1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH hải DƯƠNG LÃNH đạo PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế có vốn đầu tư nước NGOÀI GIAI đoạn 2001 2010

111 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế là một lĩnh vực trọng yếu, tạo cơ sở vật chất vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia dân tộc. Trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán chủ trương ưu tiên đổi mới, phát triển kinh tế, coi đó là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa quyết định sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Sau 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam có bước phát triển quan trọng, chấm dứt tình trạng khủng hoảng, ra khỏi danh sách nước nghèo kém phát triển và bước đầu xây dựng được nhiều tiền đề để sớm cơ bản trở thành nước công nghiệp.

Trang 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

Trang

TỈNH HẢI DƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN THÀNH

10

Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

Trang 2

PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (2000 - 2005)

1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về

phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2000 - 2005)

10

1.2 Đảng bộ tỉnh Hải Dương chỉ đạo phát triển thành phần kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài (2000 - 2005)

24

Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO ĐẨY

MẠNH PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (2006 - 2010)

33

2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về đẩy mạnh

phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2006 - 2010)

33

2.2 Đảng bộ tỉnh Hải Dương chỉ đạo đẩy mạnh phát triển thành

phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2006 - 2010)

43

3.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển

thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2000 - 2010)

55

3.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát

triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2000 - 2010)

Trang 3

hợp của quốc gia Sau 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, kinh tế Việt Nam có bước phát triển quan trọng, chấm dứt tình trạngkhủng hoảng, ra khỏi danh sách nước nghèo kém phát triển và bước đầu xâydựng được nhiều tiền đề để sớm cơ bản trở thành nước công nghiệp

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sự tồn tại và pháttriển của kinh tế nhiều thành phần nói chung và kinh tế có vốn ĐTNN nói riêng

là một tất yếu khách quan Thực tiễn 30 năm đổi mới cho thấy kinh tế có vốnĐTNN đã và đang chứng tỏ vai trò và động lực quan trọng đối với sự phát triểncủa kinh tế Việt Nam trên con đường hội nhập Thực hiện chủ trương của Đảng,Đảng bộ và nhân dân các tỉnh, thành phố trong cả nước đã phát huy tối đa tiềmnăng, lợi thế, tích cực, chủ động phát triển kinh tế có vốn ĐTNN theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy kinh tế cả nước nói chung và các địaphương nói riêng phát triển, hội nhập nhanh, hiệu quả và bền vững

Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, thuộc địabàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Trong những năm đổi mới, đặc biệt là

10 năm đầu của thế kỷ XXI, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, kinh tế cóvốn ĐTNN đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đưa Hải Dươngtrở thành một “điểm sáng” trong thu hút ĐTNN Tuy nhiên, quá trình pháttriển kinh tế có vốn ĐTNN ở Hải Dương vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhất

là tình trạng phát triển tự phát, gây những tác động tiêu cực, tạo ra trở ngạikhông nhỏ cho sự phát triển bền vững của Tỉnh trong những năm qua

Thực trạng trên đặt ra yêu cầu khách quan là cần tiếp tục làm tốt côngtác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế

có vốn ĐTNN của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong những năm 2000 - 2010,rút ra những kinh nghiệm quý báu, cung cấp những luận cứ quan trọng đểĐảng bộ Tỉnh tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạophát triển kinh tế có vốn ĐTNN trong thời kỳ mới

Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài từ năm 2000 đến năm 2010”

làm Luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vấn đề phát triển kinh tế có vốn ĐTNN đã trở thành đề tài hấp dẫn, thuhút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan, các nhà khoa học, trong đóliên quan trực tiếp đến đề tài có các nhóm công trình sau:

Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế có vốn ĐTNN ở Việt Nam

Lê Văn Châu (1995), Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế ở

Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Hoàng Công Hồng (1996), Xây dựng

môi trường đầu tư lành mạnh ổn định nhằm thu hút có hiệu quả nguồn đầu tư nước

ngoài, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính

sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội Hoàng Văn Huấn (2001), Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài

của Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội Vũ Xuân Bình (2002), “Đầu tư trực tiếp nước

ngoài - nguồn tiềm năng quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam”,

Tạp chí Giáo dục Lý luận, số 6 Lưu Tiền Hải (2002), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài,

những xu hướng hiện nay”, Tạp chí ngoại thương, số 13 Phạm Ngọc Anh (2004),

“Thu hút đầu tư nước ngoài - từ những ý tưởng của Hồ Chí Minh đến thực tiễn phát

triển hiện nay”, Việt Nam trên con đường lớn (1945 - 2005) vì mục tiêu dân giàu,

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Nxb Lao động, Hà Nội Mai Văn

Bảo (2005), “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội

đất nước”, Tạp chí lý luận chính trị, số 8 Lê Thị Thúy Nga (2005), Môi trường đầu

tư ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học

Kinh tế quốc dân, Hà Nội Ngô Hoài Anh (2006), Quản lý Nhà nước đối với lĩnh

vực đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học

Kinh tế quốc dân, Hà Nội Đỗ Đức Bình (2006), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của

các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn

Bích Đạt (2006), Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Ngô Văn Hiền (2006), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 114 Trần Quang Lâm (2006), Kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Bộ

Trang 5

Kế hoạch và Đầu tư (2007), Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài cho đến năm

2007, Hà Nội Cục Đầu tư nước ngoài (2007), 20 năm đầu tư nước ngoài: Nhìn lại

và hướng tới, Nxb Tri thức, Hà Nội Phùng Xuân Nhạ (chủ biên) (2007), Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Chính sách và thực tiễn, Nxb Đại

học quốc gia, Hà Nội Phí Thị Lan Phương (2007), Phát triển kinh tế có vốn đầu tư

nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ

kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Cao Thị Lệ (2008), Khu vực

kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam, Luận

văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Phan Hữu Thắng (2008),

Tổng kết 20 năm Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo,

số 1/2008 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Kỷ yếu hội nghị 25 năm đầu tư trực

tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Phạm Xuân Hữu (2013), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài từ năm 2001 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học Viện Chính

trị - Bộ Quốc phòng

Các công trình trên đều khẳng định tính tất yếu khách quan về sự tồn tại củakinh tế có vốn ĐTNN ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Vớinhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã luận giải sâu sắc cơ sở lý luận, thựctiễn, thực trạng và tác động của kinh tế có vốn ĐTNN ở Việt Nam trong gần 30năm qua Vì vậy, đây là nguồn tư liệu quý, trực tiếp cung cấp cho tác giả nhữngtiền đề lý luận và cơ sở thực tiễn đúng đắn trong nhận thức về kinh tế có vốnĐTNN ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, giúp tác giả phát triển tư duy hệthống, toàn diện và biện chứng trong nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh HảiDương lãnh đạo phát triển kinh tế có vốn ĐTNN từ năm 2000 đến năm 2010

Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế có vốn ĐTNN

ở các địa phương

Phan Hy (1996), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí

Minh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội Lê Hồng Sơn (1998), Vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà

Nội Lê Thị Hương Quê (2008), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nghệ An,

Trang 6

Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Nguyễn Thị Ngọc

Mai (2010), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội Phạm Duyên Minh (2009), Phát triển kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Bắc Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế,

Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Nam (2000), Đầu tư trực

tiếp nước ngoài tại Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc

dân Hà Nội Nguyễn Thị Nga (2011), Những tác động trái chiều của đầu tư

trực tiếp nước ngoài đến đời sống kinh tế - xã hội ở Đồng Nai hiện nay, Luận

văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị Đặng Xuân Thùy (2011), Thu hút đầu

tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp ở Vĩnh Phúc, Luận án tiến sĩ kinh

tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Nguyễn Thị Vân (2012), Vai trò củađầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ,

Tạp chí Khoa học xã hội, số 11 (171).

Các công trình trên tiếp tục khẳng định tính tất yếu phát triển kinh

tế có vốn ĐTNN trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương hiệnnay Đồng thời đã đề cập một số nội dung trong chủ trương, chính sáchcủa Đảng bộ, chính quyền các địa phương về phát triển kinh tế có vốnĐTNN trong công cuộc đổi mới Nhìn nhận khá sâu sắc và toàn diện vềthực trạng hoạt động và tác động của kinh tế có vốn ĐTNN ở các địaphương trong cả nước hiện nay Các tài liệu trên đã phản ánh hoạt độnglãnh đạo của các đảng bộ ở các địa phương về phát triển kinh tế có vốnĐTNN trong những năm đổi mới Đây là nguồn tài liệu tham khảo rất bổích đối với tác giả nhất là trong so sánh, đánh giá về chủ trương chínhsách phát triển kinh tế có vốn ĐTNN của Đảng bộ tỉnh Hải Dương với cácđảng bộ ở các địa phương khác trong cả nước

Nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế có vốn ĐTNN tỉnh Hải Dương

Nguyễn Thị Thu Thủy (2006), Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài

tỉnh Hải Dương - Thực trạng và giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Ngoại thương, Hà Nội Nguyễn Văn Tứ, (2009), Phát triển bền vững công

Trang 7

nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính

trị - Hành chính khu vực I, Hà Nội Nguyễn Quang Tạo (2013), Tác động của

đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương, Luận

văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng, Hà Nội

Vương Đức Sáng (2014), Đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Hải Dương cùng

vấn đề đặt ra từ sau khi Việt Nam ra nhập WTO, Cổng thông tin điện tử Sở Kế

hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương

Các công trình trên đã làm rõ quá trình tồn tại và phát triển của thànhphần kinh tế có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương Các công trình chủ yếu

đề cập thực trạng phát triển và những tác động của kinh tế có vốn ĐTNN trênđịa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị, giải phápthực tiễn để phát triển kinh tế có vốn ĐTNN trên địa bàn Tỉnh trong những nămtiếp theo Mặc dù chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện hoạt động lãnhđạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong phát triển kinh tế có vốn ĐTNN nhưngcác công trình trên là nguồn tài liệu quý, trực tiếp cung cấp cho tác giả những sốliệu thực tiễn sinh động và phong phú về thực trạng phát triển của kinh tế có vốnĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong gần 30 năm đổi

Tóm lại, ngay từ khi ra đời, kinh tế có vốn ĐTNN đã nhận được sự quantâm nghiên cứu của nhiều học giả thuộc nhiều ngành khoa học và dưới nhiều cấp

độ khác nhau Bằng cơ sở lý luận và thực tiễn các công trình đã khẳng định tínhtất yếu và vai trò to lớn của kinh tế có vốn ĐTNN đối với phát triển kinh tế ViệtNam trong bối cảnh hội nhập Trên cơ sở đánh giá thực trạng các công trìnhnghiên cứu đã đề xuất nhiều kiến nghị, giải pháp phát triển kinh tế có vốnĐTNN trên phạm vi cả nước cũng như trên một số địa bàn trọng điểm Tuynhiên, xét một cách tổng thể, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, cho đến naychưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về chủ trương, sựchỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong phát triển kinh tế có vốn ĐTNN

trong 10 năm đầu của thế kỷ XXI Do đó, đề tài: “Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài từ năm

Trang 8

2000 đến năm 2010” là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với

các công trình nghiên cứu về kinh tế có vốn ĐTNN đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnhđạo phát triển thành phần kinh tế có vốn ĐTNN từ năm 2000 đến năm 2010.Trên cơ sở đó, rút ra một số nhận xét và những kinh nghiệm chủ yếu để vậndụng trong những năm tới

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triểnthành phần kinh tế có vốn ĐTNN trong những năm 2000 - 2010

Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh HảiDương về phát triển thành phần kinh tế có vốn ĐTNN từ năm 2000 đến năm 2010

Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển thànhphần kinh tế có vốn ĐTNN trong những năm 2000 - 2010 và rút ra nhữngkinh nghiệm chủ yếu, có giá trị

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương vềphát triển kinh tế có vốn ĐTNN

* Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo phát

triển kinh tế có vốn ĐTNN của Đảng bộ tỉnh Hải Dương

Về thời gian: Tập trung trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm

2010 Tuy nhiên, để đảm bảo tính hệ thống và mục đích nghiên cứu đề tài có

sử dụng tài liệu, tư liệu trước năm 2000 và sau năm 2010

Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận

Trang 9

Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duyvật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phương phápluận sử học macxít.

* Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là chủ yếu Đồngthời trong quá trình thực hiện, đề tài còn sử dụng các phương pháp đồng đại, lịchđại, so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp…

6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài góp phần tổng kết quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạophát triển kinh tế có vốn ĐTNN từ năm 2000 đến năm 2010 Khẳng định vaitrò quyết định của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với sự phát triển kinh tế nóichung, kinh tế có vốn ĐTNN nói riêng Trên cơ sở đó tiếp tục củng cố, giữvững niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnhtrước những diễn biến phức tạp của tình hình hiện nay

Đề tài là một nguồn tư liệu để các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổchức chính trị - xã hội ở Hải Dương nghiên cứu, vận dụng trong lãnh đạo, chỉđạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế có vốn ĐTNN một cáchchủ động, tích cực và hiệu quả

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạyLịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các nhà trường trong và ngoài quân đội

7 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm: Mở đầu, 03 chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục

Chương 1

Trang 10

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG

VỀ PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC

NGOÀI (2000 - 2005) 1.1 Yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương

về phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2000 - 2005)

1.1.1 Yêu cầu khách quan lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Hải Dương

* Vị trí, vai trò của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối

với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương

- Quan niệm về kinh tế có vốn ĐTNN.

Kinh tế có vốn ĐTNN là một thuật ngữ mới được sử dụng trong một vài

thập niên gần đây, khi xuất hiện đầu tư từ nước ngoài vào một quốc gia nào đótrên cơ sở hợp tác tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi Với tư cách là một thànhphần kinh tế, kinh tế có vốn ĐTNN được hiểu là một loại hình kinh tế gồm những

cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn của các doanh nghiệp, cá nhân người nướcngoài tham gia đầu tư nhằm thực hiện những mục đích kinh tế nhất định Đặctrưng của kinh tế có vốn ĐTNN là tính quốc tế và đầu tư thu lợi nhuận Vì vậy,vốn của chính phủ và các tổ chức quốc tế, các cơ quan phi chính phủ của nướcngoài ở các hình thức viện trợ không hoàn lại, cho vay ngắn hạn, cho vay với lãisuất thấp hoặc lãi suất thông thường mang tính chất hỗ trợ nhân đạo cho các hoạtđộng y tế, giáo dục, khắc phục hậu quả thiên tai… không nhằm mục đích đầu tưkiếm lợi thì không nằm trong khuôn khổ của loại hình kinh tế có vốn ĐTNN

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng đánh dấu mốcquan trọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam; với quan điểm đổi mới toàndiện, đồng bộ và triệt để Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đưa đấtnước tiếp tục phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa Nhận thức sâu sắc tínhtất yếu khách quan về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, Đại hội

VI của Đảng chủ trương: công bố chính sách ĐTNN vào Việt Nam dưới nhiềuhình thức đồng thời đổi mới cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi chongười nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước hợp tác sản

Trang 11

xuất kinh doanh Thực hiện chủ trương của Đảng, tháng 12 năm 1987, lần đầu

tiên “Luật đầu tư nước ngoài” của Việt Nam đã được công bố với nhiều chính

sách ưu đãi Từ đó, Việt Nam nhanh chóng trở thành điểm đến hấp dẫn của cácnhà đầu tư đồng thời kinh tế có vốn ĐTNN từng bước khẳng định vị trí, vai tròcủa mình đối với sự phát triển KT-XH của đất nước; là nguồn vốn bổ sung quantrọng cho nhu cầu đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng và quá trình chuyểndịch cơ cấu kinh tế, góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm, nâng caonăng suất lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập của đất nước

- Vị trí, vai trò của kinh tế có vốn ĐTNN với sự phát triển KT-XH tỉnh Hải Dương

Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Hải Dương, kinh tế có vốnĐTNN có vị trí, vai trò quan trọng, biểu hiện:

Một là, kinh tế có vốn ĐTNN trực tiếp bổ sung vốn đầu tư và tăng thu cho ngân sách địa phương Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đất nước nói chung,

Hải Dương nói riêng đòi hỏi vốn đầu tư lớn Trong quan hệ giữa đầu tư trong nước

và ĐTNN thì đầu tư trong nước là chủ yếu, giữ vai trò quyết định Tuy nhiên, trongđiều kiện vốn đầu tư Trung ương khó khăn, tích luỹ từ nội bộ hạn chế thì tranh thủvốn ĐTNN trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ là rất cần thiết Hải Dương là một tỉnhthuần nông, vốn tích luỹ không đủ đáp ứng yêu cầu đầu tư; vì vậy, kinh tế có vốnĐTNN sẽ trực tiếp bổ sung nguồn vốn đầu tư, giảm bớt khó khăn về thiếu vốn đầu

tư Cùng với các nguồn thu từ xuất khẩu, kinh tế có vốn ĐTNN còn tạo ra các nguồnthu từ các hoạt động dịch vụ, góp phần tăng thu ngân sách của Tỉnh

Hai là, kinh tế có vốn ĐTNN góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh Kinh tế có vốn ĐTNN hoạt động sẽ tạo

nên sự kết hợp tối ưu giữa các yếu tố sản xuất và sử dụng triệt để các nguồnlực nhàn rỗi trong Tỉnh tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn Để tổ chức hoạtđộng các nhà ĐTNN phải thuê lao động, mua nguyên liệu, hàng hoá, dịch vụcần thiết, và các yếu tố đầu vào tại chỗ; những hoạt động này sẽ kích thích cácngành, các thành phần kinh tế khác phát triển đồng thời kích thích nhu cầuđầu tư, làm cho tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng lên Kinh tế có vốn ĐTNNtrên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, theo

Trang 12

đó cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, cơ cấu lao động của Tỉnh chuyển dịch tích cựctheo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ

Ba là, kinh tế có vốn ĐTNN sẽ tạo ra một khối lượng lớn việc làm và nâng cao chất lượng lao động của Tỉnh Kinh tế có vốn ĐTNN phát triển sẽ

thu hút một lượng lớn lao động tại địa phương Hoạt động của các doanhnghiệp có vốn ĐTNN cũng gián tiếp tạo ra khối lượng việc làm cho lao độngtại địa phương thông qua các ngành gia công, phụ trợ, dịch vụ phục vụ chohoạt động của kinh tế có vốn ĐTNN Đặc biệt, do đòi hỏi cao ở người laođộng về trình độ, năng lực, tác phong làm việc của các doanh nghiệp có vốnĐTNN nên chất lượng nguồn lao động của Tỉnh từng bước được nâng cao

Bốn là, kinh tế có vốn ĐTNN góp phần nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của địa phương Phần lớn các doanh nghiệp ĐTNN có trình độ khoa học và

công nghệ khá hiện đại, có đội ngũ chuyên gia quản lý tốt, có kinh nghiệm Do đó,quá trình phát triển kinh tế có vốn ĐTNN cũng đồng thời là quá trình tiếp thu, sửdụng những công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới Các doanh nghiệp có vốnĐTNN áp dụng mô hình quản lý tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đại, điều

đó thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước đổi mới kỹ thuật và công nghệ

Năm là, kinh tế có vốn ĐTNN góp phần mở rộng thị trường, nâng cao kim ngạch xuất khẩu đồng thời thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Tỉnh Kinh tế có vốn ĐTNN phát triển, Hải Dương có điều kiện thuận lợi để gắn

kết quá trình sản xuất của Tỉnh với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc

tế Đối tác đầu tư thường là những công ty, tập đoàn xuyên quốc gia với mạnglưới chi nhánh toàn cầu Do vậy, thông qua hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN, HảiDương sẽ tiếp cận và mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuấtkhẩu đồng thời thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của địa phương

* Những tiềm năng, lợi thế và thực trạng hoạt động kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài ở Hải Dương trước năm 2000

- Những tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế có vốn ĐTNN ở Hải Dương Điều kiện tự nhiên, Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc

Bộ có diện tích tự nhiên là 1.660,9 km2, tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở

Trang 13

tách ra của tỉnh Hải Hưng cũ (bao gồm Hải Dương và Hưng Yên ngày nay) Làmột tỉnh nằm trong khu vực tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - QuảngNinh, Hải Dương nằm giữa cảng Hải Phòng và Thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với 6tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Phòng.

Địa hình Hải Dương khá đa dạng, phần lớn là đồng bằng; vùng bán sơn địa

và rừng núi thuộc phía Bắc, chiếm 11% diện tích tự nhiên, vùng đồng bằng rộnglớn chiếm 89% diện tích tự nhiên, đất đai màu mỡ Địa hình bằng phẳng thuận lợi

để phát triển giao thông, yếu tố quan trọng cho phát triển KT-XH Sông ngòi của

Tỉnh khá dày đặc, chiếm 6,6% diện tích tự nhiên; Hải Dương có 6 cửa sông lớn làBạch Đằng, Nam Triệu, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và Thái Bình Từ những cửasông này, tàu thuyền có thể từ biển vào Hải Dương qua sông Thái Bình và sông

Kinh Thầy đã tạo điều kiện tốt cho sản xuất cũng như vận tải đường sông Về

khoáng sản, mặc dù không có nhiều nhưng Hải Dương có một số khoáng sản với

giá trị kinh tế cao như đá vôi, xi măng, cao lanh, đất sét chịu lửa… Đây là nguồnnguyên liệu quý giá, không chỉ là cơ sở để phát triển công nghiệp mà còn là lợi thế

so sánh của tỉnh Hải Dương trong thu hút các đối tác, phát triển kinh tế có vốn

ĐTNN Về khí hậu, Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung

bình hàng năm 23,3oC, giờ nắng trung bình hàng năm là 1.524 giờ, lượng mưatrung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85 - 87%

Các yếu tố tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi để Hải Dương phát triển kinh

tế với một cơ cấu đa ngành, đa nghề; tạo ra những lợi thế so sánh tương đối vàlợi thế so sánh tuyệt đối trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung

và phát triển kinh tế có vốn ĐTNN nói riêng

Điều kiện kinh tế - xã hội, điểm nổi bật về KT-XH của Hải Dương tạo

điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế có vốn ĐTNN mà ít địa phương khác

có được là Giao thông và cơ sở hạ tầng Tỉnh Hải Dương có hệ thống giao

thông và cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi đồng thời lànội dung hấp dẫn để thu hút ĐTNN Hệ thống giao thông gồm đường bộ,đường thuỷ và đường sắt, phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnhkhác trong khu vục Hệ thống quốc lộ qua địa phận tỉnh Hải Dương có 7

Trang 14

tuyến: đường số 5, 183, 18, 37, 38, 10, đây đều là những tuyến đường cấp I,cho 4 làn xe đi lại thuận tiện Hệ thống giao thông đường thuỷ của HảiDương khá thuận lợi với 400km đường sông cho tàu thuyền 500 tấn qua lại dễdàng; cảng Cống Câu với công suất 300.000 tấn/năm, cùng hệ thống bến bãi

và cảng nội địa đã đáp ứng tốt nhu cầu tập kết và vận tải hàng hoá một cáchthuận lợi Đường sắt chạy qua địa bàn tỉnh Hải Dương dài 68,17km với 7 ga,gồm 3 tuyến: Hà Nội - Hải Phòng, Kép - Hạ Long và Chí Linh - Cổ Thành.Với hệ thống giao thông đa dạng, khá hoàn chỉnh và hiện đại, Hải Dương cónhiều thuận lợi trong phát triển KT-XH nói chung và kinh tế có vốn ĐTNN

nói riêng Về dân số, năm 2005, dân số của Hải Dương là 1.711.364 người

[10, tr.13] trong đó người trong độ tuổi lao động chiếm 49% Với quy mô dân

số trên Hải Dương có mật độ dân số đông (1.038người/km2) [10, tr.13], đứngthứ 11/63 tỉnh thành trong cả nước và thứ 5/11 tỉnh thành vùng đồng bằngsông Hồng Với quy mô dân số và tỷ lệ lao động như như trên Hải Dương cónhiều tiềm năng phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH Đặc biệt, trình độ dântrí Hải Dương khá cao, số người trên 15 tuổi đã qua đào tạo chiếm 41%, trong

đó đào tạo nghề là 31,54%, tốt nghiệp đại học chiếm 2,9%, cao đẳng 2,1%,Trung học chuyên nghiệp là 5,8%, số người có chứng chỉ, công nhân kỹ thuậtnghiệp vụ chiếm 3,2% Như vậy, Hải Dương là tỉnh có nguồn nhân lực dồidào, với đức tính cần cù, hiếu học, khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học kỹthuật tốt, là điều kiện thuận lợi để hình thành một đội ngũ lao động có chấtlượng cao đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư

Với bàn tay khéo léo, tài hoa và óc sáng tạo của người dân, Hải Dương làquê hương của nhiều làng nghề danh tiếng như rượu nếp Phú Lộc, chạm khắc gỗĐông Giao, gốm Chu Đậu, thủ công mỹ nghệ vàng bạc ở Bình Giang, chạm khắc

đá ở Kinh Môn, Bánh đậu xanh, bánh gai Ninh Giang, vải thiều Thanh Hà… Hơnnữa, Hải Dương nằm trong vùng du lịch Bắc Bộ, sản phẩm du lịch đặc trưng là dulịch văn hóa và du lịch tham quan, nghiên cứu Hải Dương có những địa danh dulịch nổi tiếng như quần thể di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (Chí Linh), núi An Phụ,động Kính Chủ, đảo Cò (Thanh Miện)… Đây là điều kiện thuận lợi tạo lợi thế so

Trang 15

sánh tuyệt đối của Hải Dương trong phát triển KT-XH nói chung và kinh tế cóvốn ĐTNN trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ nói riêng.

- Thực trạng hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN ở Hải Dương trước năm 2000

Quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng, ngaysau khi tái lập (1997), Đảng bộ tỉnh Hải Dương sớm có chủ trương phát triểnkinh tế có vốn ĐTNN Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XII(9/1997) xác định: “Đẩy nhanh các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, ưutiên các dự án công nghiệp hiện đại, sản phẩm chủ yếu để xuất khẩu, chế biếnnông sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, điện tử” [4, tr.13] Thực hiện chủtrương của Đảng bộ Tỉnh, hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN trên địa bàn HảiDương sớm được cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp tổ chức thực hiện, triểnkhai mạnh mẽ và thu được một số kết quả:

Thứ nhất, về số lượng dự án và vốn đầu tư Từ 02 dự án kinh tế có vốn

ĐTNN đầu tiên trên địa bàn tỉnh Hải Dương năm 1990 (Liên doanh chế tácKim cương Việt Nam - Bỉ và Liên doanh tơ lụa Việt - Triều) đến năm 1999 đãtăng lên 32 dự án với tổng số vốn đăng ký 508,6 triệu USD [24, tr.250] đượccấp phép Mặc dù chưa phải là lớn so với phạm vi cả nước nhưng so với cáctỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng, Hải Dương đã thu hút được số lượng dự ánnhiều hơn các tỉnh trong khu vực (Hưng Yên: 5 dự án, Thái Bình: 5 dự án).Đến 30/6/2000, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 22 dự án đi vào hoạt động vàphát huy hiệu quả Trong những năm 1990 -1999, kinh tế có vốn ĐTNN đã gópphần tăng nguồn vốn đầu tư phát triển của Tỉnh, đóng góp của kinh tế có vốnĐTNN vào tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn liên tục tăng, năm 1996 là 33

tỷ đồng, năm 1997 là 106 tỷ đồng, năm 1998 là 192 tỷ đồng và năm 1999 con

số này là 168 tỷ đồng và chiếm 2,88% GDP [24, tr.22]

Thứ hai, kinh tế có vốn ĐTNN hoạt động làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu

và thu ngân sách của Tỉnh Kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh tăng từ 36.853 USD(1997) lên 45 triệu USD (1999), trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốnĐTNN chiếm tỷ trọng khá, năm 1997 là 27,1%, năm 1998 là 28,42%, và năm 1999

là 16,1% [24, tr.130] Kinh tế có vốn ĐTNN đã đóng góp một phần vào ngân sách

Trang 16

Tỉnh Năm 1997, Liên doanh chế tác Kim cương Việt Nam - Bỉ doanh thu đạt287.000 USD, nộp ngân sách 17.800 USD; Liên doanh tơ lụa Việt - Triều doanhthu đạt 466.800 USD, nộp ngân sách 22.225 USD [24, tr.168].

Thứ ba, bước đầu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần

giải quyết việc làm Các doanh nghiệp có vốn ĐTNN chủ yếu hoạt động trên lĩnhvực công nghiệp Do vậy, cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng của GDP kinh tế cóvốn ĐTNN tác động làm cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch Tỷ trọngtrong GDP của ngành nông, lâm nghiệp có chiều hướng giảm từ 40,6% (1995)xuống còn 36,6% (1999) Tỉ trọng của ngành dịch vụ tăng từ 24,5% (1995) lên28% (2000) Hoạt động của các doanh nghiệp có ĐTNN đã tạo việc làm cho một

bộ phận lao động Năm 1999, với 1.800 lao động trong các doanh nghiệp có vốnĐTNN đã góp phần đẩy lùi tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trên địa bàn

Bên cạnh những kết quả bước đầu, hoạt động kinh tế có vốn ĐTNNtrên địa bàn Hải Dương trước năm 2000 còn bộc lộ nhiều hạn chế Cụ thể là:

Thứ nhất, việc huy động nguồn vốn, trình độ kỹ thuật công nghệ và hiệu

quả sản xuất kinh doanh của kinh tế có vốn ĐTNN còn thấp, chưa tương xứngvới tiềm năng của địa phương và bản thân thành phần kinh tế có vốn ĐTNN

Đa số các dự án đầu tư thuộc loại vừa và nhỏ, các dự án có quy mô vốn từ 1triệu USD đến dưới 10 triệu USD chiếm tỷ lệ lớn 86% (1999) Hoạt động củamột số doanh nghiệp có vốn ĐTNN gặp không ít khó khăn, tình trạng xin rútgiấy phép diễn ra khá lớn Năm 1999 có 6/29 doanh nghiệp xin rút giấy phép.(Liên doanh nước hoa quả Hải Chung, Liên doanh Hương Giang, Công ty tàichính Transviet, dự án chế biến nông sản Vĩnh Phong - Bắc Việt, dự án sứ vệtinh Karat, và Liên doanh bia châu Á - Thái Bình Dương) [58, tr.3] Một số dự

án sau khi nhận giấy phép, chậm triển khai hoạt động hoặc hoạt động kém hiệuquả Trước năm 2000, các dự án ĐTNN của Hải Dương, chủ yếu trên lĩnh vựccông nghiệp, lĩnh vực nông nghiệp rất ít (6/32 dự án), tạo nên sự mất cân đốitrong phát triển ngành nghề của địa phương Các dự án ĐTNN vào Hải Dươngtrước năm 2000 chủ yếu đến từ các nước và vùng lãnh thổ châu Á có trình độcông nghệ ở mức độ trung bình

Trang 17

Thứ hai, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do là một hoạt động kinh tế

mới nên quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành của Đảng bộ, chínhquyền địa phương đối với hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN chưa đáp ứng với yêucầu Công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương phát triển kinh tế có vốn ĐTNNchưa được quan tâm đúng mức Việc quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế

có vốn ĐTNN chưa rõ ràng Cơ sở hạ tầng nhiều nơi trong Tỉnh còn gặp khókhăn nên chưa tạo được môi trường thuận lợi cho việc thu hút ĐTNN Năng lực,kinh nghiệm xúc tiến vận động thu hút ĐTNN của địa phương còn hạn chế

Thứ ba, kinh tế có vốn ĐTNN gây ra một số tác động tiêu cực đến sự phát

triển KT-XH của địa phương Vì mục đích thu lợi nhuận tối đa, các nhà đầu tư ítquan tâm đến xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Do vậy, xuất hiện một số vấn đề tiêu cực trong trong hoạt động ĐTNN ở HảiDương, các nhà đầu tư luôn tìm cách trốn thuế và lẩn tránh trách nhiệm trong thựchiện chính sách với người lao động Hiện tượng thực hiện chính sách bảo hiểm vàchi trả tiền lương chưa đúng quy định của pháp luật đã xuất hiện Đặc biệt, tìnhtrạng ngược đãi của chủ đầu tư đối với người lao động dẫn đến các cuộc đìnhcông, bãi công, gây lên những phức tạp về trật tự xã hội trên một số địa bàn

Thực trạng trên đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Hải Dươngtiếp tục quán triệt đường lối của Đảng, phát huy tối đa thế mạnh của địaphương, phát triển kinh tế có vốn ĐTNN mạnh mẽ hơn theo hướng nhanh,hiệu quả và bền vững

* Quan điểm và những định hướng lớn của Đảng về phát triển kinh tế có vốn ĐTNN trong công cuộc đổi mới.

- Quan điểm

Điểm nổi bật trong đường lối đổi mới kinh tế của Đại hội VI (12/1986) củaĐảng là chủ trương xây dựng một nền kinh tế mới năng động, có sự hiện diện củanhiều thành phần kinh tế trong đó có mở rộng và phát huy hiệu quả của kinh tế đốingoại Đại hội VII (1991) và Đại hội VIII (1996) của Đảng tiếp tục quan điểm: Nềnkinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đồng thời chỉ rõ yêu cầu

mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa các nguồn vốn bên ngoài phục vụ đắc lực

Trang 18

sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xuất phát từ nhữngđặc điểm mới của tình hình thế giới và trong nước, từ những kết quả phát triển kinh

tế có vốn ĐTNN trong 15 năm đổi mới, Đại hội IX (2001), Đảng đã bổ sung thêm

một thành phần kinh tế mới - thành phần kinh tế có vốn ĐTNN Đại hội khẳng

định: “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của kinh tế Việt Nam,được khuyến khích phát triển” [31, tr.191] Đại hội X (4/2006) tiếp tục khẳng định

“Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nềnkinh tế Việt Nam, được đối xử bình đẳng như doanh nghiệp Việt Nam trong kinhdoanh Tạo điều kiện cho ĐTNN tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, cácvùng lãnh thổ phù hợp với cam kết quốc tế của nước ta” [33, tr 238] Quan điểmcủa Đảng đối với kinh tế có vốn ĐTNN được thể hiện:

Một là, kinh tế có vốn ĐTNN là một bộ phận trong cơ cấu nền kinh tế

nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đây là quanđiểm đúng đắn, thể hiện nhận thức mới của Đảng về kinh tế có vốn ĐTNN Từchỗ phủ nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế ngoài kinh tế quốc doanh vàkinh tế tập thể đến chỗ thừa nhận và coi kinh tế có vốn ĐTNN là một thành phầnkinh tế độc lập, một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Quan điểmtrên thể hiện nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn ĐTNN

Hai là, Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để thành phần

kinh tế có vốn ĐTNN phát triển, kinh tế có vốn ĐTNN bình đẳng, cạnh tranhlành mạnh với các thành phần kinh tế khác Theo đó, Đảng chủ trương tiếp tụccải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, chú trọng đào tạonguồn nhân lực, tạo lập những điều kiện thuận lợi để thu hút mạnh các nguồnvốn quốc tế Đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách liên quan tạohành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, phát huy cao độ lợi thế so sánh củađất nước để thu hút tốt hơn và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn ĐTNN

Ba là, khuyến khích phát triển kinh tế có vốn ĐTNN vào các ngành, các

lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyênthiên nhiên, khoáng sản và lao động dồi dào Tuy nhiên, năng lực đầu tư, kết cấu

hạ tầng KT-XH cũng như trình độ khoa học công nghệ của nước ta còn thấp

Trang 19

kém và lạc hậu Vì vậy, cần thu hút mạnh các nhà đầu tư vào các ngành, các lĩnhvực quan trọng của nền kinh tế để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Tập trung thu hút ĐTNN vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanhhàng hóa xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH, công nghệ hiện đại.Khuyến khích ĐTNN vào các ngành công nghiệp, các ngành có công nghệ cao,các ngành có lợi thế so sánh, tạo nhiều việc làm cho người lao động.

- Những định hướng lớn

Trên cơ sở những quan điểm đúng đắn, trong những năm 2000 - 2010,Đảng xác định những định hướng lớn để phát triển kinh tế có vốn ĐTNN Đó là:

Thứ nhất, cải thiện môi trường và nâng cao khả năng thu hút ĐTNN.

Mặc dù Việt Nam có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên cũng như nhữngchính sách ưu đãi nhưng môi trường đầu tư vẫn còn không ít hạn chế Vì vậy,cải thiện môi trường đầu tư là một giải pháp tích cực, vừa mang tính cấp báchvừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài Cải thiện môi trường đầu tư cần đẩy mạnhxây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH, phát huy lợi thế so sánh của đất nước Tiếptục đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Thứ hai, đa dạng hoá các hình thức đầu tư, tăng mạnh về số lượng đi đôi

với nâng cao chất lượng và hiệu quả vốn ĐTNN Đại hội IX (4/2001) của Đảngxác định: “Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện trong 5 năm tới khoảng9-10 tỷ USD, bao gồm vốn các dự án đã được cấp phép chưa thực hiện của cácnăm trước, vốn thực hiện các dự án cấp phép mới và vốn bổ sung các dự án đãthực hiện” [31, tr.269] Đến năm 2005 đóng góp của kinh tế có vốn ĐTNNkhoảng 15% GDP, 25% tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng 10% thu ngân sáchcủa cả nước Tại Đại hội X (4/2006) của Đảng, trên cơ sở đánh giá kết quả thu hútvốn ĐTNN 5 năm 2001 - 2005, Đảng định hướng 5 năm 2006 - 2010 cần: “Tăngcường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tưphát triển toàn xã hội… trung bình mỗi năm đạt trên 5 tỷ USD” [33, tr.204]

Thứ ba, thu hút ĐTNN hướng vào những thị trường giàu tiềm năng, các tập

đoàn kinh tế lớn, có uy tín trên thế giới Trước năm 2001, phần lớn các doanhnghiệp có vốn ĐTNN hoạt động ở Việt Nam đến từ các nước trong khu vực châu Á

Trang 20

và là các công ty có quy mô vốn không lớn, trình độ khoa học công nghệ ở mứctrung bình, hoạt động gia công là chủ yếu Vì vậy, Đảng định hướng tập trung thuhút sự đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn, các nhà đầu tư có tiềm năng về tài chính

và công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển Vận động, thu hút các tậpđoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam đồng thời chú ý đến các công ty có quy môvừa và nhỏ nhưng công nghệ hiện đại Đại hội X (2006), Đảng xác định: “…tạo lợithế so sánh để thu hút nhiều doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế hàng đầu thếgiới, đầu tư cho sản phẩm xuất khẩu và công nghệ cao” [33, tr.240]

Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thành phần

kinh tế có vốn ĐTNN Đại hội IX (2001), Đảng chỉ rõ: “Nâng cao hiệu lực và hiệuquả quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài” [31, tr.200] Đến Đại hội X (2006), Đảng tiếp tục địnhhướng: “đổi mới phương thức quản lý nhà nước và cải tiến mạnh mẽ thủ tục đầu tư,thực hiện đúng các quy định của Luật đầu tư và phù hợp với lộ trình thực hiện cáccam kết quốc tế của nước ta” [33, tr.238] Theo đó, Đảng chủ trương tiếp tục hoànthiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về ĐTNN Thực hiện tốt việc phân cấpquản lý ĐTNN Kịp thời phát hiện, xử lý những sai phạm và khắc phục những tácđộng tiêu cực của ĐTNN, bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước

Những quan điểm và định hướng lớn trên đây của Đảng là cơ sở quantrọng, tạo tiền đề trực tiếp, xuyên suốt để Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo pháttriển thành phần kinh tế có vốn ĐTNN đúng hướng, hiệu quả

1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2000 - 2005)

Trong những năm 2000 - 2005, Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã ban hànhnhiều chủ trương phát triển kinh tế có vốn ĐTNN Những chủ trương đó đượcthể hiện ở văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII (2000), Chươngtrình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứXIII (4/5/2001), Chương trình số 12 - CTr/TU của Tỉnh ủy về thu hút và sửdụng có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2001 - 2005 (26/9/2001), Đề

Trang 21

án tạo môi trường thuận lợi, thu hút mọi nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nướcvào tỉnh Hải Dương (26/9/2001) Nội dung cụ thể:

* Quan điểm chỉ đạo

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII (12/2000) nêurõ: “Tập trung tăng nhanh đầu tư phát triển Có giải pháp cụ thể để huy độngnhiều nguồn vốn, bao gồm vốn từ ngân sách tập trung, vốn từ quỹ hỗ trợ đầu

tư, vốn tín dụng đầu tư, vốn của các doanh nghiệp, vốn huy động của nhândân, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.” [5, tr.53-54]

Như vậy, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII, đã chỉ

rõ vốn ĐTNN là một bộ phận trong cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triển củaTỉnh Cụ thể hoá quan điểm của Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII, trên

cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN, Chương trình thu hút

và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư của tỉnh Hải Dương giai đoạn

2001 - 2005 (26/9/2001) khẳng định: “Đầu tư nước ngoài đã trở thành một trongnhững nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sựchuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [6, tr.192] Đồngthời khẳng định kinh tế có vốn ĐTNN “đang dần có vị trí quan trọng trong pháttriển kinh tế và đóng góp nhiều vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tạo công ănviệc làm cho người lao động” [6, tr.196]

Quan điểm trên thể hiện nhận thức mới của Đảng bộ Tỉnh về phát triển kinh

tế có vốn ĐTNN, là sự quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế

có vốn ĐTNN Đặc biệt, quan điểm trên thể hiện nét mới của Đảng bộ tỉnh HảiDương so với quan điểm của Đảng về kinh tế có vốn ĐTNN Đánh giá cao vai tròcủa kinh tế có vốn ĐTNN, Đại hội IX, Đảng đánh giá kinh tế có vốn ĐTNN là một

bộ phận của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta Đảng bộ tỉnh Hải Dương,

đánh giá cao vai trò của kinh tế có vốn ĐTNN, đang dần “có vị trí quan trọng”

trong phát triển kinh tế của Tỉnh Quan điểm này một mặt thống nhất với quan điểmcủa Đảng trong đánh giá về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn ĐTNN, một mặt phảnánh đúng thực tiễn của địa phương và thực trạng kinh tế có vốn ĐTNN trên địa bànTỉnh trong những năm 1990 - 2000 Trong 10 năm (1990 - 2000), kinh tế có vốn

Trang 22

ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương liên tục phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh

tế của Tỉnh Đóng góp của kinh tế có vốn ĐTNN vào tổng sản phẩm quốc nội trênđịa bàn Tỉnh liên tục tăng, năm 1999 là 168 tỷ đồng và chiếm 2,88% GDP [24,tr.22] Đặc biệt, kinh tế có vốn ĐTNN đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế, góp phần giải quyết việc làm Đến năm 1999 lao động trong các doanhnghiệp có vốn ĐTNN trên địa bàn Tỉnh là 1.800 người, trực tiếp đẩy lùi tình trạngthất nghiệp và thiếu việc làm Những kết quả bước đầu trên là cơ sở thực tiễn đểĐảng bộ tỉnh Hải Dương khẳng định vị trí quan trọng của kinh tế có vốn ĐTNN

* Phương hướng, mục tiêu

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XIII(2000) xác định: “Khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế thamgia đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Tiếp tục tạo môi trường hấp dẫn vàtích cực tìm các đối tác nước ngoài đầu tư vào địa bàn tỉnh trên các lĩnh vựccông nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ Phấn đấu 5 năm tới số vốnđăng ký của các dự án đầu tư nước ngoài tăng 40-50%” [5, tr.55]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII,Chương trình thu hút và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư giai đoạn

2001 - 2005 (26/9/2001) của Tỉnh ủy Hải Dương tiếp tục cụ thể hoá, phươnghướng, mục tiêu phát triển kinh tế có vốn ĐTNN Cụ thể:

Thứ nhất, tạo môi trường thông thoáng để thu hút các nhà ĐTNN vào

đầu tư trên địa bàn tỉnh trên cơ sở phát huy những lợi thế của địa phương,hình thành các cụm công nghiệp tập trung

Thứ hai, khuyến khích mạnh mẽ ĐTNN vào các ngành, các lĩnh vực mà

Chính phủ ưu tiên, phù hợp với điều kiện, thế mạnh của địa phương Tập trungvào các ngành: “công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, cácngành công nghệ cao, vật liệu mới, thông tin, điện tử…” [6, tr.199]

Thứ ba, tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế

có vốn ĐTNN Thực hiện tốt các quy định của Luật khuyến khích ĐTNN vàcác văn bản hướng dẫn, thi hành Xây dựng và công bố các danh mục dự án ưu

Trang 23

tiên thu hút ĐTNN Kiện toàn bộ máy quản lý đầu tư, tăng cường đào tạo, nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý ĐTNN

Thứ tư, thúc đẩy triển khai nhanh các dự án, phấn đấu giai đoạn 2000 - 2005

cấp giấy phép mới cho 40 dự án ĐTNN với tổng vốn đầu tư thu hút thêm 200 triệuUSD, số vốn đầu tư thực hiện của các dự án tại địa bàn cả cũ và mới khoảng 5000

tỷ đồng, thu hút thêm 10.000 lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN,đạt mức đóng góp từ 15 - 20% thu ngân sách địa phương vào năm 2005

* Nhiệm vụ và giải pháp

- Nhiệm vụ và giải pháp về xây dựng môi trường đầu tư

Đề án tạo môi trường thuận lợi, thu hút mọi nguồn vốn đầu tư trong vàngoài nước vào Tỉnh xác định: tập trung thực hiện tốt nâng cấp hạ tầng cơ sởnhất là hệ thống giao thông, điện, nước và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.Tiếp tục cải tiến quy trình tiếp nhận dự án theo cơ chế “một cửa” Ban hành cácquy định về trình tự thủ tục chấp thuận đầu tư theo hướng đơn giản, thuận lợinhất cho các nhà đầu tư đồng thời rút ngắn thời gian cấp phép xuống còn mộtnửa so với quy định của Chính phủ Nghiên cứu, công bố các chính sách hỗ trợdoanh nghiệp về thông tin quảng cáo, đảm bảo ưu tiên cấp điện 24/24 giờ chosản xuất của các doanh nghiệp, áp dụng tính giá thuê đất ở mức thấp nhất trongkhung Nhà nước quy định tại Quyết định 189/2000/QĐ - BTC ngày 24/11/2000của Bộ tài chính về tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển áp dụng đối với ĐTNN

- Nhiệm vụ và giải pháp về xây dựng quy hoạch tổng thể các dự án ĐTNN

Chương trình thu hút và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư giaiđoạn 2001-2005 của Tỉnh uỷ Hải Dương chỉ rõ: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung cácquy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt cho phù hợp với tìnhhình mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Trong quy hoạch, phải có địnhhướng phát triển các ngành, lĩnh vực trọng tâm, mang tính đột phá, phù hợp vớithực tế của địa phương Hình thành các khu công nghiệp tập trung để kêu gọi cácnhà đầu tư trong và ngoài nước vào đầu tư Triển khai Đề án xây dựng cơ sở hạtầng các khu công nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai hoạt động ĐTNN

Trang 24

- Nhiệm vụ và giải pháp về công tác xúc tiến, vận động thu hút đầu tư

Chương trình thu hút và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư để pháttriển giai đoạn 2001 - 2005 của Tỉnh uỷ Hải Dương xác định: “Tăng cường côngtác xúc tiến, vận động đầu tư, mở rộng việc giới thiệu tiềm năng của tỉnh ra bênngoài Xây dựng trang Web của tỉnh nhằm giới thiệu tiềm năng đầu tư cho cácnhà đầu tư” [6, tr.201] Đề án tạo môi trường thuận lợi, thu hút mọi nguồn vốn đầu

tư trong và ngoài nước vào Tỉnh chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xúctiến, vận động đầu tư trên các phương tiện thông tin đại chúng Cử cán bộ thamgia cùng đoàn xúc tiến, vận động đầu tư của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tưđồng thời thành lập đoàn xúc tiến, vận động đầu tư tới các cơ quan đại diện ngoạigiao, đại diện thương mại của các nước tại Thủ đô Hà Nội nhằm thiết lập mốiquan hệ, giới thiệu tiềm năng, cơ hội, chính sách ưu đãi của Tỉnh đối với các nhàđầu tư Thực hiện chính sách thưởng một lần cho tổ chức, cá nhân có công giớithiệu dự án đầu tư vào Hải Dương

- Nhiệm vụ và giải pháp về tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh

tế có vốn ĐTNN.

Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Luật ĐTNN và các văn bảnpháp luật quy định về quản lý kinh tế có vốn ĐTNN của Nhà nước Rà soát, banhành, điều chỉnh, bổ sung các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế có vốn ĐTNNnhằm xây dựng một hành lang pháp lý thuận lợi, thông thoáng Thực hiện tốt việcphân cấp quản lý nhà nước và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý các

dự án đã đi vào hoạt động Thực hiện có hiệu quả công tác quản lý quy hoạch,nhất là quản lý đất đai Các dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch, coi trọngcông tác bảo vệ môi trường để đảm bảo phát triển bền vững

1.2 Đảng bộ tỉnh Hải Dương chỉ đạo phát triển thành phần kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài (2000 - 2005)

1.2.1 Chỉ đạo xây dựng môi trường đầu tư

Thực hiện mục tiêu xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút tối đacác nguồn đầu tư, Tỉnh ủy, UBND đã thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp xây

Trang 25

dựng môi trường đầu tư Thực hiện Chương trình số 12 - CTr/TU của Tỉnh ủy HảiDương về thu hút và sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư để phát triển, ngày

26 tháng 9 năm 2001, UBND Tỉnh xây dựng Đề án tạo môi trường đầu tư thuậnlợi thu hút mọi nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh Hải Dương Đề áncủa UBND Tỉnh đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp nhằm xây dựngmột môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư Đề án xác địnhbiện pháp để xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, Tỉnh phải tập trung nâng cấp

hạ tầng cơ sở, đầu tư phát triển hệ thống giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc.Đồng thời giao cho ngành điện lực bảo đảm thực hiện chính sách ưu tiên về cungcấp điện 24/24 giờ cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN

Thực hiện nội dung của Đề án tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút mọinguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh Hải Dương, để tạo điều kiện thuậnlợi cho doanh nghiệp rút ngắn thời gian khi làm thủ tục hành chính, Quyết định số3149/2002/QĐ-UB ngày 17 tháng 7 năm 2002 của UBND tỉnh Hải Dương đã quyđịnh cụ thể về giải quyết thủ tục hành chính đối với hoạt động kinh tế có vốn

ĐTNN là thực hiện các thủ tục đầu tư, quản lý hoạt động theo cơ chế “một cửa,

một đầu mối” tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Các ngành căn cứ vào chức năng và

nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư giải quyếtcác thủ tục hành chính bảo đảm nhanh nhất cho các doanh nghiệp Quyết định ghirõ:

1- Thẩm định, chấp thuận dự án và cấp giấy phép: không quá 5 ngày làm việc 2- Thủ tục cho thuê đất xây dựng: không quá 10 ngày làm việc

3- Thẩm định hồ sơ thiết kế kỹ thuật: không quá 15 ngày làm việc4- Thẩm định cấp giấy phép xây dựng: không quá 10 ngày làm việc [76, tr.3]

Để xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tếđồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế có vốn ĐTNN, UBND tỉnhHải Dương tích cực chỉ đạo phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuậtcủa địa phương Cùng với việc tích cực đề nghị Trung ương đầu tư, Tỉnh ủy,

Trang 26

UBND Tỉnh chủ động chỉ đạo phát huy tối đa nguồn lực của địa phương để pháttriển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật Ngày 26 tháng 9 năm 2001, Tỉnh

ủy Hải Dương ra Chương trình số 13 - CTr/TU về xây dựng kết cấu hạ tầng phục

vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2001 - 2005 Với 4 đề án Chương trình

số 13 - CTr/TU của Tỉnh ủy đã xác định mục tiêu, giải pháp phát triển kết cấu hạtầng kinh tế - kỹ thuật của địa phương, là nhân tố trực tiếp cải thiện môi trườngđầu tư, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế có vốn ĐTNN

Thực hiện Chương trình số 13 - CTr/TU của Tỉnh ủy và tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN nóiriêng, ngày 02 tháng 10 năm 2001, UBND tỉnh Hải Dương ra Quyết định số324/QĐ-UB về việc đầu tư mở rộng Chi cục Hải quan Hải Dương và xây dựngcảng nội địa Hải Dương Việc mở rộng Chi cục Hải quan và xây dựng cảng nộiđịa Hải Dương đã tạo ra diện mạo mới cho hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹthuật của Tỉnh đồng thời góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy quátrình thu hút và phát triển hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN của Hải Dương

Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy Hải Dương về cung cấp điện 24/24h cho cácdoanh nghiệp có vốn ĐTNN, Chương trình số 13 - CTr/TU của Tỉnh ủy HảiDương đã chỉ đạo tăng cường đầu tư phát triển hệ thống điện phục vụ phát triểnKT-XH nói chung và phát triển kinh tế có vốn ĐTNN nói riêng Theo đó, Chươngtrình số 13 - CTr/TU của Tỉnh ủy Hải Dương đã đề ra mục tiêu đầu tư 720 tỷ đồng

để xây dựng, phát triển hệ thống lưới điện bao gồm xây dựng hệ thống trạm biến

áp công xuất lớn, nâng cấp hệ thống dây dẫn, bảo đảm đáp ứng đủ và ổn định chonhu cầu cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

1.2.2 Chỉ đạo xây dựng quy hoạch tổng thể các dự án đầu tư nước ngoài

Để tạo điều kiện thuận lợi phát triển hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN,trong “Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2000 và Kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội 2000 - 2005 của tỉnh Hải Dương” ban hành kèm theoQuyết định số 68/2000/QĐ-UB (06/ 01/ 2000) của UBND Tỉnh đã quy hoạch

Trang 27

cụ thể hình thành các khu công nghiệp tập trung ở huyện Nam Sách, huyệnKim Thành, Thành phố Hải Dương và các cụm công nghiệp dọc đường 5,đường 18 Đầu tư xây dựng các khu công nghiệp tập trung với cơ sở hạ tầngkinh tế khá đồng bộ là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế có vốn ĐTNN

Để tiếp tục thúc đẩy phát triển KT-XH nói chung, kinh tế có vốn ĐTNNnói riêng, ngày 17 tháng 01 năm 2001, UBND tỉnh Hải Dương ra Quyết định số180/2001/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án “Rà soát, điều chỉnh bổ sung Quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 và xây dựng Kế hoạch 5năm 2001 - 2005” Theo đó, UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo triển khai xây dựngphát triển thêm các khu, cụm công nghiệp gồm: Khu công nghiệp phía Tâythành phố Hải Dương, Khu công nghiệp Phú Thái, Kim Thành, Cụm côngnghiệp phía Nam thành phố Hải Dương, cụm công nghiệp Cờ đỏ Cẩm Giàng…đồng thời có chính sách ưu đãi với các dự án nước ngoài đầu tư vào khu, cụmcông nghiệp

Căn cứ quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH nói chung và kinh tế cóvốn ĐTNN nói riêng, dự báo sát đúng những tác động của thị trường và tiềmnăng, thế mạnh của địa phương, UBND Tỉnh xây dựng danh mục các dự án thuhút và ưu tiên thu hút ĐTNN Theo đề nghị của Sở Kế hoạch và Đầu tư, ngày 19tháng 07 năm 2003, UBND tỉnh Hải Dương ra Quyết định số 652/QĐ-UB vềviệc ban hành danh mục dự án khuyến khích ĐTNN bao gồm: dự án sản xuấtsản phẩm điện tử, điện lạnh, sản phẩm cơ khí và chế tạo máy, sản xuất các vậtliệu xây dựng mới, may mặc, chế biến nông sản, thực phẩm

Qua việc quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH nói chung, kinh tế có vốnĐTNN nói riêng tỉnh Hải Dương định ra các điều kiện ưu đãi, hình thức đầu tư,xác định những thông tin cơ bản ban đầu như giá thuê đất, quy mô đầu tư, nguồnnguyên liệu Đồng thời quy hoạch của UBND đã xác định các dự án thực sựquan trọng, có tác động sâu rộng đến sự phát triển KT-XH của Tỉnh

1.2.3 Chỉ đạo công tác xúc tiến, vận động và thu hút đầu tư nước ngoài

Trang 28

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Hải Dương về huy động tối đa cácnguồn vốn cho đầu tư phát triển, triển khai thực hiện Chương trình “Thu hút và sửdụng hiệu quả mọi nguồn vốn đầu tư để phát triển” của UBND Tỉnh, ngày 12tháng 6 năm 2001, UBND tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định số 1584/QĐ-UB vềviệc thành lập Ban chỉ đạo của Tỉnh thực hiện Đề án “Tạo môi trường thuận lợi,thu hút mọi nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh” Sau khi thành lập, Ban chỉđạo thực hiện đề án thu hút mọi nguồn vốn ĐTNN vào tỉnh đã tích cực triển khaihoạt động, là cơ quan thường trực, có trách nhiệm xây dựng kế hoạch huy độngmọi nguồn vốn ĐTNN nói chung và phát triển kinh tế có vốn ĐTNN nói riêng

Ngày 17 tháng 7 năm 2002, UBND Tỉnh ra Quyết định số 3419/2002/QĐ-UBban hành Quy định về ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp trên địabàn Quy định đã nêu rõ các chính sách ưu đãi của địa phương nhằm khuyếnkhích kinh tế có vốn ĐTNN phát triển Theo đó, các doanh nghiệp có vốn ĐTNNđược giảm 50% chi phí thông tin quảng cáo trên Đài phát thanh và truyền hìnhHải Dương và Báo Hải Dương, thời gian 03 năm kể từ khi dự án đi vào hoạt động.Đặc biệt, để hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ

sở hạ tầng, UBND Tỉnh cấp vốn đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng ngoàihàng rào như: đường giao thông, hệ thống cấp điện, thông tin liên lạc, cấp thoátnước và hỗ trợ nhà đầu tư 20 triệu đồng cho một hécta tiền rà phá bom mìn, sốtiền hỗ trợ trên được trừ dần vào tiền thuê đất hàng năm

Để động viên, khuyến khích cho lực lượng vận động, giới thiệu ĐTNN vàođịa bàn tỉnh Hải Dương, Quyết định 3149/2002/QĐ-UB (17/7/2002) của UBNDTỉnh đã quy định về mức thưởng 1 lần cho các cá nhân, tổ chức vận động, giớithiệu thành công dự án nước ngoài đầu tư vào Hải Dương, mức thưởng được tínhtrên cơ sở quy mô và hoạt động thực tế của doanh nghiệp, cụ thể như sau:

Mức thưởng (triệu đồng) Quy mô dự án đầu tư (triệu USD)

5 Dưới 2

10 Từ 2-5

20 Trên 5

Trang 29

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận và sử dụng laođộng địa phương hiệu quả, Quyết định 3149/2002/QĐ-UB (17/ 7/ 2002) của UBNDTỉnh đã ra những quy định ưu đãi về lao động đối với các doanh nghiệp có vốnĐTNN, theo đó, các nhà ĐTNN được địa phương cung cấp lao động đã qua đàotạo Trong trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo riêng, ngân sách Tỉnh sẽ hỗtrợ 50% kinh phí đào tạo nghề trong nước cho một lao động của địa phương.

1.2.4 Chỉ đạo thực hiện quản lý nhà nước đối với thành phần kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài

Trên cơ sở đề nghị của địa phương, tháng 5 năm 2003 Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành Quyết định số 96/QĐ-TTg về việc thành lập, quy định nhiệm

vụ và quyền hạn của Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương Sựhình thành và đi vào hoạt động của Ban quản lý các khu công nghiệp Tỉnh lànhân tố mới trong hoạt động thu hút đầu tư nói chung và ĐTNN nói riêng, tạothêm một kênh mới trong thu hút ĐTNN vào tỉnh Hải Dương

Ngày 16 tháng 10 năm 2003, UBND tỉnh Hải Dương ra Quyết định số4173/2003/QĐ-UB về việc ban hành Quy chế phối hợp giữa Ban quản lý các khucông nghiệp Tỉnh với các cấp, các ngành trong việc quản lý các khu công nghiệptrên địa bàn tỉnh Hải Dương Quy chế đã đã nêu rõ những quy định phối hợp giữaBan quản lý các khu công nghiệp tỉnh và Sở Kế hoạch và Đầu tư trong thực hiệnchức năng quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn ĐTNN Theo đó, Sở Kế hoạch

và Đầu tư là cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc choUBND Tỉnh trong quản lý các hoạt động của kinh tế có vốn ĐTNN

Để tăng cường quản lý hoạt động ĐTNN trên địa bàn Tỉnh và khắc phụcnhững hạn chế trong Quy định tạm thời quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài trên địa bàn Tỉnh ban hành theo quyết định số 1155/QĐ-UB (09/6/1999) củaUBND tỉnh Hải Dương, ngày 18 tháng 11 năm 2004, UBND tỉnh Hải Dương raQuyết định số 4668/2004/QĐ-UBND ban hành Quy định về quản lý hoạt độngĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương Quy định đã nêu rõ trách nhiệm và quyền hạn

Trang 30

của UBND các cấp, các sở, ban, ngành và các chủ đầu tư đối với kinh tế có vốnĐTNN từ khâu lập dự án, thẩm định, xét duyệt, cấp giấy phép đến triển khai thựchiện dự án theo Luật ĐTNN và các văn bản pháp luật hiện hành Cụ thể:

Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên trách giúp UBND Tỉnh thựchiện quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn ĐTNN trên địa bàn Tỉnh Chủ trìphối hợp với các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố xây dựng kếhoạch thu hút ĐTNN và danh mục các dự án kêu gọi ĐTNN trên địa bàn Tỉnh.Hướng dẫn việc vận động, tổ chức đàm phán, lập hồ sơ dự án và làm các thủ tụcxin cấp giấy phép đầu tư Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định và trình UBNDTỉnh xem xét cấp giấy phép đầu tư Đôn đốc tiến độ triển khai các dự án, quản lý

dự án sau cấp phép, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các dự án, kiến nghị việcchấm dứt hoạt động, thu hồi giấy phép đối với các dự án không đủ điều kiệntheo quy định Tổng hợp tình hình, định kỳ báo cáo UBND Tỉnh về hoạt độngkinh tế có vốn ĐTNN trên địa bàn

Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơxin thuê đất, giao đất cho các chủ đầu tư, tổ chức trích lục hoặc trích đo bản đồđịa chính khu đất cho thuê Thẩm định hồ sơ trình UBND Tỉnh quyết định việcthu hồi đất và cho thuê đất Tổ chức bàn giao đất và ký hợp đồng thuê đất trìnhUBND Tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thanh tra và kiểm tra việc

sử dụng đất đã cho thuê, chủ trì phối hợp với các sở, ngành và địa phương cóliên quan giải quyết tranh chấp về đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường thựchiện quản lý nhà nước về môi trường tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN.Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, xử lý các vấn đề về môi trường trong các doanhnghiệp có vốn ĐTNN

Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên

và Môi trường, Cục thuế Tỉnh xác định giá thuê đất áp dụng cho các doanh nghiệp

có vốn ĐTNN Chủ trì phối hợp với các sở, ngành, địa phương có liên quan thẩmđịnh và trình UBND Tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng

Trang 31

Sở Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn lập hồ sơ quy hoạch và thiết kếxây dựng, thẩm định về quy hoạch, kiến trúc, kiểm tra, giám sát việc thựchiện xây dựng các công trình theo đúng cam kết trong hợp đồng.

Sở Thương mại và Du lịch chủ trì phối hợp với Sở kế hoạch và Đầu tư,ngành Hải quan, Cục thuế Tỉnh quản lý hoạt động thương mại và duyệt kếhoạch xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN

Cục Thuế Tỉnh hướng dẫn các quy định về thuế cho các doanh nghiệp cóvốn ĐTNN Tiến hành thu, kiểm tra các loại thuế và các khoản phải nộp ngân sáchnhà nước, xử lý các vi phạm về thuế đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn các doanh nghiệp cóvốn ĐTNN thực hiện Luật lao động và các văn bản dưới luật về lao động.Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng và chủ đầu tư trong thực hiệnquản lý, đào tạo và thực hiện chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm, điềukiện làm việc cho người lao động trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN

Công an Tỉnh phối hợp với doanh nghiệp và các cơ quan có liên quan bảođảm an ninh trật tự cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN Thực hiện quản lý nhà nước

về an ninh trật tự: hướng dẫn, kiểm tra công tác nhân khẩu, hộ khẩu, xuất nhậpcảnh, công tác phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ an ninh trật tự tại các doanh nghiệp

Liên đoàn Lao động Tỉnh chủ trì phối hợp với các nhà đầu tư trong việc

tổ chức, vận động, hướng dẫn thành lập Công đoàn cơ sở tại các doanh nghiệpnước ngoài Phối hợp cùng với các sở, ngành, địa phương giải quyết các vấn

đề về tranh chấp lao động, đình công, tai nạn lao động…

Sở Công nghiệp tham gia thẩm định dự án, thẩm định thiết kế kỹ thuậtcho các doanh nghiệp Thực hiện quản lý nhà nước về vật liệu nổ công nghiệpđối với các cơ sở sản xuất công nghiệp và an toàn công nghiệp Thẩm định vàxác nhận các chất vật tư nhập khẩu có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động

UBND các cấp: huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn phối hợp với Sở

Kế hoạch và Đầu tư và sở, ngành có liên quan khảo sát, thống nhất đề xuất vị trí

Trang 32

dự án ĐTNN để Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, trình UBND Tỉnh Chủ trìthực hiện công tác giải phóng mặt bằng cho các dự án ĐTNN Phối hợp với cácdoanh nghiệp và cơ quan chức năng trong việc giám sát, bảo đảm an ninh, trật

tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường tại địa bàn

Để theo dõi, quản lý chặt chẽ vốn đầu tư sau đăng ký và khắc phục tình trạngchậm triển khai dự án, UBND tỉnh Hải Dương chú trọng các biện pháp quản lý hoạtđộng ĐTNN sau đăng ký Ngày 09 tháng 5 năm 2005, UBND tỉnh Hải Dương raQuyết định số 1916/QĐ-UBND về việc ủy quyền cho Sở Kế hoạch và Đầu tư theodõi, báo cáo thực hiện vốn đầu tư của các doanh nghiệp ĐTNN trên địa bàn tỉnh HảiDương Theo đó, Sở kế hoạch và Đầu tư được UBND Tỉnh ủy quyền trong việc theodõi và xác nhận kết quả thực hiện vốn ĐTNN, đồng thời định kỳ hàng tháng phải báocáo kết quả thực hiện vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài với UBND Tỉnh

*

Hải Dương là một tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh trong phát triểnKT-XH nói chung và kinh tế có vốn ĐTNN nói riêng Quán triệt đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộTỉnh, trong 5 năm (2000 - 2005), kinh tế có vốn ĐTNN trên địa bàn HảiDương có những bước phát triển quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực về

số lượng, quy mô và bước đầu có những đóng góp quan trọng cho sự pháttriển KT- XH của địa phương Trong những năm 2000 - 2005, kinh tế có vốnĐTNN trên địa bàn Hải Dương thực sự thể hiện sự năng động, tiềm năng lớn

và đòi hỏi tiếp tục được quan tâm phát triển mạnh mẽ hơn Đó là những tiền

đề thực tiễn quan trọng để Đảng bộ Tỉnh tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh phát triểnkinh tế có vốn ĐTNN trong những năm tiếp theo

Trang 33

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (2006 - 2010) 2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về đẩy mạnh phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2006 - 2010)

2.1.1 Yêu cầu mới trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Hải Dương (2006 - 2010)

* Thời cơ và thách thức đối với phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Hải Dương (2006 - 2010)

Trên cơ sở phân tích tình hình và xu hướng phát triển của thế giới, Đạihội X (2006) đã chỉ rõ những thời cơ thuận lợi cho phát triển KT-XH của đấtnước nói chung và kinh tế có vốn ĐTNN nói riêng Sự phát triển có tính chấtnhảy vọt của khoa học và công nghệ cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh tếthế giới diễn ra mạnh mẽ trong xu thế hoà bình hợp tác và phát triển là nhữngđiều kiện quốc tế thuận lợi, tạo ra thời cơ lớn cho phát triển kinh tế có vốnĐTNN trên phạm vi cả nước trong đó có Hải Dương

Với tinh thần đổi mới mạnh mẽ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X(2006) của Đảng tiếp tục xây dựng và phát triển đường lối đổi mới toàn diệnđất nước Nghị quyết Đại hội X của Đảng, chỉ rõ: “Các thành phần kinh tế hoạtđộng theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triểnlâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh” [33, tr.83] Đặc biệt, với kinh tế cóvốn ĐTNN, Đại hội X của Đảng khẳng định: “Các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được đối xửbình đẳng như doanh nghiệp Việt Nam trong kinh doanh Tạo điều kiện chođầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùng lãnhthổ phù hợp với cam kết quốc tế của nước ta” [33, tr.283]

Cùng với chủ trương đúng đắn của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sáchkhuyến khích phát triển kinh tế có vốn ĐTNN từng bước được hoàn thiện.Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 20 năm đổi mới đã tạo tiềm lực,

Trang 34

vị thế mới cho đất nước trong quá trình phát triển và hội nhập Những điều kiệnthuận lợi đó sẽ tạo ra những thời cơ mới cho kinh tế có vốn ĐTNN phát triển.Kinh tế có vốn ĐTNN sẽ phát triển mạnh mẽ cả số lượng và chất lượng, sẽ giatăng cả về quy mô và hiệu quả theo hướng tập trung hoá, hiện đại hóa và dần ổnđịnh theo khuôn khổ pháp luật Việt Nam và cam kết quốc tế.

Bên cạnh những thời cơ trên, trong những năm 2006 - 2010 vẫn còn nhiềuthách thức mới đối với sự phát triển kinh tế có vốn ĐTNN Tình hình thế giớiphức tạp, khó lường cùng với những tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hoákinh tế quốc tế là những thách thức không nhỏ cho sự phát triển của các thànhphần kinh tế trong đó có kinh tế có vốn ĐTNN ở nước ta Tiến trình hội nhập khuvực theo chương trình cắt giảm thuế quan cùng với những cam kết khi Việt Namgia nhập WTO đã bắt đầu tác động đến các doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế Đặc biệt, những hạn chế yếu kém của môi trường đầu tư của Tỉnh chậmđược cải thiện, chi phí lao động rẻ dần mất ưu thế bởi yếu tố tri thức, công nghệ và

kỹ thuật giỏi Những yếu tố trên sẽ ảnh hưởng và đặt ra những yêu cầu mới đốivới quá trình phát triển kinh tế có vốn ĐTNN trên địa bàn tỉnh Hải Dương

* Một số yêu cầu mới đối với phát triển thành phần kinh tế có vốn ĐTNN ở Hải Dương (2006 - 2010)

Một là, tiếp tục giải quyết hiệu quả mâu thuẫn giữa nhu cầu thu hút, phát triển kinh tế có vốn ĐTNN với khả năng, nguồn lực của địa phương.

Nhu cầu thu hút, phát triển kinh tế có vốn ĐTNN là đòi hỏi tất yếu, kháchquan của quá trình phát triển KT-XH của Hải Dương Đặc biệt là nhu cầu về vốnđầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng gia tăng Tuynhiên, để thu hút, phát triển kinh tế có vốn ĐTNN, đòi hỏi địa phương phải có sựchuẩn bị về cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và cơ chế, chính sách

Hệ thống cơ sở hạ tầng của Hải Dương đã được đầu tư nhiều nhưng nhìnchung chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, đặc biệt hệ thống giao thông,điện, nước, thông tin liên lạc nhanh chóng bị xuống cấp, lạc hậu và luôn trong tìnhtrạng quá tải Chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh nhìn chung còn thấp, chưa đápứng nhu cầu của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN Bên cạnh đó, thủ tục hành

Trang 35

chính còn rườm rà, chưa theo kịp yêu cầu, chưa đáp ứng mục tiêu nhanh chóng,thuận tiện của các nhà đầu tư Đây là một mâu thuẫn lớn đòi hỏi địa phương phảitập trung giảỉ quyết đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế có vốn ĐTNN.

Hai là, đảm bảo yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế có vốn ĐTNN.

Thực chất giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh

tế có vốn ĐTNN là đảm bảo xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Trong quá trình thuhút, phát triển kinh tế có vốn ĐTNN phải hướng vào thực hiện các mục tiêuKT-XH của địa phương, trực tiếp phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đờisống nhân dân Phát huy vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa đốivới thành phần kinh tế có vốn ĐTNN Khuyến khích kinh tế có vốn ĐTNNtham gia thực hiện phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường vì sự phát triển nhanh

và bền vững của đất nước

Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế có vốnĐTNN luôn đặt ra yêu cầu không chấp nhận đầu tư một cách tùy tiện, vônguyên tắc, bằng mọi giá; không để tư bản nước ngoài thao túng trong xácđịnh mục tiêu, định hướng phát triển, sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ônhiễm môi trường Do vậy, để đáp ứng yêu cầu giữ vững định hướng xã hộichủ nghĩa trong phát triển kinh tế có vốn ĐTNN đòi hỏi phải xây dựng mộtchiến lược lâu dài, chủ động bố trí cơ cấu đầu tư hợp lý, lựa chọn các đối tácđầu tư chiến lược; không để kinh tế địa phương thành “sân sau” của các tậpđoàn tư bản nước ngoài

Ba là, đổi mới mô hình phát triển kinh tế có vốn ĐTNN từ chủ yếu phát triển theo diện rộng sang kết hợp giữa diện rộng và chiều sâu vì sự phát triển nhanh và bền vững.

Phát triển nhanh và bền vững là yêu cầu cơ bản của quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và phát triển kinh tế có vốn ĐTNNnói riêng Trải qua gần 20 năm triển khai hoạt động trên địa bàn Hải Dương, đếnnăm 2005, kinh tế có vốn ĐTNN đã có những bước phát triển mới cả về quy mô

Trang 36

và chất lượng, hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, trong hoạt động của loại hình kinh

tế này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, trước hết là chất lượng, tiến độ vàkhả năng hiện thực hóa vốn đăng ký còn thấp, tình trạng dự án “treo” còn diễn ra

ở một số địa bàn và chậm được khắc phục Chất lượng của nguồn vốn thu hútchưa cao; việc thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao còn hạn chế; chuyển giaocông nghệ còn chậm; một số doanh nghiệp có vốn ĐTNN sử dụng công nghệ lạchậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; một số doanh nghiệp triển khaihoạt động chậm, gây lãng phí đất đai, sử dụng đất được thuê chưa thực sự hiệuquả; tình trạng tranh chấp lao động và đình công còn diễn ra ở một số doanhnghiệp, ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư Một số doanh nghiệp xâydựng hạ tầng không theo đúng quy hoạch được duyệt nhất là chậm xây dựng vàđưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải, chất thải Thực tiễn đó đặt ra yêu cầumới khi phát triển kinh tế có vốn ĐTNN trong những năm 2006-2010 là tiếp tụcđổi mới mô hình phát triển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển theo chiều rộng vớiphát triển theo chiều sâu, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững

Bốn là, kết hợp chặt chẽ quá trình phát triển kinh tế có vốn ĐTNN với việc tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tỉnh.

Kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh

là vấn đề có tính tất yếu khách quan, phù hợp với truyền thống, quy luật dựngnước đi đôi với giữ nước của lịch sử mấy ngàn năm tồn tại, phát triển dân tộcViệt Nam đồng thời đó cũng là quan điểm nhất quán, chủ trương chiến lượccủa Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới Thực tế cho thấy, phát triểnkinh tế có vốn ĐTNN nhằm tạo thêm nguồn lực đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển KT-XH theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quá trình phát triển kinh tế cóvốn ĐTNN còn có những tác động tiêu cực đến sự phát triển KT-XH và củng

cố quốc phòng, an ninh của địa phương Do vậy, quá trình phát triển kinh tế cóvốn ĐTNN trên địa bàn Tỉnh phải kết hợp chặt chẽ với việc củng cố, tăngcường quốc phòng, an ninh Sự kết hợp giữa phát triển kinh tế có vốn ĐTNNvới tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tỉnh được thể hiện ở

Trang 37

quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH nói chung và kế hoạch phát triển kinh

tế có vốn ĐTNN nói riêng Triển khai các dự án có vốn ĐTNN không làm ảnhhưởng đến quá trình xây dựng khu vực phòng thủ của địa phương

2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về đẩy mạnh phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2006 - 2010)

Những biến động của tình hình thế giới, trong nước trong những năm

2006 - 2010 đã tạo những thời cơ, thách thức đồng thời cũng đặt ra những yêucầu mới trong phát triển kinh tế có vốn ĐTNN của tỉnh Hải Dương Quán triệtquan điểm của Đảng, Đại hội đại biểu lần thứ XIV Đảng bộ tỉnh Hải Dương(nhiệm kỳ 2005 - 2010) đã xác định những chủ trương để đẩy mạnh phát triểnkinh tế có vốn ĐTNN Nội dung của chủ trương đó được thể hiện:

* Quan điểm chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế có vốn ĐTNN (2006 - 2010)

Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005 - 2010) nêurõ: “…tận dụng mọi thời cơ và chủ động tạo ra cơ hội mới, huy động và sửdụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển nhanh, bền vững” Đối với thànhphần kinh tế có vốn ĐTNN, Đảng bộ Tỉnh tiếp tục quan điểm khuyến khích, ưuđãi, tạo sự chuyển biến mạnh về quy mô vốn, công nghệ và hiệu quả trong pháttriển kinh tế có vốn ĐTNN Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứXIV chỉ rõ: “Áp dụng các chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư và các giảipháp khác, tạo sự chuyển biến mạnh về quy mô vốn, công nghệ và giá trị giatăng của sản phẩm trong đầu tư nước ngoài” [8, tr.54] Như vậy, so với thời kỳ2000-2005, trong chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế có vốn ĐTNN củaĐảng bộ tỉnh Hải Dương thời kỳ 2006 - 2010 có sự phát triển mới Chủ trươngđẩy mạnh phát triển kinh tế có vốn ĐTNN của Đảng bộ Tỉnh gắn liền với cácchính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các nhà đầu tư, đồng thời cũng chủtrương đẩy mạnh phát triển kinh tế có vốn ĐTNN hướng tới những tổ chức, cánhân, các nhà đầu tư có tiềm lực lớn về vốn, tiên tiến, hiện đại về khoa họccông nghệ, với những sản phẩm có giá trị gia tăng cao Chủ trương trên vừađáp ứng yêu cầu khuyến khích, ưu đãi để kinh tế có vốn ĐTNN phát triển đồng

Trang 38

thời định hướng phát triển chọn lọc đối với kinh tế có vốn ĐTNN theo hướngtiềm lực vốn lớn, khoa học công nghệ sạch và hiệu quả kinh tế cao.

Nét mới trong quan điểm chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế có vốnĐTNN giai đoạn 2006 - 2010 so với giai đoạn 2000 - 2005 là Đảng bộ Tỉnh

đã đề cập khá rõ mối quan hệ tương tác hỗ trợ giữa phát triển kinh tế có vốnĐTNN với các thành phần kinh tế khác trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phầncủa tỉnh Hải Dương Xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hỗ trợ, thúc đẩy nhaucùng phát triển giữa các thành phần kinh tế để tăng năng lực sản xuất và giátrị sản phẩm nội tỉnh Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dươnglần thứ XIV nêu rõ: “Chú trọng phát triển doanh nghiệp vệ tinh cung cấp đầuvào cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, làm gia tăng giá trị sảnphẩm từ nội tỉnh” [8, tr.55] Tư tưởng chỉ đạo trên đây của Đảng bộ Tỉnh là sựvận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế có vốn ĐTNNđồng thời là cơ sở để hiện thực hóa yêu cầu nâng cao hiệu quả phát triển kinh

tế có vốn ĐTNN nhất là thông qua phát triển kinh tế có vốn ĐTNN thúc đẩycác thành phần kinh tế khác của địa phương phát triển

Đặc biệt, trong quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế có vốn ĐTNNtrong những năm 2006 - 2010 của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã có sự pháttriển mới trong phân loại ưu đãi đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN Theo

đó, Đảng bộ Tỉnh chủ trương: “Tạo mọi điều kiện thuận lợi và áp dụng những

cơ chế ưu đãi nhất đối với các dự án công nghệ phần mềm, sản xuất chíp điện

tử có công nghệ cao, dự án đầu tư có mức độ tự động hóa cao” [9, tr.92].Đồng thời “Hỗ trợ cao nhất về ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp đầu tư nướcngoài về khu vực nông thôn” [9, tr.92] Đây là sự phát triển mới trong quanđiểm chỉ đạo phát triển kinh tế có vốn ĐTNN của Đảng bộ Tỉnh, phát triểnkinh tế có vốn ĐTNN vào những ngành công nghiệp mũi nhọn và có tínhcạnh tranh cao của địa phương Đồng thời quan điểm trên cũng thể hiện sựquan tâm của Đảng bộ Tỉnh đối với khu vực nông thôn, khu vực giàu tiềmnăng nhưng cũng đòi hỏi sự đầu tư nhiều hơn trong thời kỳ đẩy mạnh công

Trang 39

nghiệp hóa, hiện đại hóa, bước đầu khắc phục sự chênh lệch, mất cân đốitrong phát triển vùng lãnh thổ của địa phương.

* Phương hướng, mục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế có vốn ĐTNN (2006 - 2010)

Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng, trên cơ sở phân tích tình hìnhthế giới, trong nước và nhu cầu vốn đầu tư phát triển KT-XH của địa phương,Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005 - 2010) tiếp tục

đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế có vốn ĐTNN Cụ thể trênnhững nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện các chính sách, biện pháp khuyến khích và

ưu đãi đầu tư, tạo sự chuyển biến mạnh về vốn, công nghệ của kinh tế có vốnĐTNN Khuyến khích, hỗ trợ, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để cácdoanh nghiệp đầu tư mới, đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất kinh doanh.Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và triển khai thu hút nhanh các dự án

có vốn ĐTNN vào các khu, cụm công nghiệp đã xây dựng

Thứ hai, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của kinh tế có vốn

ĐTNN, không để tình trạng quy hoạch treo, phát triển kinh tế có vốn ĐTNNgắn liền với bảo vệ môi trường vì sự phát triển nhanh và bền vững Địnhhướng thu hút những dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, dự án

có công nghệ, kỹ thuật cao, thân thiện với môi trường, sử dụng nhiều sảnphẩm nông nghiệp, đầu tư khu vực nông thôn, vùng xa trung tâm

Thứ ba, đổi mới và tăng cường công tác vận động, xúc tiến đầu tư theo

hướng trọng điểm Trực tiếp đi vào các nhà đầu tư lớn, các địa bàn, lãnh thổ có tiềmlực mạnh về vốn, khoa học kỹ thuật và có uy tín, khả năng sản xuất kinh doanh

Thứ tư, tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn

ĐTNN sau đăng ký kinh doanh, sau chấp thuận đầu tư và cấp phép Nghịquyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005 - 2010) chỉrõ: “Tăng cường quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, nhất là quản lý sau kinh doanh, sau chấp thuận đầu tư và cấpphép” [8, tr.55] Theo đó, Đảng bộ Tỉnh chủ trương thực hiện tốt việc phâncấp quản lý ĐTNN, đặc biệt là trong phê duyệt, cấp giấy chứng nhận đầu tư

Trang 40

Phát huy vai trò, chức năng tập trung một đầu mối là Sở Kế hoạch và đầu tưcủa Tỉnh trong việc kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật về ĐTNN Tiếp tụcnghiên cứu, ban hành bổ sung, dần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đểquản lý hoạt động kinh tế có vốn ĐTNN Rà soát, sửa đổi hoặc bãi bỏ các ưuđãi trợ cấp của địa phương không phù hợp với quy định của Trung ương vàthông lệ trong hợp tác quốc tế Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chứcnhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật Đầu tư; đồng thờităng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý các vấn đềtiêu cực phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế có vốn ĐTNN.

Thứ năm, đẩy mạnh phát triển kinh tế có vốn ĐTNN, phấn đấu 5 năm

2006 - 2010 thu hút 600 triệu USD; đến năm 2010, tổng giá trị sản xuất côngnghiệp có vốn ĐTNN đạt 13.420 tỷ đồng, chiếm 46% tổng giá trị sản xuấtcông nghiệp của Tỉnh Như vậy, so với thời kỳ 2000 - 2005, mục tiêu thu hútvốn ĐTNN thời kỳ 2006 - 2010 của Hải Dương có sự phát triển mạnh, caogấp 3 lần mục tiêu của thời kỳ 2000 - 2005 Với mục tiêu thu hút 600 triệuUSD đã cho thấy yêu cầu cao của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong lãnh đạophát triển thành phần kinh tế có vốn ĐTNN đồng thời phản ánh nhu cầu vàtiềm năng to lớn của Tỉnh trong thu hút ĐTNN trong những năm 2006 - 2010

* Nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (2006 - 2010)

Để thực hiện các mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế có vốnĐTNN, Đại hội đại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005 - 2010)

đã xác định các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

- Nhiệm vụ và giải pháp tăng cường cải thiện môi trường đầu tư

Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của môi trường đầu tư, trên cơ sở đánh

giá thực trạng môi trường đầu tư của Tỉnh, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh HảiDương lần thứ XIV (nhiệm kỳ 2005 - 2010) xác định cải thiện môi trường đầu tư

là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong đẩy mạnh thu hút ĐTNN.Theo đó, tiếp tục nhất quán chủ trương xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi đãxác định trong thời kỳ trước, giai đoạn 2006 - 2010, Tỉnh phải tiếp tục tăng

Ngày đăng: 30/09/2016, 08:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XV( 2010-2015) - LUẬN văn THẠC sĩ   ĐẢNG bộ TỈNH hải DƯƠNG LÃNH đạo PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế có vốn đầu tư nước NGOÀI GIAI đoạn 2001   2010
nh ảnh Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XV( 2010-2015) (Trang 98)
Bảng tổng hợp vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương - LUẬN văn THẠC sĩ   ĐẢNG bộ TỈNH hải DƯƠNG LÃNH đạo PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế có vốn đầu tư nước NGOÀI GIAI đoạn 2001   2010
Bảng t ổng hợp vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương (Trang 106)
Bảng tổng hợp số lượng dự án và số vốn đăng ký của kinh tế có vốn  đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hải Dương từ năm 1990 đến 2010 - LUẬN văn THẠC sĩ   ĐẢNG bộ TỈNH hải DƯƠNG LÃNH đạo PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế có vốn đầu tư nước NGOÀI GIAI đoạn 2001   2010
Bảng t ổng hợp số lượng dự án và số vốn đăng ký của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hải Dương từ năm 1990 đến 2010 (Trang 106)
Hình ảnh  Khu công nghiệp Đại An tại Hải Dương - LUẬN văn THẠC sĩ   ĐẢNG bộ TỈNH hải DƯƠNG LÃNH đạo PHÁT TRIỂN THÀNH PHẦN KINH tế có vốn đầu tư nước NGOÀI GIAI đoạn 2001   2010
nh ảnh Khu công nghiệp Đại An tại Hải Dương (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w