1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế có vốn đầu tư nước NGOÀI và tác ĐỘNG của nó đối với CỦNG cố QUỐC PHÒNG ở TỈNH ĐỒNG NAI

80 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 789,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế xã hội nước ta, bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng, nền kinh tế nước ta có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn khác nhau, số lượng TPKT và tên gọi của các thành phần kinh tế, có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, chính thức đưa kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thành một TPKT TPKT thứ 6 của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Đây là một vấn đề mới mẻ cả về mặt lý luận và thực tiễn, cần được nghiên cứu làm rõ.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội nước ta, bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng, nền kinh tế nước ta có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy nhiên, trong từng giai đoạn khác nhau, số lượng TPKT và tên gọi của các thành phần kinh tế, có

sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, chính thức đưa kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thành một TPKT- TPKT thứ 6 của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta Đây là một vấn đề mới mẻ cả về mặt lý luận và thực tiễn, cần được nghiên cứu làm rõ.

Qua hơn 15 năm TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, từng bước hình thành, phát triển và ngàycàng khẳng định vai trò quan trọng của mình đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong

sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Hiện nay, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, đã có mặt ởhầu hết các tỉnh, thành trong cả nước Trong đó, Đồng Nai là một trong những tỉnh, thành phố pháttriển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài rất mạnh mẽ, sự phát triển này đã có những tác động tới mọi mặtcủa đời sống xã hội và củng cố quốc phòng Bên cạnh những tác động tích cực, TPKT này, đã bộc lộnhững tác động không tích cực đối với sự nghiệp CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Đây là những vấn

đề lý luận và thực tiễn hết sức phức tạp, cần có sự nghiên cứu, đánh giá sâu sắc, toàn diện, trên cơ sở

đó xác định các quan điểm chỉ đạo và giải pháp phù hợp nhằm phát huy những tác động tích cực vàhạn chế tác động không tích cực, đảm bảo kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững, quốc phòng

luôn vững chắc Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài: “Phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và tác động của nó đối với củng cố quốc phòng ở tỉnh Đồng Nai” làm đối

tượng nghiên cứu của luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Xung quanh TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Những kết quả nghiên cứu này, đã được đăng tải trên các tạp chí, báo như: “Thấy gì qua thanh tra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai” của tác giả: Huỳnh Văn Tâm, Tạp chí Hoạt động khoa học số

4 năm 2000; “Để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi” Tạp chí Giáo dục lý luận tháng 7 năm 2002; “Vai trò, vị trí của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta” của tác giả: Trần Nguyễn Tuyên,

kỷ yếu hội thảo khoa học (Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam tháng

Trang 2

2-2004); “Những vấn đề về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” của Hoàng Hải, Tạp chí Cộng sản số 7 tháng 4 năm 2004 v.v…

Trong các công trình đó, các tác giả đã từng bước làm rõ vị trí, vai trò cũng như thực trạng của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài và đưa ra những giải pháp cơ bản thu hút vốn đầu

tư nước ngoài, nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội nước ta phát triển Nhưng vấn đề

“phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài và tác động của nó đối với CCQP ở tỉnh Đồng Nai” chưa có công trình nào nghiên cứu và công bố.

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Đề tài tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai và tác động của nó đối với CCQP trên địa bàn tỉnh; đề xuất những quan điểm chỉ đạo, giải pháp cơ bản nhằm phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tác động không tích cực của TPKT này đối với phát triển kinh tế -

xã hội và CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

- Nhiệm vụ của luận văn:

+ Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai.

+ Phân tích sự tác động của phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đến CCQP ở tỉnh Đồng Nai.

+ Đề xuất quan điểm chỉ đạo, giải pháp cơ bản nhằm phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tác động không tích cực của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đối với phát triển kinh tế và CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Trang 3

Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về kinh tế nhiều thành phần ở nước ta và các quan điểm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.

Đề tài còn dựa vào các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai và những chủ trương, chính sách của UBND tỉnh Đồng Nai về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê, lôgíc, lịch

sử và một số phương pháp khác đang được sử dụng trong khoa học kinh tế.

5 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đối với CCQP ở tỉnh Đồng Nai Đồng thời, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo giảng dạy các bộ môn kinh tế chính trị XHCN và kinh tế quân sự trong các học viện và nhà trường quân đội.

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ

TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

1.1 Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai

1.1.1 Một số vấn đề lý luận về thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta

Từ khi hình thành, xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển, sự phát triển đó được biểu hiện rõ nét và năng động nhất ở lực lượng sản xuất Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các TPKT của nền sản xuất xã hội lần lượt xuất hiện và vận động biến đổi theo những chiều hướng khác nhau Có những TPKT không ngừng được mở rộng cả về quy mô và trình độ, nhưng cũng có những TPKT dần dần bị thu hẹp, do không còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trang 4

TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, đã có quá trình vận động và phát triển gần 15 năm qua ở nước ta Nhưng thuật ngữ về TPKT này thì mới xuất hiện từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam Tại Đại hội này Đảng ta khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các TPKT kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” [7, 96] Với quan điểm trên Đại hội Đảng lần thứ IX đã chính thức bổ sung thêm thành phần “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” [7, 99], là một trong sáu TPKT đang tồn tại

ở nước ta hiện nay Vấn đề đặt ra ở đây là, cơ sở lý luận và thực tiễn của TPKT này như thế nào ?

Xét về góc độ lý luận, trong di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen để lại, các ông chưa đề cập tới TPKT có vốn đầu tư nước ngoài.

Đối với V.I.Lênin, khi nghiên cứu CNTB trong giai đoạn độc quyền đã kết luận bản chất kinh tế của CNTB độc quyền là sự thống trị của các tổ chức độc quyền, bản chất đó được biểu hiện ở 5 đặc điểm kinh tế cơ bản, “xuất khẩu tư bản” [18, 454] là một đặc điểm điển hình trong 5 đặc điểm đó.

V.I.Lênin viết: “Điển hình của chủ nghĩa tư bản cũ, trong đó sự cạnh tranh tự do còn hoàn toàn thống trị, là việc xuất khẩu hàng hoá Điểm điển hình của chủ nghĩa tư bản mới nhất, trong

đó các tổ chức độc quyền thống trị, là việc xuất khẩu tư bản” [18, 455].

Như vậy, có thể hiểu rằng trong giai đoạn CNTB độc quyền, CNTB “bóp nặn” thị trường thế giới thông qua nhiều con đường, biện pháp, trong đó XKTB là con đường, biện pháp quan trọng nhất.

XKTB là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng

dư và các nguồn lợi khác ở các nước nhập khẩu tư bản Thực chất của XKTB theo quan điểm của V.I.Lênin: Là xuất khẩu quan hệ sản xuất tư bản ra nước ngoài, V.I.Lênin viết: “Nếu chủ nghĩa tư bản có phát triển được nông nghiệp là lĩnh vực hiện nay, ở mọi nơi, vẫn còn hết sức lạc hậu so với công nghiệp; nếu chủ nghĩa tư bản có thể nâng cao được mức sống của quần chúng nhân dân là những người hiện nay, ở khắp các nước, vẫn còn thiếu ăn và nghèo khổ, mặc dù kỹ thuật tiến bộ nhanh, - thì không thể nào có chuyện tư bản thừa được” “Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là chủ nghĩa tư bản, số “tư bản thừa” vẫn còn được dùng không phải là để nâng cao mức sống của quần chúng trong nước đó, vì như thế thì sẽ đi đến kết quả là làm giảm bớt lợi nhuận của bọn tư bản, mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư

Trang 5

bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu” [18, 456] Như vậy, mục đích của XKTB

là để tăng thêm lợi nhuận cho các tổ chức độc quyền Nó xuất hiện trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc như một tất yếu kinh tế, bắt nguồn từ hai nguyên nhân chủ yếu sau đây Một là, quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ ở một số nước tư bản phát triển đã tạo ra một khối lượng tư bản kếch sù và một bộ phận đã trở thành “tư bản thừa” do chưa tìm ra nơi đầu tư có lợi hơn đầu tư trong nước “Tư bản thừa” ở đây là có tính chất tương đối, có nghĩa thừa so với nơi đầu tư có lợi nhuận thấp ở trong nước, nếu đầu tư ra nước ngoài sẽ thu được lợi nhuận cao hơn, chứ không phải “thừa” trong nâng cao mức sống của quần chúng nhân dân lao động Số “tư bản thừa” này, các nước tư bản phát triển đang tìm nơi đầu tư có lợi nhất.

Hai là, các nước đang phát triển, do phải CNH, HĐH nhưng thiếu vốn và công nghệ Những nước này lại có nguồn nguyên liệu, tài nguyên dồi dào chưa được khai thác, tiền công rẻ; giá thuê đất thấp Đầu tư vào những nước này sẽ có lợi nhuận cao hơn nhiều so với đầu tư ở chính quốc Như vậy, một bên có nhu cầu XKTB, còn một bên có nhu cầu nhập khẩu, đã làm cho XKTB trở thành tất yếu khách quan.

V.I.Lênin viết: “Sở dĩ cần phải xuất khẩu tư bản là vì trong một số ít nước chủ nghĩa tư bản đã “quá chín” và tư bản thiếu địa bàn đầu tư “có lợi” “Sở dĩ có thể xuất khẩu được tư bản là vì một số nước lạc hậu đã bị lôi cuốn vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản thế giới, những tuyến đường sắt chính đã được xây dựng… đã có những điều kiện tối thiểu để phát triển công nghiệp v.v ” [18, 456-457].

Từ hai nguyên nhân cơ bản trên cho thấy XKTB diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới Thực tiễn lịch sử đã cho chúng ta thấy, ở từng giai đoạn phát triển khác nhau của CNTB, xuất khẩu tư bản có những biểu hiện khác nhau Vào những thập kỷ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất khẩu tư bản chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển chiếm khoảng 70% Từ những 50 năm mươi đến những năm 90 của thế kỷ XX xuất khẩu tư bản lại chủ yếu diễn ra giữa các nước tư bản phát triển với nhau chiếm khoảng 70% Những năm gần đây XKTB có chiều hướng tăng từ các nước tư bản phát triển sang các nước đang phát triển Đồng thời các nước đang phát triển cũng đang từng bước XKTB sang các nước tư bản phát triển Nguyên nhân của những hiện tượng trên.

Trước hết, bắt nguồn từ xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, xu hướng khách quan đó đã và đang lôi cuốn tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo phải tham gia vào quá trình này Trong quá trình tham gia toàn cầu hoá, không chỉ các nước

Trang 6

nghèo phụ thuộc vào nước giàu về vốn, công nghệ và quản lý cũng như thị trường, mà bản thân các nước giàu cũng cần vốn công nghệ và thị trường của các nước khác để bổ sung cho những khiếm khuyết của nền kinh tế nội địa.

Thứ hai, xuất phát từ lợi thế so sánh giữa các quốc gia, mỗi nước có những thế mạnh

và lợi thế riêng mà nước khác không có được, do điều kiện khách quan đem lại Có những nước có lợi thế về tài nguyên khoáng sản, có nước có lợi thế về lao động, về thị trường, có những nước có lợi thế về công nghệ v.v Muốn có được những vấn đề đó họ phải thông qua XKTB dưới dạng đầu tư trực tiếp, nhằm tận dụng tối ta những lợi thế so sánh trong bước đường phát triển của mình.

Thứ ba, từ nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội: như việc làm, thu nhập v.v của các tầng lớp dân cư ở nhiều nước trên thế giới, đang đặt ra một cách trực tiếp và hết sức gay gắt Nếu không có các biện pháp tận dụng vốn, công nghệ, kinh nghiệm của nhau, thì bản thân từng nước dù giàu đến mấy cũng không thể tự giải quyết được Vì thế, trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế quốc tế, XKTB thể hiện ở rất nhiều đối tượng, nhiều quy mô và nhiều dòng vốn xuôi ngược Có những nước vừa là chủ XKTB, song cũng lại là nước tiếp nhận XKTB như: Mỹ, Tây

Âu v.v chính sự xuất hiện nhiều đối tượng, nhiều trình độ, nhiều quy mô và các luồng tư bản,

là cơ sở, là nguồn gốc kinh tế dẫn đến hình thành khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở các nước nhập khẩu tư bản.

Ngày nay, xuất hiện luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - là một nguồn lực quan trọng để các nước có thể khai thác các nguồn nội lực phát triển kinh tế - xã hội, cũng như chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là: Đưa tư bản ra nước ngoài, trực tiếp tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận ở các nước nhận đầu tư Như vậy, xét về bản chất, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức XKTB, điều mà V.I.Lênin đã nghiên cứu và kết luận XKTB dưới dạng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở thời kỳ trước năm 1920, thực chất là khoản chi phí mà các nước tư bản bỏ ra

để củng cố địa vị trong chiếm hữu thuộc địa, nhằm mục tiêu lợi nhuận bằng cách bóc lột vơ vét ở các nước thuộc địa.

Tuy vậy, sự nhìn nhận, đánh giá của V.I.Lênin đối với XKTB dưới dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có những thay đổi khi tình hình, điều kiện cho phép tận dụng nguồn vốn XKTB vào khai thác các nguồn lực, lợi thế trong nước phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN Nước Nga tiến lên CNXH trong điều kiện một nước kinh tế chưa qua giai đoạn tư bản, sản xuất nhỏ là phổ biến, lại bị các thế lực đế quốc bao vây, chống phá, V.I.Lênin đề ra chính

Trang 7

sách kinh tế mới để xây dựng CNXH ở nước Nga Xô Viết Trong chính sách kinh tế mới, V.I.Lênin chủ trương sử dụng nhập khẩu tư bản dưới hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài từng bước hình thành, sử dụng CNTB nhà nước ở nước Nga dưới nhiều hình thức (tô nhượng, hợp tác xã, đại lý cung tiêu và cho các nhà kinh doanh tư bản thuê xí nghiệp hoặc hầm mỏ, khu rừng…) Trong đó hình thức tô nhượng là một biện pháp quan trọng nhất để giải quyết khó khăn và thúc đẩy kinh tế phát triển Ông chủ trương: “phải sử dụng CNTB nhà nước là cần thiết

là có lợi là điều đáng mong đợi” [19, 268] Nhờ có chính sách đúng đắn, sáng tạo, nước Nga Xô Viết đã nhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội của những năm sau nội chiến (1918 – 1921) Chủ trương này không chỉ có ý nghĩa đối với nước Nga lúc bấy giờ, mà còn có giá trị đối với nước đi lên CNXH từ một nước tiểu nông lạc hậu như nước ta.

Qua phân tích những vấn đề cơ bản trong lý luận XKTB của V.I.Lênin, một mặt đã phác hoạ lên bức tranh khá rõ nét về nguồn gốc, và mục đích của đầu tư trực tiếp nước ngoài Mặt khác, cũng cho ta thấy, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một nhân tố có khả năng thực hiện vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các bên có quan

hệ trực tiếp đến hoạt động này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, lúc sinh thời, Người luôn quan tâm đến việc mở rộng quan hệ quốc tế, coi đó là một trong những yếu tố, biện pháp quan trọng không chỉ tranh thủ, khai thác các nguồn ngoại lực phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là yếu tố, biện pháp hữu hiệu để tăng cường bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Năm 1919 trong một bài báo đăng trên tờ báo Humanite, người viết: “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế, và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường” [24, 9-10].

Tư tưởng này về sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh cụ thể hoá trong bức thư gửi cho Liên hợp quốc với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Người viết: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho sự đầu tư của các nước tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình, Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán quá cảnh quốc tế” [25, 470].

Với Hồ Chí Minh, ngay cả với những nước là kẻ thù xâm lược Việt Nam, Người cũng chú trọng phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với họ.

Trang 8

Người viết: “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp Những người Pháp tư bản hay công dân, thương gia hay tri thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn Song nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt những người Pháp quân phiệt” [27, 587].

Những tư tưởng trên của Hồ Chí Minh: Một mặt, nhằm mở cửa thu hút vốn, kỹ thuật

và học hỏi kinh nghiệm làm ăn tiên tiến của nước ngoài phục vụ nhiệm vụ kiến thiết nước nhà; mặt khác, tạo mối quan hệ thân thiện, thêm bạn bớt thù, tạo môi trường phát triển kinh

tế và bảo vệ độc lập dân tộc trước hoạ xâm lăng của kẻ thù Những tư tưởng đó, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Tuy nhiên, XKTB dưới dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay có nhiều điểm khác nhau về động lực, nội dung và quy mô Đầu tư trực tiếp hiện nay không chỉ đơn thuần vì lợi nhuận, mà nó đã trở thành chiến lược hàng đầu của các công ty xuyên quốc gia Một mặt, tìm nơi đầu tư có lợi, khai thác các nguồn nguyên liệu rẻ cũng như mở rộng thị trường, từ

đó phát huy năng lực sản xuất của công ty, nhằm thu về những khoản lợi nhuận lớn hơn đầu tư ở chính quốc Đồng thời thông qua xuất khẩu tư bản dưới dạng đầu tư trực tiếp trực tiếp mà các đối tác tận dụng các lợi thế so sánh của nhau về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh cũng như thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho các bên tham gia hoạt động đầu tư và kêu gọi đầu tư Mặt khác, nếu sự kiểm soát không chặt chẽ của các nước kêu gọi đầu tư, thì sẽ thực hiện những thủ đoạn đẩy công nghệ lạc hậu, những ngành sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang nước khác, đặc biệt các nước kinh tế chậm phát triển gây thiệt hại cả trước mắt và lâu dài cho các tiếp nhận đầu tư Trong điều kiện, đối tượng, chủ thể tham gia hoạt động đầu tư trực tiếp đã có sự mở rộng, không chỉ

có các nước tư bản phát triển, mà còn có các nước đang phát triển, các nước XHCN nói lên

sự phong phú đa dạng của các dòng vốn đầu tư hiện nay Nhưng, chi phối phần lớn và chủ yếu hoạt động đầu tư trực tiếp hiện nay, vẫn là các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia, điều này phần nào cho thấy rõ nguồn gốc của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài.

Ở nước ta, trước khi có luật đầu tư nước ngoài năm 1987, đã từng có các nguồn vốn đầu tư từ Liên Xô (cũ), từ các nước XHCN Đông Âu, từ Trung Quốc… Sự đầu tư này, chủ yếu mang tính hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em.

Năm 1977, tức chỉ sau một năm ngày đất nước thống nhất, các nhà lãnh đạo cao nhất của nước ta lúc đó đã có một quyết định, ban hành điều lệ đầu tư nước ngoài ở Cộng hoà

Trang 9

XHCN Việt Nam, kèm theo Quy định 115/CQ ngày 19/4/1977 của Chính Phủ gọi tắt là “Điều lệ đầu tư 77”.

Việc ban hành điều lệ này, đã có nhiều ý kiến thắc mắc Vì sao một dân tộc đã từng chịu bao đau khổ, hy sinh xương máu trong suốt nhiều thập kỷ đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc, lại có thể khuyến khích tư bản nước ngoài vào kinh doanh trên đất nước mình? Liệu đất nước có tránh khỏi sự lũng đoạn của các tập đoàn tư bản nước ngoài hay không? Số phận người lao động, những chủ nhân của đất nước sẽ lại bị bóc lột ra sao?

Với các nước XHCN (Liên Xô và Đông Âu) lúc đó, với quan niệm đầu tư nước ngoài là một hình thức bóc lột của chủ nghĩa thực dân mới, đã không dấu nghi ngại của mình về việc Việt Nam đi chệch hướng XHCN.

Còn các tập đoàn tư bản nước ngoài đón nhận điều lệ đầu tư 77 như một “tín hiệu tích cực cần xem xét” Song điều lệ đầu tư 77 đã không thể thực hiện được Vì vào cuối năm 1977 xảy ra chiến sự ở biên giới Tây Nam (sự kiện Cămpuchia) và tiếp theo là chiến tranh biên giới phía Bắc Cánh cửa mở rộng hợp tác kinh tế với các nước tư bản phát triển lại bị khép lại và kéo dài cho đến cuối những năm thập kỷ 80.

Tháng 12 năm 1987 Luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua, là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc mở rộng, đẩy mạnh thu hút vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài và từng bước hình thành, phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài ở nước ta Cho đến nay, Luật đầu tư nước ngoài đã qua 4 lần sửa đổi bổ sung vào các năm (1990, 1992, 1996 và 2000), Luật được hoàn thiện hơn, phù hợp hơn tạo

sự thông thoáng, hành lang pháp lý kích thích thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài, phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với tốc độ nhanh trên phạm vi cả nước, và ở tỉnh Đồng Nai Sau hơn 15 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, tính đến 30 tháng 6 năm 2003, cả nước đã có 4341 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép đầu tư với tổng vốn đăng ký là 42,34 tỷ USD, bình quân mỗi năm thu hút 290 dự án, với số vốn đăng ký là 2,86 tỷ USD Các dự án cấp giấy phép đã tạo ra 3449 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động, tỷ trọng GDP của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng gấp 2 lần từ 6,3% năm 1995 lên 13,91% năm 2002 và vượt 14% trong năm 2003 Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 25% năm 1995 lên 37% trong tám tháng đầu năm 2003 [15, 48] Đây là những con số không nhỏ

Trang 10

đối với một quốc gia vừa mới chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Đánh giá về vai trò của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, báo cáo tổng kết của Bộ Kế hoạch và đầu tư chỉ rõ: “Sau hơn 10 năm hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí) và đóng góp 12% GDP của cả nước Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút trên 35 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp làm việc trong các ngành xây dựng thương mại, dịch vụ liên quan; góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý và mở rộng thị trường” [14, 31].

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, cho thấy TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay Do đó phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta trong những năm qua và những năm tiếp theo là cần thiết khách quan.

Chính vì vậy, Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ trương:

“Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài” [7, 99].

Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng so với các kỳ đại hội trước về vị trí, vai trò của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Thể hiện chủ trương nhất quán của Đảng, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn ngoại lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý v.v Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững, kết hợp chặt chẽ giữa nội lực và ngoại lực để tạo thành nguồn lực tổng hợp cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước.

Đại hội IX của Đảng còn chỉ rõ: “Thêm TPKT có vốn đầu tư nước ngoài” nhằm phản ánh đúng thực tế diễn ra ở nước ta trong những năm gần đây, bộ phận kinh tế này chiếm tỷ trọng ngày càng tăng, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế TPKT này không đồng nhất với

Trang 11

các TPKT trong nước cả về mục tiêu và cơ chế vận hành, cần có chính sách thu hút mạnh hơn, cần được quan tâm theo dõi, phân tích, điều chỉnh để đảm bảo mối tương quan hợp lý với các TPKT trong nước và lợi ích của đất nước” [8 145]

Đảng ta coi trọng TPKT có vốn đầu tư nước ngoài cũng là một biểu hiện của việc ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, trong khi coi trọng xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN Quan điểm trên của Đảng có ý nghĩa quan trọng, không chỉ trong việc thống nhất nhận thức, mà quan trọng hơn là cơ sở cho việc hoạch định chính sách phù hợp đối với TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, nhằm phát huy hơn nữa vị trí, vai trò tích cực của nó vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Đồng thời là quan điểm chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương thực hiện tốt chủ trương tăng cường thu hút, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, để khai thác tốt các nguồn nội lực xây dựng ngành mình, địa phương mình mạnh về kinh tế vững về quốc phòng, an ninh.

Nhằm tạo tiền đề cho việc nghiên cứu phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta nói chung và ở Đồng nai nói riêng, tác giả đưa ra quan niệm: TPKT có vốn đầu tư

nước ngoài, là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, có chủ sở hữu là người nước ngoài (nhà nước hoặc tư nhân) đầu tư vốn, công nghệ, thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam; trực tiếp tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, tuân thủ pháp luật Việt Nam.

Quan niệm trên đã chỉ rõ những đặc trưng cơ bản của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài,

cơ sở để phân biệt với các TPKT khác ở trong nước, đặc biệt là với TPKT tư bản nhà nước

mà lâu nay chúng ta vẫn còn lẫn lộn, cụ thể:

- Xác định rõ vị trí của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay Chủ thể của các doanh nghiệp thuộc TPKT này là các nhà đầu tư nước ngoài, có thể là nhà nước hoặc tư nhân từ các nước tư bản hoặc các nước XHCN.

- Về sở hữu, toàn bộ vốn cơ sở vật chất trang thiết bị của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Theo đó quyền tổ chức quản lý điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm cũng thuộc chủ đầu tư nước ngoài Và như vậy người công nhân Việt Nam lao động trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là người lao động làm thuê cho chủ đầu tư nước ngoài và họ được trả lương sau khi đã lao động cho nhà đầu

Trang 12

tư nước ngoài Tuy nhiên, người lao động Việt Nam được pháp luật bảo vệ về quyền lợi, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm trong quá trình lao động ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Đồng thời các chủ đầu tư nước ngoài cũng được pháp luật Việt Nam bảo đảm về quyền sở hữu chính đáng, các quyền lợi hợp pháp và quy định trách nhiệm nghĩa vụ phải thực hiện theo pháp luật Việt Nam và giấy phép kinh doanh.

- Về loại hình doanh nghiệp: các doanh nghiệp thuộc TPKT có vốn đầu tư nước ngoài là những doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài và có thể liên kết liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các TPKT khác của nước ta.

Quan niệm trên còn chỉ rõ địa điểm và môi trường kinh doanh của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài là nằm trên lãnh thổ Việt Nam và có quan hệ mật thiết với các TPKT khác trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng với các TPKT khác trong kinh doanh và trước pháp luật của Nhà nước Việt Nam Đồng thời quan niệm trên về TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, cũng chỉ rõ mục đích của các chủ đầu tư nước ngoài là lợi nhuận – lợi nhuận là tiêu chí số một, cao nhất của các nhà đầu tư nước ngoài Song toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư phải hoàn toàn chịu trách nhiệm và họ phải làm tốt các điều khoản theo cam kết trong giấy phép đầu tư cũng như luật pháp Việt Nam đối với nhà nước Việt Nam và người lao động.

Phân tích những đặc trưng trên cho phép chúng ta phân biệt được sự khác nhau căn bản giữa TPKT có vốn đầu tư nước ngoài với TPKT tư bản nhà nước ở các đặc trưng cơ bản sau đây:

Về chủ thể, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài có chủ thể là các nhà đầu tư nước ngoài, nhà nước hoặc tư nhân có thể là từ các nước TBCN hoặc từ các nước XHCN (hiện nay Trung quốc có 51 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 147 triệu đô la) [17, 34] Còn TPKT tư bản nhà nước, chủ thể của TPKT này là sự phối hợp giữa nhà nước ta với

tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước.

Về sở hữu: kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có hình thức sở hữu hầu như tuyệt đối

là vốn của chủ đầu tư nước ngoài và chủ sở hữu không nhất thiết là nhà tư bản Còn kinh

tế tư bản nhà nước dựa trên hình thức sở hữu hỗn hợp về vốn giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước.

Về loại hình doanh nghiệp: kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, còn kinh tế tư bản nhà nước loại hình doanh nghiệp liên

Trang 13

doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước Việt Nam với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước.

Như vậy, sự phân tích quan điểm trên về TPKT có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ làm sáng tỏ về nguồn gốc mục đích của TPKT này, mà còn cho chúng ta cơ sở để phân biệt với các TPKT khác ở trong nước, đặc biệt là với TPKT tư bản nhà nước Sự phân biệt đó có

ý nghĩa quan trọng trong quán triệt và tổ chức thực hiện tốt hơn quan điểm của Đại hội Đảng IX về TPKT có vốn đầu tư nước ngoài Đồng thời, quan niệm trên kết hợp với quan điểm của Đảng về TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, là cơ sở lý luận tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi cả nước nói chung, tỉnh Đồng Nai nói riêng.

1.1.2 Phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai

1.1.2.1 Những đặc điểm chi phối quá trình phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai

Về đặc điểm địa lý, tự nhiên, xã hội, nhân văn Đồng Nai Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, có diện tích tự nhiên 5894,7 km 2 [32, 1901], trong giới hạn 10 0 31’ - 11 0 35’ vĩ

độ Bắc và 106 0 45’ - 107 0 35’ kinh độ Đông, phía bắc giáp Lâm Đồng, phía Nam giáp Bà Rịa

- Vũng Tàu, phía đông giáp Bình Thuận, phía Tây giáp Bình Phước, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính trực thuộc 9 huyện, thị xã Long Khánh và Thành phố Biên Hoà - trung tâm Kinh tế - Chính trị - Văn hoá, là tỉnh lỵ của Đồng Nai cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km về hướng đông bắc.

Đồng Nai là một vùng trung du chuyển tiếp từ cao nguyên nam trung bộ đến đồng bằng sông Cửu Long Nằm ở độ cao trên dưới 100m so với mặt nước biển và độ dốc phổ biến nhỏ hơn 8 0 Địa hình gồm bốn dạng chính: 1 dạng núi thấp, sắp xếp không theo quy luật, thỉnh thoảng nhô lên những đỉnh khá cao (Đỉnh Chứa Chan 837 m , Mây Tàu 700 m ); 2 Dạng đồi, là địa hình đặc trưng của Đồng Nai với độ cao dao động từ 45 - 200 m , bao gồm các đồi sắp xếp theo kiểu lượn sóng hoặc bát úp, xen kẽ là những thung lũng tương đối rộng, 3 dạng bậc thềm, được cấu tạo bởi phù sa cổ, cao 40 - 45 m ; 4 Dạng Đồng bằng, bao gồm đồng bằng chạy theo các triền sông và đồng bằng hạ lưu các sông Trên địa bàn Đồng Nai có 40 sông suối lớn nhỏ, trong đó có nhiều sông lớn như: Sông Đồng Nai; Sông Thị Vải; Sông La Ngà; Sông Đồng Tranh và Sông Lá Buông v.v

Khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Đồng Nai có đặc trưng là nóng đều quanh năm, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,4 - 27,20 0c Khí hậu ở khu vực này chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa

Trang 14

mưa và mùa khô, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình cả năm từ 1800 - 1860 mm , là một trong những địa phương ít có lốc và bão, độ ẩm trung bình khoảng 80%.

Đồng Nai là vùng đất cổ, các nhà khảo cổ học và nhân chủng học đã tìm thấy ở hang Gòn, Dốc Mỏ những di chỉ đồ đá cũ; ở Cầu Síu, Suối Linh di chỉ đồ đá mới; ở Bình Đa có 37 đoạn đàn đá và ở Dốc Chùa, Cái Vạn nhiều khuôn đúc đồng có niên đại cách đây 3150 năm Tuy nhiên vùng đất này chỉ được khai phá khoảng hơn 300 năm, khi dòng người đông đảo với sức mạnh Tây Sơn từ phía Bắc tiến vào, dẹp yên giặc giữ, khai khẩn đất hoang, mở mang bờ cõi Họ đem theo nghề trồng lúa nước, đóng tàu thuyền, lập làng trên những khu đất dọc theo sông Đồng Nai Từ buổi ấy Đồng Nai sinh sôi, hưng thịnh dần lên và không bao lâu đã trở thành niềm kiêu hãnh cho những ai ít nhất được một lần đặt chân trên mảnh đất này.

“Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”.

Trên địa bàn Đồng Nai hiện có 38 dân tộc sinh sống, trong đó đông nhất là người kinh chiếm 90% dân số, người Hoa là 5,3% dân số, còn lại là các dân tộc ít người khác Do đó văn hoá ở Đồng Nai rất đa dạng, phong phú là tỉnh có đông tín đồ của những tôn giáo lớn: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi Giáo… Người theo đạo ở Đồng Nai chiếm 52% dân số Trong đó thiên chúa giáo có 718.255 giáo dân, chiếm 32,64% dân số của tỉnh và 12% tín đồ thiên chúa giáo cả nước Phật giáo có 419.268 tín đồ, chiếm 19,05% dân số Các đạo Tin Lành, Cao Đài khoảng 10.000 tín đồ [5, 506].

Về đặc điểm kinh tế - xã hội Chính quá trình kiếm tạo địa chất lâu dài đã hình thành vùng đất trù phú về thiên nhiên, phong cảnh, giàu về tài nguyên khoáng sản.

- Tài nguyên đất, với địa hình 4 dạng chính và có 10 nhóm đất chính trong đó bao gồm

cả địa hình đồng bằng, địa hình bậc thềm và địa hình rừng núi Có nhiều khu vực có nền đất cứng phù hợp cho việc phát triển các khu đô thị và xây dựng KCN, nhà máy, xí nghiệp thuận lợi giảm được chi phí xây dựng cơ bản Có khoảng 22.9000 ha đất bazan, chất đất và khí hậu tốt phù hợp với các cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, tiêu, điều, bông… và cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả như xoài, sầu riêng, chôm chôm, măng cụt v.v phục vụ, đảm bảo vùng nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến.

- Rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của Đồng Nai, theo số liệu của Cục Thống kê Đồng Nai tính đến ngày 31/11/2003 Diện tích trồng rừng năm 2002 là 1734 ha; diện tích

Trang 15

trồng rừng tập trung 1245 ha; diện tích chăm sóc rừng là 1903 ha; diện tích tu bổ rừng 6642

ha Theo tài liệu kiểm kê rừng năm 2002 cho thấy rừng Đồng Nai có trữ lượng gỗ trên 4,6 triệu m 3 trong đó có nhiều loại gỗ quý như: Cẩm lai, sao, gụ, gõ, mật, giáng hương, mun, sến… ngoài ra rừng còn khoảng 55 triệu cây tre, nứa, nhất là các loại cây dược liệu như: Thổ sâm, sa nhân, ý dĩ, thiên niên kiện và hàng trăm loại thực vật, động vật sinh sống như: Hươu, Nai, Voi, Khỉ, Vượn, Gấu, Sơn Dương, Bò Tót, Bò Xám, Chồn, Nhím, Kỳ Đà v.v Đáng chú ý là ở vùng núi phía Bắc tỉnh giáp Lâm Đồng và Bình Phước có khu vườn quốc gia Cát Tiên lớn nhất Việt Nam và là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới với diện tích 73.878 ha, trong đó Đồng Nai là phần chính vì nới đây có khu rừng cấm Nam Cát Tiên rộng 36600 ha Theo tài liệu nghiên cứu khảo sát bước đầu cho thấy trong rừng quốc gia Nam Cát Tiên có tới 185 loài thực vật thuộc 73 họ, 133 giống Trong đó 54 loài gỗ quý,

24 loại cây thuốc, 8 loại chứa vitamin, 11 loại cây dầu Có 62 loài thú rừng thuộc 25 họ, 22 loài bò sát thuộc 12 họ, 121 loài chim thuộc 43 họ Nơi đây còn là khu du lịch sinh thái hấp dẫn khu khách trong nước và nước ngoài…

- Tài nguyên nước:

Đồng Nai có nguồn tài nguyên nước dồi dào, cả trên mặt đất và nước ngầm Nước trên mặt đất thể hiện ở hệ thống 40 sông suối lớn nhỏ, hồ, đầm dày đặc và phân bố tương đối đều ở các vùng Sông Đồng Nai là một trong những sông lớn của nước ta, dài 450 km, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh, đoạn chảy qua Đồng Nai 290 km với lưu lượng 485

m 3 /giây Hệ thống sông ở Đồng nai có tổng lưu lượng nước 23 tỷ m 3 /năm Tính chung, tài nguyên nước mặt đất đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt của dân cư cả trước mắt và lâu dài Đồng thời còn là những huyết mạch giao thông thuỷ thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá, giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa các vùng trong tỉnh cũng như với tỉnh bạn trong khu vực và với thành phố Hồ Chí Minh Nguồn nước bề mặt dồi dào, sông ngòi nhiều thác nghềnh là nguồn thuỷ năng lớn thuận lợi cho xây dựng các nhà máy thuỷ điện góp phần đảm bảo điện năng phục vụ phát triển các ngành kinh tế công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ và phục vụ đời sống nhân dân Thực tế

ở Đồng Nai đã xây dựng nhà máy thủy điện Trị An lớn thứ 2 trong cả nước.

Nguồn nước ngầm ở Đồng nai cũng tương đối dồi dào, hiện nay đã tìm thấy nước ngầm ở 3 vùng: vùng phía Bắc tỉnh, nước ngầm ở độ sâu 5 - 20 m với lưu lượng

40 - 50m 3 /giờ; Vùng phía tây tỉnh và dọc theo sông Đồng Nai nước ngầm ở độ sâu 20 mét với lưu lượng 30 - 40 m 3 /giờ (riêng khu vực ven sông Đồng Nai chỉ ở độ sâu 2,5 -

Trang 16

3m với lưu lượng 5 - 10 m /giờ); vùng phía Đông và Đông Nam tỉnh ở độ sâu 20 - 40 mét với lưu lượng 3 - 6 m 3 /giờ.

Về tài nguyên khoáng sản, theo kết quả ban đầu của việc tìm kiếm và thăm dò cho thấy ở Đồng Nai có: vàng ở Hiếu Liêm; thiếc, kẽm, chì ở núi Chứa Chan; ở Bản Long có chì, kẽm và đá quý; quặng molipđen có ở núi Le, mangan có ở lưu vực sông Ray, Xuân Trường;

ở Xuân lộc còn tìm thấy 4 loại đá quý Zircon, Divin, Opan và Si0 2 Các loại mỏ đá khác nhau

và trữ lượng các mỏ tương đối lớn như: Trảng Bom, Sông Trầu có trữ lượng 10,3 triệu m 3 , Vĩnh Tây 9 triệu m 3 ; Hoá An 6 triệu m 3 ; Bình Hoà 6,7 triệu m 3 ; Tân Bửa trên 5,5 triệu m 3 , Tân

An trên 3,7 triệu m 3 ; Sóc Lu 100 triệu m 3 Ngoài ra, Đồng Nai còn có Cao Lanh ở Tân Phong với trữ lượng 290 nghìn tấn, than bùn ở Phú Bình 30 nghìn tấn, đất sét ở Thiện Tân 20 triệu

m 3 và Hoá An 1 triệu m 3 , cát sông Đồng Nai 63 triệu m 3

Cho đến nay, Đồng Nai chưa có đủ điều kiện để đánh giá đầy đủ các nguồn tài nguyên khoáng sản của mình, song bước đầu đã cho ta bức tranh khá toàn diện và phong phú, đa dạng về tài nguyên thiên nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành công nghiệp vật liệu, chế tạo, xây dựng cũng như các ngành công nghiệp chế biến mà các nhà đầu tư nước ngoài đang tìm kiếm.

Đồng Nai là cửa ngõ vào thành phố Hồ Chí Minh, là vùng địa linh nhân kiệt, vùng

có nhiều di tích lịch sử: Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh; văn miếu Trấn Biên, Chiến khu D… Đồng Nai còn là vùng có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, những khu du lịch hấp dẫn như: rừng nguyên sinh quốc gia nam Cát Tiên, khu du lịch Bửu Long … Đồng thời, Đồng Nai lại thuận lợi trong việc đi đến các vùng du lịch, nghỉ mát nổi tiếng như Đà Lạt, Mũi Né; Vũng Tàu; Thành phố Hồ Chí Minh… Hơn nữa, ở Đồng Nai lại có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối phát triển: hệ thống đường bộ có chiều dài 3.723 km, trong đó đường quốc lộ 220 km, đường tỉnh 212 km, đường giao thông nông thôn ở xã phường 2.071 km Toàn bộ 100% xã phường có đường ô tô đến trung tâm và các vùng chuyên canh, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân Cụ thể, quốc lộ 1A nối Đồng Nai với Thành phố Hồ Chí Minh và với Bình Thuận; quốc lộ 20 đi Lâm Đồng, Quốc lộ 51 nối Đồng Nai với Bà Rịa - Vũng Tàu; xa lộ Hà Nội Ngoài ra, còn có hệ thống đường liên tỉnh

số 2, 3, 16, 25 Đường sắt Bắc Nam đi qua Đồng Nai với chiều dài 87,5 km qua 11 ga Cảng hàng không có sân bay quân sự Biên Hoà, trong tương lai không xa sẽ xây dựng sân bay quốc tế ở huyện Long Thành Hệ thống cảng trên địa bàn tỉnh hình thành khá

đa dạng và hoàn chỉnh, ngoài các cảng Long Bình Tân, cảng Gò Dầu A, Gò Dầu B tiếp

Trang 17

nhận tàu 15 - 20 ngàn tấn, còn có các cảng chuyên dùng như: cảng Cogido, cảng Proconco, cảng VeĐan, cảng Phốt Phát … nâng công suất bốc xếp hiện nay trên 25 triệu tấn/năm Như vậy cả 3 loại hình giao thông thủy, bộ, hàng không ở Đồng Nai đều phát triển

và là điều kiện thuận lợi đảm bảo vận chuyển, lưu thông hàng hoá cũng như đi lại của nhân dân và du khách quốc tế đến làm ăn tại Đồng Nai.

Với cơ sở hạ tầng kinh tế đầy đủ và tiềm năng tài nguyên phong phú đa dạng, cộng thêm nguồn nhân lực dồi dào của Đồng Nai, với dân số năm 2001 là 2067,2 nghìn người, mật độ trung bình 350 người/km Nếu so với 64 tỉnh, thành phố thì Đồng Nai đứng thứ 22 về diện tích, thứ 7 về dân số và thứ 25 về mật độ dân số Dân số Đồng Nai tương đối trẻ và số lao động trong độ tuổi có khả năng lao động, chiếm trên 60% số dân Trình độ dân trí ngày càng được nâng lên, cụ thể: đến năm 2000 trên 99% trẻ em trong độ tuổi vào học lớp 1, gần 82% được học trung học cơ sở, 40% được học phổ thông trung học, số học sinh đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tăng gấn 2 lần so với năm 1996 (9.20) Toàn tỉnh hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập tiểu học.

Đời sống của nhân dân Đồng Nai những năm sau giải phóng, nhất là các vùng sâu, vùng xa còn khá thấp Nhiều năm sau đó, một số mặt được cải thiện, nhiều phương tiện sinh hoạt có khá hơn, song vẫn còn nghèo Từ khi Đảng thực hiện đường lối đổi mới toàn diện về kinh tế - xã hội, Đồng Nai đã có bước phát triển nhảy vọt, GDP bình quân đầu người từ năm (1991 - 1995) tăng 13%/năm; năm 1996 - 2000, GDP bình quân tăng 21,0%/năm, quy mô tổng sản phẩm quốc nội đến năm 2000 gấn 2 lần so với năm 1995; Công nghiệp tiếp tục phát triển với mức tăng trưởng cao (giá trị sản xuất tăng bình quân 20,3%/năm); Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, giá trị sản xuất tăng bình quân 4,2%/năm; Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 48,7%/năm, tỷ trọng hàng xuất khẩu qua chế biến đạt 70%, vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội VI tỉnh Đảng bộ Đồng Nai đề ra [9, 16] Những kết quả đạt được đã và đang làm cho đời sống nhân dân tỉnh Đồng Nai ngày một nâng lên Có được những thay đổi trong đời sống nhân dân tỉnh Đồng Nai là nhờ chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng ta về kinh tế - xã hội nên đã chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đẩy nhanh tiến độ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển KCN, điện, giao thông…

Tóm lại, trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Đảng và Chính phủ, kết hợp với những yếu tố về thiên thời, địa lợi, nhân hoà đã tạo cơ sở khách quan thuận lợi cho tỉnh Đồng Nai thu hút vốn đầu tư nước ngoài,

Trang 18

phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài trong những năm qua và thời gian tới Khi đánh giá về vấn đề này Đồng chí bí thư tỉnh uỷ Đồng Nai nêu rõ: “Đồng Nai hội tụ tương đối nhiều yếu tố và nguồn lực để phát triển công nghiệp, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trên địa bàn theo hướng CNH, HĐH” [10, 155] Hơn nữa việc tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài còn là đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và củng cố quốc phòng trên địa bàn chiến lược phía nam Tổ quốc.

Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Đồng Nai đã chủ động phát huy những lợi thế của mình, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư nước ngoài phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và CCQP trên địa bàn tỉnh Song Đồng Nai cũng là địa bàn mà các thế lực thù địch luôn nhòm ngó, tìm cách xâm nhập, phá hoại sự nghiệp phát triển kinh tế và quốc phòng, an ninh Đặc biệt

là chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta Vì vậy, cần có sự đánh giá đúng đắn vai trò của TPKT có vốn đầu

tư nước ngoài đối với quá trình phát triển kinh tế và CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

1.1.2.2 Vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đồng Nai

Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Đồng Nai đã nhận thức sâu sắc và nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Xuất phát từ tình hình thực tiễn, bằng sự năng động sáng tạo của tập thể lãnh đạo tỉnh và nhân dân lao động toàn tỉnh, trong những năm qua các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã không ngừng tăng lên làm xuất hiện và phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Phát triển PTKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai, là quá trình các chủ đầu tư nước ngoài tăng vốn đầu tư, công nghệ hiện đại, trình

độ quản lý sản xuất tiến tiến; nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài; góp phần ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng ở tỉnh Đồng Nai, cùng cả nước xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Nhưng để phát huy được tính tích cực của các chủ thể đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng Vấn đề đầu tiên không thể thiếu được là: tỉnh uỷ, UBNN tỉnh và nhân dân tỉnh Đồng Nai trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước vận dụng phù hợp vào đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai Để đề ra chính sách, biện

Trang 19

pháp thích hợp khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tăng vốn đầu tư công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến vào phát triển các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Đối với chủ thể là các nhà đầu tư nước ngoài, trên cơ sở hiểu rõ quan điểm chủ trương, chính sách và luật pháp Việt Nam cũng như các chính sách, biện pháp của tỉnh Đồng Nai Chủ động, tích cực tăng vốn đầu tư mới, tăng vốn để mở rộng quy mô và nâng cao trình độ sản xuất của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Mục đích của phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai là tăng đầu tư vốn, công nghệ hiện đại trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Đồng Nai theo hướng đến năm 2010 trở thành tỉnh công nghiệp.

Sự phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai thể hiện rõ vai trò ngày càng tăng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên một số mặt cơ bản sau đây: Một là, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư

phát triển, góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của tỉnh, tạo thế và lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai.

Từ năm 1989, Đồng Nai mới chỉ thu hút được 2 dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên với

số vốn là 9,7 triệu USD Tính đến tháng 5 năm 2004, toàn tỉnh đã có 537 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, tổng nguồn vốn “rót” vào xây dựng các cơ sở sản xuất tại các KCN của các công ty nước ngoài là 6,5 tỷ USD [22, 20] Trong các công ty đã đến Đồng Nai, hiện đã

có 273 dự án đang sản xuất kinh doanh, 90 dự án đang xây dựng, tổng vốn thực hiện là 3 tỷ USD (chiếm 48,7% tổng vốn đăng ký [43] Hiện nay Đồng Nai là một trong những tỉnh, thành phố có lượng vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước (đứng vị trí thứ 3, sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội).

Năm 2003 là năm tiếp tục bội thu nguồn vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Đồng Nai,

đã thu hút thêm 87 dự án mới, vốn đăng ký 290 triệu USD, có 53 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư thêm 450 triệu USD Tính cả năm 2003, Đồng Nai đã thu hút 740 triệu USD, vượt

kế hoạch 64%, tăng 52% so với năm 2002 [36,51] Đây là một nguồn vốn quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, bởi vì muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải huy động được 30% GDP của tỉnh vào đầu tư phát triển, nhưng thực tế trong nhiều năm chỉ huy động được khoảng hơn 15% GDP, thiếu hụt gần 15% vốn đầu tư Mức thiếu hụt này được bù đắp chủ yếu bằng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo đánh giá của đồng chí Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai “vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng ổn định, chiếm tỷ trọng 52,6% tổng vốn đầu tư trên địa bàn trong 3

Trang 20

năm qua (2001 - 2003) Đây thực sự là nguồn lực quan trọng để đầu tư cho sản xuất tạo

ra nguồn thu ngân sách lớn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của Đồng Nai và của cả nước” [27, 26] Hơn nữa, so với các nguồn vốn khác, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không làm tăng nợ của tỉnh mà còn có tác dụng kích thích các công ty khác tham gia đầu tư, là tác nhân thu hút viện trợ phát triển chính thức, gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế và do đó, tăng thêm tỷ lệ huy động vốn trong nước Nhờ sự phát triển về số lượng, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, làm cho TPKT có vốn đầu tư nước ngoài phát triển và tỷ lệ đóng góp vào GDP của tỉnh Đồng Nai ngày càng tăng lên qua các năm:12,9% năm 1995; 25,9% năm 1999; 30,07% năm

từ bên ngoài vào, đã làm cho các nguồn lực từ nội bộ của tỉnh được huy động và phát huy có hiệu quả hơn Chính sự tác động qua lại đó làm cho kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai không ngừng phát triển Vì vậy, đã có nhận xét về Đồng Nai như sau:

“Nhắc đến Đồng Nai bây giờ không mấy ai còn nhớ đến vùng đất nghèo nàn của mấy mươi năm về trước nữa Luồng vốn đầu tư khổng lồ hội tụ từ các nhà đầu tư ở khắp mọi nơi trên thế giới chảy về đây đã biến mảnh đất này trở thành một vùng đất công nghiệp năng động, thay gia đổi thịt từng ngày” [13, 14].

Hai là, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành,

vùng theo hướng CNH, HĐH ở tỉnh Đồng Nai.

TPKT có vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Đồng Nai theo hướng CNH, HĐH Điều này, thể hiện rõ trong cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài, chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp và xây dựng (chiếm 93% số dự án, 96% vốn đăng ký).

Trang 21

Với tỷ lệ đầu tư vốn như vậy, đã thúc đẩy ngành công nghiệp Đồng Nai phát triển cả quy mô và trình độ hoạt động sản xuất kinh doanh Chẳng hạn, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp tăng từ 1,01% năm 1992 lên 60,67% năm 2003, chỉ trong vòng 11 năm, tỷ trọng công nghiệp tăng lên hơn 60%, đó là một kết quả tăng rất cao so với các tỉnh trong nước, rõ ràng đây là một sự chuyển dịch có tốc độ cao Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp tăng đã làm giảm tỷ trọng ngành kinh tế nông lâm nghiệp, nhưng lại tạo điều kiện để tăng lĩnh vực dịch vụ Một cơ cấu kinh tế mới, Công nghiệp - dịch vụ - nông lâm nghiệp hình thành theo hướng hiện đại hoá Qua đó cho thấy rõ, sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nêu trên, có sự đóng góp rất quan trọng của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai Đại hội đại biểu lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Đồng Nai năm 1996 đề ra là: “chuyển cơ cấu kinh tế Đồng Nai từ: Nông - công nghiệp - dịch vụ thành cơ cấu kinh tế: công nghiệp - dịch

vụ - nông nghiệp vào năm 2000” [5, 499].

Thực tế, đến cuối năm 2000 cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Đồng Nai đạt được là:

“Công nghiệp - xây dựng chiếm 52,3% - Dịch dụ 24,9% - nông lâm nghiệp 22,8%” [10,6] Với xu hướng phát triển tích cực đó, Đại hội đại biểu làn thứ VII Đảng bộ tỉnh Đồng Nai nhiệm kỳ 2001 - 2005 chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng: “Công nghiệp - xây dựng chiếm 56% - dịch vụ 27% - nông lâm nghiệp 17%” [9, 65].

Để đạt được cơ cấu kinh tế ngành như trên, có sự đóng góp quan trọng của quá trình phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Cùng với cơ cấu ngành, cơ cấu vùng cũng có sự thay đổi phù hợp hơn với đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội Đồng Nai Điều này, thể hiện ở cơ cấu đầu tư vào các vùng địa phương trong tỉnh có sự điều chỉnh Nếu trước năm 1997 các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào làm ăn ở những vùng, địa phương là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá như thành phố Biên Hoà; Long Thành, Nhơn Trạch và những nơi giao thông thuận lợi, thì sau năm 1997 đến nay đã có nhiều dự án đầu tư vào nông lâm nghiệp ở những huyện thuộc vùng sâu, vùng xa, điều kiện giao thông kém thuận lợi như: Vĩnh Cửu; thống nhất; Tân Phú; Xuân Lộc; Long Khánh v.v Chính sự phân bố, điều chỉnh các dự

án đầu tư nước ngoài vào các vùng khác nhau với một tỷ lệ cân đối hợp lý, sẽ tạo điều kiện cho mỗi vùng khai thác được các thế mạnh về đất đai, lao động, nguồn nguyên liệu… Đồng thời tạo công ăn việc làm tại chỗ cho người lao động, tránh được sự tập trung quá mức vào một số khu vực.

Trang 22

Tính đến nay ở Đồng Nai hầu hết các huyện, thị xã và thành phố Biên Hoà có các dự án đầu tư nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh Trên địa bàn Đồng Nai hiện có 15/21 KCN được Chính phủ phê duyệt quy hoạch với diện tích 4.751 ha, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài Thực tế trong những năm qua đã có 445/537 dự án đầu tư nước ngoài tập trung vào các KCN, với số vốn đăng ký 5,61 tỷ USD (chiếm 82% số dự án, 88% vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào địa bàn tỉnh Đồng Nai).

Như vậy, không chỉ cơ cấu ngành có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại hoá, mà cả

cơ cấu vùng của tỉnh Đồng Nai cũng đã có sự chuyển dịch tích cực Điều đó, có sự đóng góp của nhiều TPKT trên địa bàn tỉnh, nhưng TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp một phần quan trọng

Ba là, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, đã góp phần quan trọng trong đổi mới công

nghệ, nâng cao năng suất lao động tăng khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của tỉnh Đồng Nai.

Là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh Trong những năm chiến tranh, Đồng Nai bị chiến tranh tàn phá nặng nề, hậu quả là: cơ sở vật chất nghèo nàn; công nghiệp lạc hậu, kém phát triển KCN Biên Hoà 1 xây dựng từ năm 1963, nhà máy và các thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém, hàng hoá mẫu mã đơn điệu, do đó sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá yếu.

Từ khi thực hiện chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH tỉnh nhà, tăng cường thu hút vốn, công nghệ, tiên tiến… từ đầu tư trực tiếp nước ngoài, phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài phát triển ở hầu hết các ngành kinh tế của tỉnh Đồng Nai, như: Công nghiệp, xây dựng; nông lâm nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải, thông tin, hoạt động văn hoá, thể thao v.v với

sự có mặt của nhiều tập đoàn kinh tế mạnh đa ngành, đa quốc gia đến từ các nước: Nhật, Hàn Quốc, Malaisia, Thái Lan v.v là những nước có nền kinh tế phát triển hơn

ta, nắm giữ một số ngành kỹ thuật công nghệ tiên tiến Đã từng bước đầu tư công nghệ hiện đại, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào tỉnh Đồng Nai, làm chuyển biến mạnh mẽ một số lĩnh vực sản xuất của tỉnh ngang tầm khu vực và có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới, như: dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện tử, mạch điện tử; công nghệ chế tạo máy biến thế, cáp thông tin, công nghệ chế biến gỗ, thức ăn gia súc v.v vì thế tỷ lệ công nghệ mới hiện đại tăng từ 70% năm 1995 lên 80%

Trang 23

năm 2000 và 85% năm 2003 [34], đây thực sự là một bước tiến đáng trân trọng về đổi mới công nghệ của tỉnh Đồng Nai Đồng thời còn học hỏi được mô hình quản lý tiên tiến và phương thức kinh doanh hiện đại của các nước đã được áp dụng trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Đây có thể được coi là những yếu tố kích thích, thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đứng chân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và các vùng lân cận, phải không ngừng đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường Cũng cần nhận thức rằng, bằng sự hiện diện của mình, các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, buộc các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao hiệu quả

sử dụng tài nguyên, nhân lực thông qua các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, quản lý, cũng như chiến lược tiếp thị, quảng cáo sản phẩm, thiết lập thương hiệu, hệ thống phân phối, khai thác mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu Có thể nêu một ví dụ:

Các công ty Colyame - Polmolive (Hoa Kỳ) hay Unilever (Hà Lan - Anh Quốc) đầu tư Công nghệ vào làm ăn ở Việt Nam, đã đặt công ty ĐaSo đứng trước thử thách lớn, hoặc là tiếp tục tồn tại, hoặc bị thôn tính Trước sự lựa chọn nghiệt ngã đó, công ty ĐaSo đã thực hiện nhiều biện pháp để vượt lên như: cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, dây chuyền mới vào sản xuất, học tập kinh nghiệm quản lý sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá; tiến tới đa dạng hoá về chủng loại, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng v.v

Vì vậy, từ một cơ sở sản xuất bột giặt đơn thuần, vươn lên thành một trong những tập đoàn sản xuất hoá mỹ phẩm hàng đầu ở Việt Nam Với nhiều mặt hàng đa dạng như: bột giặt, xà bông, kem và bàn chải đánh răng, dầu gội đầu, sữa tắm và còn sản xuất cả nước ép trái cây v.v sức cạnh tranh và thị phần thị trường trong nước tăng lên đáng kể Hơn thế nữa, ĐaSo còn đưa sản phẩm của mình sang thị trường Lào, Cămpuchia và các tỉnh phía nam Trung Quốc Ngoài ra, còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam khác, trưởng thành và đứng vững trong nền kinh tế thị trường sôi động ở nước ta, cũng bởi có sự tác động không nhỏ của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai nói riêng, và cả nước nói chung.

Bốn là, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần giải quyết một số lượng lớn việc làm,

tham gia phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

TPKT có vốn đầu tư nước ngoài phát triển, không chỉ góp phần đem nhiều ngoài tệ cho nền kinh tế tỉnh Đồng Nai, mà quan trọng hơn là góp phần tạo việc làm cho người lao động Tính bình quân mỗi năm khu vực này đã thu hút thêm từ 7 - 10 ngàn lao động

Trang 24

trực tiếp vào làm việc trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và gián tiếp tạo việc làm cho hàng chục ngàn lao động khác trong các lĩnh vực xây dựng, dịch vụ… Riêng công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút lực lượng lao động tương đối lớn và ngày càng tăng Nếu năm 1995 chỉ có 23027 lao động, chiếm 29,52% lao động công nghiệp, thì năm 1999 tăng lên 139214 lao động, chiếm 56,90% và năm 2001 là 161946 lao động, chiếm 56,17% tổng số lao động [12, 37] Do có chính sách kinh tế cởi mở, vốn đầu

tư nước ngoài vào Đồng Nai tăng nhanh, thúc đẩy công nghiệp phát triển nên đã thu hút một lượng lao động lớn, giải quyết một lượng lao động dôi dư và làm giảm một phần đáng kể gánh nặng cho xã hội, hạn chế các tệ nạn xã hội do thiếu việc làm xẩy ra Đồng thời đóng góp cho nguồn thu hút ngân sách của tỉnh và Nhà nước, làm tăng quỹ tích lũy, tạo nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tiếp tục đầu tư

cả chiều rộng và chiều sâu cho công nghiệp tiếp tục tăng trưởng Trên đây là chưa kể hàng vạn lao động không trực tiếp làm việc trong các công ty, doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài, nhưng việc làm của họ gián tiếp được tạo ra do sự phát triển của TPKT này đem lại.

Ví dụ: Công ty máy tính Fujutsu của Nhật Bản ở KCN Biên Hoà II, đã thu hút 2500 lao động có tay nghề cao.

Trong điều kiện nền kinh tế địa phương còn hạn hẹp, mà số lượng việc làm được giải quyết như trên, là một điều rất đáng phấn khởi Bởi vì, có việc làm, tức có thu nhập (thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai năm 2002 là: Thu nhập bình quân của người lao động trong xí nghiệp liên doanh với nước ngoài là 3 392 000 đồng người/tháng; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là 1 434 000 đồng người/tháng [37, 232] Có thu nhập, thu nhập lại tăng lên, sẽ tạo sức mua, nhu cầu có khả năng thanh toán tăng lên làm cho thị trường nội địa được mở rộng và sôi động, tạo ra sự kích thích các hoạt động sản xuất và dịch vụ trên địa bàn phát triển và lại làm cho việc làm được tạo ra nhiều hơn Cứ như vậy, sự lan toả ngày càng rộng với tốc độ phát triển ngày càng cao Mặt khác, cũng cần thấy rằng, trong môi trường làm việc của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cán bộ

và công nhân lao động ở Đồng Nai, có điều kiện tiếp xúc, tiếp thu kỹ thuật công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, của nước ngoài, từng bước nâng cao trình độ tay nghề, trình độ tổ chức quản lý sản xuất Đồng thời rèn luyện tác phong công nghiệp, thích ứng với cơ chế thị trường Trong những năm qua, một số lượng đáng kể người lao động được đào tạo nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, kỹ thuật đủ sức thay thế các chuyên gia nước ngoài.

Trang 25

Liên đoàn lao động tỉnh Đồng Nai đánh giá: “số lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn trẻ có trình độ chuyên môn ngày càng tăng” [20, 52].

Như vậy, cùng một lúc tỉnh Đồng Nai thu hoạch được hai kết quả từ sự phát triển của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, đó là vừa giải quyết được một số lượng việc làm lớn cho lực lượng lao động, đồng thời phát triển và nâng cao trình độ lực lượng lao động của tỉnh lên tầm cao mới Đây chính là một trong những nhân tố giữ vai trò quyết định, sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH tỉnh Đồng Nai.

Năm là, phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần quan trọng vào việc mở

rộng thị trường trong nước và quốc tế.

Một đòi hỏi khách quan là muốn phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, phải xây dựng một nền kinh tế mở cả trong nước và với nước ngoài Chính quá trình phát triển TPKT có vốn đầu

tư nước ngoài, cũng có nghĩa là thị trường trong nước và quốc tế ngày càng được mở rộng Với thị trường trong nước, sự có mặt tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã tạo ra một thị trường nội địa rất lớn cho các cơ hội làm ăn đối với doanh nghiệp trong nước như: làm vệ tinh gia công, thi công xây dựng công trình, các dịch vụ tư vấn pháp lý, dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm phát triển, thị trường địa ốc, phát triển nông lâm nghiệp và công nghiệp chế biến… Qua đó thúc đẩy sự phát triển các TPKT trong nước Với trình độ công nghệ hiện đại hơn, năng lực sản xuất lớn hơn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài yêu cầu mở rộng thị trường các yếu tố sản xuất: cả về thị trường nguyên nhiên liệu; thị trường vốn, thị trường lao động và thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá Chính điều này, thúc đẩy kinh tế Đồng Nai mở rộng thị trường quốc tế, thị trường trong nước và phát triển đồng bộ các loại thị trường, sự đa dạng về sản phẩm, mẫu mã đẹp hợp thị hiếu người tiêu dùng, chất lượng cao là những viên đạn đại bác phá tung bức tường thị trường cát cứ, hình thành thị trường ngày một rộng lớn hơn Nhiều sản phẩm mang nhãn hiệu

“Madein Việt Nam” đã chiếm thị phần lớn, thị trường trong nước Hơn nữa thu nhập của người lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thường cao hơn so với các doanh nghiệp trong nước Thu thập cao và ổn định, không chỉ làm yên tâm cho người lao động tập trung lao động mà còn làm cho cầu và sức mua của bộ phận không nhỏ này nâng lên làm tăng thị trường nội địa.

Điều quan trọng là phát triển TPKTcó vốn đầu tư nước ngoài sẽ thúc đẩy việc tăng cường mở rộng thị trường quốc tế, tăng kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 127,12 triệu USD năm 1995 lên 1464,56 triệu USD

Trang 26

năm 2000 và tăng lên 1907,50 triệu USD năm 2003 tăng 22,1% so với năm 2002 [28] Năm

2003, ban quản lý các KCN Đồng Nai đã cấp 2.810 giấy phép xuất nhập khẩu, 493 giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D, với tổng giá trị 13.196.555 USD để xuất khẩu hàng hoá đi các nước khối ASEAN… Đặc biệt xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng cao Đồng thời khu vực kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài phát triển đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo quan điểm của Đảng.

“Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [7, 42] Sự phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai nói riêng, cả nước nói chung Tạo điều kiện thuận lợi để nước ta thiết lập các quan hệ kinh tế song phương, đa phương với các nước, các đối tác nước ngoài Qua đó mở rộng bạn hàng, học hỏi kinh nghiệm, đồng thời tiếp cận thị trường mới trong khu vực và thế giới Nếu trước năm 1995, xuất khẩu của tỉnh mới thâm nhập được 35 nước thì nay đã thâm nhập được hơn 70 thị trường các nước và vùng lãnh thổ [40].

Từ sự phân tích thực tế nêu trên, cho chúng ta thấy, sự phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài có vai trò ngày càng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế

- xã hội ở tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực nêu trên, sự phát triển TPKT này, đã bộc lộ không ít những khía cạnh tiêu cực ảnh hưởng đến tốc

độ phát triển kinh tế của tỉnh, có thể nêu khái quát những điểm cơ bản sau đây.

Một là, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta đều coi lợi nhuận cao là mục tiêu hàng đầu, cho nên họ triệt để lợi dụng nguồn lao động dồi dào, rẻ mạt của ta để thực hiện không đúng những điều luật quy định; trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước ta quy định, thực hiện thủ đoạn tăng ca, tăng kíp, bắt công nhân lao động 10-12 giờ/ngày nhưng trả lương không tương xứng Có hiện tượng coi thường, đánh đập, xúc phạm nhân phẩm làm nhục công nhân Việt Nam v.v đã gây ấn tượng xấu, bất bình trong công nhân lao động Nhiều doanh nghiệp xảy ra đình công không theo đúng luật định, trong

6 tháng năm 2003 có 8 vụ đình công [12, 37].

Việc chạy theo lợi nhuận thái quá đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bất chấp pháp luật, bất chấp những đòi hỏi tôn trọng truyền thống văn hoá của các dân tộc Việt Nam trên địa bàn tỉnh Khai thác tài nguyên quá mức, không chú ý đến việc xử lý ô nhiễm môi trường.

Trang 27

Hai là, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dùng mánh khoé kéo dài thời gian thử việc (theo quy định là 60 ngày) để chỉ trả 70% mức lương tối thiểu trong khi người lao động đã tham gia làm sản phẩm chính Có nhiều chủ đầu tư nước ngoài lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong quản lý, điều hành của cán bộ, sự thiếu hiểu biết của người lao động Việt Nam để trục lợi, thậm chí lừa đảo, làm ăn phi pháp.

Ba là, nếu công tác quản lý của ta không chặt chẽ, bản thân các doanh nghiệp trong nước trên địa bàn tỉnh sức cạnh tranh yếu, thì sự phát triển TPKT này sẽ có nguy cơ lũng đoạn và làm giảm sút hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, bởi

vì các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thường chiếm ưu thế về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm

tổ chức quản lý so với doanh nghiệp trong nước.

Bốn là, phần lớn các doanh nghiệp thuộc TPKT có vốn đầu tư nước ngoài tại Đồng Nai có quy mô nhỏ, ít dự án có quy mô lớn (bình quân vốn đầu tư dự án năm 2000 là 5,45 triệu USD, năm 2003 là 3,41 triệu USD) Ngành nghề đầu tư vẫn là các dự án công nghiệp chế biến nông lâm sản, dệt, xây dựng, ít dự án công nghệ cao Nhà đầu tư chủ yếu vẫn là các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Đài Loan, thiếu vắng các nhà đầu tư từ Mỹ, EU.

Hơn nữa, trong khu vực kinh tế này còn có nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài làm

ăn thua lỗ, phá sản: năm 2000 là 92/187 doanh nghiệp, năm 2001 là 105/216 doanh nghiệp và năm 2002 là 99/259 doanh nghiệp [34].

Tóm lại, phát triển TPKTcó vốn đầu tư nước ngoài có vai trò ngày càng quan trọng tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai Song cũng có những tác động tiêu cực không chỉ ảnh hưởng tới tốc độ phát triển kinh tế mà

cả với CCQP trên địa bàn tỉnh Vì vậy cần nghiên cứu sự tác động này, làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp, phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của phát triển TPKT này đối với CCQP ở tỉnh Đồng Nai.

1.2 Tác động của quá trình phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

1.2.1 Củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai – một số vấn đề lý luận

Kinh tế và quốc phòng là hai lĩnh vực hoạt động cơ bản của xã hội có giai cấp, nhà nước

và quân đội Hai lĩnh vực này chịu sự tác động của những nhóm quy luật khách quan khác nhau, tính chất, phương thức và kết quả hoạt động khác nhau Nhưng hai lĩnh vực này, có mối

Trang 28

quan hệ chặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt động này là điều kiện, tiền đề cho hoạt động kia tốt hơn và ngược lại Ở Việt Nam hai lĩnh vực này đều hướng tới mục tiêu chung là xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, quốc phòng một mặt, phụ thuộc vào kinh tế, mặt khác có sự tác động trở lại sự phát triển kinh tế Ph.Ăngghen khẳng định: “Không có gì lại phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế hơn là chính quân đội và hạm đội” [2, 235].

Trên ý nghĩa đó, việc mở rộng, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến CCQP ở tỉnh Đồng Nai cả tích cực lẫn tiêu cực Vấn đề này, trước hết, cần làm rõ sự cần thiết phải CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

“Quốc phòng là công cuộc giữ nước của một quốc gia, gồm tổng thể hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học… của nhà nước và nhân dân để phòng thủ đất nước, tạo nên sức mạnh toàn diện, cân đối trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, nhằm giữ vững hoà bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược dưới mọi hình thức

và qui mô Quốc phòng là hoạt động của nhà nước, trong đó lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt” [39, 680].

Theo quan điểm của Từ Điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: Quốc phòng là hoạt động giữ nước của một quốc gia… có nghĩa là hoạt động quốc phòng diễn ra thường xuyên ngay cả trong thời bình, do phải sẵn sàng đối phó với nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra Như vậy, CCQP cũng chính là củng cố công cuộc giữ nước, củng cố các hoạt động giữ nước, phòng thủ đất nước Đảm bảo cho đất nước luôn được hoà bình, ổn định và phát triển.

Chủ thể tiến hành hoạt động quốc phòng là nhà nước và nhân dân, trong đó lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt Nội dung của hoạt động quốc phòng là tổng thể hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học… tạo nên sức mạnh toàn diện, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng nhằm giữ vững hoà bình, ngăn chặn và đẩy lùi chiến tranh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ cách tiếp cận như vậy, việc CCQP được đặt ra là trách nhiệm của tất cả các địa phương trong cả nước, trong đó có tỉnh Đồng Nai Từ khái niệm chung về quốc phòng

và yêu cầu của CCQP trong cả nước, có thể hiểu CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: là

quá trình Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Đồng Nai xây dựng các kế hoạch, đề ra các biện pháp và tổ

Trang 29

chức nhân dân tiến hành thực hiện các hoạt động nhằm củng cố quốc phòng vững chắc bảo vệ tốt các cơ sở kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội… của tỉnh, đồng thời, góp phần cùng cả nước bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Nội hàm của khái niệm trên cho thấy, CCQP là hoạt động mang tính chủ động của Đảng bộ

và nhân dân tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở nhận thức các yêu cầu khách quan của tình hình kinh tế, chính trị quân sự trên dịa bàn tỉnh Mục tiêu của hoạt động CCQP là nhằm bảo vệ vững chắc quê hương Đồng Nai và góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Như vậy, CCQP là một trong những nhiệm vụ chính trị trung tâm của tỉnh Đồng Nai Nhiệm vụ này, đáp ứng đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng trên địa bàn tỉnh và cả nước Sự đòi hỏi đó xuất phát từ những yêu cầu sau đây:

Một là, xuất phát từ tình hình thế giới và trong nước.

Thế giới đã có những biến động sâu sắc, sau khi Liên Xô tan rã, chế độ XHCN ở Liên

Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, tương quan lực lượng thay đổi có lợi cho CNTB Các thế lực hiếu chiến đã và đang điều chỉnh chiến lược và ráo riết thực hiện ý đồ thiết lập “thế giới một cực”, bất chấp Liên Hợp Quốc, Luật pháp Quốc tế

và phản ứng của dư luận tiến bộ trên thế giới, ngang nhiên can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ các nước, kích động chủ nghĩa ly khai, xung đột dân tộc, tôn giáo và tiến hành chiến tranh ở nhiều nơi Từ năm 1991 đến nay, chúng đã tiến hành phát động bốn cuộc chiến tranh: chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991; Nam tư 1999; Apganixtan 2002 và IRắc 2003 và nhiều cuộc can thiệp nội bộ trắng trợn vào nhiều nước trên thế giới Các hoạt động khủng bố” và “chống khủng bố” đã và đang là vấn đề quốc tế lớn, các quốc gia đều phải cảnh giác

đề phòng các hoạt động khủng bố phá hoại an ninh nước mình Đồng thời phải hết sức cảnh giác đề phòng các thế lực hiếu chiến lợi dụng chiêu bài “chống khủng bố” để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ, thậm chí xâm hại đến chủ quyền quốc gia Khái quát tình hình thế giới hơn một thập kỷ qua Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã chỉ rõ: “Nổi lên mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là thế lực hiếu chiến mưu toan thống trị thế giới và các lực lượng đấu tranh chống chiến tranh, chống chủ nghĩa bá quyền, bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, chủ quyền, sự bình đẳng giữa các quốc gia và lợi ích của mỗi dân tộc” [4, 28].

Trong khu vực: “Các thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc, kích động chống phá Việt Nam - Lào - Cămpuchia và chia rẽ ba nước” [4, 29].

Trang 30

Tình hình thế giới và khu vực nói trên đã tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc.

Trong nước, tình hình quốc phòng , an ninh được giữ vững, tuy nhiên còn đứng trước nhiều thách thức Bọn phản động trong và ngoài nước vẫn thường xuyên móc nối, cấu kết với các thế lực phản động trong nước, lợi dụng xu thế toàn cầu hoá, mở cửa hội nhập và những diễn biến phức tạp của thế giới, ra sức đẩy mạnh các hoạt động chống phá, kích động ly khai, âm mưu khôi phục hoặc thành lập tổ chức đối lập, chờ thời cơ hành động, đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên nâng cao cảnh giác và có biện pháp ứng phó thích hợp.

Tình hình trên đang đặt ra cho đất nước thường xuyên phải CCQP vững mạnh về mọi mặt, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm đủ sức mạnh sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ thù.

Đồng Nai là một tỉnh có vị trí chiến lược rất quan trọng, trong thế bố trí chiến lược bảo vệ Tổ quốc của cả nước và luôn phải quán triệt và thực hiện tốt mục tiêu của

sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay là: “bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước theo định hướng XHCN” [4, 46].

Vì vậy, đòi hỏi trên địa bàn tỉnh Đồng Nai phải thường xuyên CCQP vững mạnh

Hai là, xuất phát từ vị trí chiến lược về quốc phòng an ninh của tỉnh Đồng Nai trong

tình hình mới.

Đồng Nai là một tỉnh có vị trí chiến lược cả về kinh tế, chính trị và quốc phòng, an ninh Tỉnh gần như là trung tâm vùng Đông Nam bộ, Đồng Nai giáp ranh với 5 tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh – thành phố lớn nhất của cả nước Đồng Nai là cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không khá phát triển nối liền với các tỉnh trong vùng và cả nước, vừa có giá trị về mặt phát triển kinh

tế, lại vừa có giá trị về mặt quân sự, quốc phòng Đồng Nai cũng là quê hương có truyền thống cách mạng hào hùng, có nhiều cơ sở cách mạng, căn cứ cách mạng quan trọng (chiến khu D, chiến khu rừng Sác…) Là tỉnh có tới 38 dân tộc sinh sống và có hầu hết các tôn giáo lớn ở Việt Nam, tín đồ theo các tôn giáo rất lớn Đồng thời là một trong số các tỉnh

Trang 31

thành có số lượng KCN nhiều nhất cả nước (15/21 KCN đã được Chính phủ phê duyệt) và

số lượng các nhà đầu tư từ 25 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, cũng như trong nước tập trung về đây rất lớn Từ những đặc điểm trên, tỉnh Đồng Nai là nơi không kém phần phức tạp và là nơi tập trung sự chú ý của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo và những bức xúc khác để chống phá Đứng trước xu thế

mở cửa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển, đặc biệt là tăng cường thu hút đầu

tư nước ngoài đang đặt ra yêu cầu mới cho các hoạt động quốc phòng, CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Ba là, xuất phát từ thực lực việc CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong những năm

qua.

Thực hiện chiến lược của Đảng và Nhà nước về xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và các lực lượng vũ trang Đồng Nai quán triệt sâu sắc, coi đó là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp thiết của địa phương, đồng thời tích cực triển khai đồng

bộ nhiều biện pháp để thực hiện có hiệu quả Vì vậy, hơn 10 năm xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, Đồng Nai đã đạt được kết quả quan trọng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và CCQP, an ninh Kết quả tổng hợp trên thể hiện rõ nhất và tập trung nhất ở mặt kinh tế - xã hội: Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao (bình quân hàng năm 12%); giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,3%/năm, trong đó khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài tăng 31,5%, trong nước tăng 10% Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi Giá trị sản xuất tăng bình quân 4,2%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 48,7% năm, tỷ trọng hàng xuất khẩu qua chế biến đạt 70%, nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng gấp 3 lần so với thời kỳ 1991 - 1995 [9, 14-17], xây dựng cơ bản… đều đạt và vượt chỉ tiêu Mạng lưới điện quốc gia và giao thông nông thôn được nối liền đến trung tâm các

xã, chính trị ổn định, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, quốc phòng, an ninh được giữ vững Những kết quả trên, đã tạo cơ sở kinh tế - xã hội quan trọng cho tỉnh tiếp tục đầu tư tốt hơn trong xây dựng khu vực phòng thủ, ở một địa bàn chiến lược trong vùng kinh tế động lực phía Nam của Tổ quốc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.

Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế, quy hoạch xây dựng mới các KCN tập trung,

mở rộng các trục đường giao thông v.v đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn, phức tạp trong nhân dân về đất đai, bồi thường, giải toả… tình hình trật tự, an ninh, an toàn xã hội, ở một số khu

Trang 32

vực, cơ sở khá phức tạp, dễ trở thành “điểm nóng”, các tệ nạn xã hội như: mại dâm, ma tuý, mê tín dị đoan, xã hội đen có nhiều hướng gia tăng; tai nạn giao thông xảy ra nhiều Mặt khác: “Đồng Nai là trọng điểm chống phá trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của địch Các tổ chức phản động lưu vong cấu kết với bọn phản động trong nước và một số kẻ xấu đội lốt tôn giáo cực đoan chống phá ta quyết liệt bằng nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực” [22, 31].

Những vấn đề trên cho thấy, trong điều kiện mới, công tác quốc phòng địa phương phải thường xuyên được củng cố, xây dựng vững mạnh hơn Trong những năm tới, tỉnh Đồng Nai cần tập trung CCQP trên một số nội dung chủ yếu sau đây Về chủ trương của tỉnh: “Phát huy mạnh mẽ nội lực đẩy mạnh tốc độ CNH, HĐH, phát triển kinh tế theo cơ cấu dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, nâng cao mức sống của các tầng lớp nhân dân Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, gắn chặt với thế trận an ninh nhân dân và phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, thế trận quốc phòng toàn dân, chú trọng xây dựng cơ sở chính trị, nhất là ở các địa bàn trọng yếu, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị, tạo điều kiện để tập trung phát triển kinh tế” [22, 31].

Thực hiện chủ trương trên cần chú trọng một số vấn đề sau:

Một là, đặc biệt chú trọng kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với CCQP, an ninh Hai là, tiếp tục củng cố, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc phù hợp với tiến trình CNH, HĐH của tỉnh Đồng Nai.

Đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn dân, xây dựng

cơ sở chính trị vững mạnh, là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của các cấp ủy Đảng, chính quyền, của đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở.

Ba là, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, cần chú trọng hơn nữa công tác xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, bảo đảm sẵn sàng đối phó thắng lợi các tình huống xảy ra cả trước mắt và lâu dài.

Thực hiện nội dung này, cần xây dựng hoàn chỉnh hệ thống văn kiện phòng thủ

cơ bản bảo vệ địa phương, chỉ đạo các ngành xây dựng kế hoạch bảo đảm quốc phòng, an ninh…Nâng cao chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang nhân dân địa phương vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có số lượng hợp lý, chất lượng cao, trước hết là chất lượng về chính trị Điều chỉnh tổ chức biên chế lực lượng

vũ trang theo hướng tinh gọn, chính quy, tinh nhuệ, phù hợp với nhiệm vụ thời bình

Trang 33

và sẵn sàng mở rộng khi có tình huống chiến tranh xảy ra Xây dựng lực lượng tự vệ theo đúng phương châm “vững mạnh, rộng khắp”, có tỷ lệ phù hợp với nhiệm vụ của từng cơ sở Thực hiện nghiêm chế độ đăng ký độ tuổi Từng bước hoàn thiện mô hình

tổ chức tự vệ ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân v.v làm nòng cốt trong sản xuất và gìn giữ an ninh chính trị.

Tóm lại, nội dung CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai phải được tiến hành đồng bộ, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá xã hội Trong đó tập trung làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, xây dựng và đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng có chất lượng cao, số lượng đủ cho các hoạt động quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

1.2.2 Những tác động tích cực của quá trình phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài đối với củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai trong những năm đổi mới vừa qua, đã tận dụng và phát huy tốt những thế mạnh của mình về thiên thời, địa lợi, nhân hoà v.v tăng cường mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đẩy nhanh tốc độ phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài TPKT này có vai trò ngày càng quan trọng trong đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh (như đã phân tích ở trên).

Thông qua sự tác động vào kinh tế - xã hội, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đã có những tác động nhiều mặt vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến quá trình CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Sự tác động đó có thể khái quát trên một số mặt cơ bản sau đây.

Một là, phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần tăng cường tiềm lực kinh

tế, tiềm lực quân sự để CCQP vững mạnh ở Đồng Nai.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về tăng cường khuyến khích, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đã thúc đẩy sự phát triển nhanh TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai Vốn đầu tư nước ngoài tăng lên, tạo điều kiện cho Đồng Nai mở rộng, phát triển sản xuất cả bề rộng và chiều sâu, “vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng ổn định, chiếm tỷ trọng 52,6% tổng vốn đầu tư trên địa bàn trong 3 năm qua (2001 - 2003” [29, 26] Sự tăng vốn đầu tư; một mặt, làm xuất hiện và phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong số đó có hơn nửa số doanh nghiệp luôn làm ăn có hiệu quả: năm 2000 có 93/187 doanh nghiệp, năm 2001 có 105/216 doanh nghiệp, năm 2002 có 159/259 doanh nghiệp [34]; mặt khác, đã góp phần vào tăng trưởng

Trang 34

kinh tế tỉnh, tăng thu ngân sách cho tỉnh, tỷ lệ đóng góp vào GDP tỉnh ngày càng tăng Điều này được đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh khẳng định “khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phát triển với mức tăng trưởng hàng năm đạt khá cao và góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh kinh tế của tỉnh (tỷ trọng khu vực này năm 1998 là 22,6% và năm 2003 là 30%), đóng góp đáng kể vào thu ngân sách hàng năm” [23, 18] Giá trị xuất khẩu tăng nhanh, góp phần tăng thu ngoại tệ cho tỉnh (số liệu ở Phụ lục 2 đã chứng minh) Ngân sách của tỉnh tăng lên, là cơ sở để Tỉnh uỷ, UBND tỉnh tăng phần chi cho ngân sách quốc phòng Vì thế, số lượng chi tuyệt đối cho quốc phòng trên địa bàn tỉnh hàng năm được tăng lên (do tính chất bí mật quân sự chúng tôi không thể đưa ra số liệu cụ thể) Tạo điều kiện cho cơ quan quân sự tỉnh thực hiện các hoạt động quân sự, hoạt động CCQP Đây có thể coi là sự tác động trực tiếp của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đối với CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Hơn nữa, chính sự phát triển của TPKT này trên các lĩnh vực như: công nghiệp - xây dựng; bưu chính viễn thông, dịch vụ, xây dựng hạ tầng kinh tế; nông lâm nghiệp v.v đã trực tiếp thúc đẩy ngành đó, lĩnh vực đó phát triển Đồng thời kéo theo các doanh nghiệp thuộc các TPKT khác phát triển góp phần gia tăng sự đóng góp cho ngân sách tỉnh Đây là

sự tác động gián tiếp thông qua các ngành, các TPKT khác làm tăng ngân sách quốc phòng địa phương, một bộ phận quan trọng của tiềm lực kinh tế địa phương.

Ngoài ra, với năng lực sản xuất lớn, tạo ra đa dạng các chủng loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Trong đó có nhiều loại sản phẩm mang tính lưỡng dụng cao như: nguyên nhiên liệu, vật tư, thông tin, dây cáp điện, xe máy, các sản phẩm tiêu dùng thông thường v.v khi cần thiết có thể tận dụng cho mục đích quân sự, quốc phòng.

Hai là, quá trình phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, làm thúc đẩy sự phát triển

kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội tạo điều kiện cho hoạt động CCQP thuận lợi hơn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Sự phát triển của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, vừa đòi hỏi, vừa thúc đẩy kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội phát triển.

Về kinh tế - kỹ thuật: Trước hết, muốn tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi tỉnh Đồng Nai phải phát triển hạ tầng kinh tế kỹ thuật như: giao thông, các loại điện, nước, thông tin liên lạc, bến bãi, kho tàng và hệ thống dịch vụ thuận lợi cho hoạt động đầu tư Khi hệ thống kết cấu hạ tầng

Trang 35

kinh tế kỹ thuật phát triển, sẽ kích thích các nhà đầu tư đến Đồng Nai Thứ hai, thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh nhộn nhịp của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, không chỉ đặt ra yêu cầu ngày càng phải hoàn thiện hơn, hiện đại hơn kết cấu hạ tầng cơ sở trong nội các KCN, mà còn cả hệ thống kết cấu hạ tầng ngoài các KCN, nhằm đáp ứng tốt hơn hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu trên đã thúc đẩy hệ thống kết cấu kinh tế - kỹ thuật ở Đồng Nai phát triển đồng bộ trong những năm qua (đã nêu ở trên) Thứ ba, sự đóng góp ngày càng tăng vào ngân sách tỉnh của TPKT

có vốn đầu tư nước ngoài, là một cơ sở để tỉnh Đồng Nai tăng tiềm lực kinh tế kỹ thuật,

để triển khai, phát triển ngày càng sâu rộng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật của Đồng Nai một cách đồng bộ cả đường bộ, đường thuỷ, đường không cũng như điện, nước Ví dụ: Ngoài điện lưới quốc gia, nhà máy điện do Nhà nước đầu tư xây dựng, Đồng Nai đã xây dựng 5 trạm biến áp trung gian 110 KV và thêm 2 nhà máy nước (KCN Biên Hoà II, Thiên Tân) [5, 496] Thứ tư, với chủ trương mở rộng các hình thức đầu

tư nước ngoài Các công ty đã đầu tư vào xây dựng các hệ thống hạ tầng cơ sở theo hình thức: BOT; BTO Ví dụ: xây dựng quốc lộ 51, xây dựng hạ tầng cơ sở các KCN (Số liệu đã phân tích ở trên….) Rõ ràng, trong điều kiện, giao thông thuận lợi, thông tin kịp thời thông suốt sẽ tạo thuận lợi cho hoạt động quân sự, quốc phòng trên địa bàn cũng như việc cơ động các lực lượng quốc phòng trong toàn tỉnh được nhanh chóng, sẵn sàng ứng cứu kịp thời khi có chiến sự, thiên tai, hoả hoạn hoặc phục vụ cơ động diễn tập thực binh, cơ động lực lượng v.v… Đặc biệt khi có chiến sự xẩy ra hệ thống kết cấu

hạ tầng kinh tế có thể chuyển sang mục đích hoạt động quân sự càng có hiệu quả Đồng thời, công tác phối hợp tác chiến, chỉ huy thống nhất các lực lượng trong khu vực phòng thủ được thông suốt, kịp thời, chính xác cũng nhờ có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại.

Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, cùng với sự phát triển của các thành phần kinh

tế, trong đó có TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đã đòi hỏi kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai phát triển Thể hiện ở hệ thống y tế ở cả 3 tuyến được xây dựng

và không ngừng nâng cao trình độ tay nghề của các y, bác sĩ cùng cơ sở vật chất trang thiết bị ngày càng hiện đại, phục vụ khám chữa bệnh cho các tầng lớp nhân dân lao động, đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước, bộ đội và công an v.v cũng như người nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh So với trước thời kỳ đổi mới (1986), trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã xây dựng và sắp xếp, nâng cấp 5 bệnh viện đa khoa tỉnh và

Trang 36

khu vực; 3 bệnh viện chuyên khoa, 4 bệnh viện huyện, 12 phòng khám khu vực và 119 trạm y tế phường xã, bên cạnh mạng lưới y tế tư nhân được cho phép phát triển với 619

cơ sở Số cán bộ, công nhân viên y tế phát triển cả về số lượng và chất lượng (năm

1995 tăng gấp 2,1 lần so với 1976: 3.760/1798 người [4, 516] Nền giáo dục ở Đồng Nai phát triển không ngừng, hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh với các ngành học từ mầm non đến đại học Ngành giáo dục mầm non: có 20 nhà trẻ, 34 trường mầm non, 146 trường mẫu giáo Giáo dục phổ thông có 313 trường tiểu học, 80 trường trung học cơ

sở, 39 trường phổ thông cơ sở, 25 trường phổ thông trung học (kể cả cấp 2 và cấp 3) Giáo dục chuyên nghiệp có 1 trung tâm đào tạo sư phạm, 9 trung tâm dạy nghề, 9 trung tâm ngoại ngữ tin học Năm 1997, tỉnh Đồng Nai thành lập trường đại học (Đại học dân lập Lạc Hồng), chất lượng đào tạo được nâng lên, ngành nghề đào tạo được mở rộng.

Sự phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội về giáo dục y tế trước hết là do yêu cầu đòi hỏi của

sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội và sự biến đổi, phát triển của các thành phần kinh tế, của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Mặt khác chính sự phát triển của các TPKT, trong đó có vai trò quan trọng của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài kích thích, đặt ra nhu cầu cũng như đóng góp cho sự phát triển đó.

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: y tế, giáo dục; bảo hiểm xã hội phát triển trước hết đảm bảo cung cấp chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao cho các doanh nghiệp cả trong nước và nước ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn Đồng thời cũng là nơi vừa đảm bảo và cung cấp nguồn bổ sung lực lượng có chất lượng cho các lực lượng vũ trang Các cơ sở y tế, các trường học, bệnh viện là những nơi có thể phục vụ cứu chữa thương bệnh binh hoặc nơi đồn trú của các lực lượng vũ trang của tỉnh hoặc quân khu khi có tình huống chiến sự xảy ra Trên thực tế, cơ quan quân sự tỉnh luôn có sự phối hợp với các cơ quan chức năng của các ngành y tế, giáo dục để thực hiện các hoạt động dự bị động viên các nhân viên y tế, các cơ sở vật chất, thuốc men phục vụ các đợt diễn tập, các hoạt động diễn tập quân sự trong tỉnh

và khu vực Chính sự hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài trên lĩnh vực y tế và giáo dục đã tạo nên sự hợp tác trong các lĩnh vực, sự phong phú về chủng loại thuốc

có chất lượng tốt, dụng cụ y tế kỹ thuật cao, công nghệ khám, chữa bệnh hiện đại, phục vụ, đáp ứng tốt hơn việc khám chữa bệnh của nhân dân, quân nhân mà trước đó chưa thể có được.

Trang 37

Hàng năm, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trung học phổ thông đều có chương trình huấn luyện quân sự Đây là lực lượng sẵn sàng bổ sung vào các TPKT hoặc lực lượng vũ trang sau khi tốt nghiệp ra trường, sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động quốc phòng trên địa bàn tỉnh.

Từ sự phân tích trên cho thấy, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài vừa tác động trực tiếp vừa gián tiếp tới việc phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội và kinh tế kỹ thuật của hoạt động CCQP trên địa bàn Đồng Nai.

Ba là, quá trình phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần nâng cao số

lượng, chất lượng nguồn nhân lực và tạo cơ sở chính trị xã hội thuận lợi cho CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Sự phát triển của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đã thúc đẩy sự phát triển mạnh

cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Đồng Nai Điều này xuất phát từ nhu cầu khách quan của quá trình đầu tư công nghệ tiên tiến của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Với trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại, các doanh nghiệp này đòi hỏi có nguồn nhân lực không chỉ đủ về số lượng mà phải có trình độ tay nghề cao Đòi hỏi đó làm cho nguồn nhân lực của tỉnh Đồng Nai tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và trình độ tay nghề Kể từ khi có dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên năm 1989 đến nay, số lượng lao động thu hút vào khu vực kinh tế này tăng nhanh qua các năm như sau:

Từ 1989 đến 1995 là 23.527 lao động; năm 2000 tăng lên 87.300 lao động và đến cuối năm 2003 tăng lên 150.327 lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai [32] Quá trình tăng nhanh nguồn nhân lực của tỉnh Đồng Nai được bổ sung rất lớn từ nguồn lao động nhập cư đến từ các địa phương trong

cả nước đổ về Đồng Nai vào lao động trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó sự phát triển của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có sự đóng góp vào ngân sách của tỉnh, tạo điều kiện để UBND tỉnh tăng ngân sách đầu tư cho hoạt động giáo dục và đào tạo để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Cụ thể hàng năm tỉnh đã dành từ 30 – 35% ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục và nguồn kinh phí do nhân dân đóng góp cho việc xã hội hoá giáo dục ngày một tăng lên: 10 tỷ đồng năm (1995), 20 tỷ đồng (1996), 30 tỷ đồng (1997) [5, 514] Ngoài ra, chính các doanh nghiệp thuộc TPKT có vốn đầu tư nước ngoài cũng trực tiếp đào tạo nâng cao tay nghề tại chỗ cho đội ngũ công nhân, hoặc gửi đi đào tạo ở nước ngoài về phục vụ cho công ty.

Trang 38

Giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cuộc sống người lao động đảm bảo, trình độ dân trí ngày một nâng cao là cơ sở nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vấn đề này có sự đóng góp quan trọng vừa trực tiếp, vừa gián tiếp của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài Giải quyết việc làm, đảm bảo cuộc sống, nâng cao dân trí là yếu tố quan trọng giải quyết về mặt xã hội, tạo điều kiện, tiền đề ổn định và lành lạnh hoá xã hội, có lợi cho công tác tư tưởng CCQP Một điều quan trọng nữa là, hàng năm TPKT này, thu hút một lượng đáng kể các quân nhân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự vào làm việc trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Lực lượng này vừa được đào tạo nâng cao tay nghề ở các trường dạy nghề, lại vừa trực tiếp, tiếp xúc với kỹ thuật tiên tiến nên tay nghề lao động càng cao Hơn nữa, họ lại có kiến thức về quân sự, do đó họ

là lực lượng dự bị động viên khi cần thiết cho sự nghiệp quốc phòng của đất nước Lực lượng lao động đông đảo, với tay nghề cao trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, trong điều kiện đất nước thanh bình, họ là lực lượng lao động quan trọng góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đồng thời là lực lượng bảo vệ tại chỗ rất tốt, cần được tổ chức chặt chẽ Nhưng khi đất nước có chiến tranh xảy ra, các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng có thể tận dụng tay nghề cao của lực lượng lao động này vào các dây chuyền sản xuất sản phẩm quân sự Tuy nhiên phải thường xuyên chuẩn bị kế hoạch, tập huấn và lựa chọn kỹ càng, tránh sự cài cắm của kẻ địch, làm lộ bí mật quân sự.

Có thể nói rằng, phát triển TPKT có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, một mặt đòi hỏi tỉnh Đồng Nai phải chủ động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đủ khả năng cung ứng lao động cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng như tiếp nhận công nghệ tiên tiến Mặt khác chính sự hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, là môi trường đào tạo lớn cho đội ngũ cán bộ và công nhân Việt Nam về tay nghề và trình độ, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh Ở một chừng mực nhất định, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp góp phần tạo sự ổn định về mặt chính trị - xã hội có lợi cho CCQP Đồng thời vừa trực tiếp vừa gián tiếp đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và CCQP vững chắc.

Bốn là, quá trình phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, góp phần nâng cao trình

độ khoa học - công nghệ và trình độ tổ chức quản lý sản xuất quốc phòng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Trang 39

Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, có các cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang thiết bị của các cơ sở công nghiệp quốc phòng của Bộ Quốc phòng và địa phương Sự phát triển của TPKT có vốn đầu tư nước ngoài, đã có ảnh hưởng nhiều mặt đối với các cơ sở sản xuất này.

Trước hết về khoa học - công nghệ, sự đầu tư với qui mô ngày càng lớn, trình độ kỹ thuật - công nghệ tiên tiến, hiện đại hơn ta, đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với nhiều loại trình độ công nghệ từ công nghiệp sạch đến công nghiệp có ô nhiễm Từ công nghiệp có trình độ cơ khí hoá, tự động hoá đến trình độ cao Đã có những tác động trực tiếp đối với các cơ sở sản xuất quốc phòng đứng chân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Chẳng hạn, KCN quân đội liên doanh với Nhật Bản; các nhà máy, xưởng sản xuất và sửa chữa vũ khí, trang bị; các trường kỹ thuật, trung tâm xúc tiến việc làm của quân đội đã tận dụng các thành tựu, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học vào sản xuất, bảo quản, bảo dưỡng các loại vũ khí, trang bị có hiệu quả hơn Tại tổng kho Long Bình, các xưởng sửa chữa ô tô xe máy, xe tăng, pháo súng v.v…đều tận dụng các thiết bị công nghệ hiện đại thông qua mua sắm, hoặc hợp tác đầu tư trên lĩnh vực quân sự hoặc vận dụng công nghệ dân sự để thực hiện cho mục đích hoạt động quân sự Chính những việc làm này, đã góp phần duy trì và nâng cao năng lực sản xuất sửa chữa, bảo quản trang thiết bị quân sự của các cơ sở công nghiệp quốc phòng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng cả nước nói chung.

Về trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng cũng có bước chuyển biến tích cực Do sự phát triển, tăng trưởng mạnh của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tác động, đòi hỏi các doanh nghiệp, các xí nghiệp quốc phòng, phải tự mình chủ động đổi mới để tồn tại phát triển hoặc là nhanh chóng học hỏi tiếp thu kỹ thuật kinh nghiệm nước ngoài: một mặt để phát triển đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của quân đội, của lực lượng vũ trang tỉnh và hoạt động quốc phòng Mặt khác, đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Các doanh nghiệp quốc phòng, trước đây, chủ yếu vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, khi chuyển sang cơ chế mới không tránh khỏi sự lúng túng bị động, của đội ngũ cán bộ quản lý các cấp Vì vậy, thông qua các hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân của các doanh nghiệp quốc phòng đã học tập được nhiều kinh nghiêm, trình độ tổ chức

Trang 40

quản lý sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, của các nhà đầu

tư nước ngoài Trong một không gian kinh tế chung, tại một địa phương, sự thẩm thấu trên là lẽ đương nhiên Nhưng cũng cần nhận thấy rằng, không phải mọi kinh nghiệm và biện pháp tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều được học hỏi để vận dụng vào các doanh nghiệp quốc phòng Vì rằng, ngoài quy chế chung, các

cơ sở sản xuất quốc phòng còn phải tuân thủ tính nghiêm ngặt về bí mật quân sự, bí mật quốc gia cũng như quy trình sản xuất, duy tu, bảo quản, bảo dưỡng các trang thiết

bị quân sự.

Tóm lại, TPKT có vốn đầu tư nước ngoài phát triển, đã tác động tích cực trên nhiều mặt vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đối với quá trình CCQP trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Nắm vững, hiểu rõ những tác động này, là cơ sở cho việc triển khai các giải pháp phát huy tác động tích cực đó trong thời gian tới ở Đồng Nai.

1.2.3 Những tác động không tích cực của quá trình phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài đối với củng cố quốc phòng ở tỉnh Đồng Nai

Quá trình phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta cũng như ở Đồng Nai đã khẳng định rõ vị trí, vai trò ngày càng quan trọng và có những tác động tích cực đối với CCQP, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực (đã phân tích ở trên), sự phát triển TPKT này còn có những tác động không tích cực đến CCQP ở tỉnh Đồng Nai như sau:

Một là, sự phát triển TPKT có vốn đầu tư nước ngoài đặt ra cho nhiệm vụ CCQP trên

địa bàn tỉnh Đồng Nai có nhiều khó khăn phức tạp hơn trước.

Mục đích của các nhà đầu tư nước ngoài đơn thuần là vì lợi nhuận Đầu tư vào ngành nào, lĩnh vực nào, vùng nào có lợi, còn những vùng, ngành, lĩnh vực khó khăn, không thuận lợi về giao thông đem lại lợi nhuận thấp thì họ ít hoặc không đầu tư Vì vậy dễ gây ra những bất cập, khó khăn cho việc xây dựng và quy hoạch khu vực phòng thủ – thế bố trí quốc phòng của tỉnh.

Mặc dù, UBND tỉnh đã có chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư vào những nơi không thuận tiện giao thông, vùng sâu, vùng xa, với mong muốn giảm sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, ngành trong tỉnh Nhưng trên thực tế việc đầu tư vào những vùng sâu, vùng xa như: Tân Phú, Định Quán còn ít, thậm chí một số huyện như: Xuân Lộc và Tân Phú chưa có cơ sở sản xuất công nghiệp đầu tư nước ngoài nào, mặc dù ở hai huyện này ngoài chính sách ưu đãi, tỉnh Đồng Nai đã có quy hoạch xây dựng KCN.

Ngày đăng: 25/09/2016, 10:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc ánh (2001), “Giải pháp thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Tạp chí Lý luận chính trị, 8-2001, tr.33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Ngọc ánh
Nhà XB: Tạp chí Lý luận chính trị
Năm: 2001
2. Ph.Ăngghen (1878), “Chống Đuy Rinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, H.1994, tr.15-450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy Rinh
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1994
3. Nguyễn Bá (2004), “Đồng Nai đứng đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài”, kinh tế và dự báo, 5/2004, tr.29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Nai đứng đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài
Tác giả: Nguyễn Bá
Nhà XB: kinh tế và dự báo
Năm: 2004
4. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), Tài liệu học tập nghị quyết hội nghị lần thứ 8, BCHTƯ Đảng khoá IX, Nxb CTQG, H.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập nghị quyết hội nghị lần thứ 8, BCHTƯ Đảng khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
5. Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai, Biên Hoà Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, Nxb Đồng Nai, 1998, tr.486 - 526 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên Hoà Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
6. Lê Văn Châu (1995), Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nxb CTQG, H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Châu
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb CTQG, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Đồng Nai (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, lần thứ VII, Nxb Đồng Nai - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai, lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Đồng Nai
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Đồng Nai (2001), Tài liệu học tập nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII, Nxb Đồng Nai 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Tỉnh uỷ Đồng Nai
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai (2004), Văn kiện, NQ 62- NQ/TƯ về xây dựng, phát huy vai trò công nhân viên chức lao động và tổ chức công đoàn trong thời kỳ CNH, HĐH từ nay đến 2010, Đồng Nai 5/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện, NQ 62- NQ/TƯ về xây dựng, phát huy vai trò công nhân viên chức lao động và tổ chức công đoàn trong thời kỳ CNH, HĐH từ nay đến 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
Nhà XB: Đồng Nai
Năm: 2004
12. Nguyễn Chí Định (2003), “Công nghiệp Đồng Nai: Thành tựu và vấn đề đặt ra”, Tạp chí Cộng sản (32) tháng 11/2003, tr.35-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp Đồng Nai: Thành tựu và vấn đề đặt ra
Tác giả: Nguyễn Chí Định
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2003
13. Thanh Giang (2002), “Các KCN vẫn là điểm sáng trong thu hút đầu tư”, Tạp chí Thông tin KCN Việt Nam 12-2002, tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các KCN vẫn là điểm sáng trong thu hút đầu tư”, "Tạp chí Thông tin KCN Việt Nam
Tác giả: Thanh Giang
Năm: 2002
14. Lê Thế Giới (2004), “Môi trường đầu tư từ Việt Nam qua góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, 1/2004, tr.18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường đầu tư từ Việt Nam qua góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài
Tác giả: Lê Thế Giới
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và dự báo
Năm: 2004
15. Hoàng Hải (2004), “Những vấn đề về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”, Tạp chí Cộng sản, (7) 4/2004, tr.48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Tác giả: Hoàng Hải
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2004
16. Nguyễn Văn Hùng (2002), “Tác động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với kinh tế Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, 6/2002, tr.31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đối với kinh tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và phát triển
Năm: 2002
17. Minh Hương (2004), “Kết quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2003”, Tạp chí Thông tin KCN Việt Nam 1/2004, tr.34-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2003"”, Tạp chí Thông tin KCN Việt Nam 1/2004
Tác giả: Minh Hương
Năm: 2004
18. V.I.Lênin (1917), “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của CNTB” V.I.Lênin, Toàn tập, tập 27, Nxb Tiến bộ, M.1980, tr.383-541 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của CNTB
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1917
19. V.I.Lênin (1921), “Bàn về thuế lương thực”, V.I.Lênin Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, M.1978, tr.244-296 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thuế lương thực”, "V.I.Lênin Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1921
22. Võ Văn Một (2000), “Đồng Nai tăng cường đầu tư chiều sâu xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân tháng 10/2004. tr.31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Nai tăng cường đầu tư chiều sâu xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh
Tác giả: Võ Văn Một
Nhà XB: Tạp chí Quốc phòng toàn dân
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w