Mối quan hệ giữa côn trùng ăn thịt CTAT và con mồi của nó: Dựa vào tập tính bắt mồi ăn thịt của CTAT ở các pha phát dục người ta chia làm 3 nhóm: a Nhóm 1: Các loài có kiểu sống ăn thị
Trang 1Côn trùng ăn thịt côn trùng ( sâu hại) là hiện tượng phổ
biển trong tự nhiên Chúng có vai trò quan trọng trong việc kiềm chế (điều hoà) sự sinh sản của sâu hại Vì thế
nó được sử dụng rộng rãi trong ĐTSH.
1 Mối quan hệ giữa côn trùng ăn thịt (CTAT) và con mồi
của nó:
Dựa vào tập tính bắt mồi ăn thịt của CTAT ở các pha phát
dục người ta chia làm 3 nhóm:
a) Nhóm 1: Các loài có kiểu sống ăn thịt ở pha trưởng thành.
- Thuộc nhóm này chủ yếu là các loài đa thực, số lượng
không lớn Phần lớn chúng đẻ trứng ở ngoài nơi ở của con mồi
- Đại diện có ở các họ: Bittacidae, Boreidae, Panorpidae
( Bộ Mecoptera) và bộ cánh cứng ngắn Staphilinidae,
Formicidae thuộc bộ cánh màng Hymenoptera.
Trang 2Một số hình ảnh về CTAT ở nhóm 1: Bộ Mecoptera
Trang 6Bộ cánh màng (Hymenoptera)
Trang 12b) Nhóm 2:
- Các loài có kiểu sống ăn thịt ở pha ấu trùng
- Ở pha trưởng thành chúng thường ăn mật hoa và phấn hoa, các cá thể cái đẻ trứng ơ nơi có nhiều con mồi là thức ăn của ấu trùng
- Đại diện cho nhóm này có các loài ruồi ăn thịt ở họ
Cecidomiidae, Syrphidae, Chamemyiidae và một số loài bọ mắt
vàng ( Chrysopa carnea).
Trang 13Ấu trùng thuộc họ cecidomiidae
Trang 14Một số hình ảnh vê côn trùng thuộc họ cecidomiidae
Trang 16Một số hình ảnh về côn trùng thuộc họ Syrphidae
Trang 20Đại diện thuộc họ Cecidomiidae
Trang 22Hình ảnh một số loài bọ mắt vàng ( chrysopa carnea )
Trang 24c) Nhóm 3:
- Các loài có kiểu sống ăn thịt ở cả pha ấu trùng và trưởng thành, là nhóm có nhiều loài nhất và đa dạng nhất.
- Có một số loài có thức ăn và nơi ở của 2 pha giống nhau.
Vd: Bọ rùa, nhiều loài cánh cứng họ Carbidae ( phong phú nhất).
- Có một số loài có thức ăn và nơi ở của 2 pha giống nhau.
Vd: Ở chồn chồn, pha ấu trùng sống dưới nước con mồi chủ yếu là bọ gậy, các động vật phù du Chuồn chuồn trưởng thành bắt mồi bay trong không khí.
- Ấu trùng Mòng sống trong đất cá thể trưởng thành sống và bắt mồi tự do.
Trang 25Bọ rùa giống Stethorus bắt các loài nhện đỏ hại cây.
Bọ rùa giống Hyperaspis, Rodolia, Chilocorus bắt rệp sáp.
Trong khi côn trùng họ Carabidae( bọ chân chạy), giống
Calosoma, Carabus thích các con mồi lớn hơn như sâu non,
nhộng ,các loài bướm Giống Bembidion, Calathus thích ăn rệp muội, côn trùng nhỏ Giống Ophonus Herpalus ăn tạp
vừa động vật, vừa thực vật
+ Một số loài có cấu tạo hình thái đặc biệt thích nghi với kiểu sống bắt mồi
vd: Bọ ngựa chân trước phát triển thành kiếm bắt mồi
Ấu trùng chuồn chuồn có cấu tạo kiểu phụ miệng đặc biệt để bắt mồi dưới nước…
Trang 26Hình ảnh về bọ rùa giống Rodolia
Trang 293 Những nhóm côn trùng ăn thịt chủ yếu:
- Các loài CTAT thuộc 189 bộ của 16 bộ côn trùng Bộ hai
đuôi, bộ ba đuôi; chồn chồn, cánh thẳng, bọ ngựa, cánh
da , bọ trĩ, cánh nữa, cánh cứng, cánh mạch, hai cánh…
- Có những bộ các loài đều ăn thịt như: Chuồn chuồn, bọ
ngựa, cánh mạch; Có nhiều họ các loài đều ăn thịt:
Reduviidae, Asilide, Anthocoridae…
- Đóng vai trò quan trọng nhất trong ĐTSH phòng trừ dịch hại
nông nghiệp là các CTAT thuộc các bộ: cánh nửa, bọ trĩ,
cánh cứng, cánh mạch, hai cánh và cánh màng
- Các họ quan trọng nhất là:
a) Họ bò rùa Coccinellidae( bộ cánh cứng Coleoptera):
+ Họ có ý nghĩa lớn trong ĐTSH và được sử dụng từ lâu
+ Thế giới có 4.500 – 5000 loại bọ rùa, ở nước ta có ít nhất 246
loài bọ rùa trong đó có 160 loài có ích( tài liệu của Hoàng Đức Nhuận, 1979)
Trang 30b) Họ bọ chân chạy Carabidae (thuộc bộ cánh cứng
Coleoptera)
- Có vai trò lớn trong ĐTSH và đã được sử dụng từ thời trung cổ
- Chúng có kích thước cơ thể nhỏ hoặc lớn( 2-25 mm) Có
nhiều loài ăn thịt ở pha ấu trùng và trưởng thành, thức ăn chủ yếu là các loài côn trùng
Trang 31Hình ảnh côn trùng thuộc họ chân chạy
Trang 37d) Họ ruồi ăn rệp Syrphyde ( Bộ 2 cánh):
- Sống kiểu ăn thịt chỉ ở pha ấu trùng, còn trưởng thành sống nhờ phấn và mật hoa
- Con mồi chủ yếu là các loài rệp muội
Mặc dù việc sử dụng các CTAT để phòng chống dịch hại không chiếm một tỉ số lớn như các loài CTKS nhưng trong thực tế nhiều trường hợp sử dụng CTAT