1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghền ghiệp của điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh phú yên năm 2020

129 80 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VÕ THỊ TIẾN TRINH KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH DỰ PHÒNG MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC HẠI NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG NAM

Trang 1

VÕ THỊ TIẾN TRINH

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH DỰ PHÒNG MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC HẠI NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH – 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

VÕ THỊ TIẾN TRINH

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH DỰ PHÒNG MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC HẠI NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2020

Ngành: Điều dưỡng

Mã số: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỠNG DẪN KHOA HỌC: TS.ĐỖ MINH SINH

NAM ĐỊNH – 2020

Trang 3

TÓM TẮT

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành trên 283 điều dưỡng đang thực hiện chăm sóc người bệnh tại 17 khoa lâm sàng của bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên

Mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại

nghề nghiệp và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp

Phương pháp: Mô tả cắt ngang: Phát phiếu tự điền với nội dung kiến thức, thái

độ, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp

Kết quả: Về kiến thức, Có 74,9% điều dưỡng có kiến thức đạt về một số yếu tố

THNN Trong đó điều dưỡng có kiến thức đạt mức trung bình chỉ chiếm 68,5% và tốt

có 6,4% Trong đó, có 69,6 % điều dưỡng có kiến thức đạt về yếu tố sinh học, 66,4%

có kiến thức đạt về yếu tố hóa học Đa số điều dưỡng đã có thái độ tích cực về dự

phòng một số yếu tố THNN Về thái độ, nghiên cứu cũng chỉ ra một số rào cản ảnh hưởng lớn đến việc dự phòng phơi nhiễm của điều dưỡng đó là: có 72,1% điều dưỡng cho rằng thiếu dụng cụ và thiết bị an toàn 38,1% cho rằng quá tải công việc, 57,5% cho rằng người bệnh không họp tác, 50,1% cho rằng chưa được đào tào về một số yếu

tố THNN, 79,5% điều dưỡng cho rằng thiếu nhân sự ảnh hưởng đến thực hành dự phòng một số yếu tố THNN của điều dưỡng Về tần suất thực hành chưa cao, chỉ có 60,8% điều dưỡng thực hành sử dụng các phương tiện phòng hộ cá nhân trong lúc thực hiện các kỹ thuật chăm sóc cho người bệnh Nghiên cứu đã tìm ra mối liên quan giữa kiến thức với trình độ chuyên môn (p = 0,002), kinh nghiệm làm (p = 0,004), số lần

đào tạo (p < 0,001) Và tìm ra mối liên quan giữa thực hành với số lần đào tạo (p =

0,002) và kiến thức về một số yếu tố THNN (p<0,001)

Từ khóa: Điều dưỡng, tác hại nghề nghiệp, kiến thức, thái độ, thực hành, yếu

tố tác hại sinh học, yếu tố tác hại hóa học

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học và Quý thầy cô Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hết lòng truyền đạt kiến thức, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Minh Sinh, người thầy đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ và dành nhiều thời gian giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thành Luận văn cao học

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các anh chị Điều dưỡng viên tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại bệnh viện

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo và các giảng viên Bộ môn Điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Phú Yên đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong suốt khóa học này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Nam Định, ngày 15 tháng 8 năm 2020

Võ Thị Tiến Trinh

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Võ Thị Tiến Trinh học viên lớp Cao học Khóa V, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Tôi xin cam đoan:

Đây là nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Minh Sinh Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố ở Việt Nam và trên thế giới Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là trung thực và khách quan Đã được sự đồng ý thu thập số liệu và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này

Nam Định, ngày 15 tháng 8 năm 2020

Tác giả

Võ Thị Tiến Trinh

Trang 6

MỤC LỤC

Số trang

TÓM TẮT i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Tổng quan về yếu tố tác hại nghề nghiệp 4

1.2 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp ở các cơ sở y tế 13

1.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành dự phòng 2 yếu tố tác hại nghề nghiệp ở điều dưỡng 19

1.4 Học thuyết áp dụng trong nghiên cứu: Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) 20

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp của điều dưỡng 33

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng yếu tố tác hại nghề nghiệp của điều dưỡng 46

Chương 4: BÀN LUẬN 53

4.1 Kiến thức về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp của điều dưỡng 53

Trang 7

4.2 Thái độ về dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp của điều dưỡng 61

4.3 Thực hành dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của điều dưỡng 64

4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành dự phòng một số yếu tố THNN 68

4.5 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 71

KẾT LUẬN 71

KHUYẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

Phụ lục 1: Thang điểm đánh giá kiến thức

Phụ lục số 2: Các biến nghiên cứu

Phụ lục số 3: Phiếu khảo sát

Phụ lục số 4: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo

Trang 8

(Vi-rút viêm gan C)

(Vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người mắc phải)

(Kiến thức, thái độ, thực hành)

(Dự phòng sau phơi nhiễm )

(Tổ chức y tế thế giới)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.2 Phân bố điều dưỡng theo khoa 33

Bảng 3.3 Kiến thức của điều dưỡng về khái niệm yếu tố THNN 33

Bảng 3.4 Kiến thức đúng của điều dưỡng về các loại yếu tố THNN 34

Bảng 3.5 Số lượng câu trả lời đúng về các loại THNN mà điều dưỡng cùng lúc liệt kê 34

Bảng 3.6 Kiến thức của điều dưỡng về hậu quả do phơi nhiễm với các yếu tố THNN 35

Bảng 3.7 Số lượng câu trả lời đúng về hậu quả do phơi nhiễm với các yếu tố THNN mà điều dưỡng cùng lúc liệt kê 35

Bảng 3.8 Kiến thức của điều dưỡng về vị trí làm việc có nguy cơ phơi nhiễm với các yếu tố THNN 36

Bảng 3.9 Số lượng câu trả đúng về vị trí làm việc có nguy cơ phơi nhiễm với các yếu tố THNN mà điều dưỡng cùng lúc liệt kê 36

Bảng 3.10 Kiến thức của điều dưỡng về các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm do phơi nhiễm với các yếu tố tác hại nghề nghiệp 37

Bảng 3.11 Số lượng câu trả lời đúng về các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm do phơi nhiễm với các yếu tố THNN mà điều dưỡng cùng lúc liệt kê 37

Bảng 3.12 Kiến thức đúng của điều dưỡng về các biện pháp dự phòng các yếu tố THNN 38

Bảng 3.13 Số lượng câu trả lời đúng về biện pháp dự phòng các yếu tố THNNmà điều dưỡng cùng lúc liệt kê 38

Bảng 3.14 Phân loại mức độ kiến thức của điều dưỡng về yếu tố THNN 39

Bảng 3.15 Phân bố kiến thức về một số yếu tố THNN theo vị trí làm việc 39

Bảng 3.16 Thái độ của điều dưỡng về mức độ nguy hiểm của yếu tố THNN 40

Bảng 3.17 Thái độ của điều dưỡng về tính nhạy cảm đối với yếu tố THNN 40

Trang 10

Bảng 3.18 Thái độ của điều dưỡng về tầm quan trọng của các biện pháp dự phòng đối

với yếu tố THNN 41

Bảng 3.19 Thái độ của điều dưỡng về các rào cản để thực hiện các biện pháp dự phòng yếu tố THNN 42

Bảng 3.20 Tần suất thực hành chuẩn bị đồ bảo hộ trước khi thực hiện kỹ thuật chăm sóc của điều dưỡng 43

Bảng 3.21 Tần suất thực hành của điều dưỡng về phòng ngừa YTTH sinh học 44

Bảng 3.22.Tần suất thực hành của điều dưỡng về phòng ngừa YTTH hóa học 45

Bảng 3.23 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức 46

Bảng 3.24 Mô hình hồi qui logistic nhị phân đa biến với phụ thuộc là kiến thức 47

Bảng 3.25 Mức độ dự báo chính xác biến kiến thức của các biến độc lập trong mô hình hồi qui logistic đa biến 48

Bảng 3.26 Mức độ phù hợp của mô hình Kiến thức 48

Bảng 3.28 Mô hình hồi qui logistic nhị phân đa biến với phụ thuộc là thực hành 51

Bảng 3.29 Mức độ dự báo chính xác biến thực hành của các biến độc lập trong mô hình hồi qui logistic nhị phân đa biến 52

Bảng 3.30 Mức độ phù hợp của mô hình thực hành 52

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.5 Tần suất thực hành dự phòng của điều dưỡng về yếu tố tác hại nghề

nghiệp 45

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Yếu tố tác hại nghề nghiệp là nguyên nhân tiềm ẩn làm hạn chế khả năng làm việc, ảnh hưởng không có lợi đến sức khỏe người lao động , gây nên các bệnh nghề nghiệp, thậm chí gây tử vong [13] Trong khi đó điều dưỡng là những người lao động đang thực hiện công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân tại các cơ sở y tế

và có nguy cơ phơi nhiễm với rất nhiều yếu tố nguy hại cho sức khỏe của họ [7]

Trong quá trình chăm sóc người bệnh, điều dưỡng phải đối diện không chỉ một

mà nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp cùng lúc Nó bao gồm yếu tố sinh học (dịch từ cơ thể người bệnh, nấm, vi khuẩn, virus, các bệnh truyền nhiễm lây lan qua đường máu,

hô hấp….), yếu tố vật lý (bức xạ, tia X ), yếu tố hóa học (các hóa chất gây nguy hiểm, thuốc điều trị ung thư, hóa chất tiệt khuẩn….), cơ học (chấn thương do vật sắc nhọn, nâng đỡ, vận chuyên bệnh nhân ), quá tải công việc, căng thẳng, làm việc ca đêm và bạo lực tại nơi làm việc [7],[13],[32]

Trong số đó các tai nạn thường gặp nhất của điều dưỡng là tai nạn với yếu tố sinh học và yếu tố hóa học Đây là hai nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp mà người điều dưỡng phơi nhiễm nhiều nhất, đồng thời các tác nhân trong hai nhóm yếu tố này thường gây ra nhiều vấn đề sức khỏe cho điều dưỡng Theo nghiên cứu của Aghakhani

N (2017), trong các tai nạn sinh học, tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể khác

chiếm tới 90,5% [21] Nghiên cứu của Yeshitila Belay Belachew (2017) phơi nhiễm

do Hầu hết các phơi nhiễm xảy ra trong quá trình lấy máu chiếm 51,3%, chọc tĩnh mạch 47,2% [28] Một nghiên cứu khác tại Việt Nam của tác giả Bùi Lệ Uyên (2016) cho thấy có tới 97,14% NVYT mắc các bệnh nghề ngiệp do các tác nhân vi sinh vật gây ra [18] Một nghiên cứu khác tại Macau cho thấy nhân viên y tế tiếp xúc với trung bình 300 hóa chất, từ chất khử trùng, khí thải và thuốc độc hại tại nơi làm việc của

họ [35]

Để giảm thiểu những rủi ro tai nạn có thể xảy ra đối với điều dưỡng trong quá trình chăm sóc, họ cần có kiến thức cao thái độ tích cực và thực hành dự phòng tốt Một nghiên cứu đã so sánh sự phân phối của người trả lời theo hiệu suất về kiến

Trang 13

thức tổng hợp, thái độ và thực hành (KAP), điều dưỡng có kiến thức, thái độ và thực hành tốt làm giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp trong cơ sở y tế [23] Có sự khác nhau về kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp ở các cơ sở y

tế trên thế giới Một số yếu tố liên quan được đề cập trong các nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa kinh nghiệm việc làm và nghiên cứu KAP, trình độ và kiến thức của người trả lời có liên quan đáng kể, nhưng sự tương quan của trình độ với thái độ

và thực tiễn là không đủ [23],[27] Nhưng hiện tại chỉ có một số nghiên cứu hiện chỉ

mô tả một số nội dung rất đơn giản của yếu tố tác hại nghề nghiệp dưới dạng kiến thức

và thực hành về tiêm an toàn, dự phòng vật sắc nhọn, dự phòng phơi nhiễm nghề nghiệp, phòng ngừa chuẩn [7],[9],[15],[16] Các nghiên cứu về kiến thức - thái độ và thực hành của điều dưỡng về dự phòng các yếu tố tác hại nghề nghiệp tại Việt Nam vẫn còn thiếu hụt

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên là bệnh viện hạng II, trực thuộc sở Y tế Phú Yên Bệnh viện có khoảng 700 giường bệnh, 18 khoa lâm sàng và, trong đó có hơn

324 nhân viên điều dưỡng tại các khoa lâm sàng [10] Và họ cũng phải đối diện nhiều hậu quả nguy hiểm từ một số yếu tố tác hại nghề nghiệp Kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp là vô cùng quan trọng Vậy kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng một số tác hại nghề nghiệp hiện nay như thế nào?

Và có những yếu yếu tố nào gây ảnh hưởng đến vấn đề này Do vậy, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại

nghề nghiệp điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2020” Kết quả

nghiên cứu sẽ giúp cho ban quản lý bệnh viện có thể đánh giá được thực trạng của vấn

đề trên và đưa ra các giải pháp can thiệp hiệu quả Đảm bảo an toàn và sức khỏe cho điều dưỡng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Với ý nghĩa như trên, nghiên cứu chúng tôi sẽ được thực hiện với hai mục tiêu:

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về yếu tố tác hại nghề nghiệp

1.1.1 Khái niệm

Tất cả các yếu tố có liên quan đến nghề nghiệp nhưng là nguyên nhân tiềm ẩn làm hạn chế khả năng làm việc, gây chấn thương hoặc ảnh hưởng không có lợi cho sức

khỏe người lao động thậm chí gây tử vong gọi là yếu tố tác hại nghề nghiệp [13]

Tác hại nghề nghiệp là những yếu tố trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động của công nhân gây nên những rối loạn bệnh lý hoặc các bệnh nghề nghiệp đối với những người tiếp xúc [6] Các yếu tố tác hại nghề nghiệp rất đa dạng, có thể là vật lý , hóa học, tâm lý… Trong một môi trường lao động có thể có một hoặc nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp Các tác nhân môi trường có thể tác động tới sức khỏe người lao động

1.1.2 Phân loại các yếu tố tác hại nghề nghiệp

1.1.2.1 Phân loại các yếu tố tác hại nghề nghiệp chung

Dựa vào giáo trình đào tạo cử nhân y tế công cộng của tác giả Bùi Thanh Tâm biên soạn, Yêu tố tác hại nghề nghiệp được phân làm 4 loại như sau [13]

- Yếu tố lý học và hoá học kết hợp

Các độc chất ở nơi làm việc dưới dạng hơi, khí, bụi,dung dịch, chất rắn

Các loại bụi sản xuất như bụi vô cơ (ximăng, silic, amiăng) hay bụi hữu cơ (bông, lông gia cầm, thuốc lá)

- Yếu tố vật lý: Là điều kiện khí hậu ở nơi làm việc không thuận lợi cho sức khoẻ như: nhiệt độ không khí quá cao hoặc quá thấp, độ ẩm không khí cao, không khí kém lưu thông,cường độ bức xạ nhiệt mạnh, Tiếng ồn Bức xạ ion hoá: Tia phóng xạ

và các chất phóng [13]

- Yếu tố sinh học:

Là bao gồm vi khuẩn, virut, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm mốc gây bệnh chứa trong bệnh phẩm, chất thải hoặc phân tán tại nơi làm việc [13]

Trang 16

-Trạng thái tâm sinh lý và ecgônômi

Liên quan đến tư thế làm việc của điều dưỡng khi thực hiện thủ thuật chăm sóc, nâng đỡ, xoay trở, vận chuyển người bệnh, ngồi quá lâu, đi lại nhiều, cúi khom, vẹo người Giờ giấc làm việc kéo dài, ca kíp không phù hợp, strees, điều kiện làm việc khó khăn nguy hiểm

1.1.2.2 Phân loại về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp trong cơ sở chăm sóc sức khỏe

Các yếu tố tác hại nghề nghiệp rất đa dạng có thể là vật lý, hóa học, sinh học, tâm

lý trong một môi trường lao động có thể có một hoặc nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp…[13] Nghề Điều dưỡng phải đối mặt với nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp, trong lúc thực hiện nhiệm vụ họ có thể tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm, bị tổn thương từ các vật sắc nhọn, hóa chất, các tư thế làm việc có thể làm đau cơ xương khớp, các độc chất, chấn thương lưng và tia bức xạ, họ cũng đối mặt với các mối nguy hiểm như căng thẳng, làm việc theo ca và bạo lực tại nơi làm việc Đấy là những yếu

tố tác hại nghề nghiệp cho thấy điều dưỡng là một nghề nguy hiểm [32],[52]

Theo nhóm tác giả Aghakhani N, Baghaei R Alinejad V et al (2017), nghiên cứu trên 108 điều dưỡng tại Đại học Khoa học Y khoa Urmia cho thấy điều dưỡng đã tiếp xúc trực tiếp với nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp Bao gồm yếu tố sinh học (máu, dịch cơ thể…), yếu tố hóa học (thuốc, chất khử trùng ) yếu tố vật lý là tiếp xúc với tia X và yếu tố công thái học (đau cơ xương khớp, đau thắt lưng do xoay trở, vận chuyển bệnh nhân [21]

Theo nhóm tác giả Emmanuel A.B, Sheshi I.M and Orugun J.J(2018), những yếu tố tác hại gây nguy hiểm bao gồm vật lý, hóa học, sinh học, công thái học và rủi ro tâm lý xã hội Nguy cơ hóa học phổ biến nhất là từ thuốc chống ung thư tiếp xúc qua

Trang 17

nhiễm của nhân viên y tế (NVYT) bắt nguồn từ các vi sinh vật (VSV) trong bệnh viện (đa dạng, dễ biến đổi) bao gồm các vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng…tồn tại trong cơ thể bệnh nhân, chất thải, phương tiện trung gian (dụng cụ y tế tái sử dụng, bàn tay NVYT), kết hợp với điều kiện đặc thù như quá tải, cường độ làm việc cao, trực đêm, cấp cứu … sẽ gây lây nhiễm nghề nghiệp (LNNN) và bệnh nghề nghiệp (BNN) thông qua các đường máu, hô hấp, tiếp xúc trực tiếp [14]

Các yếu tố tác hại đến sức khỏe nghề nghiệp cho nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng được Roger (2003) phân thành năm loại như sau nhóm yếu tố tác hại sinh học / truyền nhiễm, nhóm yếu tố tác hại hóa chất,cơ học,vật lý, và tâm lý

xã hội [49]

Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT Về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải và nhóm tác giả Olufemi Oludare Aluko ( 2016), AnnMarie Walton và Bonnie Rogers (2017), đã phân loại cụ thể các nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp gây hại đến sức khỏe và thực hành nghề nghiệp điều dưỡng [1],[23],[50]

- Nhóm yếu tố tác hại sinh học

Là máu, mô hoặc bất kỳ chất lỏng có khả năng truyền nhiễm từ cơ thể người bệnh, chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh

từ buồng bệnh cách ly.Các tác nhân truyền nhiễm có khả năng truyền sang người khác thông qua tiếp xúc với bệnh nhân hoặc dịch cơ thể của họ (ví dụ: vi khuẩn, vi rút, nấm)

- Nhóm yếu tố tác hại hóa học:

+ Bao gồm các loại thuốc có tính độc hại như thuốc được sử dụng trong quá trình hóa trị và phơi nhiễm latex là một trong những mối nguy hiểm nghề nghiệp đối với điều dưỡng [22]

+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu [1] Thuốc kháng khuẩn / thuốc kháng sinh, thuốc chống ung thư (ví dụ hóa trị liệu), chất khử trùng/khử trùng, ethylene oxide (chất khử trùng khí), chất tẩy trắng, chất tẩy rửa [45] Yếu tố tác hại hóa học phổ biến nhất là từ thuốc chống ung thư tiếp xúc qua tiếp xúc

Trang 18

hoặc hít phải [30]

+ Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị

vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử

dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị [1]

- Nhóm yếu tố tác hại cơ học:

