1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

An Toàn Lương Thực của các dân tộc thiểu số ở vùng cao Việt Nam dưới tác động của yếu tố xã hội và văn hóa

40 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 763 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động 1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, v

Trang 1

An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

trong phỏp luật lao động Việt Nam

Lờ Thị Phương Thỳy

Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mó số: 60 38 50 Người hướng dẫn: GS.TS Phạm Cụng Trứ

Năm bảo vệ: 2008

Abstract: Nghiờn cứu làm rừ những vấn đề lý luận cơ bản về phỏp luật an toàn, vệ sinh

lao động, sự cần thiết của việc ban hành cỏc quy định phỏp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ Phõn tớch, đỏnh giỏ thực trạng cỏc quy định phỏp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi phỏp luật trờn thực tế trong cỏc loại hỡnh doanh nghiệp ở Việt Nam Đỏnh giỏ kết quả, những bất cập và nguyờn nhõn của những bất cập, tồn tại Đề xuất một số yờu cầu cơ bản của việc hoàn thiện phỏp luật

về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ; sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động cho lao động nữ Tăng cường cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật; nõng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cụng đoàn; tăng cường cụng tỏc quản lý, thanh tra, xử phạt, nhằm nõng cao hiệu quả ỏp dụng phỏp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Keywords: An toàn lao động; Lao động nữ; Luật lao động; Vệ sinh lao động; Phỏp luật

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng liờn quan chặt chẽ đến sự thành đạt của mỗi doanh nghiệp, góp phần quyết định đến sự phỏt triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia Xõy dựng một nền sản xuất

an toàn với những sản phẩm cú tớnh cạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe người lao động là yờu cầu tất yếu của sự phỏt triển kinh tế bền vững và đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế

toàn cầu húa

Trang 2

Cựng với những thành tựu trong phỏt triển kinh tế - xó hội, thời gian qua cụng tỏc ATVSLĐ ở nước ta đó cú những chuyển biến đỏng kể về hệ thống văn bản phỏp luật và bộ mỏy

tổ chức

Thể chế hoỏ đường lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động năm 2002 đó dành chương IX quy định về ATVSLĐ Trờn thực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phương, doanh nghiệp và người sử dụng lao động đó cú những biện phỏp, sỏng kiến cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và mụi trường sản xuất kinh doanh

Tuy vậy, cụng tỏc BHLĐ núi chung và cụng tỏc ATVSLĐ nói riêng ở nước ta cũn quỏ nhiều khú khăn và tồn tại cần giải quyết Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt cỏc doanh nghiệp khu vực phi chớnh thức mới chỉ quan tõm đầu tư phỏt triển sản xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tư tương xứng để cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động Vỡ vậy, Việt Nam đó xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động làm chết và bị thương nhiều người, thiệt hại tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp

Nguyờn nhõn chớnh để xảy ra tai nạn lao động một mặt do chủ sử dụng lao động thiếu quan tõm cải thiện điều kiện làm việc an toàn, mặt khỏc do ý thức tự giỏc chấp hành nội quy, quy chế làm việc bảo đảm an toàn lao động của người lao động chưa cao, thiếu sự kiểm tra, giỏm sỏt thường xuyờn của cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động Hậu quả của thực tế trờn khụng chỉ gõy thiệt hại về tớnh mạng và sức khỏe của người lao động, làm thiệt hại tài sản của nhà nước mà cũn ảnh hưởng khụng tốt đến quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế xó hội của đất nước

ở n-ớc ta, 50,86% dõn số là nữ, tương ứng với hơn 50% lao động nữ đã, đang và ngày càng có đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, do những đặc điểm về tõm sinh lý, giới tớnh, lao động nữ thường gặp khú khăn hơn so với lao động nam trong quan hệ lao động Cựng với quan niệm sai lệch về Giới, những khú khăn này đó làm cho lao động nữ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn trong quan hệ lao động, đặc biệt là đối tượng lao động nữ đang chiếm số đụng trong lực lượng lao động trong cỏc doanh nghiệp cỏc loại - nơi mà việc ỏp dụng phỏp luật ATVSLĐ cũn nhiều bất cập và tồn tại

Với mong muốn nghiờn cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn ỏp dụng phỏp luật an toàn,

vệ sinh lao động đối với lao động nữ nhằm góp phần bảo vệ sự an toàn của lao động nữ trong

bối cảnh nền kinh tế thị tr-ờng, học viờn chọn đề tài nghiờn cứu “An toàn, vệ sinh lao động

đối với lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề

Qua thực tế tỡm hiểu, học viờn thấy đó xuất hiện một số bài bỏo, cụng trỡnh nghiờn cứu

cú đề cập tới một số khớa cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động núi chung, với một số lượng hạn chế

Tuy nhiờn, chưa cú một cụng trỡnh khoa học nào trực tiếp đi sõu vào tỡm hiểu vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ cũng như để từ đú cú những kiến nghị xỏc đỏng nhằm nõng cao việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền lợi của đối tượng lao động này Luận văn đi vào

Trang 3

tìm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp luật liên quan tới lao động nữ trong chế định an toàn, vệ sinh lao động

