Việc mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế sẽ góp phần thu hút vốn đầu tư nướcngoài, tiếp thu được những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, những kinhnghiệm quý báu của các nước kinh tế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
o0o
Đề tài số 77:
Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Tài liệu tham khảo 3 Lời mở đầu 4
Trang 2Chương I: Cơ sở lý luận về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 5-7
1.1 Khái niệm và vai trò của FIE ở Việt Nam 5-61.1 Khái niệm 51.2 Vai trò 5-61.2 Các hình thức và đặc trưng kinh tế của kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài 6-71.2.1 Các hình thức 6-71.2.2 Đặc trưng kinh tế 7
Chương II: Thực trạng phát triển và sử dụng FIE của Việt Nam từ năm
2001 tới nay 8-16
2.1 Thực trạng hoạt động của FIE trong nền kinh tế thị trường định hướngXHCN 8-122.1.1 Khái quát chung về tình hình đầu tư nước ngoài ở Việt Nam 8-102.1.2 Đánh giá tổng quát hoạt động của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam 10-122.2 Tác động của khu vực đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế 12-162.2.1 Những mặt tích cực 12-142.2.2 Những mặt hạn chế 14-16
Chương III: Nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và các giải pháp chủ yếu để phát triển khu vực đầu tư nước ngoài 16-22
3.1 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của khu vực đầu tư nướcngoài 16-183.1.1 Nguyên nhân của những thành tựu 16-173.1.2 Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế 17-183.2 Bài học kinh nghiệm 18-193.3 Các giải pháp chủ yếu để phát triển khu vực đầu tư nước ngoài 19-22
Kết luận 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin
Bộ giáo dục và đào tạo (NXB chính trị quốc gia)
B Kinh tế chính trị Mác – Lênin (phần 2)
Trường ĐH kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4do đó mỗi nước cần có những mối quan hệ với thị trường thế giới, không mộtquốc gia nào tách khỏi thị trường thế giới mà có thể phát triển nền kinh tế củamình Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam cũng đang từng bước hội nhậpnền kinh tế thế giới Việt Nam đang trong quá trình đổi mới chuyển sang nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hợp tác quốc
tế là vấn đề quan trọng của công cuộc đổi mới
Trong công cuộc đổi mới không thể không nhắc đến thành phần kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài, nó có đóng góp không nhỏ trong việc tăng trưởng GDP,giải quyết việc làm cho người lao động, sự tăng trưởng của kim ngạch xuất nhậpkhẩu Việc mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế sẽ góp phần thu hút vốn đầu tư nướcngoài, tiếp thu được những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, những kinhnghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển và tạo được môi trường thuận lợicho nền kinh tế nước ta Đó là lý do em chọn đề tài này để đi sâu vào tìm hiểuthực trạng hoạt động của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, những hạnchế khó khăn, và những giải pháp được đưa ra để phát triển thành phần kinh tếnày
Chương I: Cơ sở lý luận về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
1.1 Khái niệm và vai tr ̣ của FIE ở Việt Nam
1.1 Khái niệm
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thuật ngữ chỉ các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài, mới được sử dụng phổ biến trong vài thập niên gần đây, khilàn sóng đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác tăng lên nhanh chóng
Ở Việt Nam thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới được xác định
từ văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là thành phần kinh tế bao gồm:+ Các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
+ Các doanh nghiệp liên doanh
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Thành phần kinh tế này không đồng nhất với các thành phần kinh tế trongnước cả về mục tiêu và cơ chế vận hành
Mặt khác, thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước nêutrên bao gồm một phần vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam Vì vậy việc xác
Trang 5định thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là cần thiết để vừa có chínhsách thu hút mạnh hơn vốn đầu tư nước ngoài, vừa quan tm theo dơi, phn tíchđiều chỉnh để đảm bảo mối quan hệ tương quan hợp lý với các thành phần kinh tếtrong nước và lợi ích của đất nước.
Đặc biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo nên nhiều ngànhnghề, nhiều sản phẩm mới, góp phần tăng năng lực ngành công nghiệp Việt Nam.Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm 100% về khai thác dầu, sản xuất ôtô,máy biến thế 250-1.000 Kva, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà, máy thu băng, đầuvideo, nguyên liệu nhựa, sợi Pe và Pes; chiếm 50% sản lượng vải; 45% sản phẩmmay và 35% về giày dép
Cũng qua đầu tư nước ngoài, nhiều công nghệ mới được nhập vào ViệtNam, nhất là trong các lĩnh vực viễn thông, dầu khí, điện tử, tin học, sản xuất ôtô,sợi vải cao cấp Các doanh nghiệp này cũng đã đem lại những mô hình quản lýtiến tiến cùng phương thức kinh doanh hiện đại, điều này đã thúc đẩy các doanhnghiệp trong nước đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo sựcạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2 Các hình thức và đặc trưng kinh tế của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
1.2.1 Các hình thức
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tácthành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữaChính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoàihoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác vớidoanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tưnước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp liên doanh được thànhlập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Mỗi bên liên doanh chịu tráchnhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp.Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, đượcthành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư
Trang 6Doanh nghiệp liên doanh là hình thức doanh nghiệp thực sự đem lại nhiềulợi thế cho cả nhà đầu tư việt nam và nhà đầu tư nước ngoài Đối với các nhà đầu
tư việt nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh, ngoài việc tượng phân chialợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhà đầu tư việt nam còn có điều kiện tiếp cận vớicông nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến đối với bênnước ngoài, lợi thế được hưởng là được đảm bảo khả năng thành công cao hơn domôi trường kinh doanh, pháp lý hoàn toàn xa lạ nêu không có bên việt nam thì sẽgặp rất nhiều khó khăn
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữucủa Nhà nước đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại ViệtNam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệmhữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạtđộng kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư
Vốn pháp định của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ít nhất phải bằng30% vốn đầu tư Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, dự ánđầu tư vào địa bán khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án có quy mô lớn,
tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được cơquan cấp giấy phép đầu tư chấp nhận
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp được thành lậpbởi nhà đầu tư nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặcdoanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mualại
1.2.2 Đặc trưng kinh tế
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là được tạo lập khôngchỉ do vốn bằng tiền mà còn bằng tài sản vô hình (sáng chế, công nghệ, bí quyết,thương hiệu, nhãn mác, danh tiếng, kỹ năng quản lý, thị trường ), tài sản hữuhình (máy móc, thiết bị, nguyên liệu )
Tài sản vô hình
Tài sản vô hình là những tài sản thể hiện ra bằng những lợi ích kinh tế,chúng không có cấu tạo vật chất, mà tạo ra những quyền và những ưu thế đối vớingười sở hữu và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu chúng
Tài sản vô hình có đặc điểm: một là, gắn liền với chủ thể nhất định; hai là,mang lại lợi ích cho chủ thể đó Ngoài những đặc điểm nêu trên, tài sản vô hìnhcòn có đặc điểm nổi bật, mà chính nhờ đặc điểm này người ta dễ dàng “nhận ra”chúng, đó là không có hình thái vật chất cụ thể
Tài sản hữu hình
Trang 7Tài sản hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất(từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phậntài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoảmãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinhdoanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiếntrúc, máy móc, thiết bị
Chương II: Thực trạng phát triển và sử dụng FIE của Việt Nam từ
năm 2001 tới nay
2.1 Thực trạng hoạt động của FIE trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN
2.1.1 Khái quát chung về tình hình đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt
Nam còn nhỏ Đến năm 1991, tổng số vốn FDI ở Việt Nam mới chỉ là 213 triệuđô-la Mỹ Tuy nhiên, con số FDI đăng ký đã tăng mạnh từ 1992 và đạt đỉnh điểmvào 1996 với tổng vốn đăng ký lên đến 8,6 tỷ đô-la Mỹ Sự tăng mạnh mẽ củaFDI này là do nhiều nguyên nhân Các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềmnăng của một nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi với một thị trường phầnlớn còn chưa được khai thác Thêm vào đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn bị hấpdẫn bởi hàng loại các yếu tố tích cực khác như lực lượng lao động dồi dào, giánhân công rẻ và tỷ lệ biết chữ cao
Bên cạnh những yếu tố bên trong còn có các yếu tố bên ngoài đóng góp vàoviệc gia tăng của FDI Thứ nhất là làn sóng vốn chảy dồn về các thị trường mớinổi trong những năm 80 và đầu những năm 90 Trong các thị trường này, ĐôngNam Á là một điểm chính nhận FDI Năm 1990, các nước Đông Nam Á thu hút36% tổng dòng FDI đến các nước đang phát triển Thứ hai là dòng vốn nướcngoài vào các nền kinh tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi mà họ chorằng đang có các cơ hội kinh doanh mới và thu lợi nhuận Thứ ba, là các nướcmạnh trong vùng (cụ thể là Mã-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái-lan,…) đã bắt đầu xuấtkhẩu vốn Là một nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ ở Đông Nam Á, ViệtNam có được lợi thế từ các yếu tố này[1]
Trong khoảng thời gian 1991-1996, FDI đóng một vai trò quan trọng trong
việc tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và đã cónhững đóng góp cho cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam
Trong giai đoạn 1997-1999, Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt dốc của
nguồn FDI đăng ký, cụ thể là 49% năm 1997, 16% năm 1998 và 59% năm 1999,một phần là do khủng hoảng tài chính châu Á Năm nước đầu tư lớn nhất vàoViệt Nam đều từ khu vực châu Á và phải đối mặt với những khó khăn thực sự tạiquốc gia của mình Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh tại nước mình, các nhà
Trang 8đầu tư này đã buộc phải huỷ hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nước ngoài.Cuộc khủng hoảng cũng buộc các nhà đầu tư phải sửa đổi thấp đi chỉ tiêu mởrộng sang châu Á Cuộc khủng hoảng cũng đã dẫn đến việc đồng tiền của cácnước Đông Nam Á bị mất giá Việt Nam, do vậy, cũng trở nên kém hấp dẫn đốivới những dự án tập trung vào xuất khẩu Hơn nữa, các nhà đầu tư nước ngoàicũng nhận ra rằng các dự kiến về nhu cầu của thị trường đã bị thổi phồng Cácbức rào cản cho việc kinh doanh cũng trở nên rõ ràng hơn.
Giai đoạn 2000-2002: Giá trị FDI đăng ký tăng trở lại vào năm 2000 với
mức 25,8% và 2001 với mức 22,6%, nhưng vẫn chưa được hai phần ba so vớinăm 1996 FDI đăng ký tăng vào năm 2001 và 2002 là kết quả của dự án đườngống Nam Côn Sơn (2000) với tổng vốn đầu tư là 2,43 tỷ đô-la Mỹ, và Dự án XD-KD-CG Phú Mỹ (2001) với tổng vốn đầu tư là 0,8 tỷ đô-la Mỹ Năm 2002, FDIđăng ký lại giảm xuống còn khoảng 1,4 tỷ đô-la Mỹ, đạt khoảng 54,5% của mứcnăm 2001
Giai đoạn 2002-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USDvượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 củaChính phủ, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu Nhìn chungtrong 5 năm 2001-2005, vốn FDI cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơnnăm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy
mô vừa và nhỏ Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn FDI vào nước ta đãtăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tưchủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệcao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụcao cấp v.v.) Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng FDI” thứ hai vào ViệtNam
Giai đoạn 2006 đến tháng 10/2008, tổng số vốn đầu tư từ nước ngoài vàoViệt Nam tăng mạnh Đặc biệt là năm 2008 có vốn đầu tư cao nhất và đạt mức kỉlục trong suốt 21 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, bất chấp những khó khănngắn hạn của nền kinh tế Việt Nam như lạm phát, suy thoái chứng khoán Cũngkhông làm chùn bước các nhà đầu tư và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn tiếptục đổ vào rất mạnh, cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư vào tương lai dài hạn ởnền kinh tế Việt Nam
Bảng số liệu vốn đầu tư nước ngoài từ năm 2001 đến tháng 10/2008
Năm Tổng số vốn đầu tư(tỷ USD) Tỷ lệ tăng so với năm2001 (lần)
Trang 92.1.2 Đánh giá tổng quát hoạt động của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trong 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phầnđáng kể trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổnggiá trị doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tíchcực vào ngân sách và tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động Đồngthời, tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngàycàng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước và thực sự trở thành bộphận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Từ mức đóng góp trong thời kỳ 2001-
2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6% GDP Riêng năm 2005, khu vực đầu
tư nước ngoài đóng góp khoảng 15,5% GDP, cao hơn mục tiêu đề ra tại Nghịquyết 09 (15%) Trong hai năm 2006 và 2007 khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài đóng góp trên 17% GDP Trong giai đoạn 2001-2005 tổng giá trị doanh thuđạt 77,4 tỷ USD (trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 34,6 tỷ USD,chiếm 44,7% tổng doanh thu), tăng gấp 2,8 lần so với 5 năm 1996-2000 Tronghai năm 2006, 2007 tổng giá trị doanh thu đạt 69 tỷ USD, trong đó giá trị xuấtkhẩu (trừ dầu thô) đạt 28,6 tỷ USD, chiếm 41% tổng doanh thu
Không kể dầu thô, giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoàicũng gia tăng nhanh chóng Trong 5 năm 2001-2005, giá trị trên đạt hơn 34,6 tỷUSD, cao gấp 3 lần so với thời kỳ 5 năm trước, trong đó năm sau tăng hơn nămtrước, năm 2002 tăng 25%, năm 2003 tăng 38%, năm 2004 tăng 39%, năm 2005đạt 11,2 tỷ USD, tăng 26%, đóng góp 35% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của
cả nước; tính cả dầu thô tỷ lệ này là 56% Năm 2006 giá trị xuất khẩu của khuvực có vốn đầu tư nước đạt (nếu tính cả dầu thô) đạt 12,6 tỷ USD, chiếm trên57% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước Năm 2007, giá trị xuất khẩu của khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài đạt 19,7 tỷ USD, nếu tính cả dầu thô thì giá trị xuấtkhẩu là 27,3 tỷ USD, chiếm 56,8% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước 11 thángđầu năm 2008 khu vực đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 45% tổng kim ngạchxuất khẩu của cả nước
Bảng số liệu về tổng giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài
Năm Tổng giá trị xuất khẩu( tỷ USD ) Tỷ lệ tăng so với 2001( lần )
Trang 10đã góp phần tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao độngtheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài đã góp phần tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lựccủa nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác Về cơ cấu vùng, đầu tư nướcngoài tập trung chủ yếu ở các vùng kinh tế trọng điểm đã góp phần làm cho cácvùng này thực sự là vùng kinh tế động lực để lôi kéo sự phát triển chung và cácvùng phụ cận Sự có mặt tại Việt Nam của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnhtranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như phương thức kinhdoanh Thông qua đầu tư nước ngoài, nhiều nguồn lực trong nước như lao động,đất đai, lợi thế địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn,các nguồn lực được phân bổ hợp lý hơn.
Tuy vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong thời gian qua nhưng vẫn cònchưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là vốn thực hiện còn thấp so với vốncam kết Còn có sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ, nhất là đầu tư vàolĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản thực phẩm còn ít; đầu tư nước ngoàichủ yếu vẫn tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm; ngành công nghiệp phụ trợchưa thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài Việc chuyển giao công nghệ tiêntiến trong hoạt động đầu tư nước ngoài cũng còn những hạn chế do số dự án côngnghệ cao chưa nhiều, một số dự án còn sử dụng công nghệ lạc hậu, đặc biệt là ởthời gian đầu, chưa đảm bảo quy chuẩn về bảo vệ môi trường Ngoài ra, ở một sốnơi, lương của người lao động còn thấp, điều kiện làm việc không bảo đảm, chưatương xứng với đóng góp của người lao động Đó là những tồn tại mà chúng tacần phải tập trung giải quyết trong thời gian tới
2.2 Tác động của khu vực đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế
2.2.1 Những mặt tích cực
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vai tròquan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng độngnhất
Về mặt kinh tế: