1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng viên tại bệnh viên đa khoa tỉnh phú yên năm 2020

119 198 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

viên và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2020.. 81 Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG VÀ M

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀUDƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐỖ MINH SINH

Nam Định - 2020

Trang 3

viên và phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2020

Đối tượng: Nghiên cứu định lượng: 281 điều dưỡng viên đang làm tại 18

khoa lâm sàng của Bệnh viện Nghiên cứu định tính: Điều dưỡng trưởng các khoa: Cấp cứu, Gây mê hồi sức, Hồi sức tích cực - chống độc, Nội thần kinh – Nội tiết, Nội tổng hợp, Ngoại tổng quát và 9 điều dưỡng viên có tình trạng stress từ mức độ trung bình tham gia

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô

tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

Kết quả nghiên cứu:

- Các điều dưỡng viên trong nhóm nghiên cứu có mức độ stress trung bình Trong 8 nhóm vấn đề thì có 4 nhóm có mức độ stress thấp, 4 nhóm vấn đề có mức

độ stress trung bình Thấp nhất là khi có các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng (X ±SD = 1,82 ± 0,36), các vấn đề mâu thuẫn với bác sĩ (X±SD = 1,90

± 0,44) Cao nhất khi có vấn đề về người bệnh và gia đình người bệnh (X ±SD = 2,45 ± 0,46)

- Các biểu hiện stress của điều dưỡng viên về mặt thực thể, tinh thần, cảm xúc chủ yếu ở mức độ đôi khi và thường xuyên Các biểu hiện stress về mặt hành vi thì tần suất xuất hiện ở mức đôi khi và không bao giờ xuất hiện

- Các yếu tố: Môi trường làm việc, nội dung công việc và yếu tố cá nhân là yếu tố liên quan đến tình trạng stress của điều dưỡng

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bè bạn Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ và trang bị những kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

TS Đỗ Minh Sinh, Trưởng phòng Quản lý khoa học, Trưởng bộ môn Dịch

tễ, Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định, người thầy hướng dẫn đã giành nhiều tâm huyết và trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới Ban Giám đốc và các cán bộ lãnh đạo cùng tập thể nhân viên – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu, các đồng nghiệp tại

Bộ môn Điều dưỡng Trường Cao Đẳng Y Tế Phú Yên cùng gia đình, bạn bè và tập thể lớp Cao học Điều dưỡng khoá V, những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Phú Yên, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Trần Thị Phương Hà

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu, kết quả của luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công

trình nào khác

Phú Yên, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Trần Thị Phương Hà

Trang 7

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i

LỜI CẢM ƠN iii

LỜI CAM ĐOAN iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC HỘP viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về stress và stress nghề nghiệp 4

1.2 Thực trạng stress ở điều dưỡng viên 10

1.3 Một số yếu tố liên quan đến stress ở điều dưỡng 18

1.4 Học thuyết và khung lý thuyết áp dụng 22

1.5 Địa điểm nghiên cứu 25

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 26

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 26

2.5 Công cụ nghiên cứu 27

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 29

2.7 Các biến số nghiên cứu 31

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 31

2.9 Phương pháp quản lý, xử lý và phân tích số liệu 32

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 32

2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 33

Trang 8

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 34

3.2 Thực trạng nguy cơ stress nghề nghiệp và biểu hiện của stress của ĐTNC 36

3.3 Một số yếu tố liên quan đến stress của điều dưỡng viên 46

3.4 Giải pháp xử trí stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên 53

Chương 4: BÀN LUẬN 54

4.1 Thực trạng stress nghề nghiệp của ĐDV tại Bệnh viện đa khoa tỉnh

Phú Yên 54

4.2 Một số biểu hiện của stress ở điều dưỡng viên 63

4.4 Một số yếu tố liên quan đến stress của điều dưỡng viên 67

4.5 Giải pháp xử lý stress 73

Chương 5: KẾT LUẬN 75

KHUYẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 81 Phụ lục 1: PHIẾU ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN

QUAN ĐẾN STRESS NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ YÊN NĂM 2020

Phụ lục 2: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU

Phụ lục 3: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM

Phụ lục 4: CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

Phụ lục 5: THƯ XIN PHÉP SỬ DỤNG BỘ CÔNG CỤ ENSS BẰNG TIẾNG VIỆT Phụ lục 6: ĐƠN TÌNH NGUYỆN THAM GIA NGHIÊN CỨU

Phụ lục 7: BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH GIÁ TRỊ ĐẶC HIỆU NỘI DUNG Phụ lục 8: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY CRONBACH ALPHA

Phụ lục 9: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY CRONBACH ALPHA

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVĐHYD Bệnh viện Đại học Y dược

BVĐK Bệnh viện đa khoa

DASS Depression Anxiety Stress Scale

(Thang đo Trầm cảm Lo âu Stress)

ĐDV Điều dưỡng viên

ĐDT Điều dưỡng trưởng

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ENSS Expanded Nursing Stress Scale

(Thang đo stress điều dưỡng mở rộng) JDC-S Job Demand Control (- Support)

(Kiểm soát nhu cầu công việc - Hỗ trợ)

NSS Nursing Stress Scale

(Thang đo stress điều dưỡng)

PSS Perceived Stress Scale

(Thang đo Nhận thức stress)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng viên 34

Bảng 3.2 Đặc điểm quá trình công tác của điều dưỡng viên 34

Bảng 3.3 Đặc điểm về môi trường làm việc của ĐTNC 35

Bảng 3.4 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề đối mặt với cái chết của người bệnh 36

Bảng 3.5 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề mâu thuẫn với bác sĩ 37

Bảng 3.6 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc 37

Bảng 3.7 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp 38

Bảng 3.8 Mức độ nguy cơ stress của ĐDV trong các vấn đề liên quan đến cấp trên 38

Bảng 3.9 Mức độ nguy cơ stress của ĐDV trong vấn đề khối lượng công việc 39

Bảng 3.10 Mức độ nguy cơ stress của ĐDV trong vấn đề không chắc chắn về hướng điều trị người bệnh 40

Bảng 3.11 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng viên trong vấn đề về người bệnh và gia đình người bệnh 41

Bảng 3.12 Mức độ nguy cơ stress của điều dưỡng theo từng nhóm 42

Bảng 3.13 Biểu hiện về cơ thể của điều dưỡng viên 43

Bảng 3.14 Biểu hiện về rối loạn cảm xúc của điều dưỡng viên 43

Bảng 3.15 Biểu hiện về rối loạn hành vi của điều dưỡng viên 44

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học với mức độ nguy cơ stress ở điều dưỡng viên 46

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đặc điểm quá trình công tác với mức độ nguy cơ stress ở điều dưỡng viên 46

Trang 11

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa đặc điểm môi trường làm việc với mức độ nguy cơ

stress ở điều dưỡng viên 47 Bảng 3.19 Mô hình hồi qui logistic nhị phân đa biến 48 Bảng 3.21: Mức độ giải thích biến nguy cơ stress của các biến độc lập trong mô

hình hồi qui logistic đa biến 49

Trang 12

DANH MỤC HỘP

Hộp 1 Quan điểm của ĐDT và ĐDV về biểu hiện của stress nghề nghiệp 45

Hộp 2 các yếu tố về môi trường làm việc ảnh hưởng đến tình trạng stress 50

Hộp 3 các yếu tố về nội dung công việc ảnh hưởng đến tình trạng stress 51

Hộp 4 các yếu tố về cá nhân ĐDV ảnh hưởng đến tình trạng stress 52

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Stress nghề nghiệp là các phản ứng có hại về thể chất và cảm xúc xảy ra khi các yêu cầu của công việc không phù hợp với khả năng, nguồn lực hoặc nhu cầu của người lao động [34] Stress nghề nghiệp có thể gây tổn hại đến sức khỏe thể chất và tinh thần của một người Stress nghề nghiệp kéo dài gây nên các vấn đề tâm

lý dẫn đến các rối loạn tâm thần Stress nghề nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nghỉ việc ở người lao động [10] Viện Stress Hoa Kỳ báo cáo rằng stress

là một yếu tố chính trong 80% các chấn thương liên quan đến công việc và làm giảm 40% doanh thu tại nơi làm việc [17]

Theo Nightingale (1860) “Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ” Các vai trò công việc của người điều dưỡng dựa trên lao động thể chất, tâm lý cảm xúc đau khổ của con người, giờ làm việc, nhân sự và các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau [31],[42] Chính vì vậy điều dưỡng được coi là một công việc vất vả với áp lực công việc cao và phức tạp Áp lực công việc cao và sự kết hợp của quá nhiều trách nhiệm và quá ít thẩm quyền đã được xác định là một trong những nguồn gây stress nghề nghiệp chính của điều dưỡng viên [44] Stress nghề nghiệp có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của điều dưỡng và đồng thời làm giảm chất lượng chăm sóc [22]

Hiện nay có khá nhiều nghiên cứu về tình trạng stress điều dưỡng Các kết quả cho thấy đây là một vấn đề sức khỏe rất phổ biến đã và đang gây ra nhiều tác động đến sức khỏe của điều dưỡng cũng như ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc người bệnh Trong khoảng 10 năm trở lại đây, tỷ lệ điều dưỡng bị stress từ 12,5% đến 56,9% theo các nghiên cứu từ các bệnh viên trong cả nước Đây là mức độ cao đáng báo động vì stress nghề nghiệp gây tác hại về mặt thân thể, tinh thần và cảm xúc của ĐDV Các tác hại về mặt thực thể và tâm lý ghi nhận được từ các nghiên cứu đó là nhức đầu, mệt mỏi, lo lắng, cáu gắt, giảm tập trung và trí nhớ [1],[5] Mức độ stress nghề nghiệp tăng cũng làm giảm khả năng làm việc ở các nhân viên y tế [15] Các