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

Dựa vào những kết quả đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

vệ sinh, an toàn lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao

động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ

Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao

động đối với lao động nữ và việc thực thi trên thực tế, đánh giá những kết quả cũng như sự bất cập, nguyên nhân của sự bất cập, tồn tại

Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với

lao động nữ và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu hướng vào tìm hiểu các quy

định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam (văn bản và thực tế áp dụng) Bên cạnh đó, trong chừng mực nhất định cũng có đề cập đến các quy phạm quốc tế có liên quan

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về an toàn,

vệ sinh đối với lao động nữ trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra, đã dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, luận văn sử dung các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu, thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp liên ngành, …

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề chung về pháp luật an toàn,

vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam

Chương II: Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với

lao động nữ và thực tế thực hiện ở Việt Nam

Chương III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành nhằm thiết lập điều

kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỷ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có thể được đề cập trong các văn bản pháp luật

về an toàn, vệ sinh lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Ngoài ra, trong các văn bản nội bộ của công ty như thoả ước, nội quy lao động hay quy chế an toàn, vệ sinh lao động của công ty, cũng có các quy định về an toàn vệ sinh lao động

Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có tính bắt buộc cao đối với các đơn vị

sử dụng lao động, với các chủ thể tham gia quan hệ lao động việc thực hiện các quy định này có tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ của người lao động

Trang 5

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động có những điểm đặc thù khác với các chế định pháp luật khác Cụ thể là:

- Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ nét

- Để đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất bắt buộc cao

- Các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất xã hội rộng rãi

- Pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động

An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế xã hội lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ sức khoẻ người lao động Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp thì vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động càng trở nên bức xúc

Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là đảm bảo sức khoẻ, tính mạng người lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững

1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động:

- Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn, vệ sinh lao động

- Nguyên tắc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động

- Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động

Có thể nói, tổ chức lao động quốc tế và các công ước khác của Liên hiệp quốc trong lĩnh vực bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đã xây dựng được những khuôn mẫu cho các quốc gia vận dụng trong quá trình xây dựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ

Lao động nữ có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam chính từ sự khác biệt về giới tính mà chúng ta thường đề cập đến tính đặc thù của lao động nữ Tính đặc thù của lao động

nữ thể hiện ở những điểm đặc trưng cơ bản sau đây:

Trang 6

- Về thể lực và tâm sinh lý của lao động nữ: Lao động nữ có thời kỳ phát triển thể chất,

tinh thần, thời kỳ lão hoá khác biệt so với lao động nam; nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cũng khác

- Lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động nam, đặc biệt là ở những

quốc gia phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam Điều này bởi chi phối sâu sắc bởi ý thức hệ trọng nam khinh nữ đã có từ ngàn đời nay của các quốc gia này Phụ nữ có vị trí yếu thế, thiệt thòi hơn trong xã hội, họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, con cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hưởng vật chất bị hạn chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển

- Lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao động nữ cũng thấp hơn rất nhiều so với lao động nam: lao động nữ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã hội, lao

động thời gian dài hơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn

- Lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là người lao động thuần tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ trong gia đình

1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

- Xu thế phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế Việt Nam là một trong số

ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hoá và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong công tước quốc tế về bình đẳng giới CEDAW

- Tạo điều kiện cho phụ nữ thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới

- Vai trò thực tế của các quy định này trong việc bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đảm bảo thiên chức của người phụ nữ trong gia đình sau khi hết thời gian làm việc

- Góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, giúp lao động

nữ ngày càng tự tin, hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tài năng, sức sáng tạo trong lao động

- Góp phần tạo nên tính đầy đủ, toàn diện và thống nhất trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật lao động nói riêng

Như vậy, các quy định ưu tiên cho lao động nữ không phải chỉ vì lợi ích riêng của đối tượng lao động này mà còn vì lợi ích của xã hội, của quốc gia

1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam

Ngay từ rất sớm, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đã được quan tâm đề cập tới trong nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, đáng chú ý là một số văn bản như:

- Sắc lệnh số 29/SL – sắc lệnh lao động đầu tiên

- Nghị định 181/CP ban hành Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động

Trang 7

- Pháp lệnh Bảo hộ lao động Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/1992

- Ngày 23/6/1994, Bộ luật Lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp khoá IX

- Ngày 31/12/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

- Ngày 26/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 13/CT/TTg nhằm tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình xã hội mới

- Ngày 27/12/2002, Nghị định số 110/2002/NĐ-CP được ban hành về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động sửa đổi về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo khác Hệ thống pháp luật quy định về an toàn, vệ sinh lao động nói chung và đối với lao động nữ nói riêng đã được xây dựng với nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý và tính khả thi cao, đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 1994 cùng với các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2002, năm 2006

và năm 2007

CHƯƠNG 2

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO

ĐỘNG NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM

2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

2.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Các quy định chung về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ bao gồm những vấn

đề sau đây:

- Đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo những yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh

đối với nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất

- Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập báo cáo khả thi về an toàn, vệ sinh lao động khi xây dựng, cải tạo môi trường lao động

