độ khoáng hoá từ 0,5 đến 1%o.Tuy nhiên cũng có những ô nhiễm mặn cục bộ như ở Đầm Dơi, Ngọc Hiển độ khoáng hoá cóthể hơn 2%o Ngoài tầng nước được khai thác phổ biến trên, Cà Mau còn có các phức hệ chứanước trong các trầm tích Plioxen ở độ sâu 180 – 230 m, phức hệ chứa nước trong các trầmtích Mioxen ở độ sâu 280 – 350 m, có khi tới độ sâu 450 m Song việc khai thác các tầngnước trên sẽ tốn kém và hiệu quả kinh tế không cao mặc dầu chất lượng nước tốt hơn

Câu hỏi:

1-Biển và bờ biển phía Đông và phía Tây của Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Hệ thống sông, rạch ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

3-Hãy tìm hiểu và nêu một số đặc điểm của một số con sông lớn trong tỉnh mà embiết ?

4-Thực hành : Cho học sinh quan sát, ghi chép về chế độ nước trong một đoạn sông,rạch nơi học sinh cư trú

Bài 5:

ĐẤT TRỒNG Ở CÀ MAU

Là khu vực có lịch sử thành tạo trẻ, đất Cà Mau rất giàu khoáng tự nhiên và mùn, vậtliệu bồi tụ phần lớn giàu sét và cát mịn Thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nặng Ngoàinhân tố lịch sử thành tạo, nhiều nhân tố khác đồng thời tác động đến việc hình thành đất CàMau Nhân tố quan trọng nhất sau đó là biển, thông qua hệ thống lạch chuyền triều đã làm chomột diện tích lớn của tỉnh bị nhiễm mặn Tiếp đó là nhân tố địa hình, khí hậu, sinh vật đãtham gia tích cực trong việc hình thành đất phèn, đất than bùn phèn và sau cùng là nhân tốcon người

Đất Cà Mau có thể chia thành 4 nhóm chính: nhóm đất mặn, nhóm đất phèn, nhóm đấtthan bùn, nhóm đất bãi bồi

1-Nhóm đất mặn:

Có diện tích 150.278 ha, chiếm 28,84% diện tích toàn tỉnh, trong đó chủ yếu là đất mặntrung bình 82.351 ha, đất mặn ít 57.987 ha, đất mặn nhiều 3.295 ha và đất mặn dưới rừngngập mặn 6.645 ha Đất mặn ít là loại đất thuận lợi nhất cho phát triển trồng trọt, được phân

bố ở Cái Nước (12.699 ha), Thới Bình (11.608 ha), U Minh (11.773 ha), Thành phố Cà Mau(11.608 ha), Trần Văn Thời (9.131 ha) và Đầm Dơi ( 1.093 ha ) Riêng Ngọc Hiển không cóloại đất này

Trang 18

Các đặc trưng về thổ nhưỡng của loại đất mặn ít là không xuất hiện tầng sinh phèn, độngập sâu từ 30 - 60 cm, thời gian ngập từ 6 đến 10 tháng Loại đất này trước đây được sửdụng trồng lúa, nuôi cá nước ngọt, hiện nay đang có chủ trương điều chỉnh quy hoạch lại.Nhóm đất mặn trung bình tập trung nhiều ở Đầm Dơi, Cái Nước, Trần Văn Thời Ngoài

ra còn có rải rác ở Thới Bình Loại đất này không xuất hiện tầng sinh phèn và cũng bị ngậpnước trong mùa mưa, ngập sâu từ 30 đến 60 cm Đất mặn trung bình hiện được khai thác pháttriển cây lương thực kết hợp nuôi trồng thủy sản

Nhóm đất mặn nhiều tập trung chủ yếu ở Đầm Dơi và Trần Văn Thời Loại đất này cóthể khai thác để canh tác một vụ lúa trong mùa mưa hoặc khai thác nuôi trồng thủy sản Hiệnnay nhóm đất này còn hoang hoá nhiều

Nhóm đất mặn dưới rừng ngập măn tập trung nhiều ở Ngọc Hiển, ngoài ra còn có ởTrần Văn Thời, U Minh Đây là địa bàn phát triển lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản

2-Nhóm đất phèn:

Tổng diện tích là 334.925 ha, chiếm 64,27% diện tích toàn tỉnh Đây là nhóm đất cónhiều hạn chế do các độc chất phèn Ngoài ra còn do bị nhiễm mặn Tình trạng chồng lắp haiyếu tố hạn chế phèn và mặn không chỉ là một diễn biến phức tạp về mặt hoá học mà còn gâynhững trở ngại lớn cho vấn đề sử dụng đất và môi trường Nhìn chung các đất phèn có độ phìnhiêu tiềm tàng rất cao, hàm lượng hữu cơ rất giàu, hàm lượng đạm cao, hàm lượng Kali cao,song hàm lượng lân hơi nghèo Để khai thác được tiềm năng đất phèn cần có nước ngọt để hạphèn Đồng thời phải có cơ cấu mùa vụ phù hợp và giống thích nghi Nhóm đất phèn nhiễmmặn thường xuyên chỉ có khả năng để phát triển rừng và nuôi tôm Trong quá trình sử dụngđất không nên thoát thủy nhiều và xới xáo nhiều Đất phèn gồm: phèn tiềm tàng và phèn hoạtđộng Đất phèn tiềm tàng có diện tích 247.039 ha (chiếm 47,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh)được phân bố ở các địa phương trong tỉnh Song tập trung nhiều hơn ở Ngọc Hiển (107.295ha), ở Đầm Dơi (38.263 ha), Cái Nước (33.441 ha), U Minh (28.306 ha) Nhóm đất phèn tiềmtàng có 8 đơn vị đất, nhiều nhất thuộc đất phèn tiềm tàng nông dưới rừng ngập măn

