1. Trang chủ
  2. » LUYỆN THI QUỐC GIA PEN -C

Cac dan toc thieu so o Nghe An

109 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 183,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn một số vấn đề nổi cộm lên về quan niệm trong đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như ở một số ngành, giới nghiên cứu khoa học như: tên gọi dân tộc Khơ mú, hiện tượng di cư của đồng bà[r]

Trang 1

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NGHỆ AN

Lời giới thiệu

Cũng như cả nước ta, Nghệ An

là một tỉnh đa dân tộc Các dântộc ít người ở Nghệ An vừamang những đặc điểm chungcủa các dân tộc trong nước vừamang những nét đặc thù của một

số dân tộc ít người cư trú trongmột vùng lãnh thổ nhất định.Việc tìm hiểu các dân tộc ít người trong tỉnh sẽ giúp ta nhân thứcthêm sâu sắc cái chung và cái riêng về vấn đề dân tộc trong tỉnh, hiểuđầy đủ hơn tính đa dạng và phong phú của vấn đề dân tộc ở nước ta.Điều đặc biệt quan trọng là từ tình hình đặc điểm cụ thể về địa lý, môitrường sinh thái, cư dân, lịch sử của một vùng lãnh thổ nhất định, nêulên bản sắc văn hoá của các tộc người trong vùng, mối quan hệ giao lưuvăn hoá các dân tộc, tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hoá và phát triểncủa các tộc người ở đây Việc nghiên cứu các dân tộc ít người ở đây sẽcho ta cứ liệu để nói lên một cách hùng hồn những thành tựu cực kỳ tolớn của chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trongthời gian qua; mặt khác những tồn tại lâu nay ở các dân tộc trong tỉnh,đặc biệt về phương diện nâng cao hơn nữa đời sống mọi mặt của đồngbào, làm cho “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” nhưmong muốn của Bác Hồ cũng đặt ra những vấn đề cấp bách trongthời gian tới để thực hiện tốt hơn nữa chính sách dân tộc của Đảng vàNhà nước với ba nguyên tắc cơ bản là Đoàn Kết - Bình Đẳng - TươngTrợ

Phó tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc, cán bộ giảng dạy lâu năm ở khoa Lịch

sử - trường Đại học Vinh Anh có may mắn nắm bắt được đầy đủ những

Trang 2

chủ trương của tỉnh qua nhiều thời kỳ trong việc thực hiện chính sáchdân tộc trong tỉnh Anh đã tiến hành nhiều đợt điền dã Dân tộc học ởvùng núi cao Nghệ An, cùng lăn lộn trong đời sống của đồng bào cácdân tộc thiểu số ở Nghệ An trong nhiều năm trời Kết quả nghiên cứukhoa học của anh đã được công bố một phần và được đưa vào nộidung giảng dạy cho sinh viên các ngành khoa học xã hội của trường.Tại khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong công trình luận

án Nghiên cứu sinh không những anh đã tổng kết các công trình nghiêncứu của mình mà còn tập hợp các thành tựu nghiên cứu của giới khoahọc Dân tộc học Việt Nam viết về các dân tộc thiểu số ở Nghệ An để từ

đó nghiên cứu về các mối quan hệ dân tộc hiện nay Gần đây, anh còn

có dịp trở lại thực địa để bổ sung, chỉnh lý một số tư liệu, và nhất là nắmbắt những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống các dân tộc ở đây trongquá trình thực hiện công cuộc đổi mới theo đường lối Đại hội VI, VII củaĐảng ta

Mặc dù công trình của Phó tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc “Các dân tộcthiểu số ở Nghệ An” có những ưu điểm như đã nói trên, nó cũng khôngtránh khỏi những hạn chế Dù sao đấy có thể xem là công trình đầu tiênnghiên cứu tổng quát về tất cả các dân tộc thiểu số ở Nghệ An

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc Hy vọngnhững nhận xét góp ý phê bình sẽ giúp tác giả nâng cao chất lượngcông trình khi có nhu cầu tái bản

Hà Nội, ngày 4 tháng 9 năm1993

Giáo sư Phan Hữu Dật Phó Chủ tịch Hội Dân tộc họcViệt Nam

Mở đầu

Trang 3

Miền núi Nghệ An rộng lớn, có núi cao, sông sâu, hiểm trở Miềnnúi Nghệ An có vùng đất đỏ ba - zan với sản vật cây công nghiệp phongphú, vô cùng khoáng sản giàu có và quý hiếm, có rừng đa dạng vềchủng loại cây nhiệt đới, có lâm sản có giá trị kinh tế cao v.v… Miền núiNghệ An cũng đang đứng trước những thách đố nghiêm khắc của môisinh môi trường đáng báo động Vùng đất bạt ngàn đang sôi động lạicàng biến động hơn vào thời điểm này.

Việc điều tra cơ bản về tự nhiên miền đất này đã được tiến hànhnhiều lần trong hàng chục năm Nhưng trên thực tế, những vấn đề xãhội đã và đang diễn ra cũng không kém phần quan trọng rất cần quantâm nhưng chưa được chú ý điều tra cơ bản đúng mức Những hiểu biết

về con người ở vùng này trong lịch sử quả thật còn rất ít ỏi Thậm chí,đây đó còn có những khoảng trống về mặt nhận thức khoa học cần phảiđược bù đắp Trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá miền núi, làmcho miền núi tiến kịp miền xuôi, vấn đề khoa học xã hội từ trước tới nay

ít được đầu tư nghiên cứu Vì thế chủ trương ưu tiên đặc biệt cho khoahọc xã hội của Đảng tại Nghị quyết Đại hội VI và VII càng có dịp đượcthể hiện sự đúng đắn của nó Có thể nói: hầu hết các ngành kinh tế, vănhoá - giáo dục trong tỉnh đều có quan hệ trực tiếp đến miền núi ở đó,chủ thể là con người - nhân tố quyết định sự phát triển xã hội Hơn mộtnửa đồng bào trong vùng là bàn con thuộc 5 dân tộc thiểu số Họ làai? Nguồn gốc lịch sử cuat cư dân ra sao? Bản sắc văn hoá của họ nhưthế nào? Thiết nghĩ, những điều đó đều cần cho tất cả chúng ta,những người thuộc các ngành các cấp quan tâm đến đời sống mọi mặtcủa đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh, quan tâm đến công cuộcxây dựng và bảo vệ thành công chủ nghĩa xã hội ở miền núi Nghệ An.Việc gọi đúng tên một dân tộc (ethnos), tránh được sự nhầm lẫn với mộtnhóm địa phương (local group), biểu dương và tiếp thu những di sảnvăn hoá truyền thống quý báu của đồng bào hay tránh được những điều

Trang 4

kiêng kỵ trong đời sống văn hoá của đồng bài để làm tốt công tác vậnđộng quần chúng… là những điều tuy đơn giản nhưng rất cần thuết và

có ý nghĩa thực tiễn Để góp thêm và kho tư liệu về các cư dân ở miềnnúi Nghệ An, góp phần nghiên cứu nhân tố con người trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của tỉnh, cung cấp những tài liệu cho nhữngngười quan tâm nghiên cứu về cư dân ở vùng đất quan trọng này,chúng tôi biên soạn cuốn sách giới thiệu các dân tộc thiểu số trong tỉnh.Mặc dù vấn đề đã được quan tâm nghiên cứu trong suốt 15 năm nay,chúng tôi kế thừa được các kết quả nghiên cứu của đồng nghiệp v.v…song có phần vì tài liệu không có nhiều và rải rác, sự hỗ trợ tài chính đểnghiên cứu khoa học không có và về mặt học thuật vẫn còn nhiều điềuđang tranh luận, nên sự ra mắt của cuốn sách chắc chưa thể đáp ứngđược đòi hỏi của độc giả

Trân trọng cảm ơn Ban Dân tộc và miền núi tỉnh Nghệ An cùngđồng bào các dân tộc trong tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho cácchuyến điền dã sưu tầm tư liệu của chúng tôi trong những năm vừa quaTrân trọng cảm ơn sự chỉ giáo tận tâm và đầy khích lệ của các Giáo

sư Phan Hữu Dật, Giáo sư Hà Văn Tấn, Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sưĐặng Nghiêm Vạn trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thànhbản thảo

Chúng tôi trân trọng cảm ơn sự quan tâm đặc biệt của Nhà xuấtbản Nghệ An đã động viên và nỗ lực giúp đỡ chúng tôi hoàn thành cuốnsách trong điều kiện kinh phí hết sức khó khăn hiện nay

Thành phố Vinh, mùa

hạ, 1993

Tác giả

Trang 5

Chương Một

Đặc điểm địa lý tự nhiên và dân cư

I Điều kiện tự nhiên

Nghiên cứu Dân tộc học, Sử học về các cư dân vùng miền núiNghệ An không thể không đề cập đến các mặt toàn diện về tự nhiên, vềsinh thái môi trường sống của đồng bào Những sản phẩm lao độngsáng tạo của đồng bào chính là những vốn văn hoá truyền thống đượchình thành trong quá trình sống thích nghi và biến đổi vùng tự nhiên mà

họ sinh sống

Tỉnh Nghệ An nằm ở miền Bắc Trung Bộ Việt Nam, từ vĩ độ 18053

bắc, kinh độ 103030 đến 106030 đông Diện tích tự nhiên của Nghệ Anvào loại lớn nhất của cả nước: 16.250 km2, chiếm 83% diện tích củamiền Bắc Trung Bộ và chiếm gần 6% diện tích của cả nước Tổng diệntích miền núi và trung du ở Nghệ An chiếm 77% diện tích tự nhiên của

cả tỉnh, riêng vùng núi cao chiếm 58% diện tích tự nhiên

Vùng núi và Trung di là nơi sinh tụ của đồng bào các dân tộc thiểu

số tỉnh chiếm hơn ba phần tư diện tích trong toàn tỉnh và số dân chiếmmột phần tư dân số toàn tỉnh Địa giới của khu vực này tiếp giáp phíaBắc là miền núi tỉnh Thanh Hoá, phía Tây là 3 tỉnh của nước Cộng hoàDân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp vùng núi tỉnh Hà Tĩnh và phíaĐông giáp các huyện đồng bằng và ven biển

Miền núi Nghệ An rộng lớn nằm ở giao điểm của các luồng đườnggiao thông từ Bắc vào Nam (đường “thượng đạo” trước đây), từ miềnvưn biển qua đồng bằng lên vùng núi cao để sang Lào Trong lịch sửhình thành các thành phần cư dân trong vùng núi Nghệ An, địa bàn này

Trang 6

có vị trí thuận lợi đối với điều kiện sinh tồn và phát triển của môi trườngsống con người.

Theo tài liệu của các nhà Địa chất, Địa lý học, vùgn núi Nghệ An là

cả một hệ thống nhiều dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc Đông Nam Nền lục địa cổ ở vùng núi Trường Sơn Bắc trong đó có miềnnúi Nghệ An được cấu tạo từ đại Cổ Sinh và đã trải qua thời kỳ bóc mònxâm thực rất dài nên vùng này bao gồm chủ yếu là các dãy núi loại thấptrong các hệ núi ở Việt Nam Độ cao trung bình của toàn hệ thống dãynúi là 800 đến 1000 mét trên mặt nước biển Những dãy núi cao nhất là

-Pù Xai Lai Leng 2.711m và và Rào Cỏ 2.286m nằm ở dọc đường biêngiới Việt - Lào đều được cấu tạo bằng đá xâm nhập, có sườn rất dốc và

bị các dòng chảy chia cắt dữ dội Tuy nhiên, các đèo ở khu vực này cónguồn gốc kiến tạo lại khá thấp làm cho sự đi lại giữa hai sườn Đông(thuộc Nghệ An) và sườn Tây (thuộc Lào) khá dễ dàng, thuận tiện chocác luồng di cư trong lịch sử Trong khu vực, do biến động của địa hìnhphức tạp nên đã để lại mặt bằng của vùng đa dạng về đất đai thổnhưỡng, khí hậu, sông ngòi và cả nguồn động vật, thực vật

Miền núi miền Bắc Việt Nam nói chung, vùng Trường Sơn Bắc nóiriêng có đặc điểm chung là các đỉnh núi thường bị san bằng thành cácmặt cổ do được cấu tạo từ rất lâu đời trong điều kiện của khí hâu nóng

ẩm hầu như không có dao động lớn qua các kỳ địa chất Các “bề mặtsan bằng” này đều thường ở độ cao 800 - 1000m, 500 - 600m như hiệnthượng vùng đồi trước núi Hiện tượng này làm cho vùng đỉnh ở vùngnúi Nghệ An có độ cao sàn sàn nhau, đỉnh núi tương đối bằng, trong lúc

đó ở bên dưới sườn núi lại dốc hoặc rất dốc Cứ 1km độ cao giảm 12mdốc Hiện tượng này giải thích vì sao những quần động thực vật thíchhợp với giới hạn vùng dân cư trong lịch sử Những mặt bằng rộng lớncủa khối núi ba-zan Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp khác với những “bôn địa” của

Trang 7

những thung lũng rộng ở Quỳ Châu, Quế Phong hay Con Cuông, TânKỳ.

Sông suối ở miền núi Nghệ An chảy trong vùng có địa hình phân dịphức tạp nên đóng vai trò tích cực trong việc chia cắt địa hình Mặc dùmạng lưới sông suối kiểu lồng chim hay cành cây là kiểu phổ biến nhất

ở khu vực núi được cấu tạo bằng đá phiến, đá cát nhưng đều có hướngphổ biến là Tây Bắc - Đông Nam với chi lưu dày đặc, tạo nên nhiềughềnh thác hiểm trở theo hướng núi Những thung lũng được tạo ra do

sự xâm thực của sông suối và quá trình bóc mòn nói chung đã thu hútđược các điểm quần cư quan trọng với việc trồng lúa nước Hoạt độngkinh tế của con người vùng này chủ yếu tập trung theo các thung lũngsông, dọc triền sông hoặc đầu nguồn các con suối

Các thung lũng có sườn đất dù dốc cao hay thoải đều được cácquần cư dân phát đốt trồng trọt theo phương thức phổ biến là nương -rẫy Nền nông nghiệp dùng cuộc (phổ biến) hay chọc lỗ tra hạt (ở mộtvài nhóm cư dân) đều làm tăng thêm hiểm hoạ xói mòn, làm thu hẹp địabàn sinh tụ và là nguyên nhân cơ bản cho lối sống du canh du cư hàngtrăm năm nay

Điều lưu ý của các nhà nghiên cứu Cổ sinh vật học, Cổ nhân chủnghọc, Khảo cổ học, Dân tộc học… là những điểm cư trú đầu tiên củangười cổ nằm trong vùng núi đá vôi Vùng này cũng là vùng tụ cư đôngđúc của các cư dân thời hiện đại Vùng đất đồi núi thấp thường đượcgọi là “trung du” là vùng có đỉnh tương đối bằng và sườn thoải Người

cổ sơ chiếm cứ định cư hoạt động kết hợp kinh tế hái lượm (săn bắt làchủ yếu) và đánh cá Vùng đất này ngày nay là địa bàn của cư dân làmlúa nước, gồm ruộng bậc thang kết hợp với nương rẫy ở vùng núi cao

từ 800m trở lên ở miên núi Nghệ An đã bắt đầu dấu hiệu loài khí hậu ánhiệt đới và thậm chí ở một vài nơi (như Phù Xa Lai Leng…) có cả loàikhí hậu ôn đới

Trang 8

“Nhịp điệu mùa” khá rõ rệt của lãnh thổ Việt Nam tạo nên sự luânchuyển giữa hai mùa (gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ) đã tácđộng rất nhiều đến hàng loạt các nhịp điệu khác của tự nhiên miền núi:sông suối có nước dâng lên rất nhanh tạo thành các cơ lũ rừng nguyhiểm vào mùa hạ nhưng lại bị cạn vào mùa lạnh khô Cũng như lớp phủthực vật, hoạt động của động vật v.v… đều bị chi phối bởi quy luật tựnhiên đặc sắc đó của một xứ mà nhiệt độ trong năm có sự chênh lệchkhông quá lớn Tuy vậy, ở vùng núi cao chủ yếu thuộc huyện Kỳ Sơn,Quế Phong, do ảnh hưởng của độ cao một số ngọn núi và các thunglũng giữa vùng núi và các thung lũng giữa vùng núi này làm cho khí hậu

đa dạng Có những tiểu vùng khí hậu nhiều năm nhiệt độ trung bình là

100c, có những lúc xuống dưới 00c Lòng chảo thung lũng Mường Lống(thuộc huyện Kỳ Sơn) rộng trên 50ha có khí hậu giống vùng khí hậu ởSaPa, Tam Đảo Vùng này có sương muối xuất hiện nhiều lần trongnăm ở những nơi thảm thực vật rừng đã mất, xuất hiện sương muốinhiều ảnh hưởng lớn đến cây trồng và chăn nuôi gia súc

Mùa mưa ở đây kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Gió từphương Nam tới, thường có giông lớn với cường độ nhanh, lại xảy ravào dịp đốt nương làm rẫy của đồng bào làm cho đất bị xói mòn rấtnhanh chóng Lượng mưa hàng năm thường từ 1500mm trở lên, thậmchí có nơi lên đến gần 3000mm, nước sông dâng lên rất nhanh gây nên

lũ rừng đột ngột và dữ dội

Đến mùa khô hàng năm từ tháng 11 năm trước đến thang 4 nămsau, gió lạnh phía Bắc về, ít mưa, sông suối khô cạn Theo kết quảnghiên cứu của Ban phân vùng khí hậu Nghệ An: miền núi Nghệ An cóhai trong số ba miền khí hậu, gồm ba trong số mười bốn tiểu vùng khíhậu của tỉnh

Những đặc điểm của khí hậu nghiệt đới gió mùa đặc trưng ở Nghệ

An làm cho cường độ rửa trôi Bazơ mạnh, đất dễ bị chua Vì thế hiện

Trang 9

tượng đất bị đá ong hoá hoặc vùng rừng bị sa hoá là hiện tượng phổbiến ở những vùng cư dân du canh du cư.

Miền núi Nghệ An nằm giữa vùng núi Trường Sơn Bắc là nơi gặp

gỡ của nhiều đại diện thực vật từ Hymalaya qua Vân Nam lan xuống và

từ Hymalaya, In donesia lên Do điều kiện khí hậu của miền núi Nghệ

An nóng hơn hai miền núi nói trên nhiều nên kiểu rừng nhiệt đới pháttriển mạnh mẽ ở đây, nhất là độ cao từ 800m trở xuống Lên cao hơn cókiểu rừng nhiệt đới có rêu Tập đoàn thực vật quý hiếm ở vùng nàyđược coi là có giá trị kinh tế cao so với cả nước từ trước đếnnay.ở những vùng có lượng mưa kém hơn như ở Mường Xén (Kỳ Sơn),Cửa Rào (Tương Dương) có kiểu rừng kín nửa rụng lá hoặc là các trảngthứ sinh Nhìn chung đây là vùng rừng trước đây (khoảng từ 1970 trở vềtrước) còn chưa bị tàn phá, thảm thực vật còn dày, động vật cũng cònphong phú nhất là các loài thuộc bộ linh trưởng và loài gặm nhấm Cácloài thú lớn và quí như voi, bò rừng, gấu, tê giác v.v… đại diện cho giớiđộng vật cổ nhiệt đới còn khá nhiều, làm chứng cho một môi trườngsống chưa có sự biến động thay đổi lớn

Môi trường sinh thái thuận lợi cho sự phát triển của các giống loàiđộng vật, thực vật phong phú chính là điều kiện sống thuận lợi cho các

cư dân thời cổ sơ cũng như cũng như thời cổ trung đại Khả năng vềmặt nông - lâm nghiệp dồi dào, về mặt công nghiệp, vùng đất này còn

có nhiều tiềm năng rất lớn

Cấu trúc địa chất phức tạp làm cho nguồn khoáng sản ở đây thêm

đa dạng ở các đường đứt gãy của sông Cả có nhiều mỏ quý như sắt,mangan, than (Khe Bố, huyện Tương Dương), vàng (dọc sông NậmNơn và Mậm Mộ), thiếc (Quỳ Hợp), đá Rubi (Quỳ Châu và Quỳ Hợp)v.v…

Môi trường tự nhiên ở miền núi Nghệ An trong lịch sử là một môitrường sống cho con người rất thuận lợi Vì thế, trong lịch sử hình thành

Trang 10

con người ở khu vực Đông Nam á, đây là một trong những vùng trungtâm của quá trình “Sapien hóa”, là quê hương của nghề trồng lúa nước,

là một vùgn văn hoá tiêu biểu với những chiếc trống đồng nổi tiếng thờidựng nước Nhưng bên cạnh những yếu tố thuận lợi như đã nói trên, dođiều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phức tạp nên những khó khăn đối với

cư dân trong vùng cũng không nhỏ Đây là vùng núi non rất hiểm trở,thời tiết thất thường và khắc nghiệt, lũ lụt và hạn hán thường xuyên đedoạ v.v… Điều đó trở nên phức tạp, đa dạng Con người ở miền núiNghệ An trong lịch sử, dù có nguồn gốc lịch sử khác nhau đều là nhữngngười đã khai phá,, thích ứng với tự nhiên và cải tạo tự nhiên khôngngừng Trải qua những biến động của tự nhiên và biến động của cácthành phần cư dân theo thời gian, người ta vẫn chưa thể dựng lê đượcbức tranh phân bố dân cư một cách liên tục trong hang nghìn năm trướcđây của vùng đất này Nhưng điều có thể tin cậy được là vùng đất miềnnúi Nghệ An trong thời kỳ hình thành các nhóm cư dân thời cổ trung đại

là vùng đất đã từng có con người sinh sống và đã tạo nên một vùng vănhoá khó có thể trộn lẫn với cư dân của các vùng đất khác Ngày nay cưdân các dân tộc trong vùng đã tương đối ổn định về địa bàn cư trú.Ngoài bộ phận khá lớn, chiếm khoảng gần nửa số cư dân người Kinh

cư trú ở các thị trấn, nông - lâm trường còn có đồng bào Thái, Thổ,Hmông, Khơ - mú và ơ - đu Trong số đồng bào các dân tộc thiểu số ,một bộ phận không nhỏ, khoảng 50% số dân, phần lớn là đồng bàoHmông, Khơ - mú, Thổ và ơ - đu còn trong tình trạng sống du canh ducư

Cho đến nay những số liệu điều tra cơ bản về tự nhiên, địa hình,đất đai, khí hậu, thuỷ văn vốn đã được công bố và sử dụng đang cónhiều biến đổi Sinh thái môi trường khu vực đang đứng trước tình trạngsuy giảm, báo động cho sự sống con người ở đây Con người là mộtthực thể xã hội nằm trong tự nhiện, chịu tác động trực tiếp của tự nhiên

Trang 11

Vì thế, sự biến động mãnh liệ của môi trường tự nhiên diễn ra, conngười ở đây phải đương đầu để vừa thích nghi, hoà hợp, vừa cải tạohết sức khó khăn.

Những yếu tố quan trọng về tự nhiên của vùng Nghệ An - nơi tu cựcủa đồng bào các dân tộc ít người Nghệ An đã có ảnh hưởng lớn đếnphương thức canh tác, phương thức tồn tại, các hoạt động kinh tế - xãhội của con người Thiên nhiên của miền núi Nghệ An có nhiều nét đặcthù càng làm cho mối quan hệ xã hội của con người trong vùng chịu ảnhhưởng và tạo nên nét riêng biệt nhất là về văn hoá mang tính tộc người,tính khu vực

Thiên nhiên miền nui Nghệ An trước đây có thể coi là một vùng môitrường cư trú của các nhóm cư dân thuận lợi nhiều mặt Đất đai phongphú chủng loại, khí hậu ẩm nhiệt đới, động vật và thực vật giàu có vềsinh khối và giống loài, song đến nay đã bị kiệt quệ, nhiều nơi đã biếnthành đồi trọc, trảng có tranh hay cây bụi thứ sinh nghèo nàn về tiềmnăng phát triển kinh tế

Những vùng đất giàu tài nguyên (đất đai, cây lâm nghiệp, khoángsản…) đang là nơi thu hút, có sức hấp dẫn lớn đối với cư dân trongvùng Việc ổn định cơ cấu dân cư trong thời gian trước mắt, quy hoạchkhai thác và đầu tư có tính chiến lược không chỉ đối với vùng, miền màcòn có ý nghĩa quốc gia

Con người trong thiên nhiên vừa là chủ thể vừa là khách thể Mốiquan hệ biện chứng đó phải được con người cư xử sao cho hài hoà đểtranh thủ tới mức tối đa môi trường sống và tác động một cách tích cựcnhằm biến đổi tự nhiên phục vụ lợi ích của con người Người xưa cónói: “Nghệ An núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươisáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả Nam Châu Người thì thuận hoà

mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quí của lạ, được khí tốt của sôngnúi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền Lại còn khoảng đất liền với người

Trang 12

Man, người Lào làm giới hạn cho hai miền Nam Bắc, thực là nơi hiểmyếu như thành đồng ao nóng của nước và là then khoá của các triềuđại”.(1)

II Lịch sử quá trình tộc người cư dân thời cổ - trung đại ở miền núiNghệ An:

Vùng Đông Nam á đã được các nhà nghiên cứu Khảo cổ học, Nhânchủng học… coi là một trong những nơi có nhiều vết tích về sự hìnhthành con người hiện đại Vào thời đại đồ đá cũ người nguyên thuỷ đã

có mặt trên lãnh thổ nước ta Một số di chỉ Khảo cổ học ở nước ta đãđược xác định có công cụ đá của người vượn như Núi Đọ (Thanh Hoá),Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), Đồng Nai v.v…, gần đây nhữngphát hiện mới về Khảo cổ học đã cho biết những dấu vết văn hoá đángtin cậy về người vượn trên đất Nghệ An, đó là di chỉ khảo cổ học Thẩm

ồm, bên suối Bản Thắm, xã Châu Thuận, huyện Quỳ Châu Việc khámphá những bí ẩn của di chỉ Thẩm ồm cùng nhiều di chỉ khác trong vùngPhủ Quỳ (2) cho phép người ta đoán định rằng những dấu vết văn hoácủa con người ở Thẩm ồm đã ở vào giai đoạn tiến hoá cuối cùng củaNgười Vượn đang chuyển biến thành dạng người hiện đại(Homosapiens) Bên cạnh nhưng hòn cuội được ghè đẽo thô sơ, cùngvới nhiều răng xương của nhiều loại động vật lớn (vượn khổng lồ, đườiươi lùn, , gấu tre, voi răng kiếm), các nhà khảo cổ học đã phát hiệnđược 5 chiếc hoá thạch của người vượn Theo ý kiến của các nhà Cổnhân học, Khảo cổ học thì những chiếc răng của người - vượn ở Thẩm

ồm có những đặc điểm đặc trưng của người Homo sapiens, có niên đạivào khoảng 20 vạn năm về trước Đây là một trong những nơi phát hiện

ra dấu vết “Sapiens” sớm trên thế giới

Từ hậu kỳ thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới ở Nghệ An dấuvết của văn hoá Sơn Vi (mang nặng yếu tố săn bắt hái lượm), đến vănhoá Hoà Bình đã được ghi nhân như là một sự liên tục và phát triển

Trang 13

Nền văn hoá Sơn Vi ở Việt Nam được trải rộng từ Sơn La, LaiChâu ở phía Tây đến lưu vực sông Lục Nam ở phía Đông, Yên Bái ởphía Bắc và Nghệ An ở phía Nam Đó là cụm di

chỉ ở Trung du Nghệ An: Đồi Dùng (Thanh Đồng, Thanh Chương), ĐồiRạng (Thanh Hưng, Thanh Chương) và một số nơi khác thuộc miền núicao, hiểm trở (1) Các di chỉ này có nhiều hiện vật lại nằm kế cận nhau,chứng tỏ số dân của các cộng đồng người lúc bấy giờ đã tăng lên trongcác bộ lạc Sơn Vi Sang nền văn hoá Hoà Bình đặc trưng của công cụ

đá là công cụ bằng đá cuội, quacdít, được ghè đèo một mặt rất tinh tế,sắc cạnh Chủ nhân của văn hoá Hoà Bình sinh sống trong các hangđộng đá vôi thuộc phần lớn các huyện miền núi Nghệ An: Con Cuông,Tân Kỳ, Tương Dương và Quỳ Châu là những cư dân sống chủ yếu nhờsăn bắt hái lượm và bước đầu biết trồng trọt (2) Những tiến bộ kỹ thuậtvào cuối thời đại đá mới ở vùng này được ghi nhận rằng: cư dân HoàBình đã có biểu hiện tăng vọt về dân số và định cư khá ổn định trên địabàn rộng (3)

Bước sang thời đại đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt dấu vết con người trênđịa bàn này được thu thập với một khối lượng lớn các hiện vật, phân bố

ở diện rông hơn trước Khó có thể đoán định được sự di cư của cácnhóm cộng đồng người trong thời đại này thời đại chuyển biến từ sự

Trang 14

hoà nhập của các bộ lạc để hình thành các khối cộng đồng người lớnhơn trước Nhưng điều có thể khẳng định được là sự thống nhất, đadạng và liên tục của các nền văn hoá trên phạm vi phân bố rộng ở vùngnày từ Tương Dương, Con Cuông qua Tân Kỳ, Anh Sơn đến

………

(1) Các di chỉ thuộc nền văn hoá Sơn Vi phân bố trải rộng trên địabàn miền núi Nghệ An: Thẩm Bông, Thẩm Kẻ Sang, Hoàng Cồn (ChâuCường, Quỳ Châu),

Kẻ Tiên, Kẻ Thẩm: Bản Pun, Bản Moong (Quế Phong), Phúc Sơn(Anh Sơn), Piêng Pô (Liên Hợp, Quỳ Hợp) v.v…

(2) Đó là các di chỉ Thẩm Hoi thuộc huyện Con Cuông có dấu vếtvăn hoá Sơn Vi (niên đại 10875 + 175 năm, 10815 + 150 năm) hangChùa thuộc huyện Tân Kỳ mang dấu vết văn hoá Hoà Mình, công cụ đághè đẽo (niên đại 9325 + 120 năm, 9075 + 120 năm) Ngoài ra người tacòn phát hiện được các di chỉ ở hang Xiềng Lầm thuộc huyện TươngDương, ở Lục Dạ thuộc huyện Con Cuông v.v…

(3) Đây là cư dân trồng lúa cuốc đá phát triển nhiều nghề thủ côngnhư làm gốm, dệt vải chế tác đá, trao đổi sản phẩm và nguyên liệu giữacác vùng được mở rộng Tầng văn hoá của các di chỉ này rất dày, phầnlớn là vỏ nhuyễn thể, lẫn nhiều manh tước có thể là xương chế tác công

cụ đá Tại Thẩm Hoi, khai quật nhiều manh tước có thể là chế tác công

cụ đá tại Thẩm Hoi, khai quật 33m thu được 1096 manh tước (thưởng làcông cụ đồ đá nhỏ) Người ta cho rằng họ cũng là cư dân giỏi săn bắncăn cứ vào số lượng lớn xương, răng độc vật hoá thạch thu thập đượctrong hang: Hươu, nai 46%, trâu, bò rừng 24%, khỉ 2%

Quỳ Châu, Nghĩa Đàn… (1) tương đương nền văn hoá từ PhùngNguyên đến Đông Sơn, ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ Nền văn hoáĐông Sơn - thời đại các vua Hùng dựng nước - thời đại hoà hợp các bộlạc để hình thành dân tộc tạo nên nền văn minh đầu tiên trong lịch sử

Trang 15

Việt Nam Dấu tích văn hoá Đông Sơn điển hình ở miền núi Nghệ An lànhững hiện vật thu được ở Làng Vạc, bên bờ sông Hiếu ở xã NghĩaTiên, Nghĩa Đàn (2).

Đây là một trong những trung tâm của nền văn hoá nông nghiệpdùng cày, một trung tâm của trống đồng Đông Sơn nổi tiếng - thời đạirực rỡ nhất của nền văn minh sông Hồng

Cùng niên đại Làng Vạc và tiếp nối văn hoá thời đại đồng - sắt ởkhu vực này, một loạt di chỉ được phát hiện ở Đồng Mõm (Nho Lâm,Diễn Châu, Nút Nhón (Xuân Hoà, Nam Đàn…) Qua hiện vật thu thậpđược, người ta đã khẳng định ngay sau sự phát triển cực thịnh của nềnvăn hoá Đông Sơn trên vùng đất này, nghề chế tác sắt đã có nhữngbước phát triển mạnh (3)

Nhìn lại bản đồ những di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện ở miềnnúi Nghệ An, điều dễ dàng nhận thấy là sự phát triển liên tục của cácnền văn hoá từ thủa hình thành con người hiện đại đến thời kỳ hìnhthành các khối cộng đồng trong lịch sử trung đại Việt Nam Do ở xa vềphía Nam, nhờ sức sống mãnh liệt của nó mà đến lúc văn hoá Hán xâmnhập theo sự

………

(1) Di chỉ Đồi Đền, Tam Đình, Cửa Rào thuộc huyện Tương Dương,

di chỉ Lèn Hai Vai (Diễn Châu) được coi là những di chỉ thuộc sơ kỳ thờiđại đồ đồng với rìu đá có vai, dọi xe chỉ, gốm bôi thổ hoàng và có hoavăn khác vạch gần gũi gốm Phùng Nguyên Bắc Bộ Việt Nam Dấu vếtvăn hoá gắn với thời đại đồ đồng ở Nghệ An có Rú Trăn, Rú Cật (NamĐàn), Trại ổi (Quỳnh Lưu) tương đương niên đại Đông Sơn (Thanh Hoá)

và có thể tương đương giai đoạn Gò Mùn ở trung du và đồng bằng Bắc

Bộ - trước Đông Sơn

(2) Tại làng Vạc người ta đã tìm được khuôn đúc rìu đồng Kỹ nghệluyện kim đã đạt trình độ cao thể hiện qua một số hiện vật: thạp âu, dao

Trang 16

găm có gắn 2 con rắn nuốt voi Nghề làm gốm phát triển, đồ trang sứcđẹp Trống Đông Sơn ở vùng này nhiều Đặc biệt trống Sông Hiếu làtrống đồng lớn nhất nước ta, có đường kính bề mặt 0,90m.

(3) Di chỉ Đồng Mõm (xã Diễn Thọ, Diễn Châu) chỉ khai quật115m2 đã có 6 lò luyện sắt ở Xuân Giang (Nghi Xuân) tìm được lòluyện sắt, gang: cửa đón gió phía Nam để lợi dụng gió Lào Một số divật bằng sắt đã bị rỉ và vũ khí (như dao, đinh…) Một số đồ trang sứcbằng đồng rất đẹp, một số đồ gốm được trang trí hài hoà chứng tỏ kỹthuật kỹ xảo của cư dân ở đây khá cao và tư duy thẩm mỹ đã đượcnâng lên một bước ảnh hưởng, giao lưu văn hoá Đông Sơn từ Bắc vàoNam, từ Nam ra Bắc được ghi nhận ở vùng này (hiện tượng khuyên taihai đầu thú, thuộc văn hoá Sa Huỳnh chẳng hạn)

xâm lược của phong kiến Trung Quốc đã không thể xoá bỏ được Nềnvăn hoá từ Thẩm ồm đến Đông Sơn trên đất miền núi Nghệ An tồn tạiliên tục, lâu dài, bền bỉ là điều kiện thuận lợi để cư dân vùng này đối phóđầy gian khổ với thiên nhiên khắc nghiệt luôn luôn thử thách họ Trảihàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến Việt Nam văn hoá ngoại laitràn vào liên tiếp, đa dạng với ý đồ đồng hoá nhưng nền văn hoá bảnđịa vẫn được bảo lưu nhiều mặt nhờ sức sống nội tại của nó Con ngườithời nguyên thuỷ để lại vết tích văn hoá của mình trên địa bàn miền núiNghệ An rất phong phú Nhưng việc khôi phục lại bức tranh về cư dân

và phân bố cư dân trong lịch sử hàng nghìn năm nay trên địa bàn này làđiều hết sức khó khăn Các cư dân hiện đang sinh sống bao gồm nhiềuthành phần dân tộc, nói nhiều tiếng nói khác nhau, trình độ phát triểnkinh tế xã hội không đồng đều Nền văn hoá khác nhau được phân bốtrên vùng đất rộng, có thể trong số họ có dân tộc là hậu duệ của cư dânnguyên thuỷ đã để lại vết tích văn hoá phong phú và đa dạng nói trên.Những tư liệu văn học dân gian, nhất là những truyền thuyết dân gian,những cứ liệu về Nhân chủng học, Ngôn ngữ học và rất nhiều tư liệu

Trang 17

Dân tộc học về tàn dư văn hoá nguyên thuỷ… góp thêm ý kiến đểchứng minh điều đó.

III Về lịch sử phân bố tộc người

Nhìn lên bản đồ phân bố các di tích Khảo cổ học ở vùng núi Nghệ

An, người ta dễ dàng nhận thấy vùng cư trú của người nguyên thuỷ trảitrên diện rông Một số di chỉ có tầng văn hoá dày chứng tỏ họ đã định

cư với số lượng lớn và trong một thời gian dài Nhưng, việc khôi phụcbức tranh về phân bố dân cư trong lịch sử ở vùng này, đến nay vẫn cònthiếu tài liệu Những cứ liệu thành văn ít ỏi của người Thái có thể đượccoi là nguồn tài liệu thành văn duy nhất có thể dùng kết hợp với cácdòng họ lớn (1) Tài liệu về nhân chủng được sử dụng cũng chỉ là nhữngtài liệu đại lược ở các vùng khác vì vùng này chưa được điều tra kỹcàng

Bằng những nguồn tư liệu hiện có, với phương pháp nghiên cứuliên ngành ta có thể khái quát quá trình hình thành các tộc người ở vùngnày như sau:

Như đã nói ở trên, cho đến nay, giới nghiên cứu khoa học đã thừanhận Đông Nam á là một trong những cái nôi hình thành nhân loại.Trong đó Việt Nam là một địa bàn của quá trình chuyển biến từ vượnngười thành người hiện đại

………

(1) Tài liệu tiếng Thái (bản dịch) chủ yếu là gia phả các dòng họ cónguồn gốc từ Lào và Tây Bắc

Miền núi Nghệ An nằm ở vùng chuyển tiếp từ khối núi Hy ma lay

-a đến dãy Hoàng Liên Sơn s-ang khối núi Trường Sơn, thuộc vùng trungtâm của khối các nước lục địa ở Đông Nam á Các nhóm cư dân sinhsống ở đây nằm trong vùng hình thành các nhóm loại hình nhân chungMônggôlôit phương Nam (Nhóm loại hình Nam á) và Oxtralôit (bao gồm

Trang 18

nhóm loại hình Vêđôit và Nêgrôit) Một nhóm loại hình được tách ra từNam á là Inđônêdiêng do kết quả của sự hỗn chủng giữa nhómMônggôlôit Theo Nguyễn Đình Khoa, nhóm loại hình Mônggôlôit baogồm các dân tộc cư trú trong vùng núi sâu hoặc hải đảo Vùng cư dân

cư trú tương đối tập trung của họ ở Đông Dương phía Bắc từ Tây BắcViệt Nam đến Thượng Lào, phía Tây đến Mianma ( các cư dân Môn -Khơme), phía Nam tận Tây Nguyên (Việt Nam) và Hạ Lào Cư dân Khơ

- mú, ơ đu (trước đây thường gọi là “Xá”) là nhóm trung gian trong quátrình chuyển biến đó Những tư liệu về địa vực cư trú của nhóm loạihình này cho đến nay chỉ căn cứ vào tài liệu nhân chủng cho phép đoánđịnh rằng trên nền vừa trải rộng vừa liên tục của các nhóm loại hìnhInđônêdiêng, người Khơ - mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme cóđịa bàn hình thành ở miên Bắc Đông Dương Họ mới và miền Tây Nghệ

An khoảng trên dưới hai trăm năm nay Nhiều giả thiết nhắc đến sự hìnhthành khá sớm của cứ dân ở đu, cho rằng họ có thể là cư dân bản địa ởvùng này(1)

Dấu vết cư trú xưa của nhóm cư dân này còn được ghi nhận từTân Kỳ, Con Cuông đến Tương Dương, Kỳ Sơn (vùng dọc đường 7A)nhưng hiện nay chỉ còn một số lượng tất ít ỏi, chỉ có chưa đầy hai trămngười cư trú ở hai xã Kim Đa và Kim Hoà thuộc huyện Tương Dươn.Đây là một trong hai dân tộc có số dân ít nhất ở nước ta

Vùng đất Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Anh Sơn và một phầnhuyện Con Cuông trước đây rừng núi vẫn còn rậm rạp, điều kiện sinhsống tương đối thuận lợi, nhất là ở một số vùng thung lũng Đây là địabàn sinh tụ của các nhóm cư dân tộc Thổ Tộc danh Thổ là một vấn đềcần quan tâm khi xét quá trình hình thành tộc người Nhiều nhà nghiêncứu cho rằng đây là những “ốc đảo” còn lại của cư dân tiền Việt -Mường (proto Việt - Mường) do cư trú quá biệt

Trang 19

lập mà còn bảo lưu được những nét văn hoá của cộng đồng trướcđây Các nhóm địa phương của dân tộc này cư trú cách nhau khá xa:nhóm địa phương của dân tộc này cư trú cách nhau khá xa: nhóm Mọn

cư trú chủ yếu ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, nhóm Kẹo và Họ cư

………

(1) Tài liệu thành văn không thu thập được, tác giả chỉ dựa vào tưliệu truyền thuyết và các tài liệu của giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, giáo sưDiệp Đình Hoa đã viết về các cư dân này

trú ở Nghĩa Đàn, nhóm Cuối cư trú ở Tân Kỳ và Nghĩa Đàn, nhóm ĐanLai - Ly Hà cư trú ở Con Cuông, nhóm Tày Poọng cư trú ở TươngDương…

Căn cứ vào tên gọi, người ta cũng có thể nhân ra nguồn gốc cácnhóm địa phương bao gồm thành phần gốc Mường, gốc Kinh được hìnhthành vào nhiều thời điểm lịch sử khác nhau

Căn cứ vào nhiều nguồn tài liệu đã công bố trước đây, ta có thểnhận thấy cư dân Thổ mới được hình thành khoảng từ 100 - 150 nămnay (trừ nhóm Cuối không nhớ rõ gốc tích tộc người) Về tộc danh củadân tộc này, cho đến nay vẫn đanh còn có nhiều ý kiến tranh luận thuhút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu văn hoá dân tộc

Bộ phận cư dân sinh sống trên các đỉnh núi cao nhất ở Nghệ An,thường ở độ cao từ 800m trở lên là cư dân Hmông - Dao Họ đến ViệtNam từ Nam Trung Quốc qua Mèo Vạc, vào Tây Bắc, sang Lào và lại di

cư đến miền núi Nghệ An Sự có mặt của họ ở miền núi Nghệ Ankhoảng trên dưới 200 năm nay Lịch sử di cư của người Hmông gắn liềnvới nền sản xuất nương rẫy và lối sống du canh du cư Vào Nghệ An họ

cư trú tại huyện Kỳ Sơn và huyện Quế Phong Hiện nay người Hmôngđang có hướng chuyển cư sang Lào và xuống vùng thấp của TươngDương

Trang 20

Cư dân Khơ - mú sống ở đầu nguồn các con suối thuộc lưu vựcsông Lam Vùng cư trú chủ yếu của họ là lưng chừng núi nằm giữakhoảng cư trú của người Thái và Hmông Do lối sống du canh du cư,phương thức canh tác còn lạc hậu, bị chúa đất người khác dân tộc chèn

ép nên vùng cư trú của họ bị phân tán và bị đẩy vào Nghệ An khoảngtrên dưới 200 năm nay Họ có số dân trên hai vạn người, là nơI có sốdân lớn nhất trong số cư dân Khơ - mú ở Việt Nam Nơi cư trú chủ yếucủa họ hiện nay là Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong Cư dân Khơ -

mú ở Nghệ An có quan hệ tộc người gần gũi với những người đồng tộccủa họ ở Thanh Hoá (Bá Thước, Thanh Hoá) và Lào (được gộp chungvào nhóm Lào Thơng có số dân trên 50 vạn người)

Bộ phận dân cư lớn nhất, đóng vai trò rất quan trọng trong việc thayđổi bộ mặt miền núi Nghệ An trong lịch sử cũng như hiện nay là hơn 21vạn cư dân Thái Đây là nhóm Thái có số dân sống tập trung lớn vàoloại thứ hai của cả nước (sau Sơn La trên 22 vạn)(*)

(*) Theo báo cáo của các huyện, thị và tổng hợp của Ban DT& MN

tỉnh, tính đến ngày 30/6/2009, người Thái ở Nghệ An có 303.822 người, chiếm 69,39% dân số đồng bào các DTTS toàn tỉnh Theo sách " Về phát triển kinh tế xã hội Nghệ An" - NXB Nghệ An năm 2006, Tr : Người Thái ở Nghệ An đứng thứ 3, sau Sơn La và Thanh Hoá, chiếm 21% người Thái của cả nước.

Hai nhóm dân cư: người Hàng Tống, cư trú dọc đường 7A cónguồn gốc từ Mường Muỗi (Thuận Châu - Sơn La) và người Man Thanh

cư trú chủ yếu dọc đường 48 có nguồn gốc từ Mường Thanh (ĐiệnBiên, Lai Châu) là thành phần chủ yếu của cư dân Thái ở Nghệ An.Người Thái vào Nghệ An khoảng từ thế kỷ XV - XVII do nhữngnguyên nhân khác nhau: một bộ phận do chuyển cư tự nhiên từ Làosang, một bộ phận do chủ trương chuyển cư của Lê Thái Tổ (thế kỷ XV)khi chinh phạt Đèo Cát Hãn từ Tây Bắc, một bộ phận khác chuyển cư từ

Trang 21

Thanh Hoá vào Có ý kiến khác lại cho rằng người Thái đến Nghệ Anvào khoảng thế kỷ thứ X Gần đây, theo tài liệu của một học giả Pháp,người Thái đã có mặt ở vùng này trước thế kỷ VI Hầu hết các huyệnmiền núi và trung du ở Nghệ An đều có cư dân Thái sinh sống: AnhSơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong, Quỳ Châu, QuỳHợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và một số xã thuộc huyện đồng bằng QuỳnhLưu.

Từ trước đến nay, văn hoá Thái luôn luôn giữ vị trí quan trong trongviệc giao lưu văn hoá khu vực Xu hướng “Thái hoá” về văn hoá ở nhiềuvùng đã và đang xẩy ra, nhất là đối với cư dân ở ơ đu, một bộ phận cưdân ở Khơ - mú sống xen kẽ cư dân Thái, và ở một bộ phận người Thổ(nhóm Tày Poọng)

Bên cạnh cộng đồng các dân tộc ít người ở miền núi Nghệ An cònmột số cư dân người Kinh lên cư trú ở những thời kỳ lịch sử khác nhautại trung tâm các huyện, các thị trân, các Công - Nông - Lâm trường, xínghiệp quốc doanh Trước đây, họ là con cháu của các quan lại phongkiến được triều đình phong kiến cử đến cai quản theo chính sách “Ki -mi” Một bộ phận cư dân miền đồng bằng lên miền núi do không chịu nổichế độ thuế khác bóc lột nặng nề của quan lại phong kiến địa phương.Một khối lượng lớn dân cư lên miền núi theo chủ trương của Nhà nướcphát triển kinh tế văn hoá từ năm 1958 - 1960 đến nay Bộ phận cư dânnày ngày càng đông đảo, tham gia vào quá trình thay đổi bức tranhphân bố dân cư trong vùng Bộ phận người Kinh chiếm số lượng lớnnhất và giữ vị trí trung tâm khối đoàn kết các dân tộc trong khu vực Nhờ

bộ phận cư dân này mà mọi chủ trương chính sách của Nhà nước đếnvới miền núi nhanh chóng và có hiệu quả ảnh hưởng văn hoá ngườiKinh theo hướng đồng hoá tự nhiên có ý nghĩa tích cực đối với khu vực.Nhưng bên cạnh đó, nhiều vấn đề mặt trái cũng xuất hiện tác hại khôngnhỏ đến môi trường sống, đến mỗi quan hệ dân tộc trong vùng

Trang 22

Trong các tỉnh ở Bắc miền Trung, Nghệ An có thành phần cư dânphong phú và có tính biệt lập tương đối về mặt thành phần cư dân.Ngoài tộc người Kinh (Việt), sống đan xen ở các thị trấn, công nông lâmtrường quốc doanh và một số ít Hoa Kiều, Lào Kiều, số dân cư dân tộcthiểu số ở miền núi Nghệ An thuộc 5 thành phần dân tộc sau đây:

- Dân tộc Thổ bao gồm các nhóm Cuối, Mọn, Đan Lai - Ly Hà vàTày Poọng thuộc nhóm Ngôn ngữ Việt - Mường

- Dân tộc Khơ - mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme

- Dân tộc ơ đu thuộc nhóm Môn - Khơme

- Dân tộc Thái bao gồm các nhóm: Man Thanh, Hàng Tổng, TàyMười thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái Dân tộc Hmông bao gồm cácnhóm Hmông Trắng và Hmông Đen thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông -Dao

Địa bàn cư trú của các cư dân trong vùng có mặt các thành phần 4nhóm ngôn ngữ chủ yếu ở nước ta Đây là điểm cực Nam của các cưdân Hmông ở nước ta, ranh giới phía Nam của các cư dân Tày - Thái,điểm duy nhất ở nước ta có người ơ - đu Là nơi tập trung nhất và đôngnhất cư dân Khơ - mú và là nơi có cư dân Thổ nhiều nhất với các nhómđịa phương rất phức tạp và đang là một trong những điểm nóng vềnghiên cứu khoa học về thành phần tộc người có liên quan đến nguồngốc dân tộc Việt

Có một điều là là ở miền núi Nghệ An phong phú về thành phần dântộc như vậy, nhưng đi dần về phía Nam sang địa bàn miền núi Hà Tĩnh,đến tận giáp giới Quảng Bình mới có đồng bào dân tộc thiểu số; Địa bànmiền núi Nghệ An nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi không chỉ đảm bảo chonhững điều kiện tự nhiên môi trường sống thích hợp mà còn là ngã tưcủa các đường thiên di của các luồng cư dân trong lịch sử

Vùng đất này là vùng chuyển tiếp trung gian từ khối núi Tây Bắt ViệtNam đến khối núi Trường Sơn - Tây Nguyên Vùng này nằm sâu vào

Trang 23

chân thềm cao nguyên Trấn Ninh, là vùng được các nhà Địa lý học coi

là cuống phễu hẹp nhất từ Bắc vào Nam, là nơi thu nhận sự di thực củathực vật, di cư của động vật và thiên di của cư dân từ Bắc xuống Nam -luồng di dân có tính quy luật trong lịch sử các tộc người trong vùng.Đây cũng là vùng đất nằm ở giao điểm của các luồng đường giaothông quan trọng trong lịch sử Lưu vực sông Cả với các chỉ lưu chạy từLào qua vùng đất này để đổ ra Biển Đông là điều kiện thuận lợi cho sự

di cư xuống - ngược dọc đầu khe ngọn xuối đến đôi bờ hạ lưu Sự tănggiảm đáng kể của dân số các dân tộc Khơ - mú, Ơ đu trong vùng, tronglịch sử là những minh chứng cho sự chiếm cứ một cách thuận lợi nhữngvùng đất mà điều kiện đi lại, điều kiện tự nhiên cho phép Người Thổ vớinhóm Tày Poọng (Tương Dương) Đan Lai - Ly Hà (Con Cuông) hay cácnhóm Mọn, Họ, Cuối (Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp) đều có quan hệnguồn gốc với các cư dân hoặc là ven biển Cửa Hội (?) hay là YênThành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu ngược ngàn

Thời Trung đại, đường “thượng đạo” chạy dọc vùng giáp ranh giữatrung du và đồng bằng theo tuyến Bắc - Nam là con đường các triều đạiphong kiến hành quân chinh phạt, cũng chính là một tuyến di dân đángchú ý Hậu quả lịch sử là cho đến nay thành phần và cư dân ở miền núiNghệ An có quan hệ nguồn gốc hay qua lại với các thành phần cư dân

ở các vùng kề cận ở Thanh Hoá (1) có các dân tộc thuộc nhóm ngônngữ tương tự ở Nghệ An: dân tộc Thổ, Mường (thuộc nhóm ngôn ngữViệt - Mường) dân tộc Khơ - mú (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme),dân tộc Thái (thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái) dân tộc Hmông và dântộc Dao (thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao) ở Lào thuộc Khăm Muộn

và Xiêng Khoảng có các cư dân Lào Lùm (chủ yếu thuộc nhóm ngônngữ Môn - Khơme), cư dân Lào Sủng (chủ yếu thuộc nhóm ngôn ngữHmông - Dao) v.v…

Trang 24

Những tài liệu từ trong vòng dăm bảy chục năm gần đây cỏ thể chophép ta thấy rằng: Sự gia tăng dân số diễn ra rất mãnh liệt ở trong vùng.

- Năm 1934 có khoảng 25.000 - 25.000 người

- Năm 1936 có khoảng 30.000 người

………

(1): Xin xem phần phụ lục

(*): Theo tổng hợp của Ban DT & MN tỉnh qua báo cáo của các huyện, thị, tính đến ngày 30/6/2009, miền núi Nghệ An có 1.145.433 người, trong đó có 436.074 người DTTS (chiếm 38%), 709.359 người Kinh (chiếm 62%)

di cư tự do lối sống du canh du cư của nhiều nhóm dân tộc vẫn chưađược chấm dứt Điều đó vàng làm cho các bảng biểu điều tra dân số,dân tộc càng thêm phức tạp Theo số liệu của cuộc Điều tra dân sốngày 1 tháng 4 năm 1989 dân số các thành phần dân tộc ở miền núiNghệ An được phân bố như sau:

Dân số các dân tộc thiểu số cư trú ở các huyện trong tỉnh (1)

Trang 25

Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu Hộ Khẩu H

Khẩu1

11.87941.95530.83329.86938.14634.56013.1718.9651.372566

48167

2.244

3.192

2.115

3571.16273

11.513

16.447

10.893

1716753

43201

13.0355.562

3021.336

1.922168

179

14.5051.370

1.793

23194

Trang 26

7.766

40.445

2731

20.235

2.269

17.665

23194

Mối tương quan về dân số các dân tộc thiểu số hiện nay ở miền núiNghệ An (*)

Hmông

ơđu

72

40.445

13

20.235

0,6

17.665

0,5

1940,006

(1) Tài liệu dựa theo Ban Dân tộc và miền núi Nghệ An

(*): Mối tương quan về dân số các DTTS ở Nghệ An tính đến 30/6/2009:

đuTương quan

Dân số

(người)

Tỷ lệ (%)

303.88269,39

67.819

15,49

35.686

8,15

29.412

6,72

6130,15

Mật độ dân cư trung bình ở miền núi Nghệ An hiện nay là 45người/1 km2 ở một số vùng ở vùng núi cao, mật độ dân cư rất thấp: 24người/1 km2, chủ yếu ở huyện Kỳ Sơn và huyện Quế Phong

Trang 27

Có thể so sánh mối tương quan về số dân so với diện tích đất đainhư sau (1):

Tương quan Đất đai

(%)

Dân số

(%)Các vùng

Miền núiTrung duĐồng bằng

562618

71875

Sự phân bố dân cư của các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An cóđặc điểm nổi bật, vừa mang tính chất thống nhất của các dân tộc ở miềnnúi phía Bắc nước ta vừa có tính chất khu vực tương đối dễ nhận

Vùng cư trú của các dân tộc không phân biệt rõ giữa lãnh thổ tộcngười và lãnh thổ hành chính Họ sống xen kẽ nhau, tuy có một số vùng

có tính chất biệt lập nhưng không phổ biến Một số vùng tương đối đôngcủa cư dân Thái như ở Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông, TươngDương, Quỳ Hợp; cư dân Hmông, Khơ - mú ở Kỳ Sơn, cư dân ở đu ởTương Dương; cư dân Thổ ở Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp Một sốnhóm địa phương sống độc lập với khối cộng đồng đông đảo của họnhư nhóm Tày - Poọng thuộc dân tộc Thổ (ở Bản Phồng, xã Tam Thái,huyện Tương Dương), nhóm Đan Lai - Ly Hà thuộc dân tộc Thổ (ở MônSơn, Lục Dạ, ………

(1): Số liệu điều tra trước khi Chính phủ công nhận thêm một sốhuyện xã thuộc địa bàn miền núi vào năm 1992

Trang 28

huyện Con Cuông), dân tộc ơ đu (ở Kim Đa và Kim Tiến, huyện TươngDương)… Tình trạng đó dẫn đến việc trên cùng một địa bàn, có xã cóđến 3 - 4 thành phần dân tộc cùng cư trú, có huyện có đến 3 thành phầndân tộc cư trú (huyện Kỳ Sơn có 4 thành phần dân tộc có số dân tươngđương nhau) Vì thế, mật độ dân cư cũng không đồng đều ở các thunglũng có đất đai thuận lợi cho trồng trọt mật độ dân số cao và ngày càngthu hút dân cư từ nơi khác đến Hiện tượng tranh chấp đất đai trong lịch

sử cũng như cho đến nay luôn luôn là vấn đề nóng bỏng và nan giải chocác cấp quản lý hành chính

Đặc điểm cần quan tâm là do cư trú theo địa hình nên có sự chênhlệch khá lớn về độ cao của nơi cư trú (nhà cửa, làng bản) Nhiều vùngsinh thái môi trường sống thực sự khác hẳn nhau: vùng rẻo cao, vùnggiữa và vùng thấp Vì thế phương thức canh tác ở các vùng cũng khácnhau đáng kể Người Thái cư trú ở ven sông vùng trung lưu sông Cả.chiếm cứ các các thung lũng tương đối rộng, thuận tiện việc trồng lúanước và chăn nuôi Đây là địa bàn tranh chấp của nhiều cư dân tronglịch sử Người Thổ, đa số cư trú ở vùng đồi thấp trước núi Đây là vùngthuận lợi cho việc trồng lúa khô, các loại cây củ quả Một số nhóm địaphương người Thổ có nghề đánh bắt cá dọc các sông suối với nhiềukinh nghiệm dân gian ở đầu nguồn khe ngọn suối “côn dú hiểm du tung”

là địa bàn sinh tụ của cư dân Khơ mú và ơ đu Kinh tế nương rẫy gắnliền với du canh du cư làm cho vùng sườn núi bị rửa trôi thảm thực vậtrất nhanh, đất bạc màu, sa - van hoá là phổ biến Bộ phận cư dân nàyđang trong tình trạn lúng túng về phương thức canh tác Từ phươngthức canh tác Từ phương thức chọc lỗ tra hạt đến việc thau đổi chuyểnsang làm ruộng nước, ruộng bậc thanh là cả một vấn đề không đơngiản ở vùng núi cao, cư dân Hmông lấy việc canh tác nương rẫy làmnguồn sống chủ yếu Lối sống du canh du cư lâu đời vẫn còn trong nếpnghĩ nếp làm ăn của đồng bào Đồng bào đang xuối núi dần, bắt đầu

Trang 29

làm ruộng bậc thang, ở một số nơi kết quả bước đầu rất đáng phấn khởi(xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn).

Đặc điểm đáng chú ý ở miền núi Nghệ An là mặc dù sống xen kẽhay biệt lập, ở thị trấn đông người hay ở vùng cao, vùng sâu xa xôi mốiquan hệ về dân tộc vẫn giữ được khá chặt chẽ Tuy chợ miền núi chưaphát triển nhưng những điểm tụ cư đông đúc, những dịp hội hè, giaoduyên nam nữ… vẫn là những điều kiện thuận lợi cho sự gặp gỡ tiếpxúc tăng cường mối quan hệ dân tộc lành mạnh

Tuy thực tế ở vùng này có nhiều dân tộc cùng cư trú nhưng số dân

ở mỗi dân tộc cũng chênh lệch nhau Người ơ đu chỉ còn một vài trămngười, đang có nguy cơ hoà tan vào cộng đồng Thái Dân tộc Thái có sốdân đông nhất và thực sự là dân tộc đa số ở trong vùng

ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá Thái diễn ra trong cộng đồngcác dân tộc trong vùng là hết sức phổ quát, mãnh liệt và ngày càng tăngnhanh

Quá trình hình thành tộc người trong vùng trong lịch sử đã để lạibức tranh phân bố tộc người mang đặc điểm như là bức tranh thu nhỏcủa sự phân bố cư dân các dân tộc ở nước ta; phong phú và đa dạng,vừa có những tính biệt lập riêng độc đáo vừa có tính thống nhất về vănhoá Còn một số vấn đề nổi cộm lên về quan niệm trong đồng bào cácdân tộc thiểu số cũng như ở một số ngành, giới nghiên cứu khoa họcnhư: tên gọi dân tộc Khơ mú, hiện tượng di cư của đồng bào Hmông vàKhơ - mú trong khu vực, các nhóm địa phương của đồng bào Thổ (nhất

là Đan - Lai, Ly - Hà, Tày Poọng…) nguồn gốc lịch sử các tộc ngườitrong vùng, sự “đồng hoá tự nhiên” của đồng bào Ơ đu v.v…

IV Một số đặc điểm về kinh tế – xã hội văn hoá

Từ sự khác nhau khá xa về phương thức canh tác và thời gian cómặt của đồng bào trong khu vực cũng rất khác nhau và cho đến nay,như đã nói trên, việc xác định thành phần cư dân “bản địa” là ai cũng

Trang 30

chưa dễ dàng trả lời, cho nên những đặc điểm chùng của các khối cộngđồng các dân tộc trong vùng là điều chưa thể thống nhất về nhận thức.

Cư dân có số dân đông nhất là đồng bào Thái, trước Cách mạngtháng Tám 1945 đã đạt đến trình độ cao trong việc canh tác ruộngnước Nhiều thành tựu về sản xuất kinh tế được ghi nhận là một truyềnthống ổn định như kỹ thuật làm đất, dẫn nước vào ruộng, luân canh xen

vụ, sản xuất kết hợp với bảo về môi sinh, một số nghề thủ công nghiệpđạt kỹ xảo ca như dệt thổ cẩm v.v…

Đồng bào Thổ, Khơ - mú, Hmông và ơ đu sống bằng kinh tế nươngrẫy là chủ yếu Song sự khác nhau cũng thể hiện ở mức độ đậm nhạt.Người Thổ có chiếc “Cày nại”, biết làm ruộng nước Người Hmôngthành thạo trong việc canh tác nương rẫy, vườn rẫy gia đình, sử dụngthành thục chiếc cuốc bướm trên vùng đất có độ dốc cao Người Khơ -

mú còn đang trong tình trạng phát đốt, chọc lỗ tra hạt du canh du cư,phân phối sản phẩm còn bình quân nguyên thuỷ

Nghề trồng gai và chế biến sản phẩm từ cây gai của đồng bảo Thổ,nghề rèn và săn bắn ở đồng bào Hmông, nghề đan lát ở đồng bào Khơ -mú… là những ngành nghề kinh tế đặc trưng của đồng bào

Nền kinh tế “Săn bắt - hái lượm” vẫn còn đóng vai trò khá quantrọng trong đời sống của đồng bào nhất là ở những cư dân còn trongtình trạng du canh di cư như đồng bào Khơ - mú, một bộ phận khá lớnđồng bào Hmông và một số nhóm địa phương người Thổ Tuy nhiênsống giữa một vùng thiên nhiên đa dạng, ngay cả đồng bào Thái, Kinh,

“kinh tế tự nhiên” vẫn còn có vị trí đáng kể trong đời sống kinh tê

Trước Cách mạng tháng Tám, quan hệ xã hội các dân tộc thiểu số

ở nước ta nói chung một mặt bị chi phối bởi quan hệ thực dân nửaphong kiến, mặt khác do hoàn cảnh cụ thể của từng vùng, từng nhómdân tộc theo quan hệ nội tại phụ thuộc vào trình độ phát triển của họ Xãhội Thái bước vào xã hội có giai cấp Sở hữu đất đai, sản vật núi rừng

Trang 31

đã được quy định thành lệ mường luật bản khắt khe Chế độ đẳng cấpđược xác lập Vai trò của dòng họ không chỉ là yếu tố huyết thống màcòn mang tính giai cấp và đẳng cấp.

Từng địa phương đã có những dòng họ quý tộc qui định rõ tráchnhiệm quyền lợi Các quan hệ Bản, Gia đình, Dòng họ có những chếđịnh rõ ràng thể hiện một xã hội đã phát triển tương đối cao

Người Khơ - mú mới vào miền núi Nghệ An trong vòng vài ba trămnăm nay còn trong tình trạng sản xuất nương rẫy với công cụ thô sơ.Sản phẩm lao động ít ỏi và bấp bênh, phân phối sản phẩm còn mangnặng dấu vết bình quân nguyên thuỷ, tích luỹ của cải còn ít ỏi… chưa đủsức để xuất hiện một xã hội phân hoá giai cấp ở trình độ cao Sự tươngthân tương ái trong hoàn cảnh nay đây mai đó đóng vai trò quan trọngtrong lối sống xã hội của đồng bào

Người Hmông đến vùng rẻo cao Nghệ An với hành trang của cưdân tổ tiên đã từng thành thạo tài năng trong canh tác nương rẫy ở vùngrừng núi cao Tây Bắc Gặp vùng rừng đất tốt, chiếc cày Hmông khôngcần thiết phải sử dụng, sản xuất nương rẫy đủ sinh sống và quên dầnmón “mèn mén” Nhưng tài nguyên dù phong phú đến đâu cũng có giớihạn Lối sống du canh du cư truyền kiếp do quá khứ để lại cộng với

sự tàn kiệt của môi sinh tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế và quan

hệ xã hội của người Hmông Xã hội được phân chia đẳng cấp, giai cấpmang nặng ảnh hưởng dòng họ ngự trị trong quan hệ xã hội của họ Xãhội của họ tổ chức chặt chẽ, ít biến đổi trong thực tế biến động của xãhội

Người ơ - đu theo tương truyền “một thời oanh liệt” khồng còn Dân

cư ít, lại đan xen vào vùng đồng bào Thái, quá trình bị “Thái hoá” đã vàđang xảy ra và đến nay đang đứng trước hoàn cảnh hỗn huyết trên bìnhdiện dân tộc

Trang 32

Các nhóm địa phương người Thổ cho dù nguồn gốc khác nhau,sống ở những vùng đất cách nhau rất xa song cách thức sản xuất, phânphối sản phẩm và tổ chức xã hội về cơ bản vẫn là một nền tương đồng.Gốc Việt - Mường tách ra chưa xa lắm, các nhóm địa phương ngườiThổ vẫn giữ thiết chế xã hội cổ truyền của các cư dân Việt - Mườngsống kề cần (người Thổ, Mường ở Thanh Hoá, người Kinh ở các huyệnđồng bằng ở Nghệ An hay cư dân Tày Pụm, Tày Tum ở Lào).

Vấn đề sở hữu đất đai là yếu tố bao trùm lên các yếu tố của sinhhoạt kinh tế, chế độ xã hội và cả sinh hoạt văn hoá

Sự khác nhau ở mỗi cư dân của các dân tộc nói trên đã làm cho sựphong phú được thể hiện ở nhiều cung bậc khác nhau khá đậm Yếu tốđồng hoá (bao gồm cả đồng hoá tự nhiên và đồng hoá cưỡng bức), hoàhợp dân tộc hay cố kết dân tộc là những sức tác động liên tục, đáng kểđến mối quan hệ nhiều mặt giữa các dân tộc trong vùng Quá trình “tiếpbiến văn hoá” (chữ mới của Giáo sư Hà Văn Tấn) diễn ra rất mạnh mẽ,nhất là trong thời hiện đại

Vườn hoa đầy sắc hương về văn hoá của các dân tộc ở miền núiNghệ An đang toả trên phố rộng Giữ gìn, bảo lưu, kế thừa có chọn lọcđối với di sản văn hoá dân tộc của đồng bào đang là vấn đề cấp bách,cần thiết, không chỉ đối với ngành Dân tộc học

số dân 40.445 người tính đến 1/4/1989 (*) Tên gọi Thổ mới

Trang 33

(1) Tổng cục Thống kê - Danh mục các thành phần dân tộc ViệtNam Hà Nội, ngày 02/3/1979

(*): Theo tổng hợp của Ban DT & MN, tính đến 30/6/2009, người

Thổ ở Nghệ An có 67.819 người, chiếm 15,49% dân số DTTS toàn tỉnh.

có từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 Trước đây họ được gọi bằngcác tên gọi khác nhau như Nhà Làng, Côn Khạ, Xá… Các tên gọi mang

ý nghĩa không đúng đắn nên không được đồng bào chấp nhận

Các cư dân Đan Lai - Ly Hà và Tày - Poọng được các nhà Dân tộchọc gọi là các nhóm địa phương (localgroup) Người Đan Lai - Ly Hàhiện đang cư trú tại các xã Môn Sơn và Lục Dạ thuộc huyện Con Cuônghiện nay Người Tày Poọng cư trú tại bản Phồng, xã Tam Thái, huyệnTương Dương

Việc điều tra dân số đồng bào Thổ từ trước tới nay rất khó khăn vìngoài sự biến động tự nhiên, còn có khó khăn do tộc danh không thốngnhất Nhiều lần, nhóm Tày Poọng bị góp vào dân tộc Thái hay tách riêngĐan Lai - Ly Hà thành một dân tộc riêng Số liệu dân số sau đây dùng

để tham khảo về sự phân bố, gia tăng dân số và những lệch lạc đó

Con Cuông

Tương Dương Năm

1970

1984

1990

10.139

12.822

16.447

6.2007.67511.515

4.5806.57221.907

4001.162

Điều tra theotộc danh Thái 357

(Ghi thêm số liệu mốc 1970 và 1984 để tham khảo)

Trang 34

Sự khác nhau về tên gọi của các nhóm người nói trên nằm trongcộng đồng dân tộc Thổ đã nói lên thành phần khá phức tạp của một dântộc với số dân ít ỏi được phân bố trên một địa bàn rộng với nhiều nhómtách biệt nhau Ngay cả tiếng nói của họ giữa các nhóm dân cư cách xanhau cũng rất khó khăn trong việc giao tiếp trong nội bộ những ngườiđồng tộc Điều này làm cho các nhà nghiên cứu từ trước đến nay gặpnhiều sai sót trong việc xác định danh mục dân tộc này.

Mặc dù tên gọi Thổ được Nhà nước công nhận và trở thành tên gọithống nhất trong cả nước (1) nhưng cho đến nay ý kiến tranh luận về tộcdanh này vẫn chưa phải đã kết thúc (2)

………

(1) Như trang bên

(2) Có nhiều ý kiến cho rằng cộng đồng Thổ là tộc người (ethnos)nhưng hiện nay đanh có một số ý kiến khác, có ý kiến cho rằng dân tộcThổ là bộ tộc , có ý kiến cho là các nhóm địa phương người Việt NhómKủo (gốc người Việt) hiện cư trú tại các xã Nghĩa Tiến (trừ làng CátMộng), Nghĩa Lợi, Nghĩa Đức, Nghĩa Quang (làng Dương), NghĩaThắng (làng U, làng Rai), thuộc huyện Nghĩa Đàn và các xã Hạ Sơn,Văn Lợi, Tam Hợp… thuộc huyện Quỳ Hợp Nhóm Mọn (gốc ngườiMường) hiện cư trú tại làng Cát Mộng xã Nghĩa Tiến, xã Nghĩa Đức, xãNghĩa An… huyện Nghĩa Đàn

Nhóm Cuối được coi là cư dân bản địa hiện cư trú tại các xã TânHợp huyện Tân Kỳ, làng Lơ, làng Rạch, làng Đống ở xã Nghĩa Quang,huyện Nghĩa Đàn Hai vùng này có tiếng nói nặng - nhẹ khác nhau nênphân biệt: Cuối Chăm (Cuối Tẻ) ở Tân Hợp và Cuối Niêu ở NghĩaQuang có nhiều ý kiến cho rằng đồng bào Đan Lai ở Mường Quả (ConCuông) cũng thuộc nhóm này

Nhóm Đan Lai - Ly Hà và Tày Poọng có thể là hậu duệ cư dân Việt

cổ di cư từ Thanh Chương lên hiện cư trú tại xã Châu Khê bản Co

Trang 35

Nghịu, Co Phát (xã Môn Sơn) bản Khe Mọi (xã Lục Dạ) xen kẽ ngườiThái ở bản Khe Choang (xã Châu Khê), bản Yên Khê (xã Trung Chính)thuộc huyện Con Cuông bản Văng Muông, Trung Hương (xã TamQuang) và người Tày Poọng ở Bản Phồng (xã Tam Thái), huyện TươngDương.

Người Thổ là cư dân nói ngôn ngữ Việt - Mường Điều này các nhànghiên cứu đã thừa nhận những việc tìm hiểu về dân tộc này cần đượctiếp tục đặt ra tìm nguồn gốc sâu xa của các cư dân Việt - Mường

Vùng cư trú của đồng bào Thổ hiện nay là vùng giao điểm củanhiều đường thiên di của các luồng cư dân trong khu vực miền núi Nghệ

An Đây là khu đệm từ đồng bằng lên miền núi cao phía Tây, là vùngđệm giữa vùng núi Tây Bắc kéo trũng xuống phía Nam Điều dễ nhậnthất là địa bàn sinh sống hiện nay của người Thổ Nghệ An gồm hai khối

cư dân cư trú tương đối tập trung nhưng lại ở cách xa nhau, gần nhưbiệt lập với nhau Khối cư dân đông đúc hơn ở phía Đông Bắc bào gồmcác nhóm Kẹo, Mọn và Cuối Khối cư dân ít hơn ở phía Nam bao gồmcác nhóm Đan Lai - Ly Hà và Tày Poọng Các nhà Dân tộc học đã từngnghiên cứu dân tộc này đều cho đó là các nhóm địa phương

Trên cơ sở của kết quả nghiên cứu từ trước tới nay về dân tộcThổ của nhiều người, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: Dân tộc học,Ngôn ngữ học, Văn hoá dân gian… kết hợp nguồn tư liệu điền dã trongnhững năm gần đây, chúng tôi thấy cộng đồng người Thổ được hìnhthành bằng các nhóm địa phương sau đây:

Nhóm địa phương được coi là nhóm có số dân đồng nhất (1) Hầuhết các cụ già trong trong nhóm đều nhờ về một quê hương xa xưa củamình từ đồng bằng di cư lên Một số bản gia phả dòng họ mà ching tôisưu tầm được Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn ghi rõ nơi ra đi của họ là

Trang 36

(1) Các nhóm Mọn, Họ, Cuối gọi người Kinh cũng là “Kẹo”

Diễn Tháp (Diễn Minh - Diễn Châu ngày nay) hoặc là Quỳnh Lưu,Yên Thành(1), thậm chí trong số cư dân Kẹo Họ còn có dòng họ gốc gác

ở Đức Thọ, Cẩm Xuyên (thuộc Hà Tĩnh), hoặc Hưng Nguyên (2)

Trong ký ức của đồng bào vẫn còn nhớ những biến động lịch sửlớn của một thời xa xăm buộc họ phải chuyển cư lên miền núi sinh sống

để trốn tránh tô thuế nặng nề của chế độ phong kiến ở miền xuôi, hoặc

để lẩn tránh các bệnh dịch (3) v.v… Có nơi đồng bào còn kể lại

………

(1) Từ thời Lê huyện Đông Thành bao gồm đất của huyện YênThành và Diễn Châu ngày nay huyện Quỳnh Lưu thời thuộc Minh là đấtcác huyện Quỳnh Lâm, Phù Lưu, Trà Thanh thuộc phủ Diễn Châu Lúcbấy giờ, Quỳnh Lưu bao gồm cả Nghĩa Đàn ngày nay Vì vậy cư dânngười Kinh chuyển cư từ Diễn Châu và Quỳnh Lưu lên Nghĩa Đàn (baogồm cả Quỳ Hợp) là sự di chuyển dân cư trong một huyện

(2) Dòng họ Trương (2 bản ở xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp) có gốc ởBùi Xá, huyện Đức Thọ mới lên lập nghiệp 10 - 11 đời Hai anh em Tơ

và Tưởng là người có công lập bản ở xã Văn Lợi (huyện Quỳ Hợp) có

họ ở Bản Sồng, gốc ở tổng Mỵ Duệ (huyện Cẩm Xuyên) Nhiều dòng họgốc ở Hưng Nguyên lên xây dựng kinh tế mới từ 1960 do sống gầnngười TháI, tách biệt với người Kinh nên ảnh hưởng văn hoá Thổ kháđậm nét Gần đây, trong các văn bản hành chính của họ, nhiều gia đình

đã khai là dân tộc Thổ Những cặp vợ chồng khác dân tộc thì con cáicủa họ đều ghi là người dân tộc Điều này làm cho công tác điều trathành phần dân cư dễ nhầm lẫn

(3) Phần lớn người già ở vùng Tân Kỳ, Nghĩa Đang, Quỳ Hợp(nhóm Kẹo, Họ) đều cho rằng tổ tiên của họ di cư đến vùng này 6 - 8đời Gia phả dòng họ Trương ở Thọ Hợp, Hạ Sơn, họ Nguyễn ở Nghĩa

Trang 37

Lợi Nghĩa Đức đều chép họ có nguồn gốc người Kinh Nếu tính 20năm/1 thế hệ, thì họ đã có mặt ở vùng này khoảng 150 - 200 năm Tưliệu này phù hợp với các nguồn tài liệu của sử giả Triều Nguyễn “năm

1819 dân Nghệ An phiêu tán mất 20.000 người Chỉ trong 2 năm (1817 1819) vì dân “tránh chỗ nặng đến chỗ nhẹ” (Thuế khoá - N.Đ.L) Sách

-“Đại nam thực lục chính biên” chép: “Năm 1820, các huyện ĐôngThành, Quỳnh Lưu, Thanh Chương (thuộc Nghệ An) phiêu tán mất 7 xãthôn, 191 người, bỏ hoang 140 mẫu ruộng Cả hạt phiêu tán mất 63thôn Năm 1834 “Nghệ An mất 22 xã thôn”

Gia phả nhiều dòng họ ở Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Con Cuông ghi chépkhá rõ về phạm vi hoạt động và ảnh hưởng trực tiếp của nghĩa quân LêDuy Mật đối với sự phân bố cư dân trong vùng Khởi nghĩa Lê Duy Mậtkéo dài trên 32 năm (1738 - 1770), hoạt động rộng khắp miền núi Nghệ

An, từ Giai Xuân (Tân Kỳ) là căn cứ đầu tiên đến đồn Trình Quang ởTrấn Ninh (tức tỉnh Xiêng Khoảng của Lào) Nghĩa quân đã hành quân

và đánh chiếm một số đồn bốt quan trọng như đồn Pù Piệt (xã ThôngThụ, Quế Phong), đồn Ta Leo (Kỳ Sơn), đồn Mường Mật (xã ThạchGiám, Tương Dương), đồn Hoa Quân (Thanh Chương) và có nhiều lầntiến quân ra Thanh Hoá rồi quay về Tân Kỳ…

những ấn tượng hãi hùng về những trận tranh chấp đất đai trongcác vụ “loạn giặc Xá” (có thể là tranh chấp đất đai với các tộc làng giềngnhư Thái hoặc các nhóm địa phương người Thổ nhưng gọi đối phươngbằng “Xá”) Đồng bào vẫn còn nhớ về sự kiện “quân quan Lê Duy Mật”một thời náo động núi rừng Thượng du làm xáo trộn thành phần cư dântrong vùng, không chỉ dân tộc Thổ mà cả các dân tộc khác (1)

Nhóm cư dân mang tên Mọn đang cư trú ở vùng Nghĩa Đàn cónguồn gốc là người Mường từ Như Xuân và Ngọc Lạc (Thanh Hoá)

Trang 38

Phần lớn đồng bào tự nhận là gốc Mường, một số ít nhận là gốc Việt (2).Phần đông đồng bào cư trú ở Tổng Lâm La cũ.

Nhóm cư dân mang tên “Cuối” được nhiều nhà nghiên cứu Dân tộchọc gọi là lớp cư dân bản địa Có người gọi đó là những “ốc đảo” cònsót lại của người Việt cổ trong quá trình bước vào thời kỳ phân hoá Việt

- Mường Tiếng nói của họ có nhiều yếu tố giống tiếng nói cư dân ĐanLai - Ly Hà và Tày Poọng Đây là nhóm cư dân có tiếng nói mang nhiềuyếu tố cổ xưa hơn cả, không giống tiếng nói của các nhóm khác đếnmức họ không thể giao tiếp được (3) Vì thế nhiều nhà Ngôn ngữ học chorằng tiếng Cuối là một ngôn ngữ độc lập, song song với tiếng Mường,tiếng Việt và tiếng Chứt chứ không phải là phương ngôn tiếng Mường.Qua câu chuyện truyền miệng của các cụ già và một bài cúng khi đưangười chết có thể đoán định nguồn gốc lâu đời của họ trên vùng đất mà

họ đang cư trú (4)

………

(1) Các dòng họ gốc người Việt từ Yên Thành, Diễn Châu lên là: Họ

Lê (Làng Vơn), họ Cao, Trương (Nghĩa Lợi), họ Nguyễn, Võ, VũTrương, Hồ (Nghĩa An), họ Hoàng, Trương (Nghĩa Đức), họ Lê (NghĩaQuang), họ Phan (Tân Hợp), các họ gốc Mường (Như Xuân, Ngọc Lạc -Thanh Hoá) có Lê Vũ, Lê Văn, Lê Trọng, Lê Khắc, Lê Đăng Thi Nhịtrong bài “Vài nét về người Thổ Nghệ An” cho biết trong 21 họ thì có 17

họ gốc Việt, 4 họ gốc Mường

(2) Đồng bào trong vùng gọi là người Lâm La Tổng Lâm La thờithuộc Minh thuộc huyện Thúy Vân, Phủ Quỳ Nay là các xã Nghĩa Lợi,Nghĩa Tiến, Nghĩa An, Nghĩa Mai, Nghĩa Yên, Nghĩa Lâm, Nghĩa Lạc,Nghĩa Thọ (Nghĩa Đàn): Tư liệu tác giả điều tra ở Như Xuân cho thấy xãXuân Bình (Như Xuân, Thanh Hoá) di dân 2/3 cư dân vào Nghĩa Lâm,sau đó là họ Đinh, họ Nguyễn di cư vào các xã kề cạnh Người Thổ gốc

Trang 39

Mường và người Thổ gốc Việt khác nhau vẻ bể ngoài là: Váy phụ nữThổ gốc Mường dài hơn váy người Thổ gốc Việt.

(3) Nguyễn Văn Tài cho rằng: “Hai nhóm này tiếng nói khá khácnhau, không thể dùng tiếng mẹ đẻ của mình để giao tiếp chung được”.(4) Bài văn cúng của thày cúng bản Sồng (Hạ Sơn, Quỳ Hợp) vàbài cũng của thày cúng ở Tân Hợp, Tân Kỳ (nhóm Cuối Chăm) đềunhắc đến các địa danh đất đai quanh vùng trên đường về tổ tiên Tácgiả sưu tầm ở Hạ Sơn, Văn Lợi, Quỳ Hợp 6 - 1979

Người Đan Lai - Ly Hà và Tày Poọng ở các xã Môn Sơn, ChâuKhê, Lục Dạ (thuộc huyện Con Cuông) và người Tày Poọng ở bảnPhông xã Tam Thái (thuộc huyện Tương Dương) trước đây được nhiềunhà Dân tộc học thống nhất cho rằng họ là cư dân Kinh di cư từ thượnghuyện Thanh Chương lên tận huyện Con Cuông và ở lại đầu nguồnsông suối dọc biên giới Việt - Lào và mở rộng nơi sinh sống lên tận hạTương Dương: Nơi ở tương đối ổn định từ sau Cách mạng tháng Támđến nay Các dân tộc kề cạnh, kể cả các nhóm người Thổ khác coi họcũng như người Cuối Chăm ở Tân Kỳ là lạc hậu hơn ở đây, đồng bào

có quan hệ xã hội gần gũi với người đồng tộc của họ ở Lào thuộc cácnhóm Tày Pụm, Tày Tăm, Tày Chăm, Tày Hung đang sinh sống ở vùngKhăm Muộn (1)

Người Đan - Hy La cư trú ở vùng Khe Chặng, Khe Choang lànhững chỉ lưu của Sông Lam, có quan hệ nguồn gốc với cư dân vùngThanh Chương và cư dân ven biển Cửa Hội (2)

Trang 40

Ngọc Ma) Thời Gia Long cho thuộc vào Vạn Tượng Năm Minh Mệnhthứ 8 (1827) đặt làm phủ Trấn Đinh gồm các huyện Cam Môn, Cam Cát,Cam Linh (thuộc Khăm Muộn hiện nay).

(2) Điều này còn là vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ thêm bởi cư dânven biển n chài cho dù được đưa lên vùng đất tốt ở ven sông làm nôngnghiệp cũng chỉ được một thời gian ngắn rồi quay lại lối sống sông nước(N.Đ.L) Nhận định trên đây của Đặng Nghiêm Vạn có căn cứ vào tàiliệu của Mạc Đường và Vương Hoàng Tuyên về việc sưu tầm đượcchuyện kể dân gian về cư dân vùng Hoà Quân, Thanh La (thuộc huyệnThanh Chương) không chịu được ách bóc lột hà khắc của chúa đất địaphương phải bỏ lên cư trú tại Khe Khăng (nhóm mang tên Ly Hà, gọi lànhóm anh) và Khe Choang (nhóm mang tên Đan Lai, gọi là nhóm em).Ngoài ra còn một nhóm sang tận đất Lào, Đặng Nghiêm Vạn cho rằng:những người này có thể có mối quan hệ nguồn gốc căn cứ vào tài liệuđịa danh như tên “Đan” là tiếng phổ biến chỉ một số tên đất ở vùng này(như Xuân Đan, Đan Phổ) thuộc huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh Thêm mộtchứng cớ là vào dịp Uỷ ban hành chính tỉnh Nghệ An tổ chức Hội nghịđại biểu các dân tộc miền núi tại Cửa Lò, tháng 10 - 1973, một số đồngbào khi tiếp xúc với cư dânh ven biển Nghi Lộc đã giao tiếp đước vớinhau tương đối dễ dàng Tác giả nêu lên để bạn đọc tham khảo Trongđiều kiện tư liệu hiện nay, tác giả chưa có thể kết luận được

Theo Đặng Nghiêm Vạn, có thể họ là cư dân từ Thanh Chương,Nghi Xuân, Nghi Lộc chuyển lên do không chịu nổi chế độ tô thuế vàách áp bức cường hào của các quan lại phong kiến địa phương trướcđây

Tuy các nhóm địa phương của người Thổ cư trú khá xa nhaunhưng trên những nét cơ bản văn hoá của họ là thống nhất, thể hiệnmột trình độ phát triển kinh tế - văn hóa tướng đối đồng đều nhau

Ngày đăng: 05/03/2021, 00:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w