Kiến thức - HS nhận biết đặc điểm của đoạn văn nghị luận, thao tác lập luận, cấu tạo câu, bài học được rút ra.. - Vận dụng những kiến thức đã học và hiểu biết thực tế để viết một bài văn
Trang 1Tuần CM: 32 Ngày soạn: 07/ 04/ 2018
MA TRẬN KIỂM TRA BÀI VIẾT SỐ 7
VĂN NGHỊ LUẬN LỚP 8 Thời gian: 90 phút
A MỤC TIÊU KIỂM TRA
1 Kiến thức
- HS nhận biết đặc điểm của đoạn văn nghị luận, thao tác lập luận, cấu tạo câu, bài học được rút ra
- HS tạo lập văn bản nghị luận về một vấn đề có sự kết hợp các yếu tố miêu tả, nghị luận, biểu cảm
2 Kĩ năng:
- Đọc – hiểu một đoạn trích/ văn bản.
- Vận dụng những kiến thức đã học và hiểu biết thực tế để viết một bài văn nghị
luận
3 Thái độ:
- Giáo dục ý thức tự giác, không vi phạm nội quy khi kiểm tra
- Thái độ ham học hỏi, quan sát, tích lũy tri thức về các sự vật, hiện tượng
- Ý thức học tập nghiêm túc, tích cực trong các môn học
B HÌNH THỨC KIỂM TRA
- Hình thức: tự luận
- Cách thức tổ chức: kiểm tra chung cho khối 8
C MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA:
Cấp độ
Tên chủ đề
Nhận biết Thông hiểu
Vận dụng
Cộng Vận dụng
thấp Vận dụng cao
I.
Đọc
hiểu
- Ngữ
liệu: Văn
bản thông
tin/văn
bản nghệ
thuật
- Tiêu chí
lựa chọn
NL:
- Nhận biết
được những thông tin chính của đoạn trích:
câu chủ đề;các thao tác lập luận trong văn nghị luận, thành phần câu .
- Hiểu giá trị, ý nghĩa của đoạn trích
Trang 2+ 01 đoạn
trích.
+ Độ dài
khoảng 50
- 300 chữ
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
Số câu: 2
Số điểm: 1
Tỉ lệ %: 10
Số câu: 2
Số điểm : 2
Tỉ lệ %: 20
Số câu: 4
Số điểm: 3
Tỉ lệ %: 30
II.Tập làm văn
- Văn nghị luận
- Nhận biết được các yêu cầu của đề về kiểu bài nghị luận
- Biết vận dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong bài nghị luận
- Hiểu đúng đặc trưng vấn đề nghị luận.
- Vận dụng linh hoạt các phương pháp nghị luận
- Hoàn thành một bài văn thuyết minh.
- Có những nhận xét, đánh giá hợp
lí về vấn đề nghị luận và rút ra bài học đối với bản thân.
Số câu:
Số điểm:
Tỉ lệ %:
Số câu:
Số điểm:2
Tỉ lệ %: 20
Số câu:
Số điểm:1
Tỉ lệ %: 10
Số câu:
Số điểm: 1
Tỉ lệ %: 10
Số câu:
Số điểm: 3
Tỉ lệ %: 30
Số câu: 1
Số điểm: 7
Tỉ lệ %: 70
Tổng số câu:
Số điểm:
Tỉ lệ %:
Số câu:
Số điểm:3
Tỉ lệ %:30
Số câu:
Số điểm:3
Tỉ lệ %:30
Số câu:
Số điểm:1
Tỉ lệ %:10
Số câu:
Số điểm: 3
Tỉ lệ %:30
Số câu: 5
Số điểm:10
Tỉ lệ%:100
D BIÊN SOẠN CÂU HỎI THEO MA TRẬN
PHẦN I : ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ câu 1 đến câu 4:
"… (1) Thật vậy, Nguyễn Du, đại thi hào của dân tộc từng viết: “Sách vở đầy bốn vách/ Có mấy cũng không vừa” Đáng tiếc, cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách cũng dần phôi pha Sách in nhiều nơi không bán được, nhiều nhà xuất bản đóng cửa vì thua lỗ, đặc biệt sách bị cạnh tranh khốc liệt bởi những phương tiện nghe nhìn như ti vi, Ipad, điện thoại Smart, và hệ thống sách báo điện
Trang 3tử trên Internet Nhiều gia đình giàu có thay tủ sách bằng tủ rượu các loại Các thư viện lớn của các thành phố hay của tỉnh cũng chỉ hoạt động cầm chừng, cố duy trì sự tồn tại.
(2) Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus Hay hình ảnh những công dân nước Nhật mỗi người một quyển sách trên tay lúc ngồi chờ tàu xe, xem hát, v.v càng khiến chúng
ta thêm yêu mến và khâm phục Ngày nay, hình ảnh ấy đã bớt đi nhiều, thay vào đó
là cái máy tính hay cái điện thoại di động Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay ”
(Trích “Suy nghĩ về đọc sách” – Trần Hoàng Vy, Báo Giáo dục & Thời đại, Thứ hai ngày 13.4.2015)
Câu 1 Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của đoạn trích trên
Câu 2 Vì sao tác giả cho rằng: cuộc sống hiện nay dường như “cái đạo” đọc sách
cũng dần phôi pha ?
Câu 3: Xác định các thành phần câu trong câu sau: Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé,
với những quyển sách giấu trong áo, tôi có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus.
Câu 4: Thông điệp mà tác giả muốn gửi tới tất cả mọi người là gì?
PHẦN II: LÀM VĂN (7,0 điểm )
Câu 5: Suy nghĩ của em về hiện tượng học tủ, học vẹt
E HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ BIỂU ĐIỂM
1 Yêu cầu chung
- Giáo viên phải nắm bắt được nội dung trình bày trong bài làm của học sinh để đánh giá cho điểm một cách chính xác, khoa học Đánh giá cao những bài làm sáng tạo, có giọng điệu, văn phong
- Giáo viên cần chủ động linh hoạt trong đánh giá cho điểm, cân nhắc trong từng trường hợp cụ thể Nếu học sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản đảm bảo tính hợp lí, có sức thuyết phục, dựa vào tình hình thực tế bài làm để xác định điểm một cách phù hợp
- Thang điểm 10, chi tiết đến 0,5 điểm
2 Yêu cầu cụ thể
Trang 41 Câu chủ đề: Song sách vẫn luôn cần thiết, không thể thiếu trong cuộc sống phẳng hiện nay. 0,5
2
Tác giả cho rằng “cuộc sống hiện nay dường như “cái
đạo” đọc sách cũng dần phôi pha” vì ở thời đại công
nghệ số, con người chỉ cần gõ bàn phím máy tính hoặc điện thoại di động đã có thể tiếp cận thông tin ở nhiều phương diện của đời sống, tại bất cứ nơi đâu, trong bất
kì thời gian nào, nên việc đọc sách đã dần trở nên phôi pha
1
3
- Trạng ngữ: Bỗng chợt nhớ khi xưa còn bé, với những
quyển sách giấu trong áo
- Chủ ngữ: tôi
- Vị ngữ: có thể đọc sách khi chờ mẹ về, lúc nấu nồi
cơm, lúc tha thẩn trong vườn, vắt vẻo trên cây, lúc chăn trâu, lúc chờ xe bus.
0,5
4
- Thông điệp: Hãy tạo thói quen đọc sách hàng ngày
để hình thành văn hóa đọc sách trong cuộc sống hiện
II
- Học sinh nhận biết được yêu cầu của đề về kiểu bài
- Biết kết hợp, vận dụng các phương pháp nghị luận một cách hợp lí, phù hợp Biết kết hợp các yếu tố miêu
tả, biểu cảm, tự sự trong bài viết
0,5
- Biết viết bài văn thuyết minh mạch lạc, đúng bố cục,
- Giải thích khái niệm:
+ Học vẹt: chỉ việc học nhưng không hiểu được bản chất của vấn đề đang học; người học chỉ nhắc lại nội dung kiến thức SGK như con vẹt hay cái máy mà thôi
+ Học tủ: thường gặp trong các kì thi học sinh chỉ chăm chăm chú ý học phần kiến thức được cho là chắc chắn sẽ có trong đề thi, không học các phần kiến thức khác Đây là ý kiến chủ quan của người học, người này nói với người kia chứ không có thật
1
Trang 5- Thực trạng vấn đề:
+ Học vẹt, học tủ không phải là hiện tượng đơn lẻ,
hiếm hoi mà nó trở thành thực trạng phổ biến trong học
sinh
+ Trên lớp mải nói chuyện, làm việc riêng không chú ý
thầy cô giảng bài; về nhà học những kiến thức ở SGK
như cái máy miễn làm sao khi được hỏi đến thì trả lời
trơn tru, những kiến thức đó không có tác dụng gì với
người học
+ Hiện tượng này phổ biến khi tới các kì thi hay các
bài kiểm tra, thời gian dành cho việc ôn tập không có
mà chỉ đoán xem đề ra vào phần nào
1,5
- Nguyên nhân:
+ Trong các giờ học mải nói chuyện, làm việc riêng
không chú ý bài học nên không hiểu bài lâu dần mất
gốc, học vẹt chỉ học phần ngọn không hiểu chắc chắn
về kiến thức
+ Học sinh còn lười học tập, ngày thường chỉ dành thời
gian để chơi, xem tivi, chơi game, … không ôn tập
+ Bản thân học sinh chưa xác định được mục đích học
tập đúng đắn
+ Chương trình học còn nặng về lí thuyết chưa chú
trọng đến thực hành
+ Giáo viên và phụ huynh chưa tạo được cảm hứng,
đam mê của các em với các môn học, thường gây áp
lực về thành tích
1
- Hậu quả:
+ Làm cho người học không có kiến thức, kiến thức
thiếu hụt dẫn đến việc không thể thực hành, vận dụng
+ Gây ra những tình huống dở khóc dở cười khi bị “tủ
đè”, học một đường thi một nẻo, …
+ Dẫn đến các hành động xấu như gian lận thi cử, chép
bài, dùng tài liệu, …
+ Việc học vẹt, học tủ trở nên phổ biến sẽ gây ra hậu
quả nghiêm trọng cho đất nước
1
- Biện pháp và bài học cho bản thân:
+ Xác định mục tiêu học tập đúng đắn: học để có kiến
thức, học để trở thành người có ích cho xã hội, …
+ Có thái độ và phương pháp học tập đúng đắn
+ Học tập nghiêm túc từ ngay bây giờ, học mọi lúc mọi
nơi, phân bố thời gian học tập hợp lí
+ Nhận thức rõ tác hại, sự nguy hiểm của học tủ, học
vẹt
1
Trang 6TỔNG ĐIỂM TOÀN BÀI: 10 điểm