Đất phèn hoạt động có diện tích 87.886 ha, được phân bố ở nhiều địa phương trongtỉnh Song tập trung nhiều hơn ở Thới Bình (37.968 ha), U Minh (26.948 ha) Riêng NgọcHiển không có loại đất này Nhóm đất phèn hoạt động có 8 đơn vị đất Trong đó đất phèn hoạtđộng nông trên phèn tiềm tàng, mặn ít chiếm diện tích lớn nhất (44.050 ha)

4-Nhóm đất bãi bồi:

Là nhóm đất mới được hình thành dọc theo bờ biển, với diện tích 9.507 ha, chiếm1,82% diện tích toàn tỉnh Đây là môi trường rất thuận lợi cho việc sinh sản và cư trú của cácloài thủy sản nước mặn, đặc biệt là tôm Đất bãi bồi tập trung chủ yếu ở Ngọc Hiển (7.632ha), Cái Nước (1.875 ha) Diện tích đất bãi bồi ngày càng được mở rộng

Trang 19

Bài 6

THỰC VẬT - ĐỘNG VẬT Ở CÀ MAU

Giới sinh vật của Cà Mau bao gồm hệ sinh vật hoang dã và hệ sinh vật canh tác

Sinh vật hoang dã gồm thực vật, động vật trên cạn và dưới nước

1-Thảm thực vật hoang dã

Thảm thực vật hoang dã của Cà Mau phong phú, đa dạng hơn so các tỉnh đồng bằngsông Cửu long Nó bao gồm thảm rừng ngập mặn, thảm thực vật úng phèn, thảm thực vật trênvùng đất canh tác, rừng cận xích đạo gió mùa trên đất Feralit đỏ vàng

-Rừng ngập mặn: chủ yếu tập trung ở ven biển khu vực mũi Cà Mau thuộc huyện NgọcHiển, thảm rừng này phát triển mạnh trở thành những cánh rừng cổ thụ nhờ lớp bồi tụ dày,màu mỡ, nhờ khí hậu xích đạo nóng ẩm quanh năm Rừng ngập mặn Cà Mau đã có thời đứnghàng thứ hai trên thế giới vế diện tích Hiện nay đất rừng ngập mặn của tỉnh có hơn 130 ngàn

ha Đất có rừng còn khoảng hơn 60 ngàn ha Diện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau giảm nhanhtrong những năm gần đây chủ yếu do khai thác để phát triển nuôi trồng thủy sản Trongkhoảng 10 năm (1985 – 1995), gần 50 ngàn ha rừng ngập mặn của tỉnh đã bị phá trụi Rừngngập mặn có vai trò to lớn đối với nền kinh tế cũng như môi trường tự nhiên của tỉnh Việcbảo vệ rừng ngập mặn ven biển là rất cần thiết

-Thảm thực vật úng phèn: là thảm rừng hỗn giao được hình thành trên địa bàn ngập úngtrong mùa mưa Thời gian ngập từ 4 đến 5 tháng, bắt đầu từ tháng 7, tháng 8 đến tháng 12,tháng 1 năm sau Độ ngập sâu thường từ 0,6 đến 1 mét Thảm rừng hỗn giao này gồm một sốloài cây có số lượng ưu thế: tràm, choại, sậy, năng Trong 7 quần hợp thực vật úng phèn có 5quần hợp tràm chiếm ưu thế: tràm, dớn, choại trên đất than bùn; tràm sậy trên đất sét; tràm,năng trên vùng trũng, phèn nhiều Diện tích rừng tràm của tỉnh là hơn 35 ngàn ha Rừng tràmcũng có những biến động lớn về diện tích, giảm nhiều do nạn phá rừng lấy đất canh tác, docháy rừng Những năm gần đây tỉnh có những giải pháp hữu hiệu khôi phục rừng tràm Rừngtràm cũng có giá trị kinh tế to lớn không kém rừng ngập mặn Cây tràm trưởng thành (20 đến

30 năm) có thể có đường kính 30 đến 50 cm, cao hơn 20 m Trữ lượng gỗ trong quần hợptràm, dớn, choại ở tuổi 15 có thể đạt tới 300 m3/ ha, gấp gần 2 lần năng suất sinh học trongrừng ngập mặn Rừng tràm còn là chiếc nôi của hàng trăm loài động vật Chỉ tính riêng năngsuất cá tự nhiên, trung bình 1 ha mỗi năm cho 250 kg Ngoài nguồn lợi kinh tế, rừng tràm còn

có giá trị rất lớn đối với môi trường Ở Cà Mau, các quần hợp rừng tràm trong thảm thực vậtúng phèn chủ yếu tập trung ở huyện U Minh, Trần Văn Thời

-Thảm thực vật vùng ngập nước định kỳ: gồm các loài Năng, Lát chiếm ưu thế, đượcphân bố ở các vùng trũng ở Thới Bình, Cà Mau Đặc điểm: mùa khô nước cạn, mùa mưa nướcngập sâu từ 60 đến 80 cm, đất phèn nặng

-Thảm thực vật trên vùng đất canh tác: gồm nhiều quần hợp xen kẽ với cây trồng, phântán trong khu vực canh tác dưới dạng cỏ dại, đặc trưng cho từng loại môi trường như ráng,gạc nai, lác biển cho vùng đất mặn ít và có phèn nhiễm mặn; đồng tiền, rau má, lồng vực, cỏchác, sam cho vùng đất ngọt ít phèn

-Thảm rừng cận xích đạo gió mùa trên đất Feralit đỏ vàng: được phát triển trên các đảothuộc cụm đảo Hòn Khoai, diện tích khoảng 500 ha Thảm rừng lá rộng này có 221 loài thựcvật bậc cao thuộc 78 họ, 11 loài cây dược liệu quí hiếm và 10 loài cây mới đối với Việt Nam.2-Hệ thực vật canh tác (hệ cây trồng):

-Năm 1998 diện tích đất gieo trồng của tỉnh hơn 350 ngàn ha Hệ cây trồng của tỉnh rất

đa dạng gồm nhiều loại cây từ lâu năm đến ngắn ngày, từ cây công nghiệp, cây lương thựcđến cây ăn trái; từ cây cho hạt đến cây cho củ, quả, thân, lá trong đó cây lương thực, cây lúagiữ vị trí hàng đầu (1998 hơn 220 ngàn ha) Dưới tác động của khoa học – công nghệ, hệ câytrồng đang có những thay đổi về cơ cấu giống, mùa vụ, diện tích năng suất, sản lượng đápứng nhu cầu nội địa và tạo hàng hoá xuất khẩu

3-Động vật:

-Động vật hoang dã: có nhiều loài với số lượng cá thể đông, địa bàn cư trú đa dạng

Trang 20

-Động vật trên cạn: có thú, bò sát và hàng trăm loại khác, tập trung nhiều ở “căn cứ địa”rừng tràm, rừng ngập mặn.

-Động vật dưới nước: Cà Mau là tỉnh giàu nguồn lợi thuỷ sản, với 251 km bờ biển, gần

100 ngàn km2 vùng biển chủ quyền, trữ lượng cá nổi ước khoảng 260 ngàn tấn, cá đáykhoảng 450 ngàn tấn thuộc 661 loại, 319 giống, 138 họ Vùng biển Cà Mau có nhiều loài cótrữ lượng lớn, trữ lượng kinh tế cao như cá đường, tôm biển, cá thu, cá gộc, cá hồng, cá dứa.Biển Cà Mau có nhiều ngư trường đánh bắt cho năng suất cao, ở cả hai biển Đông và Tây đều

có những bãi cá nổi và cá đáy Ngoài biển là ngư trường lớn, Cà Mau còn có thủy vực nội địa

có diện tích lớn hơn 15 ngàn ha Trong vực nước chảy có các loài thủy sản lợ: tép đất, cáchẽm, tôm càng, cá ngát Trong vực nước đọng có các loài cá đen: lóc, rô, trê, lươn, sặcbổi Trữ lượng và năng suất cao

-Động vật nuôi: có trâu, heo, gà, vịt, thuỷ sản Trong những năm gần đây việc nuôitrồng thuỷ sản nước lợ cho giá trị kinh tế cao

Câu hỏi:

1-Thực vật và động vật ở Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Cà Mau có những loại rừng nào ? phân bố ra sao ?

3-Tại sao diện tích rừng ở Cà Mau trong thời gian qua giảm nhanh ? hiện nay đã khắcphục như thế nào ?

4-Thực hành: Cho học sinh tìm, kể tên các loại động vật, thực vật ở địa phương, ở nơihọc sinh cư trú mà học sinh biết ?

Bài 7

CÁC CẢNH QUAN TỰ NHIÊN Ở CÀ MAU

Thiên nhiên luôn không đồng nhất theo không gian Ở phạm vi lãnh thổ rộng lớn, tínhchất không đồng nhất thường được xác định do sự khác biệt về lịch sử địa chất, về địa hình,

về khí hậu Từ sự khác biệt căn bản của các thành phần trên dẫn đến sự khác biệt của cácthành phần tự nhiên khác Nó là cơ sở để hình thành các miền tự nhiên, các vùng tự nhiên Trong phạm vi lãnh thổ hẹp, không có sự khác biệt lớn của các yếu tố địa chất đại địa hình,khí hậu, cơ sở để tạo nên sự phân hóa trong tự nhiên của tỉnh chủ yếu dựa trên sự phân hóa vềđất trồng, về tiểu khí hậu Sự không đồng nhất đó là cơ sở để hình thành các tổng thể tựnhiên, cảnh quan tự nhiên của tỉnh Sự khác biệt của các tổng thể dẫn đến sự khác biệt về tiềmnăng kinh tế Vì thế khi tiến hành khai thác, rất cần có giải pháp kinh tế kỹ thuật riêng chotừng tổng thể, từng cảnh quan

Dựa vào các nhân tố trội tạo sự phân hoá theo không gian (đất trồng, tiểu khí hậu, chấtlượng nước) Cà Mau riêng phần đất liền có thể chia thành 3 cảnh quan tự nhiên :

1-Cảnh quan trũng phèn Tây Bắc tỉnh:

Diện tích 111 ngàn 635 ha, lãnh thổ bao gồm huyện U Minh, các xã phía Bắc huyệnThới Bình, một số xã phía Bắc huyện Trần Văn Thời Đây là khu vực có các trũng treo (UMinh), nằm xa các lạch triều lớn, ít chịu ảnh hưởng của lũ sông Hậu, mùa mưa thường ngậpsâu từ 0,6 đến 1 m, thời gian ngập kéo dài 5 – 6 tháng Khu vực có lượng mưa lớn nhất trongtỉnh (hơn 2.400 mm/ năm) Thời gian mùa mưa kéo dài hơn (trên 200 ngày) Thời gian canhtác nhờ nước mưa có thể tới 250 ngày trong năm Đất trồng phần lớn thuộc phèn tiềm tàngnông, mặn Cảnh quan trũng phèn có thể chia thành 3 tiểu vùng :

