1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa

20 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 241,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài 3 An toàn lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hoá Tiến sĩ Vương Xuân Tình Viện Dân tộc học An toàn lương thực Food secu

Trang 1

Bài 3

An toàn lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam

dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hoá

Tiến sĩ Vương Xuân Tình

Viện Dân tộc học

An toàn lương thực (Food security) là vấn đề nóng bỏng của toàn cầu hiện nay, đặc biệt với các dân tộc thiểu số - những cư dân mà trong quá trình phát triển thường chịu nhiều thiệt thòi và

sống ở mức nghèo khổ Lương thực ở đây được hiểu không chỉ là các loại ngũ cốc (cung cấp chất bột), mà là toàn bộ nguồn thức ăn của con người

Thực ra, vấn đề an toàn lương thực đã được nêu lên từ những năm của thập kỷ 70 Năm

1986, Ngân hàng thế giới (World Bank) đã có định nghĩa như sau: "An toàn lương thực là cơ hội

có được của tất cả mọi người ở mọi thời gian để có đủ lương thực cho các hoạt động và điều kiện sức khoẻ" Còn theo bản "Đệ trình kế hoạch hành động về vấn đề lương thực toàn cầu" của Liên hợp quốc họp tại Rome, tháng 11 năm 1996, một lần nữa lại khẳng định: "An toàn lương thực chỉ tồn tại khi tất cả mọi người, ở bất kỳ thời gian nào đều có được nguồn lương thực, không những

đầy đủ mà còn đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu và sở thích ăn uống, đáp ứng cho các hoạt động và điều kiện sức khoẻ của họ" (dẫn theo Jonathan Rigg, 2001)

Như vậy, vấn đề then chốt của an toàn lương thực là phải đảm bảo được điều kiện để tiếp cận với các nguồn lương thực và phải thích ứng với sự đổi thay của nguồn lương thực ấy khi

những điều kiện tự nhiên và xã hội chuyển đổi Theo Maxwel và Wiebe, an toàn lương thực của

những cư dân không thuộc khu vực đô thị gắn bó rất mật thiết với chế độ sở hữu đất đai và nguồn tài nguyên Các tác giả đã nêu lên sơ đồ của chuỗi quan hệ đó như sau: Đất đai - Sản phẩm - Thu nhập - Tiêu thụ - Tình trạng dinh dưỡng (Daniel Maxwel and Keith Wiebe, 1998) Trên thực

tế, an toàn lương thực còn có liên quan tới gia tăng dân số, tới thị trường và dịch vụ về lương thực, tới các nguồn trợ cấp, mối quan hệ xã hội, văn hoá và cả chính sách về lương thực của mỗi quốc

gia Khi đề cập tới vấn đề an toàn lương thực, có thể ở nhiều cấp độ: từ thế giới, quốc gia, vùng,

địa phương, nhóm cư dân đến hộ gia đình

Báo cáo này trình bày về tình trạng an toàn lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao

Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hoá Các yếu tố xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ

đến an toàn lương thực của cư dân nơi đây chủ yếu là chế độ hưởng dụng đất đai, chính sách

định canh định cư , chính sách xoá đói giảm nghèo và chính sách xã hội, chính sách thị trường Mặt khác, những nhân tố về văn hoá như tập quán ăn uống, tập quán chia sẻ thức ăn, tập quán tương trợ và giúp đỡ trong cộng đồng cũng tác động không nhỏ đến an toàn lương thực của họ

Trang 2

I Tình trạng an toàn lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam

I.1 An toàn lương thực trong xã hội truyền thống

Trong số 53 dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay, trừ người Hoa, người Chăm và Khơ-me, có tới 50 dân tộc chủ yếu sinh sống tại vùng cao Trong xã hội truyền thống, với nền kinh tế tự cung

tự cấp, vấn đề an toàn lương thực của họ chủ yếu dựa trên những cơ sở sau đây:

- Nguồn lương thực từ canh tác nông nghiệp Sống trong khu vực Đông Nam á lục địa - một

trong những cái nôi phát sinh ra cây lúa, nên với các dân tộc tại vùng cao nước ta, dù ở miền núi

phía Bắc hay vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, có điểm khá thống nhất là đều lấy gạo làm nguồn

lương thực chủ yếu Có một số tộc người sống ở một vài địa phương như người H'Mông, người Dao, người Lô Lô sinh sống tại vùng cao nguyên núi đá tỉnh Hà Giang lại lấy ngô làm nguồn lương thực chính, bởi do đặc điểm sinh thái trong vùng chỉ phù hợp với cây lương thực này

Do lấy gạo làm nguồn lương thực chủ yếu nên hoạt động chính trong nông nghiệp là canh tác lúa Tuỳ theo từng nơi, dựa trên điều kiện sinh thái mà đồng bào trồng lúa nước hay lúa cạn Tại những khu vực thung lũng - nơi cư trú của các dân tộc như Tày, Nùng, Mường, Thái , việc canh tác lúa nước khá phát triển, và trong truyền thống, nhiều dân tộc đã biết thâm canh Còn ở khu vực vùng rẻo cao, vùng Tây Nguyên, một nền nông nghiệp nương rẫy lại được hình thành từ lâu đời Tuy nhiên, do chưa có điều kiện đầu tư kỹ thuật nên năng suất lúa trong xã hội truyền thống không cao, lúa nước thường chỉ đạt 1 - 2 tấn/ha/vụ Với lúa nương, nếu là nương phát ở rừng già trong vụ đầu cũng đạt mức độ trên 1 tấn/ha, còn các vụ tiếp theo thì giảm hơn