- Quy định cụ thể về điều kiện lao động khi sử dụng lao động nữ Doanh nghiệp phải có khoản chi phí thích hợp vào mục đích mua sắm trang thiết bị bảo hộ lao động, cải tạo nhà xưởng, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh nữ, xây dựng, sửa chữa mua sắm tài sản mau hỏng cho nhà trẻ,

Trang 8

lớp mẫu giáo (nếu có) của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho lao động nữ làm việc tại đây yên tâm làm việc

Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện, những quy định mang tính chất bảo vệ và ưu tiên trên cũng phần nào cản trở quá trình tham gia vào thị trường lao động của lao động nữ

2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

- Pháp luật lao động dành quyền ưu tiên cho lao động nữ, dành cho đối tượng lao động này những quyền ưu đãi riêng biệt mà đối tượng lao động khác không có

- Pháp luật lao động xác định rõ các công việc, ngành nghề không được sử dụng hoặc hạn chế sử dụng lao động nữ nhằm bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

- Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho lao động nữ như găng tay cách điện, ủng cách điện, mặt nạ phòng độc, dây an toàn, phao an toàn, sào cách điện Người sử dụng lao động cùng người lao động kiểm tra để bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng trước khi cấp phát, đồng thời định kỳ kiểm tra trong quá trình sử dụng và mã số theo dõi

Các quy định về trang bị phương tiện kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động nằm rải rác trong một số văn bản cấp ngành hoặc cơ sở và mang tính chung chung, chưa có quy định cụ thể về hình thức, chất lượng… của phương tiện cung cấp, cũng như chưa đưa ra yêu cầu mức độ bắt buộc thực hiện

2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

Pháp luật lao động có những quy định riêng về thời giờ làm việc của lao động nữ trong các trường hợp đặc biệt nhằm giúp họ thực hiện đầy đủ chức năng của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội

i) Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ

tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa;

ii) Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ bảy,

được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương;

iii) Người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút;

trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương

Trang 9

Do thời gian làm việc kéo dài (bao gồm cả thời gian làm việc trong giờ tiêu chuẩn và làm thêm) có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng lao động, sức khoẻ và khả năng tái sản xuất sức lao động của lao động nữ nên pháp luật lao động có xu hướng hạn chế việc huy động lao động nữ làm thêm

2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ

Lao động nữ được ưu tiên dành thời gian nghỉ để đi khám thai, dưỡng sức, được nghỉ và hưởng chế độ khi bị sảy thai, khi sinh con và đặc biệt trong trường hợp nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, lao động nữ vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội

Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, để thực hiện biện pháp kế hoạch hoá gia đình hoặc do sảy thai; nghỉ để chăm sóc con dưới bảy tuổi ốm đau, nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, người lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc được người sử dụng lao động trả một khoản tiền bằng mức trợ cấp bảo hiểm xã hội

Hết thời gian nghỉ thai sản theo chế độ và cả trong trường hợp được phép nghỉ thêm không hưởng lương, khi trở lại làm việc, người lao động nữ vẫn được bảo đảm chỗ làm việc

2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp

Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đã xác lập nguyên tắc giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp

1) Người sử dụng lao động phải thanh toán các khoản chi phí y tế và tiền lương từ khi sơ

cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật;

2) Được nhận đủ tiền lương trong thời gian điều trị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề

nghiệp, tiền lương của lao động nữ trong trường hợp này được tính theo mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi bị tai nạn lao động;

3) Sau khi điều trị thương tật ổn định người bị tai nạn lao động được giới thiệu đi giám

định khả năng lao động tại hội đồng giám định y khoa theo Quyết định của Bộ Y tế Căn cứ vào kết quả giám định sức khoẻ, người bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp của bảo hiểm xã hội một lần từ 4 đến 12 tháng lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động

từ 5 → 30% hoặc được hưởng trợ cấp hàng tháng với mức từ 0,4 đến 1,6 tháng tiền lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động từ 31 → 100%;

4) Được phụ cấp phục vụ 80% mức tiền lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao

động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai chi, tâm thần nặng;

5) Được trang cấp phương tiện trợ giúp cho sinh hoạt phù hợp với tổn thất chức năng do

tai nạn gây ra với niên hạn sử dụng của từng loại được quy định theo Thông tư số 06 của

Bộ Lao động - Thường binh và Xã hội ngày 4/4/1995;

6) Người lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu) thì

gia đình được trợ cấp một lần bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng chế độ tử tuất

Trang 10

2.1.6 Quy định về thanh tra và xử lý các trường hợp vi phạm quy định về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ

Nhà nước ta còn quy định rất chặt chẽ công tác quản lý, thanh tra, xử phạt về an toàn, vệ sinh lao động

Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động sẽ bị phạt tiền, câm shoatj động, còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khắc phục, sửa chữa đối với các máy, thiết bị không bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn lao động và vệ sinh lao động; buộc kiểm định và đăng ký các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và vệ sinh lao động

Tuy nhiên, để các quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có sự đầu tư

về vật chất và đồng lòng của tất cả các bên liên quan trong quan hệ lao động, đặc biệt là sự cam kết thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động và người lao động