-Tiểu vùng trũng phèn trên lâm phần rừng tràm: diện tích 58.180 ha với 3 loại đấtchính: phèn tiềm tàng, phèn hoạt động mặn ít và than bùn phèn Hiện nay khu vực này đangđược khai thác phát triển nông nghiệp (25.528 ha), lâm nghiệp (25.127 ha) Định hướng củatỉnh là sử dụng các nguồn tài nguyên của rừng: bảo vệ nghiêm ngặt rừng tràm hiện có, trồngrừng tràm mới, kết hợp nuôi cá, nuôi ong dưới rừng tràm

Trang 21

-Tiểu vùng nông lâm kết hợp: thuộc các xã ven biển, huyện U Minh, có diện tích30.076 ha Tiểu vùng này gồm các loại đất mặn ít, đất phèn hoạt động nông mặn, phèn tiềmtàng sâu mặn Khu vực này đang được khai thác phát triển nông nghiệp (17.636 ha), lâmnghiệp (8.744 ha) Định hướng khai thác là sản xuất nông nghiệp kết hợp trồng tràm với nuôicá.

-Tiểu vùng cây công nghiệp: gồm các xã phía Bắc huyện Thới Bình, diện tích 23.380

ha, với các loại đất: phèn tiềm tàng mặn và đất mặn ít Hiện nay khu vực đang được khai thácphát triển nông nghiệp 20.775 ha, lâm nghiệp 518 ha Định hướng sử dụng là sản xuất nôngnghiệp , cây trồng chính là mía kết hợp khóm và hoa màu

2-Cảnh quan trung tâm tỉnh:

Diện tích 214.675 ha, lãnh thổ bao gồm các xã Nam huyện Thới Bình, Nam huyện TrầnVăn Thời, phần lớn huyện Cái Nước, các xã phía Tây huyện Đầm Dơi và toàn bộ Thành phố

Cà Mau Đây là khu vực có địa hình cao hơn các khu vực khác, đất phần lớn thuộc nhóm mặntrung bình và mặn ít Khu vực này là trọng điểm kinh tế của tỉnh Lượng mưa Trung bình hơn2.200 mm/ nămvà giảm dần từ Tây sang Đông khu vực phía Tây (thuộc huyện Trần VănThời và Cái Nước) lượng mưa tới 2.400 mm/ năm; khu vực đông Bắc Thới Bình lượng mưacòn khoảng 2.000 mm/ năm

Cảnh quan trung tâm tỉnh chia thành 3 tiểu vùng:

-Tiểu vùng lúa 2 vụ cao sản: diện tích 79.209 ha, gồm các xã đông nam Thới Bình,đông U Minh, Trần Văn Thời và đông bắc Cái Nước, tây bắc Đầm Dơi Tiểu vùng này cótiềm năng lớn về nông nghiệp (đất nông nghiệp 67.579 ha) chủ yếu là cây lúa 2 vụ năng suấtcao kết hợp với trồng hoa màu, cây ăn trái

-Tiểu vùng lúa một vụ cao sản và lúa – cá: diện tích 11.950 ha, gồm các xã tây TrầnVăn Thời, nam Cái Nước, Đầm Dơi Phần lớn đất canh tác trong tiểu vùng là đất mặn trungbình Hiện nay khu vực phần lớn được khai thác phát triển nông nghiệp (90.081 ha) Địnhhướng của tỉnh khai thác khu vực này là lúa cao sản một vụ kết hợp nuôi cá, trồng cây côngnghiệp và cây ăn trái (dừa, chuối )

-Tiểu vùng Cà Mau: diện tích 24.507 ha, gồm toàn bộ Thành phố Cà Mau Đất chủ yếu

là đất phèn hoạt động mặn và đất mặn ít, chủ yếu khai thác phát triển nông nghiệp (21.718 ha)

và phát triển đô thị Định hướng khai thác của tỉnh là ngoài phát triển đô thị, đất nông nghiệpđược tập trung trồng lúa 2 vụ và lập “Vành đai xanh”

3-Cảnh quan ven biển Nam và Đông Nam tỉnh:

Diện tích 168.821 ha, lãnh thổ gồm toàn bộ huyện Ngọc Hiển, một số xã phía namhuyện Cái Nước, phía Đông huyện Đầm Dơi Đây là vùng đất thấp mới bồi ven biển phần lớnđang còn như những bãi triều thấp, ngập triều thường xuyên hoặc định kỳ Lãnh thổ phần lớnthuộc lâm phần rừng ngập mặn của tỉnh Đất gồm các loại đất phèn tiềm tàng nông dưới rừngngập mặn chủ yếu thuộc huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi Ngoài ra còn đất mặn dưới rừng ngậpmặn thuộc Ngọc Hiển Thảm rừng ngập mặn chủ yếu là đước và rừng hỗn giao (đước, Mắm,giá, cóc ) Hiện nay diện tích có rừng còn ít

Lượng mưa trung bình thường lớn hơn 2.000 mm/ năm, riêng khu vực phía Đông thuộcĐầm Dơi lượng mưa nhỏ hơn 2.000 mm/ năm Lãnh thổ bao chiếm toàn bộ phía Đông nam

và Nam, một phần đường bờ biển phía Tây là khu vực vừa diễn ra quá trình bồi tụ (Đất mũi,Ngọc Hiển) vừa diễn ra quá trình sụt lở (cửa Bồ Đề, Hố Gùi thuộc Ngọc Hiển, Đầm Dơi).Cảnh quan ven biển đang được khai thác phát triển nuôi trồng thủy sản và trồng rừng.Cảnh quan này được chia làm 3 tiểu vùng: tiểu vùng rừng phòng hộ ven biển, tiểu vùng rừngtôm, tiểu vùng tôm- lúa

Trang 22

Bài 8

ĐẶC ĐIỂM CHUNG THIÊN NHIÊN Ở CÀ MAU

Là một phần của Đồng bằng sông Cửu long, lại nằm ở vĩ độ thấp nhất, tiếp giáp với 2biển, nên ngoài đặc điểm chung của Đồng bằng sông Cửu long, Cà Mau còn mang những nétriêng mà tỉnh khác trong khu vực không có Chính cái chung và cái riêng ấy tạo nên đặc điểmcủa môi trường thiên nhiên Cà Mau

1-Cà Mau là một tỉnh đồng bằng trẻ, phần lớn lãnh thổ mới được bồi tụ và nâng lêntrong thời gian gần đây Là vùng đất trẻ nhất của Đồng bằng sông Cửu long, lãnh thổ vẫnđang tiếp tục mở rộng Độ cao trung bình toàn tỉnh so với mực nước biển xấp xỉ 1 mét Biểnảnh hưởng rất sâu vào nội địa, tính chất cận xích đạo gió mùa phát huy đầy đủ đặc điểm trênphạm vi lãnh thổ toàn tỉnh

2-Cà Mau là tỉnh điển hình của thiên nhiên cận xích đạo gió mùa Lãnh thổ trải dài từ8o33’ vĩ bắc tới 9o33’ vĩ bắc Cà Mau nằm trong khu vực cận xích đạo gió mùa, quanh năm

có nền nhiệt cao và ổn định, chịu ảnh hưởng của nhiều khối khí hoạt động theo mùa, nhịpđiệu mùa thể hiện rất rõ trong chế độ ẩm của tỉnh Trong năm có một mùa mưa và một mùakhô sâu sắc Tính chất cận xích đạo gió mùa trong khí hậu chi phối và xác định tính chất củatất cả các thành phần tự nhiên trong tổng thể Đồng thời nó cũng ảnh hưởng rất lớn đến đờisống và hoạt động sản xuất của con người

3-Thiên nhiên Cà Mau mang tính chất bán đảo Là một tỉnh duy nhất trong đồng bằngsông Cửu Long tiếp giáp 2 biển Bờ biển dài bằng 7,7% tổng chiều dài bờ biển cả nước, biểnảnh hưởng toàn diện và sâu sắc tới thiên nhiên của tỉnh Địa hình thấp, bờ biển dài, có nhiềucửa sông đổ ra biển, biên triều lớn, áp triều ảnh hưởng rất sâu vào đất liền, hầu hết các hệthống dòng chảy đều bị nhiễm mặn và thủy chế được quyết định bởi chế độ triều biển Ngoàiphần các bãi triều ngập triều thường xuyên hay định kỳ là lâm phần rừng ngập mặn, các cánhrừng ngập mặn, lợ còn ăn sâu vào nội địa Thủy vực cho giới động vật thủy sinh ưa mặn được

mở rộng gần như trên toàn bộ hệ thống kinh, rạch trên toàn tỉnh Biển ảnh hưởng lớn tới việchình thành đặc điểm của đất trồng Cả 35 đơn vị đất trồng của tỉnh đều bị nhiễm mặn Vì thếnhững hoạt động kinh tế còn liên quan tới nguồn tài nguyên đất đều phải quan tâm đến đặcđiểm này Tính chất bán đảo còn ảnh hưởng tới các hoạt động của con người trong khu vực.Đồng thời đây cũng là một thế mạnh của tỉnh so với các tỉnh khu vực đồng bằng sông CửuLong

4-Thiên nhiên Cà Mau không đồng nhất có sự phân hóa theo không gian sự khác biệtgiữa các tổng thể tự nhiên tạo sự phân hóa lãnh tổ theo không gian Phần đất liền của tỉnhđược chia thành 3 cảnh quan tự nhiên:

-Cảnh quan trũng phèn phía Bắc tỉnh

-Cảnh quan trung tâm tỉnh

-Cảnh quan ven biển nam và Đông Nam tỉnh

Mỗi cảnh quan có những đặc điểm riêng, khả năng riêng, cần được khai thác bằngnhững giải pháp riêng Xác định đúng đặc điểm bản chất của từng cảnh quan, xây dựng hướngkhai thác đúng, biện pháp khai thác phù hợp sẽ phát huy được tốt hơn các tiềm năng kinh tếcủa từng cảnh quan Đồng thời hạn chế được nhiều hơn những tác hại do thiên nhiên gây ra.Thiên nhiên là một thể hoàn chỉnh thống nhất Mỗi thành phần tự nhiên là một bộ phậncủa cả tổng thể, nó quan hệ với nhau khắng khít, nó qui định nhau Sự thay đổi của thànhphần này sẽ dẫn đến sự thay đổi các thành phần khác và thay đổi cả tổng thể Đồng thời mỗithành phần tự nhiên cùng một lúc luôn chịu sự chi phối của các đặc điểm chung, đặc điểm củatổng thể khai thác tài nguyên thiên nhiên, khai thác từng thành phần hay khai thác tổng thể tựnhiên rất cần phải chú ý tới đặc điểm chung này

Câu hỏi:

Trang 23

1-Thiên nhiên Cà Mau có những đặc điểm gì ? những đặc điểm có đó quan hệ với nhaunhư thế nào ?

2-Tại sao nói thiên nhiên Cà Mau mang tính chất bán đảo ?

CHƯƠNG II

ĐỊA LÝ DÂN CƯ CÀ MAU

Bài 9

DÂN SỐ-PHÂN BỐ DÂN SỐ-GIA TĂNG DÂN SỐ

1-Cà Mau là tỉnh có dân số trung bình Tổng số dân cuối 1999 là 1.133.747 người, đứnghàng thứ 29 trong tổng số 61 tỉnh thành, chiếm 1,5% tổng dân số cả nước Trong khu vựcđồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau có dân số đứng hàng thứ 10, mật độ dân số trung bình

218 người / km2 (1999), thấp hơn so với trung bình cả nước, bằng hơn một nửa mật độ dân sốtrung bình của đồng bằng sông Cửu Long So với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mật độdân số Cà Mau vào loại thấp

Cà Mau là tỉnh “đất rộng người thưa”, nó hoàn toàn phù hợp với lịch sử khai mở đấtnước

2-Phân bố dân số của Cà Mau không đồng đều Dân tập trung đông ở thành phố CàMau, ở thị trấn Thành phố Cà Mau với diện tích 245 km2, năm 1999 có 181.526 người mật

độ dân số trung bình là 741 người / km2 Trong khi mật độ dân số trung bình của các vùngnông thôn 198 người / km2 Mật độ dân số trung bình của các huyện không đồng đều HuyệnCái Nước 290 người / km2, Trần Văn Thời 262 người / km2, trong khi đó U Minh chỉ có 108người / km2, Ngọc Hiển 115 người / km2 So sánh giữa hai đơn vị huyện Cái Nước có mật độdân số hơn U Minh tới 2,7 lần Phân bố dân số ở nông thôn Cà Mau ngoài việc tập trung theođiểm quần cư thành phố, thị trấn còn tập trung theo tuyến lộ, tuyến kinh rạch

Cà Mau có hai dạng quần cư chính: quần cư thành thị, quần cư nông thôn Quần cưthành thị gắn với hoạt động công nghiệp chế biến, hoạt động dịch vụ (thương mại, vận tải, y

tế, giáo dục, văn hóa, chính trị ) Quần cư nông thôn thường gắn với sản xuất nông nghiệp(lúa – cá, lúa – tôm, lúa – chăn nuôi – thủ công, tôm – rừng, rừng – cá, thủy sản – dịch vụ, ).3-Gia tăng dân số: Từ sau 1975, Cà Mau gia tăng dân số nhanh Trước năm 1993, giatăng trung bình hàng năm thường trên 2,5%, trong đó gia tăng tự nhiên hơn 2,2% Từ đó năm

1996 đến nay, mức gia tăng dân số tự nhiên giảm dần: 1996 là 1,99%, 1997 là 1,92%, 1998 là1,87%, 1999 là 1,82% Từ trước năm 1995 gia tăng nhanh do hai nguồn: gia tăng tự nhiên vàgia tăng cơ học Gia tăng tự nhiên trong những năm gần đây giảm do tỷ lệ sinh giảm tỷ lệsinh toàn tỉnh năm 1997 là 24%o, 1998 là 24,04%o, năm 1999 là 23,5%o Tỷ lệ tử của CàMau nhìn chung thấp thường xê dịch trong khoảng 5 đến 6%o

Gia tăng dân số tự nhiên không đồng đều giữa các địa phương trong tỉnh Năm 1999thấp nhất là thành phố Cà Mau 1,74%, cao nhất là huyện Trần Văn Thời 1,89%

Gia tăng dân số nhanh về lâu dài là nguồn bổ sung lực lượng lao động, nhưng trước mắt

là gánh nặng đối với xã hội Giải quyết việc làm cho số lao động hiện tại đã khó, lại phải locho gần 20 ngàn lao động trẻ bổ sung hàng năm chắc chắn là nhiều khó khăn

Để đạt mức gia tăng dân số tự nhiên vào năm 2010 còn 1,6%, thì tỷ lệ sinh trung bìnhcần hạ xuống còn từ 21 – 22%o / năm Việc hạn chế tỷ lệ sinh trong khu vực có nền kinh tếchưa phát triển, đời sống vật chất văn hóa còn thấp là rất khó, song kiên trì giáo dục, kết hợpvới việc trang bị đầy đủ phương tiện dịch vụ kế hoạch hóa sẽ góp phần đáng kể giảm tỷ lệsinh, hạ tỷ lệ gia tăng

Câu hỏi:

Trang 24

1-Trình bày về tình hình phân bố và gia tăng dân số tỉnh Cà Mau ? Các giải pháp để giatăng dân số tự nhiên ?

2-Thực hành cho học sinh tìm hiểu về tình hình dân số, phân bố dân số và sự gia tăngdân số trên địa bàn huyện (thành phố, xã, phường, thị trấn) của học sinh đang cư trú ?

100 nữ có 108,1 nam) Trong độ tuổi từ 0 đến 9 tuổi sự chênh lệch giới tính (nam nhiều hơnnữ) đáng kể:

*0 tới 4 tuổi 114,4 %

*5 tới 9 tuổi 111,8 %

Từ 25 tuổi trở lên, chênh lệch về giới tính phù hợp với đặc trưng chung kết cấu giới củadân số trong tổng số 461.291 người, nam có 201.742 người, nữ có 250.819 người, tỷ số giớitính 83,9% Trong độ tuổi từ 25 đến 29 và 30 tới 34 có tỷ số giới tính chênh lệch khá rõ rệt:

Huyện Trần Văn Thời : 99,4%

Huyện Cái Nước : 96,5%

Huyện Đầm Dơi : 96,8%

Huyện Ngọc Hiển : 98,9%

-Kết cấu lao động: năm 1999 tổng số dân trong độ tuổi lao động bằng 597.045 người,chiếm 52,45%, trong đó dưới độ tuổi lao động: 35,7% và ngoài độ tuổi lao động bằng:11,85% Lực lượng lao động trung bình mỗi năm tăng thêm khoảng 20.000 người

-Kết cấu nghề nghiệp: phần lớn dân số Cà Mau hoạt động trong khu vực nông nghiệpchiếm 81,3 %, khu vực phi nông nghiệp chiếm 18,7 % Trong khu vực phi nông nghiệp : sốđông hoạt động trong các ngành dịch vụ (giáo dục, vận tải, y tế, thương mại ) Hoạt độngtrong khu vực công nghiệp khoảng 6%

-Kết cấu thành thị nông thôn: phần lớn dân số của tỉnh cư trú ở nông thôn, chiếm81,4%, thành thị 18,6%, thấp hơn so với trung bình cả nước

-Kết cấu tôn giáo: Cà Mau có nhiều tôn giáo Số cơ sở thờ tự toàn tỉnh là 116, trong đóđạo phật 64, Cao đài 33, Thiên chúa giáo 16, Tin lành 3 Phật giáo, Thiên chúa giáo có số tín

đồ đông nhất

-Về văn hoá, giáo dục , y tế: Toàn tỉnh Cà Mau đến năm 2000 – 2001 số cán bộ, giáoviên 11.261, học sinh 287.088 Cứ 4 người có một người đi học Tỉnh có 2 Bệnh viện, 7phòng khám và điều trị cấp huyện, 70 trạm ytế phường xã, gần 1.700 giường bệnh Tỉnh có

413 Bác sĩ, tỷ lệ 0,36/ 1.000 dân

2-Dân tộc:

Cà Mau có nhiều dân tộc cư trú: Kinh, Khơ-me, Hoa, Tày, Thái, Mường, Chăm,Nùng Trong đó dân tộc có số dân đông là Kinh chiếm 92,2%, Khơ- me 4,1%, Hoa chiếm3,3% tổng số dân toàn tỉnh Người kinh cư trú ở tất cả các địa phương trong tỉnh, hoạt độngkinh tế tương ứng với mỗi địa bàn nhất định Ở vùng nội địa, người kinh gắn liền với mô hìnhlúa 1 đến 2 vụ kết hợp vườn, rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi cá nước ngọt, khai thác cá

Trang 25

nước lợ, kết hợp làm một số mặt hàng thủ công Ở thành phố, thị trấn người kinh thường hoạtđộng buôn bán, sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ ở vùng ven biển người kinhthường hoạt động nuôi thả khai thác thủy sản, mức thu nhập thường ở mức trung bình.

Người Khơ-me cư trú trên tất cả các huyện thị trong tỉnh, nhưng nhiều hơn là Trần VănThời, Thới Bình, Đầm Dơi Người Khơ-me thường sống tập trung ở một số khóm, ấp riênghoặc sống xen với người Kinh, người Hoa Ở vùng nông thôn, người Khơ-me thường độccanh cây lúa Thu nhập bình quân của đồng bào thường thấp

Người Hoa cư trú ở nhiều địa bàn trong tỉnh, tập trung đông hơn là thành phố Cà Mau,Cái Nước, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển Hoạt động kinh tế của người Hoa thiên về buôn bán,sản xuất công nghiệp, thủ công (ở thành phố, thị trấn) Ở nông thôn người Hoa thường thâmcanh lúa kết hợp với làm rẫy, chăn nuôi thiên về sản xuất nông phẩm hàng hóa Thu nhậpcủa người Hoa thường là khá, số gia đình giàu nhiều

Câu hỏi:

1-Kết cấu dân số Cà Mau có đặc điểm gì ? Hãy trình bày những đặc điểm đó ?

2-Cà Mau có những thành phần dân tộc nào ? Hãy nêu địa bàn cư trú và vai trò đónggóp của mỗi dân tộc đối với sự phát triển kinh tế của Cà Mau

Chỉ

tiêu

Tổng số(người)

Chia theo giới tính Tỷ

lệ sinh (%o)

Tỷ lệchết (%o)

Phi nôngnghiệp

Trang 26

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NỀN KINH TẾ CÀ MAU

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, cùng với cả nước nền kinh tế Cà Mau đã có nhữngchuyển đổi lớn, tập trung vào một số mặt cơ bản sau đây:

-Thứ nhất: hướng vào phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Những thànhphần kinh tế gồm: quốc doanh, tập thể, cá thể, doanh nghiệp tư nhân và liên doanh Hiện naytrong các thành phần kinh tế, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn chiếm tỷ trọng lớn.Năm 1998, giá trị sản xuất nông nghiệp cá thể chiếm tỷ trọng tuyệt đối Khu vực sản xuấtcông nghiệp, số cơ sở ngoài quốc doanh chiếm 98,9% giá trị sản xuất chiếm 51,3%

-Thứ hai: nền kinh tế Cà Mau, nhóm ngành thuộc khu vực I (nông – lâm – ngư) vẫngiữ vị trí chủ yếu Khu vực II (công nghiệp xây dựng), khu vực III (dịch vụ) vẫn còn chiếm tỷtrọng nhỏ Năm 1998 tỷ trọng trong cơ cấu GDP giữa 3 nhóm ngành là: 60,47%, 20,26%,19,27% Song điều đáng chú ý là một số năm gần đây trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tỷ trọnggiữa các nhóm ngành đã có những chuyển dịch theo hướng ngày càng tăng cho nhóm ngành II

và III, giảm nhóm ngành I Năm 1996, nông - lâm – thủy sản 65,95%; công nghiệp và xâydựng 16,41%; dịch vụ 17,64%

-Thứ ba: nền kinh tế Cà Mau phát triển nhanh và tương đối ổn định Từ sau năm 1995,chỉ số phát triển GDP thường vượt 6% hàng năm năm 1996 so với năm 1995 tăng 6,4% Năm

Trang 27

1997 tăng 6% so với năm 1996 Năm 1998 tăng 8,35% so với năm 1997 Đặc biệt trong khuvực II và III tốc độ tăng trưởng thường đạt hơn 10% hàng năm Kim ngạch xuất khẩu 1998đạt hơn 132 triệu USD, so với năm 1996 tăng 46,3% Bình quân đầu người (theo GDP) là 250USD (1998), tăng khá nhanh so với các năm trước, trên mức bình quân chung của cả nước.-Thứ tư: về phân bố kinh tế

Cùng với những chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phân bố kinh tế của tỉnh đã có nhữngthay đổi đáng kể: hệ thống công nghiệp - đặc biệt công nghiệp chế biến đã phát triển về cácvùng nguyên liệu, vùng nông thôn sâu, Ngoài khu vực công nghiệp tập trung tại phành phố

Cà Mau, tỉnh đã phát triển thêm 7 cụm công nghiệp: Năm Căn, Sông Đốc, Khánh Hội, GànhHào, Cái Đôi Vàm, Trí Phải, Vàm Đình Trong nông nghiệp đã và đang hình thành nhữngvùng nông nghiệp tập trung, vùng chuyên canh, vùng kinh tế chuyên môn hóa như: vùngnguyên liệu mía Thới Bình, vùng tôm tập trung ở Ngọc Hiển, Đầm Dơi; vùng lúa Cái Nước,Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh,

Hình thành các vùng chuyên canh là dấu hiệu tốt của nền kinh tế chuyển đổi theohướng sản xuất hàng hóa Đồng thời nó cũng là cơ sở để khẳng định mô hình phân bổ kinh tếtrong thời kỳ mới

-Thứ năm: Tiềm năng kinh tế của tỉnh rất lớn, song hiện trạng đang còn chưa tươngxứng Nguyên nhân chính là do cơ sở hạ tầng còn thấp kém, đặc biệt đội ngũ lao động cònthiếu và yếu, nguồn vốn còn nghèo Muốn khai thác hiệu quả cao các tiềm năng kinh tế củatỉnh cần nhanh chóng khắc phục các hạn chế trên

Hiện nay tỉnh đang có chủ trương phân vùng, điều chỉnh quy hoạch sản xuất giai đoạn

2000 – 2010 (xem bài đọc thêm) và Trung ương có dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp

“Khí điện - Đạm” tại xã Khánh An, huyện U Minh Trong tương lai nền kinh tế Cà Mau sẽ

có nhiều triển vọng phát triển tốt, tốc độ tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế sẽ có nhiều biếnđổi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Câu hỏi:

1-Nền kinh tế Cà Mau có đặc điểm gì ?

2-Bằng những hiểu biết của em hãy phân tích những đặc điểm đó ?

3-Triển vọng của nền kinh tế tỉnh Cà Mau trong tương lai như thế nào ?

Bài đọc thêm

PHÂN VÙNG ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SẢN XUẤT TỈNH CÀ MAU

Sau khi được tái lập năm 1997, kế thừa phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế– xã hội của tỉnh Minh Hải, tỉnh Cà Mau đã điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế – xã hội đến năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt và Đảng bộ nhân dân Cà Mauthực hiện đạt hiệu quả cao Nhìn lại việc thực hiện quy hoạch trong 3 năm qua (từ năm 1997đến nay) về cơ bản là phù hợp, kinh tế khá, khối lượng các sản phẩm chủ yếu của tỉnh tăngnhanh, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, đứng trước vận hội mới, thời cơ mớinhư thị trường tiêu thụ hàng thủy sản rất lớn, giá trị kinh tế cao so với các mặt hàng nông sản

mà tỉnh Cà Mau lại có nhiều vùng đặc thù sinh thái thích nghi có thể bố trí quy hoạch sản xuấttheo nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với qui luật cung cầu của thị trường nên điều chỉnhlại quy hoạch sản xuất là một vấn đề bức xúc và cần thiết nhất Dưới đây xin nêu những địnhhướng phát triển của việc phân vùng điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất tỉnh Cà Mau (giai đoạn

2000 – 2010) theo qui định của UBND tỉnh

(Bài được đăng trên báo ảnh Đất Mũi số 129 – 2000)

Về cơ bản vẫn phân chia thành 3 vùng kinh tế : kinh tế nội địa, kinh tế ven biển và kinh

tế tế biển Tuy nhiên có sự điều chỉnh về ranh giới giữa các vùng, tiểu vùng kinh tế gắn vớichủ trương mở rộng vùng ngọt hóa, điều chỉnh cơ cấu sản xuất cụ thể như sau:

1-Vùng kinh tế nội địa:

Ngày đăng: 05/03/2021, 13:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w