Theo nghĩa hẹp, Đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồnlực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lailớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt
Trang 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ ĐẦU TƯ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của đầu tư
1.1.1 Khái niệm đầu tư
Theo nghĩa rộng, Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hànhcác hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Nguồn lực
đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tàisản vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác…) và nguồn nhân lực
có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội
Trong các kết quả đã đạt được trên đây những kết quả là các tài sản vậtchất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọilúc mọi nơi, không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế.Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế được thụ hưởng
Theo nghĩa hẹp, Đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồnlực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lailớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó
Như vậy, nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có những hoạt động sửdụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồnnhân lực và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhânlực sẵn có thuộc phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay đầu tư phát triển
Trang 21.1.2 Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Qui mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triểnthường rất lớn Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huyđộng vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, qui hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn,quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tưtrọng tâm trọng điểm
- Thời kỳ đầu tư kéo dài: thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự ánđến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư phát triển
có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm Do vốn lớn lại nằm khê đọng trongsuốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hànhphân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từnghạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tìnhtrạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành các kếtquả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sửdụng và đào thải công trình Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác dụng lâu dài, cóthể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự Tháp Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn LýTrường Thành ở Trung Quốc, Ăng Co Vát ở Cam-pu-chia….) Trong suốt quátrình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêucực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xâydựng thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên Do đó, quátrình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnhhưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Không thể dễ dàng dichuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nên công tác quản lý
Trang 3hoạt động đầu tư phát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dungsau:
+ Trước tiên cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng Đầu
tư cái gì, công suất bao nhiêu là hợp lý… cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựatrên những căn cứ khoa học Thí dụ, công suất xây dựng nhà máy sàng tuyển than
ở khu vực có mỏ than (do đó, quy mô vốn đầu tư) phụ thuộc rất nhiều vào trữlượng than của mỏ Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì quy mô nhà máy sàng tuyểnthan không nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết công suất với
số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án
+ Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý: để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tưđúng phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu kinh
tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hoá… cần xây dựng một bộ tiêu chí khác nhau
và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư cụ thểhợp lý nhất, sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư cụ thể,tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư
- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: do qui mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tưkéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi rocủa hoạt động đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân,trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lý kém, chấtlượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhân khách quan như giá nguyênliệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiếtkế…
1.1.3 Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển và vốn đầu tư cho loại đầu tư này
Xuất phát từ lĩnh vực phát huy tác dụng đầu tư phát triển bao gồm các hoạtđộng đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng - kỹ thuật chung củanền kinh tế, đầu tư phát triển văn hoá giáo dục, đầu tư phát triển các hoạt động y tế
Trang 4và dịch vụ xã hội khác, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư vào các lĩnh vựckhác trực tiếp có tác động đến việc duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất kỹ thuậtđang tồn tại, tăng thêm tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ cho nềnkinh tế.
Xuất phát từ đặc trưng kỹ thuật của các hoạt động trong mỗi công cuộc đầu
tư, đầu tư phát triển bao gồm các hoạt động chuẩn bị đầu tư, mua sắm các đầu vàocủa quá trình thực hiện đầu tư, thi công xây lắp công trình, tiến hành các công tácxây dựng cơ bản và xây dựng cơ bản khác có liên quan đến sự phát huy tác dụngsau này của công cuộc đầu tư phát triển
Với nội dung của hoạt động đầu tư phát triển trên đây, để tạo thuận lợi chocông tác quản lý việc sử dụng vốn đầu tư nhằm đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao,
có thể phân chia vốn đầu tư thành các khoản sau đây:
- Trên giác độ quản lý vĩ mô vốn đầu tư được phân thành 4 khoản mục lớnnhư sau:
+ Những chi phí tạo ra tài sản cố định (mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn cốđịnh)
+ Những chi phí tạo ra tài sản lưu động (mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn lưuđộng) và các chi phí thường xuyên gắn với một chu kỳ hoạt động của các tài sản cốđịnh vừa được tạo ra
+ Những chi phí chuẩn bị đầu tư chiếm khoảng 0,3- 15% vốn đầu tư
+ Chi phí dự phòng
- Trên giác độ quản lý vi mô tại các cơ sở, những khoản mục trên đây lại đượctách thành các khoản chi tiết hơn:
+ Những chi phí tạo ra tài sản cố định bao gồm:
Chi phí ban đầu và đất đai
Chi phí xây dựng, sửa chữa nhà cửa, cấu trúc hạ tầng
Trang 5Chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, dụng cụ, mua sắm phương tiệnvận chuyển
Chi phí khác
+ Những chi phí tạo ra tài sản lưu động bao gồm:
Chi phí nằm trong giai đoạn sản xuất như chi phí để mua nguyên vật liệu, trảlương người lao động, chi phí về điện, nước, nhiên liệu, phụ tùng…
Chi phí nằm trong giai đoạn lưu thông gồm có sản phẩm dở dang tồn kho,hàng hoá bán chịu, vốn bằng tiền
+ Chí phí chuẩn bị đầu tư bao gồm chi phí nghiên cứu cơ hội đầu tư, chi phínghiên cứu tiền khả thi, chi phí nghiên cứu khả thi và thẩm định các dự án đầu tư.+ Chi phí dự phòng
1.1.4 Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế
Đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của
sự tăng trưởng Vai trò này được thể hiện trên các mặt sau:
a, Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế
Đầu tư tác động đến tổng cung, tổng cầu
-Về mặt cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộnền kinh tế Theo số liệu của Ngân Hàng Thế Giới, đầu tư thường chiếm khoảng24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu,tác động của đầu tư là ngắn hạn Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên củađầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch chuyển sang D’ ) kéo sản lượng cânbằng tăng theo từ Q0- Q1 và giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng từ P0- P1 Điểmcân bằng dịch chuyển từ E0- E1
-Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đivào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên (đường S dịchchuyển sang S’ ), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Q1-Q2 và do đó giá cả sảnphẩm giảm từ P1-P2 Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Tăng
Trang 6tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa Sản xuất phát triển
là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập chongười lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội (xem hình)
Mối quan hệ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mốiquan hệ biện chứng, nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.Đây là cơ sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiềunước trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm
Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu vàđối với tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tănghay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế củamọi quốc gia
Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm cho giácủa các hàng hoá có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật
Trang 7tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát Đến lượt mình, lạm phátlàm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn do tiềnlương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại Mặtkhác, tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của cácngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng caođời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội Tất cả các tác động này tạo điều kiệncho sự phát triển kinh tế.
Khi giảm đầu tư cũng dẫn đến tác động hai mặt, nhưng theo chiều hướngngược lại so với các tác động trên đây Vì vậy, trong điều hành vĩ mô nền kinh tế,các nhà hoạt động chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này dể đưa ra các chínhsách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác động tích cực, duy trì được sự ổnđịnh của toàn bộ nền kinh tế
Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá Đầu tư là điều kiện tiên quyếtcủa sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay
Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiêncứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài Dù sự nghiên cứuhay nhập từ nước ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư Mọi phương ánđổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án khôngkhả thi
Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: phần cứng (máy móc, thiết bị), phầnmềm (các văn bản, tài liệu, các bí quyết…), yếu tố con người ( các kỹ năng quản
lý, kinh nghiệm), yếu tố tổ chức (các thể chế, phương pháp tổ chức….) Muốn cócông nghệ, cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành
Mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần phải có bước đi phù hợp để lựachọn công nghệ thích hợp Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế sosánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân Để phản ánh sự tác động
Trang 8của đầu tư đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ, có thể sử dụng cácchỉ tiêu sau:
+ Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/ tổng vốn đầu tư Chỉ tiêu này chothấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kỳ
+ Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/ tổng vốn đầu tư thực hiện Chỉtiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc thiết bị chiếm bao nhiêu Đối với các doanhnghiệp sản xuất công nghiệp khai khoáng, chế tạo, lắp ráp, tỷ lệ này phải lớn
+ Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/ tổng vốn đầu tư thực hiện Đầu tưchiều sâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ Do đó, chỉ tiêu này càng lớnphản ánh mức độ đầu tư đổi mới khoa học và công nghệ cao
+ Tỷ trọng vốn đầu tư cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm Các côngtrình trọng điểm, mũi nhọn thường là các công trình đầu tư lớn, công nghệ hiệnđại, mang tính chất đầu tư mồi, tạo tiền đề để đầu tư phát triển các công trình khác.Chỉ tiêu này càng lớn cho thấy mức độ tập trung của công nghệ và gián tiếp phảnánh mức độ hiện đại của công nghệ
Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, cóquan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tuỳ thuộcmục tiêu của nền kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phậncấu thành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triểnkhông đồng đều về qui mô, tốc độ giữa các ngành, vùng Những cơ cấu kinh tế chủyếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm cơ cấu kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thànhphần kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thểtăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cường đầu tư nhằmtạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ Đối với các ngành nông,
Trang 9Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinh tế của ngành=
% thay đổi tỷ trọng đầu tư của ngành/tổng vốn đầu tư xã hội giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
% thay đổi tỷ trọng VA của ngành trong tổng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
lâm, ngư nhgiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạtđược tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó khăn Đầu tư có tác động quan trọngđến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tếphù hợp qui luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từngthời kỳ, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành,vùng phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực.Như vậy, chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốcgia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về pháttriển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạngđói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế,chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúcđẩy những vùng khác cùng phát triển
Có thể sử dụng các chỉ tiêu dưới đây để đánh giá vai trò của đầu tư tác độngđến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chỉ tiêu này cho biết: để tăng 1% tỷ trọng VA của ngành trong tổng GDP(thay đổi cơ cấu kinh tế) thì phải đầu tư cho ngành tăng thêm bao nhiêu
Trang 10Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư ngành với thay đổi GDP =
% thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư của ngành nào đó/ tổng vốn đầu tư xã hội kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
% thay đổi tốc độ tăng trưởng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
Chỉ tiêu này cho biết: để góp phần đưa tăng trưởng kinh tế (GDP) lên 1% thì
tỷ trọng đầu tư vào một ngành nào đó tăng bao nhiêu
Thực tế để phát huy vai trò tích cực của đầu tư đến việc chuyển dịch cơ cấukinh tế, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:
+ Các ngành, địa phương cần có qui hoạch tổng thể phát triển KTXH, trên cơ
sở đó xây dựng qui hoạch đầu tư
+ Đầu tư và cơ cấu đầu tư phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xãhội của quốc gia
+ Cần điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng: căn cứ vào thị trường chung cảnước và phát huy lợi thế so sánh của từng vùng
+ Các ngành, địa phương phải có kế hoạch đầu tư phù hợp khả năng tàichính, tránh đầu tư phân tán dàn trải
Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượngtăng trưởng Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân
tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổnghợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, nâng
Trang 11Tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinhtế
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởngkinh tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR
Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio - tỷ số gia tăng của vốn sovới sản lượng) là tỷ số giữa qui mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng,hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm
Về phương pháp tính, hệ số ICOR được tính như sau:
Chia cả tử và mẫu số công thức trên cho GDP, có công thức thứ hai:
Từ công thức trên ta thấy: Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toànphụ thuộc vào vốn đầu tư Theo một số nghiên cứu của các nhà kinh tế, muốn giữtốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-20% sovới GDP, tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước
Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhântố
Trang 12Thứ nhất, do thay đổi cơ cấu đầu tư ngành Cơ cấu đầu tư ngành thay đổi ảnhhưởng đến hệ số ICOR từng ngành, do đó tác động đến hệ số ICOR chung Nếu
Thứ hai, sự phát triển của khoa học và công nghệ có ảnh hưởng hai mặt đến
hệ số ICOR Gia tăng đầu tư cho khoa học công nghệ, một mặt, làm cho tử số củacông thức tăng, mặt khác, sẽ tạo ra nhiều ngành mới công nghệ mới, làm máy móchoạt động hiệu quả hơn, năng suất cao hơn kết quả đầu tư tăng lên (tăng mẫu sốcủa công thức) Như vậy, hệ số ICOR tăng hay giảm phụ thuộc vào xu hướng nàochiếm ưu thế
Thứ ba, do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp tổ chức quản lý Cơchế chính sách phù hợp, đầu tư có hiệu quả hơn (nghĩa là, kết quả đầu tư ở mẫu sốtăng lớn hơn chi phí ở tử số) làm cho ICOR giảm và ngược lại
ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ pháttriển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước Ở các nước phát triển, ICOR thườnglớn, từ 6-10 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cholao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao Ở các nước chậm phát triển,ICOR thấp từ 3- 5 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng laođộng để thay thế cho vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ Thôngthường ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, ICOR trong giaiđoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực
Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn đềđảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỷ lệ tăng thêm sản phẩm quốc
Trang 13dân dự kiến Thực vậy, ở nhiều nước đầu tư đóng vai trò như một “cái hích banđầu”, tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế ( các nước NICs, các nước Đông NamÁ).
Kinh nghiệm các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấukinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộcvào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung Do đó, ở các nước phát triển, tỷ lệđầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp
Đầu tư có ảnh hưởng quan trọng không chỉ đến tốc độ tăng trưởng cao haythấp mà còn đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Trên góc độ phân tích đa nhân tố,vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế thường được phân tích theo biểu thứcsau:
g= Di + Dl + TFP
Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng GDP
Di là phần đóng góp của vốn đầu tư vào tăng trưởng GDP
Dl là phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP là phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng GDP (gồmđóng góp của công nghệ, cơ chế chính sách….)
Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ 1994 – 2004 chủ yếu doyếu tố bề rộng, đặc biệt do yếu tố vốn – nhân tố mà Việt Nam còn thiếu và sử dụnghiệu quả không cao, trong khi yếu tố lao động, được coi là nguồn lực nội sinh, lợithế chi phí thấp thì mức đóng góp cho tăng trưởng kinh tế lại chưa tương xứng
b, Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở
Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phảixây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trênnền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắnliền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được
Trang 14tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư Đối với các cơ sở sản xuấtkinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất- kỹthuật của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng Để duy trì được sự hoạt động bìnhthường cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất -kỹthuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt độngmới của sự phát triển khoa học- kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xãhội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗithời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
c, Đối với các cơ sở vô vị lợi
Các cơ sở đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớnđịnh kỳ các cơ sở vật chất - kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên.Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư
1.2 Khái niệm, nội dung, phân loại vốn đầu tư
1.2.1 Khái niệm và nội dung vốn đầu tư
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung Trên phươngdiện nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí
đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động)
và các khoản đầu tư phát triển khác Về cơ bản, vốn đầu tư phát triển mang nhữngđặc trưng chung của vốn như :
Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản Vốn được biểu hiện bằng giá trịcủa những tài sản hữu hình và vô hình
Vốn phải vận động sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền Để biến tiềnthành vốn thì tiền phải thay đổi hình thái biểu hiện, vận động và có khả năng sinhlời
Vốn cần được tích tụ và tập trung đến mức nhất định mới có thể phát huy tácdụng
Trang 15Vốn phải gắn với chủ sở hữu Khi xác định rõ chủ sở hữu, đồng vốn sẽ được
sử dụng hiệu quả
Vốn có giá trị về mặt thời gian Vốn luôn vận động sinh lời và giá trị của vốnbiến động theo thời gian
Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế bao gồm:
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới,
mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trongnền kinh tế quốc dân
- Vốn lưu động bổ xung: bao gồm những khoản đầu tư dùng mua sắmnguyên nhiên vật liệu, thuê mướn lao động, làm tăng thêm tài sản lưu động trong
kỳ của toàn bộ xã hội
- Vốn đầu tư phát triển khác: là tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm giatăng năng lực phát triển của xã hội nâng cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượngmôi trường Những bộ phận chính của vốn đầu tư phát triển khác gồm: Vốn chicho công việc thăm dò, khảo sát, thiết kế, qui hoạch ngành, qui hoạch lãnh thổ;Vốn chi cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tăng cườngsức khoẻ cộng đồng như chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình nướcsạch nông thôn, phòng bệnh, kế hoạch hoá gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội…Vốn đầu tư cho lĩnh vực giáo dục; chương trình phổ cập giáo dục, nghiên cứu, triểnkhai đào tạo, giáo dục…
1.2.2 Phân loại vốn đầu tư
- Phân loại vốn đầu tư theo hình thức sở hữu gồm:
+ Vốn trong nước: vốn thuộc sở hữu của nhà nước và vốn không thuộc sở hữunhà nước
+ Vốn nước ngoài: vốn của Chính phủ nước ngoài hỗ trợ và vốn của tư nhânnước ngoài đầu tư
- Phân loại vốn đầu tư theo ngành kinh tế Quốc dân:
Trang 16+ Vốn đầu tư cho ngành Công nghiệp
+ Vốn đầu tư cho ngành Nông nghiệp
+ Vốn đầu tư cho ngành dịch vụ
- Phân loại vốn đầu tư theo tính chất sử dụng:
+ Vốn đầu tư cho sản xuất
+ Vốn đầu tư cho tài sản phi sản xuất
1.3 Các nguồn hình thành vốn đầu tư
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới dạnggiá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.Nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nướcngoài
1.3.1 Nguồn vốn trong nước
a, Nguồn vốn nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triểncủa doanh nghiệp nhà nước
- Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngânsách nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụngcho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các
dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi chocông tác lập và thực hịên các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hộivùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
Tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân15%, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước hàng năm bình quân hàng năm đạtgần 23% GDP Nguồn thu ổn định từ sản xuất trong nước đã bước đầu dần dầntăng Tổng chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 14,9% Tỷ lệ chi ngân sách nhà
Trang 17nước bình quân bằng 28% GDP Trong đó, chi cho đầu tư phát triển đạt bình quân30,2 % tổng chi ngân sách nhà nước Tính chung cho giai đoạn 2001-2005, tổngvốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm khoảng 22,3% tổng vốn đầu tư toàn xãhội Trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước có xu hướnggia tăng về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xãhội.
-Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: cùng với quá trình đổi mới và
mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kểtrong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Nếu như trước năm 1990, vốn tín dụngđầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử dụng như một công cụ quản lý và điềutiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991 – 2000, nguồn vốn này đã có mức tăngtrưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của chínhphủ Năm 2000, nguồn vốn này đã đạt đến 17% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trongnhững năm tiếp theo, tín dụng đầu tư của nhà nước sẽ có xu hướng cải thiện về mặtchất lượng và phương thức tài trợ nhưng tỷ trọng sẽ không có sự gia tăng đánh kể
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cựctrong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước Với cơ chế tíndụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốnvay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiếtkiệm hơn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độchuyển từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các
dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý
và điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiệnviệc khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo địnhhướng chiến lược của mình Đứng ở khía cạnh là công cụ điều tiết vĩ mô, nguồnvốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục