HỆ THỐNG ÔN THI KẾT THÚC HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN HỌC KỲ …., NĂM HỌC 2020.- 2021 Mặt thứ nhất : giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước ,cái nào có sau,cái nào quyết định cái
Trang 1HỆ THỐNG ÔN THI KẾT THÚC HỌC PHẦN
TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN HỌC KỲ …., NĂM HỌC 2020.- 2021
Mặt thứ nhất : giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước ,cái nào có sau,cái nào quyết định cái nào ?Nói cách khác ,khi truy tìm nguyên nhân cuối cùng của hiện tượng ,sự vật,hay sự vận động đang cần phải giải thích,thì nguyên nhân vật chất hay nguyên nhân tinh thần đóng vai trò là cái quyết định
Mặt thứ hai: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không ? Nói cách khác ,khi khám phá sự vật và hiện tượng ,con người có dám tin rằng mình sẽ nhận thức được sự vật và hiện tượng hay không
-Tại sao: Vấn đề cơ bản của mọi triết học,đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại.Đó là vấn đề của toàn bộ triết học ,dù cho hệ thống các cơ quan niệm và thế giới được các học thuyết triết học đưa ra các khác nhau như thế nào chăng nữa thì câu hỏi được đặt ra trước hết vẫn là : Thế giới được tư duy con người tạo ra có quan hệ như thế nào với thế giới tồn tại ngoài đầu
óc con người ?Từ đó,này sinh tiếp câu hỏi: Tư duy của con người có khả năng hiểu biết được tồn tại thực của thế giới đó hay không ?Và giải quyết vấn đề này là
cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học Và do đó ,giải quyết vấn đề cơ bản của triết học sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập trường thế giới quan của các triết gia và học thuyết của họ
2 Em hiểu như thế nào về “Phép biện chứng duy vật”? Làm rõ bằng dẫn chứng cụ thể trong chuyên ngành học.
- phép biện chứng duy vật :là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp luận khoa học
Trang 2ví dụ : Trong 4 năm học đại học để được loại xuất sắc chuyên ngành luật kinh tế
em cần rất nhiều sự cố gắng nâng cao các kĩ năng mềm ,trao dồi kiến thức chuyên môn và khả năng tư duy lập sáng suốt của mình khi xử lý tình huống nào đó
3.Làm rõ thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện.
C.Mác và Ph.Ăngghen,đã khắc phục tính chất trực quan,siêu hình của chủnghĩa duy vật cũ và khắc phục tính chất duy tâm,thần bí của phép biện chứngduy tâm ,sáng tạo ra một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị ,đó là chủ nghĩaduy vật biện chứng
Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử -nội dung chủ yếu của bước ngoặt cáchmạng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện trong triết học
C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng tạo ra triết học duy vật biện chứng -triết họcchân chính khoa học
4 Vì sao nói vận động là phương thưc tồn tại của vật chất, là thuộc tính
cố hữu của vật chất?
Vận động là một phương thức tồn tại của vật chất ,là một thuộc tính cố hữucủa vật chất ,-thì bao gồm tất cả sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũtrụ kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy
*Vận động là một phương thức tồn tại của vật chất
Vật chất chỉ tồn tại bằng cách vận động và chỉ thông qua vận động mà vậtchất biểu hiện sự tồn tại của mình
Con người chỉ nhận thức sâu sắc về sự vật thông qua trạng thái vận động củagiới vật chất
*Vận động là một thuộc tính cố hữu của vật chất
Vận động của vật chất là vận động tự thân (chống quan điểm duy tâmvà siêuhình về vận động)
Vận động sinh ra cùng với sự vật và chỉ mất đi khi sự vật mất đi => chuyểnhóa thành sự vật và hình thức vận động khác(vận động nói chung vĩnh cửu)
Trang 3*5 Em hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Từ
đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận.
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin,vật chất và ý thức có mối quan hệ biệnchứng ,trong đó vật chất quyết định ý thức,còn ý thức tác động tích cực trở lại vậtchất
*Vật chất quyết định ý thức
Thứ nhất,vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Thứ hai,vật chất quyết định nội dung của ý thức
Thứ ba,vật chất quyết định bản thân của ý thức
Thứ tư ,vật chất quyết định sự vận động,phát triển của ý thức
*Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nếu thừa nhận vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức thìtrong hành động nhận thức cũng như hành động thực tiễn của con người phảiluôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan tôn trọng và hành động theo quyluật khách quan
- Ý thức có tác động tích cực trở lại vật chất sinh ra nó cho nên ta phải biếtphát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố chủquan của con người
- Cần chống bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh bảo thủ, trì trệ, ỷ lại, ngồi chờ
6 Em hãy phân tích vai trò của ý thức đối với vật chất Dẫn chứng minh họa.
*Ý thức có tính độc lâp tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất,ý thức tác động trở lại thế giới vật chất, thường thay đổi chậm so với
sự biến đổi của thế giới vật chất
Thứ hai,sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thựctiễn của con người
Trang 4Thứ ba,vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn củacon người.
Thứ tư ,xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn,nhất làtrong thời đại ngày nay
Ví dụ: Khi có một bài tập mà mình suy nghĩ làm hay không đó chính là ý thứccủa mình nó quyết định mình làm hay không
7 Thế nào là tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ phổ biến? Em hãy chứng minh nội dung trên bằng dẫn chứng của bản thân.
Tính đa dạng, phong phú, muôn vẻ … mọi sự vật, hiện tượng đều có nhữngmối liên hệ cụ thể và chúng có thể chuyển hóa cho nhau; ở những điều kiệnkhác nhau thì mối liên hệ có tính chất và vai trò khác nhau
Ví dụ : Trong môi trường học tập ở đại học em áp dụng nhiều phương pháphọc tập khác nhau không như thời học sinh nữa chỉ chép bài rồi học nữa màphải tự tìm cho phương pháp khac
8 Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Thứ nhất,khi nghiên cứu xem xét đối tượng cụ thể cần đặt nó trong chỉnh thểthống nhất của tất cả các mặt ,các bộ phận,các yếu tố,các thuộc tính,các mốiliên hệ của chỉnh thể đó
Thứ hai,chủ thể phải rút ra được các mặt,các mối liên hệ tất yếu của đối tượng
đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại bởi chỉ có như vậynhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiềuthuộc tính , nhiều mối liên hệ quan hệ và tác động qua lại của đối tượng
Thứ ba,cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và vớimôi trường xung quanh kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian gián tiếptrong không gian thời gian nhất định tức là cần nghiên cứu những mối liên hệcủa đối tượng trong quá khứ ,hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó
Thứ tư,quan điểm toàn diện đối lập và quan điểm phiến diện một chiều chỉ thấymặt này mà không thấy mặt khác hoặc chú ý nhiều mặt mà xem xét dàn trải
Trang 5không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện và chủnghĩa chiết trung
9 Thế nào là quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể? Dẫn chứng việc vận dụng quan điểm trên trong cuộc sống của bản thân.
Quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể là những quan điểm cơ bản thuộc vềphương pháp luận của phép biện chứng duy vật Chúng được xây dựng trên cơ
sở lý giải theo quan điểm duy vật biện chứng về tính khách quan, tính phổ biến
và tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ và sự phát triển của tất thảy các
sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Ví dụ: về quan điểm toàn diện: khi muốn phán xét 1 người nào đó cần phải cócách nhìn tổng quát từ nhiều phía ,cụ thể là hành động ,suy nghĩ của họ xét về tính
hệ thống như xem gia đình,người thân là 1 trong những thành phần tác động đếncon người họ,tuy nhiên các yếu tố đó cho ta kết luận người đó thế nào
Về quan điểm lịch sử cụ thể: khi cầm chiếc đồng hồ hiện tại của mình ,cần xácđịnh cụ thể là nó được tạo ra vào ngày nào tháng nào trong quá khứ.gọi là ngày sảnxuất
10.Ý nghĩa của việc vận dụng nguyên lý phát triển trong thực tiễn ở nước ta hiện nay?
Thứ nhất,khi nghiên cứu cần đặt đối tượng vào sự vận động phát hiện xuhướng biến đổi của nó để không chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại mà còn
dự báo được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai
Thứ hai,cần nhận thức được rằng phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạnmỗi giai đoạn có đặc điểm tính chất hình thức khác nhau nên cần tìm hình thứcphương pháp tác động phù hợp để hoặc thúc đẩy hoặc kiềm hãm sự phát triểnđó
Thứ ba,phải sớm phát hiện ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật tạo điều kiệncho nó phát triển chống lại quan điểm bảo thủ trì trệ
Thứ tư,trong quá trình thay thế đối tượng cũ bằng đối tượng mới phải biết kếthừa các yếu tố tích cực của đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trongđiều kiện mới
Trang 611 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung?
Cái chung chỉ tồn tại và biểu hiện thông qua cái riêng Cái chung chỉ tồn tại
trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình, không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng, cái chung tồn tại thực sự, nhưngkhông tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Không có cái riêng nào
tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung, sự vật, hiện
tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung vì
ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng
Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát
triển của sự vật Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác Trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến Ngược lại cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau
do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất Như vậy sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định
12 Phân tích cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả Từ đó liên hệ thực trạng bạo lực học đường hiện nay.
Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trongmột sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau tạo ra một sự biếnđổi nhất định
Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do những tác động giữacác mặt, các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng tạo nên
Ví dụ: Nguyên nhân xuất phát từ gia đình:
Trang 7Gia đình là nơi hình thành cho các em nhân cách sống, cách ứng xử văn minhtrong xã hội, v v Nhưng khi gia đình không ổn định: cha mẹ ly hôn, ly thân;hoặc cha mẹ có tiền án,tiền sự, đang ngồi tù; đặc biệt là cha mẹ không quan tâmcon cái, bạo lực gia đình xảy ra thường xuyên…
Nguyên nhân xuất phát từ nhà trường:
Học sinh bị bạn bè hắt hủi hay bắt nạt, thầy cô và nhà trường không quan tâm đếnđời sống tâm lý, tình cảm của học sinh
Nhà trường, lớp học thiếu các tấm gương tích cực trong đời sống, thiếu các chươngtrình lành mạnh v v
Nguyên nhân xuất phát từ cộng đồng, xã hội:
Bạo lực ngoài cộng đồng xã hội cũng là “đường link” dẫn tới các hành vi bạo lựccủa trẻ em Việt Nam Với công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, trẻ em đượctiếp cận với các trò chơi điện tử và mạng Internet từ khi còn rất nhỏ, từ đó dẫn đếncác hiện tượng nghiện game online, nghiện internet cũng như các trang mạng xãhội, ảnh hưởng từ các trò chơi mang tính bạo lực cao, các em bất chấp pháp luật,chuẩn mực đạo đức để được thỏa mãn “nhu cầu bạo lực” thông qua các trò chơionline, rời xa cuộc sống thực tìm đến thế ảo của internet
Hậu quả của hành vi bạo lực học đường
Hậu quả đối với học sinh:
Về mặt thể xác: Các em có thể gặp các chấn thương trên cơ thể, nhiều hành vi bạolực đã gây ra án mạng, làm mất đi vĩnh viễn cơ hội được sống, được học tập củachính mình và bạn bè mình
Về mặt tinh thần: Các em tham gia vào các hành vi bạo lực học đường, dần dầnmất tự tin khi đến trường, trở nên lầm lì, ít nói, luôn ở trong trạng thái lo lắng, việc
ăn ngủ cũng gặp khó khăn, cơ thể suy nhược Có em trở nên trầm cảm, tự ti, lo sợ
và có những trường hợp đã tìm đến cái chết để giải thoát chính mình
Về học tập: Lơ là học tập, kết quả học tập sa sút, có những trường học bỏ họcthường xuyên hoặc bỏ học vĩnh viễn
Hậu quả đến với gia đình – nhà trường – xã hội
Trang 8Với gia đình: Cha mẹ, người thân gặp khó khăn trong việc hiểu con em mình,không biết nguyên nhân vì sao mà con em mình khác bình thường Từ đó thườngđưa ra những cách thức tìm hiểu làm tổn thương các em, tình cảm, hòa khí tronggia đình bị rạn nứt.
Với nhà trường – xã hội: Hành vi bạo lực học đường làm cho hoạt động giáo dụccủa nhà trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thay vì tổ chức các hoạt động giáo dụcđầy ý nghĩa thì nhà trường phải tổ chức các Hội đồng kỷ luật, các cuộc họp phụhuynh và học sinh để giải quyết các hệ quả của các em Thầy cô, bạn bè lo lắng,mất tinh thần học tập, tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau bị rạn nứt Bạo lực họcđường giống như những hồi chuông cảnh báo cho toàn xã hội về một bộ phận thế
hệ trẻ đang “lệch lạc” giữa ngã ba đường của tuổi mới lớn, nó ảnh hưởng nghiêmtrọng tới trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là với thanh thiếu niên – lực lượng nòngcốt và thiết yếu của tương lai quốc gia
13 Trình bày mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực Cho ví dụ
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật
Điều này nói lên rằng, trong cùng một điều kiện, mỗi sự vật có thể có một số khả năng khác nhau (phụ thuộc vào điều kiện cụ thể) Quá trình vận động, phát triển của sự vật ở một lát cắt nhất định chính là quá trình khả năng trở thành hiện thực Khi hiện thực mới xuất hiện thì trong nó lại xuất hiện những khả năng mới Những khả năng mới này, trong những điều kiện cụ thể thích hợp lại trở thành những hiện thực mới Cứ như vậy, sự vật vận động phát triển vô cùng tận và khả năng, hiện thực luôn chuyển hoá cho nhau Ví dụ, khi chúng ta thi đỗ đại học và theo học một trường đại học nào đó thì chúng ta có khả năng trở thành kỹ sư, cử nhân Nếu khả năng trở thành kỹ sư, cử nhân trở thành hiện thực thì sẽ xuất hiện khả năng có việc làm tốt Nếu khả năng có việc làm tốt được thực hiện thì sẽ làm nảy sinh khả năng
có thu nhập cao, v.v
Trong tự nhiên, khả năng trở thành hiện thực diễn ra một cách tự phát, nghĩa là không cần sự tác động của con người Trong xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan, muốn khả năng trở thành hiện thực phải thông qua hoạt động thực tiễn có ý thức của con người
Trong tự nhiên, khả năng trở thành hiện thực diễn ra một cách tự phát, nghĩa là không cần sự tác động của con người Trong xã hội, bên cạnh các điều kiện khách quan, muốn khả năng trở thành hiện thực phải thông qua hoạt động thực tiễn có ý
Trang 9thức của con người Trong ví dụ ở trên, để khả năng trở thành kỹ sư, cử nhân trở thành hiện thực thì chúng ta phải chăm chỉ học tập, nghiên cứu khoa học, v.v.
b Ngoài những khả năng vốn có, trong những điều kiện mới thì sự vật sẽ xuất hiệnthêm những khả năng mới, đồng thời bản thân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện Ví dụ, khi chúng ta ra nhập Tổ chức thương mại thế giới thìkhả năng tụt hậu của nước ta so với trước cũng thay đổi Nếu chúng ta không tích cực vươn lên về mọi mặt thì khả năng tụt hậu còn nhiều hơn trước khi chúng ta ra nhập tổ chức này
c Để khả năng trở thành hiện thực thường cần không chỉ một điều kiện mà là một tập hợp nhiều điều kiện Ví dụ, để hạt ngô nảy mầm cần điều kiện về độ ẩm, nhiệt
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, phổ biến, bản chất, tất nhiên và lặp
đi lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật,hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Phép biện chứng duy vật được chia làm 3 quy luật cơ bản:
Một là,Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
và ngược lại
Hai là,Quy luật thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập
Ba là,Quy luật phủ định của phủ định
*Vai trò;
Một, sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ của sự vật.Những thay đổi về lượng dần dần đến giới hạn nhất định thì xảy ra bước nhảy,chất cũ bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới Đó chính là cách thứcphát triển của sự vật Quá trình này diễn ra liên tục làm cho sự vật khôngngừng vận động, biến đổi
Trang 10Hai,quy luật mâu thuẫn: Mọi sự vật đều chứa đựng những mặt có khuynhhướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là những mặt đối lập Mối liên hệ củahai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau
và chuyển hoá lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi vàphát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ
Ba,quy luật phủ định của phủ định phản ánh mọi liên hệ,sự kế thừa thông quakhâu trung gian giữa cái bị phủ định và cái phủ định;do có kế thừa nên phủđịnh biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn mà là điều kiện cho sựphát triển ,nó lưu giữ nội dung tích cực của các giai đoạn trước,lặp lại một sốđặc điểm chủ yếu của cái ban đầu trên cơ sở mới cao hơn,do vậy,sự phát triển
có tính chất tiến lên không hẳn theo đường thẳng ,mà theo đường xoáy trônốc
15.Phân tích nội dung quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượngthành những sự thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận.Nội dung quy luật được vạch ra thông qua việc làm rõ các khái niệm,phạm trùliên quan
Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sựvật ,hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính,yếu tố tạo nên sựvật hiện tượng làm cho sự vật ,hiện tượng là nó mà không phải là sự vật ,hiệntượng khac
Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật,hiện tượng vềmặt quy mô,trình độ phát triển,các yếu tố biểu hiện ở số lượng các thuộctính,ở tổng số các bộ phận,ở đại lượng,ở tốc độ và nhịp điệu vận động và pháttriển của sự vật ,hiện tượng
Độ là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và quy định lẫn nhau giữachất và lượng,là giới hạn tồn tại của sự vật,hiện tượng mà trong đó,sự thay đổi
về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chấ;sự vật,hiện tượng vẫn là nó ,chưachuyển hóa thành sự vật,hiện tượng khác
Trang 11Điểm nút là điểm giới hạn mà tại đó,sự thay đổi về lượng đạt ới chỗ phá vỡ độcũ,làm cho chất của sự vật,hiện tượng thay đổi ,chuyển hóa thành chấtmới,thời điểm mà tại đó bắt đầu xảy ra bước nhảy.
Bước nhảy là khái niệm dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa cơ bản về chất của
sự vật,hiện tượng do những thay đổi về lượng trước đó gây ra,là bước ngoặt
cơ bản trong sự biến đổi về lượng
Ý nghĩa phương pháp luận:
Trong nhận thức và thực tiễn phải biết tích luỹ về lượng để có biến đổi vềchất; không được nôn nóng cũng như không được bảo thủ
Khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quancủa sự vận động của sự vật, hiện tượng vì vậy tránh chủ quan nóng vội đốtcháy giai đoạn hoặc bảo thủ, thụ động
Phải có thái độ khách quan, khoa học và quyết tâm thực hiện bước nhảy;trong lĩnh vực xã hội phải chú ý đến điều kiện chủ quan
Phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật,hiện tượng để lựa chọn phương pháp phù hợp
16.Phủ định biện chứng là gì? Cho ví dụ để làm rõ tính kế thừa trong quy luậtphủ định của phủ định
Phủ định nói chung là sự thay thế một sự vật, hiện tượng này bởi một sự vật,hiện tượng khác
Phủ định biện chứng: là tự phủ định, tự phát triển của sự vật, hiện tượng; là
“mắt xích” trong “sợi dây chuyền” dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượngmới, tiến bộ hơn so với sự vật, hiện tượng cũ
Đặc trưng của phủ định biện chứng:
+Tính kế thừa
+Tính khách quan
+Tính phổ biến
+Tính đa dạng,phong phú