Bên cạnh lúa là cây trồng chính, đồng bào các dân tộc ở vùng cao còn trồng thêm nhiều cây lương thực bổ trợ, như ngô, sắn, khoai sọ, khoai lang, dong riềng, kê, mạch Rất nhiều loại rau, đậu, đặc biệt là những loại như bầu, bí, rau cải, rau dền, đậu tương, đậu đũa, hành, tỏi, sả, ớt , cùng với các loại cây ăn quả như chuối, đu đủ, mít, dứa , cũng được gieo trồng (chủ yếu trồng trên nương rẫy) để giải quyết nhu cầu thực phẩm hàng ngày

Chăn nuôi ở vùng cao, bên cạnh việc đảm sức kéo (trâu, bò) hoặc sử dụng cho vận chuyển (ngựa, voi), phần lớn được dùng để làm nguồn thực phẩm Có khu vực vùng cao như của người H'Mông ở Kỳ Sơn - Nghệ An, đàn bò rất phát triển Tại đây, bò được nuôi chủ yếu để trao đổi và dùng trong cúng bái Các loại gia súc, gia cầm như lợn, gà được nuôi ở hầu khắp các vùng, những loại như dê, vịt, ngan, ngỗng thường được nuôi ở vùng thung lũng Cùng với các loại rau

đậu, thịt của gia súc, gia cầm đã góp phần tăng cường nguồn thực phẩm cho đồng bào các dân tộc vùng cao

Cá nuôi cũng là một nguồn thực phẩm quan trọng với nhiều cư dân, nhất là các cư dân vùng thung lũng ở các dân tộc như Tày, Nùng, Mường, Thái , ngoài nuôi cá ở ao, đồng bào còn

có tập quán nuôi cá ruộng Người H'Mông và người Dao ở Hoàng Su Phì - Hà Giang, tuy sống trên vùng đất dốc, canh tác ruộng bậc thang nhưng cũng thả cá ruộng Khi trời mưa to, người ta cắm vào ruộng một số cành cọ làm tán lợp; vì thế, cá sẽ ở lại ruộng mà không vượt đi theo dòng nước Giống cá nuôi đều là cá tự nhiên, được khai thác hoặc lấy trứng ở sông suối rồi đem ương Với loại cá thả ở ruộng, hầu hết là cá chép

Trang 3

- Nguồn lương thực khai thác từ thiên nhiên Đây là nguồn lương thực có vị trí quan trọng trong xã hội truyền thống, bởi nó bổ trợ cho nguồn lương thực từ canh tác Như đã trình bày, do

năng suất thấp và do thiên tai, dịch bệnh hoành hành nên canh tác nông nghiệp chỉ đáp ứng phần nào nhu cầu lương thực của người dân vùng cao Những khi đói kém, hoặc để bổ sung cho nguồn lương thực không canh tác được, người dân phải dựa vào thu nhập bằng săn bắn và hái lượm Các hoạt động này diễn ra gần như quanh năm, trong đó, việc thu hái các loại rau, củ, quả chủ yếu vào mùa xuân và mùa hè; còn đánh bắt cá, săn bắn thú thường có hiệu quả vào mùa thu

và mùa đông Hoạt động hái lượm thường cho các loại chất bột (củ mài, thân một số loại cây họ cau ) và rau xanh (rau rừng, măng, nấm, mọc nhĩ ); còn săn bắt thì cho nguồn đạm (chim thú, côn trùng, thuỷ sản )

Trong xã hội truyền thống, hoạt động săn bắt và hái lượm ở vùng cao phát triển và có hiệu

quả còn bởi điều kiện thiên nhiên, môi trường và xã hội cho phép Do đất rộng, người thưa, và luật tục của hầu hết các dân tộc thiểu số đều cho mọi người dân có quyền được tiếp cận với nguồn tài

nguyên nên hoạt động đó ít bị cản trở Săn bắt, hái lượm còn được phân công theo giới và lứa tuổi, được liên kết không chỉ một làng mà nhiều làng, được tiến hành không chỉ bởi nhu cầu ăn

uống mà còn do nếp sống văn hoá (giải trí, lấy thức ăn thờ cúng )

- Nguồn lương thực từ trao đổi và tương trợ trong cộng đồng Sống trong tình trạng tự cung

tự cấp nên những trao đổi, mua bán về lương thực của các dân tộc thường ít xảy ra; hoặc thường diễn ra theo chiều hướng: đồng bào bán những sản phẩm nông nghiệp và săn bắt, hái lượm để có tiền mua vật phẩm khác Tuy nhiên, điều này cũng thường chỉ xuất hiện ở các dân tộc miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng Đông Bắc - nơi có điều kiện tiếp xúc với nền kinh tế hàng hoá, đã có

hệ thống chợ vùng Còn ở khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, đồng bào thường trao đổi bằng vật phẩm

