1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lập và phân tích dự án đầu tư kinh doanh Nấm Mỡ

37 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lập và phân tích dự án đầu tư kinh doanh Nấm Mỡ khoa Quản trị kinh doanh2.1 Giới thiệu sản phẩmNấm Mỡ hay còn gọi tên tiếng Anh là: button mushroom là một loài nấm ăn được(có thể ăn sống). Đây là loài bản địa từ vùng đồng cỏ ở châu Âu và Bắc Mỹ. Nó có haitrạng thái màu sắc trong khi chưa trưởng thành màu trắng và nâucả hai đều có nhữngcái tên khác nhau. Nấm mỡ (Agaricus bisporus) được trồng ở hơn bảy mươi quốc gia vànó là một trong những loại nấm phổ biến rộng rãi và tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới.Thành phần:Theo nghiên cứu khoa học người ta chỉ ra rằng, thành phần dinh dưỡng có trong100g nấm mỡ bao gồm: chất xơ, Ca, Fe, P, chất tro cùng các loại vitamin như: vitaminC, vitamin B1, vitamin B2. Không những thế, nấm mỡ là một trong những thực phẩmchứa hàm lượng cao protid.Công dụng:Nấm ăn ngon thịt chắc, giòn ngọt, chứa rất nhiều chất dinh dưỡng như giàu đạm,nhiều chất xơ, các vitamin nhóm B và cacbondydrat. Ngoài ra, thành phần sợi trong nấmchính là Chitin có tác dụng làm hạ Cholesterol trong máu, hỗ trợ điều trị viêm loét dạdày, tá tràng, Nấm Milky là món ăn lý tưởng cho những người mỡ máu cao, gan nhiễmmỡ, người bị các bệnh về tiêu hóa, cao huyết áp, tiểu đường. Do thành phần của nấm làđạm thực vật nên rất tốt cho trẻ em suy dinh dưỡng, còi xương. Nấm Mỡ sạch, an toànvà chất lượng.Giá bán:Giá cả nấm Mỡ trên thị trường cho mỗi Kg nấm thương phẩm dao động từ 150 200 nghìn đồng. Có thể nói cao gấp 2 3 lần so với các loại nấm khác.Cụ thể, giá bán cho thương lái sẽ dao động từ 60.000 – 70.000 đồng kgCơ sở đặt: Công ty Cổ phần SUMO Nhật Việt, địa chỉ: số 39, ngõ 18961 HoàngHoa Thám, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, TP Hà Nội.

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CĂN CỨ XÁC ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ 3

1.1 Giới thiệu chủ đầu tư 3

1.2 Căn cứ pháp lý 4

1.3 Căn cứ thực tế: 4

CHƯƠNG 2: SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG 7

2.1 Giới thiệu sản phẩm 7

2.2 Kế hoạch về thị trường 7

2.2.1 Phân tích nhu cầu của thị trường 8

2.2.2 Xác định mục tiêu tiêu thụ dự kiến hàng năm 8

2.2.3 Giải pháp về thị trường 8

2.2.4 Kế hoạch xúc tiến bán hàng 11

2.2.5 Chiến lược giá 11

2.2.6 Chiến lược phân phối 12

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH SẢN XUẤT VÀ NGUỒN NGUYÊN LIỆU ĐẢM BẢO SẢN XUẤT 13

3.1: Nhiệm vụ: 13

3.2: Quy trình công nghệ sản xuất 13

3.3: Tác động môi trường 14

3.4 Nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào: 15

CHƯƠNG 4: ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN DỰ ÁN 16

4.1 Địa điểm 16

4.2 Phân tích về địa điểm 16

4.3 Điều kiện tự nhiên 16

4.4 Điều kiện Kinh tế- Xã hội 18

CHƯƠNG 5: XÂY DỰNG – KIẾN TRÚC 19

5.1 Phương án kiến trúc xây dựng 19

5.1.1 Nhiệm vụ thiết kế xây dựng 19

5.1.2 Các hạng mục công trình 19

5.1.3 Phương án bố trí tổng mặt bằng 20

Trang 2

5.2 Các giải pháp xây dựng 20

5.2.1 Khu quản lý hành chính 20

5.2.2 Xây dựng trang trại 21

CHƯƠNG 6: BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH DỰ ÁN 25

6.1 Hình thức tổ chức vận hành Dự án Error! Bookmark not defined 6.2 Cơ cấu tổ chức 25

6.2.1 sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí công ty 25

6.3 Cơ cấu nhân sự 26

6.3.1 Lao động của dự án 26

6.3.2 Chế độ làm việc của lao động: 26

6.3.3 Phương thức tuyển dụng và đào tạo: 27

CHƯƠNG 7: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN 29

7.1 Nguồn vố đầu tư ban đầu 29

7.2 Vốn vay 29

7.3 Chi phí sản xuất kinh doanh qua các năm: 29

CHƯƠNG 8: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ-XÃ HỘI DỰ ÁN ĐẦU TƯ 35

8.1.Hiệu quả kinh tế 35

8.2 Hiệu quả xã hội 35

8.3 Đóng góp Ngân sách Nhà nước 36

CHƯƠNG 9: KẾT LUẬN 37

Trang 3

CHƯƠNG 1: CĂN CỨ XÁC ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ

1.1 Giới thiệu chủ đầu tư

1.1.1 Tên công ty: Công ty cổ phần sản xuất thương mại Dona

1.1.2 Trụ sở chính: 114/6bis Thống Nhất, P.11, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

- Điện thoại: 0835897035

- Fax: 0835897035

- Email: info@donahoasen.com

1.1.3.Người đại điện theo pháp luật công ty:

- Bà: Trần Lê Thu Thảo

- Buôn bán các sản phẩm là vật nuôi sạch: gà thả vườn, heo, đà điểu,…

- Buôn bán và cung cấp phối giống các loại nấm: nấm bào ngư, linh chi, vận chi, hoàng chi, hắc chi, hầu thủ, đùi gà, trân châu, nấm ngọc, kim châm, cây ăn quả,…

và bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho bà con nông dân

1.1.5 Tư cách pháp nhân:

Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0104478506 do Sở kế hoạch và đầu tư Hà nội cấp

1.1.6 Tình hình tài chính:

Vốn điều lệ ban đầu là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng )

Trại nấm DONA hình thành và đi vào hoạt động ngay từ những ngày đầu của năm

2003 Bà Trần Lê Thu Thảo và đội ngũ công nhân viên của công ty đã tận lực tìm tòi nghiên cứu và học hỏi để trại trồng nấm ngày một lớn mạnh Lúc đầu trại nấm DONA

có 10trại nuôi trồng nấm

Sau 01 năm hoạt động trại nấm chuyển thành công ty TNHH TM DONA, với vốn điều

lệ ban đầu 3.000.000.000 đồng Trong những năm qua công ty đã phát triển không ngừng

và vươn ra các nước đông dương, hiện nay công ty đã có khoảng 46 trại nấm tại Củ Chi

và rất nhiều chi nhánh, đại lý trên cả nước: Long An, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bạc Liêu, Cần Thơ, Bến Tre, Bình Chánh, Tân Uyên và nhiều tỉnh thành khác…… Tính đến hiện nay vốn điều lệ của công đã lên đến 26 tỷ đồng Những năm trước công suất của nhà máy đạt khoảng 10-12 nghìn phôi nấm/ ngày nhưng hiện nay công ty sản xuất phôi giống bằng máy móc hiện đại theo công nghệ của Nhật Bản đạt năng suất

Trang 4

khoảng 15-20 nghìn phôi nấm/ngày Không những thế, trong thời gian qua công ty đã

mở thêm một số nhà máy sản xuất thực phẩm sạch, dinh dưỡng từ nấm

1.2 Căn cứ pháp lý

Hiện nay Đảng và Nhà nước có những chính sách động viên mọi thành phần kinh

tế trong nước đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các thành phần kinh tế Với những chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư trong nước, Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở sản xuất nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm,hàng hoá của mình, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu Những chính sách khuyến khích đó được cụ thể hoá trong hàng loạt các văn bản:

- Luật Doanh nghiệp, thông qua ngày 26/11/2014

- Luật Lao động (sửa đổi) số 10/2012/QH13

- Luật Đầu tư mới nhất được bắt đầu áp dụng 01/07/2015

- Luật Đầu tư mới nhất bắt đầu được áp dụng 01/07/2015

- Luật Khuyến khích đầu tư trong nước ban hành năm 1994

- Khoản 3, Điều 51, Hiến pháp 2013 Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để cá nhân,

tổ chức đầu tư phát triển kinh doanh

- Nghị định 57/2018/NĐ-CP cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

- Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chinh sách khuyến khích liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp

1.3 Căn cứ thực tế:

Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế mà ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP, hơn 75% dân số sống tại nông thôn và nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi Theo xu hướng ngày nay, người dân đang nghiên cứu

có giá trị dinh dưỡng cao Hàm lượng protein chỉ sau thịt, cá, rất giàu khoáng và các axit amin không thay thế, các vitamin A, B, C, D, E,v.v…không có các độc tố có thể coi nấm ăn như một loại “rau sạch” và “thịt sạch” Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa bệnh như: làm hạ huyết áp, chống bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu Nhiều công trình nghiên cứu

về y học xem nấm như một loại thuốc có khả năng phòng chống bệnh ung thư Hướng nghiên cứu này đang được tiếp tục làm sáng tỏ trong tương lai

Ở Việt Nam, nấm ăn cũng được biết từ lâu Tuy nhiên, chỉ hơn 10 năm trở lại đây, trồng nấm mới được xem như là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế Các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm và mộc nhĩ (nấm mèo) Sản lượng đạt trên 10.000 tấn/ năm Nấm được tiêu thụ tại thị trường nội địa và chế biến thành dạng hộp, muối xuất khẩu Các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Nội… đã có nhiều

cơ sở quốc doanh, tập thể, hộ gia đình trồng nấm Trong những năm đầu thập kỷ 90 phong trào trồng nấm mỡ được mở rộng mạnh mẽ, tổng sản lượng đạt khoảng 500

Trang 5

tấn/năm Thị trường tiêu thụ chủ yếu là nấm muối xuất khẩu sang Nhật Bản, Italia, Đài Loan, Thái Lan,…

Việt Nam là một trong những nước có đủ điều kiện để phát triển mạnh mẽ nghề trồng nấm, do có những đặc tính sau:

- Nguồn nguyên liệu để trồng nấm là rơm rạ, thân gỗ, mùn cưa, bã mía… Các loại phế liệu sau khi thu hoạch rất giàu chất xenlulo Nếu tính trung bình một tấn thóc sẽ cho

ra 1,2 tấn rơm rạ khô thì tổng sản lượng rơm rạ trong cả nước đạt con số vài chục triệu tấn/năm Chỉ cần sử dụng 10% số nguyên liệu kể trên để trồng nấm thì sản lượng nấm đã đạt vài trăm ngàn tấn/năm

- Lực lượng lao động dồi dào và giá công lao động rẻ Tính trung bình 1 lao động nông nghiệp mới chỉ dùng đến 30-40% quỹ thời gian Chưa kể đến việc mọi lao động phụ đều có thể tham gia trồng nấm được

- Điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho nấm phát triển Cả hai nhóm nấm (nhóm ưa nhiệt

độ cao: nấm hương, mộc nhĩ…; nhóm ưa nhiệt độ thấp: nấm mỡ, nấm hương, nấm sò…) ở Việt Nam đều trồng được Phân vùng: đối với các tỉnh phía Nam tập trung trồng nấm rơm, mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc trồng nấm mỡ, nấm hương, nấm sò

- Vốn đầu tư ban đầu để trồng nấm rất ít so với vốn đầu tư cho các ngành sản xuất khác

- Kỹ thuật trồng nấm không phức tạp Một người dân bình thường có thể tiếp thu được công nghệ trồng nấm trong thời gian ngắn

- Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và trên thế giới tăng nhanh do sự phát triển chung của xã hội và dân số Hiệp hội Nấm ăn thế giới đã đưa chỉ số bình quân lượng tiêu thụ nấm ăn cho một người trong một năm để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia

Tuy nhiên, ở nước chúng ta vẫn còn một số những hạn chế trong quá trình sản xuất

và nuôi trồng:

- Chất lượng giống nấm chưa đảm bảo từ khâu sản xuất đến quá trình nuôi giống, bảo quản, cách sử dụng Các loại giống nấm đã và đang được nuôi trồng ở Việt Nam từ nhiều nguồn giống khác nhau Một số giống nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Italia, Nhật Bản… Một số khác được sưu tầm trong nước, song việc chọn lọc, kiểm tra

để đánh giá tiềm năng về năng suất, chất lượng từng loại, từ đó để nhân giống đại trà phục vụ sản xuất hầu như chưa có đơn vị nào đảm trách

- Khâu hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng, chế biến nấm muối đạt chất lượng xuất khâu đến tận từng hộ gia đình không đầy đủ Do thiếu cán bộ và trình độ kỹ thuật viên non kém Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và làm công tác kỹ thuật về nấm ăn được đào tạo cơ bản tại các trường Đại học, có kinh nghiệm lâu năm, chuyên tâm với nghề nghiệp còn quá ít

- Hợp đồng xuất khâu nấm thường không đủ về số lượng, chất lượng dẫn đến mất lòng tin với khách nước ngoài Các thiết bị, công nghệ trồng nấm nhập khẩu của nước ngoài không phù hợp với Việt Nam về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội: giá thành 1kg nấm sản xuất theo công nghệ Đài Loan và Italia cao hơn nhiều so với giá thành 1kg nấm sản xuất trong dân

+ Thiết bị trồng nấm chủ yếu là máy băm rơm rạ, hệ thống quạt gió, hệ thống tưới nước, máy đào ủ nguyên liệu…

+ Nhà trồng nấm tập trung theo kiểu “trang trại”

+ Công nghệ nuôi trồng và hệ thống thiết bị không đồng bộ

Trang 6

- Công tác nghiên cứu về công nghệ chọn, tạo giống, công nghệ nuôi trồng các loại nấm ăn đạt năng suất cao, giá thành hạ, công nghệ bảo quản, chế biến nấm đạt chất lượng ở các Trung tâm nghiên cứu và cơ sở sản xuất chưa được chú trọng

- Công nghệ sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm hiện nay được du nhập từ Nhật Bản, Đài Loan và các nước Châu Âu Trong quá trình nghiên cứu và triển khai sản xuất đã có sự thay đổi để phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam song năng suất thu hoạch còn rất thấp (đạt 50% so với thế giới)

- Việc tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn về giá trị dinh dưỡng và cách ăn nấm trên các phương tiện thông tin đại chúng còn quá ít, phần lớn người Việt Nam mới chỉ biết

ăn nấm hương, mộc nhĩ, các loại nấm khác có khi chưa bao giờ được nhìn thấy, trong lúc đó, người nước ngoài đã ăn nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm…từ hàng trăm năm nay Để tạo thị trường tiêu thụ nội địa được tốt, mọi người Việt Nam đều biết ăn nấm, xem nấm như là một loại thực phẩm quý thì công tác tuyên truyền là rất cần thiết (Trong những năm qua, các phương tiện thông tin đại chúng mới chỉ nêu lên nơi này, nơi kia sản xuất, xuất khẩu nấm) Ngay hiện nay, giá bán nấm tươi ngoài thị trường rất cao (nấm mỡ 30.000 - 40.000đ/kg, nấm sò 10.000 – 15.000đ/kg); người sản xuất ra nấm chỉ cần bán bằng 30% giá bán lẻ trên với số lượng lớn thì thị trường tiêu thụ nấm cũng đã nhộn nhịp Nhiều người muốn ăn nấm tươi không biết mua ở đâu và ngược lại người trồng ra nấm không biết bán nơi nào

- Hiện tượng “tranh mua, tranh bán” đối với các cơ quan chức năng làm công tác xuất khẩu nấm đã diễn ra Số lượng nấm mỡ muối trong thời gian qua ở các tỉnh phía Bắc chưa đáng kể nhưng đã có vài đơn thu gom xuất khẩu, mỗi nơi chào xuất 1 giá khác nhau Khách hàng nước ngoài khai thác được “sự cạnh tranh không lành mạnh” này để

ép cấp, ép giá Nhà nước chưa có hệ thống tổ chức chỉ đạo tổng thể từ cơ quan nghiên cứu đến các cơ sở sản xuất, xuất khẩu nấm

- So với thị trường quốc tế thì: các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm mỡ và sản xuất nấm mỡ, nấm hương, nấm sò, nấm rơm là chủ yếu Khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp Khu vực Châu

Á (Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc…) triển khai sản xuất nấm theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, đặc biệt ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự được đi vào từng hộ nông dân Thị trường tiêu thụ nấm lớn nhất trên thế giới hiện nay là Mỹ, Nhật, Italia, Đức, Đài Loan, các nước Châu Âu… Nhiều hãng sản xuất của Mỹ, Nhật, Italia, Đức, Đài Loan đã đến Việt Nam để tìm hiểu về tình hình sản xuất nấm, đặt vấn

đề mua hàng và hợp tác đầu tư vào ngành này Các tỉnh phía Nam đã và đang sản xuất nấm rơm muối, đóng hộp với số lượng hàng ngàn tấn Năm sang thị trường Đài Loan, Hồng Kong, Thái Lan,… Các tỉnh phía Bắc xuất nấm mỡ muối, nấm hộp sang thị trường Nhật Bản, Italia, Đức với số lượng hàng năm chưa đáng kể Để chiếm lĩnh được thị trường thì Việt Nam phải cạnh tranh với Trung Quốc: số lượng phải nhiều, chất lượng phải tốt

- Việc Công ty cổ phần sản xuất thương mại Dona đầu tư xây dựng và sản xuất nấm Mỡ có thể đưa doanh thu và lợi nhuận hàng năm cao Dự án góp phần thực hiện chủ trương lớn của Đảng và sẽ làm tăng thêm thu nhập cho người dân Đây chính là điều kiện để dự án được hưởng ứng chính sách ưu đãi đầu tư của Nhà nước tạo thuận lợi mọi mặt trong phát triển kinh doanh

Trang 7

CHƯƠNG 2: SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG

2.1 Giới thiệu sản phẩm

Nấm Mỡ hay còn gọi tên tiếng Anh là: button mushroom là một loài nấm ăn được (có thể ăn sống) Đây là loài bản địa từ vùng đồng cỏ ở châu Âu và Bắc Mỹ Nó có hai trạng thái màu sắc trong khi chưa trưởng thành màu trắng và nâu-cả hai đều có những cái tên khác nhau Nấm mỡ (Agaricus bisporus) được trồng ở hơn bảy mươi quốc gia và

nó là một trong những loại nấm phổ biến rộng rãi và tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới

mỡ, người bị các bệnh về tiêu hóa, cao huyết áp, tiểu đường Do thành phần của nấm là đạm thực vật nên rất tốt cho trẻ em suy dinh dưỡng, còi xương Nấm Mỡ sạch, an toàn

và chất lượng

Giá bán:

Giá cả nấm Mỡ trên thị trường cho mỗi Kg nấm thương phẩm dao động từ 150 -

200 nghìn đồng Có thể nói cao gấp 2- 3 lần so với các loại nấm khác

Cụ thể, giá bán cho thương lái sẽ dao động từ 60.000 – 70.000 đồng/ kg

Cơ sở đặt: Công ty Cổ phần SUMO Nhật Việt, địa chỉ: số 39, ngõ 189/61 Hoàng Hoa Thám, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, TP Hà Nội

2.2 Kế hoạch về thị trường

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập đầu người ở Việt Nam nói chung

và của TP Hà Nội nói riêng đang tăng lên Bởi vậy, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao tăng lên không ngừng về số lượng mà còn đòi hỏi về chất lượng, đảm bảo vệ sinh và an toàn trong quá trình sử dụng và tốt cho sức thiếu trong các món chay

Trong cuộc khảo sát nhu cầu tiêu thụ của nấm Mỡ hiện nay của TP Hà Nội, chúng tôi rút ra nhận xét rằng: Do nguồn cung cấp bị hạn chế, giá thị trường hiện nay về nấm

Mỡ rất cao trung bình khoảng 150 - 200 nghìn đồng Với việc giá cao lại đẩy cầu tiêu dùng về nấm của khách hàng giảm xuống thấp Thường các quán bán dồ chay họ hầu như không sử dụng nấm Mỡ để chế biến món ăn để giảm bớt chi phí

Vậy, nếu chúng ta mở ra doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở đây sẽ giải quyết được tình trạng khan hiếm nấm trên thị trường hiện nay Từ đó làm giá nấm giảm xuống

và việc tiêu thụ nấm Mỡ sẽ càng tăng hơn

Trang 8

Do hạn chế về nguồn lực nên chúng tôi sẽ sản xuất tối đa nguồn lực cho phép, Vào tháng 4,7 và các dịp cuối năm lượng cầu của thị trường rất lớn vid đây là thời điểm diễn ra các lễ hội Phật Giáo lơn và Tết Nguyên Đán nên mức tiêu thụ khá cao Doanh nghiệp của chúng tôi sẽ lợi dụng cơ hội này để có chiến lược sản xuất nâng cao sản lượng cung ứng cho thị trường

Tại địa bàn TP Hà Nội có nhiều chợ lớn nhỏ, nhiều chùa, nhiều nhà hàng phục

vụ thức ăn chay, nhiều khách sạn Đây sẽ là những địa điểm tiêu thụ tiềm năng mà các nhà sản xuất như chúng tôi mong đợi

 Quy mô thị trường khá lớn là tín hiệu tốt cho doanh nghiệp gia nhập vào thị trường

2.2.1 Phân tích nhu cầu của thị trường

- Nguyên tắc tâm lý: Nhu cầu sử dụng nấm Mỡ của nhiều khách hàng là để phòng trừ

các bệnh tật, làm đẹp và hướng đến nối sống thân thiện với môi trường

- Nguyên tắc nhân khẩu học: Người có thu nhập càng lớn sẽ sẵn sàng tìm đến những

thực phẩm bổ dưỡng, an toàn vệ sinh và tốt cho sức khỏe Nhiều nhà sư hay những người thích ăn chay thì nấm Mỡ là nguyên liệu cần thiết trong các bữa ăn hàng ngày Các chủ buôn sẽ là khách hàng trung gian tốt nhất để phân phối nấm đến nhiều khách hàng khác nên nhu cầu tiêu thụ của họ khá lớn

- Nguyên tắc hành vi: Khách hàng tìm đến nấm Mỡ nhằm phục vụ nhu cầu ăn nấm hàng

ngày, phòng bệnh, phân phối lại Lợi ích của sự tìm kiếm là thấy được sức khỏe mạnh trong cơ thể, vẻ đẹp mảnh mai trong vóc dáng và nhu cầu được lợi nhuận từ hoạt động bán hàng Nhiều khách hàng sẽ tăng nhu cầu nấm Mỡ vào những dịp lễ, cúng rằm và dịp Tết cuối năm Với sản phẩm có chất lượng cao, tốt cho sức khỏe, dịch vụ giao hàng chu đáo và giá cả hợp lý thì sẽ nâng cao mức độ chấp nhận của khách hàng, lượng khách trung thành với doanh nghiệp sẽ cao

2.2.2 Xác định mục tiêu tiêu thụ dự kiến hàng năm

 Mục tiêu định tính:

- Vào cuối năm nay, với sự cố gắng không ngừng của doanh nghiệp sẽ đảm bảo được chất lượng sản phẩm, cải thiện được hình ảnh của doanh nghiệp và được sự chấp nhận tiêu dùng của nhiều khách hàng

- Đến năm 2021, doanh nghiệp sẽ là địa điểm sản xuất nấm Mỡ trọng yếu của miền Bắc

 Mục tiêu định lượng:

- Cuối năm nay lợi nhuận đạt 70% so với số vốn ra

- Vào năm thứ 2 thực hiện dự án, doanh nghiệp đạt 40%/ tổng số thị phần ở TP Hà Nội

2.2.3 Giải pháp về thị trường

 Phân tích thị trường nghành nấm ở nước ta

Nghành sản xuất nấm ăn hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm nay Hiện nay, người ta đã biết có khoảng 2.000 loại nấm ăn được, trong đó có 80 loại nấm

ăn ngon và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo Ở Việt Nam, tổng sản lượng các loại nấm ăn và được liệu năm 2009 đạt trên 250.000 tấn, kim nghạch xuất khẩu đạt 60 triệu USD chủ yếu là mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ Ngược lại, chúng ta nhập khẩu khá nhiều

Trang 9

loại nấm như: nấm đùi gà, nấm kim châm, trân châu, ngọc châm, linh chi, nấm hương…từ Trung Quốc, Đài Loan

Nước ta có tiềm năng lớn về sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu do có nguồn nguyên liệu trồng nấm phong phú (ước tính mỗi năm nước ta có 40 triệu tấn phế phẩm nông nghiệp và chỉ cần sử dụng 15% lượng phế thải đó sẽ có thể tạo ra 1000 đôla Mỹ/năm), nguồn lao động nông thôn dồi dào, điều kiện thời tiết thuận lợi cho phát triển nhiều chủng loại nấm và có thể trồng nấm quanh năm Chính phủ đã đưa nấm vào Danh mục sản phẩm Quốc gia

Nhu cầu tiêu dùng nấm của các nước trên thế giới cần 20 triệu tấn mỗi năm, tốc độ tăng 3,5%, Thị trường tiêu thụ cao nhất là Mỹ, Nhật, Đài Loan và các nước châu Âu Theo Cục trồng trọt, mỗi năm nghành nông nghiệp thải ra khoảng 40 triệu tấn phế thải như rơm rạ, cùi bắp, mùn cưa… Chỉ cần 15% phế thải dùng để trồng nấm thì Việt Nam

có thể thu về khoảng 1 tỉ đô la Mỹ một năm Mỗi năm chúng ta đã sản xuất được hơn 250.000 tấn nấm các loại nhưng lại không đủ nấm để xuất khẩu dù thị trường có nhu cầu tiêu thụ lớn

Theo tài liệu nghiên cứu, nguồn nấm ngoài tự nhiên ở nước ta rất phong phú, ước tính

số loài nấm có trên lãnh thổ Việt Nam có thể lên đến 72.000 loài, gấp 6 lần số loài thực vật bậc cao

Hiện nay, nước ta hội tụ đủ các điều kiện cần thiết để phát triển nghành công nghiệp sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm Vì vậy cần có những giải pháp để đẩy mạnh phát huy tiềm năng trồng nấm ở nước ta

Những năm gần đây, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ NN – PTNT đã giao cho Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật thuộc Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu phát triển sản xuất các loại nấm ăn và nấm dược liệu Theo đánh giá của Trung tâm, Việt Nam là quốc gia có nhiều điều kiện để sản xuất nấm

Thực tế là nước ta có nguồn nguyên liệu trồng nấm rất sẵn như: rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế loại của các nhà máy dệt, bã mía của các nhà máy đường… Ước tính cả nước có trên 40 triệu tấn nguyên liệu và nếu chỉ cần sử dụng khoảng 10 – 15% lượng nguyên liệu này để nuôi trồng nấm đã có thể tạo ra trên 1 triệu tấn/năm và hàng nghàn tấn phân hữu cơ Thế nhưng ở Việt Nam, phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa đều bị bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh, rạch, sông ngòi…Vì thế, phát triển nghề sản xuất nấm ăn, nấm được liệu còn có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết ô nhiễm môi trường

Qua quá trình nghiên cứu, nhiều viện, trường, trung tâm đã chọn, tạo được một số giống nấm ăn, nấm dược liệu có khả năng thích ứng với môi trường Việt Nam, cho năng suất khá cao Đồng thời các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến nấm ngày càng được hoàn thiện Trình độ và kinh nghiệm của người nông dân cũng không ngừng được nâng cao lên nên năng suất trung bình của các loài nấm đang nuôi trồng ở nước ta cao gấp 1,5 – 3 lần so với 10 năm về trước Hơn nữa, vốn đầu tư để trồng nấm so với các nghành sản xất khác không lớn, vì đầu vào chủ yếu là rơm rạ và công lao động (chiếm khoảng 70 – 80% giá thành một đơn vị sản phẩm) Nếu tính trung bình để giải quyết việc làm cho một lao động chuyên trồng nấm ở nông thôn hiện nay

có mức thu nhập từ 2.5 – 3 triệu đồng/tháng chỉ cần số vốn đầu tư ban đầu khoảng 30 triệu đồng và 100m2 diện tích nhà xưởng

Trang 10

Trong thời gian qua đã có nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh nấm có hiệu quả ở quy

mô hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh nấm Sản xuất nấm đang từng bước phát triển theo hướng chuyên nghiệp, quy mô lớn, gắn kết đồng bộ các khâu sản xuất, sơ chế, bảo quản, tiêu thụ, nên

có nhiều mô hình bền vững, đạt hiệu quả cao, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, sử dụng các phụ phẩm, bảo vệ môi trường, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất trồng trọt Tuy nhiên sản xuất nấm ở nước ta còn kém so với các nước sản xuất trong khu vực và trên thế giới về công nghệ, năng xuất, chất lượng và sự đa dạng về sản phẩm Sản xuất chủ yếu còn nhỏ lẻ, thủ công, nghiên cứu khoa học công nghệ về nấm và hạn chế, giống nấm chưa đảm bảo về số lượng và chất lượng, chuỗi sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ còn hạn chế, năng suất chất lượng nấm còn thấp, giá thành cao, khả năng cạnh tranh yếu so với một số nước trong khu vực

 Phân tích đối thủ cạnh tranh

- Đối thủ cạnh tranh trực tiếp

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội có một số cơ sở sản xuất nấm nhưng chưa chú trọng đến nấm milky mà thay vào đó là nấm rơm, nấm linh chi đỏ, hay chỉ có một

số mô hình trồng nấm rất nhỏ Đó là một lợi thế cho doanh nghiệp tham gia vào nghành nấm hướng đến một thị trường tiềm năng như thành phố Hà Nội

- Đối thủ cạnh tranh gián tiếp

Trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số tỉnh lân cận cũng có rất nhiều mô hình, các hợp tác xã hay các công ty sản xuất nông sản về các loại nấm khác như nấm rơm, nấm đùi gà, nấm kim châm, Vì vậy điều này cũng có tác động không nhỏ đến dự án này của doanh nghiệp Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, nấm Mỡ chưa phổ biến thông dụng trong bữa ăn thường ngày vì giá của nó khá cao (150.000 – 200.000 VND/kg), chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư với quy mô lớn vào loại nấm này do đó đây cũng là một điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, mỗi ngày, Việt Nam phải nhập khẩu 14,8 tấn nấm cao cấp như nấm kim châm, nấm đùi gà từ Hàn Quốc và Trung Quốc Tổng sản lượng các loại nấm này được trồng tại một số doanh nghiệp sản xuất chính tại Việt Nam đạt 2 – 3 tấn/ngày Như vậy, với mô hình trồng nấm được đầu tư thiết bị công nghệ, lai tạo các loại nấm với những phẩm chất của các giống nấm cao cấp như nấm Mỡ của doanh nghiệp cùng với quy trình trồng đơn giản… thì đây sẽ là một cơ hội giúp cho doanh nghiệp có thể mở rộng hơn thị trường nấm Việt Nam

Lợi thể và sự khác biệt với doanh nghiệp khác:

- Giá cả phù hợp với túi tiền người tiêu dùng

- Giao hàng tận nơi và có giá cả hợp lí

- Chất lượng đảm bảo

- Thái độ phục vụ của nhân viên thân thiện, nhiệt tình

- Địa bàn sản xuất kinh doanh nấm nằm gần thành phố

- Địa bàn sản xuất kinh doanh nằm gần nơi tiêu thụ

 Phân đoạn thị trường

Công ty sản xuất nấm ở miền Bắc là vì nấm Mỡ có dải nhiệt và độ ẩm tương đối rộng

có khả năng phù hợp với điều kiện khí hậu ở miền Bắc Bên cạnh đó Công ty có trụ sở

ở miền Nam muốn mở rộng ra thị trường miền Bắc để mọi người biết đến nấm Mỡ Đối

Trang 11

với việc chọn địa điểm ở thành thị mà không chọn địa điểm ở nông thôn là vì thành thị gần các siêu thị, nhà hàng để Công ty dễ dàng tiêu thụ sản phẩm nấm Ngoài ra, ở thành thị không khí ô nhiễm nên người dân mắc nhiều bệnh như ung thư, tim mạch…, diện tích đất hẹp không có chỗ trồng như ở nông thôn Vì vậy, nhờ công dụng của nấm Mỡ như tăng cường khả năng miễn dịch cơ thể, kháng ung thư và virus, dự phòng và trị liệu các bệnh tim mạch, giải độc và bảo vệ tế bào gan, chống não hóa…nên sản xuất nấm ở thành thị là rất phù hợp cho người dân và phù hợp với kinh tế của họ

2.2.4 Kế hoạch xúc tiến bán hàng

- Đây là một phần quan trọng, không thể thiếu trong việc marketing Cho dù có được chiến lược hoàn hảo, giá sản phẩm hợp lý nhưng truyền thông không tốt thì không ai biết đến thương hiệu, khách hàng họ cũng sẽ không biết đến sản phẩm của chúng tôi Vì vậy chúng tôi cho rằng để dự án này thành công, thương hiệu nấm của chúng tôi được nhiều khách hàng biết đến thì chúng tôi cần đẩy mạnh về quảng cáo, catalog, quan hệ công chúng và bán lẻ

- Cụ thể là quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các bảng thông báo, đăng trên các webside ẩm thực, tài trợ cho các chương trình dành cho khách hàng thân thiết, bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua thư trực tiếp, gởi catalog cho khách hàng, quan

hệ công chúng và đặc biệt hiện nay mạng xã hội rất phát triển, công dụng và hình ảnh của nấm Mỡ cũng được người tiêu dùng biết đến nhiêu hơn, vì vậy chúng tôi cần thường xuyên sử dụng dịch vụ quảng cáo trả phí trên Google và Facebook để đưa thương hiệu nấm của chúng tôi tới người tiêu dùng một cách rộng rãi nhất

- Hiện nay có rất nhiều hộ gia đình có nhu cầu trồng nấm Mỡ tại nhà với mong muốn đảm bảo tuyệt đối an toàn về chất lượng, hay tiện hơn, rẻ hơn về chi phí, đây cũng là một cơ hội lớn cho dự án của chúng tôi, khi ngoài việc cung cấp nấm thành phẩm thì chúng tôi đồng thời cũng cung cấp phôi nấm, khay nấm để đáp ứng nhu cầu của các mẹ nội trợ hay các mô hình trồng nấm Mỡ nhỏ và chưa tự sản xuất được phôi nấm

- Các chiến lược quảng cáo nghiêng về phần lý tính đều đạt được kết quả tốt trong phần xây dựng hình ảnh một sản phẩm tự nhiên, có lợi cho sức khỏe, mang lại cảm giác an toàn, sự tin tưởng của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm

- Đồng thời nhận thức về tác dụng của nấm đối với người tiêu dùng khá cao bên cạnh

đó các chiến lược xúc tiến của đối thủ cũng góp phần xây dựng nhận thức ấy bền chắc

- Tài trợ cho các cuộc thi ẩm thực Hà Nội, để nhiều nhà hàng, khách sạn có thể biết đến doanh nghiệp

- Chọn slogan hay, thu vị để tăng sự ấn tượng của khách hàng đối với doanh nghiệp

- Để kích thích hành vi mua hàng của khách hàng, doanh nghiệp sẽ giảm giá trên khối lượng lớn

- Vào mùa cao điểm tiêu thụ nấm như tháng 4,7 và cuối nấm doanh nghiệp sẽ tăng cường sản xuất để gia tăng mức sản lượng đáp ứng cho nhu cầu thị trường

- Tăng cường các hoạt động chào mời hàng, các quán ăn chay, khách sạn, nhà hàng, đồng thời tư vấn thông tin về sản phẩm cho khách hàng, đối với cả đối tác lớn và các cá nhân, hộ tiêu dùng nhỏ lẻ

2.2.5 Chiến lược giá

- Doanh nghiệp sẽ sử dụng phương pháp thẩm định giá thâm nhập thi trường: Đặt giá

Trang 12

bán ban đầu của sản phẩm thấp hơn giá thị trường, có thể thấp hơn cả giá của đối thủ cạnh tranh Doanh nghiệp sử dụng chiến lược này với kỳ vọng sản phẩm sẽ được thị trường chấp nhận rộng rãi hơn để có được thị phần cao hơn

- Định giá thâm nhập làm tối đa hóa doanh số bán trên đơn vị sản phẩm và tạo ra doanh thu theo thị phần nhưng lại làm ảnh hưởng đến tỷ lệ lợi nhuận Tuy nhiên, trong một số trường hợp, lợi nhuận thấp có thể ngăn cản các đối thủ cạnh tranh tham gia vào thị trường

- Sau này khi doanh nghiệp đã có được vị trí trong lòng khách hàng, sản phẩm được chấp nhận rộng rãi thì doanh nghiệp sẽ nâng mức giá lên nhưng không quá cao so với trước để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ cố gắng triển khai kế hoạch cắt giảm chi phí ở mức có thể nhằm đảm bảo mức giá tốt nhất cho khách hàng

2.2.6 Chiến lược phân phối

- Với tổng vốn đầu tư là 33 tỷ đồng, có kênh phân phối tốt, giá cả cạnh tranh, chiến lược marketing hợp lý, sản phẩm nấm Mỡ nhanh chóng đến với người tiêu dùng và phân phối rộng rãi trên thị trường Với mục tiêu là có chỗ đứng trên thi trường cung cấp nấm Mỡ đạt tiêu chuẩn VietGAP cho chuỗi các nhà hàng, khách hàng, trung tâm ẩm thực, hay các siêu thị, cửa hàng nông sản sạch trên địa bàn

- Phôi nấm chúng tôi đảm bảo việc sản xuất phôi nấm đủ tiêu chuẩn để cung cấp giống

và phôi chất lượng, tiêu chuẩn cho các mô hình trồng nấm nhỏ trong địa bàn Hà Nội và khu vực lân cận, cùng các chuỗi cung ứng trong hệ thống bán lẻ

- Quốc lộ 32 và đại lộ Thăng Long có địa hình rất thuận lợi cho việc đi lại và cận chuyển Đây là những tuyến đường lớn, quan trọng và là tuyến đường giao thông huyết mạch để đưa sản phẩm vào nội thành và các tỉnh lân cận Vì vậy sản phẩm nấm Mỡ sẽ thuận lợi

để có mặt trên thị trường Hà Nội và các tỉnh, thành phố lân cận

- Mục tiêu: tăng thêm 30% khách hàng cho mỗi quý, đạt được mức độ cao về sự hài lòng của các khách hàng, đối tác Từ đó chiếm lĩnh thị phần và tạo ra lợi nhuận

Trang 13

CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH SẢN XUẤT VÀ NGUỒN NGUYÊN LIỆU

Nấm Mỡ có dải nhiệt và độ ẩm tương đối rộng, có khả năng phù hợp với điều kiện khí hậu tại tỉnh Quảng Trị trong mùa nắng nóng

Quy trình trồng nấm Mỡ khá đơn giản, chi phí đầu tư thấp “ nguyên liệu chính để làm phôi nấm là mùn cưa, rơm rạ, bông hạt Bịch nấm được đóng từ 1,2kg đến 1,4kg, cây giống trong bịch ươm sợi từ 35 đến 40 ngày Say khi những sợi nấm đã ăn trắng bề mặt bịch, các bịch nấm sẽ được rạch bịch, tháo bao ni lông bên ngoài ”

Tháo bao nilong bịch nấm xong xếp bịch nấm vào khay hoặc luống và phủ kín bằng đất sét phơi khô Kể từ ngày phủ đất đến 10-15 ngày, nấm Mỡ sẽ ra quả thể Từ lúc nấm non nhú ra đến lúc thu hoạch 10 ngày Mỗi bịch nấm sẽ cho thu hoạch trong khoảng 2 đến 2,5 tháng

ử lý Xếp mô

Nuôi ủ

Tưới đón nấm

Thu đón nấm

Trang 14

Việc chăm sóc nấm Mỡ không quá khó Trong quá trình trồng không cần phải bón thêm phân hay thuốc hóa học Quá trình nuôi nấm cần tránh gió lùa và ánh sáng trực tiếp, khi tưới nước thì tưới dạng phun sương, ngày 2 lần, tưới ướt bề mặt Chúng ta tuân thủ các quy trình sản xuất, chế biến nấm theo hướng an toàn từ khâu trồng và cấy nấm, chăm sóc tưới bằng nước sạch, vệ sinh lán trại sạch sẽ hằng ngày

Nấm Mỡ có kích thước rất lớn, chiều cao tối đa có thể đến 20cm Thông thường 1 bịch nấm từ 1,2 kg đến 1,4kg sẽ cho ra thu hoạch khoảng 0,7 đến 1kg nấm tươi Khi thu hoạch nấm Mỡ phải lấy hết chân nấm, thu từng tai nấm trưởng thành, những tai nấm nhỏ để lại thu hoạch sau Quả thể bị chết và chân nấm cũ phải được vệ sinh sạch sẽ để tránh gây nấm mốc

- Tuyến trùng: tuyến trùng làm giảm số lượng sợi nấm, làm nhũn nát quả thể nấm Khi

có nhiều tuyến trùng trong khu trồng nấm thì sẽ thấy có mùi rất tanh và điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của nấm

b, Nấm tạp nhiễm gây bệnh:

Các nấm tạp nhiễm đó bao gồm: Mốc xanh, mốc trắng, đốm nâu, mốc xương, Các loại nấm tạp nhiễm khác nhau sẽ có những triệu chứng gây bệnh và thiệt hại trên các loại nấm khác nhau Mốc chính là nguyên nhân tiềm ẩn gây ra hiểm họa nghiêm trọng cho ngành sản xuất nấm của thế giới Chúng có sẵn trong cơ chất nuôi trồng nấm, trong không khí và lây lan nhanh chóng làm cho nấm không phát triển thành quả thể được

Hiện nay, mốc xanh là loại gây bệnh trên nấm ăn và nấm dược liệu ở nhiều nước trên thến giới, nó gây thiệt hại cho người trông nấm ở nhiều vùng trên thế giới với mức

độ thiệt hại từ 20% đến 80% năng suất

c, Độ ẩm:

- Độ ẩm nhà trồng nấm quyết định rất lớn đến sự phát triển của phôi nấm, đặc biệt là quyết định tới tỷ lệ hình thành quả thể của phôi nấm

- Nếu cung cấp dư thừa độ ẩm, phôi nấm có thể bị nhiễm bệnh Còn nếu cung cấp thiếu

độ ẩm, phôi nấm sẽ sinh trưởng chậm chạp, làm thấp tỉ lệ hình thành quả thể

- Độ ẩm nhà trồng nấm thường do yếu tố nhiệt độ bên ngoài tác động và do việc tưới nước của chúng ta quyết định Do đó, chúng ta phải thật chú ý điều chỉnh lượng nước tưới hàng ngày sao cho phù hợp và chú đến cả việc dựng nhà trồng nấm sao cho không

để nhiệt độ bên ngoài môi trường ảnh hưởng xấu đến độ ẩm nhà trồng nấm

- Chúng ta cần ước tính trước quy mô trồng nấm, diện tích không gian bố trí các kệ treo phôi nấm rồi mới dựng nhà trồng nấm với diện tích phù hợp Trách dựng nhà trông fnấm

Trang 15

có quá nhiều không gian dư thừa sẽ gây khó dữ ẩm cho nhà trồng nấm Chúng ta cũng tránh dựng nhà quá chật chội sẽ gây tù túng môi trường nhà trồng nấm

- Lượng nước cần tưới mỗi ngày sẽ phụ thuộc vào thình hình thời tiết: Nếu trời đổ mưa nhiều lần trong ngày, trời lạnh thì chúng ta không cần tưới nước Còn trường hợp trời nống bức thì phải tưới ít nhất 4 lần mỗi ngày

- Yêu cầu khi tưới nước là chúng ta chỉ tưới quanh vỏ bịch phôi, không tưới nước thẳng vào miệng bịch vì dễ làm phôi nấm bị nhiễm bệnh (trường hợp nặng có thể gây chết phôi nấm)

- Nên sử dụng máy phun sương để tưới nhằm tiếc kiệm thời gian, ít gây rủi ro hơn so với cách tưới thủ công

3.4 Nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào:

- Mùn cưa, rạ rơm, bã mía, cùi bắp

Mùn cưa các loại cây gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố như mùn cưa cây cao su, cây keo rơm rạ từ cây lúa, bã mía, cùi bắp từ cây ngô

Dự án sẽ tiến hành thu mua nguyên liệu mùn cưa và rạ rơm tại các vùng lân cận

- Các nguồn dinh dưỡng:

Nấm nói chung và các loại nấm ăn nói riêng chủ yếu sống dị dưỡng nhờ men phân giải tương đối mạnh giúp chúng có thể sử dụng các dạng thức ăn tương đối phức tạp như: chất xơ, chất đường, bột, chất mộc

+ Chất đường: trong quá trình sinh trưởng và phát triển nấm cần lượng lớn đường và bột, thường sử dụng nhất là bột bắp và cám gạo

+ Chất đạm: Các nguồn hữu cơ như bánh dầu, bã đậu nành, nguồn vô cơ như Ure, phân Sunfatamon, Diamonfotfat

+ Chất khoáng và Vitamin: Vitamin B1, B6, H, Phân lân, Phân Kaly, Phân NPK, các loại nhân tố vi lượng như sắt, kẽm

+ Vôi bột để khử trùng

Ngoài ra còn các vật dụng khác như xô chậu, quốc xẻng, túi bóng, bình tưới để phục

vụ quá trình chăm bón và thu hoạch

Trang 16

CHƯƠNG 4: ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN DỰ ÁN

4.1 Địa điểm

Đường Bắc Nam, xóm 11, xã Thạch Thán, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội

4.2 Phân tích về địa điểm

Xã Thạch Thán nằm ở phía Tây Nam thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp thị trấn Quốc Oai và xã Ngọc Mỹ, phía Nam giáp xã Đồng Quang; phía Tây giáp xã Ngọc Mỹ; phía Đông giáp thị trấn Quốc Oai và xã Đồng Quang Đây là một vị trí rất thuận lợi để trồng

và tiêu thụ sản phẩm nấm Mỡ bởi vì:

- Xã có một phần diện tích nằm trong đô thị Quốc Oai mở rộng và cách thủ đô Hà Nội khoảng 30km,có các trục giao thông đối ngoại của thủ đô Hà Nội dự kiến chạy qua địa phận xã như tuyến đường phát triển kinh tế xã hội Băc Nam của huyện Quốc Oai,các tuyến đường vành đai của đô thị Quốc Oai mở rộng, gần các trục đường lớn như quốc

lộ 32, đại lộ Thăng Long,… thuận tiện cho việc vận chuyển thành phẩm vào nôi đô để phục vụ nhu cầu tiêu dùng

- Bên cạnh đó, xã còn nằm bên cạnh khu làng nghề mộc Ngọc Than, vô cùng thuận tiện cho việc nhập nguyên liệu để làm phôi trồng nấm (mùn cưa,…), do đó có thể giảm thiểu tối đa chi phí vận chuyển và thu mua nấm

- Ngoài ra điều kiện tự nhiên ở đây thích hợp để trồng nấm, đặc biệt là nấm Mỡ, hứa hẹn sẽ cho sản lượng và năng suất cao

- Xã có quỹ đất rộng lớn, thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp nên chính quyền xã đang tìm hướng chuyển đổi cơ cấu ngành nghề để tăng giá trị sản xuất,

đa dạng cây trồng, vật nuôi Vì vậy xã rất hưởng ứng và tạo điều kiện xây dựng những

mô hình kinh doanh để phát triển nguồn lực cho xã nhà

Như vậy có thể nói, việc triển khai thực hiện Dự án kinh doanh và sản xuất nấm trên địa bàn xã Thạch Thán, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội là một lựa chọn đúng đắn, những lợi thế của địa phương sẽ góp phần quan trọng cho sự thành công của dự án

4.3 Điều kiện tự nhiên

4.3.1 Đất đai

Xã Thạch Thán có tổng diện tích đất tự nhiên 205,27 ha Trong đó:

- Đất nông nghiệp: 145,59 ha

+ Đất trồng lúa và SX nông nghiệp: 136 ha

+ Đất trồng lúa lâu năm: 4,6 ha

Trang 17

4.3.2 Địa hình

- Địa hình có độ cao từ 5- 10m so với độ cao Hòn Dấu- Hải Phòng, có độ dốc thoải từ phía Đông Bắc về phía Đông Nam Hàng năm không xảy ra ngập lụt vì xã nằm cạnh nhánh sông Đáy có hệ thống kênh mương tươi tiêu tốt, dễ thoát nước

- Điểm cao nhất so với địa điểm thấp nhất của xã chênh lệch từ khoảng 2-3m Đất dân

cư cao hơn đất canh tác khoảng 1,5-2m

4.3.3 Khí hậu: Cũng như các địa phương khác trong huyện Quốc Oai, Thạch Thán thuộc

vùng nhiệt đới gió mùa

a Nhiệt độ:

- Nhiệt độ không khí cao nhất trong năm 38- 40℃

- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 23℃

- Nhiệt độ không khí thấp nhất trong năm 8-10℃

- Lượng mưa cao nhất năm 2497mm

- Lượng mưa trung bình 1600- 1800mm

-Lượng mưa trung bình thấp nhất 135mm

d Lượng bốc hơi:

- Lượng bốc hơi cao nhất 896mm

-Lượng bốc hơi trung bình 817mm

-Lượng bốc hơi thấp nhất 709mm

e Mưa phùn:

- Số ngày mưa phùn trung bình năm 38,7 ngày

f Nắng: Tổng số ngày nắng trung bình năm 1464 giờ

g Gió:

- Tốc độ gió mùa hè 2.2m/s

- Tốc độ gió trung bình mùa đông 2.8m/s

- Hướng gió chủ đạo mùa hè là hướng Đông Nam

h Bão:

- Trung bình hàng năm có 2 cơn bão ảnh hưởng đến địa bàn, thường là cấp 7, cấp 8 Tốc độ gió V=30m/s

4.3.4 Thuỷ văn

Trang 18

- Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của mực nước thuỷ văn sông Đáy, sông Tích và các khu vực lân cận

=> Đất đai với diện tích đất đai nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, có khả năng xây dựng

mô hình kinh doanh trồng nấm theo quy môn lớn Về khí hậu, đây là nơi có nhiệt độ trung bình 30-34℃, lượng mưa trung bình 1600-1800mm, độ ẩm trung bình trong không khí cao, trên 86%; ít gió, rất phù hợp để canh tác và nuôi trồng nấm Mỡ

4.4 Điều kiện Kinh tế- Xã hội

4.4.1 Dân số

- Toàn xã có 1.989 hộ với 6.929 nhân khẩu

- Dân cư tập trung ở 4 thôn: Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4

4.4.2 Lao động:

- Lao động trong độ tuổi: 3.637 người, chiếm 59.5% dân số

- Lao động theo ngành nghề:

+ Nông nghiệp: 1600 lao động, chiếm 44%

+ Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp- xây dựng: 1237 lao động, chiếm 34% + Thương mại- dịch vụ- hành chính sự nghiệp: 800 lao động, chiếm 22%

4.4.3 Đời sống kinh tế xã hội

- Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 34 triệu đồng/ người

- Cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp kết hợp với chăn nuôi và kinh doanh dịch vụ tổng hợp

- Số hộ nghèo đến 6/2017 là 26 hộ, chiếm 1,32% tổng số hộ dân

Ngày đăng: 03/02/2021, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w