Trang 14

yếu tố có liên quan đến stress nghề nghiệp của điều dưỡng đã được chứng minh bao gồm: Đặc điểm nhân viên như tuổi, thâm niên công tác và khoa làm việc [7],[11]; Nội dung công việc như khối lượng công việc cao, không có thời gian nghỉ ngơi và không được phân công công việc hơp lý [7],[11],[9]; Môi trường làm việc bao gồm các mối quan hệ trong công việc của điều dưỡng, mức độ hỗ trợ công việc và cơ sở vật chất làm việc [14] Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề stress nghề nghiệp

ở điều dưỡng, tuy nhiên đa số đều sử dụng cách tiếp cận định lượng để giải quyết vấn đề Trong khi đó stress nghề nghiệp là một vấn đề về tâm lý cần có sự phối hợp giữa cách tiếp cận định lượng và định tính để giải quyết

Bệnh viện đa khoa Phú Yên là BV tỉnh có 340 ĐD làm việc trong đó có hơn

324 ĐDV làm việc tại 18 khoa lâm sàng Áp lực BV tuyến đầu của tỉnh nên lưu lượng người bệnh đến khám và điều trị luôn ở mức cao Theo thống kê của phòng điều dưỡng, trong tháng 12/2018, BV tiếp nhận 13559 lượt NB khám thường và khám cấp cứu trong đó có tới 3439 lượt NB nhập viện điều trị Tại một số khoa đông NB như khoa Nội thì ĐD thường xuyên phải trực 3 buổi/tuần và phải làm thêm giờ vào cuối tuần Áp lực công việc cao khiến các ĐDV của bệnh viện dễ gặp stress Tuy nhiên khoảng trống tri thức về tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng ở đây vẫn đang tồn tại Đặt ra giả thuyết rằng “Điều dưỡng ở Phú Yên bị stress trong khi làm việc” Vậy thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên Phú Yên như thế nào và các yếu tố nào ảnh hưởng tới thực trạng đó? Để trả lời cho

các câu hỏi này chúng tôi thực hiện triển khai nghiên cứu “Thực trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng viên tại bệnh viên Đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2020”

Trang 15

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng viên tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến stress nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh Phú Yên

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về stress và stress nghề nghiệp

1.1.1 Tổng quan về stress

Khái niệm về stress

Khái niệm về stress đã được nghiên cứu trong nhiều năm Trong lĩnh vực nghiên cứu về stress, hai nhà lý thuyết tiên phong là Hans Selye và Richard Lazarus Theo Lazarus, stress là một quá trình hai chiều, nó liên quan đến việc sản xuất các yếu tố gây stress bởi môi trường và phản ứng của một cá nhân chịu các tác nhân gây stress này [26] Selye định nghĩa stress là một trạng thái biểu hiện bằng một hội chứng bao gồm tất cả những thay đổi không đặc hiệu gây ra trong một hệ thống sinh học [45] Mặc dù cách tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực nghiên cứu stress, nhưng hai nhà lý thuyết Hans Selye và Richard S Lazarus đều đề cập đến điểm chung đó là stress xảy ra khi các tác nhân tác động lên và làm con người có những phản ứng đáp ứng lại

Khái niệm stress được các nhà tâm lý học Việt Nam định là những yếu tố bất lợi bên ngoài kích thích tác động mạnh vào con người Nó là phản ứng sinh lý và tâm lý của con người khi đối phó với những tác động đó Stress bình thường góp phần giúp con người thích nghi với môi trường sống khi đặt con người vào quá trình thích ứng với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một trạng thái cân bằng mới Tuy nhiên nếu sự đáp ứng của cá nhân với stress không đầy đủ, không phù hợp thì

cơ thể ít nhiều bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý về thể chất và tâm lý của con người sẽ xuất hiện [10]

Cơ chế gây stress

Giai đoạn bắt đầu Stress gây ra báo động trong não và cơ thể phản ứng lại bằng cách chuẩn bị hàng rào phòng thủ Hệ thống thần kinh được kích thích và các hormone được giải phóng làm mạch nhanh, hô hấp sâu và căng cơ [34] Giai đoạn hai bắt đầu khi stress tiếp tục kích thích Trong giai đoạn này, các triệu chứng của

Trang 17

phản ứng báo động biến mất, điều này cho thấy sự thích nghi của cơ thể với tác nhân gây stress Cơ thể huy động các nguồn lực để đạt được trạng thái cân bằng bất chấp sựu hiện diện của tác nhân gây stress [43] Giai đoạn cuối là suy kiệt khi các tác nhân gây stress không được giải quyết, cơ thể luôn trong trạng thái kích hoạt, điều này gây quá tải đến hệ thống sinh học Cuối cùng là các triệu chứng của giai đoạn đầu xuất hiện trở lại khiến cơ thể mệt mỏi và thương tổn [34],[43]

Nguyên nhân gây stress

Có rất nhiều nguồn gây stress Stress có thể là kết quả của các tác nhân gây stress về thể chất, tâm lý và xã hội Các tác nhân gây stress là tác nhân kích thích làm mất trạng thái cân bằng của cơ thể Các yếu tố gây stress có thể là cả bên trong

và bên ngoài Các yếu tố gây stress bên ngoài bao gồm các tình trạng thể chất bất lợi như đau hoặc nhiệt độ nóng hoặc lạnh hoặc môi trường tâm lý stress như điều kiện làm việc kém hoặc lạm dụng các mối quan hệ Các yếu tố gây stress bên trong bao gồm nhiễm trùng hoặc các tác nhân gây stress tâm lý Các tác nhân gây stress

về tâm lý và xã hội thường chủ quan hơn là stress về thể chất [43]

1.1.2 Khái niệm về stress nghề nghiệp

Trên thế giới, stress nghề nghiệp được định nghĩa là một tình huống trong đó các yếu tố liên quan đến công việc tương tác với một nhân viên, những yếu tố đó làm thay đổi tâm lý và sinh lý theo cách mà người đó bị buộc phải đi chệch hướng

từ hoạt động bình thường [40] Stress nghề nghiệp được CDC định nghĩa là các phản ứng có hại về thể chất và cảm xúc xảy ra khi các yêu cầu của công việc không phù hợp với khả năng, nguồn lực hoặc nhu cầu của người lao động [34] Stress nghề nghiệp còn được hiểu là sự tương tác giữa môi trường công việc với đặc điểm của nhân viên, yêu cầu công việc thêm và những áp lực khiến người đó không thể làm nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả [33]

1.1.3 Biểu hiện/ dấu hiệu của stress nghề nghiệp

Stress là một kích thích tác động mạnh vào con người, là phản ứng sinh lý và tâm lý của con người đối với tác động đó Nếu sự đáp ứng của cá nhân đối với

Trang 18

stress không đầy đủ, không phù hợp và cơ thể không tạo nên một sự cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều bị rối loạn, biểu hiện ra bên ngoài với những dấu hiệu về thể chất và tâm lý [10]

Về mặt tâm lý, khi bị stress con người cảm thấy mệt mỏi, chán nản, lo lắng, có thể gây khó ngủ và thường xuyên cáu gắt với người xung quanh Người bị stress khó thể thư giãn hay tập trung vào một việc gì đấy dẫn đến khó suy nghĩ logic và đưa ra quyết định chính xác Đồng thời người bị stress cũng cảm thấy chán nản với công việc và không muốn gắn bó với công việc đang làm [46]

Khi bị stress nghề nghiệp, ngoài những biểu hiện về tâm lý, con người cũng biểu hiện một số dấu hiệu về mặt thể chất Đó là những biểu hiện về bệnh tim như hồi hộp trống ngực, loạn nhịp tim Người bị stress thấy đau đầu, có thể có tăng huyết áp Những biểu hiện về rối loạn tiêu hóa dễ gặp ở người bị stress là chán ăn,

ăn không tiêu, viêm loét dạ dày tá tràng Ngoài ra những biểu hiện về mặt cơ xương cũng xuất hiện như đau thắt lưng [10],[46]

1.1.4 Yếu tố nguy cơ của stress nghề nghiệp

Stress nghề nghiệp liên quan đến tổ chức công việc, thiết kế công việc và quan

hệ lao động Stress nghề nghiệp xảy ra khi nhu cầu của công việc không phù hợp hoặc vượt quá khả năng của người lao động hoặc khi kiến thức, khả năng của người lao động không phù hợp với kỳ vọng của tổ chức Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) xác định các yếu tố gây stress nghề nghiệp vào năm 1984, đó là sự tương tác giữa môi trường làm việc, nội dung công việc, điều kiện tổ chức với năng lực, nhu cầu, văn hóa công việc cá nhân của người lao động [36]

Nội dung công việc bao gồm các lĩnh vực đó là loại công việc thường mang tính chất đơn điệu, kém kích thích, thiếu sự đa dạng, người lao động cảm thấy vô nghĩa, không hứng thú khi làm việc Khối lượng và tiến độ công việc quá nhiều hoặc quá ít để làm, áp lực thời gian làm việc cũng là nguyên nhân gây stress Giờ làm việc là nội dung thường gây stress nhất khi quá nghiêm ngặt hoặc không linh hoạt, thời gian làm việc quá dài, đột xuất Một lĩnh vực gây stress trong nội dung

Trang 19

công việc đó là thiếu sự tham gia vào việc ra quyết định, thiếu kiểm soát quá trình làm việc về thời gian hoàn thành, tốc độ hoàn thành, phương pháp làm việc [46] Môi trường công việc bao gồm việc phát triển nghề nghiệp và trả lương Stress xảy ra khi người lao động cảm thấy không an toàn trong công việc, thiếu cơ hội thăng tiến hoặc thăng tiến quá mức, trả lương chậm và hệ thống đánh giá hiệu suất không rõ ràng hoặc không công bằng, bị khiển trách quá mức hoặc kém kỹ năng trong công việc Môi trường công việc còn đề cập tới vai trò trong tổ chức như việc không rõ ràng, các vai trò mâu thuẫn nhau cũng dễ gây stress Mối quan hệ giữa các

cá nhân như không hỗ trợ, mối quan hệ kém với đồng nghiệp, tình trạng bắt nạt, quấy rối và bạo lực, bị cô lập trong môi trường làm việc là nguyên nhân phổ biến gây stress nghề nghiệp Vấn đề giao tiếp giữa đồng nghiệp, giao tiếp với lãnh đạo chưa hiệu quả cũng được đề cập tới trong những nguyên nhân thuộc môi trường làm việc [46]

Stress nghề nghiệp là một vấn đề được công nhận trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Điều dưỡng là một nghề nghiệp có mức độ stress cao Stress nghề nghiệp đối với điều dưỡng lần đầu tiên được đánh giá bằng Menzies Ông xác định bốn nguồn gây stress trong điều dưỡng là: Chăm sóc người bệnh, ra quyết định, chịu trách nhiệm và sự thay đổi Các vai trò công việc của người điều dưỡng dựa trên lao động thể chất, tâm lý cảm xúc đau khổ của con người, giờ làm việc, nhân sự

và các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau [31],[42]

1.1.5 Các ảnh hưởng của stress nghề nghiệp

Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp tới cá nhân

Stress nghề nghiệp ảnh hưởng đến mọi người theo những cách khác nhau Stress nghề nghiệp kéo dài có thể gây ra những bất thường và rối loạn chức năng hành vi trong công việc Ngoài ra stress còn làm giảm sức khỏe thể chất và tinh thần như giận dữ, nóng nảy thường xuyên, sống khép mình, không thích tiếp xúc với mọi người xung quanh Trong trường hợp cực đoan, stress kéo dài gây nên các vấn đề tâm lý dẫn đến các rối loạn tâm thần và có thể tham gia vào các hoạt động không

Trang 20

lành mạnh như hút thuốc lá và lạm dụng thuốc để tìm lại sự cân bằng [10],[27],[46]

Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp tới tổ chức làm việc

Stress nghề nghiệp có thể gây ra thách thức lớn đối với sức khỏe và hiệu suất làm việc của người lao động trong tổ chức như làm tăng tỉ lệ nghỉ việc, giảm hiệu suất làm việc của nhân viên chủ chốt và một số lượng lớn nhân viên dẫn đến tăng số lượng lao động tuyển thêm để đáp ứng công việc Ngoài ra stress nghề nghiệp còn làm tăng tỉ lệ thực hành không an toàn và tỉ lệ tai nạn nghề nghiệp Những ảnh hưởng trên làm cho khiếu nại giữa khách hàng và tổ chức tăng lên, gia tăng mâu thuẫn pháp lý Hậu quả sau cùng là làm hỏng hình ảnh của tổ chức đối với nhân viên và bên ngoài [27]

Ảnh hưởng của stress nghề nghiệp đối với điều dưỡng

Stress gây nên những tình trạng rối loạn về mặt thực thể và tâm thần của ĐDV như mệt mỏi, lo lắng, trầm cảm, tăng huyết áp Những rối loạn này dẫn đến giảm trí nhớ, khả năng tập trung, hiệu quả công việc, gián tiếp dẫn đến tỉ lệ nghỉ việc tăng lên Stress nghề nghiệp còn làm cho ĐDV thiếu tự tin, khả năng ra quyết định kém, giảm trình độ chuyên môn, giảm sự hài lòng trong công việc Hậu quả nặng nề stress nghề nghiệp mang lại không riêng gì với ĐDV mà còn đối với người bệnh, hệ thống y tế đó là gây nên sự xa lánh, giảm tiếp xúc với người bệnh dẫn tới giảm chất lượng chăm sóc Ngoài ra còn gây nên tình trạng thiếu hụt nhân lực điều dưỡng do tăng tỉ lệ bỏ việc [20],[21],[32]

Tuy nhiên, stress không hoàn toàn gây hại Nếu chủ thể có phản ứng tích cực thích nghi với những tác nhân của môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể gây stress thì khi đó stress sẽ là yếu tố tạo động lực thúc đẩy cá nhân phát triển, phát huy năng lực tiềm tàng của bản thân [2],[10]

1.1.6 Nhận thức của điều dưỡng về stress nghề nghiệp

Hầu hết các ĐDV đều nhận thức được nghề nghiệp và môi trường làm việc dẫn tới stress nghề nghiệp ở mức độ cao Mỗi ĐDV có những cách phòng ngừa ứng

Trang 21

phó với stress khác nhau khi đối mặt với stress Phần lớn ĐDV tập trung ở cách

phòng ngừa, còn lại lựa chọn cách ứng phó với stress Nghiên cứu của Phạm Thị

Hằng tại BVĐK tỉnh Nam Định chỉ ra hầu hết các ĐDV phòng stress bằng cách tâm

sự với người khác, quản lý sắp xếp lại thời gian và luân phiên vị trí làm việc

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tập thiền, Yoga, khí công là các biện pháp các điều

dưỡng thường sử dụng để ứng phó với stress [5]

1.1.7 Hoạt động phòng ngừa stress nghề nghiệp

Hoạt động của các tổ chức quốc tế để giảm thiểu stress nghề nghiệp

Phòng ngừa rủi ro tâm lý xã hội và stress nghề nghiệp là một khía cạnh quan

trọng trong mục tiêu chí của ILO về sức khỏe tại nơi làm việc ILO phát triển hai bộ

công cụ để giải quyết các mối quan tâm về sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc: “Các

phòng stress tại nơi làm việc” và gói đào tạo giải pháp “Tích hợp sức khỏe thúc đẩy

chính sách nơi làm việc” [36] WHO đã góp phần ngăn ngừa stress nghề nghiệp

thông qua việc xuất bản một số ấn phẩm như “Công việc tổ chức và stress” (2003),

“Nâng cao nhận thức về stress tại nơi làm việc ở các nước đang phát triển” (2007)

Hoạt động của ngành y tế để giảm thiểu stress nghề nghiệp của điều dưỡng

Bộ Y tế đã có những khuyến nghị về phòng ngừa stress nghề nghiệp theo

hướng dẫn của WHO đó là thiết kế Ecgonomi tư thế lao động, thiết kế công việc và

môi trường lao động tốt Ngoài ra còn khuyến nghị các hoạt động tổ chức và quản

lý công việc hiệu quả, giáo dục, tập huấn và đào tạo ĐDV phòng ngừa và đối phó

với stress nghề nghiệp Các thang đo stress như thang đánh giá lo âu-trầm cảm-

stress (DASS 21), thang đánh giá lo âu Zung (SAS) được Viện Sức khỏe tâm thần

quốc gia hiệu chỉnh và đưa vào làm công cụ sàng lọc giúp người lao động có khả

năng đánh giá được tình trạng sức khỏe tâm thần của bản thân giúp phòng ngừa và

đối phó sớm với stress [3]

Hoạt động của bệnh viện để giảm thiểu stress nghề nghiệp của điều dưỡng

Trang 22

Theo nguyên tắc chung, các hành động để giảm stress nghề nghiệp nên ưu tiên hàng đầu cho thay đổi tổ chức để cải thiện điều kiện làm việc nhưng rất khó để loại

bỏ hoàn toàn stress Vì lý do này, điều cần thiết là sự kết hợp của thay đổi tổ chức

và quản lý stress là biện pháp tốt nhất để ngăn ngừa stress nghề nghiệp [34] Các biện pháp được các Bệnh viện thực hiện để giảm thiểu stress nghề nghiệp cho ĐDV

là tuyển dụng hợp lý, đảm bảo đủ nhân viên về các khoa phòng Xác định rõ ràng vai trò và trách nhiệm của ĐDV thông qua bảng mô tả công việc rõ ràng, cụ thể Tạo cơ hội cho ĐDV tham gia vào các quyết định chăm sóc người bệnh trong phạm

vi ĐDV phụ trách Phát triển và công khai cụ thể các chính sách hỗ trợ đi học, quy hoạch cán bộ nòng cốt, phát triển nghề nghiệp và triển vọng việc làm trong tương lai cho ĐDV Tăng cường tập huấn về chương trình quản lý stress nghề nghiệp cho ĐDV

Hoạt động của điều dưỡng viên để giảm thiểu stress nghề nghiệp

ĐDV cần chủ động trang bị thêm cho mình những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc để có thể thích nghi với môi trường công việc và áp lực công việc yêu cầu Cần quản lý thời gian của mình một cách có hiệu quả, đồng thời biết cách làm chủ công việc của mình Yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà chuyên môn khi gặp khó khăn và cần lập kế hoạch làm việc và sắp xếp thời gian nghỉ ngơi hợp lý [2] Thiết lập mối quan hệ cởi mở, chân thành, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau giữa mình với cấp trên, và với các bạn đồng nghiệp Giải quyết tốt các stress trong đời sống

riêng tư và gia đình [2]

1.2 Thực trạng stress ở điều dưỡng viên

1.2.1 Một số thang đo đánh giá tình trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng

Thang đo Nhận thức stress (PSS) là thang đo được Cohen và cộng sự sáng lập nhằm đo lường mức độ mà các tình huống trong cuộc sống của một người được đánh giá là stress Các câu hỏi trong thang đo là cảm xúc và suy nghĩ trong 1 tháng qua Thang đo cũng bao gồm 1 số tình huống về mức độ stress hiện tại Thang đo có hai phiên bản là PSS-10 và PSS-14 sử dụng thang điểm Likert từ 0-4 để đánh giá

Trang 23

tương ứng với các mức độ gây stress là không bao giờ, hầu như không bao giờ, đôi khi, khá thường xuyên và rất thường xuyên PSS có được bằng cách đảo ngược các phản hồi (0 = 4, 1 = 3, 2 = 2, 3 = 1 & 4 = 0) cho bốn mục tích cực (mục 4, 5, 7, & 8)

và sau đó tổng hợp tất cả các mục của thang đo Thang đo có độ tin cậy cronback a

là 0,83 [42]

Thang đo Căng thẳng cuộc sống chuyên nghiệp (PLSS) của David Fontana thiết kế năm 1989 có độ tin cậy Cronback a là 0,64 Thang đo gồm 22 câu hỏi khác nhau trên các lĩnh vực, sự kiện của cuộc sống, tính cách, sự lạc quan trong cuộc sống, sự hài lòng với bản thân và công việc, thích ứng với môi trường Tổng số điểm của thang đo là 60 được phân loại thành 4 mức độ: 0-15: Stress không phải là vấn đề trong cuộc sống; 16-30: Stress vừa phải, có thể hợp lý giảm; 31-45: Stress là một vấn đề cần có biện pháp khắc phục; 46 -60: Stress là một vấn đề lớn và phải thực hiện các biện pháp đối phó [20]

Thang đo DASS 21 đuợc giới thiệu năm 1997 là phiên bản rút gọn của thang

đo DASS 42 Thang đo DASS 42 đuợc Lovibond S.H và Lovibond P.F thiết kế năm

1995 DASS được xây dựng gồm 21 mục để xác định, tìm hiểu và đo lường các trạng thái cảm xúc phổ biến và có ý nghĩa lâm sàng thường được mô tả như: trầm cảm, lo âu và stress Thang đo được đánh giá theo thang điểm Likert 4 điểm từ 0-3 cho tần suất hoặc mức độ nghiêm trọng Điểm được tính bằng cách cộng các đề mục thành phần rồi nhân 2 Mức độ stress được xếp theo 5 mức độ: 0-14: Bình thường; 15-18: Nhẹ; 19-25: Vừa; 26-33: Nặng, >= 34: Rất nặng Thang đo có độ tin cậy Cronback a là 0,966 [18]

Thang đo căng thẳng điều dưỡng mở rộng (ENSS) được sử dụng phổ biến để

đo stress liên quan đến công việc của điều dưỡng ENSS là bản sửa đổi mở rộng và cập nhật của Thang đo căng thẳng điều dưỡng cổ điển (NSS) được phát triển bởi Gray-Toft & Anderson (1981) Độ tin cậy đồng nhất nội bộ được đánh giá bằng hệ

số alpha Cronbach ENSS gồm 57 mục đã chứng minh độ tin cậy được cải thiện (α

= 0,96) so với NSS ban đầu (α = 0,91) Độ tin cậy của từng vấn đề dao động trong

Trang 24

khoảng từ α =.88 đến α = 0,65 Lĩnh vực của thang đo ENSS gồm 8 mục: Đối mặt với cái chết của NB (7 câu); Mâu thuẫn với bác sĩ (5 câu); Chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc (3 câu); Các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng (6 câu); Các vấn đề liên quan đến cấp trên (7 câu); Khối lượng công việc (9 câu); Không chắc chắn về hướng điều trị cho NB (9 câu); NB và gia đình NB (6 câu)

Thang đo ENSS đã được dịch sang tiếng Việt và khảo sát trên nhiều đề tài tại Việt Nam Cronbach’s Alpha của thang đo trong nghiên cứu của Tăng Thị Hảo tại Bệnh viện Nhi Thái Bình dao động từ 0,73 – 0,89 trên từng nhóm [4] Đây là thang

đo stress đặc thù cho ngành nghề điều dưỡng có độ tin cậy cao, được dùng phổ biến trên thế giới và đã được dịch và sử dụng tại Việt Nam Vì vậy, chúng tôi quyết định

sử dụng thang đo stress ENSS làm công cụ trong nghiên cứu của mình

1.2.2 Thực trạng stress ở điều dưỡng viên trên thế giới

Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về thực trạng stress của ĐDV và chủ yếu tới từ các quốc gia đang phát triển Những nghiên cứu này chủ yếu thiết kế theo phương pháp nghiên cứu mô tả thông qua cuộc điều tra cắt ngang có phân tích đã phát hiện ra rằng tỷ lệ ĐDV bị stress khá cao Nhiều bộ công cụ đánh giá stress và sức khỏe tâm thần được sử dụng

Ở khu vực Nam Âu, Năm 2018, Mojca Bobik đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu là 983 ĐDV đến từ 21 bệnh viện tại Slovenia nhằm mục đích xác định mức độ stress của ĐDV tại các bệnh viện ở Slovenia và các yếu tố liên quan

Tỷ lệ ĐDV bị stress cao là 56,5% Stress trên ĐDV liên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố không hài lòng trong công việc (p < 0,001), xáo trộn tại nơi làm việc (p < 0,001), không có thời gian nghỉ ngơi sau khi làm việc vào cuối tuần (p =0,003), công việc cố định (p = 0,007) và tăng số ngày làm việc vào chủ nhật (p = 0,03) [21]

Ở Châu Phi, nghiên cứu cắt ngang các ĐDV làm việc tại bệnh viện công Jima, tây nam Ethiopia năm 2016 để khảo sát mức độ stress liên quan đến công việc chỉ ra mức độ stress trung bình là 58,46 ± 12,62 Khảo sát 315 ĐDV của bệnh viện dựa trên thang đo stress điều dưỡng mở rộng ENSS Cho thấy mức độ stress liên quan

Trang 25

đến công việc cao nhất là ở lĩnh vực đối phó với cái chết và đau đớn của NB (62,94%), sau đó là sự không chắc chắn về điều trị NB (57,72% ) và khối lượng công việc 57,6% [19]

Tại Ấn Độ, nước thuộc khu vực Nam Á, Sharma Parul cùng cộng sự đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 100 ĐDV tại bệnh viện Swami Vivekanand, Ấn Độ vào năm 2014 Nghiên cứu sử dụng thang đo Perceived Stress Scale (PSS) của David Fontana Các ĐDV trong nghiên cứu này báo cáo tình trạng stress vừa phải là 51% và stress ở mức độ nghiêm trọng là 3% Yếu tố chủ yếu gây

ra stress nghề nghiệp là thái độ không tốt tới từ bác sĩ Stress về thời gian cũng được các ĐDV báo cáo là yếu tố dẫn đến stress nghề nghiệp [42]

Cũng trên bệnh viện Swami Vivekanand, Anuradha Davey cùng cộng sự công

bố 89% ĐDV bị stress từ mức độ nhẹ đến nghiêm trọng khi tiến hành nghiên cứu mức độ stress của ĐDV tại bệnh viện Nghiên cứu sử dụng kết hợp hai thang đo stress là General Health Questionnaire (GHQ- 28) được phát triển bởi Goldberg và Hillier và thang đo Professional Life Stress Scale (PLSS) của David Fontana Các yếu tố gây stress phổ biến là thái độ kém của người bệnh nam, không có nhà vệ sinh riêng cho nữ điều dưỡng, khối lượng công việc tăng và mức lương không đủ [20] Cũng tại Ấn Độ, Neelan Sharma đã tiến hành điều tra mức độ stress nghề nghiệp ở các ĐDV làm việc trong lĩnh vực ung thư của một bệnh viện quân đội Delhi Nghiên cứu được thực hiện vào năm 2017 trên 81 ĐDV của bệnh viện sau khi đã thực hiện tiêu chí loại trừ Bộ công cụ được thiết kế dựa vào thang đo Professional Life Stress Scale (PLSS) của David Fontana Nghiên cứu chỉ ra 62,96% ĐDV bị stress ở mức độ vừa phải Mức độ stress nghiêm trọng đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục là một người Nguyên nhân chủ yếu được các ĐDV thừa nhận gây stress

là không có thời gian nghỉ ngơi [41]

Vùng Tây Á, Ả Rập và Iran lần lượt cũng công bố những kết quả nghiên cứu

về tình trạng stress của ĐDV Kết quả nghiên cứu của Arash Najimi tại bệnh viện đại học Kashan (Iran) năm 2009 cho thấy con số ĐDV bị stress nghề nghiệp rất cao,

Trang 26

đáng báo động Tổng cộng có tới 93,1% ĐDV stress ở mức độ bình thường, 3,7% bị stress ở mức độ dữ dội và chỉ có 3,2% ĐDV không bị stress trong công việc Các yếu tố stress trong công việc quan trọng nhất ở nữ ĐDV là phạm vi nhiệm vụ (48,4%), hai nhiệm vụ (40,9%) và môi trường công việc (39,6%) Ở nam giới, phạm

vi nhiệm vụ (57,5%), môi trường công việc (50%) và trách nhiệm (45%) là nhiều nhất ở các yếu tố gây stress nghề nghiệp 187 ĐDV đã được đưa vào nghiên cứu Công cụ thu thập dữ liệu trong nghiên cứu này là thang đo Occupational Stress Inventory-Revised™ (OSI-R™) [33] Năm 2019, Homood Alharbi công bố 87% ĐDV bị stress khi tiến hành nghiên cứu stress trên 154 ĐDV ICU ở hai bệnh viện đại học lớn tại Riyadh, Ả Rập Saudi ĐDV tại ICU tim cho thấy mức độ stress cao hơn đáng kể so với ĐDV tại ICU phẫu thuật Nghiên cứu sử dụng thang đo Perceived Stress Scale -10 (PSS-10) làm công cụ nghiên cứu chính [16] Khu vực Trung Quốc và Hồng Kông, nghiên cứu của Shichen năm 2015 với mục đích điều tra sự lo lắng của ĐD theo các giai đoạn nghề nghiệp và mối quan hệ của nó với stress nghề nghiệp ở ĐDV bệnh viện Hồ Nam, Trung Quốc Chỉ số lo âu được đánh giá bằng chỉ số lo âu nhạy cảm (ASI-3) Triệu chứng lo âu, stress nói chung và stress ĐDV được đo bằng Beck Anxiety (BAI), Thang đo stress nhận thức (PSS-10)

và thang đo stress điều dưỡng (NSS) 32,8% ĐDV có triệu chứng lo âu trên tổng số người tham gia là 745 Stress nghề nghiệp chiếm 9,9% của các triệu chứng lo âu Stress nghề nghiệp liên quan đến xung đột với bác sĩ, khối lượng công việc và thiếu

sự hỗ trợ [28]

Nghiên cứu cắt ngang của Zeyu Qin và cộng sự năm 2015 tại ba bệnh viện lớn ở Trung Quốc để điều tra mức độ ảnh hưởng của stress đến ĐDV ở Trung Quốc Nghiên cứu chỉ ra khối lượng công việc và phải làm việc theo ca là yếu tố lớn nhất gây stress ở 394 ĐDV Các ĐDV hợp đồng ngắn hạn có mức độ stress cao hơn ĐDV có hợp đồng vĩnh viễn Ngoài ra ĐDV làm việc trong phòng chăm sóc đặc biệt có mức độ stress cao nhất trong tất cả các khoa được điều tra (1,32 ± 0,948) [38]

Trang 27

Nghiên cứu của Teris Cheung (2015) cùng cộng sự sử dụng thang lo âu, stress, trầm cảm DASS 21 khi tiến hành nghiên cứu 850 ĐDV tại Hồng Kông Nghiên cứu của Teris Cheung cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở mức độ lần lượt là 35,8%, 37,3% và 41,1% Tình trạng stress có liên quan đáng kể tới tuổi, kinh nghiệm, thay đổi vị trí làm việc, mối quan hệ với đồng nghiệp [18]

Một nghiên cứu định tính được thực hiện trên các ĐDV trong nhóm y tế chống Ebola đầu tiên của Trung Quốc cũng chỉ ra các biểu hiện của stress Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng rối loạn giấc ngủ và sinh lý là biểu hiện thường gặp nhất Các ĐDV gặp khó khăn trong việc bắt đầu giấc ngủ, thường thức dậy sớm và ngủ chập chờn vào mỗi đêm Ngoài chất lượng giấc ngủ thấp, các ĐDV cũng cảm thấy mệt mỏi, ăn kém, rối loạn kinh nguyệt và nổi mụn Lo lắng, thay đổi tâm trạng, giảm tập trung và trí nhớ kém cũng là các biểu hiện stress về mặt cảm xúc và nhận thức được ghi nhận trên các ĐDV Bên cạnh đó các biểu hiện về hành vi bao gồm suy nghĩ tiêu cực và nghi ngờ bản thân cũng xuất hiện ở các ĐDV tham gia nghiên cứu [29]

1.2.3 Thực trạng stress ở điều dưỡng viên tại Việt Nam

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới khi tỷ lệ bị các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong đó có các rối loạn về tâm thần ngày càng gia tăng ở tất cả các đối tượng và độ tuổi nên các tác giả bắt đầu tập trung nghiên cứu đánh giá về tình trạng sức khỏe tâm thần của các đối tượng khác nhau Điều dưỡng được coi là một ngành nghề phức tạp có mức độ stress cao Các nghiên cứu về thực trạng stress của các ĐDV tại Việt Nam có thể kể đến:

Nghiên cứu của Dương Thành Hiệp và cộng sự tại 8 khoa lâm sàng của bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre năm 2014 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 246 điều dưỡng, nữ hộ sinh Nhóm tác giả thực hiện khảo sát trên 5 lĩnh vực bao gồm: Đặc điểm về cá nhân và gia đình, nội dung và áp lực công việc, môi trường làm việc, mối quan hệ trong công viêc, tổ chức công việc và động viên khen thưởng Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ stress chung của điều dưỡng, hộ sinh ở 8 khoa lâm sàng bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre là 56,9%

Trang 28

Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đánh giá Stress‐Lo âu‐Trầm cảm DASS 21 của Lovibond [6]

Năm 2014, Ngô Thị Kiều My và cộng sự nghiên cứu tình trạng stress của điều dưỡng và nữ hộ sinh tại bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng Nghiên cứu thiết kế phiếu điều tra tự điền gồm 2 phần chính: Thang đo DASS 21 và phần các câu hỏi về yếu tố liên quan bao gồm: Yếu tố cá nhân, gia đình, môi trường và đặc điểm nghề nghiệp Nghiên cứu xác định tỉ lệ ĐD, NHS bênh viện phụ sản nhi Đà nẵng bị stress

là 18,1%.(370 NV) Tình trạng stress liên quan có ý nghĩa thống kê gồm: Mức ổn định công việc, diện tích nơi làm việc, quan hệ với cấp trên (p<0,05) [9]

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng thang đo NSS được Trần Thị Ngọc Mai tiến hành trên 299 ĐDV lâm sàng đang theo học hệ cử nhân vừa làm vừa học của trường Đại học Thăng Long và Đại học Thành Tây với mục đích mô tả thực trạng stress nghề nghiệp và tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới stress của ĐDV nêu trên năm 2013 Nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm tác nhân gây stress thường xuyên nhất và mức độ cao nhất đối với ĐDV là các nhóm liên quan đến: (1) Chứng kiến cái chết và sự chịu đựng đau đớn của bệnh nhân với mức độ gây stress là 1,64, tần suất 0,83; (2) Khối lượng công việc lớn với mức độ gây stress là 1,42 tần suất 0,99 Các điều dưỡng làm việc ở khoa Hồi sức cấp cứu có tần suất mắc stress cao hơn điều dưỡng làm ở các khoa khác với điểm đánh giá trung bình là 52,2 [8] Năm 2015, Tại Việt Đức - BV tuyến đầu của cả nước, Trần Thị Thu Thủy

và Nguyễn Thị Liên Hương đã thực hiện nghiên cứu cắt ngang, mô tả có phân tích trên 600 ĐDV có hợp đồng lao động trên 1 năm tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng với mục đích mô tả thực trạng stress của ĐDV và tìm hiểu mối liên quan giữa khối lượng, áp lực công việc và các mối quan hệ trong công việc với tình trạng stress của ĐDV tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2015 Công cụ nghiên cứu là thang đo DASS 21 Kết quả được công bố là tỉ lệ stress của ĐDV bệnh viện Việt Đức là 18,5% Các yếu tố liên quan tới stress của ĐD gồm tham gia công tác quản lý Mối quan hệ với đồng nghiệp và mâu thuẫn với cấp trên Cụ

Trang 29

thể những ĐDV có kiêm nhiệm cả công tác quản lý có nguy cơ bị stress cao gấp 5,2 lần, mối quan hệ với đồng nghiệp ở mức bình thường/không tốt có nguy cơ stress cao gấp 2,3 lần, từng có mâu thuẫn với cấp trên có nguy cơ stress cao gấp 4,3 lần so với nhóm so sánh [14]

Kết quả nghiên cứu của Trần Văn Thơ và Pham Thu Hiền cho thấy có 42,5% ĐDV bệnh viện Nhi TW bị mắc stress năm 2017 Kết quả phân tích chỉ ra các yếu

tố liên quan là: chứng kiến người bệnh trải qua những cơn đau, được người bệnh hỏi những điều mà không thoải mái trả lời, phải luân chuyển đến các khoa khác và làm việc với máy tính là những yếu tố nghề nghiệp có liên quan đến tính trạng stress của các ĐDV Ngoài ra còn các yếu tố về môi trường làm việc như: độ ồn gây tỷ lệ mắc stress cao gấp 2,11 lần (95% CI 1,58-4,25) (p<0,05), những ĐDV được làm việc trong các khoa nội trú và làm công việc chuyên môn được đào tạo cũng có nguy cơ mắc stress thấp hơn những người khác (p<0,05) Những ĐDV có lối sống lành mạnh như không hút thuốc lá, không uống rượu và tập thể thao có tỷ lệ mắc stress thấp hơn những người khác Phương pháp mô tả cắt ngang định lượng kết hợp định tính Phương pháp thu thập số liệu: sử dụng bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế dựa trên thang đo NSS và cấu phần stress của thang đo DASS21 Kết hợp phỏng vấn sâu một số cán bộ làm công tác quản lý, thảo luận nhóm các ĐDV ở các khoa có nguy

cơ cao mắc stress Cỡ mẫu nghiên cứu là 287 ĐDV [13]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh năm 2017 cho thấy tỷ lệ stress của điều dưỡng, hộ sinh đang làm việc tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng của Bệnh viện Sản - Nhi Bắc Giang là 13% Theo mức độ stress, tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh bị stress nhẹ là: 3,5%, vừa: 3,5%, nặng: 4% và rất nặng: 2% Một số biểu hiện stress chiếm

tỷ lệ cao là: chán nản, thất vọng 34,8%, khô miệng 29,3%, không còn hứng thú 28,3%, lo lắng 26,8%, không còn cảm xúc tích cực 20,7% Điều dưỡng, hộ sinh làm việc tại các khoa chăm sóc sơ sinh, sản 1, tự nguyện, có tỷ lệ stress cao lần lượt là: 35,48%, 26,32%, 31,26% Điều dưỡng, hộ sinh có công việc hiện tại là thường xuyên tiếp xúc với tình huống xấu của người bệnh có tỷ lệ stress cao nhất là 41,7% [1]

Trang 30

Năm 2019, Phạm Thị Hằng cùng cộng sự tìm hiểu thực trạng stress của ĐDV Bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh Nam Định Phương pháp cắt ngang kết hợp định tính và định lượng, được tiến hành trên 158 ĐDV đang làm việc tại BVĐK tỉnh Nam Định trong khoảng thời gian từ 3/2018 đến 11/2018 Nghiên cứu sử dụng thang đo Dass 42 để đánh giá, sàng lọc stress ở ĐDV và sử dụng bảng hỏi, bảng phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin từ các ĐDV đang làm việc tại BVĐK tỉnh Nam Định để tìm hiểu sự hiểu biết về stress, các biểu hiện, mức độ, nguyên nhân gây stress và cách ứng phó với stress của cán bộ điều dưỡng Stress của ĐDV đang làm việc tại BVĐK tỉnh Nam Định biểu hiện về mặt thực thể dễ nhận thấy nhất là nhức đầu, mệt mỏi, mất ngủ, suy nghĩ miên man, biểu hiện về mặt tâm lý tập trung chủ yếu ở biểu hiện: Hay cáu giận, khó tính Về cách phòng ngừa và ứng phó với stress của ĐDV BVĐK tỉnh Nam Định gồm có 11 cách phòng ngừa và 6 cách ứng phó tương ứng với các mức độ thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ Trong

đó cách phòng ngừa được sử dụng thường xuyên nhất là tâm sự với người khác, quản lý sắp xếp lại thời gian và đọc sách báo, xem tivi [5]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng stress của ĐDV được thực hiện khá nhiều Các kết quả mô tả rõ thực trạng và các yếu tố liên quan đến thực trạng stress của ĐDV Các nhà nghiên cứu tiếp cận bằng các thiết kế nghiên cứu mô tả, phân tích có cả định lượng và định tính Cùng với việc sử nhiều công cụ đánh giá là các thang đo đánh giá stress khác nhau có độ tin cậy cao Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chứa đựng những tồn tại hạn chế như hầu hết các nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận định lượng để giải quyết vấn đề trong khi đó stress nghề nghiệp là một vấn

đề về tâm lý cần có sự phối hợp giữa cách tiếp cận định lượng và định tính Mặt khác các nghiên cứu chủ yếu đề cập tới tình trạng stress chung của ĐDV chưa đi sâu vào phân tích vấn đề stress nghề nghiệp, đặc thù của nội dung công việc và môi trường làm việc đặc thù của ngành điều dưỡng

1.3 Một số yếu tố liên quan đến stress ở điều dưỡng

Stress nghề nghiệp là sự tương tác giữa môi trường công việc đặc điểm của

Trang 31

nhân viên, yêu cầu công việc thêm và những áp lực khiến người đó không thể làm nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả [1] Menzies xác định bốn nguồn gây stress trong điều dưỡng là: Chăm sóc bệnh nhân, ra quyết định, chịu trách nhiệm và sự thay đổi Các vai trò công việc của người điều dưỡng dựa trên lao động thể chất, tâm lý cảm xúc đau khổ của con người, giờ làm việc, nhân sự và các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau [31],[42] Các nghiên cứu trước đây tập trung khai thác vào các yếu tố nội dung công viêc, môi trường làm việc và mức độ khuyến khích hỗ trợ trong công việc Ngoài ra các yếu tố về nhân khẩu học được đưa vào phân tích

để thấy được sự khác biệt giữa các vùng miền nghiên cứu

1.3.1 Các yếu tố cá nhân

Trong nhóm yếu tố về nhân khẩu học, tuổi và kinh nghiệm làm việc là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến stress cao ở điều dưỡng Nghiên cứu của các tác giả Misari Oe khi so sánh stress trên nữ hộ sinh ở Nhật Bản và Thụy Sĩ cho thấy tuổi (p< 0,01) và kinh nghiệm là việc (p< 0,001) là yếu tố ảnh hưởng stress ở các nữ

hộ sinh hai nước Năm 2012, Dragana Milutinovi chỉ ra tuổi là yếu tố quyết định nhận thức về stress ở các điều dưỡng chăm sóc trong các đơn vị chuyên sâu (ICU) ở Serbia Stress có liên quan đáng kể với tuổi ,thiếu kinh nghiệm lâm sàng là nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự năm 2015 Nghiên cứu của Shichen Li năm 2015 tại Hồ Nam, Trung Quốc cho thấy rằng kinh nghiệm làm việc (p< 005) là yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress nghề nghiệp ở điều dưỡng [32],[35],[18] Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lâm Minh Quang và cộng sự tại BV đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những điều dưỡng ≤ 30 tuổi có tỷ lệ stress bằng 2,07 lần so với những điều dưỡng > 30 tuổi (KTC 95%: 1,03 – 4,18) [11]

Các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới còn xác định khoa lâm sàng làm việc là nhân tố ảnh hưởng đến stress nghề nghiệp ở điều dưỡng Nghiên cứu của V.J.C Malarthy tại Ailen cho thấy mức độ stress tìm thấy cao hơn đáng kể trong phòng y tế, tai nạn và cấp cứu, phòng chăm sóc đặc biệt và nhi khoa (P, 0,05) Homood Albaibi (2019) công bố ICU tim có mức độ stress cao hơn ICU phấu thuật

Trang 32

khi nghiên cứu stress ở điều dưỡng của bệnh viện Ả Rập Saudi [16],[30],[38] Tại Việt Nam cũng ghi nhận yếu tố khoa phòng là một yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng stress ở bệnh viện Nhi Trung ương và Nhân dân Gia Định, BV Nguyễn Tri Phương [7],[13]

1.3.2 Các yếu tố về nội dung công việc

Các nghiên cứu về stress nghề nghiệp ở điều dưỡng đều khai thác các yếu tố

về nội dung công việc Khối lượng công việc cao khiến các điều dưỡng không có thời gian nghỉ ngơi và thiếu kiến thức cũng như không chắc chắn về điều trị là những nguyên nhân phổ biến dẫn đến stress [20],[25] Tadesse Dagget nghiên cứu 57,72% là tỉ lệ sự không chắc chắn về điều trị bệnh nhân , 57,6% là tỷ lệ mức độ stress liên quan đến khối lượng công việc của điều dưỡng tại bệnh viện Jimma, Ethiopia [19] Khối lượng công viêc nặng là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến stress điều dưỡng (p<0,05) cũng là kết quả mà Shichen Li công bố tại bệnh viện Hồ Nam, Trung Quốc [28] Mojca Dobnick (2018) khi điều tra các yếu tố liên quan đến trong công việc của điều dưỡng viên tại bệnh viện Slovenia chỉ ra điều dưỡng không có thời gian nghỉ thay cho sau khi làm việc vào cuối tuần (p= 0,003) và tăng số ngày làm việc vào chủ nhật (p= 0,03) [21] Trong số 62,96 % điều dưỡng viên bị stress tìm thấy yếu tố không có thời gian nghỉ ngơi có ảnh hưởng đến tình trạng này Một nghiên cứu của Neelan Sharma tại Ấn Độ [41] Nội dung công việc là yếu tố gây stress chủ yếu được các nhà nghiên cứu tình trạng stress ở điều dưỡng chỉ ra Số giờ làm việc trung bình trong tuần, khối lượng công việc nhiều, Mức ổn định công việc

là những yếu tố gây stress tìm thấy ở bệnh viện sản nhi Đà Nẵng, bệnh viên Nguyễn Tri Phương và BV Nhân Dân Gia Định [7],[9] Nghiên cứu của Lâm Minh Quang tại BVĐHYD thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra những điều dưỡng có cảm nhận công việc đơn điệu, cảm thấy công việc quá tải, thời gian làm việc kéo dài, không được cấp trên phân công công việc hợp lý thì đều có tỷ lệ stress cao hơn so với những điều dưỡng không có những đặc tính này [11] Áp lực công việc có mối liên đến tình trạng stress (p < 0,001) là kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Trưng Vương năm 2018 [12]

Trang 33

1.3.3 Các yếu tố về môi trường làm việc

Môi trường làm việc là yếu tố phổ biến ảnh hưởng đến stress nghề nghiệp ở điều dưỡng Yếu tố này được 2 nhà nghiên cứu Dragana Milutinovi và Arash Najim tìm ra khi tìm hiểu yếu tố liên quan đến stress của điều dưỡng tại Serbia và Iran [32]; [33] Môi trường công việc bao gồm mối quan hệ giữa các cá nhân như không

hỗ trợ, mối quan hệ kém với đồng nghiệp, việc phải luân chuyển khoa, vị trí công việc hay cơ sở vật chất của bệnh viện Ngoài ra tại môi trường bệnh viện điều dưỡng viên thường xuyên tiếp xúc với cái chết và sự đau đớn của người bệnh và gia đình của họ Đây cũng là một nguyên nhân gây nên stress ở điều dưỡng [46]

Tại Hy Lạp cũng ghi nhận chứng kiến cái chết và sự đau đớn của người bệnh

và gia đình họ là yếu tố tác động đến stress nghề nghiệp ở điều dưỡng sau cuộc điều tra của Pavlos Sarafis [40] Đây cũng là yếu tố gây stress ở điều dưỡng mà Tadesse Dagget tìm ra khi nghiên cứu stress ở bệnh viện Jimma tây nam Ethiopia [19] Trong các mối quan hệ của điều dưỡng, việc xung đột với bác sĩ là yếu tố phổ biến gây stress trên điều dưỡng Nguy cơ stress do thái độ của bác sĩ kém đã được tìm thấy gấp khoảng 3 và 4 lần so với thái độ tuyệt vời của bác sĩ hướng về phía điều dưỡng (p< 0,024) [14] Nghiên cứu được thực hiện ở Hy Lạp, Trung Quốc và cả ở

Úc cũng xác định yếu tố ảnh hưởng tới stress ở điều dưỡng là việc xung đột với bác

sĩ [25],[28],[40] Ngoài ra xung đột với đồng nghiệp và điều dưỡng trưởng cũng được tìm thấy khi nghiên cứu stress nghề nghiệp ở điều dưỡng tại Hi Lạp năm 2013 [40] Ngoài ra nghiên cứu của Anuradha tại Ấn Độ chỉ ra thêm các điều dưỡng báo cáo từ nhẹ (12%) đến trung bình / nặng (77%) mức độ stress công viêc Các yếu tố gây stress phổ biến là thái độ kém của bệnh nhân nam, không có nhà vệ sinh riêng cho nữ điều dưỡng [20] Nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Liên Hương tại bệnh viện Việt Đức cho biết: Các yếu tố liên quan tới stress của điều dưỡng gồm tham gia công tác quản lý Mối quan hệ với đồng nghiệp và mâu thuẫn với cấp trên Cụ thể những điều dưỡng có kiêm nhiệm cả công tác quản lý có nguy

cơ bị stress cao gấp 5,2 lần, mối quan hệ với đồng nghiệp ở mức bình thường/không

Trang 34

tốt có nguy cơ stress cao gấp 2,3 lần, từng có mâu thuẫn với cấp trên có nguy cơ stress cao gấp 4,3 lần so với nhóm so sánh [14]

Mức độ động viên, hỗ trợ điều dưỡng được tìm thấy là yếu tố gây stress cho điều dưỡng ở các nghiên cứu :Các yếu tố gây stress liên quan đến công việc điều dưỡng mới của Yvonne Halpin và stress nghề nghiệp và kiệt sức ở điều dưỡng chạy thận nhân tạo tại Úc của Brouwyn Hayes [24],[25] Những điều dưỡng nhận được

sự hỗ trợ tinh thần từ người thân,cảm nhận được trả lương xứng đáng với chuyên môn, cảm thấy có cơ hội thăng tiến và có thời gian hoạt động giải trí thì đều có tỷ lệ stress thấp hơn so với những điều dưỡng không có các đặc tính này ghi nhân được tại BVĐHYD TP Hồ Chí Minh [11]

1.4 Học thuyết và khung lý thuyết áp dụng

Học thuyết mô hình kiểm soát nhu cầu công việc (hỗ trợ xã hội) (JDC (-S)) của Jonnson và Hall năm 1988 là một mô hình lý thuyết phổ biến trong các nghiên cứu về stress nghề nghiệp Mô hình JDC (-S) được phát triển từ mô hình kiểm soát nhu cầu công việc (JDC) của Karasek năm 1979 Mô hình JDC (S) tập trung vào ba khía cạnh của điều kiện làm việc tâm lý xã hội: nhu cầu công việc và hai nguồn công việc: kiểm soát công việc và hỗ trợ xã hội

Nhu cầu công việc liên quan đến khối lượng công việc, áp lực thời gian, vai trò xung đột và khối lượng công việc định lượng Kiểm soát công việc đề cập đến khả năng của nhân viên kiểm soát các hoạt động công việc và sử dụng kỹ năng của mình Nó bao gồm hai khía cạnh riêng biệt nhưng có liên quan: quyết định quyền hạn và kỹ năng thực hiện Quyền quyết định phản ánh mức độ mà nhân viên có quyền tự do về cách họ làm công việc của họ và có tiếng nói về những gì xảy ra Kỹ năng thực hiện đề cập đến cấp độ và sự đa dạng của các kỹ năng cần thiết cho các nhiệm vụ công việc và khả năng có được các kỹ năng mới trong vai trò công việc Cuối cùng, nguồn hỗ trợ xã hội là nguồn lực mà mọi người sử dụng để đáp ứng với điều kiện làm việc stress Hỗ trợ xã hội đề cập đến hỗ trợ về công cụ và cảm xúc từ đồng nghiệp và cấp trên [37]

Trang 35

Mô hình JDC (-S) hoàn toàn phù hợp, có thể áp dụng trong nghiên cứu của chúng tôi Áp dụng mô hình và phân tích tổng quan, chúng tôi đưa ra khung lý

thuyết sử dụng cho nghiên cứu của mình như sau:

Perecived Occupational Health Job Demands

Job Control

Social Support

Trang 36

Khung lý thuyết áp dụng

STRESS NGHỀ NGHIỆP Ở ĐIỀU DƯỠNG

Nhu cầu công việc

Khối lượng công việc

Cơ sở vật chất

Chế độ làm việc…

Kiểm soát công việc

Quyền quyết định trong công việc

Khoa làm việc

Điều dưỡng viên

Sức khỏe thể chất

Sức khỏe tâm thần

Mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống

Giảm chất lượng cuộc sống

Bệnh viện

Tăng tỷ lệ nghỉ việc

Giảm hiệu suất làm việc

Tăng tỷ lệ sai sót y khoa

Mức độ hài lòng của NB với BV giảm

Trang 37

1.5 Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên được xây dựng trước năm 1975, tiền thân là một bệnh viện dã chiến của chế độ cũ chưa xây dựng hoàn chỉnh, được Ban Quân - Dân Y của cách mạng tiếp quản và đưa vào sử dụng ngay từ sau ngày giải phóng Phú Yên ( ngày 01/04/1975) Tháng 7 năm 1989, Bộ Chính trị đã có Quyết định số 83/QĐ-TW, chia tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh: Phú Yên và Khánh Hoà Cũng

từ đó, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trên địa bàn tỉnh, đồng thời nâng cao hơn nữa vị trí, trách nhiệm của Bệnh viện, Bệnh viện khu vực Bắc Phú Khánh được đổi tên là Bệnh viện

đa khoa trung tâm Tỉnh (theo Trích yếu số 06 /YT ngày 15/7/1989 của Giám đốc Sở

Y tế Phú Yên Tại thời điểm này Bệnh viện được cải tạo và nâng quy mô từ 300 giường lên 350 giường, tuy nhiên cơ sở vật chất cũng còn rất cũ kỹ, lạc hậu, trang thiết bị thiếu thốn không đáp ứng được cho nhu cầu khám chữa bệnh Chính vì vậy những năm tiếp theo, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã cho phép Sở Y tế đầu tư xây dựng nâng cấp Bệnh viện đa khoa trung tâm Phú Yên Hiện nay BVĐK tỉnh Phú Yên tọa lạc tại ngã tư đại lộ Hùng Vương và đường Nguyễn Hữu Thọ Quy mô bệnh viện là

700 giường với 30 khoa phòng ban chức năng trong đó có 18 khoa lâm sàng và được xếp loại bệnh viện Hạng 2 Bệnh viện hiện có 340 ĐDV làm việc trong đó có hơn 324 ĐDV làm việc tại 18 khoa lâm sàng dưới sự quản lý của 18 điều dưỡng trưởng khoa Áp lực BV tuyến đầu của tỉnh nên lưu lượng người bệnh đến khám và điều trị luôn ở mức cao Theo thống kê của phòng điều dưỡng, trong tháng 12/2018,

BV tiếp nhận 13559 lượt NB khám thường và khám cấp cứu trong đó có tới 3439 lượt NB nhập viện điều trị Tại một số khoa như khoa Nội Tim mạch lão học và Gây mê hồi sức các ĐDV thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải người bệnh và

thiếu nhân viên Các ĐDV thường xuyên phải làm thêm giờ, trực 3 buổi/tuần

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:

Là ĐDV làm việc tại Bệnh viên Đa khoa Phú Yên

Điều dưỡng có thời gian làm việc tại bệnh viện tối thiểu là 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu

Điều dưỡng đang làm công việc chăm sóc trực tiếp trên người bệnh tại 18 khoa lâm sàng

Điều dưỡng trưởng 18 khoa lâm sàng

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Nghỉ phép, nghỉ ốm hoặc vắng mặt trong thời gian tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2019 đến tháng 5/ 2020

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang Sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính để đạt được mục tiêu nghiên cứu Mô hình kết hợp được áp dụng là mô hình thiết kế kết hợp giải thích theo trình tự, nghiên cứu định lượng trước, sau khi phân tích sơ bộ kết quả nghiên cứu định lượng tiến hành nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng được sử dụng để mô tả tình trạng stress nghề nghiệp và các yếu tố liên quan Nghiên cứu định tính được sử dụng để tìm hiểu về vai trò của các yếu tố có liên quan đến sự xuất hiện tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng Nghiên cứu định tính tập trung vào các yếu tố môi trường làm việc, nội dung công việc và yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Trang 39

2.4.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu định lượng: Toàn bộ ĐDV đang làm việc tại 18 khoa lâm sàng thuộc bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020 thỏa mãn các tiêu chí chọn mẫu Tất cả 281 ĐDV phù hợp với tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu

Cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu định tính: Tất cả điều dưỡng trưởng của 18 khoa lâm sàng và 18 ĐDV của 18 khoa lâm sàng Sử dụng phương pháp tính cỡ mẫu theo nguyên tắc bão hòa thông tin nghĩa là khi dữ liệu mới có xu hướng thông tin trùng lặp, dư thừa với dữ liệu đã được thu thập Trong các cuộc phỏng vấn, khi nhà nghiên cứu nghe đi nghe lại những nhận xét giống nhau thì dữ liệu đạt đến độ bão

hòa đó là lúc ngừng thu thập thông tin và bắt đầu phân tích những gì đã thu thập Tất cả 6 điều dưỡng trưởng và 9 ĐDV đủ điều kiện tham gia nghiên cứu Các điều

dưỡng trưởng tham gia vào nghiên cứu thuộc các khoa: Cấp cứu, Gây mê hồi sức, Hồi sức tích cực - chống độc, Nội thần kinh – nội tiết, Nội tổng hợp, Ngoại tổng quát để phỏng vấn sâu và có 9 ĐDV của 9 có tình trạng stress từ trung bình trở lên tham gia thảo luận nhóm

2.5 Công cụ nghiên cứu

2.5.1 Nghiên cứu định lượng

Nội dung của phiếu điều tra gồm 2 phần tập trung vào các nhóm nội dung sau: Phần I: Thông tin chung về đối tương nghiên cứu và các yếu tố liên quan:

Trang 40

Phần II : Các biểu hiện stress về mặt thực thể và tâm lý

Phần II : Đánh giá mức độ stress nghề nghiệp của điều dưỡng dựa trên thang

đo ENSS

Công cụ thu thập số liệu về tình trạng stress của điều dưỡng được thiết kế theo thang đo ENSS ENSS là bản sửa đổi mở rộng và cập nhật của Thang đo căng thẳng điều dưỡng cổ điển (NSS) được phát triển bởi Gray-Toft & Anderson (1981) ENSS gồm 54 mục trên 8 lĩnh vực gồm:

1) Đối mặt với cái chết của NB (Câu 1, 8, 15, 24, 34, 44 và 50)

2) Mâu thuẫn với bác sĩ (Câu 2, 9, 25, 35 và 45)

3) Chưa có sự chuẩn bị về mặt cảm xúc (Câu 3, 10 và 17)

4) Các vấn đề liên quan đến đồng nghiệp điều dưỡng (Câu 4, 11, 18, 19, 20 và 47) 5) Các vấn đề liên quan đến cấp trên (Câu 5, 27, 28, 37, 43, 46 và 51)

6) Khối lượng công việc (Câu 12, 21, 29, 38, 39, 42, 48, 52 và 54)

7) Không chắc chắn về hướng điều trị cho NB (Câu 6, 13, 16, 22, 26, 30, 33, 36

và 40)

8) NB và gia đình NB (Câu 7, 14, 23, 31, 32, 41, 49 và 53)

Quy trình xây dựng thang đo:

Công cụ thu thập số liệu được xây dựng dựa vào tổng quan tài liệu về các biểu hiện stress và các nghiên cứu trong nước và ngoài nước Phần II biểu hiện stress được xây dựng dựa trên tài liệu “Chấn thương tâm lý (stress) và các biện pháp dự phòng” thuốc giáo trình Tâm lý Y học- Y đức của Nguyễn Huỳnh Ngọc được xuất bản bởi nhà xuất bản giáo dục Việt Nam (2010) và tham khảo bộ công cụ trong nghiên cứu “Một số biện pháp phòng ngừa, đối phó với stress của điều dưỡng viên Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định” của Phạm Thị Hằng cùng cộng sự [5],[10]

Phần III đánh giá Stress ở điều dưỡng viên: Áp dụng thang đo ENSS đã được kiểm định nội dung và Việt hóa, sử dụng trong nhiều đề tài Bộ công cụ được cho phép bởi tác giả Tăng Thị Hảo, trường Đại học Y dược Thái Bình để sử dụng cho đề tài [4]

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Anh (2017). Khảo sát thực trạng stress và các yếu tố liên quan của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định., Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: hảo sát thực trạng stress và các yếu tố liên quan của điều dưỡng, hộ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2017
4. Tăng Thị Hảo, Tăng Thị Hải và Đỗ Minh Sinh (2019). "Thực trạng Stress nghề nghiệp ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019". Tạp chí Khoa Học Điều Dưỡng, 2(3), tr. 5-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng Stress nghề nghiệp ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2019
Tác giả: Tăng Thị Hảo, Tăng Thị Hải và Đỗ Minh Sinh
Năm: 2019
5. Phạm Thị Hằng, Vũ Thị Hải Oanh, Phạm Văn Tùng và cộng sự. (2019). "Một số biện pháp phòng ngừa, đối phó với stress của điều dưỡng viên Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định". Tạp chí Khoa Học &amp; Công Nghệ ĐHTN, 197(04), tr. 113-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp phòng ngừa, đối phó với stress của điều dưỡng viên Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định
Tác giả: Phạm Thị Hằng, Vũ Thị Hải Oanh, Phạm Văn Tùng và cộng sự
Năm: 2019
6. Dương Thành Hiệp, Trần Thanh Hải và Tạ Văn Trầm (2014). "Tỉ lệ điều dưỡng, nữ hộ sinh bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014". Y học TP. Hồ Chí Minh, 18(5), tr. 190-196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ điều dưỡng, nữ hộ sinh bị stress nghề nghiệp tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014
Tác giả: Dương Thành Hiệp, Trần Thanh Hải và Tạ Văn Trầm
Năm: 2014
7. Hồ Thị Thu Hương và Trần Thị Kim Trang (2017). "Stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng". Y học TP. Hồ Chí Minh, 02(21), tr. 223-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress, trầm cảm, lo âu ở điều dưỡng
Tác giả: Hồ Thị Thu Hương và Trần Thị Kim Trang
Năm: 2017
8. Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Hữu Hùng và Trần Thị Thanh Hương (2014). "Thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng đang học hệ cử nhân vừa làm vừa học tại trường Đại học Thăng Long và Đại học Thành Tây". Y Học Thực Hành, 4, tr. 110-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng đang học hệ cử nhân vừa làm vừa học tại trường Đại học Thăng Long và Đại học Thành Tây
Tác giả: Trần Thị Ngọc Mai, Nguyễn Hữu Hùng và Trần Thị Thanh Hương
Năm: 2014
9. Ngô Thị Kiều My, Trần Đình Vinh và Đỗ Mai Hoa (2015). "Tình trạng stress của điều dưỡng và nữ hộ sinh Bệnh viên Phụ sản Nhi Đà Nẵng năm 2014".Tạp chí Y tế Công cộng, 34, tr. 57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng stress của điều dưỡng và nữ hộ sinh Bệnh viên Phụ sản Nhi Đà Nẵng năm 2014
Tác giả: Ngô Thị Kiều My, Trần Đình Vinh và Đỗ Mai Hoa
Năm: 2015
10. Nguyễn Huỳnh Ngọc (2015). Chấn thương tâm lý (stress) và các biện pháp dự phòng, Tâm lý Y học- Y đức, Bộ Y tế, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chấn thương tâm lý (stress) và các biện pháp dự phòng
Tác giả: Nguyễn Huỳnh Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
12. Nguyễn Mạnh Tuân, Đàm Thị Tám Hương, Đặng Quang Hiếu và cộng sự (2018). "Stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế Bệnh viện Trưng Vương năm 2018". Y học TP. Hồ Chí Minh, 06(22), tr. 71-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế Bệnh viện Trưng Vương năm 2018
Tác giả: Nguyễn Mạnh Tuân, Đàm Thị Tám Hương, Đặng Quang Hiếu và cộng sự
Năm: 2018
13. Trần Văn Thơ và Phạm Thu Hiền (2018). "Một số yếu tố nguy cơ nghề nghiệp gây stress ở điều dưỡng viên Bệnh viên Nhi Trung Ương năm 2017".Tạp chí Nghiên Cứu và Thực Hành Nhi Khoa, 4, tr. 81-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố nguy cơ nghề nghiệp gây stress ở điều dưỡng viên Bệnh viên Nhi Trung Ương năm 2017
Tác giả: Trần Văn Thơ và Phạm Thu Hiền
Năm: 2018
14. Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Liên Hương (2016). "Thực trạng stress và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến stress ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015". Tạp chí Y tế Công cộng, 40, tr. 21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng stress và một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến stress ở điều dưỡng viên tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2015
Tác giả: Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Liên Hương
Năm: 2016
16. Alharbi, H and Alshehry, A. J (2019). "Perceived stress and coping strategies among ICU nurses in government tertiary hospitals in Saudi Arabia: a cross- sectional study". Annals of Saudi medicine, 39(1), pp. 48-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Perceived stress and coping strategies among ICU nurses in government tertiary hospitals in Saudi Arabia: a cross-sectional study
Tác giả: Alharbi, H and Alshehry, A. J
Năm: 2019
17. Atkinson, W. J (2004). "Stress: risk management's most serious challenge?". Risk Management. 51(6), p. 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress: risk management's most serious challenge
Tác giả: Atkinson, W. J
Năm: 2004
18. Cheung, T, Yip, P. S. J and health, p (2015). "Depression, anxiety and symptoms of stress among Hong Kong nurses: a cross-sectional study".International journal of environmental research public health, 12(9), pp.11072-11100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Depression, anxiety and symptoms of stress among Hong Kong nurses: a cross-sectional study
Tác giả: Cheung, T, Yip, P. S. J and health, p
Năm: 2015
19. Dagget, T, Molla, A and Belachew, T. J (2016). "Job related stress among nurses working in Jimma Zone public hospitals, South West Ethiopia: a cross sectional study". BMC nursing, 15(1), p. 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Job related stress among nurses working in Jimma Zone public hospitals, South West Ethiopia: a cross sectional study
Tác giả: Dagget, T, Molla, A and Belachew, T. J
Năm: 2016
20. Davey, A, Sharma, P, Davey, S et al. (2019). "Is work-associated stress converted into psychological distress among the staff nurses: A hospital- based study". Journal of family medicine, 8(2), p. 511 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is work-associated stress converted into psychological distress among the staff nurses: A hospital-based study
Tác giả: Davey, A, Sharma, P, Davey, S et al
Năm: 2019
21. Dobnik, M, Maletič, M and Skela-Savič, B. J (2018). "Work-related stress factors in nurses at Slovenian hospitals–a cross-sectional study". Slovenian journal of public health, 57(4), pp. 192-200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Work-related stress factors in nurses at Slovenian hospitals–a cross-sectional study
Tác giả: Dobnik, M, Maletič, M and Skela-Savič, B. J
Năm: 2018
22. Finfgeld ‐ Connett, D. J (2008). "Meta ‐ synthesis of caring in nursing". Journal of clinical nursing, 17(2), pp. 196-204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meta‐synthesis of caring in nursing
Tác giả: Finfgeld ‐ Connett, D. J
Năm: 2008
23. Gray-Toft, P and Anderson, J.G.J (1981). "The nursing stress scale: development of an instrument". Journal of behavioral assessment 3(1), pp. 11-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The nursing stress scale: development of an instrument
Tác giả: Gray-Toft, P and Anderson, J.G.J
Năm: 1981
24. Halpin, Y, Terry, L.M and Curzio, J. J (2017). "A longitudinal, mixed methods investigation of newly qualified nurses’ workplace stressors and stress experiences during transition". Journal of advanced nursing, 73(11), pp. 2577-2586 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A longitudinal, mixed methods investigation of newly qualified nurses’ workplace stressors and stress experiences during transition
Tác giả: Halpin, Y, Terry, L.M and Curzio, J. J
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w