Tương trợ trong cộng đồng có vị trí rất quan trọng trong an toàn lương thực của người dân vùng cao Việc tương trợ thường diễn ra trong phạm vi gia đình, dòng họ và làng hay liên làng Tại vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, thậm chí tới trước năm 1975, vẫn tồn tại nguyên tắc: một gia đình không bao giờ bị đứt bữa nếu hộ khác trong làng vẫn còn lương thực Về bản chất, hoạt động

tương trợ được dựa trên cơ sở cộng đồng về sở hữu, bởi toàn bộ đất đai và nguồn tài nguyên là

thuộc cộng đồng; các cá nhân chỉ có quyền khai thác Trước năm 1945, chế độ sở hữu này còn tồn tại ở hầu khắp các dân tộc thiểu số tại vùng rẻo cao miền núi phía Bắc và vùng Trường Sơn - Tây Nguyên Ngay các dân tộc sống tại vùng thung lũng Tây Bắc như Mường và Thái, chế độ công hữu về ruộng nước vẫn còn phổ biến Còn với đất nương rẫy và rừng núi, sông suối thì về cơ

bản vẫn thuộc sở hữu cộng đồng Bên cạnh chế độ sở hữu, các thiết chế khác như dòng họ, tổ chức làng bản cũng góp phần quan trọng để duy trì cách thức tương trợ này Tại Tây Nguyên, sự tồn tại của nhà dài và mối quan hệ xã hội trong nhà dài (đại gia đình) là những nhân tố duy trì lâu

bền quan hệ tương trợ triệt để về lương thực

Như vậy, trong xã hội truyền thống, vấn đề an toàn lương thực của mỗi gia đình các dân tộc

ở vùng cao được dựa trên các cơ sở như sau:

Canh tác nông nghiệp + Săn bắt, hái lượm + Tương trợ _

An toàn lương thực (hộ gia đình)

Trang 4

Trong điều kiện kỹ thuật canh tác truyền thống ít biến đổi và phát triển thì điều kiện tự

nhiên , mối quan hệ sở hữu và thiết chế xã hội có tác động lớn đến an toàn lương thực của người

dân vùng cao; còn chính sách của các thể chế chính trị và yếu tố thị trường lại ít ảnh hưởng

I.2 Thực trạng an toàn lương thực của các dân tộc vùng cao hiện nay

Vấn đề an toàn lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao nước ta có sự chuyển biến

kể từ sau khi thực hiện công cuộc Đổi Mới (1986), mà trực tiếp là chịu ảnh hưởng của cơ chế kinh

tế thị trường, chính sách Khoán 10, Luật đất đai 1993 và một số chính sách đầu tư, phát triển

khác ở vùng dân tộc và miền núi

Về cơ bản, vấn đề an toàn lương thực của các dân tộc thiểu số vẫn dựa trên cơ sở canh tác

nông nghiệp, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và tương trợ, song tính chất và mức độ đã

đổi thay; và ngoài ra, an toàn lương thực còn chịu tác động của các chính sách của Nhà nước và

của cơ chế thị trường Tuy nhiên, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề đó kỹ hơn ở mục sau

Trong phần này, chúng tôi chỉ nêu lên bức tranh về an toàn lương thực trong đời sống của các

dân tộc ở vùng cao hiện nay

Nói tới an toàn lương thực, cho đến nay, các cơ quan chức năng thường chỉ đề cập đến mức

thu nhập bình quân lương thực - tức ngũ cốc - để đảm bảo nguồn thức ăn tối thiểu theo tập quán

ăn uống của cư dân trồng trọt Hiện tại, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 trên thế

giới, với mức trên dưới 4 triệu tấn/năm Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa chúng ta đã giải quyết

tốt vấn đề an toàn lương thực, bởi rất nhiều chi phí quốc gia phải trông chờ vào hạt gạo; mặt khác,

người trồng lúa xuất khẩu lại hầu hết là nông dân vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long

Với người nông dân các dân tộc vùng cao, việc mua lương thực chỉ có được khi họ có sản phẩm

hàng hoá Trước khi phân tích tình trạng thu nhập lương thực của người nông dân vùng cao, cần

nhận thấy rằng cho đến nay, thu nhập từ trồng trọt, nhất là lương thực của họ vẫn chiếm vị trí chủ

yếu Có một số nơi, đồng bào đã canh tác các loại cây hàng hoá (cây công nghiệp, cây ăn quả)

nhưng chưa nhiều Những nguồn thu từ chăn nuôi lại khá khiêm tốn; bởi hầu hết sản phẩm chăn

nuôi chỉ đủ chi dùng cho cúng bái, tết lễ nên khó trở thành hàng hoá Bên cạnh đó, ngành nghề

còn kém phát triển Nếu xem xét thu nhập bình quân đầu người của vùng miền núi phía Bắc và

Tây Nguyên qua một số năm khi so với các vùng khác, sẽ có kết quả như sau (Bảng 1)

Bảng II.3.1 Thu nhập bình quân đầu người của vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên

Đơn vị: đồng/năm

Nguồn: Phạm Quang Hoan, Vương Xuân Tình, Ma Trung Tỷ: 1999, tr 28

Trên thực tế, thu nhập này chưa phản ánh đúng mức độ nghèo đói của đồng bào dân tộc

thiểu số Ví dụ về trường hợp Tây Nguyên: Trong các năm cuối thập kỷ 90, vùng đất này phát

triển mạnh mẽ bởi mở rộng diện tích cà phê và giá cà phê tăng Song ai là người có thu nhập từ

cây công nghiệp này ? Rõ ràng hầu hết là người Kinh, còn đồng bào dân tộc thiểu số chỉ chiếm

Trang 5

một tỉ lệ nhỏ Qua khảo sát của chúng tôi, tại nhiều nơi, nếu đồng bào có trồng loại cây công

nghiệp ấy cũng không cho năng suất cao, bởi họ không có điều kiện đầu tư và thiếu kỹ thuật canh

tác (Phạm Quang Hoan, Vương Xuân Tình: 1999) Mức độ thu nhập cũng như nguyên nhân kể

trên khiến tỉ lệ số hộ nghèo đói ở vùng dân tộc và miền núi còn cao (Bảng 2) ở đây, việc đánh

giá nghèo đói được dựa trên tiêu chí của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội, và các tiêu chí này

chủ yếu dựa trên cơ sở thu nhập về lương thực: Hộ đói có mức thu nhập dưới 13 kg

gạo/người/tháng (tương đương 45.000đ); hộ nghèo: với mức dưới 15 kg gạo/người/tháng (tương

đương 55.000 đ) (Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Văn áng: 2000, tr 18)

Bảng II.3.2 Tỉ lệ hộ đói nghèo ở một số vùng cao trong so sánh với khu vực khác

Đơn vị:%

Nguồn: Phạm Quang Hoan, Vương Xuân Tình, Ma Trung Tỷ: 1999, tr 28

Bảng 2 cho thấy tỉ lệ hộ đói nghèo ở hai vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên - nơi có

nhiều đồng bào dân tộc thiểu số nhất - thuộc diện cao nhất Bảng 3 sẽ cho thêm ví dụ về tình

trạng nghèo đói ở một số tỉnh của miền núi phía Bắc

Bảng II.3.3 Tỉ lệ hộ nghèo đói ở một số tỉnh miền núi phía Bắc (1998)

Đơn vị:%

Tỉnh Tỉ lệ hộ nghèo đói Tỉnh Tỉ lệ hộ nghèo đói

Nguồn: Phạm Quang Hoan, Vương Xuân Tình, Ma Trung Tỷ: 1999, tr 29

Bảng 4 trình bày về tình trạng đói nghèo ở một tỉnh tại khu vực Tây Nguyên: tỉnh Đắk Lắk

Trong bảng này không có phân chia về dân tộc, song cư dân tại Khu vực III thì hầu hết là các dân

tộc thiểu số Có nhận xét chung: nếu chỉ căn cứ vào lương thực quy thóc, với mức 251

kg/người/năm của khu vực này, sẽ thấy không mấy thấp hơn chỉ số tương tự khi so với Khu vực II

(263 kg); thậm chí còn cao hơn cả Khu vực I (215 kg) Song nếu xem xét về mức thu nhập, sẽ

thấy: Cư dân tại Khu vực III chỉ bằng 1/2 của Khu vực II, và bằng 1/3 của Khu vực I Điều đó đã

Trang 6

tạo nên sự chênh lệch về mức sống khá lớn giữa các cư dân dân tộc thiểu số và cư dân đô thị -

chủ yếu là người Kinh - ở ngay trong nội tỉnh (Bùi Thế Cường, Vương Xuân Tình: 1999)

Bảng II.3.4 Tình hình đói nghèo của tỉnh Đắk Lắk (1998)

Chỉ số Đơn vị tính Toàn tỉnh Khu vực I Khu vực II Khu vực III

1 Thu nhập bình quân của 1

người/năm

2 Lương thực quy thóc của 1

người/năm

3 Số hộ đói - Tỉ lệ so với

dân số

hộ

%

13.214 4%

2.032 2%

6.113 5%

5.069 13%

4 Số hộ nghèo

- Tỉ lệ so với dân số

hộ

%

32.578 11%

7.582 6%

17.270 13%

7.726 20%

5 Số hộ trung bình

- Tỉ lệ so với dân số

hộ

%

166.925 55%

66.770 49%

75.951 59%

24.204 62%

6 Số hộ khá

- Tỉ lệ so với dân số

hộ

%

55.872 18%

35.318 26%

18.827 15%

1.727 4%

7 Số hộ giàu

- Tỉ lệ so với dân số

hộ

%

34.912 12%

23.204 17%

11.118 9%

590 2%

Nguồn: Báo cáo Về thực trạng đời sống đồng bào dân tộc bản địa của tỉnh Ban Dân tộc tỉnh

