1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại trung tâm sản nhi bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ năm 2020

112 44 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HÀNH CHO TRẺ BÖ SỚM CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TẠI TRUNG TÂM SẢN NHI – BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HÀNH CHO TRẺ BÖ SỚM CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TẠI TRUNG TÂM SẢN

NHI – BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÖ THỌ NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ LỆ HẰNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HÀNH CHO TRẺ BÖ SỚM CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TẠI TRUNG TÂM SẢN

NHI – BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÖ THỌ NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1.TS NGUYỄN HUY NGỌC

2 DƯƠNG KIM TUẤN

HÀ NỘI, 2020

Trang 3

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các thầy hướng dẫn, đồng nghiệp, bạn bè

và gia đình

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến đến 2 người thầy - người đã dành nhiều thời gian, công sức, hết lòng giúp đỡ, hỗ trợ và hướng dẫn tôi hoàn thành tốt đề tài này

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám đốc, Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Điều dưỡng-QLCL và các đồng nghiệp của tôi tại Trung tâm Sản Nhi đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu

Tôi cũng xin chân thành cám ơn gia đình, những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu

Phú Thọ, tháng 10 năm 2020

Tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng

Trang 4

Tôi xin cam đoan kết quả trong nghiên cứu của tôi hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ kết quả nghiên cứu nào được công bố trước đó

Tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số kiến thức cơ bản về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ 4

1.1.1 Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ 4

1.1.2 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ 6

1.2 Thực trạng cho con bú sớm tại Việt Nam và trên thế giới 9

1.2.1 Trên thế giới 9

1.2.2 Tại Việt Nam 10

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm 11

1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 23

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 23

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4 Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu 24

2.4.1 Định lượng 24

2.4.2 Định tính 24

2.5 Phương pháp thu thập số liệu: Thời gian thu thập số liệu từ tháng 4-6/2020 25

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng 25

2.5.2 Thu thập số liệu định tính 25

2.6 Các biến số của nghiên cứu (chi tiết phụ lục 1) 26

2.7 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 26

2.7.1 Các khái niệm 26

Trang 6

2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá 26

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 27

2.10.1 Những sai số có thể gặp 27

2.10.2 Phương pháp khống chế sai số 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Thực trạng cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh 29

* Kiến thức về bú sớm của đối tượng nghiên cứu 32

* Thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh 36

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bú sớm 41

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49

4.1 Thực trạng cho con bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ trong năm 2020 49

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành bú sớm của đối tượng nghiên cứu 55

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 57

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 58

5.1 Thực trạng cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm 58

5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm 58

CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 59

1 Đối với Trung tâm 59

2 Đối với các cán bộ y tế tại khoa Sản và phòng khám Sản 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=230) 29

Bảng 3.2 Thông tin về lần sinh con 30

Bảng 3.3 Khám thai và tư vấn trước sinh 31

Bảng 3.4 Kiến thức về thời gian cho bú của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.5 Kiến thức về sữa non 32

Bảng 3.6 Kiến thức về số lần bú trong ngày của trẻ 35

Bảng 3.7 Liên quan giữa một số yếu tố về cá nhân ĐTNC và thực hành bú sớm 41

Bảng 3.8 Liên quan giữa các yếu tố mang thai, sinh đẻ và thực hành bú sớm 43

Bảng 3.9 Liên quan giữa thông tin trẻ và thực hành bú sớm của ĐTNC 44

Bảng 3.10 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về gia đình và thực hành bú sớm của ĐTNC 45

Bảng 3.11 Liên quan giữa thực hành bú sớm và kiến thức về bú sớm 45

Bảng 3.12 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về chính sách y tế và thực hành bú sớm của ĐTNC 46

Bảng 3.13 Liên quan giữa các yếu tố thời điểm đi làm lại, chính sách nghỉ thai sản với thực hành bú sớm 47

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Kiến thức về lợi ích của sữa non 33

Biểu đồ 3.2 Kiến thức về lợi ích đối với mẹ khi cho bú sớm 33

Biểu đồ 3.3 Kiến thức về lợi ích đối với trẻ khi được bú sớm 34

Biểu đồ 3.4 Kiến thức về nguy cơ cho trẻ khi không được bú sớm ở trẻ 34

Biểu đồ 3.5 Sự tiếp cận thông tin của ĐTNC 35

Biểu đồ 3.6 Thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh của ĐTNC 36

Biểu đồ 3.7 Nguyên nhân cản trở không cho trẻ bú sớm 37

Biểu đồ 3.8 Thời điểm cho trẻ bú lần đầu tiên và thời gian cho trẻ bú 38

Biểu đồ 3.9 Những khó khăn gặp phải và người hỗ trợ xử lý khó khăn khi cho trẻ bú lần đầu 39

Biểu đồ 3.10 Đồ uống trẻ được uống trước lần bú đầu tiên 40

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh sẽ cung cấp nguồn sữa non quý giá từ mẹ

và bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi bị nhiễm trùng và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh Theo báo cáo của UNICEF cho thấy: Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh giảm nhiều nhất trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm

2013 Tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm ở Việt Nam giảm từ 44% năm 2006 xuống còn 27% trong năm 2013 Nhận thấy tỉ lệ cho bú sớm có xu hướng giảm thì từ năm 2014, Bộ Y

tế Việt Nam đã tiến hành các nỗ lực nhằm cải thiện tình hình này thì đến năm 2016 tỷ

lệ này đã tăng lên 73%

Trung tâm Sản Nhi là 1 trong 10 trung tâm của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ Kết quả khảo sát nhanh 350 sản phụ sau sinh tại khối Sản vào tháng 6/2019 cho thấy có đến 80% sản phụ trả lời rằng họ đã không cho trẻ bú sớm sau sinh Nhằm tìm hiểu nguyên nhân để cải thiện tình hình này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020” với 2 mục tiêu 1)

Mô tả thực trạng cho con bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi - Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020 2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài của chúng tôi là phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp giữa định tính và định lượng Đối với nghiên cứu định lượng chúng tôi tiến hành phỏng vấn 230 sản phụ theo bộ câu hỏi có sẵn, sau đó nhập

và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 Đối với nghiên cứu định tính chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu, chọn mẫu có chủ đích 05 nhân viên y tế và 08 sản phụ sau sinh tại khối Sản Số liệu định tính được phân tích theo chủ đề

Kết quả nghiên cứu cho thấy các đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là từ 18 – 35 tuổi chiếm 88,3% Hầu hết các đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi đều đi khám thai (97,8%) và đều khám thai từ 3 lần trở lên (96,5%) Trong 230 sản phụ tham gia nghiên cứu có 53,7% sản phụ được tư vấn về nuôi con bằng sữa mẹ trước sinh, nhưng tỷ lệ được tư vấn này ở trung tâm chỉ có 29%

Trang 11

Trong số 230 sản phụ thì có 83,9% các sản phụ tham gia nghiên cứu đều có kiến thức đúng về bú sớm nhưng tỉ lệ thực hành bú sớm của các sản phụ sau sinh chỉ

có 22,0% Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành cho trẻ bú sớm của các sản phụ sau sinh đó là nơi cư trú và cách thức sinh trẻ

Từ những kết quả trên chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị đối với Trung tâm như sau: Thúc đẩy các chương trình tập huấn cho cán bộ y tế, cũng như tăng cường các công tác truyền thông cho sản phụ và người nhà sản phụ Đặc biệt trong các lớp học tiền sản trung tâm tổ chức hàng tuần cần tăng cường công tác thực hành cho bà mẹ

về vấn đề bú sớm, các tư thế ngậm bắt vú của trẻ, các dấu hiệu trẻ ngậm và bú tốt, cách

bổ sung dinh dưỡng và duy trì nguồn sữa mẹ Củng cố niềm tin cho bà mẹ và gia đình

về việc nuôi con bằng sữa mẹ Ngoài ra, tăng cường công tác tư vấn tư vấn và chăm sóc sản phụ trước và sau sinh

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Như chúng ta đã biết sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Bởi trong sữa mẹ có đầy đủ chất dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển của trẻ Sữa mẹ được tạo ra trong những tháng cuối khi phụ nữ mang thai và được tiết ra sớm ngay sau sinh Chính vì vậy nên cho trẻ bú sớm trong vòng 1h đầu sau khi sinh Bắt đầu cho bú sớm ngay sau sinh đảm bảo cho trẻ sơ sinh nhận được những giọt sữa đầu tiên (sữa non) – cũng chính là liều “vắc-xin” cho trẻ để bảo vệ trẻ khỏi bệnh tật Ngoài ra, nó cũng bảo

vệ trẻ không tiếp xúc với các mầm bệnh nhiễm khuẩn(1)

Theo báo cáo của UNICEF cho thấy: Việt Nam là một trong những nước có tỷ

lệ trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh giảm nhiều nhất trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013 Tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm ở Việt Nam giảm từ 44% năm

2006 xuống còn 27% trong năm 2013 Các nguyên nhân chính bao gồm: các nhân viên

y tế chưa có đủ kiến thức, sự quyết tâm và chưa sẵn sàng hỗ trợ các bà mẹ cho con bú trong giờ đầu sau khi sinh Bên cạnh đó, xu hướng đẻ mổ tăng nhanh, từ 10% năm

2002 lên đến 28% năm 2013 (trong đó một nửa các ca mổ đẻ đều dược thực hiện trước khi có dấu hiệu chuyển dạ, có nghĩa là những ca đẻ mổ này không liên quan đến những

lý do y tế) Và một nguyên nhân khác là do văn hóa/niềm tin vào quan niệm ngày và giờ tốt sẽ mang lại tương lai tốt đẹp cho em bé sau này Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của đứa trẻ (2) Nhận thấy tỉ lệ cho bú sớm có xu hướng giảm thì từ năm 2014, Bộ Y tế Việt Nam đã tiến hành các nỗ lực nhằm cải thiện tình hình này bao gồm việc ban hành và thực hiện Hướng dẫn Quốc gia về chăm sóc thiết yếu bà

mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ thường năm 2014 và Hướng dẫn Quốc gia về chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và sau đẻ mổ (với hỗ trợ của UNICEF và WHO) năm 2016 Sửa đổi và thực hiện Tiêu chí chất lượng Bệnh viện về việc thực hành cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh với sự hỗ trợ kỹ thuật của WHO và UNICEF Quy định này nhấn mạnh việc tiếp xúc trực tiếp da kề da ngay sau sinh và hỗ trợ cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ dầu sau sinh Các nhân viên y tế ở tất cả các tỉnh thành đã được tập huấn và các hoạt động giám sát được tiến hành nhằm đảm bảo việc thực hiện đầy đủ quy định này Kết quả bước đầu cho thấy có sự cải thiện đáng kể, theo báo cáo đánh giá công tác chăm sóc sơ sinh sớm thiết yếu của khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2016-2017 tại Việt Nam tỷ lệ trẻ mới sinh được cho bú sớm trong

Trang 13

vòng 1 giờ đầu sau sinh là 73% Những thành tựu bước đầu này đã được WHO và UNICEF ghi nhận tại Hội nghị khu vực về đẩy nhanh các tiến bộ trong chăm sóc sơ sinh sớm thiết yếu được tổ chức vào tháng 8/2017

Trung tâm Sản Nhi là 1 trong 10 trung tâm trực thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ Là một trung tâm chuyên khoa về Sản-Nhi, chất lượng khám, chăm sóc trước sinh và sau sinh tại Trung tâm đang là vấn đề mà lãnh đạo quan tâm hàng đầu Việc thực hiện toàn bộ quy trình chăm sóc thiết yếu phần lớn được thực hiện bởi các nữ hộ sinh nhưng theo kết quả khảo sát nhanh của Phòng Điều dưỡng-QLCL vào tháng 6/2019 trên 350 sản phụ sau sinh ở khối Sản cho thấy, có 320 sản phụ chiếm 80,0% trong tổng số sản phụ sau sinh được hỏi trả lời họ đã không cho con bú ngay sau khi đứa trẻ ra đời Chính vì vậy, một số câu hỏi được đặt ra tại trung tâm như: Thực trạng thực hành cho trẻ bú sớm tại trung tâm của sản phụ sau sinh như thế nào? Những yếu

tố gì liên quan đến việc thực hành cho trẻ bú sớm? Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe để sản phụ cho trẻ bú sớm tại Trung tâm ra sao? Trung tâm sẽ phải có kế hoạch

gì để hỗ trợ tốt hơn cho công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cho phụ nữ đang mang thai và sản phụ đang nằm điều trị tại Trung tâm? Để góp phần trả lời cho những

câu hỏi trên đây, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi- Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020” Với mong

muốn tìm hiểu thực trạng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện tốt công tác triển khai, thực hiện quy trình cho trẻ bú sớm tại Trung tâm trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu là tiền đề để đề xuất cho Trung tâm triển khai một nghiên cứu quy mô hơn để có định hướng triển khai các chương trình nuôi con bằng sữa mẹ đạt hiệu quả cao hơn

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh tại Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ năm

2020

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số kiến thức cơ bản về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ

1.1.1 Một số khái niệm về nuôi con bằng sữa mẹ

* Nuôi con bằng sữa mẹ: Là đứa trẻ được nuôi dưỡng trực tiếp bằng bú mẹ

hoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra hoặc sữa từ các bà mẹ khác(3)

* Bú mẹ: Là đứa trẻ được bú mẹ, bú trực tiếp hoặc bú sữa mẹ được vắt ra bao

gồm một phần, bú chủ yếu và bú hoàn toàn(3)

* Bú sớm: Là đứa trẻ được sinh ra và đưa vào bú vú mẹ trong vòng 1 giờ đầu

sau sinh(3)

* Bú mẹ hoàn toàn: Là trẻ chỉ bú sữa từ vú mẹ hoặc vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt

ra Ngoài ra không ăn bất kỳ một loại thức ăn dạng lỏng hay dạng rắn khác trừ các dạng giọt, siro có chứa các vitamin, chất khoáng bổ sung, hoặc thuốc(4)

* Sữa non: Có từ tháng thứ tư của bào thai, tiếp tục đến 6 ngày sau đẻ Sữa non

có màu vàng và sánh hơn sữa về sau Trong sữa non có rất nhiều chất đạm, vitamin A,

và nhiều kháng thể Giúp cho trẻ chống lại hầu hết các loại vi khuẩn và siêu vi khuẩn Sữa non chỉ tiết ra một lượng nhỏ xong đủ cho một đứa trẻ bình thường (5)

* Hiện tượng xuống sữa: là hiện tượng số lượng sữa nhiều hơn làm 2 bầu vú

Trang 16

+ Thân trẻ áp sát vào người mẹ

Trang 17

1.1.2 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ

1.1.2.1 Lợi ích của việc cho bú sớm

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) bú sớm sau sinh là trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và bú mẹ hoàn toàn, không ăn thêm bất cứ thức ăn nước uống nào khác, kể cả nước lọc (trừ vitamin, vacxin, và các thứ thuốc cần thiết theo chỉ định của thầy thuốc (6) Cho trẻ bú sớm là một trong những khuyến nghị quan trọng liên

quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của WHO và UNICEF

Sau khi sinh bà mẹ cần cho trẻ bú càng sớm càng tốt, đặc biệt trong vòng một giờ đầu sau sinh Vì trong giờ đầu tiên của cuộc đời trẻ sơ sinh ở trạng thái tỉnh táo, nhanh nhẹn nhất, và dễ thực hiện hành vi bú mẹ nhất Khi thời điểm này qua đi, trẻ trở nên buồn ngủ hơn vì bắt đầu phục hồi sau quá trình thở

Bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh là cung cấp nguồn sữa non quý giá từ

mẹ và bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi bị nhiễm trùng và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh(7) Sữa non là một chất lỏng sinh học phức tạp, giàu peptide kháng khuẩn Sữa non có tác dụng chính là cung cấp các thành phần dinh dưỡng thiết yếu, tăng cường hệ thống phòng thủ tự nhiên, điều chỉnh phản ứng miễn dịch, cân bằng hệ vi sinh đường ruột Ngoài ra, sữa non còn có tác dụng sổ nhẹ, giúp cho việc đào thải phân su, thải bilirubin

ra khỏi ruột làm giảm mức độ vàng da ở trẻ Sữa non chứa nhiều vitamin A có tác dụng cải thiện tình trạng nhiễm khuẩn của trẻ Sữa non được tiết ra trong 2-3 ngày đầu sau sinh, khoảng 40-50ml vào ngày đầu tiên, nhưng đủ cho một đứa trẻ bình thường mới sinh(5)

Sữa non có nhiều tế bào màu trắng và kháng thể, đặc biệt là SIGA – nó chứa một tỷ lệ lớn Protein, khoáng chất và các vitamin tan trong chất béo (A, E và K) hơn trong sữa trung gian và sữa trưởng thành Vitamin A rất quan trọng để bảo vệ mắt và

sự toàn vẹn của các bề mặt biểu mô và thường làm cho sữa non màu hơi vàng Sữa non cung cấp bảo vệ miễn dịch quan trọng cho một trẻ sơ sinh khi trẻ lần đầu tiên được tiếp xúc với các vi sinh vật trong môi trường, giúp niêm mạc của ruột nhận được các chất dinh dưỡng trong sữa Vì vậy, sau khi sinh trẻ cần được bú sữa non ngay.(6)

Cho trẻ bú sớm còn có tác dụng làm giảm nguy cơ chảy máu sau đẻ, bế sản dịch trong thời kỳ hậu sản và làm giảm nguy cơ nhiễm trùng tử cung sau đẻ do cơ chế kích

Trang 18

thích vùng dưới đồi sản xuất Oxytocin (6), trẻ mút vú ngoài việc kích thích tuyến yên sản xuất Oxytocin còn kích thích bài tiết Prolactin Hai yếu tố này có tác dụng lên quá trình tạo và tiết sữa Vì vậy, cho bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh sẽ thúc đẩy quá trình tạo sữa nhanh hơn so với việc chờ xuống sữa tự nhiên (8) Vì vậy cho trẻ bú thường xuyên là cơ sở để tạo sữa và duy trì nguồn sữa mẹ

Ngoài ra, bú sớm còn có tác dụng làm thông tuyến sữa và kích thích cơ thể mẹ bài tiết sữa sớm, tránh được hiện tượng cương tức vú, áp xe vú, khả năng tiết sữa sẽ dài hơn và thời gian cho con bú lâu hơn

Cho trẻ bú ngay sau sinh cũng giúp bé bú đúng cách ngay từ đầu và việc nuôi con bằng sữa mẹ dễ thành công hơn Chính vì vậy sau sinh cần cho trẻ nằm cạnh mẹ, đặc biệt kết hợp giữ phương pháp tiếp xúc da kề da và bú sớm sẽ giúp trẻ ổn định thân nhiệt, hô hấp và nồng độ đường trong máu của trẻ, giúp tình cảm khăng khít giữa mẹ

và con

1.1.2.2 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ

* Lợi ích đối với trẻ

Sữa mẹ giúp cho trẻ chống lại bệnh tật đồng thời tăng cường sức khỏe và thúc đẩy sự tăng trưởng tối ưu của đứa trẻ Khi đứa bé sinh ra, sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo nhất giúp cho đứa bé dễ tiêu hóa, hấp thụ, để đứa bé phát triển và phòng chống suy dinh dưỡng(9)

Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên có chứa nhiều chất kháng khuẩn bảo vệ cơ thể, do vậy trẻ bú sữa mẹ sẽ ít bị dị ứng eczema hơn một số trẻ ăn sữa công thức Sữa

mẹ không chỉ giúp trẻ phát triển tốt về mặt thể chất (chiều cao, cân nặng,…) mà cả về trí não

* Lợi ích đối với bà mẹ

Bà mẹ thường xuyên gần gũi với con sẽ giúp gắn bó tình cảm mẹ và con Mẹ sẽ cảm thấy thoải mái tinh thần, yên tâm và giảm được sự lo âu, trầm cảm sau sinh và tạo cho trẻ cảm giác an toàn Mặt khác, nhờ sự quan sát của mình, người mẹ sẽ là người phát hiện những thay đổi bình thường hay bất thường của đứa trẻ(10)

Trang 19

Ngoài ra, cho đứa bé bú sớm sẽ giúp tử cung của mẹ co hồi sớm, cầm máu cho

mẹ và đề phòng thiếu máu sau đẻ và nhanh hết sản dịch Làm cho kinh nguyệt chậm trở lại, giảm bớt khả năng thụ thai, giảm được nguy cơ viêm tắc, áp xe, ung thư vú và ung thư cổ tử cung(8)

* Lợi ích đối với xã hội

Tổ chức Y tế thế giới WHO vừa công bố một nghiên cứu cho thấy nếu tỉ lệ trẻ

em trên toàn thế giới được bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu đời tăng từ 40,0% lên đến 50,0% trong 10 năm tới thì sẽ có đến 520,000 đứa trẻ được cứu sống và thế giới sẽ tiết kiệm được 300 tỷ USD(11)

Tại Việt Nam, NCBSM giúp giảm thiểu các chi phí tốn kém của việc cho trẻ ăn sữa công thức Ước tính trung bình mỗi gia đình tiêu tốn khoảng 800.000 - 1.200.000 đồng/tháng nếu cho trẻ ăn các sản phẩm thay thế sữa mẹ Chi phí này chiếm khoảng 53 – 79% thu nhập bình quân 1 năm của người Việt Nam (18.227.000 đồng) và một phần lớn trong tổng thu nhập của một gia đình Ngoài ra nhờ các lợi ích về mặt sức khỏe của NCBSM các gia đình tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh

NCBSM không chỉ mang lại lợi ích về sức khỏe cho trẻ và mẹ mà còn mang lại những lợi ích kinh tế to lớn Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiết kiệm được 3,6 tỷ đô là mỗi năm trong việc chỉ trả gián tiếp cho chăm sóc sức khỏe nếu như có ít nhất 75% bà mẹ cho con bú sớm ngay sau sinh và 50% các bà mẹ cho con bú hoàn toàn đến 6 tháng tuổi

Tại Việt Nam, nếu các bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu họ có thể tiết kiệm được một khoản tiền tương đương với ~ 12.000.000 đồng từ việc không chi tiêu cho các sản phẩm thay thế sữa mẹ Tuy nhiên, một nửa của khoản tiền này đang bị lãng phí

do tỷ lệ NCBSMHT thấp ở Việt Nam, điều này làm tăng chi phí y tế chung của quốc gia Mỗi năm nước ta phải chi khoảng ~ 21 tỷ đồng cho khám chữa các bệnh do nuôi dưỡng trẻ nhỏ Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại cho gia đình NCBSMHT còn có lợi ích cho doanh nghiệp về mặt lâu dài vì các bà mẹ ít phải nghỉ làm để chăm con ốm – điều này cũng có nghĩa là tạo ra một lực lượng lao động ổn định Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ và các gia đình trên toàn thế giới khi có thiên tai hoặc khủng hoảng kinh tế

Trang 20

1.2 Thực trạng cho con bú sớm tại Việt Nam và trên thế giới

1.2.1 Trên thế giới

Lợi ích và sự cần thiết của NCBSM đối với sức khỏe trẻ em, bà mẹ, gia đình và

xã hội thừa nhận Tuy nhiên ở nhiều nơi trên thế giới, tỷ lệ cho con bú sớm rất thấp: 17% ở các nước Đông Âu – Trung Á; 33% ở các nước Châu Á Thái Bình Dương và cao nhất là ở khu vực Mỹ La Tinh – Caribe – Bắc và Đông Phi là 50%

Cho trẻ bú sớm cũng là một nội dung được nhiều nghiên cứu đề cập tới trong quy trình chăm sóc thiết yếu Theo WHO thì việc cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là rất quan trọng Đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ thời điểm sẽ quyết định tất cả Trẻ được cho bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh có nhiều cơ hội được sống hơn so với những trẻ phải chờ lâu mới được cho bú mẹ Trẻ sơ sinh được bắt đầu bú

mẹ trong vòng từ 2- 23 giờ sau khi sinh có nguy cơ tử vong cao hơn gấp 33% so với những đứa trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh

Theo báo cáo vì sự tiến bộ của trẻ em của UNICEF (2006) thì tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu giai đoạn 1996-2004 thì tỷ lệ ở nước ta

là 15,0% thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như Trung Quốc là 50,0%; Lào là 23,0%; Ấn Độ có 96,0% trẻ dưới 5 tuổi được NCBSM trong đó 25,4% trong số này được bú sớm trong vòng 1 giờ ngay sau sinh Tỷ lệ này cũng thấp ở các nước như Bangladesh 42,6%; Nepal 35,4%; Inodonesia 43,9%(12)

Theo kết quả một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng của Ayele Lenja và cộng sự (2014) ở Ireland trên 396 phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên thì có 85,6% phụ nữ có kiến thức về thực hành bú mẹ hoàn toàn nhưng chỉ có 78,0% cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng đầu; 80,5% bà

mẹ cho con bú hơn 8 lần/ngày; 77,0% bà mẹ cho con bú sữa non và 52,0% đứa trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh(13)

Theo một nghiên cứu của WHO (2016) cho thấy, trong số 68 quốc gia tham gia nghiên cứu thì có đến 49% cho biết có hơn nửa số trẻ được cho bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Chỉ có duy nhất 1 quốc gia là cộng hòa Kyrgyz ghi nhận 80% số trẻ sinh

ra được bú sớm ngay sau sinh (14)

Trang 21

Theo nghiên cứu của Olukunmi O Balagun và cộng sự (2016) cho thấy: tỷ lệ trẻ được bú sớm trung bình trên thế giới là 44% (UNICEF 2014), tuy nhiên có sự khác biệt lớn với một số quốc gia như Ấn Độ và Pakistan tỷ lệ lần lượt là 23,3% và 18,4% (Victora 2016b) (15)

1.2.2 Tại Việt Nam

Tháng 11/2014 Bộ Y tế đã ban hành và thực thi các Hướng dẫn Quốc gia về chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh ngay trong và sau đẻ thường; Hướng dẫn Quốc gia về chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh ngay trong và sau đẻ mổ (với

hỗ trợ của UNCICEF và WHO) năm 2016 Hướng dẫn nhấn mạnh tiếp xúc da kề da ngay sau sinh và hỗ trợ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Nhân viên y tế

đã được tập huấn và các hoạt động giám sát đã được thực hiện ở tất cả các tỉnh thành nhằm đảm bảo thực thi hướng dẫn quốc gia một cách hiệu quả

Ngoài ra, Bộ Y tế đã sửa đổi và thực hiện Tiêu chí chất lượng Bệnh viện (dưới

sự hỗ trợ của UNICEF và WHO) năm 2016 Hướng dẫn bao gồm các điều kiện và thực hành chuẩn của cán bộ y tế trong lĩnh vực chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh, trong đó thúc đẩy cho con bú sớm và da kề da trong tất cả các bệnh viện chuyên khoa và khoa sản nhi

Theo nghiên cứu cắt ngang của Nguyễn Vũ Linh và cộng sự (2010) tại Bệnh viện Phụ sản nhi bán công Bình Dương trên 83 đối tượng được phỏng vấn 3 lần và quan sát các hành vi liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ cũng cho thấy, tỉ lệ trẻ

bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh chiếm 29,7%, trong đó không có một sản phụ sinh mổ nào cho con bú sau 1 giờ đầu sau sinh (16)

Theo nghiên cứu của Trần Thị Hải Dung (2013) tiến hành trên 290 sản phụ sinh con từ 01/4/2013 – 30/4/2013 tại bệnh viện Phụ Sản Hà Nội thì tỷ lệ trẻ bú sớm là 33,8% (17)

Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Tuyết và cộng sự (2014) cho thấy, tỷ lệ trẻ được

bú sữa mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 45,5% Và theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Sơn và cộng sự (2018) thì tỷ lệ trẻ bú sớm ở bệnh viện Trung ương Thái Nguyên là 86,6% (18) Nghiên cứu của Mai Anh Đào và cộng sự (2018) cho

Trang 22

thấy, tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 58,4% và sau 1 giờ

là 41,6% (19)

Ngoài ra, theo số liệu từ Tổng điều tra dinh dưỡng (2010) cho thấy, có tới 20,0% bà mẹ vắt bỏ sữa non trước khi cho trẻ bú và chỉ có 62,0% trẻ sơ sinh ở Việt Nam được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh(16) Theo nghiên cứu của Phạm Văn Phú và cộng sự (2012) về nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung của các bà mẹ dân tộc Tày - Nùng ở Lạng Sơn cho thấy có đến 71,4% các mẹ vắt bỏ sữa non cho trẻ trước khi cho trẻ bú lần đầu tiên; 27,6% bà mẹ trước khi cho trẻ bú lần đầu tiên đã cho trẻ ăn/uống một loại thức ăn hay nước uống nào đó(20)

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm và cộng sự (2014) tại An Giang cho thấy: Tỷ lệ nhận thức đúng về cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh của các sản phụ đạt 93,7% nhưng thực tế chỉ có 75,7% các bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh(21)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm

Nghiên cứu cắt ngang của Diaz-Gomez NM và các cộng sự (2013) tại Tây Ban Nha thì lý do chính việc ngừng cho con bú là cảm thấy sản xuất sữa thấp là 29,0%; sự trở lại làm việc là 18,0%; khó khăn trong việc kết hợp nuôi con bằng sữa mẹ với công việc là 43,0%; cho con bú tại nơi công cộng là 39,0%; thức giấc ban đêm là 62,0% và tăng cân ít hơn ở trẻ là 29,0% và 34,0% lựa chọn thức ăn nhân tạo cho trẻ(22)

Theo một phát hiện chính của tác giả Sarita Dhakal và cộng sự (2014) tại Conggo thì những nhân tố chính ảnh hưởng đến việc bú sớm có thể kể đến là: Tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ(23)

Ngoài ra, theo báo cáo của UNICEF cho thấy, tỷ lệ cho trẻ bú sớm ở Việt Nam giảm đáng kể từ 44% năm 2006 xuống còn 27% năm 2014, các nguyên nhân chính bao gồm:

+ Các nhân viên y tế chưa đủ kiến thức, sự quyết tâm và chưa sẵn sàng hỗ trợ các bà mẹ cho con bú ngay giờ đầu tiên sau khi sinh

Trang 23

+ Xu hướng đẻ mổ tăng nhanh từ 10% năm 2002 lên tới 28% năm 2013 Một nửa ca mổ đẻ đều được thực hiện trước khi có dấu hiệu chuyển dạ, có nghĩa là những

ca đẻ mổ này không liên quan đến những lý do y tế

+ Văn hóa/niềm tin vào quan niệm ngày và giờ tốt sẽ mang lại tương lai tốt đẹp cho em bé sau này

Do vậy, có thể chia ra làm 4 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh như: Yếu tố từ mẹ, Yếu tố từ trẻ, Yếu tố từ gia đình, yếu tố từ dịch vụ y tế và các yếu tố về chính sách y tế

* Các yếu tố từ mẹ:

Các yếu tố đặc trưng từ người mẹ có liên quan trực tiếp đến việc thực hành cho con bú sớm như: Tuổi, trình độ học vấn, nơi ở, tình trạng hôn nhân, quá trình mang thai, cách sinh, kiến thức của bà mẹ về bú sớm

Theo bằng chứng từ một nghiên cứu đoàn hệ về “Dự đoán về thời gian cho con

bú cho dân số ở Úc” của tác giả Jane A.Scott và cộng sự (2006) được tiến hành trên

587 phụ nữ được chọn ở 2 bệnh viện phụ sản ở Perth và hoàn thành bảng câu hỏi cơ bản ngay trước hoặc ngay sau khi xuất viện Dữ liệu được thu thập cho thấy, những trẻ

sơ sinh có mẹ dưới 30 tuổi thì có xu hướng nuôi con bằng sữa mẹ ít hơn so với các phụ

nữ có độ tuổi từ 30 trở lên (55,3 % so 44%)(24)

Theo nghiên cứu mô tả được thực hiện giữa tháng 7/2006 tại một Bệnh viện thân thiện với trẻ em tại Brazil của Emel Orun và cộng sự (2010) trên 577 bà mẹ cho thấy 35,2% bà mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và 72,8% bắt đầu cho con

bú lần đầu tiên trong vòng 2 giờ sau sinh Trong đó, tỷ lệ bà mẹ cho con bú trong vòng

30 phút đầu sau sinh ở bà mẹ sinh thường (16,8%) bà mẹ sinh mổ (2,8%) Tỷ lệ trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh ở bà mẹ sinh thường (51,2%) nhưng ở bà mẹ sinh

mổ chỉ chiếm (18,9%) (p<0,001)(25)

Cũng theo nghiên cứu của Mai Anh Đào và cộng sự (2018) cho thấy: sản phụ sinh thường có khả năng cho con bú sớm cao hơn gấp 16,6 lần so với các sản phụ đẻ

mổ (19)

Trang 24

Theo một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú ở nhóm có học vấn cao thường cao hơn tỷ lệ các bà mẹ cho con bú ở nhóm học vấn thấp hơn Theo một nghiên cứu của Jennifex Baxter (2008) tại Úc Nghiên cứu sử dụng dữ liệu NCBSM từ Wave dựa trên các phụ nữ có con từ 4 đến 12 tháng tuổi cho thấy: những bà mẹ có học vấn đại học hoặc sau đại học có khả năng cho con bú sớm nhiều hơn các bà mẹ có học vấn thấp hơn(26)

Theo tác giả Kim J và Gallien T.L (2014) tại Mỹ để kiểm tra sự chênh lệch trong thực hành chăm sóc trẻ em và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh theo cấu trúc hộ gia đình (bà mẹ một mình và bà mẹ có chồng) Phân tích dữ liệu cắt ngang được thực hiện bằng cách sử dụng mẫu trẻ em từ 0 - 2 tuổi đại diện trên toàn quốc ghi danh vào Khảo sát sức khỏe trẻ em năm 2007 Mẫu phân tích là trẻ em từ 1801 bà mẹ một mình (n=16,0%) trẻ em từ 11.337 bà mẹ có chồng (n= 84%) thì: tỷ lệ cho trẻ bú trong vòng

6 tháng đầu ở những bà mẹ đơn thân nhỏ hơn 0,57 lần so với những bà mẹ có chồng bên cạnh(27)

Theo nghiên cứu cắt ngang so sánh kiến thức, thái độ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi giữa các bà mẹ ở các cộng đồng nông thôn và thành thị ở Lagos, Tây Nam Nigeria của tác giả Balogun MR và cộng sự (2019) trên 248 phụ nữ có con dưới 5 tuổi chọn từ cả 2 khu vực sử dụng kỹ thuật lấy mẫu nhiều tầng và sau đó được phỏng vấn thì các phụ nữ được hỏi ở LGA nông thôn thì tỷ lệ cho con bú sớm ngay sau sinh (75,8%) và phụ nữ được hỏi ở thành thị là 43,5% (p<0.001)(28) Cũng theo báo cáo gần đây của Tổng cục Thống kê (2011) tại 6 vùng ở Việt Nam: Đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung cho thấy: Đứa trẻ sinh ra có bố mẹ là người dân tộc thiểu số có khả năng được

bú sữa mẹ cao hơn gấp hai lần so với trẻ em sinh ra trong các gia đình là người dân tộc Kinh/Hoa(29)

* Yếu tố từ trẻ

Những yếu tố thuộc về trẻ như: Giới tính, nơi sinh, cân nặng của trẻ khi sinh ra, sức khỏe của trẻ cũng là một trong số những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành bú sớm Trong một số trường hợp cũng cần trì hoãn thời gian bú mẹ do sức khỏe đứa trẻ

Trang 25

không đảm bảo như: trẻ suy hô hấp, dị tật bẩm sinh Theo một số nghiên cứu trên thế giới thì: Trẻ sơ sinh nam, cân nặng của trẻ lúc sinh ra thấp, trẻ sinh non tháng là những yếu tố gây cản trở trong việc thực hành bú sớm(30)

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (2011) về Điều tra đánh giá các mục tiêu

về trẻ em và phụ nữ cho thấy, trẻ sinh tại nhà có tỷ lệ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh cao hơn gấp 2 lần so với cá trẻ sinh ra tại các cơ sở y tế công lập hay tư nhân (64,0% so với 37,8%)(31)

Giới tính của trẻ cũng liên quan đến việc thực hành cho trẻ bú mẹ Theo dữ liệu

từ nghiên cứu theo chiều dọc được thực hiện ở hai khu ổ chuột của Nairobi của tác giả Elizabeth (2011) tại Keyna Nghiên cứu đã sử dụng thông tin về năm đầu tiên của

4299 trẻ sinh từ tháng 9/2006 đến tháng 1/2010 cho thấy, có mối liên quan giữa việc

bổ sung thức ăn cho trẻ trước 6 tháng tuổi của trẻ trai nhiều hơn trẻ gái(32)

* Yếu tố từ phía gia đình

Yếu tố gia đình cũng là một tác nhân ảnh hưởng đến việc bú sớm Trong đó phải kể đến sự chăm sóc từ phía gia đình Những bà mẹ có gia đình có thái độ tích cực

và kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ sẽ có khả năng NCBSMHT và cho con bú sớm cao hơn các bà mẹ khác

Theo nghiên cứu của Mai Anh Đào và cộng sự (2018) được thực hiện trên đối tượng là bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại 4 xã thuộc thành phố Nam Định cho thấy, các gia đình khuyên sản phụ cho con uống sữa bột sau sinh sẽ làm sản phụ không cho trẻ bú sớm sau sinh cao hơn 6,2 lần so với các sản phụ không được gia đình khuyến khích việc cho trẻ uống sữa bột Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, việc sản phụ nhận được sự hỗ trợ cho bú sau khi sinh từ nhân viên y tế sẽ làm tăng khả năng bú sớm ở trẻ gấp 3,8 lần so với những sản phụ không nhận được sự hỗ trợ này (19)

Theo nghiên cứu tiền cứu để xác minh ảnh hưởng của ông bà đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của Lulie (2005) tại Brazil trên 601 bà mẹ có trẻ sơ sinh bình thường sinh tại một bệnh viện đại học ở thành phố Porto Alegre bang Rio Grande do Sul cho thấy: Các gia đình cho trẻ uống thêm nước hoặc các loại nước trà làm tăng 2 lần nguy cơ mà trẻ không được bú sữa mẹ ở những tháng đầu tiên(33)

Trang 26

Theo nghiên cứu của Mueffelman (2014) tại Mỹ nhằm mục đích kiểm tra mối quan hệ giữa nhận thức của người mẹ về sở thích nuôi dưỡng trẻ sơ sinh của cha đứa

bé, bà và người phụ nữ có ý định cho con bú Nghiên cứu đã được thực hiện trên 4690

bà mẹ cho con bú, trong đó có 82,0% là người da trắng; 67,0% đã kết hôn; 66,0% có trình độ học vấn có trình độ đại học hoặc cao hơn cho thấy: Tỷ lệ có ý định nuôi con bằng sữa mẹ trong vài tuần sau sinh cao hơn ở những bà mẹ nhận thấy rằng cha của đứa trẻ hoặc bà ngoại thích nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ (so với việc cho con bú khác) (ở người cha OR=7,44;95% CI:6,20-8,92; ở bà ngoại OR=2,45; 95% CI:2,01-2,99)(34)

Ngoài ra, theo nghiên cứu của Rollins N.C và cộng sự (2016) cho thấy: Kinh tế cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ cho con bú sớm, với bà mẹ nghèo cho con bú lâu hơn bà mẹ giàu ở các nước đang phát triển và ngược lại ở các nước có thu nhập cao(35)

*Yếu tố chính sách y tế

Việc tư vấn trước sinh và sau sinh cho các bà mẹ cũng có khả năng ảnh hưởng tới việc cho bú sớm Trong nghiên cứu của Karen A Bonuck (2005) tại Mỹ trên 304 phụ nữ cho thấy: Các nhóm được tư vấn cho con bú 2 lần trước sinh có nhiều khả năng cho con bú qua hơn so với nhóm không được can thiệp(36) Theo điều tra của Abdulbasit (2013) tại Ethiopia trên 819 bà mẹ cho thấy: Các bà mẹ được tư vấn về nuôi dưỡng trẻ có khả năng cho trẻ bú sớm gấp 5,2 lần so với các bà mẹ không nhận được tư vấn(37)

Ngoài ra, chính sách nghỉ thai sản cũng được áp dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam Ở Việt Nam từ năm 2013, Chính phủ đã thông qua Bộ Luật lao động sửa đổi cho người mẹ có thể nghỉ 6 tháng trước và sau khi sinh con nhằm hỗ trợ bảo vệ và thúc đẩy việc nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và duy trì lâu hơn nữa Theo nghiên cứu cắt ngang của Rahmah Mohd Amin và cộng sự (2011) tại Malaysia thì những bà mẹ nghỉ thai sản trên 2 tháng thì sẽ có nguy cơ ngừng bú sữa mẹ gấp 5,2 lần những bà mẹ nghỉ thai sản dưới 2 tháng(38)

Theo nghiên cứu tại Na Uy cho thấy: chính phủ đóng 1 vai trò quan trọng trong việc giúp phụ nữ đạt được tỷ lệ cho con bú tốt với chính sách nghỉ thai sản là 42 tuần

Trang 27

với đầy đủ lương hoặc 52 tuần với 80% lương; linh hoạt bán thời gian dành cho phụ

nữ từ 2 tháng sau khi sinh với thu nhập bổ sung từ thai sản Sau khi trở lại làm việc phụ nữ có quyền được nghỉ từ 1- 1,5 giờ để trở về nhà và cho con bú(39)

Theo nghiên cứu cắt ngang hồi cứu đã sử dụng dữ liệu từ Khảo sát thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh của Bộ Y tế bang Texascủa tác giả Lisa A.Campbell và cộng sự (2014) cho thấy, phụ nữ được cán bộ y tế liên lạc trong thời gian trước và sau khi sinh

đẻ có nhiều khả năng cho con bú sớm so với phụ nữ không có liên hệ như vậy(40) Nghiên cứu của Julie Smith – Gagen và cộng sự (2014) ở Mỹ cũng đề cập đến việc có một khu vực riêng tư tại nơi làm việc để vắt sữa mẹ sẽ tăng 1,3 lần khả năng cho con

bú sữa mẹ(41)

Tại Việt Nam, vào tháng 11/2014 Bộ Y tế đã ban hành Quyết định BYT phê duyệt Hướng dẫn chuyên môn EENC cho các cơ sở y tế trên tất cả 63 tỉnh thành của Việt Nam Tuy nhiên việc thực hiện theo các quy trình này còn nhiều hạn chế nên việc thực hành đúng về bú sớm chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Sơn và cộng sự được tiến hành trên 82 bà mẹ sinh con tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên năm 2018, thì chỉ có 69,5% bà mẹ có thực hành đúng về cho con bú sớm(18)

4673/QĐ-Theo nghiên cứu của Nguyễn Kim Tuyết (2010) cho thấy: Đến 93,8% sản phụ trả lời rằng có nhận được nguồn thông tin về NCBSMHT Trong đó, các nguồn thông tin được nhận: Cán bộ y tế cơ sở là 84,7%; tivi là 80,9%; các hội thảo là 45,9%; truyền thanh là 41,6%; tờ rơi 23,9% ; internet là 21,1% và các nguồn khác là 1,4%(42) Điều này cho thấy rằng, việc tư vấn của cán bộ y tế có ảnh hưởng rất lớn đến việc cho bú sớm ở trẻ

Ngoài ra, việc quảng cáo quá mức về tác dụng của các loại sữa bột cũng

là 1 rào cản trong việc cho trẻ bú sớm sau sinh Theo nghiên cứu của Nguyễn Lân và cộng sự (2013) cho thấy có hơn 50% bà mẹ cho trẻ uống sữa công thức trước khi cho

bú lần đầu điều này là một rào cản trong việc thay đổi nhận thức của người nhà trong việc tư vấn hướng dẫn cho trẻ bú sớm (43)

* Yếu tố về dịch vụ y tế

Trang 28

Vai trò của các nhân viên y tế và các dịch vụ y tế nói chung cũng ảnh hưởng đến tập quán nuôi trẻ Trong các dịch vụ khám thai và đỡ đẻ đây là điều đặc biệt quan trọng bởi vì đối với nhiều bà mẹ sự tiếp xúc của họ với các dịch vụ này là sự tiếp xúc đầu tiên đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe và là lần quyết định bú sớm trong tương lai Nhân viên y tế đã trở thành một phần thực trạng xã hội có ảnh hưởng đến việc bú sớm Thực hành của nhân viên y tế đóng một vai trò quan trọng trong sự khởi đầu của việc bú sớm, trình độ của nhân viên y tế, việc đặt con nằm cạnh mẹ, có ảnh hưởng đến tỷ lệ và thời gian bú sớm(44)

Theo một nghiên cứu tiến cứu của tác giả DD AWi và cộng sự (2006) thực hiện trên 500 cặp mẹ - con có em bé đủ tháng khỏe mạnh sinh nở tại trường Đại học Port Harcourt tại Aiditat thì thấy hiện diện của cán bộ y tế có kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ đã thúc đẩy việc mẹ bắt đầu cho con bú sớm(45)

Theo nghiên cứu khảo sát cắt ngang được thực hiện từ tháng 1-2/2013 trên 396

bà mẹ được phỏng vấn ở Ethiopia thì những bà mẹ được chăm sóc sau sinh tại nhà từ 3 lần trở lên tăng 2,5 lần tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn(46)

Cũng theo tác giả Ayele Lenja và cộng sự (2016) sau khi tiến hành một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng đã được thực hiện từ tháng 2-4/2015 về “Các yếu tố quyết định thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đối với trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi ở huyện Offa, miền nam Ethiopia” được thực hiện trên 396 bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi sử dụng phương pháp lấy mẫu ngầu nhiên đã đưa ra khuyến nghị cần giáo dục, truyền thông cho toàn bộ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ(46) Theo nghiên cứu quan sát đa trung tâm được thực hiện từ tháng 1/2011 đến tháng 1/2012 thực hiện tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe của một số bệnh viện thuộc tỉnh Jane miền Nam Tây Ba Nha Nghiên cứu có sự tham gia của 520 phụ nữ cho thấy tỷ lệ bú sớm tăng 1,8 lần ở các bà mẹ tham gia chương trình giáo dục sức khỏe cho bà mẹ trong thời kỳ mang thai(47)

Ngoài ra, rào cản hay các yếu tố ảnh hưởng cũng có thể xuất phát từ chính các nhân viên y tế Việc thực hành bú sớm có thể không được thực hiện hoặc thực hiện không đạt do nhân viên y tế không tuân thủ đúng quy trình, nhân viên y tế chưa đủ trình độ, không có ý thức và trách nhiệm Một số bệnh viện thiếu hụt về nhân lực cũng

Trang 29

ảnh hưởng đến việc thực hiện này Bên cạnh đó sự hạn chế về cơ sở hạ tầng hay quá tải bệnh nhân cũng góp phần ảnh hướng tới việc thực hiện cho trẻ bú sớm của nhân viên y tế(48)

1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Thông tin chung

Trung tâm Sản Nhi là trung tâm thứ 10 trực thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ Trung tâm có cơ sở vật chất khang trang, được trang bị nhiều thiết bị đồng bộ và hiện đại theo mô hình Bệnh viện khách sạn giúp cho người bệnh thuộc các bệnh liên quan đến Sản và Nhi khoa được hưởng thụ những dịch vụ y tế chất lượng cao ngay tại tuyến tỉnh

Trung tâm chính thức đi vào hoạt động từ ngày 21/3/2018 với quy mô 500 giường bệnh, trong đó có 400 giường bệnh xã hội hóa và 100 giường bệnh bảo hiểm Trung tâm hiện nay có 465 cán bộ (theo số liệu cập nhật tháng 10/2020 thì có 154 bác

sỹ, 128 điều dưỡng, 60 nữ hộ sinh và 106 các bộ khác) công tác tại 26 khoa, phòng bao gồm có: 06 phòng chức năng, 04 khoa cận lâm sàng và 15 khoa lâm sàng và 01 khoa Khám và điều trị ngoại trú Hiện nay trung tâm đang triển khai 02 phòng điều trị ngoại trú với đầy đủ trang thiết bị để điều trị cho người bệnh ngoại trú của Sản và Nhi Hàng ngày trung tâm tiếp nhận trung bình từ 150-250 lượt người tham gia khám bệnh Số người bệnh nội trú trung bình từ 400-500 Kết quả đánh giá chất lượng của Trung tâm năm 2019 đạt điểm trung bình 4,7/5,0 theo Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Việt nam của Bộ Y tế phiên bản 2.0

Khối Sản là một khối lâm sàng trực thuộc Trung tâm Sản Nhi Bao gồm 05 khoa chuyên sâu như: Sản thường, Sản bệnh lý, Sản nhiễm khuẩn, Phụ ngoại - phụ nội tiết, Hỗ trợ sinh sản với tổng số 102 cán bộ, trong đó có 49 bác sỹ và 53 nữ hộ sinh Hiện nay khối Sản đang đi sâu vào từng chuyên khoa để đảm bảo cung cấp những dịch

vụ tốt nhất cho người bệnh và giảm thiểu gánh nặng cho tuyến trên

1.4.2 Tình hình hoạt động khám chữa bệnh của trung tâm

Trong thời gian vừa qua nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân đặc biệt là sự chỉ đạo của Sở Y tế Phú Thọ và đặc biệt là sự lãnh chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc trung tâm Trung tâm Sản Nhi đã đạt được nhiều

Trang 30

thành tựu to lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận Cơ sở vật chất được xây mới toàn bộ cùng với các trang thiết bị hiện đại, đồng

bộ để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Cùng với sự hỗ trợ từ các kỹ sư đến từ Nhật Bản, hiện nay khoa Hỗ trợ sinh sản của Trung tâm đang triển khai các kỹ thuật liên quan đến IVF để giúp người bệnh có thể làm IVF tại tỉnh để giảm thiểu tối

đa chi phí đi lại Đội ngũ nhân viên y tế thường xuyên được cử đi đào tạo nâng cao chuyên môn (trong năm 2019 trung tâm đã cử 15 bác sỹ đi học sau Đại học, cụ thể: 01 Tiến sỹ; 09 bác sỹ chuyên khoa 1; 05 thạc sỹ y học) nhằm nâng cao năng lực khám và điều trị cho người bệnh Chỉ tiêu khám chữa bệnh hầu hết đạt và vượt quá chỉ tiêu Tuy nhiên đầu năm 2020, do ảnh hưởng tình hình COVID – 19 trung tâm đã bị giảm lượng người bệnh đến khám và điều trị Trung tâm đã triển khai nghiêm túc các giải pháp phòng chống dịch bệnh, kết quả không có người bệnh, người nhà người bệnh và nhân viên y tế nào bị nhiễm bệnh COVID – 19 Số lượt khám bệnh: 33.391 lượt đạt 68.14%

so với kế hoạch Số người bệnh nội trú: 9.392 lượt đạt 55.25% so với kế hoạch; đa số các chỉ tiêu về xét nghiệm cận lâm sàng sụt giảm do người bệnh đến khám giảm

Kết quả thực hiện công tác khám chữa bệnh 9 tháng đầu năm 2020 như sau

Trang 31

STT Chỉ tiêu

Thực hiện

9 tháng đầu năm 2020

Kế hoạch

9 tháng đầu năm 2020

4.1 Số lượt người bệnh điều trị ngoại trú BHYT 8.552 11.250 4.2 Số lượt người bệnh điều trị ngoại trú thu phí trực tiếp 35.509 36.750

5.2 Số người bệnh điều trị nội trú thu phí trực tiếp 835 1.500

Trang 32

1.4.3.Tình hình triển khai các hoạt động về NCBSM, bú sớm tại Trung tâm

Ngay sau khi Bộ Y tế ban hành các tài liệu Hướng dẫn về chăm sóc thiết yếu trong và sau đẻ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh năm 2014, thì Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã ban hành các quy trình, quy định và tổ chức các buổi tập huấn để hướng dẫn nhân viên y tế khối Sản thực hiện đúng theo Hướng dẫn của Bộ y tế để tăng cường tỉ lệ

bú sớm của sản phụ sinh con tại khoa Sản của Bệnh viện

Quy trình chăm sóc thiết yếu sau sinh bao gồm 6 bước, trong đó cho trẻ da kề

da và bú sớm ngay sau sinh là một trong những bước can thiệp đơn giản và được thực hiện bởi các nữ hộ sinh Tuy nhiên tỷ lệ này tại Trung tâm còn chưa cao, và điều tra của phòng Điều dưỡng – QLCL thì nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu do sản phụ chưa hợp tác với NVYT trong quá trình nằm viện Ngoài ra, hiện nay sản phụ mổ đẻ tại trung tâm khá cao chính vì vậy việc thực hiện ENC tại các sản phụ này còn thấp =>

tỷ lệ chung về bú sớm của các sản phụ sinh con tại Trung tâm chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn

Trang 33

-Tình trạng sức khỏe

Yếu tố dịch vụ y tế

- Sự hỗ trợ của CBYT trong quá trình sản phụ nằm viện

- Dịch vụ chăm sóc trước sinh, sau sinh

- Nguồn nhân lực:

số lượng và chất lượng cán bộ tham gia vào NCBSM (trình độ, kinh nghiệm)

- Tư vấn, hướng dẫn của CBYT

Yếu tố chính sách y

tế

-Quy định của BV về

hỗ trợ NCBSM: chính sách thai sản; tư vấn hỗ trợ trước sinh, sau sinh;

- Tổ chức các lớp học nâng cao kiến thức cho sản phụ

- Quảng cáo của các hãng sữa

- Nguồn thông tin đại chúng

- Nguồn hỗ trợ: các chương trình tiếp thị

Thực hành cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng

Toàn bộ các sản phụ sinh con tại Trung tâm Sản Nhi, trong thời gian từ 01/4/2020 đến 30/6/2020

* Tiêu chuẩn lựa chọn

- Sản phụ có con đang ở cùng phòng với mẹ

- Sản phụ có sức khỏe bình thường

- Toàn bộ các sản phụ đẻ thường và đẻ mổ có làm ENC

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Sản phụ mắc các bệnh mãn tính như: tim, HIV, viêm gan B đang tiến triển

- Sản phụ ra viện nhưng có con sinh thiếu tháng hoặc có bệnh lý mà phải nằm tại khoa Sơ sinh

- Sản phụ mắc các bệnh tâm thần, câm điếc, không trả lời được nghiên cứu

- Sản phụ sinh con không làm ENC

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 11/2019 - 9/2020

- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Sản Nhi-Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ

Trang 35

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang phân tích kết hợp giữa định lượng và định tính (Định lượng đáp ứng mục tiêu 1 của nghiên cứu, định tính để đáp ứng mục tiêu 2 của nghiên cứu)

2.4 Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu

n: Cỡ mẫu tối thiểu

: Mức ý nghĩa thống kê

Z1-/2: Hệ số tin cậy Với mức ý nghĩa =0,05 thì Z1-/2 =1.96

p: Tỷ lệ bú sớm toàn quốc (Theo kết quả điều tra của Unicef & Tổng cục thống

- 03 NHS trưởng khoa: Sản thường, Sản bệnh lý, Sản nhiễm khuẩn

Và 08 sản phụ sau sinh tại 03 khoa: Sản thường, Sản nhiễm khuẩn, Sản bệnh lý Chia làm 02 nhóm, nhóm 1: 04 sản phụ đẻ thường trong đó có 02 sản phụ cho con bú

Trang 36

sớm và 02 sản phụ không cho con bú sớm Nhóm 2: 04 sản phụ đẻ mổ, trong đó có 02 sản phụ cho con bú sớm và 02 sản phụ không cho con bú sớm

2.5 Phương pháp thu thập số liệu: Thời gian thu thập số liệu từ tháng 4-6/2020

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng

Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên tài liệu khóa học

tham vấn nuôi con bằng sữa mẹ của Bộ Y tế (2003) và tài liệu Nuôi dưỡng trẻ nhỏ của

Bộ Y tế (2015) Bộ câu hỏi bao gồm các phần:

- Các thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Các thông tin về thực hành cho trẻ bú sớm sau sinh

- Các thông tin về kiến thức cho trẻ bú sớm sau sinh

- Các thông tin về tiếp cận dịch vụ y tế

- Các thông tin về tiếp cận truyền thông

- Các thông tin về điều kiện làm việc

Thử nghiệm bộ công cụ: Phiếu phỏng vấn được xây dựng và tiến hành thử

nghiệm trên 30 sản phụ tại 03 khoa Sản thường, Sản nhiễm khuẩn và Sản bệnh lý trước khi tiến hành thu thập số liệu định lượng

Tập huấn điều tra viên: Nhóm thu thập thông tin gồm 4 chuyên viên phòng

Điều dưỡng-QLCL - Trung tâm Sản Nhi

Tiến hành thu thập số liệu:

Từ danh sách được cung cấp các sản phụ đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, các điều tra viên đến các khoa vào buổi sáng sau khi đi buồng xong trình bày lý do, mục đích và ý nghĩa của việc tiến hành nghiên cứu để khoa nắm bắt được Sau đó điều tra viên phỏng vấn các sản phụ tại buồng bệnh

Trang 37

- Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình chăm sóc, hướng dẫn và

tư vấn cho sản phụ sau sinh về việc cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Những giải pháp để nâng cao chất lượng việc thực hiện quy trình

- Khai thác các yếu tố của Trung tâm liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ như: nguồn nhân lực, các quy trình giám sát,…

2.6 Các biến số của nghiên cứu (chi tiết phụ lục 1)

2.7 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

2.7.1 Các khái niệm

* Bú sớm: Là đứa trẻ được sinh ra và đưa vào bú vú mẹ trong vòng 1 giờ đầu

sau sinh

* NCBSMHT: chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, đồ

uống nào khác kể cả nước trắng trừ trường hợp phải bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc

* Sữa non: là sữa được tiết ra trong vài ngày đầu sau đẻ, sữa sánh đặc có màu

vàng nhạt hoặc trong, Sữa có chứa nhiều Protein, vitamin A, kháng thể hơn sữa trưởng thành

* Khuyến nghị: WHO và UNICEF khuyến nghị rằng trẻ em cần được

NCBSMHT trong 6 tháng đầu và sau đó dược ăn bổ sung đầy đủ, hợp lý cùng với bú

mẹ kéo dài tới 24 tháng tuổi và hơn nữa

2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá

* Kiến thức về thực hành bú sớm

Thực hành về bú sớm được đánh giá qua 01 câu hỏi - câu hỏi C1 Điểm tối đa là

1 điểm Câu trả lời đúng là: Trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Thực hành bú sớm được đánh giá là đạt nếu đểm thực hành là 1 điểm

* Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức bú sớm:

Tổng hợp kiến thức của các bà mẹ từ 3 nội dung: khái niệm về sữa non, thời gian cho trẻ bú sớm, nguy cơ nếu trẻ không được bú sớm Các tính điểm quy ra hệ số

Trang 38

là 16 điểm cho mỗi câu hỏi từ 1 đến 6 Điểm đạt được tính khi tổng điểm ≥ 50% tổng

số điểm tối đa

2.8 Quản lý và phân tích số liệu

2.8.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định tính:

Kiểm tra lại toàn bộ các phiếu điều tra được thu thập trong ngày, loại trừ các phiếu điền không đầy đủ

Các số liệu định lượng được xử lý thô, nhập máy tính 2 lần độc lập sau đó so sánh và sửa chữa lỗi nhập liệu trước khi tính toán các thông số của nghiên cứu

Sử dụng phương pháp thống kê sử dụng trong y sinh học để nhập liệu và phân tích số liệu với phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 18.0 Kết quả được chia thành 2 phần:

+ Phần thống kê mô tả: Lập bảng phân tích tần số của các biến số

+ Phần thống kê phân tích: Xác định các yếu tố ảnh hưởng giữa thực hành cho trẻ bú sớm với các yếu tố (nhân khẩu, số lần khám thai, tư vấn trước sinh, sau sinh ) bằng kiểm định

2.8.2 Xử lý thông tin nghiên cứu định tính:

Thông tin định tính được gỡ băng và mã hóa

Phân tích dữ liệu theo từng chủ đề và so sánh đối chiếu giữa các nguồn đối tượng cung cấp

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo Quyết định số 039/2020/YTCC-HD3 ngày 17/02/2020 của Hội đồng đạo đức - Trường Đại học Y tế công cộng

2.10 Sai số và các biện pháp khắc phục sai số

Trang 39

2.10.2 Phương pháp khống chế sai số

Đối với sai số thông tin: Bộ câu hỏi đƣợc thiết kế rõ ràng, thống nhất có sự góp

ý của các chuyên gia về NCBSM và thống kê

Đối với sai số nhớ lại: Có những câu hỏi đƣợc thiết kế theo dạng khác để kiểm tra

Trang 40

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng cho trẻ bú sớm của sản phụ sau sinh

*Một số thông tin chung

Bảng 3.1 Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=230)

(N= 230)

Tỷ lệ (%)

Trong 230 sản phụ được chọn vào nghiên cứu thì có 88,3% sản phụ có độ tuổi

từ 18 – 35 tuổi (trung bình 29,1 ± 5,1) Sản phụ có độ tuổi thấp nhất là 18 và sản phụ

Ngày đăng: 31/01/2021, 20:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w