Chảy máu trong ổ bụng là hội chứng bệnh ngoại khoa tối cấp có thể làm chết người bệnh nhanh chóng nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời bằng phẫu thuật... Chấn thương bụng mở vết
Trang 1HỘI CHỨNG CHẢY
MÁU TRONG
Trang 2MỤC TIÊU
1 Mô tả được khái niệm hội chứng chảy máu trong
2 Nêu được các nguyên nhân gây nên hội
chứng chảy máu trong
3 Trình bày được triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của hội chứng chảy máu trong.
4 Trình bày được nguyên tắc điều trị
5 Nêu được các biện pháp sơ cứu ban đầu, phòng chống sốc ở tuyến cơ sở.
Trang 3Đại Cương
Cụm từ "hội chứng chảy máu trong" dùng
để chỉ hội chứng lâm sàng gây nên bởi
chảy máu vào ổ bụng
Chảy máu trong ở đây bao gồm tất cả các trường hợp máu chảy từ các tạng, từ các mạch máu vào khoang ổ bụng
Trang 4Chẩn đoán sớm chảy máu trong có thể gặp khó
khăn do lúc đầu các t/c ở vùng bụng chưa đầy đủ hoặc trên BN đa thương.
Chảy máu trong ổ bụng biểu hiện bằng HC mất
máu và tại chỗ là đau bụng, cảm ứng PM và phản ứng thành bụng.
Đại Cương
Trang 5Các trường hợp chảy máu trong nội tạng như chảy máu dạ dày, chảy máu đường mật không gọi là hội chứng chảy máu trong
Chảy máu trong ổ bụng là hội chứng
bệnh ngoại khoa tối cấp có thể làm chết người bệnh nhanh chóng nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời bằng phẫu
thuật
Trang 6Nguyên nhân
Trang 7Tụ máu sau phúc mạc: 13 % các trường hợp
Thận: Chấn thương trực tiếp từ phía sau
thường gây tụ máu sau phúc mạc hoặc vỡ vào ổ bụng.
Mạch máu: 3% các trường hợp
Trang 8Chấn thương bụng mở (vết thương bụng)
Vết thương bụng thường gây nên thủng
tạng rỗng như ruột, dạ dày, các tổn
thương này chủ yếu gây nên hội chứng
viêm phúc mạc hơn là hội chứng chảy
máu trong
Vết thương bụng gây tổn thương tạng
đặc, các mạch máu, gây chảy máu trong ổ bụng, có thể phối hợp nhiều tạng bị tổn
thương
Trang 11Triệu chứng toàn thân
Tuỳ theo mức độ tổn thương, thời gian đến
bệnh viện mà triệu chứng toàn thân cụ thể ở
những hình thái khác nhau:
– Không có biểu hiện sốc, khám chỉ thấy da xanh tái,
mạch nhanh hơn, huyết áp bình thường hoặc giảm ít.
– Tình trạng sốc: Vẻ mặt lo sợ, hốt hoảng, niêm mạc
nhợt, da tái, vả mồ hôi lạnh, đầu chi lạnh, mũi lạnh, thở nhanh nông, cánh mũi phập phồng, mạch nhanh nhỏ khó bắt có trường hợp không có mạch.
Trang 12TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Triệu chứng toàn thân:
- Da xanh, niêm mạc nhợt
- Hoa mắt, chóng mặt nhất là khi thay đổi tư thế.
- Nặng hơn BN vật vã, giãy dụa, hoảng hốt hoặc nằm
im, thờ ơ, đáp ứng chậm Tứ chi lạnh, có thể nổi vân
Trang 13TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Huyết áp hạ và kẹp, có khi không đo được, tuỳ từng trường hợp mà trạng thái sốc ở mức độ
nặng hay nhẹ nhưng cũng có khi cường độ sốc không thể hiện chính xác mức độ tổn thương.
Có trường hợp, sau khi hồi sức, sốc có thể giảm hoặc trở lại bình thường những cũng không loại trừ được chảy máu trong ổ bụng.
Bệnh nhân không có sốc hay chỉ sốc thoáng qua cũng không loại trừ chảy máu trong ổ bụng.
Trang 14- Ít gặp co cứng thật sự như trong thủng DD hay VPM
- Thăm trực tràng âm đạo: túi cùng Douglas căng đau
- Dấu hiệu kehr: đau ở vai trái
Trang 15Lâm sàng
Triệu chứng cơ năng
– Ban đầu, bệnh nhân đau khu trú ở vùng bụng tương
ứng với tạng bị tổn thương, đau liên tục, không giảm, sau đau lan ra khắp bụng.
– Đau tăng lên khi ho hay thở mạnh, khi thay đổi tư thế
hoặc khi sờ nắn vào bụng Ví dụ đau ở đáy ngực và
hạ sườn trái, đau lan lên vai trái và ra sau lưng, đau tăng lên khi bệnh nhõn nằm ngửa (dấu hiệu Kehr)
trong vỡ lách.
– Buồn nôn hoặc nôn
– Bí trung và đại tiện (không thường xuyên)
Trang 16Lâm sàng
Triệu chứng thực thể
Với các bệnh nhân bị vết thương bụng thì triệu chứng thực thể rõ ràng.
– Vị trí và hướng đi của tác nhân có thể hướng tới xác
định tổn thương tạng đặc hay không.
– Khám bệnh nhân thấy máu chảy từ trong ổ bụng ra
qua vết thương hay không
– Khám bệnh nhân thấy máu chảy từ trong ổ bụng ra
qua vết thương ứng thàng bụng tương ứng với vùng tạng bị tổn thương.
– Gõ đục ở vùng thấp: Mạng sườn, hố chậu
Trang 17Lâm sàng
Triệu chứng thực thể
Với các bệnh nhân chạm thương bụng
– Nhìn thấy vết xay sát, bầm tím trên thành bụng
tương ứng với vùng tạng tổn bị thương.
– Thăm trực tràng: Túi cựng Douglas phồng và đau
– Chọc dò ổ bụng: Hút được máu không đông
Trang 18Ví dụ: Ung thư gan vỡ bệnh nhân có triệu chứng của mất máu cấp Thể trang
thường suy kiệt, da xạm Khám bụng thấy gan to cứng và đau
Trang 19Cận lâm sàng
Trang 21TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG
Chẩn đoán hình ảnh:
1 XQ bụng không sửa soạn: Bụng mờ đều, vành quai ruột dày, có dịch máu nằm dọc rãnh thành đại tràng
2 SÂ bụng: phát hiện dịch tự do trong ổ bụng
3 Chụp CT: phát hiện dịch tự do trong ổ bụng và mức độ thương tổn của gan, lách, thận…
4 Nội soi ổ bụng chẩn đoán: có thể đánh giá các thương tổn.
5 Chọc dò và chọc rửa ổ bụng: có thể phát hiện dịch máu trong ổ bụng
Trang 22– Máu đọng ở vùng thấp như: khoang Morisson Rãnh
thành đại tràng phải, trái, túi cùng Douglas.
– Tổn thương nhu mô các tạng đặc trong ổ bụng :
Đường gan vỡ, lách, tụ máu dưới vỏ gan, lách…
– Tụ máu sau phúc mạc, tràn máu màng phổi, màng
tim
Trang 23Chọc dò và chọc rửa ổ bụng
Chọc dò ổ bụng:
đường nối gai trước chậu trên - rốn Điểm giữa đường nối đầu sụn sườn X - rốn hoặc điểm nằm trên đường trắng giữa dưới rốn, cách bờ dưới rốn 2 cm.
Chọc rửa ổ bụng:
thành bụng hướng xuống dưới chếch 45 độ.
vào ổ bụng,
>100.000 hồng cầu /ml nước chọc rửa là có chảy máu trong ổ bụng.
Trang 24CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xác định:
- BN bị CT bụng đơn thuần, còn tỉnh táo, thăm
khám thực thể và hỏi bệnh sử sẽ giúp biết được thời điểm, cơ chế CT… và các t/c giúp chẩn đoán chính xác HC chảy máu trong ổ bụng và tổn
thương các tạng.
- Cận lâm sàng ít có vai trò hơn so với khám thực thể.
- Ở BN đa thương không đủ tỉnh táo thì các
phương tiện chẩn đoán trên rất có lợi trong chẩn đoán xuất huyết trong ổ bụng.
Trang 25- Chẩn đoán chảy máu trong ổ bụng
không chờ đến khi có tình trạng sốc mất máu mà phải căn cứ vào các triệu chứng tại chỗ kết hợp với các phương tiện chẩn đoán khác SÂ, CT scan, nội soi ổ bụng
- Chấn thương chỉ làm vỡ nhu mô gan,
lách, không làm rách bao, máu tụ dưới
bao Có thể 5-10 ngày sau, sau một gắng sức vỡ bao gây nên chảy máu trong ổ
bụng (vỡ 2 thì)
Trang 26Các hình thái lâm sàng
Trang 28Chảy máu trong ổ bụng ở bệnh
nhân đa chấn thương
Triệu chứng lâm sàng thường bị che lấp bởi dấu hiệu sốc chấn thương hoặc bệnh nhân bị hôn mê,
Chọc dò và chọc rửa ổ bụng là biện pháp tốt nhất để chẩn đoán xác định
Các thể không điển hình cần được theo dõi sát trên lâm sàng và các thăm dò cận lâm sàng
Trang 29- Xét nghiệm VS, tỉ lệ prothrombin, men
transaminase có thể thay đổi.
gan.
- SÂ, CT giúp ích chẩn đoán.
- Chụp ĐM được chỉ định khi chấn thương gan
có kèm chảy máu trong đường mật.
Trang 30CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ NGUYÊN
NHÂN THƯỜNG GẶP
- Dấu hiệu kehr.
- Chấn thương dưới sườn trái.
- XQ bụng không sửa soạn thấy cơ hoành trái dày và bị đẩy lên cao.
- DD giãn chướng đầy hơi và bị đẩy vào trong.
- Góc lách của đại tràng bị đẩy xuống thấp và vào trong làm bóng mờ lách to ra
- SÂ, CT giúp ích chẩn đoán.
Trang 31CHẨN ĐOÁN MỘT SỐ NGUYÊN
NHÂN THƯỜNG GẶP
3 Thai ngoài tử cung vỡ:
- Có TC trễ kinh
- Các xét nghiệm que thử thai có thể (+)
- Rong huyết đau hạ vị
- SÂ có dịch trong ổ bụng
4 Khối ung thư gan phải: có thể sờ thấy gan to, có u
Trang 32Điều trị
Trang 33Nguyên tắc
Khi đã chẩn đóan xác định là chảy máu
trong ổ bụng cần phẫu thuật cấp cứu ngay dưới sự hồi sức tích cực bằng truyền
máu
Mục đích của phẫu thuật là để cầm máu
và giải quyết các tổn thương:
Khâu cầm máu vết vỡ gan trong nứt vỡ
gan Cắt lách trong vỡ, đứt cuống lách
Khâu buộc các mạch máu đứt, rách
Trang 34Các biện pháp sơ cứu ban đầu
Các bệnh nhân ở tuyến cơ sở nghi ngờ là có hội chứng chảy máu trong
Việc đầu tiên cần xác định ngay bệnh nhân xem có dấu hiệu sốc hay không, nếu có phải hồi sức ngay bằng
truyền dịch, tốt nhất là dựng dịch cao phân tử như
haesteril và gọi cấp cứu hỗ trợ ngay.
Nếu tình trạng bệnh nhân không có sốc có thể khám tỷ
mỷ hơn để xác định đúng bệnh nhân và chuyển tuyến phẫu thuật kịp thời.
Tóm lại: Hội chứng chảy máu trong là một cấp cứu phẩn cấp của ngoại khoa đòi hỏi phải khẩn trương chẩn đoán và xử trí Khi chưa xác định được chẩn đoán cần theo dõi sát, làm các xét nghiệm thăm dò cần thiết để có chẩn đoán sớm và xử trớ kịp thời.
Trang 35HƯỚNG XỬ TRÍ
Khi tiếp nhận BN có dấu hiệu chảy máu trong do CTBK hay bệnh lý, cần tiến hành:– Đánh giá mạch, HA, hô hấp, tri giác.
– Phát hiện các thương tổn kết hợp.
– Đặt thông tiểu, tube Levin, thở oxy.
– Khám bụng và làm các xét nghiệm CLS
– Hồi sức, phục hồi lại khối lượng máu mất
bằng truyền máu và các dịch thay thế.
Trang 36HƯỚNG XỬ TRÍ
Có 2 khả năng có thể xảy ra:
– Tình trạng sốc hay huyết động học không
ổn định: chẩn đoán xác định chảy máu
trong ổ bụng sẽ dựa vào SÂ và chọc dò ổ bụng, BN sẽ được chuyển ngay đến
phòng mổ để vừa hồi sức vừa mổ bụng thăm dò
Trang 37– Tình trạng huyết động học ổn định:
SÂ chẩn đoán ghi nhận không có dịch
trong ổ bụng, BN được theo dõi thêm
Nếu SÂ phát hiện dịch trong ổ bụng và không có dấu hiệu của VPM, CT scan sẽ được thực hiện để xác định chẩn đoán.
Trang 38 Nếu CT cho thấy thương tổn ở gan hoặc lách thì có thể mổ để cầm máu hoặc điều trị bảo tồn tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của thương tổn.
Nếu CT không phát hiện thương tổn nhưng
có dịch trong ổ bụng lượng ít BN cần được làm thêm chọc rửa ổ bụng hoặc nội soi ổ bụng chẩn đoán.
Trang 39TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bài giảng triệu chứng học ngoại khoa, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 2003
2 Ngoại khoa cơ sở, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 1999.
3 Bài giảng ngoại khoa cơ sở, triệu chứng học ngoại khoa, Nhà xuất bản Y học chi nhánh
Thành phố Hồ Chớ Minh, 2001.
4 Bệnh học ngoại khoa tập I, NXB Y học 2001
5 Bài giảng bệnh học ngoại khoa - Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chớ Minh 1998.