1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

27219 annex document cbt phase i 2 VN 120927

60 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 5,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp này gồm có: tổ chức các cuộc họp chính thức và không chính thức với các xã và các đối tượng tham gia vào cuộc điều tra chính quyền xã, trưởng thôn/bản, hộ gia đình, công

Trang 1

i

Thoải mái

(Make yourself at home.)

Phát triển Du lịch Cộng đồng

ở huyện Minh Hoá

Tài liệu Phụ lục cho các hoạt động trong Giai đoạn I và Tài liệu

cơ sở cho Đề xuất Hoạt động Giai đoạn II

(Quang cảnh ở bản Dộ và Tà Vơng, Trọng Hoá, nhìn từ phía đường)

Quảng Bình, ngày 25 tháng 8 năm 2012

Trang 2

ii

Mục lục

Mục lục ii

Danh sách Hình ảnh iv

Danh sách Bảng biểu v

1 Giới thiệu 1

2 Phương pháp điều tra 2

2.1 Các chuyến tham quan thực địa đầu tiên đến xã Trọng Hoá và Dân Hoá 2

2.2 Họp khởi động 3

2.3 Điều tra trưởng thôn và hộ gia đình 6

2.4 Điều tra công ty du lịch 7

2.5 Điều tra du khách 8

3 Điều tra Du lịch 9

3.1 Giới thiệu về huyện Minh Hoá 9

3.2 Dân Hoá 23

3.2.1 Dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ tầng 24

3.2.2 Khoảng cách và cách tiếp cận 25

3.2.3 Các điểm thu hút du lịch/ hoạt động 25

3.2.3 Các điểm thu hút du lịch/ hoạt động 26

3.2.4 Các hình ảnh từ Dân Hoá 29

3.2.5.Truyền thông thông tin 31

3.2.6 Khó khăn/ mối đe dọa tiềm năng 31

3.3 Trọng Hoá 32

3.3.1 Dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ 33

3.3.2 Khoảng cách và cách tiếp cận 34

3.3.3 Các điểm thu hút du lịch/ hoạt động 35

3.3.4.Các hình ảnh từ xã Trọng Hoá 37

3.3.5 Truyền thông thông tin 40

4 Văn hoá và Truyền thống 40

4 Văn hoá và Truyền thống 40

4.1 Các phong tục và truyền thống của dân tộc Khùa 40

Trang 3

iii

4.2 Các phong tục và truyền thống của dân tộc Mày 43

5 Kết quả điều tra các hộ gia đình ở thôn, bản 45

5.1 Đặc điểm của hộ gia đình và nhận thức về các hoạt động du lịch 45

5.2 Ăn uống 49

5.3 Nhà cửa 50

5.4 Cách ứng xử của du khách 52

5.5 Các hoạt động khác/ cuộc sống hàng ngày 53

6 Kết quả điều tra đối với Công ty du lịch 54

6.1 Điều tra mẫu 54

6.2 Cộng đồng và các hoạt động văn hoá ở Khu vực VQG PNKB 55

6.3 Kinh nghiệm về các hoạt động văn hóa/hoạt động cộng đồng 56

7 Các kết quả khảo sát khách du lịch 60

7.1 Hồ sơ khách du lịch 60

7.2 DLCĐ - Cảm nhận và thái độ 63

8 Danh sách liên hệ và thành phần tham gia điều tra /phỏng vấn (Sử dụng nội bộ) 66

Trang 4

iv

Danh sách Hình ảnh

Hình 5 Bản đồ tổng quan Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng 9

Hình 6 Bản đồ các địa điểm du lịch trong Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng (QHPTDLBV, 2010, trang 62) 21

Hình 7 Hình ảnh Đường HCM Đông và Quốc lộ 12A 23

Hình 8 Các hộ gia đình đã từng nghe nói đến du lịch từ trước tới nay 46

Hình 9 Các hộ gia đình sẵn lòng đón Hình 10 Các hộ gia đình có chỗ 48

Hình 11 Ví dụ về một sàn nhà của một ngôi nhà phổ biến ở Trọng Hoá hoặc Dân Hoá 51

Hình 12 Lý do tại sao du khách đến tham quan Khu vực VQG PNKB 61

Hình 13 Các địa điểm du khách nghỉ qua đêm trước khi đến Khu vực VQG PNKB 61

Hình 14 Các phương tiện đi lại đến PNKB 62

Hình 15 Du khách nhận thức được tầm quan trọng về các tiêu chí lựa chọn khi ở tại nhà dân 64

Hình 16 Du khách nhận thức được tầm quan trọng về các hoạt động được lựa chọn khi ở tại nhà dân 64

Hình 17 Số đêm du khách ước tính nghỉ qua đêm ở nhà dân 65

Trang 5

v

Danh sách Bảng biểu

Bảng 1 Kế hoạch làm việc Giai đoạn I 2

Bảng 2 Kế hoạch phỏng vấn trưởng thôn và hộ gia đình 6

Bảng 3 Danh sách các công ty du lịch tham gia vào cuộc điều tra 8

Bảng 4: Thu thập số liệu của điều tra du khách 8

Bảng 5 Dân Hoá: Thông tin tổng quan về dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ tầng 24

Bảng 6 Trọng Hoá: Tổng quan về dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ tầng 33

Bảng 7 Đặc điểm hộ gia đình (mẫu) 45

Bảng 8 Các hoạt động tạo thu nhập chính của các hộ gia đình tham gia điều tra 49

Bảng 9 Các tiêu chí lựa chọn của các công ty du lịch đối với các hoạt động nghỉ lại nhà dân/ du lịch cộng đồng 56

Bảng 10 Những khó khăn các công ty du lịch gặp phải khi tổ chức hoạt động nghỉ lại nhà dân 57

Bảng 11 Các tác động tiêu cực có thể phát sinh đối với các hoạt động du lịch cộng đồng tại cộng đồng địa phương 58

Bảng 12 Các đặc điểm của khách du lịch được khảo sát mẫu 60

Bảng 13 Lý do tại sao du khách không nghỉ qua đêm ở PNKB 62

Bảng 14 Đối tác khi đi du lịch 63

Trang 6

1

1 Giới thiệu

Tài liệu phụ lục này là tài liệu bổ sung cho báo cáo về các hoạt động Du lịch Cộng đồng Giai đoạn II của GIZ ở các xã Trọng Hoá và Dân Hoá, thuộc khu vực vùng đệm phía tây VQG PNKB, huyện Minh Hoá Tài liệu cung cấp cho độc giả những nội dung chi tiết về các hoạt động đã được thực hiện và các phương pháp được áp dụng để thu thập thông tin Các phương pháp này gồm có: tổ chức các cuộc họp chính thức và không chính thức với các xã và các đối tượng tham gia vào cuộc điều tra (chính quyền xã, trưởng thôn/bản, hộ gia đình, công ty du lịch, du khách) cũng như sự tán thành của họ Thảo luận về các kết quả và đưa ra kết luận/ kế hoạch hoạt động tiếp theo sẽ được trình bày trong tài liệu đề xuất hoạt động cho Giai đoạn II của quá trình Phát triển DLCĐ

Đề cương Phụ lục:

 Danh sách các cuộc phỏng vấn đã thực hiện và các phiếu câu hỏi điều tra được thu thập từ các nhóm đối tượng tham gia, trong đó có chính quyền xã, các

trưởng thôn, các hộ gia đình và các công ty du lịch

 Tham quan xã Trọng Hoá và Dân Hoá và các phương pháp đã được áp dụng trong quá trình điều tra, khảo sát

 Điều tra thí điểm ngành hàng thủ công

 Phỏng vấn/ những phát hiện điều tra, khảo sát làm cơ sở để điều tra du lịch (mặc

dù không toàn diện), bao gồm các địa điểm du lịch hấp dẫn, cơ sở hạ tầng/ cách tiếp cận, truyền thông, các mối đe dọa tiềm năng

 Điều tra du lịch:

o Các địa điểm du lịch hấp dẫn/ các hoạt động

o Cách tiếp cận/ cơ sở hạ tầng

o văn hoá: phong tục, truyền thống của dân tộc Khùa

o những hình ảnh gây ấn tượng đầu tiên

Trang 7

2

2 Phương pháp điều tra

Kế hoạch thu thập số liệu (trong bảng sau) được thực hiện từ giữa tháng 7 đến giữa/cuối tháng 8:

Bảng 1 Kế hoạch làm việc Giai đoạn I

25.7 Thứ 4 Hội thảo tại Hà Nội

26.7 Thứ 5 Tham quan thực địa xã Dân Hoá: Hà Vi và Ba Looc,

Trọng Hoá: Pa Choong và Ra Mai: điều tra thôn, bản + hộ gia đình

27.7 Thứ 6

30.7 Thứ 2

31.7 Thứ 3 Tham quan thực địa xã Trọng Hoá: Dộ, Sy, Cha Cáp, Lòm

K.Chom: điều tra trưởng thôn và các địa điểm cảnh quan hấp dẫn

1.8 Thứ 4

2.8 Thứ 5 Hoàn tất thu thập số liệu đối với điều tra các công ty du lịch

3.8 Thứ 6 Đánh giá điều tra du khách

6.8 Thứ 2 Điều tra du khách ở Động Thiên Đường và Trung tâm Du kịch

Phong Nha

7.8 Thứ 3

8.8 Thứ 4

9.8 Thứ 5 Tham quan thực địa xã Dân Hoá: K’Ai, K’Vang, Bãi Dinh, (Cha

Lo): điều tra trưởng thôn và các địa điểm cảnh quan hấp dẫn

17.8 Thứ 6 Bắt đầu viết tài liệu phụ lục

Chú ý: các ngày tháng trong tài liệu này, ví dụ tháng 5, đều tính theo âm lịch chứ không phải Dương lịch Để chuyển đổi ngày tháng, xem trang web http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/JavaScript/vncal_js.html? yy=2012&mm=8

2.1 Các chuyến tham quan thực địa đầu tiên đến xã Trọng Hoá và Dân Hoá

Ngày 13 tháng 7, tổ chức chuyến tham quan đầu tiên đến xã Trọng Hoá (La Trọng 2) Mục đích của chuyến đi này là giới thiệu các hoạt động phát triển DLCĐ (và thủ công)

đã được đề xuất cho các cán bộ xã và nhằm thu thập các ý kiến phản hồi đồng thời giới thiệu các thành viên trong nhóm công tác với chính quyền địa phương Cụ thể như sau:

Trang 8

3

1) Họp với chính quyền cấp xã:

Xã Trọng Hoá (tại thôn La Trọng 2):

o Thành phần tham gia: đ/c Tiên (Chủ tịch UBND xã), ông Hô Mi (Phòng Văn hoá xã hội UBND) + Bắc (Phó chủ tịch UBND xã)

o Lên kế hoạch họp về DLCĐ/ thủ công chính cho ngày 18.7 tại Văn phòng UBND xã với sự tham gia của đại diện xã Trọng Hoá và Dân Hoá, giới thiệu về phát triển DLCĐ và nghề thủ công cũng như kế hoạch hoạt động

o Phát phiếu câu hỏi điều tra cho chính quyền địa phương để họ có thời gian hoàn thành phiếu câu hỏi

Xã Dân Hoá (tại bản Y-Leeng):

o Thành phần tham gia: Thư ký UBND xã và ông Tuân

o Thông báo kế hoạch làm việc

o Phát phiếu câu hỏi điều tra cho chính quyền địa phương để họ có thời gian hoàn thành phiếu câu hỏi

2) Điều tra thí điểm

 Tiến hành điều tra thí điểm về nghề thủ công (trong đó có các hoạt động DLCĐ) tại ba hộ ở thôn La Trọng 2, với sự hỗ trợ của chị Toàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ; các cuộc điều tra đầu tiên cho thấy sự ủng hộ nhiệt tình đối với sự tham gia trong DLCĐ; rõ ràng rằng các đối tượng tham gia không hiểu thuật ngữ “du lịch” hay “du lịch cộng đồng” Nhóm công tác giải thích các thuật ngữ đó cho các đối tượng

 Điều tra thí điểm một trưởng thôn, là ông Bình, trưởng thôn La Trọng 2

Ngày hôm sau tiến hành điều chỉnh một vài nội dung của cuộc điều tra với trưởng thôn (xem phần 2.3) Tương tự, các cuộc điều tra với chính quyền xã và trưởng thôn cũng được thực hiện như vậy, ngoại trừ cuộc điều tra với chính quyền xã nhằm mục đích thu thập thông tin tổng quan về tất cả các thôn, bản ở mỗi xã (VD: hộ gia đình, dân số, dân tộc, tiếp cận nguồn nước, điện và cách đi lại)

2.2 Họp khởi động

Ngày 18 tháng 7, đã tổ chức cuộc họp đầu tiên tại Văn phòng UBND xã ở thôn La Trọng 2, giới thiệu chính thức các hoạt động phát triển DLCĐ và hàng thủ công sắp tới, giới thiệu các thành viên trong nhóm công tác cũng như thu thập các ý kiến phản hồi và thông tin đầu vào về các hoạt động sắp tới của các đại diện cấp xã và cấp thôn, bản

Cuộc họp cũng đề cập đến danh sách các bên liên quan, gồm có: lãnh đạo và cán bộ xã, trưởng thôn, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên ở hai xã Trọng Hoá và Dân Hoa, ông Xuân (Giám đốc Xí nghiệp sản xuất hàng thủ công, Đồng Hới), ông Thành (Ban Điều phối dự

án tại VQG), Tiến sĩ Jens Kallabinski (Cố vấn trưởng Hợp phần GIZ) và 5 cán bộ của

Trang 9

4

Hợp phần GIZ Tổng số đại biểu tham gia cuộc họp gồm có 35 người, trong đó có 13 đại biểu của xã Trọng Hoá và 12 đại biểu của xã Dân Hoá cùng với 2 đại diện của Ban Điều phối huyện tại Minh Hoá

Nội dung của cuộc họp như sau:

Nội dung làm việc buổi sáng:

 Đồng chí Chủ tịch UBND xã Trọng Hoá giới thiệu và phát biểu khai mạc cuộc

kế hoạch hoạt động trong tương lai cho ngành hàng thủ công

 Ông Châu và cô Anna trình bày về du lịch và phát triển DLCĐ, những ý kiến đề xuất về kế hoạch hoạt động trong tương lai

 Ông Tường giới thiệu Xí nghiệp sản xuất hàng thủ công Vạn Xuân

 Các đại biểu tham gia đóng góp ý kiến về các bài trình bày, đặt câu hỏi và trả lời

 Thảo luận nhóm về phát triển nghề thủ công và DLCĐ (ấn tượng đầu tiên, các mối đe dọa/ cơ hội)

Phiên họp buổi sáng đặc biệt nhằm mục đích thu thập ý kiến phản hồi về các hoạt động phát triển hàng thủ công mỹ nghệ và DLCĐ ở hai xã, bao gồm các thông tin về những

ấn tượng đầu tiên và giải thích/ làm rõ về các thuật ngữ/ ý tưởng cần thiết của các đại biểu tham gia cũng như các mối quan tâm và sự ủng hộ và động lực tham gia và hỗ trợ trong tương lai

Các ý kiến góp ý như sau:

Tổng quan:

 Cấn kết hợp sản xuất hàng thủ công và phát triển DLCĐ nhằm tăng cường các

hoạt động cho hai lĩnh vực và chia sẻ các nguồn lực

 Cần trưng bày các sản phẩm thủ công (và phương thức sản xuất các sản phẩm đó) cho du khách DLCĐ và cũng nên thực hiện điều này nhằm để khách có thể

mua trực tiếp

 Có rất nhiều thác nước đáng để du khách tham quan, vì vậy nên tổ chức các chuyến đi dã ngoại, du khách cũng rất thích thú tìm hiểu về các truyền thống và

phong tục đám cưới

 Khái niệm DLCĐ một phần vẫn chưa rõ ràng, chưa đưa ra ví dụ thực tế

 Trước đây, một số đại biểu tham gia đã nghe nói về khái niệm DLCĐ, một đại biểu đưa ra ví dụ rằng hiện nay “người thành phố” muốn trải nghiệm cuộc sống

ở vùng quê, DLCĐ trở thành một phần trong đời sống hàng ngày của họ, cùng

Trang 10

 Đề xuất tham quan học tập tại Sapa

 Cần có sự hỗ trợ/ tư vấn khi thực hiện các hợp đồng với các công ty du lịch

Xây dựng kế hoạch:

 Chính quyền địa phương nhấn mạnh rằng có thể nảy sinh các vấn đề về lập kế hoạch khi thực hiện Kế hoạch Xây dựng nông thôn mới: cần kết hợp tốt hơn các

hoạt động DLCĐ với đồng bào dân tộc thiểu số

 Làm rõ và đơn giản hoá các thủ tục hành chính: VD: cấp giấy phép ở khu vực biên giới

 Cần có người hướng dẫn giới thiệu cho du khách về cuộc sống và phong tục truyền thống của địa phương, người đó có thể là trưởng thôn hoặc một người dân biết nói tiếng Kinh; cần có hướng dẫn viên du lịch đi cùng với du khách để phiên dịch cho cả hai bên

 Nhóm công tác cần hiểu được công tác lập kế hoạch rõ ràng, VD: có bao nhiêu

hộ tham gia, năng lực cần có, sản xuất sản phẩm gì, vận chuyển và cách thức tiếp cận, điện lưới, nhà tắm/ nhà vệ sinh, nếu có thể thì nên đưa vào trong Quy hoạch tổng thể, tuy nhiên: các đại biểu đều nhất trí DLCĐ rất khả thi

 Cần có chương trình quảng cáo (trên báo chí hoặc trang web)

 Lựa chọn các thôn, bản cần phải dựa vào các tiêu chí sau: nhà sàn truyền thống +

ẩm thực + sản phẩm thủ công

Các mối quan tâm:

 Liệu du khách sẽ thưởng thức các thức ăn giống nhau Dộ người dân địa phương chế biến hay không

 Rào cản ngôn ngữ giữa du khách và người dân

 Du khách có đi lại trên các tuyến đường mà các đối tượng khai thác gỗ trái phép hay đi

Nội dung làm việc buổi chiều:

 Phỏng vấn xã về phát triển DLCĐ: Châu/ Anna

 Tập huấn cho giảng viên: phương pháp thực hiện điều tra về sản phẩm thủ công đối với các hộ gia đình: Ngọc Anh/ Thịnh

Các ý kiến phản hồi của chính quyền địa phương về các hoạt động DLCĐ được đề xuất trong các cuộc phỏng vấn như sau:

 Sự tham gia của bộ đội biên phòng và xã cũng như cần có sự tham gia của Vườn

Quốc gia (và các cơ quan đại diện của Vườn)

Trang 11

6

 DLCĐ phải được xem là một hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong Kế hoạch

Cộng đồng

 Các thôn, bản đề xuất ở xã Dân Hoá: Bãi Dinh, Hà Vi, K-Ai và Y-Leeng

 Các thôn, bản đề xuất ở xã Trọng Hoá: Lòm K.Chom/ Pa Choong, Ra Mai, Ka Óoc và Ông Tú

2.3 Điều tra trưởng thôn và hộ gia đình

Tổng cộng đã thực hiện 9 cuộc phỏng vấn không chính thức với các trưởng thôn và điều tra 9 hộ gia đình từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8 (Bảng 2; Hình 1, 2) Ngoài ra, các câu hỏi liên quan đến phát triển DLCĐ đã được bổ sung vào trong phiếu điều tra về sản phẩm thủ công Dộ cán bộ xã thực hiện tại hơn 300 hộ gia đình ở xã Trọng Hoá và Dân Hoá trong tháng 7 và tháng 8

Các chuyến tham quan thực địa của nhóm công tác có sự tham gia của ông Tiến (Phó chủ tịch UBND xã Dân Hoá, Phòng Văn hoá xã hội) ngày 26 và ngày 27 tháng 7 có ông Hồ Sy San và Trần Văn Trúng (‘cán bộ khuyến nông’) và ông Tuân (phụ trách xã Ba-Ooc) Ông Tuân tham gia cùng với nhóm trong suốt chuyến tham quan thực địa lần

2 vào ngày 31.7 và 1.8 Ông Khà tham gia với nhóm đi đến K’ai, Bãi Dinh và Cha Lo vào ngày 9 và 10 tháng 8

Bảng 2 Kế hoạch phỏng vấn trưởng thôn và hộ gia đình

Thôn, bản Trưởng thôn Hộ gia đình tham

gia

Ra Mai (phỏng vấn người dân

tại gia đình ông Khăm) Ông Khăm

Trang 12

sơ bộ về hộ gia đình tham gia (cơ sở hạ tầng)

Trong quá trình phỏng vấn nảy sinh một vấn đề lặp đi lặp lại, đó là các đối tượng tham gia phỏng vấn không biết cách phân biệt từ “đẹp” Khi người phỏng vấn hỏi về các điểm thu hút du lịch xung quanh thôn, bản đáng để tham quan thì dường như họ không biết “điểm thu hút du lịch là gì” và tại sao du khách lại thấy cảnh quan và thôn, bản đó

“đẹp” hoặc “đồ ăn” và “văn hoá thôn, bản” đó thú vị

Trong quá trình phiên dịch cuộc điều tra (đặc biệt là điều tra về sản phẩm thủ công Dộ cán bộ xã thực hiện), đôi khi nảy sinh những khó khăn khi dịch câu hỏi điều tra từ tiếng Kinh sang tiếng Khùa hoặc tiếng Mày và ngược lại Điều này không phải Dộ thành kiến khi phiên dịch mà Dộ khi người phiên dịch hỏi người được phỏng vấn thì người được phỏng vấn hỏi lại xem họ hiểu câu hỏi như vậy đã đúng chưa, và trả lời như vậy đã được chưa

Đa số cuộc điều tra về du lịch đều được thực hiện thông qua các cuộc phỏng vấn với chính quyền xã và trưởng thôn Vì vậy, những phát hiện/ kết quả được tách riêng ra

2.4 Điều tra công ty du lịch

Các công ty Du lịch đã được tiếp cận lần đầu tiên trong “Hội thảo Du lịch phân công” vào ngày 25 tháng 7 tại Hà Nội Các tổng giám đốc, trưởng phòng và đại diện các công

ty du lịch đã được giới thiệu ngắn gọn về chủ đề/ khu vực dự án và tiến độ hiện tại Ngoài ra, phát bản cứng câu hỏi điều tra và yêu cầu các đại biểu tham dự hội thảo cung cấp địa chỉ email để cán bộ dự án gửi bản mềm trong những ngày tới Hai ngày sau, có

10 email đã được gửi đến các địa chỉ liên lạc trực tiếp để hoàn chỉnh phiếu câu hỏi, đồng thời gửi thư nhắc nhở cho những người chưa trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra sau 5 ngày Tổng cộng thu thập được 8 phiếu câu hỏi trong khoảng thời gian từ 30.7 đến 7.8, trong đó có một phiếu câu hỏi phỏng vấn trực tiếp với Công ty du lịch Oxalis Adventure Tours ở Phong Nha (Bảng 3)

Trang 13

8

Bảng 3 Danh sách các công ty du lịch tham gia vào cuộc điều tra

Công ty du lịch Địa điểm

Handspan Travel InDộchina Hà Nội

Công ty TNHH Thương mại và Du lịch

Xem biểu mẫu điều tra ở Hình 4

Có một hạn chế nhỏ ở câu hỏi số 3 trong phiếu điều tra (“nhóm đối tượng mục tiêu của công ty là ai? Có một chút nhầm lẫn về tỷ lệ được trình bày trong bảng câu hỏi, tức là

có nên đánh giá từng hoạt động riêng lẻ đối với khách trong nước và khách quốc tế hay không (100% cho mỗi loại khách), có nên cộng từng cột thành 100% không hay toàn bộ bảng sẽ cho kết quả là 100%

2.5 Điều tra du khách

Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 8, tổng số phiếu điều tra du khách thu thập được là 48 phiếu tại Trung tâm Du lịch Phong Nha cũng như tại cửa Động Thiên Đường (Bảng 4) Cuộc điều tra được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp, ngoại trừ một số bất ngờ là khi cán bộ phỏng vấn duy nhất nói tiếng Anh tiếp cận với người không biết tiếng Anh Cán bộ dự án chủ yếu giới thiệu ngắn gọn cho những người được phỏng vấn

và phát phiếu câu hỏi cho họ Cán bộ phỏng vấn thứ hai hỗ trợ dịch phần thứ 3 của phiếu điều tra về các sản phẩm hàng thủ công và các hình ảnh của xã Trọng Hoá và Dân Hoá

Bảng 4: Thu thập số liệu của điều tra du khách

Ngày Địa điểm Khách quốc tế (n) Khách nội địa (n)

Trang 14

9

thập được rất ít Mặc dù điều này cho thấy du khách “bình thường” cân bằng với du khách nội địa và khách quốc tế đến khu vực VQG nhưng đây không phải là con số đầy

đủ về câu trả lời để đưa ra kết quả Do vậy, không có sự chênh lệch giữa khách nội địa

và khách quốc tế trong phần kết quả mà chỉ đưa ra ý kiến nhận xét đối với những kết quả có sự khác biệt

3 Điều tra Du lịch

3.1 Giới thiệu về huyện Minh Hoá

Minh Hoá là một trong ba huyện bao quanh Vườn hoặc khu vực vùng đệm Khu vực mở rộng của VQG (31.070ha) nằm trong ranh giới các xã Thượng Hoá và Hoá sơn, một phần của huyện Minh Hoá (Hình 5)

Hình 1 Bản đồ tổng quan Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng

Từ trước đến nay, lượng du khách đến khu vực vùng đệm huyện Minh Hoá rất hạn chế Mặc dù số lượng người qua cửa khẩu biên giới từ phía Lào đã tăng lên trong những năm gần đây, nhưng chỉ có một số ít khách du lịch hoặc tour du lịch bị lạc đường và đi lên các địa điểm thuộc hai xã Dân Hóa hoặc Trọng Hóa, nên chỉ có một số ít khách du lịch

bị kẹt lại ở các xã này và ở lại qua đêm Tuy nhiên, các xã này có nhiều cảnh quan thiên nhiên, lịch sử và nền văn hóa phong phú của dân tộc thiểu số, Do vậy luôn sẵn sàng để đón khách du lịch Phần lớn huyện Minh Hóa chưa được ngành du lịch khai thác mặc dù huyện có sức hấp dẫn của mình, chủ yếu là Dộ khoảng cách của huyện đến các địa điểm chính của VQG PNKB quá xa xôi Tuy nhiên, có một số điểm tham quan dọc theo con đường đi Dân Hóa và Trọng Hóa kéo dài khoảng 90km, khoảng 60-75 phút lái xe về phía bắc bằng xe ô tô, càng đi về phía Bắc, các địa điểm càng có giá trị du lịch lớn hơn Hơn nữa, những điểm hấp dẫn này trải dài dọc theo tuyến đường, tạo ra những cơ hội tốt để kết hợp với các tuyến du lịch hoặc các hoạt động du lịch khác nhau

Do vậy, một số điểm du lịch hấp dẫn chính đã được thiết lập trên tuyến đường đi từ các địa điểm chính của Vườn đến huyện Minh Hoá (xem QHPTDLBV, 2010)

Các khu vực thí điểm

Trang 15

21 Hình 2 Bản đồ các địa điểm du lịch trong Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng (QHPTDLBV, 2010, trang 62).

1

2

3

4

Trang 16

22

Sân bay Khe Gát:

Sân bay Khe Gát nằm dọc Quốc lộ 15, cách thị trấn Phong Nha khoảng 20 phút lái xe Khu vực này là đường băng trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Hiện nay, dọc tuyến đường này không có cơ sở hạ tầng du lịch nào, Do đó điều quan trọng là phải hỗ trợ hướng dẫn viên du lịch tìm hiểu về lịch sử của đường băng này

Hang Chà Nòi:

Hang Chà Nòi nằm gần Quốc lộ 15 Có thể dễ dàng tiếp cận thông qua đường mòn từ đường Quốc lộ Mất khoảng 45 phút đi bộ là có thể đến cửa hang Hang Chà Nòi cách thị trấn Phong Nha và thôn Chày Lập khoảng 45 phút lái xe Ngoài ra, QHPTDLBV (2010) nhấn mạnh môi trường và hệ thống hang động này rất nhạy cảm và cần xây dựng các nội quy/ quy định cho du khách và các công ty du lịch để họ tuân theo Hiện tại, khu vực này chưa có nhà vệ sinh (QHPTDLBV, 2010, trang 195)

Hệ thống Hang Tú Làn:

Hệ thống Hang Tú Làn cách thị trấn Phong Nha khoảng 70 km về phía tây bắc, thuộc xã Tân Hoá Hang này không thuộc khu vực vùng đệm, nhưng các dãy núi của thung lũng này tạo thành 4 hang động trong khu vực và một thác nước nhỏ và dòng sông ngầm làm cho thung lũng này trở thành điểm du lịch hấp dẫn Hiện tại, công ty du lịch Oxalis Adventure Tours tổ chức các chuyến tham quan hai ngày và ba ngày đến thung lũng này, cùng với các công ty du lịch khác được đề cập ở trên cũng có khả năng tổ chức tham quan Tuy nhiên, trên thực tế các hoạt động này có được hiện hay không thì không

ai biết Hiện tại, khu vực này chưa có nhà vệ sinh

Thác Mơ:

Thác Mơ nằm trên tuyến đường thuộc Quốc lộ 15 từ Khe Ve đến khu vực Phong Nha - Đường HCM Bãi đỗ xe để đi bộ theo đường mòn đến Thác Mơ nằm ngoài đường HCM Thác Mơ cách thị trấn Phong Nha khoảng 45 phút lái xe, cách bãi đỗ xe khoảng

10 phút đi bộ Hiện chưa có hoạt động du lịch nào ở đây Hiện tại, người dân địa phương thường đến Thác Mơ để giải trí và câu cá Các hoạt động phát triển du lịch chính sẽ là bơi lội, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên và dã ngoại (QHPTDLBV,

Trang 17

23

Dưới đây là các hình ảnh về cảnh quan/ tuyến đường dọc Đường HCM Đông và Quốc

lộ 12A đi Minh Hoá

Hình 3 Hình ảnh Đường HCM Đông và Quốc lộ 12A

3.2 Dân Hoá

Xã Dân Hóa cách thị trấn Phong Nha khoảng 75 phút lái xe ô tô Đó là xã cực tây của

huyện Minh Hóa và bao gồm 12 thôn bản/670 hộ gia đình (hầu hết đều nằm dọc theo

hoặc gần Quốc lộ 12A) Dân số của xã khoảng 3.300 người Dân Hoá là một xã có

100% là người dân tộc, tức là tất cả các thôn, bản chỉ toàn là các “hộ gia đình người dân

tộc thiểu số” Đa số họ là người dân tộc Brù – Vân Kiều (nhóm dân tộc Khùa; ~50%) và

dân tộc Chứt (nhóm Mày – ~35% và Sách -10%)

Trang 18

24

3.2.1 Dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ tầng

Bảng 5 Dân Hoá: Thông tin tổng quan về dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ tầng

Số hộ Dân số Đi bằng ô tô Dân tộc thiểu số Điện lưới Nước 1 Mạng di động

Thời gian thành lập thôn, bản

1 Các thôn bản thường có 6-7 vòi nước công cộng, bao gồm cả hệ thống đường ống, các thôn, bản còn lại thường dùng nước từ sông trên thượng nguồn (không

có hệ thống đường ống hoặc hệ thống đường ống bị hỏng); trong tháng 4- tháng 7, tình trạng thiếu nước có thể xảy ra do mực nước giảm, tuy nhiên, có một

vòi nước công cộng trong thôn, bản luôn luôn có nước

2 Vào mùa mưa trong tháng 8, rất khó đi qua cầu từ Bãi Dinh đến K’Ai và K’Vang vào một số ngày

3 Hiện vòi nước công cộng đã bị hỏng, sử dụng nước suối, đi bộ khoảng 300-400m

4

Có kế hoạch nâng cấp đường nhưng xã thiếu kinh phí

5 Hiện tại nước được lấy từ các sông suối do máy bơm bị hỏng

6 Tỉnh đã có kế hoạch tái định cư thôn này nhưng họ từ chối chuyển đi chỗ khác

7 Tình trạng thiếu nước diễn ra trong tháng 3-7

8 Thôn, bản này được tái định cư ở phía trên thượng nguồn do họ thích ở dọc theo tuyến đường

Trang 19

25

3.2.2 Khoảng cách và đường giao thông

Từ các thôn, bản được lựa chọn đến bản Y-Leeng (trung tâm xã):

Khoảng cách km Đi bằng ô tô Đi bằng xe

Mày Đi bộ Giao thông đi lại trong năm

Ba Looc ~2km ~15 phút ~20 phút Đi bộ quanh năm, khó tiếp cận bằng xe Mày/ ô tô trong các tháng 7 + 8,

đường liên thôn sắp được nâng cấp (hiện tại đường đi rất dốc và lầy lội)

Bãi Dinh ~7km ~20 phút

K’Ai/K’Vang ~8,5km ~25 phút Con đường có từ năm 2009, khó tiếp cận trong những ngày nhất định trong

mùa mưa, khó đi qua cầu (xem ảnh)

 Có thể đi bằng xe máy và ô tô

Ba Loóc: có đường liên thôn, hơi khó khăn khi đi dọc

tuyến đường, có các đoạn đường gồ ghề lầy lội

Bãi Dinh/ đường Quốc lộ: khó đi

thẳng đến địa điểm này sau trời mưa

lớn Đi lại bình thường vào mùa hè

Trang 20

26

3.2.3 Các điểm thu hút du lịch/ hoạt động

Thôn, bản Điểm thu hút du lịch/ hoạt động

Ba Looc

Dọc theo sông Tuyến đường mòn đến một cái hang: đi bộ khoảng 2 ngày Đến đỉnh núi: đi bộ khoảng 4 tiếng

Bãi Dinh  Di tích lịch sử Bãi Dinh ở thôn Bãi Dinh, đánh dấu trận chiến quan trọng trong lịch sử chiến tranh chống Mỹ

Cha Lo

chiến tranh chống Mỹ, nằm giữa Bãi Dinh và Cha Lo (cách mỗi thôn khoảng 6km), đi bộ mất khoảng 1 tiếng mới tới được cửa hang, băng qua 1 con sông (không đi được hoặc khó đi trong mùa mưa), đứng trên đường có thể nhìn thấy cửa vào hang, cửa hang cao hơn mức nước biển khoảng 100 m, có một động ướt ở bên dưới Hang Én

biển báo nhỏ dọc đường chỉ dẫn về Cổng trời, đây là địa điểm đánh dấu những trận chiến quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ

Hà Vi  Rừng cộng đồng, cách bản khoảng 1 tiếng đi bộ

K’Ai

có thể nhìn thấy thác, đi bộ men theo bờ sông, đường hơi trơn và hơi khó để đi bộ

Trang 21

27

‘Các sự kiện’:

Thông thường, chợ phiên địa phương diễn ra tại Văn phòng UBND xã ở bản Y-Leeng Sản phẩm hàng hoá gồm có các loại hàng hoá phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày Dộ người dân địa phương sản xuất cho đến các loại sản phẩm công nghiệp và rau xanh, hoa quả Các phiên chợ diễn ra theo âm lịch, thường là vào các ngày mồng 3, 13, 23, 8, 18 và 28 của các tháng âm lịch Chợ phiên do người Kinh tổ chức Họ là những người thích buôn bán các sản phẩm hàng hoá công nghiệp còn những người dân tộc thiểu số lại thích bán trái cây/ rau củ ví dụ như dứa hoặc măng tre Một số người cũng bán các sản phẩm làm từ tre như Ka Pha’s hoặc Ka Nhăng

Rất nhiều người đến tham quan phiên chợ này, trong đó có cả người dân sống tại xã Trọng Hoá

Ngoài ra, chính quyền địa phương đề xuất tổ chức các chuyến dã ngoại ban đêm hoặc đốt lửa trại cùng với người dân địa phương Hoạt động này có thể diễn ra tại “Nhà Văn hoá thôn, bản”, thường là nhà của trưởng bản

Dưới đây là một số hình ảnh về các địa điểm du lịch/ hoạt động đã đề cập ở trên mà nhóm công tác đã tham quan trong chuyến công tác vào tháng trước

Trang 22

28

6

Di tích lịch sử Cha Lo

5 Phong cảnh giữa Bãi Dinh và Cha Lo

5

Vị trí cửa hang

4

6

Trên đường đến Po Mu/ Thác

Mơ, đi vòng quanh sau khoảng

2 tiếng đi bộ vì trời mưa to

Trang 23

29

3.2.4 Các hình ảnh từ Dân Hoá

Tại khu chợ ở bản Y-Leeng Tại khu chợ ở bản Y-Leeng

Gặp gỡ trên đường đến Po Mu Dọc bờ sông, đi đến thác Po Mu

Trang 24

30 Trên đường đến Hang Én

Di tích lịch sử Cổng trời Di tích lịch sử Cha Lo

Trang 25

31

3.2.5.Truyền thông thông tin

 Có mạng Interner không dây ở trường học và Văn phòng UBND xã, sử dụng được thiết bị 3G

 Có đường dây điện thoại ở trường học và Văn phòng UBND xã, các thôn, bản không có đường dây điện thoại

 Nhiều thôn, bản có mạng di động (xem phần 3.2.1)

 Không có bưu điện/hộp thư: thư từ và bưu phẩm thường được chuyển đến UBND

xã, sau đó UBND xã có trách nhiệm chuyển đến từng thôn, bản/ hộ gia đình

 Không có dịch vụ ngân hàng ở xã Dân Hoá, thông thường cán bộ ngân hàng sẽ đến từng hộ nếu có nhu cầu Các dịch vụ gần nhất cách Quy Đạt, trung tâm của

huyện Minh Hoá khoảng 30 đến 40 phút lái xe

Các dịch vụ khác:

 Các cửa hàng bình dân nhỏ bán các loại hàng hoá sinh hoạt hàng ngày

 Các quán cà phê bình dân

 Các cửa hàng bán đồ ăn nhỏ

3.2.6 Khó khăn/ mối đe dọa tiềm năng

Môi trường tự nhiên

 Lũ lụt xảy ra vào tháng 8, Bãi Dinh chịu ảnh hưởng nặng nhất

 Xói mòn / sạt lở đất xảy ra bên ngoài các thôn, bản

 Cháy rừng (hiếm khi): các thôn, bản khó tiếp cận hơn, ngoại trừ các thôn, bản nằm gần Quốc lộ 12A

 Các thôn, bản không có hệ thống xử lý nước thải (đa số các hộ gia đình không có nhà vệ sinh nối đất), hiện đang xây dựng một vài nhà vệ sinh cho một số hộ

 Thỉnh thoảng tình trạng thiếu nước vẫn xảy ra trong các tháng 4 và 5 vào mùa hè,

Do vậy người dân phải lấy nước từ sông suối

An ninh

 Trong khi chính quyền địa phương không đề cập đến các vấn đề về an ninh thì một trưởng thôn phát biểu có sự bất đồng nhỏ giữa dân tộc Sách/ Mày và người Kinh ở thôn Bãi Dinh

Các thủ tục đăng ký/ cấp giấp phép

 Các hộ tham gia phải đăng ký với công an xã

 Không thu thuế đối với người dân tộc thiểu số, chỉ áp dụng thuế đối với người Kinh có hoạt động kinh Dộanh

 Thực hiện các thủ tục đăng ký với bộ đội biên phòng khi có du khách đi vào xã

 Xã sẵn sàng thúc đẩy/ xử lý việc cấp giấy phép cho du khách vào khu vực và nghỉ lại qua đêm tại khu vực biên giới, du khách cần phải báo cáo cho một trong hai đơn vị là: xã hoặc bộ đội biên phòng

Chú ý: Xã Trọng Hoá cũng có các mối đe dọa/ khó khăn, trở ngại này tương

tự/giống như thế này

Trang 26

32

3.3 Trọng Hoá

Xã Trọng Hóa cách thị trấn Phong Nha khoảng 60 phút lái xe ô tô Đó là xã cực bắc của huyện Minh Hóa và bao gồm 16 thôn bản/640 hộ gia đình Không giống xã Dân Hóa, nhiều thôn bản của Trọng Hóa nằm tách ra khỏi quốc lộ 12A Dân số của xã khoảng 3.500 người Trọng Hoá là một xã có dân số 100% là người dân tộc Tất cả các thôn, bản đều toàn là các hộ dân tộc thiểu số Đa số các hộ này là dân tộc Khùa (thuộc nhóm dân tộc Vân Kiều) và dân tộc Mày (thuộc nhóm dân tộc Chứt) Như đã đề cầp trong QHPTDLBV (2010), xã Dân Hoá có rất ít diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp Phát triển cơ sở hạ tầng liên thôn, liên xã rất hạn chế và có tỷ lệ nghèo đói cao tới 95% Tuy nhiên, kể từ khi bản quy hoạch này được phát hành thì các công đoạn thi công đường chính đã hoàn tất vào tháng 3 năm 2012, nối các thôn, bản vùng núi xa xôi hẻo lánh với Quốc lộ 12A

Trang 27

33

3.3.1 Dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ

Bảng 6 Trọng Hoá: Tổng quan về dân số, cách tiếp cận và cơ sở hạ tầng

Thôn, bản Số hộ Dân số Đi bằng ô tô Đồng bào dân tộc Điện lưới Nước 1

bộ đội biên phòng

(không có lưới điện) 9 - (yếu, mạng

1 Mỗi thôn bản thường có 6-7 vòi nước công cộng, bao gồm cả hệ thống đường ống, các thôn, bản còn lại thường dùng nước từ sông trên thượng nguồn (không có hệ thống

đường ống hoặc hệ thống đường ống bị hỏng); trong tháng 4- tháng 7, tình trạng thiếu nước có thể phát sinh do mực nước giảm, tuy nhiên, có một vòi nước công cộng trong

thôn, bản luôn luôn có nước

2 Có đường liên thôn Mặc dù chỉ có thể đi bộ đến các thôn, bản này

3 Nước ngọt được lấy từ một con suối cách bản khoảng 1 km đi bộ

4 Trước đây, bản Ra Mai cách khu vực hiện tại khoảng 1,3km, việc tái định cư dần dần diễn ra kể từ năm 1998 (do các bãi đất bằng phẳng hơn)

5 Đi bộ khoảng 1 km về phía dưới đồi để lấy nước suối

6 Tái định theo chương trình 135 và 167 chuyển từ khu vực gần Cha Cáp đến gần đường (dễ tiếp cận hơn)

7

Cả hai bản này đã được tái định cư (chỉ còn lại một vài hộ gia đình vẫn giữ nguyên cuộc sống của họ trong bản) do sạt lở đất và làm đường

8 Hai hộ gia đình người Kinh có điện (điện tạo ra bằng sức nước) sử dụng và 3 hộ người Kinh có vòi nước tại nhà

9 Có 6 hộ gia đình bộ đội biên phòng có điện tạo ra bằng sức nước

10 Tái định cư do dân số tăng

Trang 28

Ra Mai ~13km ~20 phút Khó tiếp cận vào mùa lũ vào tháng 8 và tháng 9, chỉ có thể đi bộ

(nhưng cũng giống như bản Pa-Choong, thường chỉ bị chia cắt với con đường khoảng một vài ngày trong mấy tháng này)

có mưa lớn

đến Lòm Ka-Chom

đường bê tông giữa Tỉnh lộ 20

và Lòm Ka Chom

Đường giao thông chính trong mùa mưa/ sau khi có mưa lớn

Nhận xét chung:

 Cần đi xe 4 bánh, yêu cầu lái chậm

 Có đường bê tông từ tháng 3 năm 2012

 Khoảng 3-4 điểm tiếp cận chính với chiều dài khoảng 20-40 mét, xe 4 bánh rất dể đi qua

 Hơi khó tiếp cận các thôn, bản được lựa chọn vào những ngày trong mùa mưa

 Có thể đi bằng xe máy hoặc xe đạp

Trang 29

35

3.3.3 Các điểm thu hút du lịch/ hoạt động

Thôn, bản điểm thu hút du lịch/ hoạt động

Dộ

Ka Ooc  Chung rừng cộng đồng với bản Ong Tu

La Trọng 2

Lòm K Chom

của dòng suối và băng qua sông, có một lối đi bộ nhỏ dẫn đến một đỉnh núi nhỏ hơn, men theo hạ nguồn sông, đi bộ vòng quanh mất khoảng 30 – 40 phút

dân bản bảo vệ

Ong Tu  Rừng cộng đồng có diện tích 200 ha (chủ yếu giống rừng nguyên sinh), kế bên bản Ong Tu hướng đến Ka-ing

Pa Choong

 suối

Ra Mai

 Nhà truyền thống

nhưng ước tính ít nhất là gấp đôi thời gian đi một chiều), chỉ đi được vào mùa khô

 Rừng núi đá vôi rậm rạp, đi bộ khoảng 40 phút

Trang 30

36

1

Đỉnh núi Y-Rang,

có tiếp cận từ bản Ra Mai

Ngày đăng: 03/02/2021, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w