Đắk Lắk, 1999

Qua các bảng trên, chúng ta thấy tình trạng đói nghèo (dựa trên tiêu chí về lương thực) của

một số địa phương thuộc vùng cao Tại các điều tra trên diện rộng, việc phân loại tình trạng đói

nghèo theo dân tộc là vấn đề nan giải; vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin trình bày tình

trạng đó ở những nghiên cứu cụ thể

Xin nêu ví dụ về tình trạng đói nghèo của người Rơ-măm, một dân tộc có dân số ít: cả tộc

người này chỉ có trên 300 nhân khẩu, sống tập trung tại 1 làng - làng Le, xã Mo Ray, huyện Sa

Thầy, tỉnh Kon Tum Theo điều tra thực địa của chúng tôi vào năm 2000, có 28/77 hộ gia đình

trong làng (chiếm hơn 36%) thuộc diện nghèo đói (Vương Xuân Tình: 2001) Bảng 5 sẽ cho biết

thêm về tình trạng đói nghèo tại 3 xã vùng cao của tỉnh Quảng Ngãi, nơi mà cư dân ở đây phần

lớn là dân tộc Hrê Tỉ lệ hộ đói nghèo của các xã này rất cao: xã Long Môn lên tới trên 90%, xã

Ba Lế - trên 80%; còn thấp nhất là xã Sơn Linh cũng trên 70%

Bảng II.3.5 Tình trạng đói nghèo của dân tộc Hrê năm 1998

số hộ

Tổng số Tỉ lệ (%) Tổng số Tỉ lệ (%)

Xã Long Môn (huyện Minh Long) 201 80 39,8 109 54,2

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu tư vấn và phát triển: 1999

Tình hình nghèo đói của các dân tộc thiểu số tại một số vùng miền núi phía Bắc cũng

không mấy khả quan hơn Nghiên cứu thực địa của chúng tôi tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai trong

Trang 7

năm 1998 cho thấy: có tới 80% số hộ gia đình H'Mông ở các xã Lao Chải, Hầu Thào, Sử Pán thiếu ăn từ 1 tháng trở lên

Nếu xem xét tình trạng nghèo đói của các dân tộc thiểu số trong so sánh với dân tộc Kinh,

sẽ thấy mức chênh lệch quá lớn Trong năm 1998, nếu như người Kinh chỉ có 31% nghèo đói, thì

tỉ lệ đó ở các dân tộc thiểu số là 75%, tức cao gấp hơn 2 lần (Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 14-15/12/1999)

II Tác động của yếu tố xã hội và văn hoá tới an toàn lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao

I.1 Tác động của một số chính sách

II.1.1 Chính sách đất đai

Năm 1986 là thời điểm mở đầu của tiến trình Đổi Mới ở Việt Nam, và có thể khẳng định, tiến trình ấy được đột phá bằng những cải cách về đất đai

Việc quản lý và sử dụng đất đai nông nghiệp trong cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp ở giai đoạn trước đã không phát huy được tiềm năng lao động của người dân Đó là nguyên nhân chủ yếu khiến cho năng suất lao động thấp và tình trạng thiếu đói triền miên ở cả vùng đồng bằng và miền núi Để thúc đẩy sự gắn bó của người nông dân với đất đai, năm 1988, Bộ Chính trị

đã ban hành Nghị quyết 10, hay còn gọi là Khoán 10 Khác với Khoán 100 - loại khoán việc cho xã viên hợp tác xã, thực chất của Khoán 10 là khoán sản phẩm, tức giao ruộng đất cho người

nông dân canh tác và ngoài khoản thuế cùng số phụ thu khác cho hợp tác xã, họ được hưởng phần hoa lợi còn lại Tuy nhiên tại vùng cao, ảnh hưởng của chính sách Khoán 10 vẫn hạn chế, bởi về cơ bản, Khoán 10 mới được thực hiện với đất ruộng nước

Phải tới khi Luật đất đai năm 1993 ra đời, sự tác động về chính sách đất đai của Nhà nước

đến vùng dân tộc thiểu số mới toàn diện và mạnh mẽ hơn Theo Điều 20 của Luật đất đai, được sửa đổi bổ sung vào năm 1998, "Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Thời hạn giao đất ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì được

Nhà nước giao đất để tiếp tục sử dụng " (Một số văn bản về phát triển nông nghiệp nông thôn

2000: 369) Về mức sử dụng đất, căn cứ theo Luật đất đai, Chính phủ đã ra Nghị định số 64/CP

(năm 1993), trong đó quy định : i Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: ở các tỉnh vùng

đồng bằng Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh, mỗi hộ gia đình hoặc cá nhân được sử dụng

không quá 3 ha; tại các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương khác - không quá 2 ha ii Đối với

đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, các xã đồng bằng không quá 10 ha; các xã trung du, miền

núi không quá 30 ha (Một số văn bản về phát triển nông nghiệp nông thôn 2000: 282-283)

Ngoài các chính sách trên, còn có những văn bản liên quan trực tiếp hơn đến vấn đề đất

đai ở vùng dân tộc thiểu số, đó là Nghị định số 02/CP (1994) quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Quyết định số 202/TTg (1994) quy định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng

(Chính sách và chế độ pháp lý đối với đồng bào dân tộc và miền núi 1996: 150-171) Nhằm thực

Trang 8

hiện tốt việc giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, Nhà nước chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo Điều 3 của Luật đất đai 1993, hộ gia đình và cá nhân " có quyền

chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng ruộng đất " (Luật đất đai

1994: 7)

Như vậy, xét trên văn bản, tác động của Luật đất đai năm 1993, của Luật sửa đổi bổ sung

một số điều của Luật đất đai năm 1998, một mặt, đã kế thừa yếu tố sử dụng đất đai truyền thống,

đó là trao quyền sử dụng ruộng đất cho người trực tiếp sản xuất; mặt khác vẫn tăng cường kiểm soát của Nhà nước về đất đai Việc kiểm soát đó được thực hiện qua văn bản giao đất và mức thuế cho người nhận đất

Với Luật đất đai năm 1993, sở hữu cộng đồng về đất đai không được thừa nhận Trong thời

kỳ trước năm 1986, do các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất lúc hợp lúc tan, thậm chí có nơi không

có tổ chức này, nên tại một số địa phương - nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, việc sử dụng

đất đai theo cách thức truyền thống còn có điều kiện tồn tại Đến nay, việc sử dụng ấy bị mất cơ

sở, bởi đất đai được giao cho hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức Các "tổ chức" ở đây, theo xác

định của Điều 1 trong Luật đất đai, là "tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà

nước, tổ chức chính trị xã hội" (Luật đất đai 1994: 6) Như vậy, các "tổ chức" này đều có tính chất hành chính, không phải cộng đồng

Trong quá trình thực hiện Khoán 10 và Luật đất đai 1993, đã tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội ở vùng cao, đặc biệt tới vấn đề an toàn lương thực Đến nay, ở hầu hết vùng thung lũng - nơi canh tác lúa nước, năng suất lúa đều tăng Ngay tại Tây Nguyên, nơi ít có điều kiện thâm canh lúa nước, song sản lượng lúa trong những năm qua đều tăng: năm 1995 đạt 650.000 tấn, tăng gấp hơn hai lần so với năm 1986; và tới năm 1997 còn đạt tới 850.000 tấn Nguyên nhân chính dẫn tới kết quả này là bởi người dân được trao quyền sử dụng đất đai (Vũ

Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng 2000: 141) Tại một số nơi, đồng bào dân tộc thiểu số như Tày, Dao, Ê-đê, Gia-rai, Mnông còn biết phát triển kinh tế vườn, thậm chí cả kinh tế trang trại (trồng cam, trồng cà phê hoặc mô hình trang trại kinh doanh tổng hợp) , nên đã có nhiều cải thiện về thu nhập (Rita Lilijtrom, Eva Linkog, Nguyen Van Ang and Vuong Xuan Tinh 1998:

35-50, 250-275; Pham Quang Hoan and Vuong Xuan Tinh, 1999)

Bên cạnh mặt tích cực, chính sách đất đai cũng có ảnh hưởng tiêu cực tới vấn đề an toàn

lương thực, do tính không công bằng trong sử dụng đất của một số địa phương Tính không công

bằng xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất , đó là việc tranh chấp đất đai Ngay từ khi triển khai Khoán 10, ở một số địa

phương tại miền núi phía Bắc, điển hình là tỉnh Lạng Sơn đã xảy ra tình trạng đòi lại ruộng đất ông cha đã góp vào hợp tác xã Từ đó, dẫn đến hiện tượng tranh chấp đất đai: tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân, cá nhân với tập thể Tại huyện Lộc Bình của tỉnh, nơi cư trú chủ yếu của các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, chỉ tính từ đầu năm 1989 đến tháng 5 - 1990, đã có 189 vụ tranh chấp ruộng đất, với 80,7 ha, trong đó có 69 vụ tranh chấp thuộc nội bộ gia đình (Viện Dân tộc học 1993: 180) Việc tranh chấp và bao chiếm đất đai còn gia tăng, ngay với một số dân tộc như Dao, H'Mông ở vùng cao, khi thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho hộ gia đình (Vuong Xuan Tinh and Peter Hjamdah, 1997) Tại khu vực Tây Nguyên, từ năm 1990 - 1998, đã có hơn 2.500

vụ tranh chấp đất đai phải đưa lên các cấp có thẩm quyền giải quyết (Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo,

Trang 9

Vũ Thị Hồng 2000: 157) Riêng tỉnh Đắk Lắk, trong những năm gần đây, với 117 vụ tranh chấp,

có 39 vụ liên quan đến đồng bào dân tộc tại chỗ (Vũ Ngọc Kích, Nguyễn Thị Phương Hoa 2000)

Thứ hai , việc mua bán đất đai diễn ra ngày càng phổ biến ở các vùng dân tộc thiểu số trong

nhiều năm qua ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, mua bán đất đai đã xuất hiện ngay từ khi thực hiện Khoán 10 (Viện Dân tộc học 1993: 180) Còn tại Tây Nguyên, do phát triển cây cà phê và tình trạng di dân tự do nên việc mua đất của đồng bào dân tộc tại chỗ càng diễn ra phổ biến ở tỉnh Đắk Lắk, vào năm 1996, có nơi giá đất lên tới 40-50 triệu đồng/ha Cũng tại tỉnh này, có những làng của người dân tộc bản địa bán đất cho dân di cư tự do lên tới gần 20 vụ (Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng 2000: 154) Còn ở xã Ea Nuol, huyện Buôn Đôn cùng tỉnh, đến năm

1999, có hơn 100 ha đất của các dân tộc Ê-đê, Mnông được bán cho người Kinh ở thị xã Buôn Mê Thuột (Bui The Cuong and Vuong Xuan Tinh 2000)

Thứ ba, các cơ quan và tổ chức của Nhà nước vẫn còn sử dụng số lượng đất khá lớn Tuy Nhà nước đã cắt giảm bớt đất đai của các nông, lâm trường để giao cho địa phương, song tại một

số nơi, nhất là Tây Nguyên, số lượng đất đai do nông, lâm trường quản lý vẫn nhiều ở 3 tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và Kon Tum, với 88 lâm trường và 57 nông trường, vẫn quản lý tới 1.950.000 ha đất rừng và rừng, chiếm 44% diện tích tự nhiên của 3 tỉnh (giảm 26% so với giai đoạn trước năm 1986) (Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng 2000: 124)

Cùng với dân số gia tăng và nạn di dân tự do, việc tranh chấp, bao chiếm, mua bán đất đai

nói trên dẫn đến hậu quả tất yếu là nhiều vùng, nhiều hộ dân tộc ít người bị thiếu đất canh tác

Theo một điều tra ở 7 xã, phường thuộc tỉnh Lai Châu, bình quân mỗi nhân khẩu có 300 m2 ruộng nước, 700 m2 đất nương lúa và khoảng 800 m2 đất nương trồng các loại cây khác Qua phỏng vấn 1.147 người làm ruộng nước, có 910 người (79%) trả lời là thiếu, và chỉ có 2 người trả lời là thừa

đất canh tác Còn khi hỏi 1.685 người chuyên làm nương rẫy, kết quả như sau : thiếu đất canh tác

- 734 người (46,3%), thừa đất canh tác - 5 người (0,3%) (Viện Dân tộc học 1998: 51) Còn ở Tây Nguyên thì tỉnh Đắk Lắk thiếu đất trầm trọng hơn cả Năm 1997, khi điều tra tại 29 xã và 81 buôn của người dân tộc bản địa (thuộc vùng III), kết quả cho thấy: chỉ có 7/29 xã và 15/81 buôn đủ đất canh tác; 9/29 xã và 17/81 buôn thiếu 1/3 đất canh tác; 6/29 xã và 28/81 buôn thiếu 1/2 đất canh tác; 7/29 xã và 21/81 buôn thiếu 3/4 đất canh tác (Vũ Đình Lợi, Bùi Minh Đạo, Vũ Thị Hồng 2000: 163) Còn theo Báo cáo chung của nhóm công tác các chuyên gia Chính phủ - Nhà tài trợ - Tổ chức phi chính phủ trong năm 1998, khi nhìn trên diện rộng, kết quả lại chưa mấy bi quan: ở miền núi phía Bắc có 3,7% số hộ gia đình không có đất canh tác Tỉ lệ đó ở vùng Tây Nguyên thấp hơn, chỉ có 2,6% (Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam, 14-15/12/1999)

ảnh hưởng tiêu cực khác của chính sách đất đai tới an toàn lương thực của các dân tộc

thiểu số ở vùng cao là do không thừa nhận sự quản lý cộng đồng về đất đai nên đã hạn chế việc tiếp cận nguồn lương thực, thực phẩm được khai thác từ thiên nhiên của nhiều hộ gia đình, đặc biệt với các hộ ở vùng rẻo cao và hộ nghèo Cho đến nay, tại nhiều nơi, nguồn thức ăn khai thác

từ thiên nhiên vẫn còn có vị trí quan trọng với đồng bào các dân tộc Điều tra của chúng tôi ở xã Nậm Ty, huyện Hoàng Su Phì - Hà Giang vào năm 1998 cho thấy, đồng bào Dao ở đây vẫn thu

hái được hơn 40 loại rau, củ rừng Song như đã trình bày, theo tinh thần Luật đất đai 1993, sở hữu

cộng đồng về đất đai lại không được thừa nhận Việc hạn chế nguồn tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng do cộng đồng quản lý, tại một số nơi, đã làm cho chăn nuôi giảm sút Ví dụ ở xã Văn

Trang 10

Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: trước năm 1998, đàn trâu bò ở đây khá phát triển, có hộ nuôi hàng chục con, nhưng nay mỗi hộ trung bình chỉ nuôi 1 - 2 con, vì thiếu chỗ chăn thả Sở dĩ

có tình trạng này bởi rừng đã giao cho các hộ gia đình Việc mất rừng cộng đồng cũng ảnh hưởng tới nguồn thức ăn như củ mài, măng, nấm, rau rừng của nhiều hộ gia đình

II.1.2 Chính sách định canh định cư

Công tác định canh định cư (ĐCĐC) được áp dụng chủ yếu với các dân tộc thiểu số, nhất là

ở khu vực vùng cao Trong thời gian khá dài, công tác định canh định cư được thực hiện theo cơ chế của Nghị quyết 38/CP (1968) Từ năm 1989 - 1990, công tác này đổi mới theo tinh thần Nghị quyết 22 (1989) và Quyết định 72 (1990) - những chính sách dành ưu tiên cho sự phát triển ở vùng dân tộc và miền núi sau khi khởi xướng công cuộc Đổi Mới Lúc này, trong chỉ đạo và điều hành công tác ĐCĐC đã có sự biến chuyển, nhưng các đề án thực thi cụ thể lại không có Trong Quyết định 327 (1992), công tác ĐCĐC được đưa vào Chương trình 327, song nhiệm vụ của Chương trình 327 lại là trồng rừng và chủ yếu dựa vào các nông lâm trường nên việc gắn với công tác ĐCĐC càng có nhiều bất cập Để khắc phục sự bất cập đó, Nghị quyết 556 (1995) đã tách riêng trồng rừng với vấn đề ĐCĐC Tuy vậy, do Chương trình 327 nằm trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nên thực tế ĐCĐC vẫn thực hiện theo cơ chế của Nghị quyết 327

Để thực hiện công tác ĐCĐC, bên cạnh việc xây dựng "điện, đường, trường, trạm", kể từ sau năm 1986 đến nay, các dự án vẫn chú trọng giúp người dân khai phá ruộng nước, phát triển kinh tế vườn và chăn nuôi, trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng; mở các lớp khuyến nông, khuyến lâm Vì thế, những hoạt động này đã góp phần nhất định vào vấn đề an toàn lương thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao

Tuy đã đạt được một số thành tựu nhưng khiếm khuyết cơ bản của các chính sách này là chưa xác định rõ đối tượng của ĐCĐC Mặt khác, công tác ĐCĐC có phần nào còn áp đặt, ít chú

ý tới ý kiến và nhu cầu cấp thiết của người dân, đặc biệt là về tăng thu nhập Nhiều dự án cho

định canh định cư chỉ chú ý đến xây dựng cơ bản mà ít quan tâm tạo nguồn nhân lực và tăng thu nhập cho những đối tượng ĐCĐC (Nguyễn Văn Huy, Lê Duy Đại, 1999, tr 14) Ngay ở một số nơi

đầu tư cho nông nghiệp song do khảo sát và triển khai thiếu chu đáo nên vẫn bị thất bại

II.1.3 Chính sách xoá đói giảm nghèo và chính sách xã hội

Chính sách xoá đói giảm nghèo được thể hiện rõ nhất trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Nghị quyết Đại hội lần thứ VII (giữa nhiệm kỳ), Đại hội lần thứ VIII, Chỉ thị số 23/ CT-TW năm 1997 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khoá VIII) năm

1997 Còn Chương trình xoá đói giảm nghèo xuất hiện lần đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh,

năm 1992 Năm 1993, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội đã có chỉ thị cho các địa phương xây dựng chương trình này, và đến tháng 8 - 1998, tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước đều có chương trình xoá đói, giảm nghèo Ngày 23 - 7 - 1998, Chính phủ đã có Quyết định số 133

QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998 - 2000 Với vùng

dân tộc và miền núi, vấn đề này đã được đề cập trong nhiều chính sách, đặc biệt là Quyết định số

135/ QĐ-TTg của Chính phủ: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi và vùng sâu, vùng xa (được gọi tắt là Chương trình 135)

Thực ra, các chương trình đã và đang thực hiện ở vùng dân tộc và miền núi, xét cho cùng, hầu hết đều có tác động xoá đói giảm nghèo Ví dụ, những dự án phục vụ cho công tác định canh

Ngày đăng: 08/02/2017, 22:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng II.3.1. Thu nhập bình quân đầu ng−ời của vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên - An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa
ng II.3.1. Thu nhập bình quân đầu ng−ời của vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (Trang 4)
Bảng II.3.2. Tỉ lệ hộ đói nghèo ở một số vùng cao trong so sánh với khu vực khác - An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa
ng II.3.2. Tỉ lệ hộ đói nghèo ở một số vùng cao trong so sánh với khu vực khác (Trang 5)
Bảng 2 cho thấy tỉ lệ hộ đói nghèo ở hai vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên - nơi có - An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa
Bảng 2 cho thấy tỉ lệ hộ đói nghèo ở hai vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên - nơi có (Trang 5)
Bảng II.3.4. Tình hình đói nghèo của tỉnh  Đ ắk Lắk (1998) - An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa
ng II.3.4. Tình hình đói nghèo của tỉnh Đ ắk Lắk (1998) (Trang 6)
Bảng II.3.5. Tình trạng đói nghèo của dân tộc Hrê năm 1998 - An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa
ng II.3.5. Tình trạng đói nghèo của dân tộc Hrê năm 1998 (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm