KHẢO SÁT SỨC SINH SẢN CỦA MỘT SỐ NHÓM GIỐNG GÀ ĐỊA PHƯƠNG THEO MÀU LÔNG Tác giả VI THANH KHOA Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành Chăn Nuôi Giáo viên hướng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT SỨC SINH SẢN CỦA MỘT SỐ NHÓM GIỐNG GÀ ĐỊA PHƯƠNG THEO MÀU LÔNG
Họ và tên sinh viên : Vi Thanh Khoa
Niên khóa : 2004 – 2008
Tháng 09/2008
Trang 2KHẢO SÁT SỨC SINH SẢN CỦA MỘT SỐ NHÓM GIỐNG GÀ ĐỊA
PHƯƠNG THEO MÀU LÔNG
Tác giả
VI THANH KHOA
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư
ngành Chăn Nuôi
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS LÂM MINH THUẬN
Tháng 09/2008
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Nhớ ơn cha mẹ
Người đã tận tụy nuôi dưỡng, dạy bảo để con có được như ngày hôm nay Xin
nhận nơi con những tình cảm thiêng liêng cao quý nhất
Trân trọng cảm ơn
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Bộ Môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa
Quý Thầy Cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Đã tạo điều kiện học tập và truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong thời gian học tập
tại trường
Chân thành ghi ơn
PGS.TS Lâm Minh Thuận, cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ con trong suốt
thời gian thực tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Chân thành cảm ơn
Trại gà Mai Xuân Tường, ấp 30/4 – An Linh – Phú Giáo – Bình Dương
Cô chú đã nhiệt tình giúp đỡ, truyền đạt kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Cảm ơn
Tất cả các bạn trong và ngoài lớp đã cùng tôi chia sẻ những vui buồn trong học
tập, giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian thực tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
này
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài được thực hiện từ ngày 12/4/2008 đến ngày 31/7/2008 tại trại gà Mai Xuân Tường, ấp 30/4 – An Linh – Phú Giáo – Bình Dương Với mục đích khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản của một số nhóm giống gà địa phương nhằm để cải tạo và củng cố đàn gà địa phương hiện có tại trại
Đàn gà khảo sát gồm 150 gà mái, được phân làm 3 lô thí nghiệm theo màu lông Gà lông đen 50 con (lô I), gà lông xám 50 con (lô II), gà lông vàng 50 con (lô III) Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện bán chăn thả, thức ăn do trại mua ở công ty thức ăn Cargill Việt Nam
Trong quá trình thí nghiệm, chúng tôi tiến hành theo dõi một số chỉ tiêu về năng suất trứng, chỉ tiêu về ấp nở, tiêu tốn thức ăn trên đàn gà bố mẹ
Sau khi kết thúc thí nghiệm chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
Tỷ lệ đẻ: Lô I là 26,97%, Lô II là 17,14% Lô III là 21,33%
Trọng lượng trứng trung bình: lô I là 44,84 g, lô II là 45,13 g, lô III là 41,98 g
Tỷ lệ trứng có phôi: Lô I là 76,10%, lô II là 74,50%, lô III là 78,74%
Tỷ lệ trứng chết phôi: Lô I là 16,32%, lô II là 23,15%, lô III là 15,37%
Tỷ lệ ấp nở: Lô I là 60,69%, lô II 51,34%, lô III là 63,37%
Tiêu thụ thức ăn hằng ngày ở lô I là 111,54 g, lô II là 102,29 g và lô III là 104,69 g,
Tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng ở lô I là 4,19 kg, lô III là 6,06 kg, lô II là 6,55 kg,
Tỷ lệ phân ly màu lông: gà có lông sọc là 56,78%, gà lông đen là 23,53%, gà lông màu vàng (trắng) là 19,69%
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Mục lục ii
Danh sách các bảng vi
Danh sách các biểu đồ viii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Công tác giống 3
2.2 Một số giống gà nuôi thả vườn 4
2.3 Một số khái niệm trong công tác giống gia cầm 4
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản 5
2.5 Một số giải pháp phát triển giống gà địa phương nhằm bảo tồn và phát triển quỹ gen gà địa phương .6
2.5.1 Cải tạo, chọn lọc từng giống 6
2.5.2 Xác định các tổ hợp lai phù hợp 6
2.5.3 Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cho người chăn nuôi 7
2.6 Những nghiên cứu về giống gà Tàu Vàng 7
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 9
3.1 Nội dung 9
3.2 Thời gian và địa điểm 9
3.3 Đối tượng khảo sát 9
3.4 Phương pháp khảo sát 9
3.5 Một số đặc điểm ngoại hình của đàn gà khảo sát 11
3.6 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 11
3.6.1 Chuồng trại 11
3.6.2 Thức ăn 12 3.6.3 Vệ sinh phòng bệnh 133
Trang 63.6.3.1 Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống 13
3.6.3.2 Vệ sinh phòng bệnh đối với gà 133
3.7 Các chỉ tiêu khảo sát 14
3.7.1 Tỷ lệ đẻ 14
3.7.2 Trọng lượng trứng 14
3.7.3 Tỷ lệ trứng chọn ấp 14
3.7.4 Tỷ lệ trứng có phôi 14
3.7.5 Tỷ lệ trứng chết phôi 14
3.7.6 Tỷ lệ ấp nở 144
3.7.7 Lượng thức ăn tiêu thụ 14
3.7.8 Tiêu tốn thức ăn trên 10 quả trứng 15
3.7.9 Trọng lượng gà con mới nở 15
3.7.10 Tỷ lệ phân ly màu lông ở gà con mới nở 15
3.8 Phương pháp xử lý số liệu 15
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 TỶ LỆ ĐẺ 16
4.2 TRỌNG LƯỢNG TRỨNG 18
4.3 TỶ LỆ TRỨNG CHỌN ẤP 20
4.4 TỶ LỆ TRỨNG CÓ PHÔI 21
4.5 TỶ LỆ TRỨNG CHẾT PHÔI 22
4.6 CÁC CHỈ TIÊU ẤP NỞ 24
4.6.1 Tỷ lệ ấp nở 24
4.6.2 Trọng lượng gà con một ngày tuổi 25
4.7 LƯỢNG THỨC ĂN TIÊU THỤ 27
4.8 TIÊU TỐN THỨC ĂN/10 TRỨNG 29
4.9 TỶ LỆ PHÂN LY MÀU LÔNG Ở GÀ CON MỚI NỞ 31
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32
5.1 Kết luận 32
5.2 Đề nghị 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC 36
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí đàn gà khảo sát 9
Bảng 3.2: Lịch tiêm phòng vaccine 14
Bảng 4.1: Tỷ lệ đẻ của 3 lô qua các tuần khảo sát 16
Bảng 4.2: Trọng lượng trứng của 3 lô qua các tuần khảo sát 18
Bảng 4.3: Tỷ lệ trứng chọn ấp của 3 lô thí nghiệm qua các tuần khảo sát 20
Bảng 4.4: Tỷ lệ trứng có phôi của 3 lô qua các tuần khảo sát 21
Bảng 4.5: Tỷ lệ trứng chết phôi của 3 lô qua các tuần khảo sát 22
Bảng 4.6.1: Tỷ lệ ấp nở của 3 lô qua các tuần khảo sát 24
Bảng 4.6.2: Trọng lượng gà con một ngày tuổi của 3 lô thí nghiệm qua các tuần khảo sát 25
Bảng 4.7: Lượng thức ăn tiêu thụ của 3 lô qua các tuần khảo sát 27
Bảng 4.8: Tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng 29
Bảng 4.9.1: Số gà con phân ly màu lông 31
Bảng 4.9.2: Tỷ lệ gà con phân ly màu lông 31
Trang 9DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ đẻ qua các tuần khảo sát 17
Biểu đồ 4.2: Trọng lượng trứng 19
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ chọn trứng ấp 20
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ trứng có phôi 22
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ trứng chết phôi 23
Biểu đồ 4.6.1: Tỷ lệ ấp nở 25
Biểu đồ 4.6.2: Trọng lượng gà con một ngày tuổi 26
Biểu đồ 4.7: Lượng thức ăn tiêu thụ 28
Biểu đồ 4.8: Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng 30
Trang 10sự phát triển kinh tế và đời sống của con người
Ở Việt Nam hiện nay, gà công nghiệp đang phát triển khá mạnh, nhưng thị hiếu của người tiêu dùng thì trên 80% thích gà ta hơn, nên ngành chăn nuôi gà thả vườn có xu hướng phát triển mạnh Hơn 70% số lượng gà thả vườn được nuôi hầu hết
ở các nông hộ với quy mô vừa và nhỏ, cho nên việc phát triển đàn gà còn gặp nhiều khó khăn cho ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta
Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy giống gà địa phương rất phong phú
về số lượng, tính đa dạng sinh học cao, khả năng thích nghi cao với điều kiện sống kham khổ và có những đặc tính tốt về chất lượng sản phẩm, mùi vị thịt thơm ngon nhưng năng suất còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao
Để phát triển ngành chăn nuôi gà thả vườn nói riêng và ngành chăn nuôi gia cầm nói chung thì việc khảo sát khả năng sinh sản của các giống gà địa phương nhằm
có những biện pháp chọn lọc, lai tạo ra những giống có năng suất và phẩm chất tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi là việc làm cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Bộ Môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa và sự hướng dẫn của PGS.TS Lâm Minh Thuận, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “khảo sát sức sinh sản của một số nhóm giống gà địa phương theo
màu lông”
Trang 111.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Khảo sát sức sinh sản, chọn lọc và nâng cao sức sinh sản của một số giống gà thả vườn theo màu lông, nhằm tạo ra giống gà thả vườn có sức sinh sản cao và phẩm chất thịt tốt
1.2.2 Yêu cầu
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản của từng lô
- Mức chuyển hóa thức ăn đối với gà sinh sản
Trang 12Trong các yếu tố kể trên thì giống là một yếu tố quan trọng, nó có thể quyết định sự thành bại của người chăn nuôi Do vậy, chúng ta phải tuyển chọn những con giống có khả năng sinh sản tốt, năng suất cao, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu của vùng chăn nuôi và có chất lượng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng
Hệ thống công tác giống trong chăn nuôi gia cầm có nhiều thuận lợi so với các ngành chăn nuôi khác vì gia cầm có khả năng sinh sản cao, chu kỳ sản xuất ngắn, nên việc chọn giống dễ dàng, xác định nhanh những tính trạng tốt của từng cá thể hoặc quần thể
Việc chọn giống được tiến hành với số lượng lớn nên có thể chọn được những
cá thể tốt nhất để làm giống, đồng thời kết hợp với những biện pháp nuôi dưỡng và chăm sóc, sử dụng hiệu quả việc chọn lọc Chọn lọc có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giống gia cầm, chọn lọc nhân tạo nhằm phục vụ cho mục đích công tác giống theo hướng sản xuất của con người
Việc chọn được những cá thể tốt để làm giống và kết hợp với quy trình chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý để tạo ra được những đàn gia cầm có khả năng chuyển hóa thức
ăn cao, sức sống, sức kháng bệnh, tầm vóc cơ thể, tốc độ tăng trọng nhanh và chất lượng sản phẩm tốt là những mục tiêu cần được đặt ra trong công tác giống
Trang 132.2 Một số giống gà nuôi thả vườn
Gà con mới nở có 2 sọc nâu xám trên lưng song song từ cổ đến đuôi
Gà Ta Vàng có chân và mỏ màu vàng, xương nhỏ, thịt thơm ngon nhưng tốc độ sinh trưởng kém Trọng lượng gà trống 3 tháng tuổi nặng 1,1 – 1,3 kg, gà mái nặng 0,8 – 0,9 kg Ở một năm tuổi, gà trống nặng 2,0 – 2,2 kg, gà mái nặng 1,7 – 1,8 kg
Gà đẻ lúc 6 tháng tuổi, năng suất trứng trung bình 70 – 80 trứng/ năm, ấp và nuôi con giỏi
kg
Con mái: thân hình vuông vức, lông màu vàng nhạt hay vàng sậm, mồng đơn nhỏ, đầu nhỏ thanh, chân vàng, thấp, có thể có lông Trọng lượng một năm tuổi đạt khoảng 2,0 – 2,5 kg, gà mái 6 tháng tuổi mới bắt đầu đẻ Gà mái đẻ sai khoảng 90 –
110 trứng/năm, trọng lượng trứng 40 – 45 g, ấp trứng và nuôi con giỏi
Gà con mau lớn, lông mọc chậm và ít, nuôi 3 tháng mới đủ lông mình, gà giò 5 tháng tuổi nặng khoảng 1,6 – 1,8 kg, thịt thơm ngon
2.3 Một số khái niệm trong công tác giống gia cầm
Kiểu di truyền là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài, là kết quả của chọn lọc
tự nhiên và của chọn lọc nhân tạo nên kiểu di truyền rất đa dạng và phong phú nhờ vậy
mà xuất hiện nhiều biến dị tổ hợp cần thiết cho mục tiêu chọn lọc của con người
Trang 14Kiểu hình là kết quả tương tác của kiểu gen và môi trường sống
Giống gia cầm là tập hợp các cá thể gia cầm cùng loài với một số lượng khá lớn
có chung một nguồn gốc, có những đặc tính ngoại hình, sinh lý và những yêu cầu riêng biệt về điều kiện sống trong một vùng với nhau hay vùng khác
Dòng thuần là một nhóm gà thuộc một dòng nhất định tồn tại trong quá trình nhân thuần để tạo đồng hợp tử của các nhóm gen tác động lên tính trạng nào đó
Ý nghĩa của dòng thuần là giữ dòng hạt nhân tạo nhóm gen thuần để lai tạo ra những tổ hợp lai cao sản
Nhân giống thuần nhằm tạo nên tính đồng nhất về hình dạng, tầm vóc và các đặc tính sản xuất của các cá thể cùng một giống Trong quá trình nhân thuần qua nhiều thế hệ đồng thời có chọn lọc với áp lực cao nhằm củng cố những đặc tính tốt, ưu việt hơn và loại bỏ những tính trạng xấu Đây cũng là một trong những biện pháp bảo tồn nguồn gen quý của các giống địa phương
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản
Giống: là yếu tố quyết định sức đẻ Giống gà Leghorn có năng suất trứng 280 – 300 quả / năm, gà Hubbard comet năng suất trứng đạt 270 – 290 quả / năm, gà Isa – brown năng suất trứng đạt 290 – 310 quả / năm
Tuổi của gia cầm: tùy vào tuổi mà gia cầm có sức đẻ khác nhau Gà thường bắt đầu đẻ trứng vào lúc 4,5 – 5 tháng tuổi (19 – 20 tuần tuổi), tỷ lệ đẻ tăng dần và đạt đỉnh cao lúc 30 – 32 tuần tuổi, năng suất trứng được giữ ổn định cho đến 40 – 42 tuần tuổi, sau đó tỷ lệ đẻ trứng giảm dần
Tuổi thành thục sinh dục là tuổi mà gà mái đẻ trứng đầu tiên, gà đẻ sớm thường
có khả năng đẻ nhiều trứng, song nếu đẻ quá sớm khi gà mái chưa đủ trọng lượng nhất định thì trứng đẻ ra nhỏ, thời gian khai thác trứng ngắn Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng và chăm sóc gà hậu bị, gà hậu bị nuôi trong điều kiện chiếu sáng ít sẽ đẻ muộn hơn gà nuôi trong thời gian chiếu sáng dài Gia tăng thời gian chiếu sáng trong ngày làm tăng năng suất trứng, trên gà thời gian chiếu sáng thường là 10 –
14 giờ Tuổi thành dục sớm hay muộn do yếu tố di truyền quyết định
Những giống gà chuyên trứng thành thục sinh dục sớm hơn so với các giống gà kiêm dụng và chuyên thịt Gà Leghorn bắt đầu đẻ vào lúc 18 – 19 tuần tuổi, gà Plymouth bắt đầu đẻ lúc 22 – 23 tuần tuổi, gà Hybro đẻ lúc 24 – 25 tuần tuổi
Trang 15 Thức ăn: cung cấp chất dinh dưỡng để tạo trứng, thức ăn nếu thiếu protein, khoáng hoặc năng lượng gà sẽ giảm sức đẻ hoặc không đẻ trứng Thiếu chất dinh dưỡng gà sẽ không đủ nguyên liệu để tạo trứng, còn khi dư thừa sẽ dẫn đến tình trạng mập mỡ, rối loạn chức năng sinh lý làm giảm khả năng sản xuất trứng
Điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc: nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi, thiếu nước uống, thiếu ổ đẻ, tiếng ồn, yếu tố gây stress đều là tác nhân làm giảm sức đẻ trứng của gia cầm Thời điểm đẻ trứng ở gà thường tập trung từ 8 – 14 giờ
Tình trạng sức khỏe cũng ảnh hưởng đến tuổi đẻ trứng đầu, khi đàn gà mái hậu
bị trải qua tình trạng bệnh thì gà mái bắt đầu đẻ rải rác, không tập trung và khó đạt năng suất trứng cao
Chu kỳ đẻ trứng là số trứng đẻ liên tục không gián đoạn tiếp theo 1 ngày nghỉ Chu kỳ đẻ trứng liên quan đến thời gian tạo trứng, gà có thời gian tạo trứng ổn định khi các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình tạo trứng ổn định
Thời gian nghỉ đẻ thay lông cũng ảnh hưởng đến sản lượng trứng năm đó, thời gian thay lông ngắn thì gà sẽ đẻ lại sớm, số trứng sẽ tăng, bằng biện pháp thúc đẩy thay lông nhân tạo người ta có thể rút ngắn thời gian thay lông bình thường từ 8 – 9 tuần xuống còn 5 – 6 tuần
2.5 Một số giải pháp phát triển giống gà địa phương nhằm bảo tồn và phát triển quỹ gen gà địa phương
2.5.1 Cải tạo, chọn lọc từng giống
Giống là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi Vì vậy,
để đạt năng suất cao thì đòi hỏi người chăn nuôi phải có con giống tốt, chúng ta có thể cải tạo các giống nền và tuyển chọn những nhóm giống có năng suất cao và phẩm chất tốt được thị trường ưa chuộng
Trang 162.5.3 Chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cho người chăn nuôi
Đưa những con giống mới, những tổ hợp lai có giá trị cao, áp dụng các phương pháp lai tạo để cải tạo giống nền của địa phương
Chuyển giao những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới cho người chăn nuôi: quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, các trang thiết bị chăn nuôi, thú y…
Thông qua các chương trình khuyến nông, thường xuyên mở các lớp tập huấn
để nâng cao trình độ, kỹ thuật của người chăn nuôi giúp họ có thể cập nhật thông tin cần thiết, đồng thời cũng tạo điều kiện để chúng ta giới thiệu giống mới, những tổ hợp lai mới có năng suất cao và quan trọng hơn là để nhận lại những thông tin phản hồi từ
họ về chất lượng con giống do chúng ta cung cấp để có thể kịp thời đưa ra biện pháp khắc phục,củng cố niềm tin của người chăn nuôi đối với nhà cung cấp
Để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà thả vườn đòi hỏi chúng ta phải tiến hành nhiều giải pháp: tuyển chọn, lai giống, nhập giống mới phù hợp và xây dựng một hệ thống sản xuất gà thả vườn gồm các trại giống gốc, trại giống bố mẹ và thực hiện chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi cho nông dân Đồng thời chúng ta phải cung cấp thông tin thị trường cho người sản xuất
2.6 Những nghiên cứu về giống gà Tàu Vàng
Trần Văn Tịnh (1997) Khảo sát một số chỉ tiêu về sinh trưởng, phát dục và sinh sản của giống gà Tàu Vàng ở một số tỉnh Nam Bộ Kết quả cho thấy: trọng lượng bình quân của gà Tàu Vàng ở 14 tuần đạt 1522,1 g ở con trống, 1200,6 g ở con mái Mức tiêu tốn thức ăn 3,16 – 3,45 kg cho 1 kg tăng trọng Tỷ lệ đẻ trung bình 34,56 – 40,26% và cao nhất là 52,1 – 61,5% Trọng lượng trứng trung bình khoảng 44,6 – 45,4
g và mức tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng ở giai đoạn từ 22 – 50 tuần tuổi
TS Lâm Minh Thuận và TS Trịnh Công Thành (1997) Khảo sát sức sản xuất của 3 nhóm gà Tàu Vàng có nguồn gốc từ Bến Lức, Thủ Thừa ( Long An), Tân Uyên (Bình Dương) Kết quả cho thấy: trọng lượng bình quân của gà Tàu Vàng ở 8 tuần tuổi đạt 641,85 – 830,00 g và nuôi đến 12 tuần tuổi đạt 1100,70 – 1382,00 g Mức tiêu tốn thức ăn 2,9 – 3,58 kg/1 kg tăng trọng ở giai đoạn từ 0 – 12 tuần tuổi Khi nuôi đến một năm tuổi thì trọng lượng đạt từ 2,76 – 3,1 kg ở con trống và 1,92 – 2,2 kg ở con mái
Tỷ lệ đẻ bình quân 29,08 – 47,67% với tỷ lệ đẻ cao nhất từ 52,5 – 80,95% Trọng
Trang 17lượng trứng trung bình khoảng 42,4 – 44,82 g và mức tiêu tốn thức ăn là 2,13 – 3,11 kg/10 quả trứng ở giai đoạn từ 22 – 50 tuần tuổi
Lê Thanh Hải và ctv (1999) So sánh tổ hợp lai giữa gà địa phương với gà thả vườn cải tiến và nhập nội từ trung tâm Bình Thắng Kết quả cho thấy: sinh trưởng tích lũy của gà Tàu Vàng (trống gà Tàu Vàng Tiền Giang lai với gà mái Tàu Vàng Tiền Giang), ở giai đoạn 8 tuần tuổi của trống và mái đạt 613,79 g và ở 12 tuần tuổi đạt 1006,16 g (mái), 1202,69 g (trống), ở 14 tuần tuổi con mái đạt 1195,05 g, con trống đạt 1493,92 g Mức tiêu tốn thức ăn 4,55 kg cho 1 kg tăng trọng
Đặng Thị Hạnh (1999) Nuôi gà thả vườn với dân nghèo Nam Bộ Kết quả cho thấy ở gà Tàu Vàng sau 3 tháng trọng lượng đạt 1,7 – 1,8 kg (trống) và 1,3 – 1,5 kg (mái) Trọng lượng trưởng thành từ 1,8 – 2,5 kg ( trống) và 1,3 – 1,8 kg (mái), sản lượng trứng đạt từ 80 – 120 quả/40 tuần đẻ
Huỳnh Thị Xuân Thủy (2002) Khảo sát sức sinh trưởng và sức sản xuất thịt của 3 giống gà: Ta Vàng, Lương Phượng và Tam Hoàng Kết quả cho thấy gà Lương Phượng sau 12 tuần tuổi đạt trọng lượng chung của gà trống và gà mái là 2062 g, với mức tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng trọng là 2,88 kg, tỷ lệ móc hàm 75,01%, tỷ lệ quầy thịt 63,5%, tỷ lê ức đùi là 37%
Trang 183.2 Thời gian và địa điểm
- Đề tài được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2008
- Trại gà Mai Xuân Tường, ấp 30/4- An Linh- Phú Giáo- Bình Dương
3.3 Đối tượng khảo sát
Đàn gà khảo sát có nguồn gốc từ gà Tàu Vàng lai với gà địa phương
Đàn gà khảo sát được lựa chọn theo ngoại hình sẵn có ở trại để đưa vào thí nghiệm
3.4 Phương pháp khảo sát
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí đàn gà khảo sát
3 con gà trống 3 con gà trống 3 con gà trống
50 con gà mái 50 con gà mái 50 con gà mái Lông toàn thân màu đen Lông toàn thân màu xám Lông toàn thân màu vàng
Trang 19Hình 1: Gà lông màu đen Hình 2: Gà lông màu xám
Hình 3: Gà lông màu vàng
Trang 203.5 Một số đặc điểm ngoại hình của đàn gà khảo sát
Đàn gà sinh sản được chia theo ngoại hình
- Nhóm gà có lông màu đen
Con trống: là giống gà trọi, thân hình nhỏ gọn, nhanh nhẹn, chân cao, nhỏ,
chân chì, lông màu xanh đỏ, lông đuôi dài cong, lông cánh màu xanh đen, mồng tẹt, tính háu đá nhau
Con mái: thân hình gọn, chân ngắn, màu vàng hoặc chân chì, lông màu đen,
lông cổ màu vàng hoặc vàng đen, mồng đơn, dẹp hình răng cưa, cao, là giống gà hay phá, đào bới để kiếm thức ăn
- Nhóm gà có lông màu xám
Con trống: thân hình vạm vỡ, chân cao, chân màu vàng, lông màu xanh đen,
lông đuôi ngắn, màu xanh, lông cổ màu đỏ tía, mặt đỏ, mồng đơn thấp
Con mái: là giống gà thích bươi phá, hay nhảy lên trên cây ngủ, hay đào bới
tìm giun và tìm thức ăn, thân hình gọn, chân ngắn, màu vàng, lông thân màu xám hoặc
màu xám đỏ, lông cổ màu vàng, vàng đen hoặc đỏ đen, mồng đơn cao
- Nhóm gà có lông màu vàng
Con trống: dáng cao, thân hình gọn, chân cao, chân màu vàng, chân thô, lông
thân màu trắng xanh, trắng đen hoặc màu đỏ tía, lông cổ màu đỏ tía, mồng đơn thấp
Con mái: gọn gàng, thân hình nhỏ gọn, lông màu khá đa dạng: màu vàng rơm,
vàng sậm, màu hơi đỏ tía…, mồng dẹp hình răng cưa, cao, chân nhỏ, màu vàng, dáng nhanh nhẹn
3.6 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
3.6.1 Chuồng trại
Chuồng được thiết kế theo 1 dãy, kiểu 2 mái, mái phủ bạt, xung quanh chuồng được bao bọc bằng lưới nylon, chuồng được chia làm 3 lô, mỗi lô có diện tích 28m2 (rộng 7m x dài 4m)
Mỗi lô có sàn cho gà ngủ, có một ổ đẻ 2 m2 (rộng 1m x dài 2m), khoảng trống còn lại thì treo máng ăn và để máng uống, mỗi lô đều có sân vận động được nối tiếp phần chuồng thành từng ô riêng biệt, mật độ nuôi thả 1 – 2 con/m 2.
Trang 213.6.2 Thức ăn
Nuôi dưỡng
Với mục đích khảo sát sức sản xuất của các nhóm gà thả vườn để có cơ sở chọn lọc những nhóm gà có khả năng sản xuất cao, sức sống và sức kháng bệnh tốt Chúng tôi sử dụng thức ăn như nhau cho 3 nhóm gà, thức ăn được mua ở công ty Cargill Việt Nam
Thức ăn được lấy về từng tuần một để đảm bảo chất lượng thức ăn, không bị
ẩm mốc do để quá lâu, khẩu phần ăn của gà đẻ luôn được kiểm soát chặt chẽ, tránh tình trạng gà ăn nhiều sẽ mập không đẻ trứng được
Cách cho ăn: gà thí nghiệm cho ăn ngày 2 lần, sáng 7h30 cho ăn 2/3 lượng thức
ăn, chiều 14h 30 cho ăn 1/3 thức ăn còn lại Khi cho ăn thật nhẹ nhàng, cẩn thận tránh làm gà hoảng sợ, nước uống được cung cấp bằng máng uống, máng uống được vệ sinh mỗi ngày để cung cấp nước sạch cho gà thí nghiệm
Mỗi ô chuồng có một ổ đẻ, ổ được lót rơm phơi khô để bảo vệ trứng ít vỡ và không bị bẩn Một máng nhỏ để cung cấp bột sò nhằm tránh tình trạng thiếu canxi ảnh hưởng đến tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng
Ngoài thức ăn thí nghiệm cho gà ăn mỗi ngày, còn cung cấp thêm rau muống thái nhỏ, lúa ủ mộng, hàng tuần còn cung cấp thêm vitamin ADE vào nước uống, những lúc thời tiết thay đổi đột ngột hoặc những ngày nắng nóng chúng tôi bổ sung thêm vitamin C vào nước uống cho gà để tăng cường sức đề kháng và chống strees
Sức khỏe con trống được theo dõi thông qua việc kiểm tra tỷ lệ thụ tinh và định
kỳ chích 0,5cc ADE cho gà trống
Trang 22Sức khỏe của đàn gà bố mẹ có ý nghĩa quyết định đến chất lượng trứng ấp, vì thế chúng tôi thường xuyên theo dõi, quan sát những biểu hiện của đàn gà để có thể phát hiện và can thiệp kịp thời để điều trị bệnh mới xảy ra hay loại thải.
Chọn trứng đem ấp
Trứng được thu nhặt mỗi ngày 2 lần (11h và 4h) Tất cả số trứng nhặt được hằng ngày dùng bút chì ghi lên đầu tù để ghi ký hiệu từng lô, sau đó cân trứng vào cuối ngày Trứng đem ấp được chọn kỹ hằng ngày, những trứng không đạt tiêu chuẩn trại bán tận thu
Trứng đạt tiêu chuẩn đem ấp là những trứng có trọng lượng từ 42 - 60 g hình ovan thật rõ nét và đều, trứng sạch, không dính phân, dính máu, vỏ trứng láng đều, không bị vòng khấc, kỳ hình Loại bỏ trứng dị hình, quá dài, quá ngắn, méo mó, dập
và dơ bẩn
Trứng đạt tiêu chuẩn chọn ấp được lau sạch trước khi đưa vào bảo quản, phòng bảo quản trứng phải kín, thoáng mát, chống nóng Trứng trước khi đưa vào máy ấp được rửa qua dung dịch thuốc sát trùng Benkoit pha loãng Trứng được đưa vào máy
3.6.3.1 Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống
Sau mỗi đợt chuyển chuồng thì làm vệ sinh chuồng trại, cổng ra vào, phun thuốc sát trùng ở trong chuồng và bên ngoài xung quanh chuồng trại Nước uống cho gà luôn luôn sạch, máng uống luôn được cọ rửa hằng ngày, máng ăn phải khô ráo, sạch sẽ
3.6.3.2 Vệ sinh phòng bệnh đối với gà
Vệ sinh phòng bệnh đối với gà là vô cùng quan trọng và cần được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo cho đàn gà phát triển tốt với sức sống cao Khi phát hiện đàn gà có những biểu hiện khác thường như: giảm ăn, kém linh hoạt, màu sắc mồng thay đổi, phân khác thường thì chúng tôi cách ly để điều trị bệnh hay loại thải
Trang 23Bảng 3.2: Lịch tiêm phòng vaccine
Ngày tuổi Tên bệnh Tên vaccine Liều dùng Đường cấp
7 Gumburo Bursa diease 2 giọt Nhỏ mắt mũi
10 Newcastls Lasota 2 giọt Nhỏ mắt mũi
21 Gumburo Bursa diease 2 giọt Nhỏ mắt mũi
3.7 Các chỉ tiêu khảo sát
3.7.1 Tỷ lệ đẻ: (%)
Tỷ lệ đẻ được tính trung bình theo mỗi tuần theo công thức sau:
Tỷ lệ đẻ (%) = (Tổng số trứng trong tuần / Tổng số ngày gà mái có mặt trong tuần) x 100
3.7.2 Trọng lượng trứng: (g)
Trứng được thu nhặt và cân mỗi ngày:
Trọng lượng trứng (g) = Tổng trọng lượng trứng / Tổng số trứng đem cân
3.7.3 Tỷ lệ trứng chọn ấp: (%)
Tỷ lệ trứng chọn ấp = (Số trứng đem ấp / Tổng số trứng trong tuần) x 100
3.7.4 Tỷ lệ trứng có phôi: (%)
Được kiểm tra vào ngày ấp thứ 6:
Tỷ lệ trứng có phôi (%) = (Số trứng có phôi / Tổng số trứng đem ấp) x 100
3.7.5 Tỷ lệ trứng chết phôi: (%)
Tỷ lệ trứng chết phôi (%) = (Số trứng chết phôi / Tổng số trứng đem ấp) x 100
3.7.6 Tỷ lệ ấp nở: (%)
Tỷ lệ ấp nở (%) = (Số gà con nở ra / Tổng số trứng đem ấp) x 100
3.7.7 Lượng thức ăn tiêu thụ: (g/con/ngày)
Tiêu thụ thức ăn (g/con/ngày) = (Tổng thức ăn trong một giai đoạn / Tổng số ngày gà mái có mặt trong tuần)