Là những tai nạn, thương tích, căng thẳng có thể gây ra (như không đủ thiết bị

hoặc sàn nhà nguy hiểm) Điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn, tiếp xúc với kim

tiêm nhiễm chất dịch cơ thể có nguy cơ cao bị phơi nhiễm và lây nhiễm mầm bệnh [45] Các chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao

gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống

tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y

tế [1]

1.1.3 Nguyên nhân xảy ra phơi nhiễm từ các yếu tố tác hại nghề nghiệp điều

dưỡng

Các yếu tố gây ra bệnh nghề nghiệp và thương tích trong cơ sở y tế bao gồm sơ

suất và bất cẩn của nhân viên y tế, thiếu thiết bị và dụng cụ bảo vệ, số lượng nhân viên

không đủ, khối lượng công việc quá mức, không tuân thủ các hướng dẫn an toàn và vệ

sinh cơ bản và không đủ kiến thức vận hành thiết bị chăm sóc sức khỏe hiện đại [23]

Nghiên cứu của tác giả Sérgio Valverde Marques cho thấy trong số các nguyên

nhân của những tai nạn, rủi ro xảy ra đối với điều dưỡng là thiếu chú ý (28,3%), quá

tải công việc (28,3%), kích động của bệnh nhân (26,6%), kiệt sức về thể chất và tinh

thần (18,3%) và thiếu thiết bị bảo vệ cá nhân (13,3%) [45] Về nguyên nhân gây tổn

thương cho điều dưỡng, bất cẩn là nguyên nhân phổ biến gây ra tổn thương chiếm

40,2%, do người bệnh giãy dụa là 15,2% Một nguyên nhân khác là do VSN rơi vãi

chiếm 22,3% và VSN lẫn vào thiết bị/dụng cụ khác 11,6% [19] Các yếu tố khác dẫn

đến những thương tích đối với điều dưỡng bao gồm quá tải công việc, không tuân thủ

các biện pháp phòng ngừa chuẩn và lỗi của bệnh nhân [40]

Trong nghiên cứu của tác giả Hossein Motaarefi và các cộng sự (2016), điều

dưỡng đã báo cáo ở các khoa của họ bị thiếu nhân lực có nhiều khả năng bị chấn

Trang 19

thương hơn so với các khoa có đủ nhân viên Thiếu đào tạo về các yếu tố rủi ro, lượng bệnh nhân đônglà nguyên nhân gây ra chấn thương, làm việc hơn 40 giờ/tuần, không

đủ thời gian và không đeo găng tay khi làm việc với kim tiêm [40]

1.1.4 Hậu quả từ các yếu tố tác hại nghề nghiệp

Yếu tố tác hại nghề nghiệp là nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến bệnh nghề nghiệp hoặc chấn thương trong lao động Nguy cơ lây nhiễm bệnh nghề nghiệp có nguy cơ rất cao tới 67,6% đối với nhân viên y tế [12]

Nhân viên y tế (NVYT) là những người có liên quan đến bệnh nhân và chất dịch

cơ thể của họ, nguy cơ tiếp xúc với nhiễm trùng nghề nghiệp, nguy cơ mắc bệnh, khuyết tật và thậm chí tử vong sau đó Các bác sĩ, điều dưỡng , kỹ thuật viên phòng thí nghiệm và người xử lý chất thải lâm sàng liên tục có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng máu như virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) / AIDS và viêm gan Truyền nhiễm nghề nghiệp có thể gây lây nhiễm đường hít, tiêu hóa và bị lây nhiễm qua vết thương do kim tiêm đâm phải [48] Nhân viên y tế nói chung điều dưỡng nói riêng dễ bị lây nhiễm Virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV), virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan C (HCV), đau lưng và cổ, căng thẳng , dị ứng với vật liệu latex, bỏng do tràn hóa chất, tiếp xúc với phóng xạ, tấn công từ bệnh nhân [23]

Trong nghiên cứu của tác giả Sarah Mossburg và cộng sự (2019) về Các mối nguy hiểm nghề nghiệp trong số các nhân viên chăm sóc sức khỏe ở Châu Phi cho thấy trên toàn cầu, ước tính cứ 10 nhân viên y tế thì có 1 người bị thương nặng Vào năm

2000, chấn thương sắc nhọn đối với nhân viên y tế dẫn đến 16.000 ca nhiễm virus viêm gan C (HCV), 66.000 ca nhiễm virus viêm gan B (HBV) và 1.000 ca nhiễm virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) Từ năm 2000 đến 2030, các bệnh lây nhiễm này được ước tính gây ra 145 trường hợp tử vong sớm do HCV, 261 trường hợp tử vong sớm do HBV và 736 trường hợp tử vong sớm do HIV [39]

Một nghiên cứu Thực trạng bệnh nghề nghiệp của nhân viên Y tế thành phố Cần Thơ cho thấy tại hệ thống điều trị có 3,72% NVYT mắc bệnh nghề nghiệp, trong đó,

có 2,15% bị bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp, 0,14% bị bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp, 1,29% bị bệnh lao nghề nghiệp và 0,14% bị bệnh phóng xạ nghề nghiệp

Trang 20

Tại hệ thống y tế dự phòng có 3,37% NVYT mắc bệnh nghề nghiệp, trong đó 2,62% bị bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp, 0,75% bị bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp; Có tổng cộng 2,38% NVYT bị tai nạn nghề nghiệpfd Tại Việt Nam nghiên cứu năm 2012 ước tính ca mắc bệnh là HBV: 50/100.000 ca; HIV do VSN: 0,2/100.000 [14]

Theo tác giả Aghakhani và cộng sự, nghiên cứu trên 180 điều dưỡng tại Đại học Khoa học Y khoa Urmia cho thấy 90,5% các tai nạn sinh học tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể, 46,7% tai nạn hóa học từ thuốc khử trùng, 46,9% tai nạn vật lý là tiếp xúc với tia X và tai nạn công thái học đau thắt lưng do tái định vị bệnh nhân 41,7% là các mối nguy hiểm nghề nghiệp [21] Một nghiên cứu khác của Yeshitila Belay Belachew

và cộng sự, Điều dưỡng nguy cơ bị nhiễm trùng máu, quan trọng nhất là virus gây suy giảm miễn dịch ở người, virus viêm gan B và C [28] Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), bệnh lao và nhiễm tụ cầu khuẩn kháng methicillin là những bệnh truyền nhiễm khác có thể ảnh hưởng đến các điều dưỡng [22]

Hàng triệu trường hợp mới mắc các bệnh liên quan đến công việc điều dưỡng xảy ra trên toàn thế giới, bao gồm bệnh hô hấp và tim mạch, ung thư, giảm thính lực, rối loạn cơ xương và sinh sản, tâm thần và thần kinh [25] Nghiên cứu của tác giả A Mueller cho thấy nhân viên y tế (NVYT)có nguy cơ nhiễm HBV cao gấp 4 lần Yếu tố nguy cơ chính gây nhiễm HBV đối với HCW là tiếp xúc trực tiếp với vật liệu truyền nhiễm, đặc biệt là máu nhiễm HBV hoặc qua vết thương do kim tiêm với chất dịch cơ thể nhiễm HBV [41]

Tại Hoa Kỳ, dữ liệu của Cục Thống kê Lao động (BLS) cho thấy tỷ lệ thương tật

và bệnh nghề nghiệp của nhân viên bệnh viện là 7,6 trên 100 nhân viên [35]

1.1.5 Biện pháp dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp điều dưỡng

Các biện pháp phòng ngừa, nhằm mục đích ngăn chặn sự lây lan của các mối nguy hiểm và nhiễm trùng, thúc đẩy môi trường làm việc lành mạnh hơn và ngăn ngừa/giảm thiểu sự lây truyền các mầm bệnh truyền qua đường máu Việc thực hiện các biện pháp dự phòng và thực hành an toàn trong thực hành lâm sàng đòi hỏi diều dưỡng phải có kiến thức và kỹ năng về các biện pháp phòng ngừa [22]

Việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa an toàn giúp điều dưỡng giảm thiểu tiếp

Trang 21

xúc với các mối nguy hiểm nhằm phòng tránh các bệnh lây nhiễm, làm giảm tỷ lệ tổn thương và những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người điều dưỡng Cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt và chất lượng cho người bệnh Giảm tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp

Trong nghiên cứu của Aluko chỉ có một nửa 52,1% điều dưỡng là luôn luôn tuân thủ các quy trình chuẩn và chỉ có 40% thường cho rằng thiếu thiết bị an toàn cơ bản Việc phòng tránh các lây nhiễm nghề nghiệp, giảm thiểu tiếp xúc với các mối nguy hiểm là vô cùng quan trọng và cần thiết Thông qua các cuộc tập huấn trong tất cả các NVYT nên được thể chế hóa và bắt buộc Thông qua chính sách, đào tạo trước khi đi làm, tập huấn thường xuyên và diễn tập phòng ngừa an toàn nên được cập nhật liên tục cho nhân viên chăm sóc sức khỏe về các nguy cơ nghề nghiệp và thực hành an toàn Ngoài ra, tiêm chủng đầy đủ tất cả các NVYT có thể phòng ngừa được các bệnh truyền nhiễm, ghi chép kịp thời tất cả các trường hợp phơi nhiễm với các nguy cơ nghề nghiệp [23]

Nghiên cứu cả tác giả Yifang Yi và các cộng sự (2018), nhóm nghiên cứu đã khuyên nên áp dụng rộng rãi các thiết bị bảo hộ an toàn để giảm tỷ lệ chấn thương từ vật sắc nhọn trong môi trường chăm sóc sức khỏe Chìa khóa để bảo vệ điều dưỡng chống lại phơi nhiễm máu/chất dịch cơ thể và thúc đẩy báo cáo sự cố phơi nhiễm là xây dựng một chương trình đào tạo toàn diện về các biện pháp phòng ngừa và duy trì văn hóa an toàn trong bệnh viện [51]

Trong nghiên cứu Đánh giá về “Kiến thức, Thái độ và Thực hành về các nguy cơ Nghề nghiệp ở điều dưỡng” , tác giả Awan A, Afzal M, Majeed I, và cộng sự, cho thấy tác giả đã đưa ra nhóm giải pháp phòng ngừa cho điều dưỡng: cần tổ chức đào tạo và giáo dục thường xuyên cho các điều dưỡng để tăng cường an toàn lao động, xây dựng các chính sách hoặc chiến lược về tất cả các khía cạnh liên quan đến các rủi ro nghề nghiệp Cần thường xuyên kiểm tra định kỳ các y tá để đảm bảo sức khỏe nghề nghiệp [27]

Một nghiên cứu tại Malaysia cho thấy can thiệp thiết yếu để phòng ngừa và kiểm soát các bệnh nghề nghiệp cho NVYT được Bộ Y tế hỗ trợ bởi các phương pháp khác nhau Chúng bao gồm giáo dục và đào tạo về an toàn tại nơi làm việc, dự trữ và cung

Trang 22

cấp dụng cụ phòng hộ cá nhân đầy đủ, các thiết bị được thiết kế an toàn để thực hiện công việc, xử lý an toàn vật sắc nhọn và chính sách quản lý chất thải lâm sàng [24]

1.1.6 Giải pháp nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp của điều dưỡng

1.1.6.1 Vai trò của việc nâng cao kiến thức thái độ và thực hành (KAP) cho điều dưỡng về các yếu tố THNN

Nhân viên điều dưỡng có nguy cơ cao tiếp xúc với các tác nhân truyền nhiễm Kiến thức và thực hành theo hướng phòng ngừa phổ quát là cần thiết để ngăn ngừa nhiễm trùng liên quan đến bệnh viện [35] Ngăn chặn trực tiếp mọi sự tiếp xúc không được bảo vệ đối với các chất dịch cơ thể, máu, dịch tiết, chất bài tiết của bệnh nhân nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm của các loại vi khuẩn gây bệnh có liên quan đến việc chăm sóc người bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống của NVYT

Có sự liên quan giữa kiến thức với thái độ về các mối nguy hiểm của điều dưỡng, điều dưỡng có kiến thức cao cho thấy thái độ tích cực đối với các hoạt động phòng ngừa rủi ro nghề nghiệp với tỷ lệ lần lượt 89% và 80% [23] Có nhận thức tốt

về những nguy hiểm từ yếu tố THNN thì điều dưỡng sẽ chủ động dự phòng bằng nhiều biện pháp khác nhau trong quá trình chăm sóc người bệnh Giúp bảo vệ sức khỏe cho điều dưỡng, đảm bảo chất lượng chăm sóc

Điều dưỡng có KAP về các yếu tô tác hại nghề nghiệp tốt thì giảm tỷ mắc phải các bệnh nghề nghiệp Theo WHO (2012) kiến thức cao sẽ chuyển sang thái độ tích cực và sau đó là hành vi tốt, mặc dù trong thực tế, quá trình chuyển đổi không đơn giản mà phụ thuộc vào một số yếu tố Trong một nghiên cứu, khoảng hai phần năm (38%) có xếp hạng tích cực trong KAP trong khi 7% có xếp hạng tiêu cực trong thang

đo KAP Tuy nhiên, hơn một nửa là trong các loại khác nhau cần can thiệp để giảm thiểu rủi ro nghề nghiệp trong cơ sở y tế Các lỗ hổng được xác định bởi nghiên cứu này có những hậu quả sâu rộng đối với sức khỏe của người lao động trong cơ sở y tế,

và do đó đối với chất lượng chăm sóc sức khỏe được cung cấp cho bệnh nhân cũng giảm [27] [26]

Một nghiên cứu khác cho thấy, kiến thức và điểm thái độ đối với các biện pháp

Trang 23

phòng ngừa tiêu chuẩn là trên 90%, nhưng điểm thực hành trung bình là 50,8% Phần lớn NVYT có kiến thức kém về an toàn tiêm và phàn nàn về nguồn lực không đủ để thực hành các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn Đây là những nguyên nhân gây lây nhiễm nghề nghiệp Qua đây cho thấy để đảm bảo toàn cho điều dưỡng trong lúc làm việc thì không những có kiến thức tốt mà phải thực hành tốt

1.1.6.2 Các giải pháp để nâng cao kiến thức mà thế giới và việt nam đã thực hiện

Trên thế giới:

Qua nghiên cứu trên 96 điều dưỡng về Cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến an toàn của điều dưỡng khi xử lý thuốc chống ung thư gây độc tế bào tại một bệnh viện đa khoa, Malaysia Cho thấy điểm kiến thức trung bình của các điều dưỡng đã tăng đáng kể từ 45,5 ± 10,52 lên 73,4 ± 8,88 trên 100 (p <0,001) khi kết thúc đánh giá thứ hai Nhìn chung, điểm thực hành trung bình giữa các khoa được cải thiện

từ 7,6 ± 5,51 lên 15,3 ± 2,55 trên 20 (p <0,001) [36]

Để cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành an toàn cho điều dưỡng trong việc

xử lý thuốc gây độc tế bào Quản lý bệnh viện đã sử dụng đối tượng dược sĩ có kimh nghiệm để hỗ trợ kỹ thuật, giáo dục và quản trị, tổ chức các khóa học, hội thảo đào tạo

và cập nhật hướng dẫn về các dịch vụ phục hồi thuốc gây độc tế bào (CDR) hệ thống khép kín cho đối tượng dưỡng [36]

Trong nghiên cứu Đánh giá về “Kiến thức, Thái độ và Thực hành về các nguy cơ Nghề nghiệp ở điều dưỡng”, tác giả Awan A, Afzal M, Majeed I, và cộng sự, tác giả

đã đưa ra nhóm giải pháp phòng ngừa cho điều dưỡng khi đối mặt với các mối nguy hiểm nghề nghiệp Cần tổ chức đào tạo và giáo dục thường xuyên cho các điều dưỡng

để tăng cường an toàn lao động, xây dựng các chính sách hoặc chiến lược về tất cả các khía cạnh liên quan đến các rủi ro nghề nghiệp Cần thường xuyên kiểm tra định kỳ các đối với điều dưỡng về kiến thức và thực hành phòng ngừa an toàn để đảm bảo sức khỏe nghề nghiệp [27]

Các chương trình giáo dục về lợi ích của phòng ngừa chuẩn (SP) nên được tổ chức thường xuyên Các nhà quản lý nên được thiết lập và các biện pháp trừng phạt và khen thưởng nên được đưa ra để hạn chế hành vi tiêu cực và củng cố thái độ tích cực

Trang 24

liên quan đến SP [42]

Tại Việt Nam:

Để nâng cao kiến thức, thực hành một số yếu tố tác hại nghề nghiệp thì các bệnh viện đã thực hiện cập nhật liên tục tập huấn các thông tư, quyết định chỉ đạo của Bộ Y

tế về phòng ngừa an toàn cho NVYT, hướng dẫn xư lý rác thải đúng cách đảm bảo an toàn, kiểm soát nhiễm khuẩn, giúp NVYT và người bệnh tránh lây nhiễm có hại, cung cấp dịch vụ chăm sóc chất lượng cho người bệnh

- Thông tư 16 của BYT quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Giúp triển khai và giám sát thực hiện các quy định, hướng dẫn, quy trình chuyên môn về kiểm soát nhiễm khuẩn nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm

vi sinh vật gây bệnh cho người bệnh, nhân viên y tế và cộng đồng trong quá trình cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh [5]

- Theo quyết định số: 3671/QĐ-BYT, hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong cơ sở khám chữa bệnh của BYT (2012), cập nhật những kiến thức về các yếu tố gây hại đến sức khỏe NVYT và hướng dẫn sử dụng các biện pháp và phương tiện phòng hộ Nhằm bảo vệ sức khỏe cho NVYT, người bệnh và nâng cao chất lượng chăm sóc [3], [2]

- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về quản lý chất thải y tế, bao gồm chất thải y

tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy,dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại Qua đây, NVYT biết được quy trình xửa lý rác thải, giảm thiểu tiếp xúc với các chât gây hại đó

để không gây tổn thương và lây nhiễm cho họ [2], [1]

1.2 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp ở các cơ sở y tế

1.2.1 Thực trạng nhận thức của điều dưỡng về các yếu tố tác nghề nghiệp

1.2.1.1 Thực trạng nhận thức của điều dưỡng về yếu tố tác hại sinh học

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Ghaffar T và cộng sự (2018), tác giả sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi tự quản lý dựa vào một nghiên cứu khác trên 200 điều dưỡng, cho thấy điều dưỡng có nhận thức về các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp tương đối cao 82% trong đó 74,2 % nhận thức các nguy

Trang 25

hiểm từ yếu tố sinh học [32]

Kết quả nghiên cứu của Aluko và cộng sự (2016) sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả với kỹ thuật lấy mẫu phân tầng trên 290 điều dưỡng , cho thấy 96,2% những người được hỏi tin rằng họ có nguy cơ gặp rủi ro nghề nghiệp trong khi khoảng hai phần ba nhận thấy rủi ro là cao Trong đó nhận thức của họ về nhóm các yếu tố tác hại sinh học chiếm 72.4% [23]

1.2.1.2 Thực trạng nhận thức của điều dưỡng về nhóm yếu tố tác hại hóa hoc

Theo nghiên cứu của của Issam Khatib và Walid El Ansari (2015), cho thấy yếu

tố tác hại hóa học là nguồn nguy hiểm cho diều dưỡng trong lúc làm việc [22] Các chất khử trùng và các sản phẩm vô trùng như glutaraldehyd và ethylene oxide, các loại thuốc độc hại như thuốc được sử dụng trong quá trình hóa trị, xạ trị cho người bệnh ung thư [42] Vì vậy điều dưỡng nên nhận biết được chúng và mức độ gây hại để từ

đó điều dưỡng nhận thức tầm quan trọng của việc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa

an toàn và hiệu quả Trong nghiên cứu Aluko và cộng sự (2016) cho thấy nhận thức của điều dưỡng về mối nguy hiểm nghề nghiệp từ yếu tố tác hại hóa học tương đối cao chiếm 81,7% [23]

1.2.2 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng trong việc phòng ngừa một số yếu tố tác hại nghề nghiệp

Kết quả nghiên cứu của Aluko và cộng sự (2016), cho thấy 89% những người được hỏi có kiến thức về các mối nguy hiểm về nghề nghiệp đối với sức khỏe của họ, nhưng 57,6% điều dưỡng tại bệnh viện không biết về những rủi ro cao mà họ gặp phải trong quá trình làm việc tại cơ sở y tế [23] Trong nghiên cứu, nhận thức và thái độ của điều dưỡng về các biện pháp phòng ngừa an toàn tương đối cao lần lượt là 98,3% và 88,2%, nhưng trong thực hành chỉ có 52,1% người luôn luôn tuân thủ các biện pháp phòng ngừa an toàn và 64,2% người được hỏi đã hoàn thành tiêm phòng viêm gan B [23]

Một nghiên cứu khác tương tự như nghiên cứu tại Nigeria, thấy rằng 96% điều dưỡng có kiến thức về các mối nguy hiểm nghề nghiệp Trong khi Điều dưỡng có kiến thức về kim tiêm dính máu và dịch cơ thể người bệnh là nguyên nhân chính lây bệnh

Trang 26

còn thấp 42% [32] Có 99,7% có nhận thức cao về các biện pháp phòng ngừa an toàn 98,3% tiêm ngừa viêm gan B và 87,2 % tiêm ngừa uống ván 93,1% DD biết cách theo dõi quá trình điều trị dự phòng sau phơi nhiễm [32]

Nghiên cứu trên 300 điều dưỡng tại bệnh viện Đại học Kerbala Iraq, có 252 (84%) đối tượng có kiến thức về các mối nguy hiểm nghề nghiệp trong đó còn tới 27,3% điều dưỡng có kiến thức chưa tốt về nó Chỉ có 207 (69%) thực hành phòng ngừa đầy đủ và an toàn về các mối nguy hiểm nghề nghiệp, trong đó thực hành tốt rất thấp chiếm 35%, mức độ thực hành trung bình 34% và 31% có thực hành kém Qua nghiên cứu cho thấy điều dưỡng có kiến thức và thực hành về các mối nguy hiểm nghề nghiệp nhưng hơn một phần tư có kiến thức và thực hành không đầy đủ về nguy cơ nghề nghiệp [21]

Nghiên cứu khác tại bệnh viện An sinh xã hội Nawaz Sharif ở Pakistan cho thấy Điều dưỡng có trình độ hiểu biết cao về các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp tại nơi làm việc chỉ đạt 67,5% [27] Tại ba bệnh viện giảng dạy ở thành phố Kerbala Irac, tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức cao về các mối nguy hiểm nghề nghiệp còn thấp chỉ đạt 56,7% [31] Một nghiên cứu tại Nigeria chỉ đạt 54,6% điều dưỡng có kiến thức cao về các mối nguy hiểm nghề nghiệp [23] Nhìn chung kiến thưc điều dưỡng về các mối nguy hiểm nghề nghiệp còn thấp Trong nghiên cứu tại Pakistan thái độ của các điều dưỡng về phòng ngừa các rủi ro nghề nghiệp và thực hành an toàn tại bệnh viện còn thấp chỉ có 58.9% và 57,7% [27]

Nghiên cứu trên 108 điều dưỡng tại thôn Metropolis của Ghana cho thấy (94,4%) nhận thức được rằng họ dễ bị nhiễm HBV nghề nghiệp Rất ít điều dưỡng, khoảng 23,4% biết được các bước để quản lý phơi nhiễm và chỉ có 12,1% có kiến thức đầy đủ

về điều trị dự phòng sau phơi nhiễm chống lại HBV Tuy nhiên, chỉ có 48 (44,4%) điều dưỡng được tiêm vắc-xin viêm gan B, (75% trong số những người được tiêm chủng đã tiêm đủ ba liều yêu cầu trong khi số còn lại có ít hơn 3 liều [38]

Nghiên cứu tại vùng Onandjokwe Oshikoto, Namibia cho thấy 76% điều dưỡng

có kiến thức về các cách có thể tiếp xúc với các nguy cơ nghề nghiệp trong các lĩnh vực sau: như xử lý các dụng cụ sắc nhọn, nâng đỡ bệnh nhân, tiếp xúc với các vấn đề

Trang 27

tâm lý do sự thất vọng, và tiếp xúc với các bệnh trong không khí [46] Một con số đáng báo động (56%) điều dưỡng không thực hiện tiêm ngừa viêm gan B [24] Tất cả người trả lời (100%) chỉ ra rằng họ rửa tay làm nhiệm vụ để ngăn chặn hoặc giảm nhiễm trùng chéo Chín mươi sáu (96%) sử dụng găng tay, tạp dề, khẩu trang và kính bảo hộ trong khi phẫu thuật hoặc khi thực hiện các thủ thuật [24]

Kết quả nghiên cứu của Ahmed E Arafa, Amel A Mohamed và Manal M Anwar (2016) về kiến thức và thực hành về các mầm bệnh truyền qua máu và các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng tại Bệnh viện Beni-Suef được chọn ở Ai Cập, cho thấy kiến thức của điều dưỡng về mầm bệnh lây truyền qua máu HIV, HBV và HCV lần lượt 93,5, 80,3 và 65,8% Trong số 400 điều dưỡng chỉ có 50% số đó cho rằng phương pháp khử trùng bằng nồi hấp là phương pháp khử trùng tốt nhất cho thiết bị Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chỉ 53,5% điều dưỡng được tiêm vắc-xin ngừa HBV [26] Một nghiên cứu khác điều tra mức độ nhận thức về các mối nguy hiểm sức khỏe nghề nghiệp, trên 105 điều dưỡng chăm sóc tại bệnh viện đại học Karad tương đối thấp 22,9% điều dưỡng nhận thức được rằng họ sẽ bị viêm da vì sử dụng găng tay cao su, 42,9% DD bị bạo hành chủ yếu từ bệnh nhân 37,1% ĐD mang thai không được làm việc tại khu vực xạ trị 48,8% đồng ý và 21% không biết rằng sử dụng mặt nạ găng tay, tạp dề là cần thiết cho xử lý thuốc chống ung thư và hóa chất Chỉ có 56,2% DD cho rằng nên đọc hướng dẫn về an toàn phóng xạ 67,6% ĐD căng thẳng do thiếu nghỉ ngơi [47]

Nghiên cứu trên 345 nhân viên y tế tại thành phố Ondo, Tây Nam Nigeria có 85% nhân viên y tế biết nhiều đến các mối nguy hiểm nghề nghiệp Nghiên cứu này cho thấy phần lớn NVYT của chính phủ ở Ondo nhận thức cao về các mối nguy hiểm nghề nghiệp, nhưng tuân thủ các biện pháp phòng ngừa an toàn trong chăm sóc lại rất thấp Trong đó 75,4% NVYT nhận thức bị thương tích do vật sắc nhọn, 70,7% vết cắt

và vết thương, 60% mắc bệnh do không khí gây ra và 77,7% căng thẳng do nghề nghiệp Chỉ có 38% NVYT cho rằng mức độ xảy ra rủi ro nghề nghiệp là cao trong khi

đó 6,1% tuân thủ các biện pháp an toàn trong thực hành chăm sóc [43]

Nghiên cứu trên 300 nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Minna chỉ ra rằng

Trang 28

Nhân viên y tế có trình độ hiểu biết thấp về các mối nguy hiểm nghề nghiệp và kiểm soát chúng Nghiên cứu kết luận rằng ít hơn 1/10 số người được hỏi có kiến thức tốt về các mối nguy hiểm nghề nghiệp và các biện pháp kiểm soát [30]

Nghiên cứu của Pollyanna Salles Rodrigues và các cộng sự (2017) Kiến thức và điểm thái độ đối với các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn là trên 90%, nhưng điểm thực hành trung bình chỉ có 50,8% Phần lớn NVYT có kiến thức kém về an toàn tiêm

và phàn nàn về nguồn lực không đủ để thực hành các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn Trong đó nhân viên y tế được đào tạo chính thức về PEP, phơi nhiễm HIV hoặc phơi nhiễm các tác nhân khác ảnh hưởng sức khỏe nghề nghiệp còn rất thấp chỉ từ 33%- 49% [44] Một số nghiên cứu mô tả yếu tố kiến thức về điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP), 93% trong số những người được khảo sát có kiến thức đầy đủ về PEP Trong khi một nghiên cứu báo cáo rằng 24% những người được khảo sát thiếu đào tạo

về sử dụng PEP Trong số tám nghiên cứu mô tả các yếu tố thái độ, 99% người tham gia đã có thái độ tích cực đối với các biện pháp an toàn trong chăm sóc Vẫn còn 8% không tuân thủ các quy trình an toàn vì họ cho rằng nó không hữu ích [39] Thực hành liên quan đến phơi nhiễm của nhân viên y tế khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể người bệnh đã được báo cáo trong các nghiên cứu 32% điều dưỡng báo cáo rằng họ có kiến thức kém và không được đào tạo liên quan đến việc ngăn ngừa chấn thương do kim đâm

Nghiên cứu trên 300 nhân viên y tế tại bệnh viện Đa khoa Minna chỉ ra rằng Nhân viên y tế có trình độ hiểu biết thấp về các mối nguy hiểm nghề nghiệp và kiểm soát chúng Nghiên cứu kết luận rằng ít hơn 1/10 số người được hỏi có kiến thức tốt về các mối nguy hiểm nghề nghiệp và các biện pháp kiểm soát [30] Hơn một nửa nhân viên y tế tại quận Singida (52%) không có kiến thức đầy đủ về HIV PEP và chỉ có 50,6% người tham gia có kinh nghiệm phơi nhiễm nghề nghiệp Trong số 121 người tham gia phơi nhiễm chỉ có 68,6% báo cáo sự cố phơi nhiễm và 75,2% đã xét nghiệm HIV [37]

Nhận thức về nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp với viêm gan B của điều dưỡng ở vùng Tamale, Ghana Có tới 94,4% điều dưỡng cho rằng họ dễ bị nhiễm HBV nghề

Trang 29

nghiệp 91,7% điều dưỡng biết rằng viêm gan B là do virus gây ra 57,4% điều dưỡng nhận thức được rằng HBV có thể lây lan nghề nghiệp thông qua tiếp xúc với máu và sản phẩm máu bị nhiễm bệnh Nhưng chỉ có 23,4% biết về các biện pháp quản lý phơi nhiễm và tỷ lệ nhỏ 12,1% có kiến thức đầy đủ về điều trị dự phòng sau phơi nhiễm chống lại HBV Chỉ có 44,4% y tá được tiêm vắc-xin viêm gan B [38] Chỉ có 56,5% điều dưỡng sử dụng găng tay cho các thủ tục liên quan đến tiếp xúc với máu [38] Theo kết quả nghiên cứu của Issam Khatib và Walid El Ansari (2015), cho thấy 85% điều dưỡng có kiến thức tương đối cao về các biện pháp phòng ngừa an toàn theo quy định, mặc dù có kiến thức cao nhưng 52% điều dưỡng đã bị phơi nhiễm máu và dịch cơ thể người bệnh(BBF) và 62% có nguy cơ cao khi tiếp xúc với BBF [22] Tại Việt Nam chưa tìm thấy có nghiên cứu “Kiến thức, Thái độ và thực hành dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp điều dưỡng” Rất ít nghiên cứu đề cập đến nguy cơ và thực trạng lây nhiễm nghề nghiệp của nhân viên y tế Nhiều nghiên cứu nói đến thực trạng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn, phơi nhiễm với viêm gan vius, stress nghề nghiệp … Theo một nghiên cứu trên 136 điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Đa khoa Cần Thơ cho thấy, điều dưỡng có kiến thức đạt về bệnh và nguy cơ mắc bệnh viêm gan vius B, C nghề nghiệp chưa cao chỉ có 70,6% Hơn một nửa (59,6%) có kiến thức đạt về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vius B, C nghề nghiệp và chỉ có 54,4

% có thực hành đạt về thực hành dự phòng Phơi nhiễm viêm gan vius B, C nghề nghiệp [18]

Qua nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hương (2017) về khảo sát hành vi, thái độ củ NVYT về thực hành ngăn ngừa tổn thương do vật sắc nhọn và phòng ngừa phơi nhiễm tại Bệnh viện 115, cho thấy NVYT có thái độ đúng với quy trình xử lý phơi nhiễm với máu dịch tiết là rất cao chiếm 97,93% Tỉ lệ NVYT có hành vi đúng về việc sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân khi mang 2 găng tiếp xúc với vùng da tổn thương hoặc máu của BN chỉ có 61,34% Và tỉ lệ NVYT có hành vi đúng về việc điều trị dự phòng lây nhiễm HIV tốt nhất trong thời gian trong vòng 24h đầu cũng cao chiếm 94,33% [8] Một nghiên cứu khác về kiến thức, thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp (VGBNN) của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre

Trang 30

2018, Qua nghiên cứu cho thấy chỉ có 63,5% điều dưỡng có kiến thức đạt về bệnh và phòng bệnh VGBNN Về thực hành dự phòng bệnh VGBNN trong quá trình làm việc,

đa số điều dưỡng thực hiện tốt các biện pháp dự phòng chiếm 89,5%, tuy nhiên vẫn còn 10,5% thực hành không đúng Có tới 75,2% điều dưỡng thường xuyên sử dụng phương tiện lao động khi làm việc [9]

1.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành dự phòng 2 yếu tố tác hại nghề nghiệp ở điều dưỡng

1.3.1 Đặc điểm cá nhân

Kinh nghiệm làm việc của điều dưỡng

Nghiên cứu tại bệnh viện đại học Kerbala của Iraq cho thấy có sự liên quan đáng

kể giữa kinh nghiệm làm việc với kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng các mối nguy hiểm nghề nghiệp của điều dưỡng với (p<0,05) Một nghiên khác tại Pakistan tương tự điều dưỡng làm việc lâu năm có kiến thức về các mối nguy hiểm nghề nghiệp cao hơn với ( p<0.05) [27]

Trong một nghiên cứu trên 345 NVYT tại phố Ondo, Tây Nam Nigeria cho thấy Các NVYT có kinh nghiệm làm việc trên 10 năm thì có thực hành an toàn tốt hơn đáng kể với p <0.001 [43]

Nghiên cứu tại bệnh viện đại học Kerbala cho thấy có mối liên quan đáng kể giữa mức độ kiến thức, thực hành với số năm làm việc của điều dưỡng về các mối nguy hiểm nghề nghiệp với (p<0.05) Điều dưỡng làm việc lâu năm có thái độ tốt hơn với tỷ lệ 92% [31]

Trong một nghiên cứu của Awan, A., Afzal, M., Majeed, I., et al (2017) cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng có sự liên quan đáng kể với nhiều năm kinh nghiệm làm việc của họ [27]

Thời gian làm việc

Trong nghiên cứu của Aghakhani N và cộng sự cho thấy có một mối quan hệ đáng kể giữa các vụ tai nạn trong quá trình chăm sóc của điều dưỡng với thời gian làm việc dài, ca đêm (p ≤ 0,05) Điều dưỡng làm việc thời gian dài và ca đêm bị tai nạn nhiều hơn [21]

Trang 31

Trình độ học vấn

Nghiên cứu khác tại Pakistan cho thấy không có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng các mối nguy hiểm của điều dưỡng với trình độ học vấn của họ với p lần lượt (p =.008), (p =.026) và (p =.090) [27]

1.3.2 Kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng

Có sự liên quan giữa kiến thức với thái độ về các mối nguy hiểm của điều dưỡng, điều dưỡng có kiến thức cao cho thấy thái độ tích cực đối với các hoạt động phòng ngừa rủi ro nghề nghiệp với tỷ lệ lần lượt 89% và 80% [23]

Theo nghiên cứu của Ghaffar, T., Ali, A and Din, N N U (2018) cho thấy mối liên quan đáng kể giữa kiến thức và thái độ của điều dưỡng về các mối nguy hiểm nghề nghiệp với p = 0 000 [32]

1.3.3 Đào tạo về các YTTHNN

Người được đào tạo về các YTTHNN có kiến thức cao hơn nhóm không được đào với tỷ lệ lần lượt là 56,7% và 27,3% [31]

Trong nghiên cứu của Arafa, Ahmed E và cộng sự cho thấy các bài giảng được cung cấp cho các nhân viên điều dưỡng có liên quan đáng kể đến thực hành tốt hơn [26]

1.4 Học thuyết áp dụng trong nghiên cứu: Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM)

1.4.1 Sự ra đời lý thuyết mô hình niềm tin sức khỏe (HBM):

Vào năm 1950 các nha nghiên cứu sức khỏe cộng đồng tại Mỹ bắt đầu phát triển

lý thuyết mô hình tâm lý học (Hochbaum, 1958 và Rosenstock, 1966, 1974) Tác giá Lewin’s (1951) đã đề cập đến mối quan hệ giữa niềm tin sức khỏe và hành vi Năm

1974, Rosenstock được cho là người đầu tiên đưa ra mô hình lý thuyết HBM (Health Belief Model) Mô hình đã được bổ sung sửa đổi cuối năm 1988 để kết hợp các bằng chứng mới xuất hiện trong các lĩnh vực tâm lý học về vai trò của tự hiệu quả trong việc ra quyết định và hành vi [17]

1.4.2 Khái niệm mô hình niềm tin sức khỏe (HBM):

Là một tâm lý thay đổi hành vi sức khỏe, mô hình phát triển để giải thích và dự đoán hành vi sức khoẻ HBM mạnh trên yếu tố nhận thức ảnh hưởng lên hành vi con

Trang 32

người trong lĩnh vực sức khỏe

Mô hình niềm tin sức khỏe cho thấy niềm tin của người dân về vấn đề sức khỏe, nhận thức lợi ích của hành động và các rào cản hành động, và giải thích sự tự hiệu quả (hoặc thiếu sự tham gia) trong hành vi lợi cho sức khỏe

1.4.3 Nội dung mô hình niềm tin sức khỏe:

Mô hình niềm tin sức khỏe nói về cảm nhận của cá nhân về những nguy cơ bệnh tật gây ra, những lợi ích của việc né tránh những nguy cơ và những yếu tố ảnh hưởng đến sự quyết định hành động Với 6 khái niệm: nhận thức sự nhạy cảm, nhận thức độ nghiêm trọng, nhận thức về lợi ích, nhận thức về sự rào cản, tín hiệu hành động, tính

- Nhận thức được tính nhạy cảm

Tính nhạy cảm cảm nhận dùng để đánh giá chủ quan của nguy cơ phát triển một vấn đề sức khỏe Các mô hình niềm tin sức khỏe dự đoán rằng các cá nhân cảm thấy rằng họ dễ bị nhiễm một vấn đề sức khỏe cụ thể, họ sẽ tham gia vào các hành vi để giảm bớt rủi ro phát triển các vấn đề sức khỏe

- Nhận thức lợi ích: nhận thức lợi ích đề cập đến đánh giá của một cá nhân về

giá trị hoặc hiệu quả của việc tham gia vào một hành vi tăng cường sức khỏe để giảm nguy cơ mắc bệnh, rủi ro Nếu một cá nhân tin rằng một hành động cụ thể sẽ làm giảm tính nhạy cảm đối với vấn đề sức khỏe hoặc giảm mức độ nghiêm trọng, thì người đó

có khả năng tham gia vào hành vi đó bất kể sự thật khách quan liên quan đến hiệu quả của hành động

- Rào cản nhận thức: đề cập đến nhận thức của một cá nhân về những trở ngại,

bất lợi đối với việc thay đổi hành vi Khi một cá nhân nhận thấy tình trạng sức khỏe bị

Trang 33

đe dọa (hoặc cảm nhận cá nhân về những nguy cơ của bệnh tật gây ra) và tin rằng một hành động cụ thể sẽ làm giảm mối đe dọa một cách hiệu quả Các rào cản là là những yếu tố ảnh hưởng đến hành động có lợi hoặc là ngăn chặn hành vi thúc đẩy sức khỏe Rào cản bao gồm sự: bất tiện, chi phí, sự khó chịu liên quan đến hành vi

- Tín hiệu hành động: tác động từ bên ngoài để đối tượng thực hiện hành vi Ví

có thể thay đổi hành vi của họ là sự ban quản lý bệnh viện tổ chức quản lý, giám sát các hoạt động của điều dưỡng và tổ chức các đợt kiểm tra, tập huấn, chương trình đào tạo liên tục cho họ Thì họ sẽ phần nào thay đổi những hành vi bất lợi thành hành vi có lợi để làm giảm các tai nạn từ một số yếu tố tác hại nghề nghiệp đem lại

1.4.4 Khung lý thuyết trong nghiên cứu

Điều dưỡng là người trực tiếp chăm sóc người bệnh, nên họ có khả năng gặp nhiều nguy hiểm trong quá trình tiếp xúc trực tiếp và thực hiện các thao tác chăm sóc trên người bệnh Mô hình niềm tin sức khỏe cho thấy niềm tin của điều dưỡng về vấn

đề sức khỏe, họ nhận thức lợi ích của hành động và các rào cản hành động, và giải thích sự tự hiệu quả trong hành vi lợi cho sức khỏe Áp dụng 6 khái nệm về lý thuyết niềm tin sức khỏe để xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này

Trang 34

Hành động Khả năng thực hành tốt các biện pháp phòng ngừa

an toàn Nhận thức lợi ích: việc

Trang 35

1.5 Địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên được Xây dựng trước năm 1975, tiền thân là một bệnh viện dã chiến) Từ năm 1976 đến 1989, Bệnh viện ĐK Phú Yên hiện nay chỉ

là một Bệnh viện Đa khoa khu vực phía Bắc của tỉnh với quy mô 300 giường bệnh Tháng 7 năm 1989, Bộ Chính trị đã có Quyết định số 83/QĐ-TW, chia tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh: Phú Yên và khánh Hoà Bệnh viện khu vực Bắc Phú Khánh được đổi tên là Bệnh viện đa khoa trung tâm Tỉnh (theo Trích yếu số 06 /YT ngày 15/7/1989 của Giám đốc Sở Y tế Phú Yên

Năm 2009, Bệnh viện mới được xây dựng tại số 15 Nguyễn Hữu Thọ, phường 9, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tháng 9 năm 2010, Bệnh viện di chuyển về cơ sở mới Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên là bệnh viện hạng II, trực thuộc Sở Y tế Phú Yên, với 500 giường bệnh và gần 700 NVYT Bệnh viện hiện có 17 khoa/phòng đơn

vị chuyên môn, đặc biệt mới thành lập các chuyên khoa sâu như: can thiệp tim mạch, ung bướu, thần kinh nội tiết và đặc biệt vừa nâng cấp khoa cấp cứu trong đó có 315 điều dưỡng trực tiếp tham gia lâm sàng….Bệnh viện đang trang bị nhiều trang thiết bị mới đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân [10]

Hàng ngày, bệnh viện đón tiếp hàng nghìn lượt người đến khám và chữa bệnh, số lượng người bệnh đến khám tăng qua các năm Với số lượng người bệnh nằm điều trị tại các khoa thường quá tải, kèm theo đó thì lượng rác thải, chất thải nguy hại cũng tăng lên Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn đã được chú trọng, khoa kiểm soát nhiễm khuẩn có kiểm tra trực tiếp tại các khoa lâm sàng về cách xử lý cũng như phân loại các chất thải rác thải nhưng cũng chưa chặt chẽ Để đáp ứng nhu cầu của nhân dân và nâng cao chất lượng phục vụ điều trị Hàng năm, bệnh viện đều cử cán bộ đi đào tạo, tập huấn, cập nhật kiến thức về chuyên môn Bệnh viện cũng không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, sáng kiến kỹ thuật, cập nhật thường xuyên phác đồ điều trị Mỗi năm trung bình Bệnh viện có từ 25 đến 30 đề tài cấp cơ sở [10]

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Điều dưỡng đang làm việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Tất cả điều dưỡng tại các khoa đang thực hiện công việc chăm sóc người bệnh trực tiếp

- Điều dưỡng bao gồm cả nhân viên chính thức, nhân viên hợp đồng và nhân viên học việc

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những điều dưỡng đang nghỉ theo chế độ nghỉ thai sản, những người đang đi học, công tác, vắng mặt trong thời gian nghiên cứu

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2019 đến tháng 6/ 2020

Thời gian thu thập số liệu: Từ 1/1/2020 đến 31/3/2020

Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích để đạt được mục tiêu mô tả thực trạng vấn đề và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến vấn đề nghiên cứu

2.2.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:

Trang 37

- Trong đó:

o N là cỡ mẫu

1−2

cứu thử)

ý nghĩa thực tiễn của kết quả nghiên cứu và nguồn lực dành cho nghiên cứu) Hiện này các nhà thống kê đưa ra gợi ý tính d dựa trên giá trị của p như sau:

- Phương pháp chọn mẫu: Thông qua phòng Tổ chức cán bộ và phòng Điều dưỡng, dựa vào bản báo cáo số lượng nhân sự điều dưỡng của các khoa phòng đang làm chuyên môn chăm sóc, lựa chọn những đối tượng đảm bảo đủ các tiêu chí tham gia nghiên cứu

2.2.3 Công cụ thu thập số liệu

2.2.3.1 Xây dựng bộ công cụ

Bộ công cụ phỏng vấn kiến thức về yếu tố THNN

Được xây dựng dựa trên tài liệu: “phòng chống bệnh nghề nghiệp trong nhân

viên y tế” của viện sức khỏe và môi trường thuộc Bộ Y tế (2017) [7] và tài liệu “Ảnh

Trang 38

hưởng của chất thải Y tế đến sức khỏe của nhân viên y tế và cộng đồng”[20]

Thông tin phỏng vấn bao gồm:

- Các thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, biên chế công việc, khoa làm việc, lịch sử đào tạo

- Các thông tin về kiến thức của điều dưỡng về các yếu tô THNN bao gồm nội

dung sau:

+ Yếu tố sinh học: kiến thức về các tác hại, vấn đề sức khỏe, khoa phòng có nguy cơ cao bị tác động, các biện pháp dự phòng và các bệnh nghề nghiệp nào do yếu

tố tác hại sinh học gây ra

+ Yếu tố hóa học: kiến thức về các tác hại, vấn đề sức khỏe, khoa phòng có nguy cơ cao bị tác động, các biện pháp dự phòng và các bệnh nghề nghiệp nào do yếu

tố tác hóa học gây ra

- Bộ công cụ phỏng vấn thái độ của điều dưỡng về yếu tố THNN

Được xây dựng dựa trên tài liệu kiểm soát nhiễm khuẩn của Bộ Y tế (2012) [5] Tài liệu tiêm an toàn của Bộ Y tế (2012) [3] Các thông tin về thái độ của điều dưỡng

về một số yếu tố THNN bao gồm: Nhận thức mối nguy hiểm của một số yếu tố THNN, nhận thức về tính nhạy cảm của một số yếu tố THNN, nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp dự phòng của một số yếu tố THNN, nhận thức về các rào cản

để thực hiện hành vi

- Bộ công cụ phỏng vấn thực hành của điều dưỡng về yếu tố THNN

Được xây dựng dựa trên tài liệu hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong cơ sở khám chữa bệnh của Bộ Y tế (2012) [2], tài liệu tiêm an toàn của Bộ Y tế (2012) [3]

2.2.3.2 Quy trình kiểm định bộ công cụ

Bước 1: Kiểm định tính giá trị/độ đặc hiệu: xin ý kiến chuyên gia bao gồm hai chuyên gia mảng Y tế dự phòng và một chuyên gia Y tế công cộng Bộ công cụ

(kèm tài liệu làm căn cứ xây dựng bộ công cụ) được chuyển đến các chuyên gia để xin

ý kiến, ý kiến được các chuyên gia đánh giá và cho ý kiến ngay trên bộ công cụ Sau

đó, bộ công cụ được chỉnh sửa phù hợp theo ý kiến của chuyên gia và tính mức đặc hiệu CVI = 0.97

Trang 39

Bước 2: Kiểm định độ tin cậy: Tiến hành nghiên cứu thử trên 30 mẫu Đối với thang đo kiến thức sử dụng phương pháp test và retest: thời gian test 2 lần, lần 1cách lần 2 là 2 tuần Thang đo kiến thức có độ tin cậy tương đối với hệ số tương quan giũa hai lần kiểm tra trên cùng một đối tượng là 0.707

Đối với thái độ và tần suất thực hành dùng cronbach anpha: kết quả kiểm định cho thấy, đối với thái độ bằng 0.93 và tần suất thực hành bằng 0.884

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Kỹ thuật thu thập số liệu:

Liên hệ với phòng Tổ chức nhân sự lấy danh sách nhân viên Điều dưỡng tại các khoa tiến hành nghiên cứu Sau đó, liên hệ với Trưởng khoa, Điều dưỡng Trưởng khoa xin thu thập số liệu tại khoa

Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, điều tra viên sẽ đến các khoa, phòng chọn thời gian phù hợp tránh ảnh hưởng đến công việc của đối tượng Đầu tiên điều tra viên trình bày

lý do, mục đích và ý nghĩa của việc tiến hành nghiên cứu Nếu đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu, sau đó phát phiếu cho đối tượng điều dưỡng có mặt tại khoa để họ tự điền, điều tra viên sẽ có mặt tại khoa để giám sát và giải đáp thắc mắc cho đối tượng nghiên cứu Đối tượng nào xong thì xin lại phiếu và ai chưa xong thì xin nhận lại vào cuối buổi Đối với những điều dưỡng không có mặt tại thời điểm điều tra viên sẽ đến vào ngày hôm sau để tiếp tục việc thu thập số liệu

2.2.5 Các biến số nghiên cứu

- Nhóm biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, dân tộc, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, tình trạng biên chế, lịch sử đào tạo

- Nhóm biến số về kiến thức: kiến thức về nhóm yếu tố tác hại sinh học, kiến thức về nhóm yếu tố tác hại hóa học

- Nhóm biến số về thái độ: nhận thức mức độ nguy hiểm; sự nhạy cảm trong nhận thức; nhận thức tầm quan trọng của việc dự phòng về một số yếu tố THNN ; nhận thức rào cản khi thực hiện các biện pháp dự phòng

- Nhóm biến số về tần xuất thực hành dự phòng

Trang 40

2.2.6 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp

- Kiến thức: là sự hiểu biết của điều dưỡng liên quan đến một số yếu tố tác hại

+ Kiến thức chưa đạt (kém): khi tổng số điểm các câu trả lời đúng ≤ 50%

+ Kiến thức đạt: nếu tổng số điểm các câu trả lời đúng > 50% (trong đó điểm đạt từ 50% - 75% = mức trung bình; tổng số điểm > 75% = mức tốt)

Đánh giá tần suất thực hành của điều dưỡng về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp

- Thực hành: là hành động thực tế của đều dưỡng khi tiến hành chăm sóc cho người bệnh

- Công cụ đánh giá thực hành gồm 18 câu, thang điểm đánh giá gồm 3 bậc xây dựng theo thang điểm Likert gồm: luôn luôn thực hiện tương ứng 3 điểm, thỉnh thoảng thực hiện tương ứng 2 điểm, không thực hiện tương ứng1

Đánh giá thái độ của điều dưỡng về dự phòng một số yếu tố tác hại nghề nghiệp:

- Thái độ là những biểu hiện ra bên ngoài của quan điểm bên trong của điều dưỡng về một số yếu tố THNN

- Công cụ đánh giá thái độ gồm 20 câu Thang điểm đánh giá gồm 5 bậc xây dựng theo thang điểm Likert gồm: rất đồng ý, đồng ý, không quan tâm, không đồng ý

và rất không đồng ý Trong đó, rất đồng ý tương ứng với 5 điểm, đồng ý tương ứng với 4 điểm, không quan tâm ứng với 3 điểm, không đồng ý tương ứng với 2 điểm và

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ Y Tế (2015), "Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y", Bộ Y Tế - Bộ Nội Vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2015
6. Bộ Y Tế (2019), Các tác hại nghề nghiệp, phòng chống bệnh nghề nghiệp, &lt;https://www.moh.gov.vn/web/phong-chong-benh-nghe-nghiep/thong-tin-hoat-dong/-/asset_publisher/xjpQsFUZRw4q/content/cac-tac-hai-nghe-nghiep?inheritRedirect=false&gt;xem ngày 27/9/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tác hại nghề nghiệp
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2019
9. Nguyễn Thị Mỹ Khánh, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Ngọc Bích (2019). Kiến thức, thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre năm 2018. Tạp chí Y học thực hành(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Khánh, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Ngọc Bích
Năm: 2019
11. Trịnh Thị My (2018).Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại bệnh viện Kiến An – Hải Phòng năm 2018, Luận văn Thạc sỹ Điều dưỡng, Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: hực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc giảm nhẹ của điều dưỡng tại bệnh viện Kiến An – Hải Phòng năm 2018
Tác giả: Trịnh Thị My
Năm: 2018
12. NgôThị Kiều My, Trần Dinh Vinh và Đỗ Mai Hoa (2015 ). Tình trạng stress của điều dưỡng và hộ sinh Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng năm 2014. Tạp chí Y tế Công cộng(34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y tế Công cộng
13. Bùi Thanh Tâm (2007). Sức Khỏe Nghề Nghiệp. Nhà Xuất Bản Y Học Hà Nội, Vụ Khoa học &amp; Đào tạo, Bộ Y Tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức Khỏe Nghề Nghiệp
Tác giả: Bùi Thanh Tâm
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Y Học Hà Nội
Năm: 2007
14. Lê Anh Thư, Nguyễn Duy Bảo và Nguyễn Việt Hùng (2016). Nguy cơ và thực trạng lây nhiễm nghề nghiệp của nhân viên y tế trên thế giới và tại Việt Nam.Tạp chí Y học dự phòng, 11(16), p. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Lê Anh Thư, Nguyễn Duy Bảo và Nguyễn Việt Hùng
Năm: 2016
15. Hoàng Trung Tiến và Đỗ Minh Sinh (2019). Kiến thức và thực hành dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của điều dưỡng bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2019. Tạp chí Khoa học Điều dưỡng, 2(3), pp. 22-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
Tác giả: Hoàng Trung Tiến và Đỗ Minh Sinh
Năm: 2019
16. Phan Công Trắng và Nguyễn Thúy Quỳnh(2018). Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng phơi nhiễm viêm gan vi rút B, C nghề nghiệp của điều dưỡng các khoa lâm sàng, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2018. Tạp chí Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển, 2(4), pp.15-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Sức khỏe và Phát triển
Tác giả: Phan Công Trắng và Nguyễn Thúy Quỳnh
Năm: 2018
17. Nguyễn Đình Trọng (2019). Các lý thuyết hành vi tâm lý trong lĩnh vực sức khỏe: tiếp cận nền tảng cho nghiên cứu thực nghiệm.&lt;https://tailieu.vn/doc/cac-ly-thuyet-hanh-vi-tam-ly-trong-linh-vuc-suc-khoe-tiep-can-nen-tang-cho-nghien-cuu-thuc-nghiem-2151435.html&gt;,xem16/10/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ác lý thuyết hành vi tâm lý trong lĩnh vực sức khỏe: tiếp cận nền tảng cho nghiên cứu thực nghiệm
Tác giả: Nguyễn Đình Trọng
Năm: 2019
18. Bùi Thị Lệ Uyên, Nguyễn Nhân Nghĩa và Trần Thị Ngọc Lan (2016). Thực trạng bệnh nghề nghiệp của nhân viên Y tế thành phố Cần Thơ năm 2015-2016.Tạp chí Y học dự phòng, 1116(11), p. 146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học dự phòng
Tác giả: Bùi Thị Lệ Uyên, Nguyễn Nhân Nghĩa và Trần Thị Ngọc Lan
Năm: 2016
19. Dương Khánh Vân (2013), "Nghiên cứu tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế và giải pháp can thiệp tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội", Luận văn Tiến sĩ, Viện vệ sinh dịch tễ Trung Ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế và giải pháp can thiệp tại một số bệnh viện khu vực Hà Nội
Tác giả: Dương Khánh Vân
Năm: 2013
21. Aghakhani, N., Baghaei, R., Alinejad, V., et al. (2017), "Prevalence and factors of occupational accidents in nurses of educational and treatment centers of Urmia University of medical sciences, Urmia, 2016", The J Urmia Nurs Midwifery Fac. 15(4), pp. 270-280 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence and factors of occupational accidents in nurses of educational and treatment centers of Urmia University of medical sciences, Urmia, 2016
Tác giả: Aghakhani, N., Baghaei, R., Alinejad, V., et al
Năm: 2017
22. Al-Khatib, I., El Ansari, W., Areqat, T., et al. (2015), "Occupational safety precautions among nurses at four hospitals, Nablus district, Palestine", Int J Occup Environ Med (The IJOEM). 6(4 October), pp. 581-243-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational safety precautions among nurses at four hospitals, Nablus district, Palestine
Tác giả: Al-Khatib, I., El Ansari, W., Areqat, T., et al
Năm: 2015
23. Aluko, O. O., Adebayo, A. E., Adebisi, T. F., et al. (2016), "Knowledge, attitudes and perceptions of occupational hazards and safety practices in Nigerian healthcare workers", BMC research notes. 9(1), p. 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge, attitudes and perceptions of occupational hazards and safety practices in Nigerian healthcare workers
Tác giả: Aluko, O. O., Adebayo, A. E., Adebisi, T. F., et al
Năm: 2016
24. Amadhila, J. and Marieta, J. (2017), "Knowledge and practices among registered nurses on occupational hazards in Onandjokwe Health District:Oshikoto region, Namibia", Journal of Hospital Administration. 6(4), pp. 46- 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Knowledge and practices among registered nurses on occupational hazards in Onandjokwe Health District: Oshikoto region, Namibia
Tác giả: Amadhila, J. and Marieta, J
Năm: 2017
25. Amerga, E. and Mekonnen, T. (2018), "Occupational Exposure to Blood and Body Fluids among Health Care Workers in Arada Sub-city Health Centers of Addis Ababa, Ethiopia", Occup Med Health Aff. 6(281), p. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational Exposure to Blood and Body Fluids among Health Care Workers in Arada Sub-city Health Centers of Addis Ababa, Ethiopia
Tác giả: Amerga, E. and Mekonnen, T
Năm: 2018
26. Arafa, A. E., Mohamed, A. A. and Anwar, M. M. (2016), "Nurses’ knowledge and practice of blood-borne pathogens and infection control measures in selected Beni-Suef Hospitals Egypt", Journal of the Egyptian Public Health Association. 91(3), pp. 120-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nurses’ knowledge and practice of blood-borne pathogens and infection control measures in selected Beni-Suef Hospitals Egypt
Tác giả: Arafa, A. E., Mohamed, A. A. and Anwar, M. M
Năm: 2016
27. Awan, A., Afzal, M., Majeed, I., et al. (2017), "Assessment of Knowledge, Attitude and Practices regarding Occupational Hazards among Nurses at Nawaz Sharif Social Security Hospital Lahore Pakistan", Saudi J. Med. Pharm. Sci.3(6), pp. 622-630 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment of Knowledge, Attitude and Practices regarding Occupational Hazards among Nurses at Nawaz Sharif Social Security Hospital Lahore Pakistan
Tác giả: Awan, A., Afzal, M., Majeed, I., et al
Năm: 2017
28. Belachew, Y. B., Lema, T. B., Germossa, G. N., et al. (2017), "Blood/Body Fluid exposure and needle stick/sharp injury among nurses Working in Public hospitals; southwest ethiopia", Frontiers in public health. 5, p. 299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blood/Body Fluid exposure and needle stick/sharp injury among nurses Working in Public hospitals; southwest ethiopia
Tác giả: Belachew, Y. B., Lema, T. B., Germossa, G. N., et al
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w