1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu đặc trưng văn hoá của các dân tộc thiểu số ở tân kỳ (nghệ an)

62 2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu đặc trưng văn hoá của các dân tộc thiểu số ở tân kỳ (nghệ an)
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hà
Trường học Đại học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 194 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một ngời con của quê hơng Tân Kỳ, bản thân cùng sống một địa bàn và đợc tiếp xúc với các đồng bào Thái, Thổ nên phần nào hiểu đợc đời sốngvật chất cũng nh tinh thần của họ.. " Tìm hiể

Trang 1

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Tân Kỳ thuộc huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ An, làhuyện ra đời muộn nhất trong tỉnh Trên mảnh đất Tân Kỳ từ buổi bình minhcủa lịch sử đã có con ngời sinh sống, nhiều thời kì lịch sử đã đi qua và còn đểlại dấu vết tại đất Tân Kỳ ở Tân Kỳ bên cạnh ngời Kinh còn có ngời Thổ, ng-

ời Thái cùng c trú

Miền núi Nghệ An nói chung và Tân Kỳ nói riêng có đặc diểm khí hậuthời tiết khá khắc nghiệt, đã thế lại thêm chiến tranh liên miên, nhân dân đãcùng nhau chống lại bọn thống trị ngoại xâm Quá trình chinh phục tự nhiên

và đấu tranh xã hội đã gắn kết các dân tộc là c dân bản địa và một số khôngphải là c dân bản địa lại với nhau thành một khối Do đó ở Tân Kỳ ít có sự biệt

c của từng dân tộc mà hình thành một hiện tợng cộng c xen ghép rất kì diệu.Một ngời của dân tộc này biết thêm ngôn ngữ, phong tục tập quán của mộthay nhiều dân tộc khác là khá phổ biến Điều đó đã dẫn đến việc trao đổi tựnhiên về mọi mặt giữa các dân tộc tạo nên sự giao thoa về văn hoá, phong tục,tập quán của các dân tộc khác nhau Ngoài ra, các dân tộc từ xa đến trong quátrình chuyển c cũng không đi một mạch từ địa bàn quê hơng đến Tân Kỳ, mà

họ tạm dừng chân ở một số địa phơng Vì thế ngoài việc bảo lu truyền thốngvăn hoá, phong tục của mình, họ cũng mang theo những ảnh hởng văn hoá dântộc ở các địa phơng đó Tuy nhiên trong quá trình phát triển của lịch sử cộngvới điều kiện tự nhiên ở từng miền nên mỗi dân tộc ngoài những nét văn hoáchung vẫn mang đậm những đặc trng văn hoá riêng của địa phơng mình c trú

Là một ngời con của quê hơng Tân Kỳ, bản thân cùng sống một địa bàn

và đợc tiếp xúc với các đồng bào Thái, Thổ nên phần nào hiểu đợc đời sốngvật chất cũng nh tinh thần của họ Tôi thiết nghĩ việc đi sâu tìm hiểu một cáchchính xác, đầy đủ và hệ thống về đặc trng văn hoá của các dân tộc thiểu sốtrên đất Tân Kỳ là điều cần thiết Qua đó thấy đợc sự đóng góp của các dântộc thiểu số vào sự bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc ViệtNam

Vì những lí do trên chúng tôi đã mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài

“Tìm hiểu đặc trng văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Tân Kỳ (Nghệ An)”làm khóa luận tốt nghiệp Đại học

Trang 2

Trải qua một quá trình lao động khẩn trơng và nghiêm túc, lại đợc sựgiúp đỡ tận tình và khoa học của cô giáo hớng dẫn Nguyễn Thị Hà và Thờng

vụ Huyện uỷ, các ban ngành cùng đồng bào dân tộc, nhờ đó đề tài khoá luậncủa tôi đã hoàn thành Do khả năng trình độ của bản thân còn có hạn vì lần

đầu tiên bớc vào con đờng nghiên cứu, thêm vào đó là tài liệu tham khảo hạnchế, cho nên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi không tránh khỏi nhữngthiếu sót, chúng tôi rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của quý thầy cô vàcác bạn

2 Lịch sử vấn đề.

" Tìm hiểu đặc trng văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Tân Kỳ (NghệAn)" là một vấn đề không còn mới đã có đề cập đến trong các công trìnhnghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau:

Trong cuốn “Tân Kỳ truyền thống và làng xã” do Ninh Viết Giao chủ biên,

Nxb KHXH - 1992, tác giả đã nghiên cứu về dấu vết lịch sử, vấn đề làng xã ởTân Kỳ và trong đó cũng đã đề cập đến một số vấn đề về văn hoá của các dântộc thiểu số ở Tân Kỳ Song không đi sâu vào nghiên cứu những nét đặc trngriêng của từng dân tộc

Trong cuốn “40 năm một chặng đờng” của Ban Dân tộc miền núi Nghệ

Tĩnh - Nxb Tỉnh 1985, đã nêu lên các bớc trởng thành về các mặt nh kinh tế,văn hoá, xã hội của các dân tộc thiểu số trên đất Nghệ An, trong đó có dân tộcThái và dân tộc Thổ Cũng nh tác phẩm trên cha đi vào nghiên cứu các đặc

điểm văn hoá riêng của từng dân tộc ở từng địa phơng trong tỉnh

Trong cuốn “Phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số ở Nghệ An”

của La Quán Miên su tầm và nghiên cứu, Nxb Nghệ An 1997 - đã nghiên cứu

về các phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số có mặt ở Nghệ An nh trongsinh hoạt, đời sống sản xuất và đời sống xã hội

Trong cuốn “Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” do Hội viên

Hội dân tộc học TP HCM biên soạn, Nxb Giáo dục 1997, đã nghiên cứu vềvăn hoá của các dân tộc theo từng nhóm ngôn ngữ nh văn hóa các dân tộcthuộc ngữ hệ Nam - á, Nam Đảo

Bên cạnh các tác phẩm nêu trên thì còn tản mạn trong các công trìnhnghiên cứu của một số tác giả và trong các báo cáo của Huyện Uỷ Tân Kỳcũng nh các báo cáo của các xã có đồng bào Thái, Thổ sinh sống Ngoài ratrong các dự án, chính sách đối với các xã có đồng bào các dân tộc thiểu sốcũng đã ít nhiều nói đến các mặt nh kinh tế, chính trị, xã hội của các dân tộc

Trang 3

Nh vậy cho đến nay cha có một công trình nào tìm hiểu một cách cụthể, hệ thống, đầy đủ vấn đề “Đặc trng văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Tân

Kỳ (Nghệ An)” Các tác phẩm nghiên cứu nêu trên đã giúp chúng tôi tiếp cận

và là cơ sở để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

Hoàn thành đề tài này chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu đờisống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của các dân tộc thiểu số ở Tân Kỳ -Nghệ An

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

“Tìm hiểu đặc trng văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Tân Kỳ (NghệAn)” nhằm đa ra đợc những nét đặc trng về văn hoá của các dân tộc thiểu số

mà cụ thể là dân tộc Thái và dân tộc Thổ có mặt ở Tân Kỳ

Với mục tiêu đó của đề tài, khoá luận trớc tiên đề cập khái quát điềukiện tự nhiên và dân c ở huyện Tân Kỳ, những nhân tố có ảnh hởng tới đờisống bà con dân tộc ở đây Trọng tâm nghiên cứu của khoá luận là Tìm hiểunhững nét đặc trng văn hoá của dân tộc Thái, dân tộc Thổ, để thấy đợc sự bảotồn và phát huy những bản sắc văn hoá của các dân tộc cho đến nay đang tồntại và phát triển trên bớc đờng xây dựng cuộc sống mới

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu các tài liệu liên quankết hợp với thực tế điền dã nhằm tiếp xúc và hiểu sâu thêm về văn hoá của

đồng bào dân tộc thiểu số ở Tân Kỳ Vì thế để hoàn thành đề tài này chúng tôi

sử dụng các phơng pháp chủ yếu nh so sánh, tổng hợp để rút ra cái chung, cáiriêng về văn hoá để từ đó thấy đợc đặc trng văn hoá của các dân tộc thiểu số ởTân Kỳ ( Nghệ An)

5 Bố cục của khoá luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa khoá luận đợc bố cục trong 3 chơng:

Chơng 1: Khái quát điều kiện tự nhiên và dân c ở huyện Tân Kỳ.

Chơng 2: Dân tộc Thổ ở Tân kỳ.

Chơng 3: Dân tộc Thái ở Tân kỳ.

Trang 4

B Nội dungCh

ơng 1:

Khái quát điều kiện tự nhiên và dân c ở huyện Tân Kỳ

1.1 Điều kiện tự nhiên.

Tân Kỳ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ An, phíaBắc giáp với huyện Nghĩa Đàn, phía Nam giáp với huyện Đô Lơng, phía Tâygiáp huyện Anh Sơn và phía Đông giáp huyện Yên Thành

Ngày 19/4/1963 huyện Tân Kỳ mới có tên trên bản đồ Tổ quốc Nhngtrên mảnh đất Tân Kỳ từ buổi bình minh của lịch sử đã có con ngời làm ăn vàsinh sống Nhiều thời kỳ lịch sử đã đi qua và còn để lại nhiều dấu vết tên đấtTân Kỳ Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc cùng với sự thay đổi về

tổ chức hành chính của cả nớc qua các thời kỳ Tân Kỳ cũng có nhiều thay đổi

về địa giới và tên gọi Ngày xa Tân Kỳ thuộc đất Hàm Hoan Thời Đờng đô hộthuộc đất Hoan Châu Đầu Thế kỷ X với chiến thắng Bạch Đằng (938) nớc ta

đã bớc vào thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài Nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần

điều bỏ hẳn chế độ quận huyện rồi chia thành Đạo, Lệ, Phủ, Châu NămQuang Thái thứ 10 (1397) nhà Trần đổi châu Nghệ An gồm các huyện PhùDung, Phù Lu, Quỳnh Lâm, Thiệu Động kể cả vùng Quỳ Châu cũ Tân Kỳ làmột phần đất của huyện Quỳnh Lâm và Thiệu Động

Khi mới thành lập 1963 huyện Tân Kỳ có 13 xã, 10 xã thuộc huyệnNghĩa Đàn tách ra, 2 xã thuộc huyện Anh Sơn, 1 xã thuộc huyện Yên Thành

Do hoàn cảnh địa hình phức tạp nên các xã của huyện Tân Kỳ dần đợc tách rathành các xã nhỏ cho phù hợp với địa bàn, đến nay Tân Kỳ đã có 21 xã vói 1thị trấn

Trang 5

Phần lớn đất đai Tân Kỳ là rừng núi, chỉ có một số cánh đồng hẹp, ruộngbậc thang nằm ở ven sờn núi, triền sông có độ nghiêng khá lớn cho nên ảnh h-ởng nhiều đến sản xuất Đất đai của Tân Kỳ chủ yếu là đất đỏ Bazan.

Địa hình Tân Kỳ thấp dần về phía Tây Nam theo hớng chảy của dòngSông Con Nếu nhìn từ bao quát cả bốn phía ta thấy Tân Kỳ nh hình một lòngchảo đợc bao bọc bởi đồi núi nhấp nhô nằm liên tiếp khắp địa bàn huyện

Tân Kỳ chỉ có một dòng sông duy nhất chảy qua là Sông Lam nhngmực nớc giữa các mùa của sông lại có sự chênh lệch rất lớn, mùa ma nớc dângcao gây ảnh hởng không nhỏ đến mùa màng của các xã ven sông Mùa khô n-

ớc cạn rất khó khăn cho thuyền bè đi lại, khe suối ở đây phân bố tơng đối dàynhng do dốc cao không thuận lợi cho phục vụ sản xuất

Nh đã nói Tân Kỳ là huyện miền núi do đặc điểm của địa hình phức tạpnên khí hậu cũng không kém phần phức tạp Nhiệt độ trung bình hàng nămcủa huyện khoảng 25-30oC thấp hơn các vùng trung du và đồng bằng trongtỉnh Sự thay đổi khí hậu giữa các mùa rất rõ rệt, các tháng 4, 5, 6 thờng có giómùa Tây Nam làm cho khí hậu khô nóng gây nên tình trạng hạn hán nghiêmtrọng trong các tháng 11, 12 thờng xuất hiện hiện tợng sơng muối gây ảnh h-ởng tơng đối đến sự sinh trởng của cây trồng vật nuôi

Do đặc trng về mặt địa hình, mạng lới giao thôngvận tải ở Tân Kỳ cha

đảm bảo yêu cầu của việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội Các tuyến giaothông chủ yếu của huyện là quốc lộ 15A, 15B nối liền Tân Kỳ với các huyện

có tuyến đờng 71 tức đờng mòn HCM kéo dài 21km sang huyện Anh Sơn.Trong những năm gần đây hệ thống đờng liên thôn liên xã tuy cũng đợc sửachữa nâng cấp song do địa hình phức tạp cho nên việc đi lại giao lu kinh tế -văn hoá - xã hội của nhân dân cũng gặp khó khăn

Từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên đó ta thấy nó có tác độngkhông nhỏ đến đời sống của ngời dân trong huyện Khó khăn về giao thông đilại, sự phức tạp của địa hình, khí hậu khắc nghiệt Song Tân Kỳ cũng cónhững lợi thế nhất định cần đợc phát huy

1.2 Dân c.

Tân Kỳ là huyện đợc thành lập muộn so với các huyện khác trong tỉnhNghệ An, ngày đầu thành lập dân số chỉ có 18 ngàn ngời Chủ yếu là đồngbào các dân tộc Thanh, Thái, Thổ và đồng bào Kinh, di c từ các huyện miềnxuôi lên định c làm ăn ở nơi đây Bao gồm hai nhóm chủ yếu:

- Nhóm Việt - Mờng:

Trang 6

Nhóm này gồm 2 thành phần là ngờiViệt và ngời Thổ.

Trớc hết cần nói ngay rằng tất cả các c dân ở miền Bắc Việt Nam hiệnnay đều thuộc tiểu chủng Nam Mông-gô-lô-ít (thờng gọi là Nam á) hoặc cácngành Anh đôrêđiêng tức 1 hỗn chủng giữa ngời da đen và ngời da vàng

Các c dân ở Nghệ An đặc biệt nhóm Việt - Mờng dù ở trong một mảnh

đất nhỏ nhoi nh Tân Kỳ cũng không thoát khỏi quy luật đó Họ là thổ dân ở

đây từ xa Có lẽ từ thuở bình minh của lịch sử loài ngời, họ đã đi qua thời kỳ

đồ đá để đi đến thời kì kim thuộc

Số đông ngời Việt (Kinh) hiện sinh sống ở Tân Kỳ là di duệ trực tiếphoặc gián tiếp của những con ngời đã làm chủ các nền văn hoá ấy Thế hệ nàyqua thế hệ khác đã từng đa cánh tay gân guốc của mình để chế ngự thiênnhiên, diệt dã thú, chống chọi với các lực lợng hắc ám khác xây dựng bảnlàng, xây dựng quê hơng

Ngoài số ngời chủ yếu đó ra Tân Kỳ còn có một số ngời Việt ở cácvùng khác đến c trú Đó là những ngời đói nghèo di c đến khai thác làm ăn,

định c và trở thành ngời Tân Kỳ

Về ngời Thổ: Ngời Thổ ở Tân Kỳ là một nhóm Việt - Mờng c trú lâu

đời tại địa phơng này Họ là thổ dân là ngời bản địa, không nh ở Nghĩa Đàn,

có nhiều ngời Mờng, ngời kinh từ Thanh Hoá thiên di sang Ngời Thổ ở Tân

Kỳ c trú chủ yếu tại ba xã Tân Hợp, Tân Xuân và Giai Xuân Họ là những

ng-ời Việt Cổ, đồng tông với ngng-ời Đan Lai, Ly Hà ở Con Cuông và ngng-ời TàyChăm, Tày Pun, Tày Chum ở Tơng Dơng Mặt khác họ là những ngời ở cáchuyện đồng bằng Nghệ An nh Diễn Châu, Quỳnh Lu, Yên Thành, Nghi Lộc lên lập nghiệp Họ lên vì đói nghèo, vì vua quan áp bức, bóc lột và cũng nh bộphận ngời Kinh họ chạy lên đây để trốn tránh sự truy nã của bọn thống trị saunhững ngày dấy nghĩa bị thất bại

Những nhóm trên do tụ tập và hợp nhất với nhau lâu ngày dần dầnthành một cộng đồng ngời mới với các tên là Thổ Họ còn bảo lu đợc nhữngnét cổ của cha ông nhng đồng thời họ đã mang những sắc thái văn hoá củamột dân tộc không phải là Việt mặc dù họ là ngời Việt tách ra

- Nhóm Thái:

Chúng ta đã biết ngời Thái vốn c trú ở phía Nam sông Dơng Tử (TQ)rồi tràn về vùng 9 con sông gặp nhau tại Vân Nam sau đó với sự thiên di của

Trang 7

ngời Hán, ngời Tạng Miến một bộ phận ngời Thái chuyển c xuống vùng TâyBắc Việt Nam.

Khoảng thế kỉ XIII, XIV ngời Thái từ Tây Bắc tràn xuống lu vực sôngMã, qua Lào hay qua Hoà Bình, Thanh Hoá vào Nghệ An Đầu thế kỉ XV đã

có ngời Thái ở Đồng Văn Tân Kỳ Còn ngời Thái ở Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái,Nghĩa Dũng đến chậm hơn, sớm nhất là đầu thế kỉ XIX

Chiếm khoảng gần 10% dân số toàn huyện, ngời Thái ở Tân Kỳ có hainhóm: Nhóm Tày Chiềng và Man Thanh vì đã đi qua nhiều vùng trớc khi đếnTân Kỳ nên ngời Thái ở Tân Kỳ mặc dù vẫn giữ đợc bản sắc cổ truyền của vănhoá dân tộc mình, họ cũng mang trong mình ảnh hởng của các phong tục tậpquán, các màu sắc văn hoá những địa phơng mà họ đã tạm c trú

Đến Tân Kỳ cái địa bàn mà địa lý, khí hậu thời tiết, đất đai, thú vật,giao thông khá khắc nghiệt đối với con ngời đã buộc các dân tộc dù khácnhau về nguồn gốc, về truyền thống văn hoá phải xích lại gần nhau, đoàn kếtbên nhau để đấu tranh, để bảo vệ và xây dựng bản làng ở đây các dân tộc đãhình thành một hiện tợng cộng c cài răng lợc rất đáng lu ý mặc dù ở xã TânHợp có số dân đông hơn ở Tiên Kỳ ngời Thái có sống tập trung hơn Cho nênmột ngời dân tộc này biết thêm ngôn ngữ của dân tộc khác là phổ biến Do đóngời nào vừa mới bớc chân đến miền núi Nghệ An nói chung miền Tân Kỳ nóiriêng cũng cảm thấy sắc thái riêng biệt của nó Do đó ngời nào cũng mangtrong mình họ, trong xã hội họ dấu ấn đã rõ nét của ngời dân miền núi Nghệ

An Quả là một tính cách địa phơng đã vợt ra khỏi đặc điểm từng dân tộc Đóchính là cơ sở để tạo ra một cộng đồng đoàn kết với nhau để chống thiênnhiên, chống các thế lực thống trị và lu lại cho chúng ta bao truyền thống tốt

đẹp

Ch

ơng 2:

Dân tộc thổ ở Tân Kỳ2.1 Vài nét về dân tộc Thổ ở Nghệ An.

Dân tộc Thổ sống ở vùng đất thấp trên dải đất Nghệ An dân số khoảng40.545 ngời, đông vào hàng thứ 3 trong số 7 dân tộc sống ở Nghệ An, sau

Trang 8

Kinh và Thái, vào hàng thứ 10 trong số 36 dân tộc ít ngời ở miền Bắc ViệtNam [19:15]

Ngời Thổ c trú trên địa bàn của một số huyện trong tỉnh đông nhất ở bahuyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ

Nghĩa Đàn: 12.822 ngời chiếm 12,1% dân số toàn huyện

Quỳ Hợp: 7.675 ngời chiếm 13,4% dân số toàn huyện

Tân Kỳ: 6.572 ngời chiếm 6,1 % dân số toàn huyện

ở ba huyện này, ngời Thổ chỉ có mặt 28/57 xã sống xen ghép với ngờiKinh và ngời Thái chỉ có 3 xã là Tân Hợp của Tân Kỳ, Văn Lợi và Hạ Sơncủa Quỳ Hợp là hoàn toàn Thổ ở các huyện khác, ngời Thổ sống lẻ tẻ ở mộtvài bản, xã Nằm ở ngã ba của sự giao lu xuôi ngợc, địa vực c trú của ngời Thổ

là chổ hội tụ nhiều luồng thiên di, có hai hớng thiên di diễn ra ở đây:

- Hớng Đông Nam: Ngời Việt từ Diễn Châu, Quỳnh Lu, Nghi Lộc, Nam

Quá trình tiếp xúc và hoà hợp lâu dài dần dần giữa c dân cũ và mới,hình hành nên dân tộc Thổ ngày nay Nh vậy là cơ cấu của dân tộc Thổ hiệnthời có ba nguồn gốc: Nguồn gốc Mờng với các nhóm có tên gọi là Mọn vàHọ; Nguồn gốc Việt với các nhóm có tên gọi Kẹo và Đan Lai -Ly Hà; Nguồngốc bản địa với các nhóm có tên gọi là Tày Poọng và Cuối

2.2 Một số đặc điểm của dân tộc Thổ ở Tân Kỳ.

Tại Tân Kỳ ngời Thổ tập trung đông nhất ở 3 xã Tân Hợp, Giai Xuân vàTân Xuân, C trú lẻ tẻ ở một số xã nh Nghĩa Hoàn, Nghĩa Phúc, Đồng Văn

Đây là vùng tiếp nối của c dân ngời Thổ ở 2 huyện Quỳ Hợp và Nghĩa Đàn với

số dân khoảng hơn 1 vạn ngời chiếm 10% dân số bản địa [12:73]

ở Tân Kỳ bộ phận ngời Thổ trên thực tế thuộc 2 dân tộc là Thổ Mọn vàThổ Cuối,Thổ Mọn thực chất là dân tộc Mờng, văn hoá vật chất cũng nh văn

Trang 9

hoá tinh thần về cơ bản là văn hoá Mờng Mặt khác phơng ngữ Thổ Mọn hoàntoàn là phơng ngữ Mờng, nếu ta so sánh phơng ngữ Thổ Mọn ở Giai Xuân vàphơng ngữ của Mờng ở Thanh Hoá (Mờng ống) và Mờng Hoà Bình (MờngBi) sẽ thấy rõ điều đó, tiếng Thổ Mọn ở Giai Xuân có sút soát 80% giống vốn

TấtKhaoTlốôngKhệ

Mờng BiTlờiTấtKhaotlộôngPộ

Trời

ĐấtSaoBụngNói

Để phân biệt giữa Thổ Cuối và Thổ Mọn đó là một số đặc điểm về vănhoá vật chất cũng nh tinh thần, đặc biệt về phơng ngữ thì 2 dân tộc này ở Tân

Kỳ chỉ giống nhau 48%

Nh vậy ở Tân Kỳ dân tộc Thổ có 2 nhóm là Thổ Mọn và Thổ Cuối.ThổMọn sống ở các xã Giai Xuân, Tân Xuân,Nghĩa Hoàn, Nghĩa Phúc, Đồng Văncòn Thổ Cuối sống ở xã Tân hợp

2.2.1 Đặc điểm kinh tế.

2.2.1.1 Kinh tế truyền thống

ở Tân Kỳ đồng bào Thổ c trú ở vùng gò đồi, triền núi thấp thuộc miềnnúi Đồng bào Thổ Cuối c trú cao nhất và xa trung tâm huyện nhất Đất đai ởvùng đồng bào Thổ c trú chủ yếu là đất ba zan phong hoá hoạc đất phù sa có độphèn cao, ít độ ẩm Sông suối có lu lợng nớc không đều, lũ lụt vào mùa ma, cạnkiệt nhanh vào mùa khô Cảnh quan địa lý ấy tác động trực tiếp đến kinh tế củangời Thổ, thể hiện rõ cả thuận lợi và cả những khó khăn trong quá trình sảnxuất của họ Việc xác định cơ cấu cây trồng và gia súc vì thế hết sức quan trọng

có tác dụng quyết định đến nền kinh tế của ngời Thổ

Trớc cách mạng Tháng 8 đồng bào Thổ trồng lúa Nơng là chủ yếu cókết hợp một phần với cây lúa nớc Kỹ thuật canh tác lúa nớc cũng giống củangời Kinh trớc đây, đồng bào Thổ dùng "cày hoá" (cày chìa vôi) dùng bừa vàhái nh miền xuôi Trớc đây lúa gặt thành từng lợm nhỏ, phơi khô cả lợm lúatrên đồng rộng rồi mới đem về nhà ăn đến đâu giã đến đó Về kỹ thuật canhtác lúa nơng cũng giống nh kỹ thuật trồng lúa nơng của các dân tộc anh emkhác Vào khoảng tháng hai tháng ba âm lịch đồng bào đi phát nơng, đốt nơng

Trang 10

vào đầu mùa nắng Khi nơng đợc phát và dọn sạch thì đồng bào bắt đầu trỉalúa.

Lối canh tác lúa nơng là chọc lỗ tra hạt Khi trỉa đàn ông dùng gậy chọc

lỗ từ dới lên, từ hai bên lại, ngời chọc lỗ đi thụt lùi, phụ nữ theo sau tra từ 3 -5hạt giống vào lỗ rồi dùng chân khoả đất hoặc tro lấp hạt giống đi Khi thuhoạch lúa nơng bằng "nải cù cu" (1 loại hái nhắp có lỡi dao cắm vào lng mộttay nắm bằng gỗ đeo theo hình chim cu)

Ngày nay mặc dầu kỹ thuật canh tác lúa nớc đã có nhiều tiến bộ, đồngbào Thổ đã canh tác hai đến ba vụ lúa nớc một năm, lúa nớc là nguồn lơngthực chính của bà con Nhng đồng bào Thổ vẫn tiếp tục trồng lúa nơng cổtruyền của mình ở nơng ngoài cây lúa bà con còn trồng kê, trồng cây "mócmách", trồng khoai, trồng sắn Canh tác nơng rẫy là tàn tích của du canh du

c trớc đây làm thiệt hại đáng kể đến việc bảo vệ rừng và bảo vệ môi tr ờngsống Lối sống du canh du c với quan hệ sản xuất cá thể lấy phơng thức" chọc

lỗ tra hạt", săn bắt, hái lợm ít nhiều mang tính chất nguyên thuỷ làm cơ sở đã

ảnh hởng rất lớn đến đời sống của đồng bào Thổ Nền kinh tế gia đình thòngkhông ổn định, mức sống thất thờng, ngày đói nhiều hơn ngày no, sự dốt nát,lạc hậu cũng nảy sinh ra từ đây Từ sau ngày hoà bình lập lại thay thế choquan hệ sản xuất lỗi thời lạc hậu ấy là quan hệ sản xuất tập thể xã hội chủnghĩa, đã đa đến nhiều chuyển biến lớn lao, căn bản trong sản xuất và đờisống của đồng bào

Việc phát nơng làm rẫy theo lối du canh du c đó làm thiệt hại đáng kểcho việc bảo vệ rừng bảo vệ môi trờng sống Nhờ đợc kiên trì giáo dục đồngbào đã nhận thức rõ tác hại của việc phát nơng làm rẫy theo lối du canh du ctràn lan, nên đã thu hẹp dần diện tích phát rẫy và thực hiện "thâm canh" Mỗi

đám rẫy bằng cách canh tác theo chu kì: 1 năm canh tác, 1 hai năm bỏ hoangrồi lại canh tác Tuy vậy đồng bào Thổ vẫn cha bỏ đợc việc phát rẫy vì ruộngquá ít mà nhà nớc lại cha đầu t thích đáng để phát triển và thâm canh trên diệntích ít ỏi này

Nếu nh trớc kia ngời Thổ chỉ quen với cái gậy chọc lỗ hay cái cày thôsơ thì hiện nay ở đâu cũng phổ biến các loại cày bừa cải tiến của ngời Việt,ngời Thái, 1 số nơi đã dùng máy cày Hàng loạt kỹ thuật mới vì sản xuất đã đ-

ợc bà con Thổ tiếp nhận

2.2.1.2 Kinh tế phụ gia đình.

Việc phát rẫy làm nơng với phơng thức chọc lỗ tra hạt là chủ yếu cộngthêm một số ruộng lúa nớc Song kinh tế nơng rẫy vẫn đợc coi là ngành kinh

Trang 11

tế chính, ngành nghề truyền thống của đồng bào Thổ ở Tân Kỳ vì lơng thựcchính đảm bảo cuộc sống của họ là kinh tế nơng rẫy Bên cạnh đó họ còn cómột số nghề phụ nh nghề thủ công đan lát, đi săn bắt để đảm bảo hơn chocuộc sống gia đình.

Nơng rẫy ngoài việc trồng loại sản xuất lơng thực nh lúa, ngô, khoai,sắn thì đồng bào còn trồng cây gai và phát triển nghề thủ công sản xuất các

đồ dùng từ gai Cây gai chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của

đồng bào Thổ, kéo theo nó là nghề trở thành truyền thống và tự hào của ngờiThổ là các sản phẩm bằng gai nh võng gai, lới gai cây gai là một nguồn lợihết sức lớn của ngời Thổ, họ đem các sản phẩm bằng gai đó để đổi lấy quần

áo, công cụ lao động, muối của các dân tộc khác

Bên cạnh đó thì nghề săn bắt thuỷ sản và muông thú đóng vai trò kháquan trọng trong đời sống của đồng bào Thổ Đó là sông suối đã đem lại chongời Thổ một nguồn thuỷ sản dồi dào, phong phú Ngoài việc đánh cá ngủ rất

cổ truyền độc đáo, đồng bào Thổ có một hệ thống đồ nghề làm bằng nguyênliệu từ gai và các loại gỗ rừng nh lới, vó, chài, giỏ, để đánh bắt cá

Săn bắn cũng trở thành một truyền thống của đồng bào Thổ, ngoài việc

đặt bẫy thú, đồng bào còn bắn thú và chim chóc bằng mũi tên thuốc độc Chỉmột ngời biết làm thuốc nhuộm độc mũi tên, nhng tất cả những ngời bắn tênthuốc độc đều biết thuốc giải độc để tự cứu mình nếu không may bị trúng độc

Đồng bào quan niệm nếu đi săn mang thuốc giải độc đi theo thì sẽ không maymắn, cho nên khi không may dính thuốc độc ngời đó phải vừa nhai dây đeobao dao nuốt nớc vừa chạy về nhà hoặc chạy vào rừng tìm cây thuốc giải độc.Nếu không tìm đợc thuốc thì nh con thú bị thơng chỉ sau ba lần nôn ngời trúngthuốc sẽ chết Ngày nay đồng bào Thổ không dùng thuốc độc để săn bắnmuông thú chim chóc nữa Ngoài việc săn bắn mũi tên thuốc độc, đặt bẫy thì

đồng bào còn có nghề săn thú tập thể bằng lới, săn tập thể là lối đi săn hứngthú nhất của đồng bào Thổ Săn tập thể còn có cả chó, lới, khí giới, thời gian

đi săn thờng là giáp tết hoặc giêng hai vì lúc này công việc đã rãnh rỗi Tổchức tập thể (phờng) không theo một luật lệ nhất định, thờng gồm những bàcon láng giềng, những ngời hâm mộ thích thú chịu khó Chủ phờng phải là ng-

ời tơng đối khá giả để sắm đợc một bộ lới, một bộ mác bảy, 2 cái côồng.Ngoài ra trùm phờng còn là ngời có nhiều kinh nghiệm, có vía may và nhất là

có uy tín về đạo đức

Trang 12

Trớc khi đi săn phải có ngời đi "chần dấu" chân thú, ngời này mangtheo con chó săn đặc biệt để phát hiện mồi do dấu chân thú Vào cửa rừng thảchó để chó đánh hơi, khi chó đánh đợc hơi kêu ăng ẳng, ngời đó vào chặt cây

để làm chừng và lập tức mang chó về báo với trùm phờng, trùm phờng đánhcôồng để tập trung bạn phờng rồi tuỳ theo dấu chân thú mà huy động lực lợng,loại lới, số lợng chó Sau khi đã bắt đợc thú họ có phơng thức chia thịt cổtruyền, trùm phờng đợc 1/4, ngời phát hiện một miếng thịt vai, ngời trùngcách và các giáo tiên, giáo tiếp thì cái nọng chó miếng thịt nơi khu đuôi, connào cũng có phần Những nhà nào có lới lợn thì vai nai thì đùi chia đều, thịtcòn lại ăn chung hoặc chia đều

Ngoài săn bắn bà con còn vào rừng hái lợm những cây có bột, thân rễ

củ hoặc cây khủa, hái rau, măng, nấm và ngoài sản phẩm bằng gai một sốnơi họ còn đan lát bằng mây tre rất đẹp và khá nỗi tiếng

Đi đôi với việc gieo trồng việc chăn nuôi cũng đợc đẩy mạnh Đồng bàoThổ có truyền thống nuôi trâu, lợn, trớc đây họ chăn nuôi theo hình thức thảrông không có chuồng trại Nhng ngày nay trong chăn nuôi đồng bào Thổ đãbắt đầu áp dụng các kỹ thuật mới làm chuồng lợn hai bậc, cho lợn ăn thức ăn ủchua, tiêm phòng dịch cho trâu lợn Hiện tợng chăn nuôi theo kiểu thả rôngkhông có ngời chăn dắt, không có chuồng trại đang dần dần chấm dứt

2.2.2 Đặc điểm xã hội.

Đồng bào Thổ có số dân khá đông so với một số dân tộc trong tỉnhNghệ An nhng thờng sống xen kẽ với ngời Việt và ngời Thái ở Tân Kỳ có xãngời Thổ chiếm đa số, có xã ngời Thái chiếm đa số Kiểu sống xen ghép vớicác dân tộc anh em, đặc biệt với ngời Việt là một điều kiện hết sức thuận lợi

để đồng bào Thổ có thể tiếp thu nhanh chóng những quan hệ sản xuất và quan

hệ xã hội tiến bộ tranh thủ đợc sự giúp đỡ của những dân tộc khác Mặt kháccũng do điều kiện sống xen ghép nh vậy và do nguồn gốc hình thành nên xãhội dân tộc Thổ không có một hệ thống riêng độc lập ở đồng bào Thổ trớccách mạng tháng 8 -1945 đơn vị nhỏ nhất là làng và chỉ có đơn vị này mớimang màu sắc riêng của họ Trên làng, xã, huyện, tỉnh là các đơn vị chungcho các dân tộc trong vùng Đứng đầu làng là một trùm làng do dân bầu, trùmlàng là ngời có uy tín, có nhiệm vụ giao dịch với xã, đôn đốc dân làng nộpthuế má, su dịch, làm chủ các lễ hội của làng, kể cả ma chay, cới xin

Trang 13

Dân làng có nghĩa vụ làm "riềng" (rẫy) cho trùm làng, phục vụ trùm làngkhi trùm làng có việc Nếu trùm làng có việc do khả năng, hoặc do sức khoẻ thì

tự mình xin thôi hoặc bị dân làng bãi miễn để bầu ngời khác thay thế

Giúp việc cho trùm làng ở vùng ngời Thổ Mọn có ông "Câu" chuyêntrông coi giấy tờ, ông khoán thủ trông coi việc cỗ bán xôi thịt khi tế lễ và một

số tuần đinh giữ gìn an ninh trật tự xóm làng

Mỗi khi có việc làng thờng bán các "chức chạy" nh ở giai xuân thờngbán các chức lí nhng, phó nhng,

ở làng của đồng bào Thổ Cuối giúp việc trùm làng là "ông Giáp".Ngoài ra còn các chủ gia đình thay phiên nhau một ngời mỗi ngày nhất địnhtuỳ theo số ruộng ngời đó có nhiều hay ít, làm ông phe để trùm làng sai pháitrong các việc chung của làng, không phải phục dịch sinh hoạt của tuần làng

Trong xã hội ngời Thổ đáng chú ý hơn cả là quan hệ giữa dân làng vàcác chức dịch, giữa chủ nhà và ngời ở, giữa các gia đình với nhau

Quan hệ giữa dân làng - chức dịch là quan hệ bị trị - thống trị Dân làngphải tuân thủ luật "ăn lợn nộp vai ăn nai nộp đùi" cho trùm làng Song khôngphải vì lẽ đómà chức dịch tách biệt với dân làng mà các chức dịch không táchbiệt với dân làng nh ở xã hội ngời Việt và một số dân tộc khác Các chức dịchnhiều khi không thể vợt qua quan hệ làng xóm cổ truyền: các chức dịch không

đánh đập, không bóc lột dân làng một cách trắng trợn Nếu dân làng gặt lúacho trùm làng thì trùm làng phải cơm nớc tử tế cho dân làng Do vậy trớc cáchmạng tháng 8 - 1945 sự phân hoá trong nội bộ dân tộc Thổ cha sâu sắc nh một

số dân tộc khác

Quan hệ giữa chủ và ngời ở không hà khắc ràng buộc nh ở ngời Việt.Ngời ở phải làm việc nhiều cho chủ nhng ngời ở đợc cho ăn mặc nh con cáicủa chủ, khi lớn lên ngời ở đợc chủ dựng vợ gả chồng Khi đã đợc 3,4 năm trởlên nếu muốn thôi ở đợc chủ cho trâu và cấp vốn D luận xã hội lên án nhữngngời chủ bạc đãi với ngời ở

Nét nổi bật trong quan hệ giữa các gia đình ngời Thổ là tính hữu ái giúp

đỡ lẫn nhau khi dựng nhà, dựng cửa, khi gặt hái hay khi phát nơng rẫy Nhiềukhi công việc của 1 gia đình nh ma chay, cới xin trở thành công việc củacộng đồng, có lúc gia chủ còn bối rối thì làng xã đã cất đặt công việc đâu đấyxong xuôi

Trang 14

Trong xã hội ngời Thổ dòng và gia đình giữ vị trí quan trọng gia đìnhngời Thổ theo chế độ phụ quyền, con theo họ cha, vợ theo họ chồng và gọitheo tên chồng Có sự phân biệt rõ ràng họ nội họ ngoại và họ vợ, con traicũng phải ở rễ nh ở ngời Thái, ngời Tày Song khi ở rể con rể đợc đối xử côngbằng nh ngời nhà không bị khinh rẽ Nhà trai có tiền, thóc cho nhà gái thì thờigian ở rể của con trai đợc giảm bớt, trong đời sống hàng ngày con gái làm dâukhông đợc ăn cùng mâm với bố chồng và anh chồng, con trai làm rể không đ-

ợc ăn cùng mân với mẹ và chị của vợ

Các đại gia đình khi có điều kiện mới cho con trai mới cới vợ ra ở riêng,nhà cửa của bố mẹ dành lại cho con trai út Bố mẹ sống với gia đình con trai útcho đến chết Khi cả hai bố mẹ đều qua đời thì bàn thờ tổ tiên chuyển sangnhà con trai cả Trớc đây trong gia đình ngời Thổ đặc biệt là trong gia đìnhngời Thổ Cuối, ngời bố có toàn quyền quyết định mọi việc từ công việc ruộngnơng, làm nhà cửa đến việc dựng vợ gả chồng cho con cái

Từ sau cách mạng tháng 8, xã hội ngời Thổ đã thay đổi về cơ bản, mọihoạt động xã hội không còn chỉ bó hẹp trong làng bản nữa Cùng với dân tộcanh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, nhiều thế hệ ngời Thổ đã kếtiếp nhau tham gia cách mạng, tham gia công cuộc bảo vệ tổ quốc và xâydựng xã hội chủ nghĩa

Trong xây dựng XHCN quan hệ xã hội mới (quan hệ tập thể XHCN,quan hệ bình đẳng) đã hình thành trong xã hội ngời Thổ Mọi ngời đều cóquyền làm chủ, quyền bình đẳng với nhau Những ngời u tú đợc bầu vào cáccấp lãnh đạo từ hợp tác xã, làng bản đến xã, huyện tỉnh để lãnh đạo nhândân xây dựng cuộc sống mới đồng thời để thay mặt cho dân tộc mình phátbiểu nguyện vọng của đồng bào dân tộc lên các tổ chức và chính quyền cáccấp từ địa phơng đến trung ơng

Quan hệ xã hội mới đó đã ảnh hởng tích cực đến quan hệ gia đình Tuyvẫn là quan hệ phụ quyền nhng các thành viên trong gia đình đã bình đẳng vớinhau hơn Ngời vợ đã cùng chồng bàn bạc công việc gia đình, giáo dục concái, con cái đợc tự do học hành, tự do lựa chọn nghề nghiệp, hôn nhân Quan

hệ giữa ngời Thổ với các dân tộc anh em cũng thay đổi Ngời Thổ đã thật sựbình đẳng với các dân tộc anh em khác, cùng nhau bảo vệ tổ quốc xây dựngcuộc sống mới ấm no hạnh phúc

2.2.3 Đặc điểm văn hoá vật chất.

2.2.3.1 Nhà cửa.

Trang 15

Cũng nh các dân tộc anh em khác, ngôi nhà truyền thống của đồng bàoThổ đó là nhà sàn Song cũng là nhà sàn nhng mỗi dân tộc có một kiểu kiếntrúc riêng biệt, kể cả là cùng dân tộc Thổ song ở vùng này và vùng khác cũng

có sự khác nhau Ngôi nhà sàn của ngời Thổ ở Tân Kỳ có cấu trúc đơn giảnhơn nhà sàn đồng bào Mờng ở Hoà Bình hoặc nhà sàn của ngời Thái Đó làkiểu nhà sàn cột chôn (hoặc cột kê) gồm hai hoặc ba gian và một buồng nhỏ

đợc che chắn sơ sài làm nơi cất quần áo đồ đạc Nếu là nhà ba gian thì gian

đầu dùng để thờ cúng và tiếp khách, ở gian này có cửa sổ dành riêng chokhách quý gọi boóng tôồng nh tục lệ Mờng Gian giữa dùng cho các sinh hoạtgia đình, gian trong là bếp là để nấu nớng vừa để tiếp khách quen Nhà chỉ cómột cầu thang đặt ở gian ngoài, nhà đợc lợp bằng lá mây, lá cọ hoặc cỏ tranh

ở đồng bào Thổ Tân Kỳ trớc đây có nhà làm ba bếp, bếp ngoài để tiếpkhách, bếp giữa dùng cho sinh hoạt gia đình và bếp trong dành cho vợ chồngmới cới (nếu không có thì bếp này để không)

Nhà sàn thờng cách mặt đất từ 1,5 đến 2m, tầng trên dành để ở và sinhhoạt còn tầng dới để dụng cụ sản xuất và nuôi trâu bò có khi gà lợn

Hiện nay đồng bào Thổ đã có xu hơng chuyển xuống nhà nhất lợp bằngtranh hoặc ngói, sở dĩ nh vậy là do sự khan hiếm về gỗ mặt khác trong sinhhoạt hàng ngày việc ở nhà sàn cũng có một số khó khăn đối với những ngờigià và trẻ con, việc lên xuống cầu thang khó khăn với lại nhà sàn đợc lát bằngnứa hay bơng đập dập nên khi đi lại sẽ ồn ào cho nên họ đã chuyển xuống ởnhà đất để sinh hoạt thích hợp hơn Vì thế cho đến ngày nay số nhà sàn còn lạirất ít, ở xã Tân Hợp (xã duy nhất chỉ có ngời Thổ) cũng chỉ còn lại 8 nhà sàn

cổ truyền đó Tuy vậy đồng bào Thổ vẫn thích ở nhà sàn hơn nên bên cạnhnhà đất thì một vài gia đình vẫn làm nhà bếp theo dạng nhà sàn nho nhỏ

2.2.3.2 Trang phục.

Có thể nói rằng trang phục của ngời Thổ mang dấu vết của tình trạngkết hợp nhiều nguồn trong quá trình hình thành ở Tân Kỳ trang phục của

đồng bào Thổ Cuối gần giống trang phục của đồng bào Thổ Mọn

Trang phục của ngời đàn ông đơn giản và nh ngời kinh, ngời nghèo khổthờng phải đóng khố, quần áo chỉ đợc một cái những lúc đi chơi xa hay nhữngngày lễ tết mới mặc Những đêm rét mớt họ thờng ngồi bên bếp lửa, cả đời

đi chân đất may ra mới có đôi dép bằng da trâu Trang phục của phụ nữ dù cạpváy không hoa văn, vẫn mang những nét cơ bản của trang phục phụ nữ Mờng,mặc chiếc váy ngắn đến đầu gối có cạp váy trắng quấn ngang nách thay yếm,

Trang 16

mặc chiếc áo dài 5 thân có ống tay hẹp, đội vuông khăn trắng bịt đầu (có thêuviền xung quanh hoặc để trơn) thắt chiếc thắt lng trắng hoặc xanh lục, và cómột mảnh vá ở vai nếu là gái có chồng cha có chồng thì không vá Do khôngbiết dệt vải phải trao đổi với ngời Kinh và ngời Thái cho nên trang phục củaphụ nữ Thổ ở các vùng không thật thống nhất, thậm chí pha tạp Phụ nữ ở xãTân Hợp mặc váy áo giống nh nhóm Man Thanh (Thái) ở Nghĩa Hoàn Ngàynay phần lớn phụ nữ Thổ đặc biệt những ngời trẻ tuổi ăn mặc nh phụ nữ Kinh

2.2.3.3 Món ăn và cỗ tết.

Mỗi đồng bào đều có những món ăn riêng cũng nh là bầy cỗ trongnhững ngày lễ tết Đối với đồng bào Thổ ở Tân Kỳ, trớc đây chủ yếu dựa vàocây lúa nơng, nên bữa ăn của họ thờng có xôi hoặc cơm tẻ, còn thực phẩm làthú rừng, gia súc và gia cầm Món ăn thờng ngày là Măng, ở Tân Hợp có mónrừng đắng có thể ăn thay cơm khi đói

Trong bữa ăn cả gia đình ngồi xung quanh mâm cơm, mâm ăn bằng

đồng, bằng gỗ hoặc đan bằng mây Mỗi ngời bát ăn riêng Thức ăn có canh cá,thịt thú hoặc rau, canh măng chua, đĩa muối ớt, đặt giữa mâm cơm

Về thức uống trớc đây là các loại lá rừng, chè xanh mới đợc dùng trongnhững ngày gần đây Tuy vậy họ cũng rất yêu thích nớc chè xanh, họ nấu chèrất đặc, họ giã vụn chè đun sôi sắc nớc uống Trớc đây ngời Thổ sống xen kẽvới ngời Thái cũng có uống rợu cần, uống trong các dịp lễ hội, cuộc vui hoặckhi có khách quý Ngày nay tục uống rợu cần ở bà con Thổ đã tha dần, có nơi

đã bỏ hẳn

Đồng bào Thổ tổ chức lễ "ăn péng" (ăn tết) vào đầu năm âm lịch nh

ng-ời Kinh, chiều 30 tết đồng bào cũng mng-ời tổ tiên về và mồng 3 tết cúng tiễn tổtiên Trong lễ cúng tiễn bên cạnh bàn thờ có quang gánh sắp sẵn, trong đó cócác loại bánh trái, gạo, thịt, nồi niêu để tổ tiên gánh đi tự nấu lấy, con cháuphải đi làm ăn không còn thời gian tiếp nữa

Sáng mồng một Tết có lễ cho trâu ăn bánh, họ dât trâu ra sân lập mộtmâm cúng ngoài sân Khi cúng chủ nhà kể về công lao vất vả của trâu trongsuốt một năm cày ruộng, kéo gỗ vừa qua và cúng xong chủ nhà cho trâu ănbánh

Đồng bào Thổ cũng ăn Tết mồng năm tháng năm và rằm tháng bảy âmlịch Ngoài ra còn có lễ xuống giống, lễ cầu hoa, lễ cơm mới, lễ tạ, lễ mừngnhà mới, lễ đặt tên con

Trang 17

2.2.4 Đặc điểm văn hoá tinh thần.

Văn hoá tinh thần của ngời Thổ Tân Kỳ khá phong phú, đa dạng và độc

đáo thể hiện ở các tục lệ, cới xin, ma chay và văn hoá dân gian Văn hoá tinhthần của họ cũng thể hiện rõ tính đa dạng pha tạp do nguồn gốc hình thành

2.2.4.1 Hôn nhân.

Một nguyên tắc cơ bản nhất trong quan hệ hôn nhân của ngời Thổ làngoại hôn, tức cấm hôn nhân trong nội bộ dòng họ Trong quan niệm của

đồng bào có sự phân biệt rạch ròi giữa họ nội (họ cha), họ ngoại (họ mẹ) và họ

vợ Để tránh vi phạm nguyên tắc này họ thờng đợc nhận biết qua tộc phả, quaviệc truyền dạy của cha mẹ với con cái Ai vi phạm nguyên tắc này tức phạmtội loạn luân, thờng bị xử phạt rất nặng và bị d luận xã hội lên án Ngời Thổtheo chế độ hôn nhân 1 vợ 1 chồng bền vững và vợ c trú bên chồng, ngời Thổchỉ kết hôn trong nội bộ dân tộc Hiện nay do sống xen kẽ với ngời Kinh, ngờiThái, các cặp vợ chồng không đồng tộc ngày càng nhiều, chồng Thổ vợ Kinhhay Thái cũng phổ biến

ở Tân Kỳ, đối với ngời Thổ Cuối ngày xa trai gái không đợc tự doquyết định hôn nhân Do tính chất phụ quyền của kiểu gia đình gia trởng nênviệc dựng vợ gả chồng đều do cha mẹ định đoạt, nên có những cặp vợ chồngchê nhau suốt đời mà vẫn phải sống với nhau cho đến chết Trong việc dựng

vợ gả chồng, tiêu chuẩn của ngời chồng lý tởng là khỏe mạnh, cần cù, tháo váttrong công việc, đạo đức tốt, đợc mọi ngời yêu mến Tiêu chuẩn đối với ngời

vợ là khỏe mạnh, đẹp ngời đẹp nết, biết c xử ăn ở với bố mẹ, anh em trong gia

đình, thạo công việc đồng áng và nội trợ Trớc đây hôn nhân thể hiện tính muabán, nhà trai phải đền bù cho nhà gái một món tiền và một số hiện vật nhất

định

Đối với ngời Thổ Mọn, trai gái đợc tự do lựa chọn, tìm hiểu Vào nhữngdịp hội hè, cới xin, tết nhất, trai gái thờng đi thành từng tốp, rủ nhau đi kiếmbạn, đánh đu, tung còn, hát đu đu điềng điềng qua đó làm quen và tỏ tìnhvới nhau Trong quá trình tìm hiểu, họ trao quà tặng cho nhau để thể hiện tìnhcảm của mình Những đôi trai gái có thành vợ thành chồng hay không cũngcòn phụ thuộc một phần vào cha mẹ

Ngời Thổ có tục "ngủ mái" khá thịnh hành Vào những dịp hội hè hayngày tết, một chàng trai có thể nằm tán chuyện với 2, 3 cô gái và ngợc lại

Trang 18

Những lúc ngủ mái, trai gái rất quý mến, tôn trọng nhau, bất kỳ hành vi xấu

xa nào khi ngủ mái đều bị d luận xã hội và tập quán dân tộc lên án nghiêmkhắc Ngày nay, tục ngủ mái ở Tân Kỳ hầu nh đã bỏ

Khi trai gái đã thuận lòng nhau, nhà trai nhờ ông (hoặc bà) mối mangtrầu cau và một chai rợu (nếu là Thổ cuối thì ông mối mang 12 miếng trầu, 12miếng cau) đến tha chuyện với nhà gái Nhà gái có thể trả lời ngay hoặc trả lờisau một vài ngày Nếu nhà gái đồng ý hẹn ngày nhà trai đem lễ sang ăn hỏi

Lễ ăn hỏi phải có trầu cau, rợu và 24 chiếc bánh ống (bánh tét) Khi nhà trai

đến, nếu nhà gái đồng ý cho ăn hỏi vào thời điểm đó thì phải trải chiếu mờinhà trai ngồi và đa mâm ra nhận lễ vật và đặt lễ vật lên bàn thờ cúng tổ tiên.Nếu nhà gái cha đồng ý cho nhà trai ăn hỏi vào thời điểm này thì không trảichiếu mời nhà trai ngôì và nhà trai buộc phải chờ đợi thêm một thời gian nữa.Sau lễ ăn hỏi, nhà gái cắt bánh ống thành từng khúc biếu cho tất cả bà con củamình để thông báo với họ hàng việc con gái của mình đã đợc gả chồng

Sau lễ ăn hỏi là lễ đi nhởi nhà Lễ này ngoài trầu, rợu, bánh ống phải

có bánh rán, bánh nổ, bánh thính hay còn gọi là lễ hỏi bánh để hai bên gầngũi hơn, đằm thắm hơn mối tình thông gia

Từ đó chàng rể tơng lai ngời Thổ Mọn phải định kỳ đến lao động chonhà gái mỗi tháng vài ba lần hoặc mỗi năm vài tháng cho đến khi nhà gái

đồng ý cho cới Còn chàng rể tơng lai ngời Thổ Cuối phải "làm rể" từ 1 đến 3năm (có khi còn lâu hơn nữa) Nếu gia đình chàng rể Thổ Cuối giàu, khôngmuốn cho con làm rể thì có thể thay thế bằng cách nộp cho nhà gái 1 hoặc 2con trâu Khi đi làm rể, chàng rể không đợc ăn cùng mâm với mẹ và chị của

vợ Chàng rể phải làm việc nặng nhọc mà chỉ đợc nuôi ăn, còn quần áo và mọinhu cầu khác đều phải tự túc

Lễ cới của đồng bào Thổ trớc kia rất tốn kém, nhà trai phải chu cấp mọithứ lễ để làm cỗ bàn cho cả hai bên Tùy theo từng vùng và từng gia đình mà

sự thách cới có khác nhau, nhng ít ra thì nhà trai cũng phải đa đến nhà gái 3con lợn, một số rợu và bạc tơng đơng, một số tiền, quần áo, vòng tay, vòng tai(bằng bạc) cho cô dâu ngoài ra còn có quan hai tiền để ông mối cúng trừ maquỷ Riêng đối với đồng bào Thổ cuối, ngoài những lễ vật kể trên, nhà trai cònphải nộp cho nhà gái ít nhất 1 con trâu nữa Nếu họ hàng và bà con làng bảnkhông giúp đỡ lẫn nhau thì ngày xa nhiều chàng trai Thổ không cới nổi vợ

Trớc ngày cới, nhà trai có một số ngời đi cùng ông mối mang lễ vậtsang nhà gái, số ngời này không những có trách nhiệm cống nạp lễ vật mà còn

Trang 19

phải làm cỗ cho nhà gái, sắp cỗ thành mâm (theo yêu cầu của nhà gái) Cũngngày này, bên nhà trai có "lễ t ân" để bà con họ hàng, bạn bè mang tiền gạohoặc lễ vật khác đến chúc mừng và giúp đỡ.

Trong ngày cới, cỗ cới gồm có: thịt lợn và lòng lợn luộc, chả xơng băm,cháo nấu bằng nớc luộc thịt và xôi Cháo đợc múc vào bát, các thứ khác đợcbày trên lá chuối thành từng mâm Đó là cỗ cới truyền thống của đồng bàoThổ Khi ăn cỗ, những ngời cùng thứ bậc ngồi cùng một mâm Mâm củanhững ngời có thứ bậc cao nhất đợc xếp ở "boóng tôồng", sau đó đến các thứbậc thấp hơn Trẻ con cùng ăn chung với nhau trong cái nong đợc đặt ở dới

đất

Khi ông mo đã chọn ngày giờ thì nhà trai sang nhà gái đón dâu Nhà gáichăng dây ngang cổng không cho vào, bắt phải trả lời đợc những câu hát đốcủa trai tài gái giỏi bên nhà gái thì mới đợc vào Nếu trả lời không đợc thì phải

đặt 3 quan tiền, nếu không sẽ bị khoát nớc Khi nhà trai vào cổng, nhà gái thutất cả mũ nón của nhà trai để vào một chỗ tử tế Khi nhà trai ra về, nhà gáimang tất cả mũ nón đó cùng một cơi trầu đặt trên một chiếc bàn trớc cổng,mỗi ngời nhà trai phải "chuộc" lại nón mũ của mình bằng một số tiền nhất

định và nhà gái mời lại ngời đó một miếng trầu

Trong lễ cới, chú rể phải cúng tổ tiên cô dâu, lạy cha, mẹ, chú, bác, cô,dì của cô dâu Khi dâu về nhà chồng cũng có lễ tơ hồng, lễ ở trong buồng do

ông mối cúng Lễ vật thờng là một đôi gà, một mâm xôi, một ngọn đèn và trầurợu Sau đó họ ăn cơm Nếu có rợu cần thì cuộc uống rợu cần thờng đợc dành

để kết thúc lễ cới

Thông thờng, sau lễ cới, đôi vợ chồng phải ở lại nhà bố mẹ vợ vài bangày rồi mới đa nhau về nhà mình Nhng nhà trai nếu muốn đón dâu về ngaysau lễ cới thì phải có một lễ nhỏ cho cô dâu: nhà trai đặt một chậu thau (hoặcnồi đồng) đựng nớc đặt ở chân cầu thang nhà mình, bên trong chậu phải cótiền hoặc bạc trắng Trớc khi lên nhà chồng cô dâu múc nớc ở chậu đó rửachân, rồi đổ nớc đi, lấy cả chậu và số tiền đó lên nhà Số tiền và chậu thau đó

là của riêng của cô dâu ở nhà chồng, nàng dâu không đợc ngồi ăn chung với

bố mẹ và anh chồng, nàng dâu phải đổi theo họ của chồng

Đối với nàng dâu Thổ Cuối, khi về nhà chồng không phải đổi theo họchồng mà gọi theo tên chồng khi cha có con và gọi theo tên con khi đã có con

Trong gia đình, vợ chồng chung sống với nhau khá hoà thuận, ít xảy ra

sự bất hoà

Trang 20

Do tính chất hôn nhân và luật tục quy định nên việc ly dị ít xảy ra, kể cảtrớc đây cũng nh hiện nay Nếu có xảy ra thì nguyên nhân chủ yếu là dochồng hay vợ ngoại tình, rợu chè, cờ bạc hoặc ngời vợ ngợc đãi bố mẹ, anh emchồng Nếu ngời vợ tự ý bỏ chồng phải đền bù toàn bộ chi phí cho đám cới vàkhông đợc của hồi môn Nếu ngời chồng chủ động ly hôn thì tài sản chia đôi,con cái đợc chia đôi hoặc theo sự thỏa thuận của vợ chồng, nếu ngời vợ hoặcchồng có thể đảm nhận đợc Ngời vợ đợc mang đi toàn bộ đồ đạc, t trang củamình.

2.2.4.2 Sinh đẻ.

ở Tân Kỳ cũng nh một số vùng khác, trớc đây (thậm chí có một số bâygiờ) quan niệm của đồng bào Thổ đó là đông con là hạnh phúc, cho nên khichọn vợ cho con trai, các bậc cha mẹ tìm hiểu rất kỹ gia đình ngời con gái,nhất là xem ngời mẹ sinh đẻ có tốt và dễ nuôi con không

Khi có thai, ngời phụ nữ vẫn phải đi làm nhng kiêng làm những việcnặng nhọc để bảo vệ thai nhi Trong thời gian thai nghén, ngời phụ nữ Thổcũng phải kiêng khem nhng không đến nỗi phiền phức nh ngời Thái Khi cóthai họ không đợc nhìn các con thú dữ nh hổ, báo, lợn lòi, bò tót sợ con saunày sẽ mang tính hung bạo Ngời chồng không đợc cắt cổ hoặc chọc tiết cáccon vật nh lợn, gà, vịt, dê sợ sau này con sẽ thích máu Họ kiêng không ănthịt ba ba, rùa, chồn, vịt, dê sợ sau này khó sinh

Khi sinh, họ thờng vào rừng lấy lá tầm vông hoặc lấy lá phân xanh làmquỳn cho sản phụ ngồi đẻ (phụ nữ Thổ sinh ngồi) Đẻ xong họ uống thuốc lá

và tắm cũng bằng các thứ lá rừng nấu lên để nớc âm ấm Đỡ đẻ là ngời phụ nữ

có kinh nghiệm Bà thờng cắt rốn cho trẻ sơ sinh bằng cái lách nứa lấy ở ruinhà, đẻ con trai thì lấy ở phía trong, đẻ con gái thì lấy ở phía ngoài Rau bỏvào cái ống nứa chôn ở dới mép sân dới giọt tranh, không để ngời ngoài biết.Trẻ sơ sinh đợc bà hay dì, mợ mớm cơm ngay cho tí cơm nhá nhỏ để đứa bémau có tính ngời

Ba ngày sau khi sinh, sản phụ phải đi "đạp đất", nghĩa là ra khe suốigiặt giũ để vú có sữa cho con bú

Khi đứa bé ra đời, trớc cửa nhà ngời ở cữ gia đình thờng treo một cànhlá xanh ở cầu thang để mọi ngời cùng biết

Sau một tháng có lễ "ra ràng" Lễ này nhà nghèo cúng gà, nhà giàucúng lợn Ông mo đến cúng bao giờ cũng đợc phần biếu Đây là lễ nhập họ,

Trang 21

đặt tên cho con Tên đứa bé thờng do ông bà hay anh em đặt và không đợctrùng tên với họ hàng.

Trẻ đợc 3 hoặc 4 tháng có lễ "đơm chờ" Lễ này có gà, xôi, trầu, rợu vàcon trâu làm bằng quả bởi, để cúng 12 ông chờ, 12 bà mụ để các chờ, các mụtrả vía lại cho sản phụ và đứa bé, mong sao đứa bé đợc yên lành, dễ nuôi,chóng lớn và sản phụ đợc khỏe mạnh

2.2.4.3 Tang lễ.

Nghi lễ đám tang của ngời Thổ rất phức tạp, tốn kém, phải vật trâu, mổlợn Nó phản ánh quan niệm lâu đời của đồng bào về thế giới bên kia, thế giớicủa ngời chết Khái niệm linh hồn là hạt nhân của mọi t tởng tôn giáo mà tang

lễ đã phần nào biểu hiện Ngời Thổ quan niệm con ngời có 3 hồn 7 vía hoặc 3hồn 9 vía

Khi trong nhà có ngời chết, tang chủ lập tức báo cho trùm làng, trùmlàng đánh 3 hồi 9 tiếng côồng hoặc đồng thời cả côồng và trống, báo cho họhàng và làng xóm biết Mọi ngời tập trung đến nhà có tang, cắt đặt nhau mọiviệc chuẩn bị cho đám tang nh đi mời thầy mo, mời phờng nhạc, làm quan tài,làm nhà mồ, sắm sửa áp khăn tang

Đối với ngời nhà nghèo thì lợm xác ở dới nhà, lợm xong "kê cối kêchày" để đặt quan tài rồi bà con hàng xóm chuẩn bị chôn ngay Còn nhà giàuthi hài đợc tắm rửa, thay quần áo sạch và đa ra nằm chiếu ở gian giữa trên sànnhà, đầu quay vào phía trong, mặt đắp vuông vải trắng Con cháu ngồi xungquanh thi hài khóc thơng nh ngồi xung quanh ngời ốm Thi hài quàn tại nhà từ

1 đến 3 ngày Đồng bào Thổ Cuối trớc kia có khi quàn thi hài tại nhà đến 1tháng để chuẩn bị đầy đủ cho đám tang hoặc để đợi con cháu về đông đủ

Quan tài làm bằng một cây gỗ bổ đôi, thờng là loại gỗ "nhất xăng vì,nhì cây lội" Hai nửa quan tài đợc khoét hình lòng máng giống nh chiếc mángdùng giã thóc hàng ngày Phía ngoài quan tài đẽo theo hình lục lăng hoặc đốcvát khum khum ở nửa quan tài dới thờng có một lỗ khoét sẵn để nớc quan tài

rỉ ra (nếu quan tài phải quàn lâu ngày) Sau khi đặt thi hài và quấn áo ngờichết vào quan tài, bà con gắn quan tài bằng một chất keo làm bằng cám và đấtsét Khi đi chôn, quan tài đợc đặt trên 6 đòn ngang và 2 đòn dọc, do 16 ngờikhiêng

"Nhà vẹ" (nhà mồ) của ngời Thổ giống nhà táng của ngời Kinh Nhà

đ-ợc làm bằng gỗ hoặc bằng tre nứa, xung quanh đan bằng nứa hoặc dán giấy

Trang 22

xanh đỏ, mái lợp tranh hoặc dán giấy có hình vẽ mái ngói Nhà vẹ có thể đợclàm sẵn tại huyệt hoặc làm ở nhà rồi gánh theo quan tài Nhà vẹ úp chụp lênngôi mộ cho đến khi hỏng, không sửa sang, không làm lại.

ở ngời Thổ Mọn, trong thời gian quàn thi hài cho đến lúc đi chôn, cómột số nghi lễ truyền thống độc đáo, nh đa ngời chết đi thăm và chào vĩnh biệtanh em, họ hàng, bè bạn, chào vĩnh biệt bến sông, giếng nớc, gọi là lễ "cắtxắc", lễ "xí vong", lễ tơm kem"

Hôm trớc ngày chôn cất, ngời chết đợc đa đi "thăm ún dôộng eng"(thăm em chơi anh) Đồng bào Thổ dùng rơm hoặc vải bện thành hình nhânthay cho ngời chết, mặc quần áo và đắp mặt cho hình nhân, cáng hình nhânbằng võng đến nhà bà con, họ hàng làng nớc Đến mỗi nhà, thầy mo thay mặtngời chết cảm ơn sự giúp đỡ và tình cảm sâu nặng của chủ nhà đối với mìnhlúc sống và chào vĩnh biệt chủ nhà Còn chủ nhà thì khóc lóc kể lại công đứccủa ngời chết và lòng tiếc thơng của mình "Thăm ún dôộng eng" xong, ngờichết đợc đa đến các bến sông, giếng nớc những nơi mà khi còn sống ngời đóhay đến Tại những nơi này, con dâu hoặc con gái, em gái ngời chết thay mặtngời chết kể lại sự gắn bó của ngời chết với những kỷ niệm, cảm ơn công laocủa những nơi này đối với ngời chết và chào vĩnh biệt để sang "thế giới bênkia" Đây là lễ để ngời chết trả nghĩa cho những ngời đang sống và những nơimình đã gắn bó

Lễ "cắt xắc" (cắt tóc) là lễ của những ngời còn sống trả ơn cho ngời vừaqua đời Trong lễ này, con cháu theo thứ bậc từ cao đến thấp lần lợt đến trớcbàn thờ, thầy mo thay mặt từng ngời kể về lòng biết ơn của họ đối với ngờiquá cố Khi cúng xong cho mỗi ngời, ngời đó nghiêng đầu cho thầy mo cắtmột món tóc, tóc của tất cả thân nhân có thể đợc đốt ngay sau lễ "cắt xắc"hoặc đốt tại mộ sau khi chôn cất xong

Lễ "tơm kem" là lễ ngời chết xin với ông bà, tổ tiên, những ngời sangthế giới bên kia trớc mình, tha thứ những lỗi lầm của mình lúc còn sống vàcho phép mình về thế giới bên kia với họ Sau khi thầy mo thay mặt cho ngờichết nói những lời thỉnh cầu này xong thì tung hai đồng tiền Nếu đạt đợc kếtquả một đồng tiền sấp, một đồng tiền ngửa thì những lời thỉnh cầu coi nh đã đ-

ợc chấp nhận Chỉ đến khi đó mới đợc tiến hành mai táng

Các nghi lễ "thăm ún dôộng eng", vĩnh biệt bến sông giếng nớc, lễ "cắtxắc", lễ "tơm kem" chứng tỏ đồng bào Thổ có tình cảm thủy chung, có sự

Trang 23

gắn bó sâu sắc của những ngời cùng chung sống, có lòng biết ơn sâu nặnggiữa thế hệ này với thế hế khác, với con ngời và mảnh đất cu mang mình

Nổi bật nhất trong đám tang ngời Thổ không phải là sự bao trùm củakhông khí tang tóc Bên cạnh tiếng khóc thơng tiếc của phụ nữ là những giai

điệu nhạc tang không ai oán nh nhạc tang ngời Kinh Tiếng trống, tiếng côồng

đôi khi đợc tấu lên với nhịp điệu khá nhanh, con ngời cần có sức mạnh đểchiến thắng cái chết, để chiến thắng thiên nhiên, để chiến thắng đói nghèo

có lẽ vì thế mà đồng bào Thổ trớc khi đa ngời thân đến nơi an nghỉ cuối cùng

đã mời ngời thân vừa qua đời và tất cả mọi ngời đa đám cùng xem múa "langbang" và thi đấu vật

Ma ra cầu thang mới Cầu thang này không phải do rể làm mà họ làm.Trong đám tang tất cả mọi ngời đều chống gậy sậy, bất phân họ hàng làngxóm Tất cả con cháu họ hàng là nam đều phải đội mũ rơm, thắt dây chuốingang lng (con trai trởng hoặc chồng của ngời quá cố phải buộc một tờ giấytrắng trớc mũ rơm) Tất cả họ hàng là nữ đều phải đội "tóc móc" (mũ mấn).Gậy sậy, dây chuối, mũ rơm, tóc móc đều để xung quanh mộ khi mộ đắpxong

Ngời Thổ chịu tang 3 năm, cách để tang giống cách để tang của ngờiKinh Sau bữa cơm 3 ngày, ngời chết đợc cúng chung với tổ tiên vào các ngày

lễ tết hàng năm (không cúng giỗ nh ngời Kinh)

Đám tang của ngời Thổ rất tốn kém Tang chủ phải vật trâu, mổ lợn,nấu cơm thết đãi tất cả mọi ngời đến viếng, đến chơi trong suốt thời gian tang

lễ Trong bữa cơm tang có một mâm cơm dọn trên lá chuối để bà con cùnghuyết thống bốc ăn mỗi ngời vài miếng, đó là tục "ăn ké" để con cháu nhậnbiết họ hàng mà tránh lấy lẫn nhau Cái đêm trớc ngày đa ma, tất cả con cháungời thân trong họ đều phải có mặt ở nhà tang chủ để ở với ngời quá cố đêmcuối cùng

Ngày nay, theo nếp sống mới, đám tang của đồng bào Thổ đã giảntiện hơn nhiều Tục quàn xác lâu ngày mất vệ sinh đã hoàn toàn chấm dứt

Lễ ăn uống lu bù giảm đi, nhng tình làng nghĩa xóm không vì thế mà bớtphần sâu nặng

2.3 Đồng bào Thổ ở Tân Kỳ trên bớc đờng xây dựng cuộc sống mới.

Trang 24

Đồng bào Thổ ở Nghệ An nói chung, đồng bào Thổ ở Tân Kỳ nói riêng

ý thức một cách sâu sắc rằng muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, không cócon đờng nào khác là một lòng một dạ đi theo Đảng

Đồng bào Thổ vốn có lòng yêu nớc và ý chí quật cờng, đã từng thamgia đội quân khởi nghĩa Lam Sơn (thế kỷ XV), đã từng theo Lê Duy Mậtchống lại chế độ phong kiến thối nát thời Lê - Trịnh (thế kỷ XVIII), đã từngtham gia phong trào Cần Vơng chống Pháp do vua Hàm Nghi khởi xớng Truyền thống đó đã đợc tiếp tục rực rỡ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chống Mỹ Trong lao động sản xuất cùng với cả nớc, đồng bào Thổ ở Tân

Kỳ đã cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới, quan hệsản xuất XHCN

Cùng với việc xây dựng quan hệ sản xuất mới, đồng bào Thổ đã khôngngừng vận dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác mới, các biện pháp kỹ thuậttiên tiến, áp dụng các giống lúa mới nên năng suất không ngừng tăng lên

Đời sống văn hoá của đồng bào Thổ ở Tân Kỳ cũng ngày càng đợc nâng cao

Nếu nh trớc Cách mạng tháng 8, hầu hết đồng bào Thổ sống trong tămtối không biết chữ thì ngày nay 80% đồng bào Thổ đã thoát nạn mù chữ Cácxã có đồng bào Thổ rất hăng hái trong phong trào xoá mù chữ và Giai Xuân làmột trong những lá cờ đầu của miền núi ở Nghệ An trớc đây

Các hủ tục lạc hậu đang đợc xoá bỏ, cuộc sống tinh thần lành mạnh của

đồng bào Thổ đang ngày càng đợc cải thiện

Hơn năm mơi năm qua đối với đồng bào Thổ là một chặng đờng lịch sử

vĩ đại Đồng bào Thổ đã thực sự đổi đời, tuy bát cơm mới đủ no, manh áo mớivừa đủ ấm nhng với truyền thống yêu nớc nồng nàn, với lòng tin thủy chungvào Đảng Cộng sản Việt Nam, với tinh thần cần cù lao động, khắc phục khókhăn, với tinh thần ham học hỏi, với tinh thần đoàn kết truyền thống của mình,chắc chắn đồng bào Thổ sẽ cùng với các dân tộc anh em trong đại gia đình cácdân tộc Việt Nam sẽ xây dựng đợc một cuộc sống mới ngày càng ấm no, ngàycàng tiến bộ, ngày càng văn minh và ngày càng hạnh phúc

Trang 25

Ch ơng 3:

Dân tộc thái ở Tân Kỳ3.1 Vài nét về dân tộc Thái ở Nghệ An.

Sách "Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam" của Viện Dân tộc học xuất bảnnăm 1978 cũng nh sách "Sổ tay các dân tộc học ở Việt Nam" cũng của ViệnDân tộc học xuất bản năm 1983 đều nói rằng tổ tiên ngời Thái đã c trú từ lâutrên đất Việt Nam Đợt thiên di lớn nhất vào đầu thiên niên kỷ thứ II sau côngnguyên, bắt đầu là ngành Thái trắng, tiếp theo là Thái đen và các ngành khác

ở nớc ta, ngời Thái sinh sống ở Tây Bắc và miền núi Thanh - Nghệ ở Nghệ

An, ngời Thái c trú ở các vùng rừng núi thấp, các thung lũng dọc theo các consông suối của các huyện miền núi trên trục đờng 48 và đờng 7, đông nhất ởMờng Quai (Quế Phong), Chiêng Ngam (Quỳ Châu), Khủn Tinh (Quỳ Hợp),Mờng Quả (Con Cuông) ở Nghệ An, ngời Thái có 3 nhóm địa phơng: Tày M-ờng, Tày Thanh và Tày Mời

Với số dân 211.316 ngời (thống kê năm 1992) chiếm gần 1/3 dân số

ng-ời Thái ở Việt Nam, 71% dân số các dân tộc ít ngng-ời ở miền núi Nghệ An

Tày Mờng hay Tày Chiềng mà ta thờng gọi là Thái trắng là nhóm quantrọng nhất và rõ ràng là c trú sớm nhất so với các nhóm khác ở miền núi Nghệ

An Qua các th tịch bằng tiếng Thái và tài liệu điền dã thì nhóm Tày Mờngnày đã lập bản làng ở Con Cuông và Tơng Dơng vào thế kỷ XIII, XIV Sử ViệtNam đã chép, thời thuộc Minh thế kỷ XIV, Cầm Quý nổi dậy ở vùng QuỳHợp, khi Lê Lợi vào Nghệ Tĩnh, Cầm Quý đã đem toàn bộ nghĩa quân đứng d-

ới cờ

ở vùng Quỳ Châu cũ, nhóm Tày Mờng đến lập nghiệp đầu tiên ở MờngNọc thuộc Quế Phong, sau lan dần ra có hai trung tâm nữa là Kim Tiến (QuỳChâu) và Khủn Tinh (Quỳ Hợp) Theo thần phả đền 9 gian ở Mờng Nọc thìdòng họ Sầm (còn gọi Lo Kăm hay Cầm) dẫn dắt dòng họ Thái từ Tây Bắc

Trang 26

qua Lào vào Nghệ An, tính đến khi Pháp sang xâm lợc nớc ta có tới 17 đời thếtập làm Tậu mờng kiêm Chẫu hua (chủ phần hồn) Nh vậy, ít nhất vào thế kỷXIII, ngời Thái đã có mặt ở Quỳ Châu vì lịch sử tại xã Châu Nga hiện tại nơidiễn ra "Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật" của nghĩa quân Lam Sơn có sựgiúp đỡ của nghĩa quân áo đỏ Quỳ Châu, mà ngời cầm đầu là Cầm Hiền Tấtcả cho phép chúng ta nghĩ rằng vào đầu thế kỷ XV, ngời Tày Chiềng đã đếnNghệ An khá đông, đã lập bản mờng trên một địa bàn khá rộng, đời sốngphong phú và đã cùng nhân dân toàn tỉnh, nhân dân cả nớc chống quân Minhxâm lợc.

Nhóm Tày Mời đến Nghệ An muộn hơn một chút Qua tìm hiểu ở vùngTây Bắc, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đồng tộc với ngời Tày Mời ở miềnnúi Nghệ An là ngời Thái ở vùng Mờng Muỗi Khi Lê Lợi đánh quân Minh,chủ đất ở Mờng Muỗi là Đèo Cát Hãn đã tổ chức dân mờng chống lại Đểtrừng trị hành động láo xợc đó, quân Minh về nớc rồi, Lê Lợi đem quân lênhỏi tội họ Đèo rồi cho dời một bộ phận dân c ở Mờng Muỗi vào Thanh Hoá

và Nghệ An Vì vậy Tày Mời khi đến Nghệ An vẫn tự gọi mình theo quê

h-ơng cũ, có điều qua thời gian cái tên đó bị gọi chệch Muỗi thành Mời

Nhóm Tày Thanh còn gọi là Man Thanh không phải ở Thanh Hoá quaNghệ An mà chủ yếu từ Mờng Thanh (Tây Bắc) chuyển c đến Trên đờng vào

họ đi qua đất Lào, cố nhiên có ngời đi qua Thanh Hoá, nên số này chịu ảnh ởng văn hoá Lào nhiều hơn Số lớn ngời Man Thanh ở dọc theo đờng số 7song họ cũng ở rải rác trong địa hạt các huyện khác ở miền núi Nghệ An Họ

h-c trú ở Nghệ An h-cáh-ch ngày nay khoảng 400 năm, nên thờng ở địa vị là ngờingụ c, có khi phải làm "cuông", "nhốc" cho ngời Tày Chiềng

Đó là 3 nhóm chính, ngoài ra có một số nhóm lẻ tẻ nh Tày Khăng, TàyPuộc, Tày Pao Các nhóm trên tuy có khác nhau đôi chút về mức độ phânhoá xã hội, về tập quán và màu sắc phong tục nhng nhìn chung là giốngnhau cơ bản về các mặt từ đời sống kinh tế đến văn hoá vật chất và văn hoátinh thần

3.2 Một số đặc điểm về Dân tộc Thái ở Tân Kỳ.

Theo điều tra dân số ngày 1/4/1989 ngời Thái ở Tân Kỳ có khoảng

1000 ngời [12:119] tập trung vào hai nhóm Thái đen, tức Man Thanh và Tháitrắng tức Tày Chiềng hay Tày Mờng, không có ngời tày Mời, Tày Khăng hayTày Puộc, Tày Pao ở Tân Kỳ, ngời Man Thanh sống xen kẽ với ngời Kinh ở

Trang 27

các xã Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái, Nghĩa Dũng, Nghĩa Bình và Phú Sơn CònThái trắng mà bà con gọi Nhà làng tập trung ở hai xã Tiên Kỳ và Đồng Văn.

Tại địa bàn huyện Tân Kỳ, ngời Thái ở xã Tiên Kỳ và Đồng văn lànhững c dân thuộc dân tộc ít ngời đã sinh sống lâu đời Họ có mặt ở đây vàokhoảng thế kỷ XIV Theo nhiều nguồn t liệu, năm 1424 khi nghĩa quân LamSơn bao vây thành Trà Lân thì ở xã Tiên Kỳ đã có tù trởng Trơng Hán đem giabinh và tài sản giúp đỡ

Nhóm Man Thanh ở các xã Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái, Nghĩa Bình theogia phả của một số họ thì phần lớn là những ngời từ bản Căm xã Tam Vănhuyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá; có một số ngời từ huyện Thờng Xuân di

c đến Họ có mặt ở Tân Kỳ vào năm 1887 Lúc đầu họ ở vùng Nghĩa Dũng,sâu dần dần chuyển lên Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn và đến năm Duy Tân thứ 6(1912) thì có làng bản tử tế Những ngời Thái (Man Thanh) ở Phú Sơn và một

số ít ở Nghĩa Hoàn, hiện tại là c dân từ Con Cuông, Anh Sơn tới Số ngời này

có mặt ở Tân Kỳ mới năm, sáu chục năm lại đây

Dẫn dắt ngời Thái (Man Thanh) về vùng Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái,Nghĩa Dũng là ba anh em Lơng Văn Hán Đi theo ba anh em họ Lơng đếnkhai khẩn, lập bản ở vùng này phần lớn là bà con trong họ, trong mờng bảnvới nhau Họ quan hệ với nhau bằng huyết tộc từ đất Thanh nên khi vào đây

họ rất tận tình và đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng bản mờng

Trong ba anh em họ Lơng đó thì Lơng Văn Quý là ngời có thanh thếnhất, ông có 0tài tổ chức dân bản làm ăn, chiêu dân khai khẩn lập bản dựngmờng

3.2.1 Đặc điểm kinh tế

3.2.1.1 Làm ruộng nớc.

Nh đồng bào Thổ, đồng bào Thái ở Tân Kỳ c trú tại vùng gò đồi, triềnnúi thấp thuộc trung du và miền núi Tuy ở vùng thấp nhng bao giờ nơi c trúcủa bà con cũng gần kề sát với chân núi, những nơi tơng đối bằng phẳng trongmột thung lũng hoặc dốc thoai thoải, tiếp cận với rừng, gần sông suối để lấy n-

ớc dùng hàng ngày và tới cho đồng ruộng Điều này chứng tỏ đồng bào Thái ởTân Kỳ làm ruộng nớc là chủ yếu có kết hợp với kinh tế nơng rẫy, tuy vậy làmruộng nớc vẫn đặt lên hàng đầu, là chủ đạo

Đối với đồng bào Tháỉ ở Tân Kỳ thì biện pháp kỹ thuật làm ruộng nớccòn mang tính chất cổ truyền

Trang 28

Về làm đất, thờng đa nớc vào ruộng ngâm lâu ngày rồi cho trâu dẫm, cókhi một con, có khi hai, ba con cùng dẫm trên một đám ruộng dới sự điềukhiển của một ngời đàn ông, trâu dẫm cho đến khi nào đất nục, bùn rục lênmới thôi chỉ có đất mạ thì mới dùng cày và bừa, nhng vẫn phải có trâu dẫm,trâu dẫm cho nát đất thì mới trang và rải mạ Cày là thứ cày hoả (giống kiểucày chìa vôi nhng sơ sài hơn), bừa cũng thô sơ răng bằng gỗ và ngắn.

Bà con đã biết vãi vôi để khử độ chua của đất ruộng ở Tiên Kỳ, ĐồngVăn bà con đã biết lấy phân dơi, phân trâu, phân lợn để bón cho ruộng

Ngoài việc lựa chọn địa hình tự nhiên nh ruộng nằm cạnh dòng suốithoai thoải chỉ cần tháo cho nớc chảy vào khi cần thiết, bà con còn biết đào m-

ơng, dựng phai làm cọn, làm máng đa nớc vào Từ ngày cấy đến khi thuhoạch, bà con Thái làm cỏ từ 2 đến 3 lần

Đồng bào Thái ở Tân Kỳ sống ở địa hình tơng đối bằng phẳng Ngợclại, ở huyện Kỳ Sơn đồng bào Thái ở đây sống ở núi non hiểm trở, địa hìnhchia cắt cho nên ở đây ngời Thái không thể nào dập khuôn theo truyền thống

là coi ruộng đồng là đối tợng then chốt, trong khi ngời Thái ruộng đồng baogiờ cũng nổi lên nh một khâu then chốt

Nh vậy, so với huyện Kỳ Sơn thì ở Tân Kỳ bà con Thái xem rộng đồng

là khâu then chốt, là chủ đạo, còn nơng rẫy chỉ là phụ thêm

3.2.1.2 Làm nơng.

Nơng của ngời Thái nói chung và ở huyện Tân Kỳ nói riêng thuộc loạihình kinh tế nông nghiệp dùng cuốc hay dùng tay Ngời Thái làm nơng ở cácsờn dốc, có các nơng lúa, nơng ngô, đã giải quyết nhu cầu của con ngời và giasúc, có nơng sắn du nhập sau đã đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao đờisống của bà con

Nơng là "đất tự do" của ngời Thái, bởi vì muốn làm nơng phải phát rẫytại một sờn núi nào đó do mình tự chọn Thờng là vào tháng 3, tháng 4 âm lịchphát cây, phát xong họ ủ cây để đất có độ ẩm, một tháng sau đó mới đốt vàdọn nơng Nơng có nhiều loại: nơng dốc, nơng bằng, nơng lúa, nơng ngô, n-

ơng kê, nơng sắn Tất cả các loại nơng nói chung đều phải trải qua các biệnpháp kỹ thuật thô sơ liên hoàn nh chọn đất, phá rừng  đốt rừng  đốt và dọn

 gieo trồng  chăm sóc và thu hoạch Ngời Thái ở Tân Kỳ cũng giống ở KỳSơn không làm nơng cuốc, cày nh ngời H'Mông ở một số nơi, làm nơng họkhông cuốc đất mà thờng dùng cái gậy chọc lỗ để tra hạt giống; khi làm cỏ

Trang 29

dùng cuốc và khi thu hoạch dùng nhíp, liềm, dao, néo Dao đợc coi là công

ở nơng thứ 2 - 3 - 4 từ 5 đến 10 diện tích gieo trồng mới quay trở lại Làm

nh vậy mới tránh con ngời khỏi phải di chuyển chỗ ở

Hình 1Bàn về nơng rẫy, ngời Thái thiết nghĩ không thể không nêu ra đây mặtphản văn hoá của nó Phơng pháp luân canh trong vòng khép kín cũng chỉ hợp

lý trong một hệ sinh thái nhân văn của một thời Sự hợp lý đó cũng chỉ tồn tạitrong một thời điểm mật độ dân số còn tha thớt, giờ đây cái gọi là kinh tế n-

ơng rẫy ấy hễ nhìn thấy hoặc suy nghĩ về nó chắc không ai không cảm giácrùng rợn bởi bản chất của nó là hủy diệt môi sinh một cách vô thức không th-

ơng xót

Việc làm nơng là loại hình kinh tế tàn phá thiên nhiên vô cùng nghiêmtrọng Bây giờ không còn rừng để bà con phát rẫy nữa mà làm ruộng là chủyếu Cũng không phải bây giờ mà kể cả trớc đây đối với ngời Thái ở Tân Kỳthì làm nơng là phụ mà làm ruộng nớc mới là chủ yếu, nếu đời sống chỉ dựavào nơng rẫy thì đời sống sẽ không ổn định

N ơng 1 N ơng 2 N ơng 3

N ơng 5 N ơng 4

Bản định c

Trang 30

Bên cạnh ruộng, nơng còn có kinh tế vờn Loại hình này với ngời Tháikhông thật phát triển trong truyền thống, bởi ngời Thái không chú ý đến việclàm vờn, họ chỉ tập trung vào kinh tế ruộng nơng là chính

Ngày nay, mô hình kinh tế VAC đã đợc đa từ miền xuôi áp dụng vàomiền núi, đồng bào Thái cũng đã nhanh chóng tiếp thu và phát triển, mở rộngloại hình kinh tế này

3.2.1.3 Nghề phụ gia đình.

- Chăn nuôi:

Loại hình kinh tế chăn nuôi gắn với gia đình nông nghiệp là đặc trngnổi bật của văn hoá truyền thống Thái Vì đã trở thành nếp sống nên hễ cứ làgia đình nông dân thì phải nuôi trâu, lợn, chó, gà Vào gia đình ngời Tháinào ở Tân Kỳ trớc đây chúng ta cũng thấy bà con chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò

Dù là ở Đồng Văn, Tiên Kỳ hay Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái, vùng bà con Thái ctrú thờng có nhiều đồi cỏ tự nhiên, rất thuận lợn cho việc chăn nuôi trâu bò.Cách thức chăm sóc gia súc của bà con thờng là nửa chăm sóc, nửa thả tựnhiên Nuôi trâu thờng thả rông, để nhận ra trâu của mình ngời chủ thờng treovào cổ trâu cái mõ kêu lốc cốc Sau trâu là lợn, ngày xa theo tập quán nuôi thảrông, đàn lợn chỉ tiếp xúc với chủ mỗi ngày hai bữa cám, còn thì chạy rôngvào rừng hay ra suối kiếm ăn Lợn nái đến thời kỳ sinh thì tự vào rừng làm ổ,mỗi lần nh thế chủ vào lần theo và đa về nhà nuôi Gà vịt cũng vậy, chỉ gặpchủ khi ra và vào chuồng Vì chăn nuôi theo hình thức thả rông nh vậy chonên kết quả chăn nuôi không đợc cao Trớc đây hầu nh gầm nhà là chuồngchăn nuôi, nay thì bà con đã làm chuồng riêng cho hợp vệ sinh, mặt khác dodiện tích rừng núi bị thu hẹp, tập quán chăn nuôi tự nhiên mâu thuẫn với trồngtrọt bộc lộ gay gắt, gia súc không có chỗ để thả rông thì phần chăn sóc nhiềuhơn và gần nh là chủ yếu

- Nghề thủ công:

Theo truyền thống tự cung tự cấp, mỗi gia đình ngời Thái phải làm khánhiều nghề thủ công nh đan lát, dệt, thêu, làm chài lới Nhng có lẽ trong cácnghề phụ ấy nói về đặc trng văn hoá thì nét nổi bật nhất vẫn là nghề dệt thêu

Đã từ lâu, nghề trồng bông dệt vải, dệt thổ cẩm, thêu thùa quần áo, mặtchăn, chân váy, gối nệm khá nổi tiếng đối với dân tộc Thái Đi vào gia đìnhngời Thái nào chúng ta cũng thấy có cái khung cửi và hầu nh ngời phụ nữThái nào cũng biết dệt và thêu Đó là sự phân công rất tự nhiên và đã in sâu

Trang 31

trong xã hội cổ truyền của họ Ngời Thái có câu: Nhinh hụ dệt vải, trai hẹ xen

he (gái biết dệt vải, trai biết đan chài)

Ngời phụ nữ Thái dệt vải nhằm giải quyết việc mặc cho bản thân mình

và cho mọi thành viên trong gia đình Nh bất kỳ ngời Thái nào, việc làm ra vảicủa ngời Thái ở Tân Kỳ trớc dây không dễ dàng, mặc dù theo phơng thức thôsơ Họ phải tiến hành công việc này từ khâu đầu tiên là chế biến bông đếnkhâu cuối là đa vải ra khỏi khung rồi đem hồ bột, ít nhất cũng mất 3 tháng

Đây chính là tập quán đã in sâu trong đời sống và là nguồn hạnh phúc của gia

đình

Đề cập đến nghề dệt thêu của ngời Thái, chúng ta không thể không đềcập đến hoa văn Chúng ta bắt gặp hoa văn họa tiết của ngời Thái Tân Kỳ ở túithổ cẩm, chân váy, khăn, áo, chăn và cả những tấm vải dành cho cha mẹ lúc

về già Điều đáng chú ý là thêu hoặc dệt bất kỳ hoa văn nào dù đơn giản hayphức tạp, ngời phụ nữ Thái ở Tân Kỳ không hề vẽ mẫu trớc mà vẫn dệt đợc,thêu đợc trên váy, trên chăn những mô típ truyền thống mà mình cần thiết

Tùy theo mục đích và yêu cầu của mỗi lần dệt mà họ có những cáchthức và kỹ thuật thể hiện khác nhau Thông thờng, ngời Thái dùng chỉ màuthêu hoặc dệt luôn các màu sắc để thành hình trang trí Đối với váy của ngờigià, bà con Man Thanh ở Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái lại không thêu mà các họatiết đợc dệt từ các sợi màu Đây là một kỹ thuật rất phức tạp và tài hoa Đốivới ngời Tày Chiềng ở Tiên Kỳ, Đồng Văn, bà con dệt vải thành từng tấm sau

đó mới thêu lên các họa tiết hoa văn Với những ngời dệt giỏi nhiều kinhnghiệm thì họ dệt và luồn các sợi chỉ màu luônlên khung, dệt hết tấm vải thìcác hình cũng trang trí xong

Với ngời Man Thanh ở Nghĩa Hoàn, Nghĩa Thái, gấu váy hầu nh chỉthêu những mô típ kỷ hà hình quả trám với những đờng nét sắc gọn Họ giảithích rằng ngời Man Thanh vốn ở nhiều nơi, đi nhiều chỗ, gặp nhiều kẻ thùnên những mũi lao, những viên đạn đối với họ có một tầm quan trọng, do đó

đợc hình tợng hoá thành những hoa văn

Với ngời Tày Chiềng ở Tiên Kỳ, Đồng Văn, gấu váy có thể thêu hoavăn truyền thống hoặc theo tài năng, sáng tạo của mình Có ngời thêu hình conrồng, có ngời thêu đàn voi, có ngời thêu những con hơu, có ngời thêu một đànnai

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Cẩm Trọng, Phan Hữu Dật (1995), Văn hoá Thái Việt Nam - Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Thái Việt Nam
Tác giả: Cẩm Trọng, Phan Hữu Dật
Nhà XB: NxbVăn hoá dân tộc
Năm: 1995
[3]. Đặng Nghiêm Vạn (1978), T liệu về lịch sử xã hội dân tộc Thái - Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T liệu về lịch sử xã hội dân tộc Thái
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1978
[4]. Hoàng Xuân Lơng,Văn hoá dân tộc - Một số vấn đề triết học - Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân tộc - Một số vấn đề triết học
Nhà XB: NxbVăn hoá dân tộc
[5]. La Quán Miên (1997), Phong tục tập quán các dân tộc thiểu số ở Nghệ An - NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc thiểu số ởNghệ An
Tác giả: La Quán Miên
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1997
[6]. Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lợc giới thiệc các nhóm Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam - NXB KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lợc giới thiệc các nhómTày - Nùng - Thái ở Việt Nam
Tác giả: Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: NXB KHXH - Hà Nội
Năm: 1968
[7]. Mạc Đờng (1964), Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ - Nxb Sử học - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ
Tác giả: Mạc Đờng
Nhà XB: Nxb Sửhọc - Hà Nội
Năm: 1964
[8]. Ninh Viết Giao (1992), Tân Kỳ truyền thống và lãng xã - Nxb KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân Kỳ truyền thống và lãng xã
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NxbKHXH - Hà Nội
Năm: 1992
[9]. Ngô Đức Thịnh, Cẩm Trọng (1999), Luật tục Thái ở Việt Nam - NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục Thái ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh, Cẩm Trọng
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1999
[10]. Ngô văn Lệ, nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1997), Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam - NXb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănhoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Ngô văn Lệ, nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu
Năm: 1997
[11]. Nguyễn Đình Lộc (1993), Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An - Nxb Tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Đình Lộc
Nhà XB: NxbTỉnh
Năm: 1993
[12]. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc ng- ời - Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc ng-ời
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Năm: 1996
[14]. Trần Quốc Vợng (1969), Những trang sử vẻ vang của các dân tộc miền núi - Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trang sử vẻ vang của các dân tộcmiền núi
Tác giả: Trần Quốc Vợng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1969
[15]. Văn hóa dân tộc, Trang phục cổ truyền của dân tộc Việt Nam (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục cổ truyền của dân tộc Việt Nam
[16]. Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam (Các Tỉnh phía Bắc) (1978) - Nxb KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam (Các Tỉnh phíaBắc) (1978)
Nhà XB: Nxb KHXH - Hà Nội
[17]. Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam (Các Tỉnh phía Nam) (1984) - Nxb KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít ngời ở Việt Nam (Các Tỉnh phíaNam)
Nhà XB: Nxb KHXH - Hà Nội
[18]. Viện Dân tộc học, Sổ tay các dân tộc Việt Nam (1983), Uỷ ban KHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Viện Dân tộc học, Sổ tay các dân tộc Việt Nam
Năm: 1983
[19]. Viện Dân tộc học, Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở Miền Bắc Việt Nam (1975) - Nxb KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề xác định thành phần các dân tộcthiểu số ở Miền Bắc Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH - Hà Nội
[20]. Viện Dân tộc học, Góp phần nghiên cứu các bản lĩnh, bản sắc các dân tộc ở Việt Nam (1980) - Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu các bản lĩnh, bản sắccác dân tộc ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
[21]. Văn hoá thông tin, Lễ hội cầu mùa của ngời Thái ở Tây Bắc Việt nam (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cầu mùa của ngời Thái ở Tây Bắc Việtnam
[22]. Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi (1996), Nxb Chính trị Quốc gia - Nxb Văn hoá dân tộc - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miềnnúi
Tác giả: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Nxb Văn hoá dân tộc - Hà Nội
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w