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu về mặt pháp lý đối với lao động nữ ở Việt Nam

2.2 Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ ở Việt Nam

2.2.1 Thực trạng điều kiện làm việc của lao động nữ ở Việt Nam

- Nhìn một cách tổng thể, các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ đã có cố gắng trong việc đầu tư trang thiết bị, cải thiện điều kiện làm việc

- Tuy nhiên, ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động nữ do tiềm lực kinh tế còn hạn chế nên việc đầu tư để cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động đang gặp nhiều khó khăn Nhiều chủ doanh nghiệp do chạy theo lợi nhuận trước mắt nên bỏ qua vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nói chung và lao động nữ nói riêng

Nghiên cứu thực tế cho thấy nhieuf doanh nghiệp đã có những lỗi vi phạm đáng báo động: tiếng ồn, độ rung, bụi, yếu tố nhiệt, tốc độ gió, vấn đề ánh sáng, vấn đề công nghệ, thiết bị và dây chuyền sản xuất, …

Trong thời gian tới, công tác an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhà nước còn phải tiếp tục thúc đẩy và quản lý chặt chẽ hơn nữa

2.2.2 Tình hình thực hiện các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ

Không phải lúc nào và doanh nghiệp nào cũng có thể trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động cho tất cả công nhân, kể cả trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, …

Công tác bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp mặc dù được triển khai nhưng việc thực hiện lại chưa thật sự nghiêm túc

Trang 11

Số liệu điều tra cơ bản về bảo hộ lao động đối với lao động nữ làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì có tới 30% doanh nghiệp trong cả nước hiện nay chưa thực hiện tốt công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động nói chung và lao động nữ nói riêng

Do không đảm bảo đầy đủ tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động như được quy định nên tình trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp xảy ra đối với người lao động, đặc biệt là lao động

nữ ngày càng nhiều

Mặc dù có rất nhiều hạn chế như vậy, nhưng trong những năm gần đây, chất lượng và trình độ của người sử dụng lao động và người lao động đã phần nào được cải thiện cùng với sự phát triển đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, giáo dục Trong tình hình đó, vấn đề bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp có nhiều điểm đáng chú ý

2.2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ

Nhìn chung, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ liên quan tới lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đang ngày càng thực hiện theo hướng tuân thủ các quy định của pháp luật

Mặc dù vậy, tình trạng vi phạm các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các doanh nghiệp cũng đang

có xu hướng tăng lên

2.2.4 Tình hình thực hiện các quy định về thai sản đối với lao động nữ

Nhìn chung, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã có những chính sách đối với lao động nữ trong thời kỳ thai sản tuân thủ quy định của pháp luật, như tạo điều kiện để lao động đi khám thai theo chế độ, điều chuyển lao động nữ làm công việc khác nhẹ hơn khi họ có thai đến tháng thứ 7…

Tuy vậy, vẫn có nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài Nhà nước vẫn có hiệ tượng vi phạm những quy định này

Hậu quả của những yếu kém trong việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước đó không chỉ hiện tượng tai nạn lao động diễn ra thường xuyên với những thiệt hại nghiêm trọng về người và của, mà nó còn làm suy giảm nghiêm trọng sức khoẻ của lao động nữ làm việc trong các doanh này, từ đó, gây nguy hại đến cả những thế hệ do có sự liên quan chặt chẽ giữa sức khoẻ lao động với sức khoẻ sinh sản của bộ phận lao động đặc biệt này

2.2.5 Tình hình thanh tra và xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp không đảm bảo quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Trang 12

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý chuyên môn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, chịu trách nhiệm báo cáo trước Chính phủ và quốc hội về tình hình chấp hành pháp luật cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này

Trong thời gian qua, cùng với sự ra đời của các quy định pháp luật, công tác quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động đã có những bước tiến triển đáng kể: về tổ chức, về công tác thanh tra, …

2.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động

nữ

2.3.1 Những kết quả đạt được

Nhìn chung, hệ thống các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trong đó có quy định đối với lao động nữ đang ngày càng được hoàn thiện, đầy đủ theo hướng bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của lao động nữ

Ngày càng có nhiều quy định cụ thể hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ phụ nữ và an toàn, vệ sinh lao động

Các quy định pháp luật trên được ban hành đã góp phần tạo hành lang pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi của lao động nữ, qua đó xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động

Việc tổ chức thực hiện cũng đã đạt được nhiều kết quả khả quan: trong các doanh nghiệp, trong việc xây dựng bộ máy quản lý Nhà nước về an toan, vệ sinh lao động, trong các hoạt độngthoong tin, tuyên và trong hoạt động hợp hợp tác quốc tế

Có thể nói công tác an toàn, vệ sinh lao động ở nước ta có nhiều chuyển biến tích cực đáng kể về mọi mặt và quan trọng nhất là tình hình tai nạn lao động đã bắt đầu được kiềm chế trong điều kiện số lượng doanh nghiệp tăng lên rất nhanh

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân

Một cách tổng quan, công tác an toàn, vệ sinh lao động ở nước ta đã được quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm gần đây, nhưng khi xem xét đến đến việc việc thực hiện cụ thể trong các doanh nghiệp và công tác quản lý nhà nước, có thể thấy công tác đảm bảo

an toàn, vệ sinh lao động đó còn một số điểm tồn tại rõ nét

Hạn chế của các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động:

- Chưa được xây dựng theo cơ chế hài hoà lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, lợi ích của các bên tham gia quan hệ lao động nên các quy định này đều có đặc điểm là tính khả thi và tác dụng rất hạn chế

Trang 13

- Nguyên nhân:

+Chính sách với lao động nữ trong Bộ luật Lao động hiện nay dường như là chính sách

về nguồn nhân lực của Nhà nước nhiều hơn là chính sách về việc làm cho người lao động

+ Các quy định của pháp luật lao động về vấn đề này chưa kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

+ Các chế độ ưu đãi với với doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động nữ còn mang nặng

cơ chế xin – cho, thủ tục hành chính phức tạp, làm nản lòng và gây tâm lý ức chế với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài Nhà nước

+ Các quy định ưu tiên đối với lao động nữ chưa đặt trong tổng thể các giải pháp kinh tế – xã hội khác

Hạn chế về thực tế thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động:

- Tình trạng vi phạm các tiêu chuẩn, quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong cấp, các ngành, ở các doanh nghiệp, ở người sử dụng và lao động và người lao động vẫn diễn ra thường xuyên và rất phổ biến, với một tỷ lệ khá cao

- Việc đầu tư cải thiện điều kiện làm việc, việc thực hiện các biện pháp phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, phòng chống cháy nổ còn chưa được quan tâm

- Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về an toàn, vệ sinh lao động chưa được tiến hành một cách toàn diện và chưa có hiệu quả

- Khả năng kiểm soát, giám sát công tác an toàn, vệ sinh lao động của các cơ quan chức năng Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế

- Nguyên nhân nảy sinh tình trạng trên xuất hiện từ nhiều phía:

+ Về phía người sử dụng lao động

+ Về phía người lao động

+ Hoạt động chưa hiệu quả của các tổ chức Công

+ Hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn chỉnh

CHƯƠNG 3

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

NỮ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

Trang 14

3.1 Sự cần thiết khách quan của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

- Các điều khoản trong Bộ luật Lao động tuy đã được sửa đổi, bổ sung nhưng mức độ chi tiết chưa đủ để thực hiện và thực hiện nhất quán, có hiệu quả ở mọi nơi

- Các văn bản hướng dẫn lại chưa ban hành kịp thời và chưa quy định một cách cụ thể, thiếu các chế tài cần thiết để xử lý vi phạm pháp luật nên tính khả thi khi thực hiện luật chưa cao

- Việc quy định lập kế hoạch đào tạo nghề dự phòng lại không rõ ràng, không có các chế định về kế hoạch đào tạo

- Doanh nghiệp ngoài Nhà nước còn chưa được đảm bảo theo quy định của Bộ luật Lao động sửa đổi, nhưng việc thanh tra, kiểm tra còn lúng túng, các văn bản dưới Luật chưa quy định

rõ ràng việc xử lý và thẩm quyền vi phạm

- Các văn bản hướng dẫn thi hành luật qúa phức tạp, không thống nhất, nhiều khi lại trái với quy định của Bộ luật

- Một số quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động còn chung chung, không

cụ thể, dẫn đến việc người sử dụng lao động nữ đã lợi dụng luật để lách luật và gây hậu quả xấu đối với lao động nữ mà vẫn chưa bị coi là “phạm luật

Những vấn đề trên cho thấy sự cần thiết khách quan của việc phải nhanh chóng hoàn thiện các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

3.2 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

- Ở Việt Nam, lực lượng lao động nữ rất đông, đã và đang trở thành nguồn lực to lớn, góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

- Sự phát triển không cân xứng về số lượng, chất lượng của lực lượng lao động nữ so với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại trong quá trình hội nhập

3.1.1 Về mặt chủ quan

- Phải xây dựng các quy định pháp luật theo hướng hoàn thiện các quy định về an toàn,

vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Trang 15

- Cần thể hiện được chính sách ưu tiên của Đảng, Nhà Nước ta với lao động nữ, thể chế hóa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà Nước đối với lao động nữ thành những quy định của pháp luật chuyên ngành

3.3 Sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

- Sửa đổi về điều kiện làm việc:

- Sửa đổi về thời giời làm việc

- Sửa đổi về chế độ thai sản:

- Sửa đổi về đào tạo nghề:

- Xây dựng và bổ sung một số tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động

- Sửa đổi về nguyên tắc, cơ chế thanh tra, xử phạt vi phạm trong lĩnh vực an toàn, vệ

sinh lao động đối với lao động nữ:

- Xây dựng hệ thống quy định, chính sách cụ thể về đầu tư nguồn lực

- Tạo cơ chế, chính sách để tổ chức công đoàn có điều kiện chi trả toàn bộ lương cho cán bộ làm công tác công đoàn tại các doanh nghiệp

3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

- Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

- Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức công đoàn

- Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, xử phạt

- Cần quản lý và thực hiện nghiêm túc Cơ chế Tư vấn quốc gia ba bên về an toàn, vệ sinh lao động

- Coi trọng và xây dựng cơ chế thanh tra lao động

Trang 16

KẾT LUẬN

An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nói chung và lao động nữ nói riêng là chế định pháp luật quan trọng nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, ổn định tình hình kinh tế - xã hội đất nước, phục vụ cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Nhà nước ta Nhận thức được tầm quan trọng này, Nhà nước ta đã và đang xây dựng hệ thống các quy định pháp luật phù hợp với thể lực, tâm sinh lý cũng như chức năng xã hội của lao động nữ, giúp đối tượng lao động đặc biệt này đảm bảo hoàn thành công việc xã hội và vai trò trong gia đình

Qua nghiên cứu về pháp luật an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ, có thể thấy rằng pháp luật nước ta đã có những quy định khá cụ thể về đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ liên quan tới điều kiện làm việc, đào tạo nghề, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng như chế độ thai sản

Luận văn cũng đã đi vào tìm hiểu tình hình thực hiện các quy định pháp luật này trong các doanh nghiệp, trong công tác quản lý của nhà nước, từ đó thấy được nhiều ưu điểm và cả những điểm còn tồn tại của thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật

Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ có tính ưu việt, đã thể hiện tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc của chế độ xã hội hiện nay của Nhà nước ta, cũng như thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng lao động đặc thù này Tuy nhiên, để các quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có sự đầu tư về vật chất

và đồng lòng của tất cả các bên liên quan trong quan hệ lao động, đặc biệt là sự cam kết thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động và người lao động

Trong hầu hết các lĩnh vực của công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động đặc biệt là lao động nữ, các doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp ngoài nhà nước đã có những chính sách, chế độ đối với lao động nữ nhằm chấp hành các quy định của pháp luật, góp phần ổn định chất lượng lao động nữ cũng như giúp đối tượng lao động đặc biệt này thực hiện được đồng thời vai trò trong gia đình và nhiệm vụ ngoài xã hội Tuy nhiên, tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật lao động về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ cũng xảy ra ngày càng phổ biến và có xu hướng gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới xã hội Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này cần phải tích cực tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý các vụ việc vi phạm nhằm xử phạt các đối tượng có hành vi vi phạm quy định của pháp luật, răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm trong tương lai

Với mong muốn hệ thống các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ngày càng được hoàn thiện hơn nữa, luận văn đã đề xuất một số điểm cần sửa đổi nhằm phù hợp với tình hình mới, các cam kết quốc tế, đảm bảo sự bình đẳng giới giữa lao động nữ và lao động nam Đáng chú ý là đề xuất về sửa đổi bản danh mục các công việc cấm lao động nữ,

Trang 17

về đào tạo nghề cho lao động nữ, về thanh tra, xử phạt trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ

Chính vì vậy, luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn, như kiến nghị về đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, về tổ chức hoạt động của công đoàn và nâng cao năng lực hoạt động quản lý, thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc áp dụng pháp luật chỉ thực sự có hiệu quả khi kết hợp hài hòa, đồng bộ các công tác kể trên cùng với tinh thần trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động, của toàn xã hội

Tin tưởng rằng, cùng với việc hoàn thiện các quy định pháp luật, việc áp dụng pháp luật

sẽ thực sự đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng

References

I VĂN BẢN PHÁP LUẬT:

1 Bộ luật Lao động 1994

2 Bộ luật lao động năm 2006

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX – NXB

Chính trị Quốc gia Hà Nội 2001

4 Nghị định 181/CP - Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động

5 Nghị định 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao

động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao đ

6 Nghị định 23/CP của Chính phủ ngày 28/4/1996

7 Nghị định số 110/2002/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao

động sửa đổi về an toàn lao động, vệ sinh lao động

8 Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004

9 Pháp lệnh Bảo hộ lao động 1991

10 Quyết định 722/ LĐTBXH ngày 2/8/2000

Trang 18

11 Quyết định số 167/BYT – QĐ

12 Sắc lệnh số 29/SL – sắc lệnh lao động 8/1947

13 Thông tư liên bộ số 03/TT – LB ngày 28/01/1994

14 Thông tư liên bộ số 08/TTLB ngày 19/5/1976

15 Thông tư liên bộ số 29/ TTLB ngày 25/12/1991

16 Thông tư liên tịch số 03/1998 TTL- BLĐTBXH-BYT-TLĐ

17 thông tư liên tịch số 08/1998 TTLT BYT – BLĐTBXH

18 Thông tư liên tịch số 10/1999 TTLT-BYT-TLĐLĐVN ngày 17/3/199

19 Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN

20 Thông tư số 08/LĐTB và XH-TT ngày 11/4/1995

21 Thông tư số 10/1998 TT – LĐTBXH ngày 28/5/1998

22 Thông tư số 13/TT-BYT ngày 2/10/1996

23 Thông tư số 20/1997 TT-LĐTBXH ngày 17/12/1998

24 Thông tư số 23/LĐTBXH – TT ngày 18/11/1996

25.Thông tư số 79/1997/ TT-BTC (6/11/1997)

II SÁCH, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU:

1 Bùi Quang Bình, “Vấn đề vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp ở Quảng Nam và

Đà Nẵng” , Đề tài nghiên cứu cấp trường, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

2 AusAID, Sách hướng dẫn về Giới và Phát triển, AusAID, Can-bê-ra, Ôx-tra-lia

3 Ban Nghiên cứu, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, 1998, Tác động của đổi mới công

nghệ đối với lao động nữ trong công nghiệp hàng tiêu dùng, Tóm tắt báo cáo đề tài

Hà Nội

4 Ban thư ký Khối thịnh vượng chung, 1999, Sổ tay về hệ thống quản lý giới, London,

Vương quốc Anh

5 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Kết quả điều tra đời sống, việc làm và điều

kiện lao động – an toàn vệ sinh lao động của nữa công nhân trong các doanh nghiệp công nghiệp (502 doanh nghiệp), Hà Nội 1999

6 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2006, Dự thảo Chương trình Quốc gia về Bảo

hộ lao động 2006 – 2010, Hà Nội tháng 5/2006

Trang 19

7 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 1998, Báo

cáo sơ kết việc thi hành Bộ luật Lao động 1995 – 1997, Hà Nội tháng 7/1998

8 Bộ lao động Thương binh và Xã hội, Chương trình Quốc gia về bảo hộ lao động 2006

11 Nguyễn Hữu Chí (cb), 2005, Hoàn thiện, thực thi pháp luật về Lao động Nữ trong

doanh nghiệp ngoài Nhà nước, NXB Tư Pháp Hà Nội 2005

12 Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, Tổ công tác liên ngành,

2003, Các mục tiêu phát triển của Việt Nam, NXB Thống kê Hà Nội

13 CIDA, 2000,Thúc đẩy sự thay đổi - Nguồn lực để tiến hành lồng ghép giới, CIDA,

Quê-bếc, Canada

14 Dự án VIE 01/015/01 “Giới trong chính sách công”; Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của

phụ nữ Việt Nam, 2004, Hướng dẫn lồng ghép giới tronh hoạch định và thực thi

chính sách – Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua chủtinhg chính sách quóc

gia có trách nhiệm giới, Hà Nội

15 Dự án VIE/99/MO1/NET, Tài liệu Tập huấn về Bình đẳng giới trong công việc ở Việt

Nam, ILO – Chính phủ Hà Lan và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội 2001

16 Trần Hàn Giang (cb), 2001, Nữ công nhân trong khu vực công nghiệp ngoài quốc

doanhvà dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội

17 Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Báo Nhân dân; Bộ Khoa học và Cộng nghệ; Liên hiệp

các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, 2003, Phụ nữ Việt Nam với kinh tế tri thức -

Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội

18 ILO, 2004, Bình đẳng giới và Việc làm đàng hoàng – Các điển hình tại nơi làm việc, Văn phòng Bình đẳng giới

19 Đỗ Năng Khánh, 2000, Thất nghiệp và việc xây dựng chế đọ bảo hiểm thất nghiệp

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Luận văn Thạc sỹ Luật học Chuyên ngành

Luật Kinh tế 1997 – 2000, Trường Đại học Luật Hà Nội

20 MOLISA – ILO, Việc làm và bảo đảm xã hội tốt hơn cho lao động nữ trong quá

trình đổi mới, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội ngày 12 – 14/7/2000 – Dự án hỗ trợ

kỹ thuật VIE/95/035

21 MOLISA – ILO, 2005, Hồ sơ quốc gia về an toàn- vệ sinh lao động ở Việt Nam” –

Văn phòng Lao động Quốc tế tại Hà Nội, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Tổ chức Lao động Quốc tế

22 MOLISA;UNICEF, 2002, Vấn đề phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2002 – 2010, NXB Lao

động Xã hội Hà Nội

23 Phòng Thông tin, Tư liệu và Thư viện thuọc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học về Gia

đình và Phụ nữ - Trung tâm khoa học và Xã hội Nhân văn Quốc gia, 2001, Tập báo cáo

về lao động nữ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 3 tập, Hà Nội tháng

5/2001

24 Phan Thị Thanh, “Thực trạng điều kiện làm việc của nữ công nhân tại 9 doanh

nghiệp được khảo sát trong khu chế xuất ở Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai” – Nữ công nhân khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và dịch vụ trợ giúp pháp

lý ở Việt Nam,NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 2001

Trang 20

25 Tình hình tai nạn lao động năm 2006 và những giải pháp phòng ngừa –

http://www.molisa,gov.vn, ngày 22/7/2007

26 Tổng cục thống kê, Điều tra lao động – việc làm năm 2003, Tổng cục Thống kê, Uỷ

ban Vì sự Tiến bộ của phụ nữ Việt Nam; Chương trinhg phát triển Liên Hợp Quốc; Đại

sứ quán Vương quốc Hà Lan, 2005,

Ngày đăng: 18/02/2017, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội 2001
1. Bùi Quang Bình, “Vấn đề vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp ở Quảng Nam và Đà Nẵng” , Đề tài nghiên cứu cấp trường, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp ở Quảng Nam và Đà Nẵng
2. AusAID, Sách hướng dẫn về Giới và Phát triển, AusAID, Can-bê-ra, Ôx-tra-lia 3. Ban Nghiên cứu, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, 1998, Tác động của đổi mới côngnghệ đối với lao động nữ trong công nghiệp hàng tiêu dùng, Tóm tắt báo cáo đề tài Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách hướng dẫn về Giới và Phát triển, "AusAID, Can-bê-ra, Ôx-tra-lia 3. Ban Nghiên cứu, Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt Nam, 1998, "Tác động của đổi mới công "nghệ đối với lao động nữ trong công nghiệp hàng tiêu dùng
4. Ban thư ký Khối thịnh vượng chung, 1999, Sổ tay về hệ thống quản lý giới, London, Vương quốc Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay về hệ thống quản lý giới
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Kết quả điều tra đời sống, việc làm và điều kiện lao động – an toàn vệ sinh lao động của nữa công nhân trong các doanh nghiệp công nghiệp (502 doanh nghiệp), Hà Nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra đời sống, việc làm và điều kiện lao động – an toàn vệ sinh lao động của nữa công nhân trong các doanh nghiệp công nghiệp (502 doanh nghiệp)
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2006, Dự thảo Chương trình Quốc gia về Bảo hộ lao động 2006 – 2010, Hà Nội tháng 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Chương trình Quốc gia về Bảo hộ lao động 2006 – 2010
7. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 1998, Báo cáo sơ kết việc thi hành Bộ luật Lao động 1995 – 1997, Hà Nội tháng 7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết việc thi hành Bộ luật Lao động 1995 – 1997
9. Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, 1998, Báo cáo sơ kết việc thi hành Bộ luật lao động 1995 – 1997, ngày 1/7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết việc thi hành Bộ luật lao động 1995 – 1997
10. Lê Thị Châu, Lê Thị Phước, 1999, Địa vị pháp lý của lao động nữ theo Bộ luật Lao động, NXB Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của lao động nữ theo Bộ luật Lao động
Nhà XB: NXB Lao động Hà Nội
11. Nguyễn Hữu Chí (cb), 2005, Hoàn thiện, thực thi pháp luật về Lao động Nữ trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước, NXB Tư Pháp Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện, thực thi pháp luật về Lao động Nữ trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước
Nhà XB: NXB Tư Pháp Hà Nội 2005
12. Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo, Tổ công tác liên ngành, 2003, Các mục tiêu phát triển của Việt Nam, NXB Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mục tiêu phát triển của Việt Nam
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
13. CIDA, 2000,Thúc đẩy sự thay đổi - Nguồn lực để tiến hành lồng ghép giới, CIDA, Quê-bếc, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy sự thay đổi - Nguồn lực để tiến hành lồng ghép giới
14. Dự án VIE 01/015/01 “Giới trong chính sách công”; Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2004, Hướng dẫn lồng ghép giới tronh hoạch định và thực thi chính sách – Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua chủtinhg chính sách quóc gia có trách nhiệm giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới trong chính sách công”; Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2004, "Hướng dẫn lồng ghép giới tronh hoạch định và thực thi chính sách –
15. Dự án VIE/99/MO1/NET, Tài liệu Tập huấn về Bình đẳng giới trong công việc ở Việt Nam, ILO – Chính phủ Hà Lan và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Tập huấn về Bình đẳng giới trong công việc ở Việt Nam
16. Trần Hàn Giang (cb), 2001, Nữ công nhân trong khu vực công nghiệp ngoài quốc doanhvà dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Hàn Giang (cb), 2001, "Nữ công nhân trong khu vực công nghiệp ngoài quốc doanhvà dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
17. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Báo Nhân dân; Bộ Khoa học và Cộng nghệ; Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, 2003, Phụ nữ Việt Nam với kinh tế tri thức - Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Việt Nam với kinh tế tri thức
18. ILO, 2004, Bình đẳng giới và Việc làm đàng hoàng – Các điển hình tại nơi làm việc, Văn phòng Bình đẳng giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: ILO, 2004, "Bình đẳng giới và Việc làm đàng hoàng – Các điển hình tại nơi làm việc
19. Đỗ Năng Khánh, 2000, Thất nghiệp và việc xây dựng chế đọ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Luận văn Thạc sỹ Luật học Chuyên ngành Luật Kinh tế 1997 – 2000, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất nghiệp và việc xây dựng chế đọ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
20. MOLISA – ILO, Việc làm và bảo đảm xã hội tốt hơn cho lao động nữ trong quá trình đổi mới, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội ngày 12 – 14/7/2000 – Dự án hỗ trợ kỹ thuật VIE/95/035 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm và bảo đảm xã hội tốt hơn cho lao động nữ trong quá trình đổi mới
21. MOLISA – ILO, 2005, Hồ sơ quốc gia về an toàn- vệ sinh lao động ở Việt Nam” – Văn phòng Lao động Quốc tế tại Hà Nội, Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Tổ chức Lao động Quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ quốc gia về an toàn- vệ sinh lao động ở Việt Nam”

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm