A. MỞ ĐẦUViện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính là một trong những hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình giải quyết vụ án hành chính nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực tố tụng hành chính, Viện kiểm sát luôn phải đảm bảo pháp luật được chấp hành, thực thi một cách hiệu quả, nghiêm minh. Hành vi trả lại đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hành chính cũng không ngoại lệ, việc thực hiện các quy định về trả lại đơn khởi kiện phải đảm bảo tính hợp lý, hợp pháp vì đây là hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của người khởi kiện, đó là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được quy định tại Điều 5 Luật Tố tụng hành chính. Chính vì thế, cần nắm rõ các quy định của pháp luật về trả lại đơn khởi kiện cũng như các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát về vấn đề này để tiến hành kiểm sát được hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khởi kiện luôn được thực thi.Nắm bắt được những vấn đề nêu trên, cũng như nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của bản thân, em xin chọn đề tài: “Quy định của pháp luật về kiểm sát trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính” cho bài tiểu luận của mình. B. NỘI DUNGI. Khái quát chungKiểm sát giải quyết các vụ án hành chính là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng trong giải quyết vụ án hành chính nhằm phát hiện vi phạm của Tòa án và các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng hành chính, trên cơ sở đó thực hiện thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm đã xảy ra hoặc có thể xảy ra, góp phần bảo đảm cho Tòa án giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm minh.Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi các quyết định, hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền bằng các hình thức luật quy định. Thụ lý vụ án hành chính là hành vi tố tụng đầu tiên của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Tuy nhiên không phải bất kỳ trường hợp nào Tòa án cũng thụ lý giải quyết mà trên cơ sở pháp luật, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu không đáp ứng đúng và đủ điều kiện khởi kiện mà pháp luật quy định. Theo đó, trả lại đơn khởi kiện là hoạt động của Tòa án nhân dân trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện khi thuộc một trong các căn cứ theo quy định tại Luật Tố tụng hành chính 2015.Như đã nói ở trên, trả lại đơn khởi kiện là nội dung quan trọng trong tố tụng hành chính, bởi lẽ hành vi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của người khởi kiện, đó là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được quy định tại Điều 5 Luật Tố tụng hành chính – “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này”, và đương nhiên, người khởi kiện sẽ không được Tòa án chấp nhận giải quyết đối với yêu cầu của mình.Như vậy, để thực hiện tốt công tác kiểm sát đối với hành vi trả lại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, đòi hỏi Viện kiểm sát – cụ thể là những cán bộ kiểm sát được trực tiếp phân công làm nhiệm vụ cần phải nắm chắc, hiểu rõ những quy định của định của pháp luật về vấn đề này; quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án. II. Quy định của pháp luật về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chínhTheo quy định tại Điều 6 Quy chế Công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, sau khi nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Toà án cùng cấp, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được văn bản, Viện kiểm sát phải tiến hành xem xét, nếu thấy việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng thì thực hiện quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 124 Luật Tố tụng hành chính. Theo đó, căn cứ để Viện kiểm sát cho rằng việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng được quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015.1. Quy định của pháp luật về kiểm sát đối với căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiệna. Người khởi kiện không có quyền khởi kiệnĐể xác định chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện của chủ thể, Viện kiểm sát cần căn cứ vào các quy định của pháp luật. Theo khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015, người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân và Điều 5 Luật Tố tụng hành chính 2015 cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án vảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định....Vậy, khi tiến hành việc kiểm sát, Viện kiểm sát cần nghiên cứu kỹ lưỡng về tư cách chủ thể của người khởi kiện. Quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo thủ tục do pháp luật quy định. Trước tiên, cán bộ kiểm sát phải xác định điều kiện cần, người khởi kiện phải là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm bởi chính quyết định hành chính, hành vi hành chính đó. Đối với khởi kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính thì chủ thể là bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức; đối với khởi kiện về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì chủ thể là cá nhân và tổ chức; còn đối với khởi kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân thì chủ thể chỉ là cá nhân. Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần nắm rõ quyết định hành chính nào là đối tượng của khởi kiện vụ án hành chính, cụ thể, chỉ có quyết định hành chính cá biệt mới là đối tượng khởi kiện, còn quyết định hành chính mang tính chỉ đạo, điều hành và quyết định hành chính mang tính cá biệt không phải là đối tượng của khởi kiện vụ án hành chính. Việc xác định quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính phải đảm bảo đủ các dấu hiệu sau:– Là quyết định bằng văn bản;– Do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành;– Quyết định này được áp dụng với một hoặc một số đối tượng cụ thể ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của đối tượng cụ thể. Cần khẳng định rằng: Quyền khởi kiện và chủ thể khởi kiện là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau. Quyền khởi kiện chỉ được thực hiện bởi một chủ thể nhất định và chủ thể được thực hiện quyền khởi kiện khi lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Như vậy, trong quá trình xem xét về tư cách của người khởi kiện thông qua những yếu tố nêu trên, Viện kiểm sát có thể đưa ra nhận định về tính hợp pháp đối với hành vi trả lại đơn khởi kiện của Tòa án.b. Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủNgười khởi kiện là thuật ngữ chỉ tư cách của cá nhân hay cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng trong vụ án hành chính. Người khởi kiện vụ án hành chính có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch, cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân. Tuy nhiên, để đánh giá đúng tư cách người khởi kiện thì Kiểm sát viên cần nắm rõ quy định pháp luật, cụ thể người khởi kiện phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015, là phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng hành chính.. Theo quy định tại khoản 1 Điều 54, Luật Tố tụng hành chính thì: “Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định...” Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân sinh ra và mất đi khi cá nhân chết. Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của cơ quan, tổ chức phát sinh từ khi cơ quan, tổ chức được thành lập, tồn tại hợp pháp và mất đi khi cơ quan, tổ chức đó bị giải thể.“Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.” Năng lực hành vi tố tụng hành chính của cá nhân sẽ khác nhau tùy theo độ tuổi và khả năng nhận thức. Người từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính hoặc có thể ủy quyền cho bất cứ người nào đại diện cho mình tham gia tố tụng. Trường hợp người khởi kiện không đủ năng lực tố tụng hành chính thì khi tham gia vào quan hệ tố tụng hành chính cần phải thông qua người đại diện theo pháp luật. c. Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đóĐiều kiện ở đây là đối với một số loại khiếu kiện phải qua thủ tục khiếu nại, nếu không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó hoặc đã hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì mới có thể làm đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền. Nói cách khác, quy định trên chỉ áp dụng với lại khiếu kiện mà pháp luật quy định phải qua thủ tục tiền tố tụng. Tại khoản 3 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định rõ về trường hợp này, theo đó “Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó”, như vậy, đối với khiếu kiện về danh sách cử tri thì phải thông qua thủ tục khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền thì mới có thể khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án, vì loại khiếu kiện này chỉ phát sinh trong thời gian bầu cử, mang tính chính trị cao, cần phải xử lý một cách nhanh chóng.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 3
I Khái quát chung 3
II Quy định của pháp luật về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính 4
1 Quy định của pháp luật về kiểm sát đối với căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện 4
2 Quy định của pháp luật về kiểm sát các hoạt động khác của Tòa án về hành vi trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính 11
C KẾT LUẬN 16 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2A MỞ ĐẦU
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính là một trong những hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình giải quyết vụ án hành chính nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án tuân thủ đúng quy định của pháp luật Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực tố tụng hành chính, Viện kiểm sát luôn phải đảm bảo pháp luật được chấp hành, thực thi một cách hiệu quả, nghiêm minh Hành vi trả lại đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hành chính cũng không ngoại lệ, việc thực hiện các quy định về trả lại đơn khởi kiện phải đảm bảo tính hợp lý, hợp pháp vì đây là hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của người khởi kiện, đó là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được quy định tại Điều 5 Luật Tố tụng hành chính Chính vì thế, cần nắm rõ các quy định của pháp luật về trả lại đơn khởi kiện cũng như các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát về vấn đề này để tiến hành kiểm sát được hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khởi kiện luôn được thực thi
Nắm bắt được những vấn đề nêu trên, cũng như nhu cầu nghiên cứu,
tìm hiểu của bản thân, em xin chọn đề tài: “ Quy định của pháp luật về kiểm sát trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính” cho bài tiểu luận của mình.
Trang 3B NỘI DUNG
I Khái quát chung
Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng trong giải quyết vụ án hành chính nhằm phát hiện vi phạm của Tòa án và các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng hành chính, trên cơ sở đó thực hiện thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm đã xảy ra hoặc có thể xảy ra, góp phần bảo đảm cho Tòa án giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm minh
Khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi các quyết định, hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền bằng các hình thức luật quy định Thụ lý vụ án hành chính là hành vi tố tụng đầu tiên của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính Tuy nhiên không phải bất kỳ trường hợp nào Tòa án cũng thụ lý giải quyết mà trên cơ sở pháp luật, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu không đáp ứng đúng và đủ điều kiện khởi kiện mà pháp luật quy định Theo đó, trả lại đơn khởi kiện là hoạt động của Tòa án nhân dân trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện khi thuộc một trong các căn cứ theo quy định tại Luật Tố tụng hành chính 2015
Như đã nói ở trên, trả lại đơn khởi kiện là nội dung quan trọng trong tố tụng hành chính, bởi lẽ hành vi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của người khởi kiện, đó là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được
quy định tại Điều 5 Luật Tố tụng hành chính – “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích
Trang 4hợp pháp của mình theo quy định của Luật này”, và đương nhiên, người khởi
kiện sẽ không được Tòa án chấp nhận giải quyết đối với yêu cầu của mình
Như vậy, để thực hiện tốt công tác kiểm sát đối với hành vi trả lại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, đòi hỏi Viện kiểm sát – cụ thể là những cán bộ kiểm sát được trực tiếp phân công làm nhiệm vụ cần phải nắm chắc, hiểu rõ những quy định của định của pháp luật về vấn đề này; quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án
II Quy định của pháp luật về kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
Theo quy định tại Điều 6 Quy chế Công tác kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, sau khi nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Toà án cùng cấp, trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được văn bản, Viện kiểm sát phải tiến hành xem xét, nếu thấy việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng thì thực hiện quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 124 Luật Tố tụng hành chính Theo đó, căn cứ để Viện kiểm sát cho rằng việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng được quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015
1 Quy định của pháp luật về kiểm sát đối với căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện
a Người khởi kiện không có quyền khởi kiện
Để xác định chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện của chủ thể, Viện kiểm sát cần căn cứ vào các quy định của pháp luật Theo khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015, người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân và Điều 5 Luật Tố tụng hành chính 2015 cá nhân, cơ quan, tổ
Trang 5chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án vảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định
Vậy, khi tiến hành việc kiểm sát, Viện kiểm sát cần nghiên cứu kỹ lưỡng về tư cách chủ thể của người khởi kiện Quyền khởi kiện vụ án hành chính là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo thủ tục do pháp luật quy định Trước tiên, cán bộ kiểm sát phải xác định điều kiện cần, người khởi kiện phải là người có quyền và lợi ích bị xâm phạm bởi chính quyết định hành chính, hành vi hành chính đó Đối với khởi kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính thì chủ thể là bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức; đối với khởi kiện về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì chủ thể là cá nhân và tổ chức; còn đối với khởi kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân thì chủ thể chỉ là cá nhân Tuy nhiên, Kiểm sát viên cần nắm rõ quyết định hành chính nào là đối tượng của khởi kiện vụ án hành chính, cụ thể, chỉ có quyết định hành chính cá biệt mới là đối tượng khởi kiện, còn quyết định hành chính mang tính chỉ đạo, điều hành và quyết định hành chính mang tính cá biệt không phải là đối tượng của khởi kiện vụ án hành chính Việc xác định quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính phải đảm bảo đủ các dấu hiệu sau:
– Là quyết định bằng văn bản;
– Do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành;
– Quyết định này được áp dụng với một hoặc một số đối tượng cụ thể ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của đối tượng cụ thể
Cần khẳng định rằng: Quyền khởi kiện và chủ thể khởi kiện là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau Quyền khởi kiện chỉ được thực hiện bởi một chủ thể nhất định và chủ thể được thực hiện quyền khởi kiện khi lợi ích hợp pháp
Trang 6của mình bị xâm phạm Như vậy, trong quá trình xem xét về tư cách của người khởi kiện thông qua những yếu tố nêu trên, Viện kiểm sát có thể đưa ra nhận định về tính hợp pháp đối với hành vi trả lại đơn khởi kiện của Tòa án
b Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ
Người khởi kiện là thuật ngữ chỉ tư cách của cá nhân hay cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng trong vụ án hành chính Người khởi kiện vụ án hành chính có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch, cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân Tuy nhiên, để đánh giá đúng tư cách người khởi kiện thì Kiểm sát viên cần nắm rõ quy định pháp luật, cụ thể người khởi kiện phải thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015, là phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng hành chính
Theo quy định tại khoản 1 Điều 54, Luật Tố tụng hành chính thì: “ Năng lực pháp luật tố tụng hành chính là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính do pháp luật quy định ” Năng lực pháp luật tố tụng hành
chính của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân sinh ra và mất đi khi cá nhân chết Năng lực pháp luật tố tụng hành chính của cơ quan, tổ chức phát sinh từ khi
cơ quan, tổ chức được thành lập, tồn tại hợp pháp và mất đi khi cơ quan, tổ
chức đó bị giải thể.“Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.” Năng lực hành vi tố tụng hành chính
của cá nhân sẽ khác nhau tùy theo độ tuổi và khả năng nhận thức Người từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính hoặc có thể ủy quyền cho bất cứ người nào đại diện cho mình tham gia tố tụng Trường hợp người khởi kiện không đủ năng lực tố tụng hành chính thì khi tham gia vào quan hệ tố tụng hành chính cần phải thông qua người đại diện theo pháp luật
Trang 7c Trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó
Điều kiện ở đây là đối với một số loại khiếu kiện phải qua thủ tục khiếu nại, nếu không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó hoặc đã hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết thì mới có thể làm đơn khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền Nói cách khác, quy định trên chỉ áp dụng với lại khiếu kiện mà pháp luật quy định phải qua thủ tục tiền tố tụng Tại khoản 3 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định rõ về trường
hợp này, theo đó “ Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó”, như vậy, đối với khiếu kiện về danh sách cử tri thì phải thông qua thủ
tục khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền thì mới có thể khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án, vì loại khiếu kiện này chỉ phát sinh trong thời gian bầu cử, mang tính chính trị cao, cần phải xử lý một cách nhanh chóng
d Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Khi khởi kiện vụ án hành chính thì người khởi kiện cần phải xác định sự việc đó đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hay chưa, bởi lẽ, nếu cùng nội dung, cùng đối tượng khởi kiện thì Tòa án sẽ không thụ lý những vụ án đã được giải quyết
Theo quy định của pháp luật, nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án rồi thì các đương sự chỉ có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm chứ không được quyền tiếp tục khởi kiện vụ án hành chính Do đó, Kiểm sát viên cần xem xét kỹ nội dung cũng như đối tượng của đơn khởi kiện để xác định sự việc đó đã
Trang 8được giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định của Tòa án hay chưa, từ đó nhận định căn cứ đối với hành vi trả lại đơn khởi kiện của Toà án có đúng quy định pháp luật hay không
đ Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Thẩm quyền giải quyết của Toà án là một trong các điều kiện để khởi kiện vụ án hành chính Nghĩa là nếu sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì sẽ không được Tòa án thụ lý giải quyết Vì vậy, với một vụ án hành chính cụ thể, cần phải xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án cấp nào, địa phương nào Do đó, khi tiến hành kiểm sát, bên cạnh việc xem xét các điều kiện về chủ thể, đối tượng khởi kiện, vụ việc có thể kiện ở đâu thì Kiểm sát viên cần làm rõ hai nội dung: Thứ nhất, phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện; thứ hai, phân định thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân địa phương trong cùng một cấp đối với những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp đó
e Người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại trong trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật Tố tụng hành chính 2015
Trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết và có văn bản thông báo cho Tòa án Theo đó, nếu người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì Tòa án căn cứ vào quy định tại điểm e khoản 1 Điều 123 của Luật Tố tụng hành chính trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện Trường hợp người khởi kiện không lựa chọn cơ quan giải quyết thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện
Việc quy định như vậy đã tạo điều kiện cho người khởi kiện tự do lựa chọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của họ Nếu người khởi kiện lựa chọn Toà án giải quyết thì Toà án
Trang 9thụ lý giải quyết vụ án đồng thời thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại biết và yêu cầu chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Toà án Ngược lại, người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giải quyết thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện Như vậy, khi có thông báo trả lại đơn khởi kiện, Kiểm sát viên cần xem xét về nguyện vọng của người khởi kiện, xem thực sự họ đã lựa chọn cơ quan nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ, từ đó đánh giá tính khách quan và hợp pháp về hành vi trả lại đơn khởi kiện của Tòa án
g Đơn khởi kiện không có đủ nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 của Luật Tố tụng hành chính mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 122 của Luật này
Để Tòa án thụ lý vụ án thì đơn khởi kiện phải đảm bảo các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính 2015 Nếu đơn khởi kiện không có đủ các nội dung theo quy định thì Toà án sẽ thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung và thời hạn sửa đổi, bổ sung là 10 ngày làm việc, kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Toà án Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng nội dung quy định trên thì Toà án tiếp tục việc thụ lý vụ án Còn trường hợp, không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án thì Toà án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo cho người khởi kiện Như vậy, khi nhận được văn bản thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Kiểm sát viên cần xem xét, đối chiếu đơn khởi kiện với quy định của pháp luật để nhận định về nội dung đơn khởi kiện, thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện của Tòa án cũng như việc người khởi kiện thực hiện yêu cầu của Tòa án, đảm bảo mọi hoạt động đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật
h Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật Tố tụng hành chính mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng.
Trang 10Sau khi nhận đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện xét thấy vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết thì thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí trừ những trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí
Sau khi nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì trong thời hạn
10 ngày làm việc, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí Toà án sẽ thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, nếu hết thời hạn trên mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án thông báo cho họ biết về việc không thụ lý vụ án với lý do là họ không nộp tiền tạm ứng án phí Trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn
Trên thực tế có rất nhiều trường hợp Tòa án đã trả lại đơn kiện trái với quy định của pháp luật Chính vì vậy, Luật Tố tụng hành chính 2015 cũng quy định đương sự có quyền khiếu nại về việc trả lại đơn khiếu nại Theo đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện
Để kiểm sát căn cứ trả lại đơn khởi kiện của Tòa án có đúng căn cứ pháp luật hay không, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, xem xét về lý do trả lại đơn khởi kiện mà Tòa án đưa ra, từ đó so sánh, đối chiếu với các căn cứ pháp luật tương ứng Khi cho rằng việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án không đúng căn cứ pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án để yêu cầu xem xét lại việc trả lại đơn khởi kiện Như vậy, quyền kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính là quyền hạn đặc trưng của Viện kiểm sát khi thực hiện kiểm sát hoạt động của Tòa án, cụ thể là Thẩm phán đối với việc trả lại đơn khởi kiện; vừa là phương thức kiểm soát quyền lực cũng vừa thể hiện tính thống nhất trong việc việc thực hiện mục tiêu giải quyết vụ án hành chính giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước, đảm bảo