1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn thi

70 142 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự sáng tác của các tác phẩm văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Tài liệu ôn thi
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 439 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chủ yếu nhằm miêu tả chân thực tình cảnh nghèo khổ, bế tắc tù túng của tầng lớp này, đồng thời các tác phẩm cũng thể hiện bi kịch tinh thần đau đớn và dai dẳng của ngời trí thứ

Trang 1

1.Hoàn cảnh sáng tác của “ Tiếng hát con tàu ” :

1 Tiếng hát con tàu (in trong tập ánh sáng và phù sa , xuất bản năm 1960) đợc gợi cảm hứng từ

một chủ trơng lớn của Nhà nớc vận động nhân dân miền xuôi lên xây dựng kinh tế miền núi vào những năm 1958 - 1960 ở miền Bắc Nhng xét sâu hơn, bài thơ ra đời chủ yếu vì nhu cầu giãi bày tình cảm ân nghĩa của tác giả đối với nhân dân, đối với cuộc đời và cách mạng

2 Bài thơ ra đời khi cha có đờng tàu lên Tây Bắc Hình ảnh con tàu thực chất là hình ảnh biểu tợng, thể hiện khát vọng lên đờng và niềm mong ớc của nhà thơ đợc đến với mọi miền đất nớc Tiếng hát con tàu , nh vậy, là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ - một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lý t ởng, vào cuộc đời Tâm hồn nhà thơ đã hóa thân thành con tàu, hăm hở làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc,

đến với cuộc sống lớn của nhân dân Đến với đất nớc, nhân dân cũng là đến với cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ ca

2.Hoàn cảnh sáng tác của Tây Tiến (Quang Dũng)

1 Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến Đây là một đơn

vị thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Lào - Việt, đồng thời đánh tiêu hao địch và tuyên truyền đồng bào kháng chiến

2 Địa bàn hoạt động của đoàn khá rộng: từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hóa Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có nhiều học sinh, trí thức (nh Quang Dũng) Sinh hoạt của họ vô cùng thiếu thốn, gian khổ: trèo đèo, luồn rừng, lội suối, ăn uống kham khổ, ốm đau không có thuốc men (đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều) Tuy vậy, họ sống rất vui và chiến đấu rất dũng cảm Lòng yêu nớc khiến họ có thể hy sinh tất cả - "Chiến trờng đi chẳng tiếc đời xanh

" Vì thế đoàn quân sốt rét vẫn khiến kẻ địch phải khiếp sợ " Quân xanh màu lá dữ oai hùm"

3 Đoàn quân Tây Tiến, sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về thành lập trung đoàn 52 Cuối

1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Rời xa đơn vị ít lâu, ngồi ở Phù Lu Chanh (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), ông viết bài thơ Nhớ Tây Tiến (Năm 1957, khi in lại Quang

Dũng bỏ chữ "nhớ", có lẽ vì cho là thừa) Bài Tây Tiến rút trong tập Mây đầu ô (NXB Tác

phẩm mới, 1986)

3 Hoàn cảnh sáng tác của Bên kia sông Đuống

1 Bài Bên kia sông Đuống ra đời năm 1948 Sông Đuống còn gọi là sông Thiên Đức, là một nhánh của sông Hồng nối với sông Thái Bình, chia tỉnh Bắc Ninh ra làm hai phần: nam (hữu ngạn) và bắc (tả ngạn) Quê hơng, gia đình Hoàng Cầm ở nam phần tỉnh Bắc Ninh, ngay bên bờ sông Đuống Khi giặc Pháp chiếm nam phần Bắc Ninh thì Hoàng Cầm đang công tác ở Việt Bắc Một đêm giữa tháng

4 năm 1948, Hoàng Cầm trực tiếp nghe tin giặc đánh phá quê hơng mình, ông xúc động và ngay đêm

ấy viết bài Bên kia sông Đuống - "bên này" là đất tự do, hớng về "bên kia" là vùng bị giặc chiếm

đóng và giày xéo

2 Bài thơ đăng lần đầu tiên trên báo Cứu quốc tháng 6 năm 1948 Nó đợc phổ biến nhanh chóng từ Việt Bắc tới khu Ba, khu Bốn, vào miền Nam và ra tận Côn Đảo Bản thảo gốc của bài thơ không còn nữa Vì thế có nhiều dị bản và không có bản nào hoàn toàn đúng với bản gốc Tất cả đều chỉ dựa theo trí nhớ "mang máng" của tác giả nh chính ông đã thú nhận, và trí nhớ của những ngời biên soạn sách hay biên tập báo Trong SGK này, văn bản Bên kia sông Đuống đợc chỉnh lí lại dựa trên sự đối chiếu nhiều văn bản khác nhau và trí nhớ đợc khôi phục đầy đủ hơn của nhà thơ Văn bản này đợc tác giả xác nhận là gần với bản gốc hơn cả

4.Hoàn cảnh sáng tác của Mới ra tù tập leo núi

1 Bài thơ này Chủ tịch Hồ Chí Minh làm sau khi ra tù (khoảng giữa tháng 9 năm 1943), nó không

nằm trong Nhật kí trong tù nhng thờng đợc đặt ở cuối bản dịch tập thơ này nh bài kết thúc Về mặt phong cách nghệ thuật, " Mới ra tù, tập leo núi " không khác gì các bài thơ trong tập Nhật kí trong tù.

2 Trong tập hồi ký Những chặng đờng lịch sử (NXB Văn học, Hà Nội, 1976), Đại tớng Võ Nguyên Giáp cho biết về ý nghĩa ngụ ý nhắn tin (về nớc) của bài thơ nh sau: "Bữa ấy, tôi về cơ quan hội báo tình hình thì thấy anh Đồng, anh Vũ Anh và anh Lã đang xúm xít quanh một tờ báo Các anh chuyển

tờ báo và hỏi tíu tít: - Anh xem có đúng là chữ của Bác không ? Đó là một tờ báo ở Trung Quốc mới gửi về, bên mép trắng có một hàng chữ Hán viết tay Tôi nhận ngay ra đúng là chữ Bác, Bác viết:

"Chúc ch huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác ở bên này bình yên" Phía dới lại có một bài

Trang 2

thơ " Trong cuốn Vừa đi đờng vừa kể chuyện, T.Lan lại cho biết hoàn cảnh cảm hứng của bài thơ

nh sau: "Khi đợc thả ra, mắt Bác nhìn kém, chân bớc không đợc, Bác quyết tâm tập đi, mỗi ngày 10 bớc, dù đau mà phải bò, phải lết cũng phải đợc 10 bớc mới thôi Cuối cùng Bác chẳng những đi vững

mà còn trèo đợc núi Lần đầu tiên lên đỉnh núi, Bác cao hứng làm một bài thơ chữ Hán "

5 Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tâm t trong tù

Đầu năm 1939, tình hình thế giới trở nên căng thẳng, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai có nguy

cơ bùng nổ, thực dân Pháp trở lại đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dơng Cuối tháng T năm ấy,

Tố Hữu bị chính quyền thực dân bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng Cộng sản Tâm t trong tù

đ-ợc viết tại xà lim số 1 nhà lao Thừa Thiên (Huế) trong những ngày đầu tiên nhà thơ bị bắt giam Bài thơ này mở đầu cho phần "Xiềng xích" của tập thơ Từ ấy (1946)

6.Hoàn cảnh sáng tác của Việt Bắc

1 Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp nghị Giơnevơ về Đông Dơng đợc ký kết (tháng 7 năm

1945), hòa bình trở lại, miền Bắc nớc ta đợc giải phóng Một trang sử mới của đất nớc và một giai

đoạn mới của cách mạng đợc mở ra

2 Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ơng của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở

về Hà Nội Nhân sự kiện thời sự có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc Phần đầu bài thơ tái hiện một giai đoạn khổ, vẻ vang của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay

đã trở thành những kỷ niệm sâu nặng trong lòng ngời Phần sau nói lên sự gắn bó giữa miền ngợc và miền xuôi trong một viễn cảnh hòa bình tơi sáng của đất nớc và kết thúc bằng lời ngợi ca công ơn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng với dân tộc

Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam

thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

7 Hoàn cảnh sáng tác của Vi hành

1 Giữa năm 1922, thực dân pháp đa Vua bù nhìn Khải Định sang Pháp dự cuộc triển lãm thuộc

địa Vecxây Đây là một âm mu của chúng nhằm lừa gạt nhân dân Pháp: Vị quốc vơng An Nam này

đại diện cho 1 dân tộc lớn nhất ở Đông Dơng, sang Pháp để tỏ thái độ hoàn toàn quy phục "mẫu quốc" và để cảm tạ công ơn "khai hóa" của mẫu quốc Nh vậy tình hình Đông Dơng là ổn định và tốt

đẹp, nhân dân Pháp nên nhiệt tình ủng hộ cuộc đầu t lớn vào Đông Dơng để khai thác tài nguyên giàu có ở xứ này và tiếp tục đem văn minh tiến bộ đến cho những ngời dân đợc nớc Pháp bảo hộ

2 Nguyễn ái Quốc viết "Vi hành" vào đầu năm 1923 để cùng với vở kịch "Con rồng tre" truyện

ngắn "Lời than vãn của bà Trng Trắc" bài báo "Sở thích đặc biệt" (viết năm 1922) lật tẩy âm mu nói trên của thực dân Pháp Đồng thời vạch trần tính chất bù nhìn tay sai dơ dáy của Khải Định và tố cáo tính chất điêu trá của những danh từ "văn minh, khai hóa" của chủ nghĩa thực dân

8.Hoàn cảnh sáng tác của Nhật ký trong tù

1 Nhật ký trong tù là một tập nhật ký bằng thơ viết trong nhà tù Sau một thời gian về nớc và công

tác tại Cao Bằng, tháng 8 năm 1942, Nguyễn ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đờng trở lại Trung Quốc với danh nghĩa đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân ban quốc tế phản xâm lợc của Việt Nam để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế Sau nửa tháng trời đi bộ, đến Túc Vinh, Quảng Tây (29-8), Ngời bị chính quyền Tởng Giới Thạch bắt giam 14 tháng ở tù (từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943), tuy bị đày ải vô cùng cực khổ ("Sống khác loài ngời vừa bốn tháng, Tiều tụy còn hơn mời

năm trời"), lại bị giải đi quanh quẩn qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc Quảng Tây, Ngời vẫn

làm thơ Ngời đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán ghi trong một cuốn sổ tay mà Ngời đặt tên là Ngục trung nhật ký (tức Nhật ký trong tù)

2 Tập Nhật ký trong tù, vì thế, vừa ghi lại đợc một cách chân thực - chân thực nhiều khi đến chi

tiết - bộ mặt đen tối và nhem nhuốc của chế độ nhà tù cũng nh của xã hội Trung Quốc thời Tởng Giới Thạch, vừa thể hiện đợc tâm hồn phong phú, cao đẹp của ngời tù vĩ đại Về phơng diện này, có thể xem Nhật ký trong tù nh một bức chân dung tự họa con ngời tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh: vừa kiên cờng bất khuất -"Thân thể ở trong lao, Tinh thần ở ngoài lao"- vừa mềm mại, tinh tế, hết sức nhạy cảm với mọi biến thái của thiên nhiên và lòng ngời; vừa ung dung tự tại, hết sức thoải mái, nh bay lợn ở ngoài tù, vừa nóng lòng sốt ruột nh lửa đốt, khắc khoải ngóng về tự do, mòn mắt nhìn về

Tổ quốc; vừa đầy lạc quan tin tởng; luôn luôn hớng về bình minh và mặt trời hồng, vừa trằn trọc lo

âu, không bao giờ nguôi nỗi đau lớn của dân tộc và nhân loại, nhiều đêm một mình đối diện đàm tâm

Trang 3

với vầng trăng lạnh Tất cả bắt nguồn từ bản chất của một tâm hồn yêu nớc lớn, một tấm lòng nhân

đạo lớn, một cốt cách nghệ sĩ lớn

9.Hoàn cảnh sáng tác của Tuyên ngôn độc lập

1 Ngày 19 tháng 8 năm 1945, chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân, Ngày 26 tháng 8 năm 1945,

Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội Tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Ngời soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Ngày 2.9.1945, tại quảng trờng Ba Đình, Hà Nội, Ngời thay mặt Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tr-

ớc hàng chục vạn đồng bào

2 Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân,

phong kiến ở nớc ta và mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận ngắn gọn, lập luận chặt chẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục

10 Tác giả Nam Cao:

1 Tiểu sử và con ngời

Tiểu sử: Nam Cao tên khai sinh là Trần Hữu Tri Ông sinh năm 1915 tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh

Hà Nam)

Học xong bậc thành chung ông ớc mơ đi xa nhng không thành vì sức khỏe, trở lại quê hơng sau đó

ông lên Hà Nội dạy học giữa lúc tình hình có nhiều biến động: quân Nhật đảo chính Pháp ở Đông

D-ơng

Năm 1943, Nam Cao tham gia hội văn hóa cứu quốc do Đảng cộng sản tổ chức và lãnh đạo, tham gia cớp chính quyền ở địa phơng Sau cách mạng tháng Tám, ông tham gia nhiều công tác khác nhau: công tác ở Hội văn hóa cứu quốc, Nam tiến, làm tuyên truyền, tham gia chiến dịch biên giới Tháng 11 năm 1951, Nam Cao đã bị địch phục kích và bắt đợc trên đờng vào công tác vùng sau l-

ng địch thuộc Liên khu III và bị chúng bắn chết ở gần Hoàng Đan (thuộc tỉnh Ninh Bình)

Con ngời: Trớc cách mạng, Nam Cao mang nặng tâm sự u uất của một ngời trí thức giàu tâm huyết phải chịu cảnh bị xã hội bóp nghẹt sự sống con ngời Ông luôn giữ cho mình một tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thơng, một lối sống gắn bó với con ngời, đặc biệt là những ngời nông dân nghèo khổ Là một trí thức, Nam Cao đôi lúc không tránh khỏi việc bị ảnh hởng lối sống của tầng lớp tiểu t sản, nhng ông luôn nghiêm khắc tự đấu tranh với bản thân để vợt qua những cám dỗ của lối sống thoát li, hởng lạc, tầm thờng, nhỏ nhen

2 Sự nghiệp văn học

Sáng tác của Nam Cao trớc cách mạng tập trung vào hai đề tài chính: cuộc sống ngời trí thức tiểu

t sản nghèo và cuộc sống ngời nông dân

- Đề tài ngời trí thức tiểu t sản: Tập trung ở tiểu thuyết Sống mòn và các truyện ngắn: Những

chuyện không muốn viết; Trăng sáng; Mua nhà; Nớc mắt; Đời thừa Nội dung chủ yếu nhằm miêu tả

chân thực tình cảnh nghèo khổ, bế tắc tù túng của tầng lớp này, đồng thời các tác phẩm cũng thể hiện

bi kịch tinh thần đau đớn và dai dẳng của ngời trí thức: những con ngời có ý thức sâu sắc về sự sống, sống có hoài bão, có nhân cách nhng cứ bị gánh nặng cơm áo hàng ngày làm cho chết mòn về tâm hồn ở đề tài này, nhiều sáng tác của Nam Cao cũng đã diễn tả cuộc đấu tranh trong bản thân ngời trí thức nhằm đạt tới một lẽ sống cao đẹp hơn

- ở đề tài về cuộc sống tăm tối thê thảm của ngời nông dân đơng thời, Nam Cao có các tác phẩm

đáng chú ý: Lão Hạc; Chí Phèo; Một đám cới, Dì Hảo; Một bữa no Nội dung của các tác phẩm tập trung làm rõ cuộc đời khốn cùng, thê thảm của ngời nông dân: bị ức hiếp, chịu nhiều bất công, bị hắt hủi, xúc phạm về nhân phẩm Nhà văn đã kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo huỷ diệt cả nhân tính của những con ngời vốn có bản tính lơng thiện Trong nhiều tác phẩm viết về đề tài ngời nông dân nhà văn luôn đi sâu phát hiện và khẳng định bản chất lơng thiện đẹp đẽ cao quí trong tâm hồn họ, ngay cả khi những ngời nông dân này bị vùi dập tới mất cả nhân hình, nhân tính

Không chỉ là một đại diện tiêu biểu của trào lu văn học hiện thực trớc cách mạng tháng Tám, Nam Cao còn là cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền văn học mới Sau cách mạng tháng Tám, Nam Cao sáng tác để phục vụ công cuộc kháng chiến Truyện ngắn "Đôi mắt'”(1948); Nhật ký ở rừng (1948) và tập bút ký Chuyện biên giới (1950) là những sáng tác thành công của Nam Cao góp phần vào nền văn học mới còn rất non trẻ của chúng ta

Trang 4

Là một tài năng độc đáo, lại có một tấm lòng nhân đạo rất sâu sắc Nam Cao xứng đáng đợc coi là một nhà văn lớn, một nhà văn có vị trí hàng đầu của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

3 Quan điểm nghệ thuật

Nam Cao thờng không phát biểu một cách trực tiếp quan điểm về nghệ thuật mà ông thể hiện nó rải rác trong các sáng tác của mình: Trăng sáng (1943); Đời thừa (1943); Đôi mắt (1948)

Trớc cách mạng, quan điểm nghệ thuật của Nam Cao thể hiện ở mấy nét lớn nh sau:

- Nam Cao phủ nhận nghệ thuật lãng mạn thoát li, khẳng định nghệ thuật chân chính phải là nghệ thuật hiện thực gắn bó với đời sống, phản ánh chân thực đời sống Ngời cầm bút không đợc trốn tránh sự thực, dù cho sự thực ấy chẳng nên thơ chút nào

- Quan điểm hiện thực và nhân đạo: tác phẩm văn học có giá trị không chỉ phản ánh sự thực đời sống mà còn phải có giá trị nhân đạo sâu sắc

- Nam Cao coi lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu; ngời viết văn phải là ngời có trách nhiệm, có lơng tâm; ông lên án gay gắt sự cẩu thả trong nghề văn

- Văn chơng đồng nghĩa với sáng tạo tìm tòi không ngừng cả về hình thức nghệ thuật và nội dung Sau cách mạng tháng Tám, trong truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao đặt ra vấn đề cách nhìn của nhà văn đối với hiện thực đời sống và con ngời để viết ra những tác phẩm có ích cho cuộc đời

4 Đặc điểm nghệ thuật viết truyện của Nam Cao

- Cách viết rất chân thực, có tầm khái quát cao, ngời đọc có cảm tởng nhà văn không hề h cấu Tất cả đều thật, nhng từ những chuyện xoàng xĩnh đời thờng tởng nh không có ý đáng nói đó, nhà văn làm nổi bật những vấn đề có ý nghĩa to lớn về xã hội, nhân sinh - nhiều truyện của Nam Cao có màu sắc triết lí sâu xa

- Xây dựng nhân vật sống động, chân thực, trong đó có những điển hình bất hủ nh Chí Phèo, Bá Kiến, lão Hạc Sở trờng miêu tả, phân tích tâm lí, có khả năng đi sâu vào những ngõ ngách tâm t sâu kín cùng những diễn biến phức tạp trong nội tâm con ngời (Đời thừa, Chí Phèo, Một đám cới)

- Cách kể chuyện, kết cấu rất linh hoạt, mới mẻ, nhà văn vào chuyện, dẫn chuyện tự nhiên, lôi cuốn, kết cấu thoải mái, có vẻ tùy tiện mà hình thức chặt chẽ, truyện nhiều khi đợc kể theo quan

điểm nhân vật nên giàu sắc thái chân thực Ngôn ngữ hết sức tự nhiên sinh động, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng, lời kể của tác giả, lời nhân vật thờng đan xen biến hóa → giọng điệu biến hóa linh hoạt

⇒ "Nam Cao là một trong những nhà văn đem lại cái mới nhất, có đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam hiện đại" (Nguyễn Hoành Khung)

C.Định h ớng ra đề và gợi ý giải:

Đề 1: Anh (chị) hãy trình bày những hiểu biết của mình về sự nghiệp văn học của Nam Cao

Kể tên những tác phẩm đợc xem nh là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn trớc và sau cách mạng 8/1945, ghi rõ năm xuất bản.

Sử dụng kiến thức mục II về sự nghiệp văn học và mục III về quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trong phần kiến thức cơ bản về tác giả

Đề 2 Nếu "Trăng sáng" (1943) và "Đời thừa" (1943) đợc xem nh là tuyên ngôn nghệ thuật

của Nam Cao trớc cách mạng tháng Tám, thì Đôi mắt (1948) chính là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn sau cách mạng Hãy phân tích các truyện ngắn đó để nêu lên sự phát triển của t t- ởng nghệ thuật Nam Cao trong các tuyên ngôn nghệ thuật nói trên.

Gợi ý:

- Trong quá trình phân tích ba tác phẩm của Nam Cao không nên đi vào việc phân tích tính cách nhân vật mà nên bám sát những quan điểm ý nghĩ của nhân vật để qua đó phát hiện đợc những tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn; sắp xếp chúng lại một cách có hệ thống để thể hiện rõ bớc đờng phát triển trong t tởng nghệ thuật của Nam Cao

Trang 5

"ánh trăng lừa dối" ở đây là hình ảnh tiêu biểu cho văn chơng lãng mạn, thoát li, thi vị hòa cuộc sống

nh ánh trăng thơ mộng và huyền ảo nhng "làm đẹp những cái thật ra chỉ tầm thờng xấu xí, phê phán tính chất thoát li, quay lng lại với đời sống nhân dân của thứ "nghệ thuật vị nghệ thuật”, Nam Cao đòi hỏi văn học phải bắt rễ từ hiện thực, phải trở về với cuộc sống của hàng triệu con ng ời đau khổ, phải

vị nhân sinh, phải là "tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than" và vị trí của nhà văn phải là

“đứng trong lao khổ mà mở hồn ra đón lấy tất cả những vang vọng của đời ”

+ Với "Trăng sáng", Nam Cao đã thể hiện một quan điểm nghệ thuật sâu sắc và tiến bộ Nhng Nam Cao không dừng lại ở đấy Đến "Đời thừa", ông lại gửi gắm những suy t và những quan niệm sâu sắc của mình về nghề văn và sứ mệnh chân chính của ngời cầm bút qua nhân vật Hộ Qua nhân vật Hộ, Nam Cao cho rằng: "Văn chơng không cần đến những ngời thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đã cho Văn chơng chỉ dung nạp đợc những ngời biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn cha ai khơi và sáng tạo những cái gì cha có" Câu nói ngắn gọn nhng nó đã thâu tóm những yêu cầu thật gắt gao, nghiêm túc đối với ngời sáng tác văn chơng Nghệ thuật đồng nghĩa với sự sáng tạo, nhng đó cũng không phải là đi tìm cái lạ một cách màu mè, hình thức mà phải là khám phá cho

đợc sự thật Cũng trong tác phẩm này, qua những quan niệm hết sức đúng đắn và nghiêm túc của Hộ

về nghề văn, Nam Cao cho rằng: Nghề văn là một thứ lao động xã hội nghiêm túc đòi hỏi cao về trách nhiệm và lơng tâm: "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lơng rồi Nhng sự cẩu thả trong văn chơng thì thật là đê tiện" và mục đích của văn chơng là nhân đạo: "Một tác phẩm thật giá trị, phải vợt lên trên tất cả các bờ cõi Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, bác ái, sự công bình Nó làm cho ngời gần ngời hơn"

+ Truyện ngắn "Đôi mắt" đợc viết trong thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp (1948), là thời

điểm "tìm đờng" và "nhận đờng" của lớp văn nghệ sĩ thuộc thế hệ trớc Cách mạng tháng Tám Qua cách nhìn ngời và nhìn đời của hai nhà văn Hoàng - con ngời có cái nhìn phiến diện, sai lệch và Độ - con ngời có cách nhìn đúng đắn, toàn diện, độ lợng và thông cảm với ngời lao động; Nam Cao đã đặt

ra trong tác phẩm của mình một vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạt động sáng tạo nghệ thuật: Đó

là cách nhìn của nhà văn đối với hiện thực đời sống, con ngời để viết ra những tác phẩm có ích cho

đời

Đề 3: Trình bày quan điểm nghệ thuật của Nam Cao Chứng minh rằng Nam Cao đã thực

hiện một cách triệt để quan điểm ấy trong các sáng tác của mình (dựa vào các tác phẩm của Nam

Cao có trong chơng trình THPT)

Gợi ý: Bài làm phải giải quyết 2 vấn đề lớn Nội dung thứ nhất: Trình bày quan điểm nghệ thuật

của Nam Cao Phân tích chủ yếu là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trớc cách mạng (xem phần III quan điểm nghệ thuật và đề 2 ở trên)

Nội dung thứ hai: Chứng minh sự thể hiện của những quan điểm nghệ thuật đó trong sáng tác của Nam Cao:

+ Phủ nhận nghệ thuật lãng mạn thoát li đời sống, chống lại quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, tác phẩm của Nam Cao đã phản ánh chân thực bộ mặt của đời sống xã hội Việt Nam những năm tr ớc cách mạng Đó là: Bộ mặt của giai cấp thống trị (nhân vật Bá Kiến - tác phẩm Chí Phèo); Đời sống cực khổ của những ngời nông dân bị đẩy vào con đờng lu manh hóa (Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức ); Những tấn bi kịch tinh thần đau đớn và dai dẳng của ngời trí thức tiểu t sản (Điền - Tác phẩm Trăng sáng; Hộ - Tác phẩm Đời thừa)

+ Tác phẩm của Nam Cao chứa chan tinh thần nhân đạo: Nhà văn lên án một cách mạnh mẽ những thủ đoạn bóc lột của giai cấp thống trị; ông phát hiện những nét đẹp trong tâm hồn con ngời, bênh vực và bảo vệ nhân phẩm cho ngời lao động ngay cả khi họ bị huỷ hoại cả nhân hình, nhân tính (Chí Phèo), ông ca ngợi những tình cảm đẹp đẽ cao thợng của con ngời (Hộ)

+ Trong sáng tác, Nam Cao là một cây bút có lơng tâm, có ý thức cao về nghề nghiệp Ông viết không nhiều, nhng công phu và kỹ lỡng; không ngừng tìm tòi sáng tạo để có một con đờng cho riêng mình Bớc chân vào làng văn khi đề tài về ngời nông dân và ngời trí thức đã trở nên quen thuộc, Nam Cao vẫn tìm đợc những hớng khai thác mới mẻ: vấn đề lu manh hóa ở một bộ phận nông dân trớc cách mạng; bi kịch tinh thần đau đớn dai dẳng ở ngời trí thức tiểu t sản

11 Tác giả Xuân Diệu

1 Cuộc đời - con ngời

Trang 6

Xuân Diệu họ Ngô, cha ngời huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, mẹ ngời Tuy Phớc, Bình Định Thủa nhỏ Xuân Diệu học chữ Nho, chữ quốc ngữ với cha - ông đồ xứ Nghệ đỗ tú tài kép Hán học vào dạy học

ở tỉnh Bình Định lấy bà hai sinh ra Xuân Diệu - Xuân Diệu học đợc ở cha đức tính cần cù, kiên nhẫn trong rèn luyện tài năng và lao động nghệ thuật

Sinh ra và lớn lên ở quê mẹ: Biển Qui Nhơn với những cơn "gió nồm thổi lên tơi mát" và những con sóng biển muôn đời dào dạt đã tác động không nhỏ đối với hồn thơ nồng nàn sôi nổi của ông

Là con vợ lẽ, phải xa mẹ từ nhỏ và thờng bị hắt hủi thiệt thòi lúc còn ấu thơ, cùng với những nỗi niềm khuất kín của một ngời cả đời một mình với thơ Hoàn cảnh ấy khiến Xuân Diệu luôn khao khát tình thơng và sự cảm thông của ngời đời

Thơ Xuân Diệu đổi mới nhiều trong cảm nhận và diễn đạt Chịu ảnh hởng sâu sắc của thơ lãng mạn phơng Tây từ cảm hứng đề tài, đến tứ thơ, nhịp điệu cú pháp cùng ý thức cái tôi cá nhân Đồng thời Xuân Diệu vẫn học hỏi ở thơ Phơng Đông cổ xa Nhờ vậy thơ ông thể hiện đợc những nét tinh vi

tế nhị của lòng ngời, của cảnh sắc thiên nhiên, đợc đông đảo độc giả say mê ngỡng mộ

b) Sau cách mạng: Nhiều tập thơ ra đời tiếp tục khẳng định năng lực và bút lực của Xuân Diệu: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962) Một khối hồng (1964) Tôi giàu đôi mắt (1970) Khắc phục tâm trạng buồn bã cô đơn thời trớc, thơ Xuân Diệu giờ ca ngợi cuộc sống mới xây dựng

và chiến đấu, thể hiện sự gắn bó hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa cá thể thi sĩ và tập thể nhân dân Nhà thơ khẳng định:

Tôi cùng xơng cùng thịt với nhân dân tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu Tôi sống với cuộc đời chiến đấu Của triệu ngời yêu dấu gian lao

Ngoài giọng điệu trữ tình chủ đạo thơ Xuân Diệu thời kỳ sau cách mạng còn thể hiện giọng chính luận, trào phúng, đả kích có lúc do khuynh hớng "Đại chúng hóa" khiến thơ Xuân Diệu sa vào dông dài nhng đồng thời cũng đã có những sáng tạo đặc sắc do khai thác nghệ thuật của ca dao dân

ca tục ngữ

Tóm lại: Non nửa thế kỷ sáng tác, Xuân Diệu thật sự là nhà thơ lớn của dân tộc ta Riêng về mặt thơ tình, ông xứng đáng với lời thơ của Khơng Hữu Dụng: "Một thế hệ yêu - tỏ tình qua thơ Xuân Diệu”

Đề 3 Về thơ Lãng mạn của Xuân Diệu, Hoài Thanh trong thi nhân Việt Nam có nhận xét:

"Thơ Xuân Diệu còn là nguồn sống rào rạt cha từng thấy ở chốn nớc non lặng lẽ này".

Hãy bình luận ý kiến trên

Gợi ý:

a) Mở bài:

+ Giới thiệu phong trào thơ mới - vị trí của Xuân Diệu

+ Đa ý kiến của Hoài Thanh - Vấn đề cần bình luận

Trang 7

+ Khẳng định ý kiến của Hoài Thanh: "Nguồn sống rạt rào là sức hấp dẫn đặc biệt của tiếng thơ Xuân Diệu".

+ Biểu hiện qua những đặc sắc về nội dung: Thơ Xuân Diệu lôi cuốn đông đảo bạn đọc bởi một niềm ham sống bồng bột

Thơ Xuân Diệu bộc lộ niềm ham muốn vô biên tuổi trẻ và tình yêu Ông luôn hối hả giục giã kêu gọi mọi ngời hởng thụ tình yêu và tuổi trẻ

+ Biểu hiện qua những cách tân về nghệ thuật:

Nguồn sống rạt rào cha từng thấy của thơ Xuân Diệu còn xuất phát từ giọng điệu thơ mới mẻ, cuốn hút, từ lối xây dựng hình ảnh, sử dụng ngôn từ độc đáo hấp dẫn

+ Lý giải : Nguồn sống rào rạt của thơ Xuân Diệu nằm trong không khí chung của trào lu thơ mới

Thâm Tâm (1917 - 1950) tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh tại thị xã Hải Dơng (thuộc tỉnh Hải

Dơng ngày nay) trong một gia đình nhà giáo nghèo Từ năm 1938, Thâm Tâm cùng gia đình lên sống

ở Hà Nội và bắt đầu sáng tác thơ văn Giá trị nhất trong sự nghiệp của Thâm Tâm vẫn là thơ Thơ Thâm Tâm có chất giọng riêng - nhất là ở những bài hành, giọng thơ thờng phảng phất hơi thơ cổ Một số bài thơ của Thâm Tâm cho thấy tâm sự u uất, lòng yêu nớc kín đáo và khát vọng lên đờng vì

lí tởng Kháng chiến bùng nổ, Thâm Tâm làm công tác văn nghệ trong quân đội, ốm và qua đời năm 1950

2 Tác phẩm :

Tống biệt hành là bài thơ duy nhất của Thâm Tâm đợc tuyển trong thi nhân Việt Nam của Hoài

Thanh và Hoài Chân Có nhà phê bình thơ đã xếp "Tống biệt hành" là một trong mời bài thơ hay nhất của thơ mới Việt Nam (1932 - 1941)

II Phân tích:

1 Cảnh đa tiễn

- Trong thơ cổ và ca dao, các tác giả thờng lấy không gian dòng sông để thể hiện cảnh chia li (Thơ

Lý Bạch; ca dao )

- Mở đầu bài thơ Thâm Tâm nhấn mạnh :

Đa ngời, ta không đa qua sông

Nh vậy là trong bài thơ Thâm Tâm đã không sử dụng không gian nghệ thuật quen thuộc là dòng

sông Nhà thơ nói "không đa qua sông" nhng kì thực trong tâm trí ngời đa tiễn vẫn thể hiện một dòng sông tâm tởng Đó chính là d âm của những cuộc chia li trong thơ cổ, rất gần gũi thân thuộc với tâm trạng, cảm xúc của ngời Việt "Không đa qua sông" mà vẫn "có tiếng sóng" vẫn "đầy hoàng hôn"

"Tiếng sóng ở trong lòng" là để chỉ tâm trạng xao xuyến; "đầy hoàng hôn trong mắt” để chỉ những nỗi niềm nhớ thơng mênh mang, vời vợi trong lòng ngời đa tiễn

- Cuộc chia ly, đa tiễn có kẻ ở và ngời đi Kẻ ở xứng đáng là tri kỷ, thấu hiểu ngời đi: có nỗi niềm

bâng khuâng xao xuyến (tiếng sóng ở trong lòng), có tình cảm vẹn toàn dành cho ngời đi ("Đa ngời ta

chỉ đa ngời ấy " - ngời tiễn chỉ biết có ngời đi, xung quanh vô nghĩa); ngời tiễn thấu hiểu nỗi lòng

ng-ời ra đi (Ta biết ngng-ời buồn chiều hôm trớc Ta biết ngng-ời buồn sáng hôm nay) Có nỗi lòng bàng hoàng thảng thốt sững sờ khi ngời quyết dứt áo ra đi (ngời đi, ừ nhỉ ngời đi thực )

Trang 8

- ấn tợng nhất ở Tống biệt hành là bài thơ đã thể hiện t thế, hoàn cảnh riêng t và tâm trạng để tạo

nên vẻ đẹp bi hùng của ngời lên đờng ra đi vì chí lớn

2 Vẻ đẹp bi hùng của hình ảnh ngời lên đờng vì chí lớn:

- Ôm chí lớn, ly khách (khách ra đi, ngời đi xa) quyết tâm lên đờng hớng theo tiếng gọi của lí

t-ởng:

"Ly khách ! Ly khách ! con đờng nhỏ Chí nhớn cha về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại !

Ba năm mẹ già cũng đừng mong"

Ngời ra đi nói bằng một giọng điệu khảng khái, quyết tâm cao độ, thể hiện tinh thần hăng hái,

quyết chí ra đi vì nghĩa lớn Các từ phủ định: "cha về", "không bao giờ", "đừng mong" thể hiện một ý chí sắt đá, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi Quyết thực hiện đến cùng chí lớn, nếu chí lớn ch a thành thì không trở về T thế một đi không trở lại của ly khách có thể so sánh với hình ảnh Kinh Kha sang Tần; hình ảnh ngời chiến sĩ trong bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng):

Tây Tiến ngời đi không hẹn ớc

Đờng lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Hoặc hình ảnh ngời ra đi trong bài thơ Đất nớc của Nguyễn Đình Thi:

Ngời ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lng thềm nắng lá rơi đầy

- Trong cách nói của ngời ra đi thể hiện hùng khí của những ngời tráng sĩ xa, những con ngời sẵn

sàng ra đi xả thân vì nớc, không vớng bận một chút riêng t, kiên quyết gạt bỏ những tình riêng nhỏ nhặt Nhng đây không phải là con ngời thời xa, Thâm Tâm là một nhà thơ lãng mạn thế kỷ XX, ông tất phải thể hiện trong thơ mình t tởng, tình cảm của con ngời thời đại Chính vì vậy, ngời ra đi hôm nay vừa có điểm giống với ngời xa (ý chí sắt đá, quyết tâm cao) vừa có những điểm khác so với ngời tráng sĩ ngày xa: Ra đi trong muôn vàn nhớ thơng của ngời thân, ngời ly khách mang một nỗi niềm bâng khuâng thơng nhớ

- Hoàn cảnh ngời ra đi: Mẹ già bóng ngả về chiều, hai chị gái nh sen cuối mùa, em còn bé thơ

Bổn phận của ngời con trai lớn phải là phụng dỡng, chăm sóc mẹ già; chăm sóc chị, bảo ban em nhỏ thơ ngây Ngời ra đi trong muôn vàn nhớ thơng của mẹ của chị, của em Tình cảm những ngời thân thật quyến luyến, nhất là chị và em:

- Một chị hai chị cũng nh sen Khuôn nốt em trai dòng lệ sót

- Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc Gói tròn thơng tiếc chiếc khăn tay

Một chị, hai chị cũng khuyên nốt em trai bằng những lời cuối, những giọt nớc mắt cuối cùng Đứa

em nhỏ ngây thơ tội nghiệp với chiếc khăn tay chắc hẳn để lại cho ngời ra đi những tâm trạng xao xuyến đến nao lòng Ba vần thơ (vần lng): "biếc - tiếc - chiếc", gợi tả nhiều vấn vơng trong lòng kẻ ở lại

- Trong hoàn cảnh ấy, một ngời bình thờng khó có thể dửng dng, ngời ra đi nói "Một giã gia đình

một dửng dng" cốt để che giấu một nỗi buồn riêng khó giấu Ngời ra đi không hoàn toàn dửng dng Nhà thơ đã dùng những cách thức khác nhau để kiểm nghiệm điều ấy:

+ "Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong": Trong đôi mắt trong khảng khái ấy đã thấy dâng ngập một

màu hoàng hôn, màu của chia li, cách biệt"

+ "Một giã gia đình một dửng dng" - ngời ra đi dờng nh đã bị phân thân làm hai nửa Một nửa

"kiên quyết dứt áo ra đi, một nửa còn dùng dằng cha dứt "một giã gia đình"

+ "Ta biết ngời buồn chiều hôm trớc"

"Ta biết ngời buồn sáng hôm nay"

Bằng sự cảm thông sâu sắc của một ngời bạn, ta biết ngời ra đi rất nặng tình, chính vì nặng tình

nặng nghĩa nên ngời ra đi mới có một nỗi buồn da diết: Chiều hôm trớc buồn, sáng hôm nay cũng vẫn tình cảm ấy Ngời ra đi không dễ dàng khi quyết định rời xa những tình cảm ruột thịt

Trang 9

+ Các câu thơ trong đoạn diễn tả tình cảm ngời ra đi rời rạc, chuyển cảnh liên tục cũng góp phần

thể hiện nỗi xao xuyến, những xáo động trong nỗi lòng ngời đi Anh không dám nhìn lâu vào một ai, nhìn sâu vào một vật gì : Ngớc nhìn trời, rồi chuyển sang nhìn chị, quay mặt nhìn đầm sen, cúi mặt nhìn em Nếu dừng lại lâu ở một ngời, một vật chắc chắn chuyến ra đi có thể sụp đổ, không thành

- Hình ảnh ngời ra đi hiện lên hấp dẫn trong một vẻ đẹp mạnh mẽ, ngang tàng, anh hùng của một

ngời mang chí lớn nhng vẫn dành cho ngời thân những tình cảm đằm thắm trong sâu kín cõi lòng Con ngời ấy vừa biết hiến thân cho nghĩa lớn, vừa biết buồn thơng trong phút chia ly Ngoài thì dửng dng, kiêu bạc lạnh lùng nhng trong lòng thì quyến luyến ngậm ngùi buồn bã Mâu thuẫn nội tâm này

có đợc giải quyết trong khổ thơ cuối ?

- Khổ thơ cuối:

Ngời đi ? ừ nhỉ, cùng đi thực !

Mẹ thà coi nh chiếc lá bay Chị thà coi nh là hạt bụi

Em thà coi nh hơi rợu say

Cách diễn tả trùng điệp, có nhiều cách hiểu khác nhau:

+ Những ngời ở lại (Mẹ, chị, em) coi ngời ra đi là chiều lá bay, là hạt bụi, là hơi rợu say nh một

chị, em là chiếc lá bay, là hạt bụi, là hơi rợu say Những cách hiểu này có phần không phù hợp với tình cảm kẻ ở ngời đi

+ Ngời ra đi xin ngời ở lại (mẹ, chị, em ) hãy coi mình nh chiếc lá, nh hạt bụi, nh hơi rợu say

Cách hiểu này có phần hợp lý, nó phù hợp với tâm trạng và hoàn cảnh ngời ra đi vì một nghĩa lớn, một chí lớn nhng trong cõi lòng ngời đi vẫn chan chứa những đớn đau dằn vặt và cào xé

3 Những đặc sắc về nghệ thuật

- Bài thơ có những nét trang trọng cổ kính: Sử dụng đề tài, thể loại quen thuộc của thơ cổ, sử dụng

từ Hán Việt nhng vẫn mang dấu ấn của thơ mới: Tâm trạng đa dạng, phong phú phức tạp với những giằng xé nội tâm

- Giọng thơ vừa rắn rỏi gân guốc, vừa tha thiết bâng khuâng Ví dụ trong 4 câu thơ đầu có sự đan

xen giữa các câu thơ nhiều thanh bằng và câu thơ nhiều thanh trắc vừa góp phần diễn tả vẻ ngoài bình thản, dửng dng của ngời ra đi và ngời ở lại vừa diễn tả những tâm trạng xao xuyến rối bời của ngời ở, ngời đi

- Dứt khoát kiên quyết lên đờng theo tiếng gọi của lý tởng

- Nỗi niềm bâng khuâng thơng nhớ

Qua việc phân tích mâu thuẫn trong tâm trạng ngời đi làm nổi rõ vẻ đẹp bi hùng của hình ảnh ngời lên đờng vì chí lớn

Đề 2 Anh (chị) hãy phân tích tâm trạng của ngời ra đi trong bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm.

Gợi ý: Đề không yêu cầu phân tích toàn bộ bài thơ Phân tích tâm trạng ở đây chủ yếu là phân tích

tâm trạng mâu thuẫn của ly khách: một mặt quyết chí ra đi, mặt khác đầy đớn đau, dằn vặt cào xé, trong lòng khi chia xa mẹ già, chị gái, em nhỏ thơ ngây

Qua phân tích làm rõ cái hay của bài thơ là đã miêu tả và thể hiện thành công vẻ đẹp của cái cao

cả trong mối quan hệ với thế giới nội tâm sâu kín, chân thật của con ngời đầy nhân ái, thể hiện một cách nhìn nhân ái và nhiều, chiều về con ngời

Chủ yếu sử dụng kiến thức phần 2 và 3 mục kiến thức cơ bản ở trên.

Đề 3 : Bình giảng đoạn thơ sau trong bài "Tống biệt hành" của Thâm Tâm:

"Đa ngời, ta không đa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?

Trang 10

Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong"

Gợi ý :

Các ý chính cần có:

- "Tống biệt hành" đợc Thâm Tâm viết theo thể hành, một thể thơ cổ Không có những quy định

chặt chẽ về số câu, số chữ, vần điệu nhờ đó bài thơ thể hiện cảm xúc đợc dễ dàng hơn

- Bốn câu thơ đầu bài thơ thể hiện cảnh biệt ly của hai ngời bạn qua hồi tởng của ngời ở lại.

+ Hai câu đầu nh một nghịch lý: Không đa qua sông mà trong lòng có sóng? Một dòng sông tởng

tợng: "tiếng sóng" trong lòng là nỗi niềm chia ly trào dâng trong mỗi ngời kẻ ở ngời đi Dòng sông ợng trng cho ly biệt Câu đầu toàn thanh bằng Câu thứ hai có bốn thanh trắc liên tiếp và từ "sao" nghi vấn tạo sự day dứt trong tâm trạng

+ Hai câu tiếp theo: Lại một nghịch lý nữa Buổi chiều tiễn đa không có gì đặc biệt mà sao hoàng

hôn lại đầy "trong mắt trong"

+ Hàng loạt từ "không" đợc sử dụng không làm át đợc cái "có" hiển hiện trong lòng ngời: nhớ

th-ơng, bồi hồi xao xuyến, buồn

- Đoạn thơ trên và cả bài thơ "Tống biệt hành" có một giọng điệu riêng: bâng khuâng, rắn rỏi,

quyết liệt Nghệ thuật sử dụng từ ngữ, hình ảnh ở đây rất tài hoa, tác giả dùng vần bằng, phụ âm vang tạo nên sự lan toả, các câu hỏi tu từ, những điệp từ làm tăng thêm chất nhạc và độ sâu cảm xúc làm

"sống lại cái không khí của nhiều bài thơ cổ Nhng vẫn đợm chất bâng khuâng, khó hiểu của thời

đại" (Hoài Thanh)

ĐÂY MùA THU TớI

Xuân Diệu

A.Yêu cầu

Nắm đợc những kiến thức cơ bản:

1 Đặc sắc mùa thu Việt Nam trong cảm nhận của Xuân Diệu

2 Đặc sắc trong cách thể hiện của Xuân Diệu

B.Kiến thức cơ bản

I Tìm hiểu về tác giả và bài thơ

a) Xuân Diệu (1916 - 1985) là một trong những nhà thơ xuất sắc của thơ ca lãng mạn Việt Nam 30

- 45 Thơ ông là tiếng nói của một tâm hồn thiết tha yêu đời, khát khao giao cảm với đời mãnh liệt Hồn thơ Xuân Diệu luôn nhạy cảm với mọi biến thái của tạo vật và lòng ngời

b) "Đây mùa thu tới" trích trong tập thơ "Thơ thơ" (1938) cả bài thơ là niềm cảm xúc dạt dào của thi nhân trớc cảnh đất trời mới chớm vào thu Đây là bức tranh thu buồn nhng rất đẹp, rất nên thơ Bức tranh thu đợc tác giả miêu tả ở nhiều khung cảnh, nhiều thời điểm khác nhau và đợc cảm nhận từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến mơ hồ, bằng mọi giác quan bén nhạy, tinh tế cùng toàn bộ linh hồn của cái tôi cô đơn Bởi vậy cảnh thu hiện ra vừa đa dạng về đờng nét vừa phong phú về màu sắc

c) Về cảm hứng cũng nh về ý tứ, bài thơ dờng nh không có gì mới lạ Mùa thu hiện diện trong văn chơng xa và trong thơ mới khá nhiều Trong chơng trình văn học bậc THPT đã có chùm thơ về mùa thu của Nguyễn Khuyến Trong văn thơ trớc phong trào thơ mới đã có bài "Giọt lệ thu" của nữ sĩ T-

ơng Phố và bài "Cảm thu, tiễn thu" của thi sĩ Tản Đà, "Tiếng thu" của Lu Trọng L Những hình ảnh liễu rủ, hoa rụng, cành khô, trăng, mây, chim cũng đã thờng đợc sử dụng nhiều

d) Xuân Diệu nhiều lần đa mùa thu vào trong thơ: có thu buồn (ý thu) có thu vui, rất vui "Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh; ấy là mùa thu đã về; mùa thu đã về, yểu điệu thục nữ Trời bớt nồng mà thêm mát Có ai thổi cơm mà khói nhẹ mơ hồ đâu đây cha có sơng mù, cha có hẳn sơng mờ, chỉ là đôi thoáng mờ, mỏng nh chiêm bao không biết có phải sơng thu mới nhóm, hay đó chỉ là sự huyền ảo của chính hồn tôi" (Trờng ca - Thu) Mùa thu trong "Đây mùa thu tới" thì khác hẳn Trong "Đây mùa thu tới", Xuân Diệu nhìn theo giác độ: Thu đã tới và sẽ sang đông Cái viễn cảnh mùa đông tiêu điều khiến Xuân Diệu thấy thu buồn mà đẹp

II Phân tích bình giảng

1 Khổ 1: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

Trang 11

Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt áo vàng.

Thu ở trạng thái khởi sự

Nhà thơ đã đón nhận trực khởi bằng thị giác cái dáng vẻ thật tiêu biểu, thật đắm mớt của mùa thu: rặng liễu Động từ "Đứng" đi liền với danh từ "Rặng liễu" tạo cho liễu một dáng hình cụ thể và từ

"chịu tang" đem đến cho liễu một điệu hồn cụ thể Không phải đây là lần đầu tiên liễu đi vào thơ nh

-ng đem đến cho liễu một dá-ng hình cụ thể, một điệu hồn cụ thể thì có lẽ chỉ Xuân Diệu mới có

"Đìu hiu" là tính từ gợi cảm lên sự vắng lặng, hiu hắt, hoang vắng Dù cho có cả một rặng liễu đấy

mà vẫn đìu hiu Tâm trạng của chủ thể trữ tình là tâm trạng buồn cô đơn Sự buồn vắng của lòng ng ời

đứng trớc cảnh đã lên tới cực điểm, không gì có thể khỏa lấp đợc Nỗi buồn không dừng lại mà biến thành nỗi sầu nh trong cảnh tang tóc Đây cũng là căn bệnh xã hội của một thời thi nhân Chẳng thế

mà Chế Lan Viên cũng từng thốt lên:

"Trời ơi chán nản đơng vây phủ

"ý tởng hồn tôi giữa cõi ta"

Chỉ có điều Chế lan Viên nói thẳng cái buồn của mình còn Xuân Diệu gửi nỗi buồn vào dáng liễu Liễu chính là hóa thân nỗi buồn của thi nhân Bằng hình thức nhân hóa, tác giả vừa thể hiện đợc vẻ

đẹp của cây lá, lại vừa thể hiện đợc chiều sâu của tâm trạng Liễu chẳng khác nào thiếu nữ buồn xóa tóc đẫm lệ:

"Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng:"

Vẫn là lá liễu đấy khi nhìn qua con mắt của niềm vui sẽ trở thành "liễu buông tơ" khi nhìn qua con mắt của nỗi buồn sẽ trở thành "tóc buồn" buông xuống khi nhìn qua con mắt của nỗi sầu trở thành

"lệ ngàn hàng" tuôn chảy Đây là ẩn dụ kép diễn tả nỗi buồn ngày càng tăng Nh vậy cảnh đã đợc khúc xạ qua tâm trạng Nỗi buồn không chỉ thể hiện ở hình ảnh mà toát ra trong từng âm thanh âm

"iu" (đìu, hiu, chịu) âm "ang (tang, ngân, hàng) phụ âm "b" (buồn, buông) tạo nhạc điệu buồn, du

d-ơng, mơ màng Vì vậy buồn mà vẫn đẹp, vẫn yểu điệu, tha thớt một vẻ đẹp quí phái trang nhã Nh ban đầu ta đã xác định thu đang ở trạng thái khởi sự nghĩa là đây là cảnh giao mùa nên sự tàn tạ của mùa hè cha đi hết còn để lại trong dáng hình của liễu Cái vui của mùa sau cha đến nên cảnh lộ rõ vẻ

đìu hiu hoang vắng Bởi vậy liễu ở trong trạng thái nửa chia li, nửa đợi chờ

"Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng"

ở hai câu trên Xuân Diệu đã khéo chọn một khoảnh khắc thời gian đặc biệt để qua đó thể hiện một tâm trạng cố hữu: Nỗi buồn mang tính u hoài Câu thơ thứ 3 có sự chuyển đổi: Liễu đang buồn bã nh mong đợi điều gì bỗng cất lên:

"Đây mùa thu tới ! Mùa thu tới"

Câu thơ 2 vế: Vế một điệp lại toàn bộ tiêu đề bài thơ Vế 2 điệp lại nhng bỏ đại từ chỉ thị "Đây"

Sự điệp lại ấy nhấn mạnh sự chào đón Dấu hai chấm ở cuối dòng thơ trên cùng từ chỉ định "Đây" khiến lời giới thiệu thêm trang trọng Sự điệp này diễn đạt một cách tinh tế bớc đi của thời gian Điệp ngữ "mùa thu tới" khiến cho giọng thơ gấp gáp hơn, vội vã hơn thể hiện tâm trạng náo nức có chút gì thảng thốt bâng khuâng:

"Với áo mơ phai dệt lá vàng"

Chữ "dệt" thần diệu đặt giữa câu thơ xôn xao một màu vàng, cái màu vàng của lá vừa tách khỏi cành lặng lẽ trong hành trình về với đất mẹ Trớc khi tan rữa vào bùn đất, đã giải tỏa tất cả năng lợng tích lũy trong suốt đời lá dệt vào đất trời tấm áo thu lộng lẫy kiêu xa

Cảm nhận về màu sắc của Xuân Diệu thật tinh tế Bằng hình thức so sánh thi nhân đã cảm nhận đ

-ợc cái kỳ diệu của đất trời trong giây phút đổi thay Đây đúng là mùa thu trong thơ lãng mạn Thi nhân đã vợt lên khỏi công thức cổ điển ở chỗ không chọn hoa cúc hay cây trúc mà chọn liễu, vốn là biểu trng cho tuổi trẻ, tình yêu và chia li

"Khi về hỏi liễu Chơng Đài Cành xuân đã bẻ cho ngời chuyên tay"

Trang 12

Khổ 2:

Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vờn sắc đỏ rủa màu xanh Những luồng run rẩy rung rinh lá

Đôi nhánh khô gầy xơng mỏng manh.

Thu trong trạng thái vận động

Đặc sắc của khổ thơ ở chỗ tác giả sử dụng nhiều động từ liên tiếp: rụng, rủa, run rẩy, rung rinh để chỉ ra sự vận động khách quan của thời gian, để tái hiện trạng thái thu sau kỳ khởi sự (khổ 1) Trạng thái này vốn chỉ diễn ra trong khoảnh khắc chốc lát, mơ hồ, mong manh Tác giả dùng bút pháp chuyển đổi cảm giác lấy thị giác thay thế cho xúc giác nhằm hữu hình hóa, cụ thể hóa một hiện tợng vô hình và trừu tợng: trạng thái vận động của mùa thu Những động từ và phép chuyển đổi cảm giác không chỉ đem lại ý nghĩa chính xác gợi cảm mà còn nhằm chỉ sự bào mòn của thời gian đối với tạo vật, sự thay đổi thiên nhiên từ hạ sang thu Sự thay đổi này ở hai phơng diện thể xác và tâm hồn

Có thể nói Xuân Diệu có biệt tài huy động cảm giác trong thơ, khả năng quan sát sự thay đổi của thiên nhiên tạo vật và khả năng diễn đạt cũng thật mới và đầy ấn tợng

Hồn thơ Xuân Diệu khi mới xuất hiện trên thi đàn ngời ta kêu thơ ông Tây quá ! có lẽ cũng tại cách hành văn "hơn một loài hoa" hay động từ "rủa" Ngay cái đầu bài cũng nh dịch nguyên từ tiếng Pháp Đây là một cách diễn đạt mới của thơ Việt Nam Thơ xa thiên về ớc lệ tợng trng còn Xuân Diệu thiên về diễn đạt thật chính xác cái mơ hồ mong manh "Hơn một" nghĩa là không còn một hoặc không biết bao nhiêu Nếu viết mấy loài hoa thì ít quá Câu thơ này đợc Thế Lữ chữa lại là "Đã mấy loài hoa rụng dới cành" Nếu là "rụng dới cành" diễn tả một cái gì đó ổn định tĩnh lặng Dụng ý của tác giả là diễn tả thu trong trạng thái vận động, bởi vậy sau này Xuân Diệu phục hồi lại khi in bài thơ

để xuất bản

Động từ "rủa" ở câu sau cho ta thấy một sự quan sát tinh vi của thi sĩ Có ngời cho rằng đây là màu

đỏ "rủa" màu xanh nghĩa là màu đỏ và màu xanh không hòa hợp Xuân Diệu không tán đồng ý kiến này mà xem "rủa" là lấn dần, ăn mòn dần Sắc đỏ cứ lấn dần sắc xanh từng tý một khó nhận thấy đến một sáng nào đấy nhìn ra cả vờn thu đã đỏ rực Xuân Diệu diễn tả tinh vi thanh nhã sự phôi pha trên màu lá, sự phôi pha trên từng hạt diệp lục Ta không chỉ thấy thu đến trên từng vòm lá, những dòng sông, những chân trời, những tầng nắng ta còn thấy thu đến trong từng hạt diệp lục tàn phai màu Nếu màu xanh thuộc về mùa hạ, thì màu đỏ là mùa thu Trên từng chiếc lá, ngời ta thấy thu về và

đang tranh chấp với mùa hạ Màu đỏ lấn tới đâu, màu xanh phôi pha tới đó Mùa thu lan đến đâu mùa hạ lùi bớc đến đó "Trong vờn sắc đỏ rủa màu xanh" câu thơ khác nào nh đã thu nhỏ cả cuộc đổi mùa lớn lao vào một góc vờn, một chiếc lá đang phai Màu lá đỏ chỉ ứng với một vài cây nh cây bàng nh-

ng có lẽ cần một sự tơng phản nên Xuân Diệu chọn đỏ đối với xanh Hai câu dới của khổ thơ đợc xem là tuyệt bút

"Những luồng run rẩy rung rinh lá

Đôi nhánh khô gầy xơng mỏng manh"

Mùa thu tới những cơn gió lạnh đầu mùa làm cho cỏ cây run rẩy Trong thơ cổ điển cũng đã có những câu thơ sử dụng nghệ thuật láy âm láy ý đầy hấp dẫn:

"Đầu tờng lửa lựu lập lập lòe đơm bông" (Nguyễn Du)

"Làn ao lóng lánh bóng trăng loe" (Nguyễn Khuyến)

ở đây Xuân Diệu sử dụng kỹ thuật láy phụ âm rung "r" rất tài tình làm cho câu thơ gợi cảm giác rất mạnh và tạo nên một nhạc điệu riêng Câu thơ không chỉ cho ta thấy một sự quan sát lắng nghe tinh tế những biến thái tinh vi của thiên nhiên mà còn là sự giao cảm bên trong, những rung động mong manh của tâm hồn thi sĩ Đó là cái run rẩy của lá hay cái run rẩy rùng mình của tâm hồn tác giả trớc cái lạnh của gió thu ở đây Xuân Diệu sử dụng lối diễn tả bằng cảm giác mà ông đã tiếp thu

đợc từ trờng phái thơ tợng trng của chủ nghĩa cổ điển Pháp thế kỷ 19 Nó làm ta nhớ tới cái "lung linh bóng sáng bỗng rùng mình" hay "Đàn ghê nh nớc lạnh trời ơi" (Nguyệt cầm) của chính tác giả Hai câu sau của khổ thơ đem lại một cảm nhận thật thấm thía, cảm nhận ấy nh lặn vào da thịt về ấn t-ợng hình hài của mùa thu Gió thu trong thơ Nguyễn Khuyến nhè nhẹ, buồn: "Cành trúc lơ phơ gió hắt hiu" ở đây Xuân Diệu không chỉ tả gió hay cũng tả nhng theo cách riêng của nhà thơ mới đó là nhấn mạnh vào cái lạnh của cảm giác Việc láy lại phụ âm "r" cho ta cảm giác tất cả nh cùng run lên

Trang 13

trúc lơ thơ gió hắt hiu), với "Đôi nhánh khô gầy xơng mỏng manh" câu thơ của Xuân Diệu không chỉ chạm khắc trong không gian mà thực sự chạm vào nơi da non nhất của hồn ta cái cảm giác thấm thía

về mùa thu: lạnh lẽo và buồn Đặt bốn câu thơ trong hệ thống cả đoạn ta thấy đầu đoạn thơ là hoa rụng lá úa, cuối đoạn in trên nền trời gây ấn tợng thị giác rất mạnh là các nhánh cây trơ trụi khô gầy,

nó tạo ấn tợng vì câu thơ có 7 chữ thì có 6 chữ gợi cái khô gầy run rẩy của cành: (nhánh, khô gầy

x-ơng mỏng manh) Duy chỉ có từ "Đôi" là nói về độ đậm nhng nó lại chỉ làm tăng thêm độ khô gầy run rẩy của cành bởi từ "đôi" đứng ở vị trí đầu câu nh là hệ số của một phép nhân Hình ảnh khô gầy trơ trụi sẽ gợi cảm giác rét mớt Cảm giác ấy đợc hiện lên bằng biệt tài sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ, sau nữa là cái tài lặp ý: "Những luồng run rẩy rung rinh lá" gió thổi làm lá rung rinh, nghĩa thật chỉ có thế Xuân Diệu đã cảm giác hóa hiện tợng thiên nhiên này để ngời đọc không chỉ thu nhận cảnh sắc bằng mắt (trông thấy lá rung rinh) mà còn bằng nhiều giác quan khác Tác giả không nói gió mà nói "luồng run rẩy" tởng nh bản thân gió cũng cảm thấy lạnh mà run rẩy và không phải sự di chuyển của không khí (gió) làm cho lá động mà chính lá rùng mình vì cảm thấy lạnh của gió đang tới Hiệu quả của câu thơ là tả cái rét chứ không phải tả gió bay Bởi vậy tác động vào giác quan ng ời

đọc nh bằng con đờng trực giác Câu cuối đoạn thơ mang dáng dấp của lối tạo hình phơng Đông: chấm phá cái hồn của tạo vật để nhiều khoảng trống dành cho sự tởng tợng của ngời đọc Đúng nhThế Lữ đã nhận xét: "Hai luồng văn hóa Đông Tây, cổ điển và hiện đại đợc kết tinh ở một tâm hồn nghệ sĩ đã giúp Xuân Diệu sáng tạo nên đợc những vần thơ ít lời nhiều ý, xúc tích kết đọng biết bao tinh hoa"

Khổ 3

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ

Non xa khởi sự nhạt sơng mờ

Đã nghe rét mớt luồn trong gió

Đã vắng ngời sang những chuyến đò

Thu đã định hình Khổ 3 tả trăng, sơng, gió

Những câu thơ của khổ thứ 3 này mang đậm phong cách cổ điển, cổ điển trong từng hình ảnh Thơ

xa khi miêu tả mùa thu thờng lấy trăng và non làm nét cảnh quan đặc thù Với Xuân Diệu cổ điển mà hiện đại bởi "nàng trăng" thì tự ngẩn ngơ, "non xa" thì khởi sự Khổ thơ cảm nhận mùa thu tới trong nỗi cô đơn Gớt đã từng nói "Cô đơn là điểm xuất phát của nghệ thuật" Có lẽ khi nói điều này thi sĩ danh tiếng ngời Đức đã trở về đúng cội nguồn tâm hồn ngời nghệ sĩ và đấy cũng là cội nguồn nghệ thuật Nỗi buồn trớc sự chuyển đổi của đất trời ở Xuân Diệu dẫn đến cảm giác cô đơn trong tâm hồn thi sĩ, đó là điều tất yếu Cảm giác cô đơn đợc khơi gợi từ cảm nhận giữa thiên nhiên bao la Một nét ngẩn ngơ t lự mà thăm thẳm nỗi niềm của nàng trăng Một dãy núi nhạt nhòa sơng giăng nh nỗi buồn

xa vắng, một bến đò lạnh lẽo vắng khách sang sông

Bằng lối quan sát và cảm nhận tinh tế của hồn thơ nhạy cảm Xuân Diệu đã mở rộng bức tranh thu tới cảnh vật ở nơi cao, nơi xa Vầng trăng thu mang vẻ đẹp riêng: có khi lung linh huyền ảo, có khi mơ màng trong sơng khói Với Xuân Diệu là "tự ngẩn ngơ" Mùa thu đến tạo nên những đổi thay trong đêm thu nên vầng trăng cũng mờ ảo tự ngẩn ngơ "Tự ngẩn ngơ" chứ không phải bị ngẩn ngơ Nhà thơ đã hóa thân vào đối tợng để cảm nhận cái trạng thái ngẩn ngơ từ bên trong Cái khác biệt giữa Xuân Diệu (nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới) với thi sĩ xa chính là ở điểm này Thu đến cái lạnh thấm vào mây trời làm cho hình ảnh của núi non trở nên nhạt nhòa trong s ơng mờ "Non xa khởi sự nhạt sơng mờ" Hai chữ "khởi sự" là nói lên sự bắt đầu

Ta cũng bắt gặp ở khổ thơ này một cảm giác đầy ấn tợng bởi lối diễn đạt hết sức mới: "Đã nghe rét mớt luồn trong gió" Động từ "luồn" là do Xuân Diêu gán cho thiên nhiên Thiên nhiên ở đây chỉ có gió và rét, cố nhiên đó là gió đông bắc Chữ "luồn" tách gió và rét ra làm hai thực thể, biến nó thành một thứ nhân vật biết hành động Bản thân gió không rét, gió rét là vì rét luồn vào ẩn nấp trong gió Bởi vậy gió cũng run lên vì rét, lối diễn đạt mới ấy tạo ra sự sinh động cho câu thơ và đây mới là hiệu quả chính Cái rét đầu mùa cha phải đã lộ mặt mà nó luồn vào ẩn thân ở trong gió Diễn đạt nh thế mới là tinh vi Chính đây là nét độc đáo của hồn thơ Xuân Diệu và rộng hơn là của phong trào thơ mới Câu thơ có sự chuyển đổi của giác quan cảm giác

Cảm nhận rét bằng thính giác (nghe)

Cảm nhận rét bằng thị giác (luồn)

Cảm nhận rét bằng xúc giác (rét mớt)

Trang 14

Phép tơng giao cảm giác trở thành quen thuộc ở Xuân Diệu Lúc này trời đã vào thu gió rét đầu mùa thỉnh thoảng đã thổi về từng cơn bất chợt làm cho con ngời càng thấy cô quạnh Câu cuối đoạn

có một bớc chuyển Cái rét mớt sau khi tác động đến lá, cành, trăng, sơng, gió đã tác động tới con ngời "Đã vắng ngời sang những chuyến đò" Câu thơ tạo cảm giác quạnh vắng đìu hiu sông nớc Không gian sinh hoạt của con ngời ở đây khiến ta cảm nhận đợc nỗi bâng khuâng buồn vắng Xuân Diệu không trực tiếp tả lòng mình mà gợi ở lòng ngời Bởi vậy trong lời đa duyên Xuân Diệu đã viết:

"Đây là lòng tôi đơng thời sôi nổi, đây là hồn tôi vừa lúc vang ngân và đây là tuổi xuân của tôi đây là

sự sống của tôi nữa Tôi gửi hồn tôi đến những ngời trẻ tuổi nhất là trẻ lòng"

Tác giả khẳng định mùa thu đồng nghĩa với biệt li Điều này có vô lý không khi nhà thơ từng nói:

"Mùa xuân ấp áp nên cần lứa đôi, mùa thu lạnh lẽo nên cần đôi lứa" Với tác giả mùa thu vừa có tình yêu vừa có cả biệt li Xuân Diệu vốn khát khao giao cảm với đời với ngời tuyệt đích khát khao ấy gặp thực tế nên dễ buồn chán cô đơn Mà càng thất vọng thì ngời ta càng khát khao mãnh liệt hơn bởi xa nay ở đời con ngời vẫn chỉ mong muốn cái mà mình cha có đợc, đó là lẽ đơng nhiên

Hai câu đầu tả bầu trời và đám mây vần vũ, cánh chim bay đi chia lìa Hai câu sau thu xâm lấn lòng ngời cụ thể ở đây là thiếu nữ Thu đã chiếm trọn đợc nơi sâu nhất của cõi này

Mở đầu bài thơ là hình ảnh rặng liễu Liễu đợc đặt ứng đối với dáng hình thiếu nữ Giữa bài thơ là hình ảnh trăng tự ngẩn ngơ Trăng cũng đợc đặt trong sự ứng đối với thiếu nữ (nàng trăng) và kết thúc bài thơ là hình ảnh con ngời (ít nhiều thiếu nữ) Ngời thiếu nữ cũng là một nét cảnh quan nhng

là nét cao nhất, là cảnh quan biết cảm thụ, nghe đợc tất cả cái vắng lạnh cô đơn từ các cảnh quan khác dồn tới mà buồn Thiếu nữ ở đây mới là con ngời cụ thể đang tồn tại

ít nhiều thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.

Trạng thái buồn không xác định lý do, t thế nghĩ ngợi không xác định duyên cớ Bài thơ dừng lại ở một trạng thái một t thế Nó không khép lại trong một kết luận mà để ngỏ dành cho sự liên tởng, sự cảm nhận riêng của từng ngời đọc Khuynh hớng thể hiện ở thơ mới là gợi mở Ngời thiếu nữ lặng

im, một t thế, một ánh mắt, một khoảng không xa vời "Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì" Đúng là tâm trạng của lứa tuổi mới lớn, vui đấy mà lại buồn ngay đấy

Bài thơ kết thúc ở chỗ ngời đọc bắt đầu cảm giác đợc cái điều thiếu nữ không nói và bài thơ cũng không nói Cái điều mà bài thơ không nói, thiếu nữ không nói phải chăng chính là điệu hồn Xuân Diệu Khi hồn ta rung lên hòa nhập với Xuân Diệu thì cũng chính là lúc mùa thu hoàn tất hành trình của mình

Định h ớng đề - Gợi ý giải

Đề 1 Bình giảng khổ thơ 1

Đề 2 Bình giảng khổ thơ 2

Đề 3 Bình giảng khổ thơ 3

Đề 4 Bức tranh thu và điệu hồn Xuân Diệu trong "Đây mùa thu tới"

Bài giảng đã thực hiện trọn vẹn 4 đề nên không làm đáp án.

Gợi ý đề 1:

1 Giới thiệu vài nét về nhà thơ Xuân Diệu và đoạn trích cần bình giảng trong mối quan hệ với toàn bài thơ "Đây mùa thu tới" (kiến thức phần tác giả - tác phẩm)

Trang 15

2 Dựa vào các ý chính phần kiến thức cơ bản, triển khai trên cơ sở giảng, bình các tín hiệu nghệ thuật trong đoạn thơ:

a) Nghệ thuật láy vần, liễu, đìu hiu chịu ) và láy phụ âm (buồn buông ) ở 2 câu đầu tạo giai điệu

u buồn, gợi dáng buông rủ mềm mại của hàng tơ liễu Trong thơ cổ điển, liễu tợng trng cho vẻ đẹp thanh tân tuổi trẻ

"Khi về hỏi liễu Chơng Đài Cành xuân đã bẻ cho ngời chuyên tay".

Xuân Diệu, thi nhân tiêu biểu của trào lu thơ mới đã đem lại cho liễu một dáng hình cụ thể, một vẻ

đẹp duyên dáng thớt tha của ngời thiếu nữ với tâm hồn và nỗi sầu muộn của con ngời Sự nhạy cảm trong liên tởng của thi nhân: Dáng liễu mềm buông rủ nh những nàng thiếu nữ xõa tóc tuôn lệ

b) Cách diễn đạt bài thơ trong sự vặn mình chuyển điệu của tiết tấu từ 2/2/3 sang 1/3/3: Đây/ mùa thu tới/ mùa thu tới Khiến câu thơ vang lên trang trọng, ngỡ ngàng nh một tiếng reo Đây không phải

là tiếng reo vui, mà là sự trầm trồ thán phục trớc sự phát hiện vẻ đẹp của thu, đồng thời nhịp thơ diễn tả cái hối thúc của thời gian một đi không trở lại trong cảm giác thảng thốt bâng khuâng

c) Nghệ thuật nhân hóa: Nàng thu khoác chiếc áo mơ phai dệt bằng muôn lá vàng, chữ "dệt" đặt giữa câu thơ gợi hồi tởng thời gian nh chiếc thoi chạy trên khung cửa đất trời, dệt lên chiếc áo mùa thu lộng lẫy kiêu sa bằng những chiếc lá vàng Đó không phải là những lá vàng tàn phai héo úa mà là lá vàng vẹn sắc nguyên hơng vừa lặng lẽ tách khỏi cành bay trong chiều thu mơ mộng, bao phủ không gian bằng sắc màu : mơ phai - sắc màu không có trong bảng màu hội hoạ Mong manh và h

ảo Đẹp nh một ảo ảnh Vẻ đẹp chỉ có trong khoảnh khắc thu sang

d) Bức tranh thu xôn xao giai điệu trong sự lan tỏa của các âm tiết, rạng rỡ sắc màu tơi sáng thanh nhẹ: Nhờ vậy mà đoạn thơ có buồn nhng không tàn tạ bi thơng

3 Mùa thu là đề tài quen thuộc của nhiều thế hệ thi sĩ Mùa thu khơi dậy nhiều cảm xúc, đánh thức mọi giác quan tinh tế của con ngời Đã là thi sĩ không ai có thể vô tình trớc cảnh thu Tam Nguyên Yên Đổ vang danh trong lịch sử vào học nớc nhà với tam thủ tuyệt thi: 3 bài thơ thu trác tuyệt Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu con ngời thuộc về 2 thế kỷ cũng mợn "cảm thu, tiễn thu" để bấc nhịp cầu nối về hai nẻo thi ca Với các thi nhân cùng thời Xuân Diệu, mùa thu là cả nỗi niềm riêng của mỗi ngời Trớc cách mạng thu bao giờ cũng đẹp mà buồn: khi thì man mác bâng khuâng (Thu rừng - Huy Cận) khi thì huyện diệu mờ ảo (Tiếng trúc tuyệt vời - Thế Lữ) khi thì lạnh lùng chán ch-ờng (Thu - Chế Lan Viên) Khi thì ngỡ ngàng ngơ ngác (Tiếng Thu - Lu Trọng L)

Trong âm hởng của tiếng đàn thu muôn điệu ấy, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu vẫn có nét riêng Xuân Diệu lấy chất liệu mùa xuân "liễu" để miêu tả mùa thu, khiến mùa thu hiện lên với vẻ thanh tân quyến rũ Nhà thơ còn tấu lên trong lòng ngời giai điệu dịu dàng mà tha thiết, êm ái mà xôn xao trong bớc chân lặng lẽ mà mau lẹ của thời gian, khuyến dụ ngời thêm yêu cuộc sống, tận hởng cuộc

đời Cái tài của thi nhân chính là với một đề tài quen thuộc mà không trùng lặp, sáo mòn Chắc chắn màu mơ phai của thơ Xuân Diệu đã để lại những ấn tợng không thể mờ phai trong tâm hồn nhiều thế

hệ độc giả

THƠ DUYÊN

Xuân Diệu

A.Yêu cầu

Học sinh phải nắm đợc những đơn vị kiến thức

1 Một bài thơ thu trong sáng, hòa hợp tơi tắn

2 Cái nhìn của Xuân Diệu trớc mùa thu

3 Đặc sắc của từng khổ thơ

B Kiến thức cơ bản

I Tìm hiểu chung về bài thơ

- Bài thơ viết về đề tài tình yêu trong trạng thái khởi điểm bén duyên của tình ngời đợc thể hiện

qua không gian nghệ thuật đẹp huyền diệu mộng mơ Trong đó cảnh giao hòa với cảnh, tình giao hòa với tình, tình giao hòa với cảnh Từ đó thể hiện sự tự ý thức về bản thân một cái tôi cô đơn buồn sầu

- Bài thơ ngoài cảm hứng trạng thái tâm lý yêu đơng rung động đầy đắm đuối lại đan xen những

suy ngẫm mang màu sắc triết lý

Trang 16

- Bài thơ có hai nhân vật trữ tình: anh và em Hai nhân vật này nằm trong mối quan hệ giao hòa

của tình ngời nhng lại là đối tợng cảm nhận của thi sĩ Do đó, đối tợng trữ tình xuất hiện trong t thế nhập vai

- Bút pháp thơ tợng trng đợc sử dụng ở cả hai phơng diện: chuyển đổi cảm giác và nhạc cảm Bút

pháp này tạo ra hiệu quả tinh tế tài hoa đặc trng cho phong cách thơ Xuân Diệu

II Phân tích bài thơ

Khổ 1: Cảnh giao hoà với cảnh

Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên Cây me ríu rít cặp chim chuyền

Đỏ trời xanh ngọc qua muôn lá

Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.

Cảnh thực nhng đợc diễn tả một cách gợi cảm Chiều mộng là buổi chiều căng tràn sinh lực sống,

buổi chiều đẹp nh trong mộng, buổi chiều của nhạc và thơ từ buổi chiều ấy đã tạo nên chất thơ

"Nhánh duyên" là nhánh vô hình đợc thiết lập để tạo cầu giao duyên Nhánh duyên mà cũng chính là nhánh thơ, nhánh nhạc Chính sự giao hòa giữa cảnh vật tạo nên chất thơ trong tâm hồn thi sĩ Các giác quan của nhà thơ hớng ngoại để lĩnh hội cái hồn của cảnh Cũng là chiều thu đấy nhng trong

"Đây mùa thu tới" thì :

"Mây vẩn tầng không chim bay đi Khí trời u uất hận chia ly"

Còn ở đây lại: "Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên" căn cứ vào tứ thơ ta có thể phỏng đoán tâm hồn thi sĩ tại thời điểm này đang dâng đầy niềm vui, niềm đam mê của sự khám phá Chẳng vậy mà thi sĩ nhìn thấy "nhánh duyên" Ta có thể hiểu các mối lơng duyên giao hòa giăng mắc một sự tơng giao và đó chính là nhánh duyên Tứ thơ thực sự đã thức dậy trong ta sự liên tởng, tởng tợng Hơn một lần nhà thơ từng phát hiện:

"Không gian nh có dây tơ

Bớc đi sẽ dứt động hờ sẽ tiêu"

Quả thực thi sĩ là ngời nhìn thấy đợc cái điều mà ngời khác không thể nhìn thấy Bởi vậy mà chiều

thu với thi sĩ thực sự trở thành chiều mộng, chiều thơ

Câu thơ tiếp theo nh chú giải cho câu thơ mở đầu Mọi cảnh vật trong không gian giăng mắc giao

hòa vào nhau tạo ra sức điệu huyền ảo nửa thực, nửa h Đây là không gian đặc trng trong thơ Xuân Diệu, là không gian của cảm xúc, của nỗi niềm rung động, là bối cảnh của sự tác hợp cơ trời (không gian tâm lý hóa) Một sự giao hòa linh diệu giữa cảnh và cảnh đang diễn ra "Chiều mộng hòa thơ", hòa thơ ở đâu ? trên nhánh duyên Trên cây me cặp chim chuyền đang giao hòa Âm thanh của sự giao hòa ấy: "ríu rít" âm thanh vừa ấm áp vừa khêu gợi đầy ấn tợng Cặp chim chuyền chứ không phải là hai hay đôi Hai hay đôi mới chỉ là số lợng, còn "cặp" có ý gắn bó thân mật, hòa quyện trong mối tơng giao khăng khít Một sự hòa hợp tăng cấp Cặp chim ấy đang hót, đang trò chuyện rất vui

vẻ, rất tình cảm, tiếng xen tiếng, giọng xen giọng lời nối lời, tởng chừng bất tận Cú pháp của câu thơ khiến đọc lên, ta tởng nh cây me cũng theo cặp chim mà ríu rít lên: "cây me ríu rít"

Bao quát cả chiều thu là bầu trời xanh, xanh nh ngọc, xanh ngọc Thật sự trời thu không xanh nh

thế, trời "xanh ngọc" bởi vì bầu trời đợc nhìn qua muôn lá cây lổ đổ, cây vì trời mà xanh thêm, trời nhờ lá cây mà có màu xanh ngọc

"Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá"

Hình ảnh thơ ở câu thứ ba này cũng thật gợi cảm, ta cảm nhận theo cái màu xanh ngọc qua muôn

lá kia vạn vật đang giao hòa với nhau

Dấu ấn nhạc cảm ở câu thơ thứ 4 đợc biểu hiện qua một cấu trúc giải thích: "Thu đến nơi nơi động

tiếng huyền" Thu đến là hiện tợng của thiên nhiên, còn động tiếng huyền là cảm nhận của con ngời

Sự tinh tế mẫn cảm của con ngời đã chuyển kênh cảm giác: Từ thị giác sang thính giác đến xúc giác

để lột tả đợc cái h ảo huyền diệu của không gian thu, tiếng của h vô cảm xúc, âm thanh của lòng ngời rung động khi vào thu Qua hiện tợng âm thanh này, tác giả tô đậm ấn tợng không gian giăng mắc giao hòa, con ngời cảm nhận nó chứ không phải phủ vào cảnh cái tình của mình Tiếng huyền theo lời của Xuân Diệu, ta nhận ra tiếng ấy là một âm thanh trải rộng khắp cả không gian mùa thu, một tiếng nói, một âm thanh, một thứ âm nhạc riêng của mùa thu có thể nghe đợc, một thứ tiếng thì thầm,

Trang 17

"Những lời huyền bí bốc lên trăng"

Trong "Thơ duyên" không phải lời mà là tiếng, bởi vì đây không phải là lời nói của ngời, mà là

tiếng của thiên nhiên, của muôn lời, của cả tạo vật, của vũ trụ Nhng tại sao là tiếng huyền, sự huyền

bí, kỳ diệu của tiếng nói ấy là gì ? Sức tác động của tiếng ấy đối với con ngời, đối với nhà thơ nh thế nào ? Xuân Diệu cha vội nói ra đâu Nhà thơ, trong khổ thơ tiếp theo, chỉ làm công việc đa không gian từ cả mùa thu bao la vào một giới hạn hẹp hơn, một con đờng nhỏ

Khổ 2:

Con đờng nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thơng yêu.

Dới một không gian mùa thu đẹp, thơ mộng, trữ tình con đờng thật là tơng xứng Đờng thì nhỏ

nhỏ, nghĩa là nhỏ một cách vừa vặn, xinh xắn, đáng yêu Gió trên đờng thì "xiêu xiêu" nghĩa là gió vừa phải, vừa để biết là có gió, vừa đủ làm nghiêng những gì mềm mại Cành cây thì "lả lả" (lả lả chứ không phải la lả) nghĩa là nghiêng xuống để tỏ rõ sự mềm mại đáng yêu của mình Nắng thì trở chiều nghĩa là vẫn có nắng nhng đã dịu, đã mát, đã đẹp, đã trở vàng

Ba cặp từ láy "nhỏ nhỏ", "xiêu xiêu", "lả lả" với nghĩa tợng hình vừa mô tả đờng nét dáng điệu

mềm mại của cảnh vật lại vừa tạo nên nhạc điệu thật quyến luyến êm dịu, tạo vẻ duyên dáng tinh tế cho tứ thơ Chính những cặp từ láy này tạo ấn tợng về trạng thái của cảnh, cảnh cũng nh bén duyên giao hòa, ấn tợng nhạc cảm về tiết tấu của giai điệu du dơng Sự giao hòa giữa cảnh vật càng đợc tăng thêm Con đờng và ngọn gió và những cành hoang lả lả, cành với nắng chiều "cảnh nh muốn theo lời thơ mà tan ra, nó chỉ mất một tí rõ ràng để đợc thêm rất nhiều mơ mộng" (Hoài Thanh)

Thiên nhiên rất có hồn, nó lặng lẽ mà chứa chất đầy sức sống, khát khao sự giao hòa Có thể nói

đây là những câu thơ đẹp mà tinh tế, đặc trng cho hồn thơ Xuân Diệu và cũng là những câu thơ hay của thơ ca Việt Nam Thơ Xuân Diệu đã chứng tỏ khả năng kỳ diệu của tiếng Việt trong việc tạo nên những hình tợng ngôn ngữ tuyệt đẹp và diễn tả những sắc thái tinh tế của cảm xúc Xuân Diệu vốn có biệt tài trong việc sử dụng những cặp từ láy vừa mô tả đợc những trạng thái tinh vi của cảm xúc vừa tạo nên nhạc tính cho câu thơ Cảm xúc của nhà thơ vẫn hớng vào khung cảnh mùa thu Nhà thơ mở rộng tâm hồn hớng ngoại để lắng nghe những âm vang của thế giới ngoại cảnh vào lòng mình Tâm hồn nhạy cảm của thi nhân đã đón nhận đợc trong không gian, thời gian buổi chiều thu thơ mộng những nỗi niềm giao cảm, những tình ý vấn vơng hòa nhập với những rung động của lòng mình:

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thơng yêu

Đây là những rung động ban đầu khẽ khàng, tinh tế Nếu gọi rõ tên của rung động ấy thì đó chính là

sự xuất hiện của tình yêu Nhng đây là những rung động lần đầu của đời ngời nên ngời ta thờng không biết nên gọi nó là gì Vả lại trong trờng hợp này những rung động ấy lại là do duyên cơ trời tác hợp Xuân Diệu xác định đó là nỗi thơng yêu Trong tiếng Việt hai từ "thơng" và "yêu" dùng để chỉ hai sắc thái tình cảm khác nhau, nhng thơng và yêu ghép lại thì lại có nghĩa khác, vừa đậm hơn vừa nhạt hơn ý nghĩa của mỗi từ riêng lẻ Vả lại nỗi thơng yêu cha phải lòng, hay tình chỉ mới là một tâm trạng, một sự bắt đầu Sự xuất hiện của trạng thái tâm hồn này cũng lạ Nguyên do là: Nghe ý bạn, không phải lời hay tiếng bạn, bởi vì bạn có nói gì đâu nhng đã tỏ ý, tỏ bằng cách nào ta không biết Chỉ có ngời trong cuộc mới biết Xuân Diệu nói "nghe ý" ngôn từ xem chừng khó hiểu nhng quả là

đúng thể Nghe lại không nghe bằng tai mà lại nghe bằng lòng, bằng tâm hồn, lòng ta nghe Đây là một tình cảm diễn đạt ngầm, là sự cảm thông giữa hai tâm hồn tự nhiên mà có, hồn nhiên mà đến Sự xuất hiện của tình đầu đợc Xuân Diệu diễn tả thật tinh tế

Nh vậy cảm giác giao hòa với cảnh ở cả hình ảnh và âm thanh đã xui lòng ngời hòa hợp, gợi ở lòng

ngời rung động Tình giao hòa với tình diễn ra trong một cảm xúc đầy biến động choán ngợp ngây ngất giữa lòng ta và ý bạn Lòng ta và ý bạn đợc thiết lập quan hệ bởi sự rung động thơng yêu Tác giả sử dụng hai trạng ngữ chỉ thời gian đứng đầu câu thơ: "Buổi ấy", "lần đầu" là dấu hiệu khởi điểm của sự giao hòa, của sự bén duyên Ta cảm nhận đợc tâm hồn nhà thơ đang dâng lên nỗi khát khao giao cảm và những rung động của tình yêu buổi ban đầu

Khổ 3:

Em bớc điềm nhiên không vớng chân

Trang 18

Anh đi lững đững chẳng theo gần Vô tâm nhng giữa bài thơ dịu Anh với em nh một cặp vần

T thế dáng điệu hòa hợp của tình với tình đợc thiết lập bởi trạng thái của con ngời Em điềm nhiên

- anh lững đững Vừa biểu thị khoảng cách của tình vừa có xu thế vận động hòa hợp sự rung động ngẫu nhiên của tình ngời Trong niềm rung động ấy, với một năng lực giao cảm kỳ diệu, con ngời cảm nhận đợc sự tơng giao nh một ái lực thần kỳ gắn kết những tâm hồn cô đơn Giữa một khung cảnh chiều thu thật hài hòa êm dịu, giữa bài thơ dịu của cảnh thu, trên con đờng chiều thơ mộng, hai con ngời đơng dạo những bớc chân điềm nhiên kia vẫn có một mối tơng giao thầm kín tạo nên sự hòa nhịp sóng đôi nh một cặp vần

Chính không gian chiều thơ mộng đã giăng mắc sự giao hòa nh lới nhện và con ngời đã sập bẫy

trong lới nhện giăng tơ của cơ trời ấy Bởi vậy em ban đầu "điềm nhiên'', anh ban đầu "lững đững" trong trạng thái vô tâm nhng vì cùng xuất hiện trong buổi chiều giăng mắc tơ trời nên dẫn đến hệ quả

đột biến trong quan hệ tình cảm hòa hợp: Thành "một cặp vần" Tác giả sử dụng phép so sánh độc

đáo anh, em với cặp vần tạo ra sự gắn bó khăng khít của sự giao cảm đến tuyệt đối Sự so sánh vừa mới vừa táo bạo nhng chính xác Bởi đây là sự kết hợp đầy chất thơ, nếu thiếu vần, bài thơ sẽ vỡ Nh vậy anh và em không hẹn mà nên, cứ tự nhiên đi sóng đôi trong suốt bài thơ dịu, không ồn ã chỉ lững

đững chầm chậm để lắng nghe những bớc đi rất nhẹ, rất êm của mùa thu và nhà thơ cũng đang lắng nghe nơi lòng mình những giao hòa với cảnh vật và những rung động khát khao yêu đơng, khát khao

đợc cởi mở sẻ chia với đời, với ngời và nhất là với cô gái nào kia ngẫu nhiên đang bớc cùng đờng Họ cùng đi trên đờng nhng cách xa nhau cả hai đều có vẻ vô tâm Nhng trong buổi chiều thu giăng mắc

sự giao hòa đã kéo hai con ngời xa lại với nhau

Khổ 4:

Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cánh phân vân Chim nghe trời rộng giang thêm cánh Hoa lạnh chiều tha sơng xuống dần.

Đây là khổ thơ lạc điệu, lệch chuẩn trong tơng quan với hệ thống toàn bài, có ý nghĩa nh một phản

đề đối với ý của ba khổ thơ trên Nếu ở ba khổ thơ trên ta bắt gặp một Xuân Diệu trẻ trung của thời

18 đôi mơi thì ở khổ thơ này ta lại bắt gặp một Xuân Diệu trầm lắng suy t đậm màu sắc triết lý Dẫu

là vui bao nhiêu đi chăng nữa thì cái tôi cá nhân Xuân Diệu vẫn bị ám ảnh bởi tâm lí cố hữu: Buồn vắng cô đơn

Trong chiều thu bây giờ đã có tình yêu xuất hiện và lòng ngời đã nhìn chiều thu qua đôi mắt của

lần đầu rung động nỗi thơng yêu Trong cảnh trời chiều có nỗi xôn xao của hạnh phúc và cả nỗi lo

âu Có sự hăm hở và cả nỗi e ngại

Cảnh chiều thu chuyển dần theo thời gian đi vào thời khắc hoàng hôn: Một làn mây biếc, một cánh

cò trên ruộng lúa, một đàn chim sải cánh bay và sơng đã thấm lạnh những bông hoa trong cái nắng nhạt tha của buổi chiều muộn Khổ thơ có đủ những hình ảnh quen thuộc đặc trng cho cảnh hoàng hôn trong thơ cổ điển phơng Đông Bốn câu thơ gợi âm hởng Đờng thi Hình ảnh làn mây, cánh chim, con cò, hoa lạnh là những hình ảnh ẩn dụ có ý nghĩa tợng trng cho thân phận con ngời Hai câu

đầu là ý thức về sự cô đơn lạc loài, hai câu sau là nỗi buồn hoang vắng của lòng ngời Nhà thơ sử dụng triệt để phép đối Cặp đối thứ nhất là câu 1 và câu 2, cặp đối 2 là câu 3 và câu 4 Khổ thơ giàu chất cổ điển đợc kết cấu bằng quan hệ đối để hội nghĩa: không gian của con ngời, không gian của vũ trụ, thời gian của con ngời, vũ trụ, con ngời khắc khoải trong không gian và cô độc trong thời gian tạo nên ấn tợng chạnh lòng tủi hờn của con ngời Đây chính là cái tình chân thực của Xuân Diệu Chất cổ điển hằn in dấu ấn trong vay mợn hình ảnh thơ Vơng Bột Chỉ có điều con cò của Vơng Bột: lặng lẽ bay trong ráng chiều:

"Lạc hà dữ cô lộ tề phi

Thu thuỷ công trờng thiên nhất sắc"

Còn của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân không biết nên bay theo làn mây hay ở lại nơi

đồng ruộng Nếu con cò và làn mây của Vơng Bột thể hiện một cái nhìn hòa nhập mang tính "nhất thể hóa" thiên nhiên vũ trụ Còn con cò và làn mây của Xuân Diệu tuy có mối tơng quan nhng mỗi

Trang 19

thứ vẫn là nó, không bị hòa tan vào nhau làm một ý thức về bản ngã đã chi phối cả cái nhìn thiên nhiên vũ trụ.

Trạng thái phân vân của cánh cò cũng nh cái gấp gáp của làn mây biếc là một nét tâm trạng rất

riêng biệt, điển hình của thơ mới mà chúng ta cha gặp trong thơ cổ Trong thơ cổ, dù buồn hay vui thì con ngời trữ tình vẫn có cách biểu hiện trầm tĩnh, ung dung và thờng lặng lẽ, những tâm trạng mang tính phi thời gian của con ngời đã hòa nhập với cái vô tận của vũ trụ và vĩnh hằng của thời gian Đến

"Thơ mới" mới có tâm trạng bâng khuâng nh trong thơ Huy Cận, hay cái rùng mình run rẩy trong thơ Xuân Diệu Cái phân vân của cánh cò, cái gấp gáp vội vã của làn mây là biểu hiện của cái "tôi" ý thức rõ rệt về thời gian và sự hữu hạn của con ngời, của đời ngời

Bốn câu thơ của khổ thứ 4 cứ từng đôi song hành tạo nên một sự tơng ứng, tơng giao của cảnh vật

trong khung cảnh hoàng hôn: cái gấp gáp của làn mây với dáng phân vân hững hờ của cánh cò trên ruộng, cái rông dài của không gian qua những cánh chim bé nhỏ và chiều sâu của buổi chiều qua cái lạnh của sơng thu thấm vào những cánh hoa làm kết cấu của khổ thơ chặt chẽ giàu giá trị biểu cảm Hai câu sau của khổ thơ cho ta thấy đợc những cảm nhận tinh tế tài hoa của Xuân Diệu trớc cuộc sống Nhà thơ nh đã hòa hồn mình vào muôn vật nên mới thấy đợc cái cảm giác trống trải rợn ngợp của một cánh chim bé nhỏ cô đơn trớc không gian rộng lớn, mênh mông và hoang vắng; mới thấy đ-

ợc cái rùng mình của một bông hoa khi sơng chiều buông xuống Những từ "nghe" "giang" "lạnh" là những từ đợc dùng rất điêu luyện thể hiện rõ tài năng của nhà thơ

Khổ cuối:

Ai hay thu lặng bớc thu êm Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy Lòng anh thôi đã cới lòng em.

Cả khổ thơ nói riêng và cả bài thơ nói chung là khung cảnh chiều thu đầy mở rộng mà cảnh vật

hòa điệu nhịp nhàng đã gợi dậy trong lòng ngời niềm khát khao giao cảm thầm kín và mạnh mẽ, gắn

bó những tâm hồn đơn chiếc Bởi vậy, khi bớc chân của mùa thu êm dịu đi đến đâu ở đó bừng lên mối duyên giao hòa khiến cho không cần phải có ngời mối lái mà "lòng anh đã cới lòng em" Một qui luật cộng hởng của ngời và cảnh không phải chỉ có sự chi phối của lòng ngời khi nhìn vào cảnh

mà cảnh sắc thiên nhiên còn có khả năng thức dậy trong tâm hồn con ngời những kỷ niệm quá vãng, những khát khao thầm kín để con ngời đợc sống đầy đủ sâu sắc hơn với mọi cảm giác, cảm xúc và khát vọng của mình

Cái hay của khổ cuối này là ở chỗ: Tình yêu cha đợc nói, cha hề đợc tỏ bày giữa hai ngời với nhau

Em vẫn không tỏ vẻ gì khác lạ, kể cả sự lúng túng mà ngời ta thờng có thể có: anh vẫn bình thản không tỏ ra vồ vập, vồn vã gì hơn Tuy thế, theo Xuân Diệu tình yêu đã thực sự tồn tại rồi Khẳng

định tình yêu, Xuân Diệu dùng một từ rất mạnh, trớc và sau Xuân Diệu có lẽ cha ai dùng: "cới", mà

"lòng anh" cới "lòng em" giữa nó là "thôi đã", nhất định thế rồi, chắc chắn nh thế, đó là sự thật hiển nhiên không cỡng lại đợc, không chối bỏ đợc Nhng điều gì khiến cho giữa hai ngời, giữa "anh" và

"em" đi đến một sự dứt khoát ấy ? Lý do là:

Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy.

Tất cả là do chiều thu này Nó chính là tác nhân tất cả - nếu không có cái buổi chiều nh buổi chiều

thu hôm nay, giữa hai ngời đâu đã diễn ra cái sự cảm thông sâu sắc ấy, cái sự tìm đến và gặp gỡ giữa

"lòng ta" và "ý bạn" ấy

"Thơ duyên" thật ra cha hẳn là một bài thơ tình thuần tuý Đúng hơn, nó là bài thơ về mùa thu, ca

ngợi mùa thu, êm ái, thơ mộng, trữ tình đặc biệt là cái duyên của mùa thu Cái duyên ấy chỉ khả năng tạo ra sự hòa hợp tuyệt vời: trời với đất, vạn vật với vạn vật, vạn vật với con ngời, con ngời với con ngời Tiếng huyền của mùa thu chính là tiếng gọi hòa hợp ấy

Tâm trạng bao trùm toàn bài thơ là những rung động xôn xao, những cảm xúc tinh tế đón nhận

những biến thái tinh vi mơ hồ của sự sống trong thiên nhiên tạo vật và lòng ngời lúc vào thu "Thơ duyên" thể hiện sự độc đáo và tinh diệu của nhà thơ về mùa thu Với Xuân Diệu sự sống trong mùa xuân tng bừng ra ngoài thì giữa mùa thu sự sống lại tiềm tàng lặn vào bên trong sắp sẵn lò lửa ở ngực

IV Kết luận

Trang 20

Trong thơ Xuân Diệu, những bài thơ nh "Thơ duyên" thật hiếm Nếu nói về mùa thu thì "Thơ

duyên" là một mùa thu vừa đẹp vừa tơi, ấm và sáng, khác hẳn các mùa thu trong các bài thơ khác đẹp nhng lạnh (Đây mùa thu tới), buồn, cô đơn Xét về tình yêu thì khác với chữ tình khiến ngời ta "yêu

là chết trong lòng một ít", thứ tình "hai ngời nhng chẳng bớt cô đơn", trong "Thơ duyên" là một tình yêu không rạo rực nhng đẹp, hồn nhiên, êm dịu, một thứ tình yêu làm ngời ta thấy cuộc đời đẹp hơn,

đáng yêu hơn rất nhiều, đem đến hy vọng rất nhiều

- Nói Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu (sinh thời ông ao ớc hoàn thành một cuốn từ điển - thơ về

tình yêu) Nhìn nhận Xuân Diệu nh thế là đúng, nhng có phần hạn hẹp, cha bao quát đợc hồn thơ dồi dào, rộng mở ấy Phải nói cho đầy đủ hơn: Xuân Diệu là nhà thơ của niềm giao cảm hết mình với cuộc sống nơi trần thế đáng yêu này Đó là phơng hớng tìm hiểu khái niệm "duyên" và thế giới nghệ thuật của Thơ duyên

- Nói đến Xuân Diệu cũng không thể không nói đến ảnh hởng sâu sắc của Bôđơle, Veclen, những

thi sĩ mở đầu cho trờng thơ tợng trng Pháp Trờng thơ này quan niệm có sự tơng giao của các giác quan và sự cảm nhận bằng trực giác những biến thái tinh vi, thậm chí vô hình của vũ trụ

I Đặt vấn đề

Xa nay mùa thu vẫn đợc coi là mùa thơ Cảnh thu đẹp nhng buồn Thơ ca truyền thống hay hiện

đại thờng vẫn vẽ cảnh thu nh vậy, kể cả thơ Xuân Diệu Thơ duyên cũng là một bài thơ về cảnh thu nhng có nhiều phát hiện mới mẻ, độc đáo: cảnh đẹp mà không buồn, ấy là mùa của tình yêu, của tuổi trẻ, mùa của tạo vật và lòng ngời

II Giải quyết vấn đề

1 Thế giới của Thơ duyên - cảnh cũng nh ngời -là thế giới đợc nhìn bởi một tâm hồn rất trẻ "lần

đầu rung động nỗi thơng yêu" ấy là trái tim lần đầu biết yêu, lần đầu khao khát chuyện lứa đôi

Cái nhìn đó là tất cả sự độc đáo của bài thơ Với nhãn quan ấy, nhìn ra thế giới, đâu đâu cũng thấy

xôn xao, náo nức một niềm khao khát giao duyên Một thế giới nh thế tất nhiên hết sức tơi trẻ và đầy nhạc, đầy thơ, đầy mộng đẹp

Tất cả đều nh hòa quyện với nhau, cặp đôi, cặp vần với nhau: ánh chiều hòa thơ với cây cỏ, chim

chóc cặp đôi ríu rít, lòng anh cới lòng em, cánh cò trên ruộng phân vân vì mây biếc trên trời, bông hoa dờng nh cũng đồng cảm với sơng chiều buông lạnh

2 Bài thơ thể hiện đợc những cảm nhận hết sức tinh tế của nhà thơ về cảnh vật và lòng ngời Hoài

Thanh có một nhận xét rất sâu sắc về trờng hợp bài Thơ duyên: ở đây "sự bồng bột của Xuân Diệu có

lẽ đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi" (Thi nhân Việt Nam) Đúng vậy nhà thơ lắng nghe đợc cái xôn xao náo nức của cảnh vật và lòng ngời ẩn kín dới cái vẻ ngoài êm

ả, lặng lẽ, dịu dàng của buổi chiều thu - "Ai hay tuy lặng bớc thu êm"

Đó là bản hòa âm của mùa thu vang vọng tiếng chim ríu rít, là muôn lá xôn xao khi trời xanh đổ

ngọc Đó là cái tình tứ e ấp của con đờng nhỏ nhỏ với gió xiêu xiêu, của cành hoang lả lả với ánh nắng trở chiều, của cánh cò muốn bay theo làn mây biếc tuy còn ngập ngừng phân vân Đó là cái cảm ứng của loài chim với trời rộng lặng lẽ "giang thêm cánh", là cái cảm giác thấm lạnh của hoa

đồng cỏ nội dới sơng chiều Và đó là cái rung động thầm kín giữa lòng anh với lòng em, tuy chỉ ngẫu nhiên cùng đi một đờng và cha hề có băng nhân mối lái

3 Cảnh thu trong Thơ duyên không buồn nh trong thơ truyền thống hay nhiều bài thơ khác nhau

của Xuân Diệu Nhng vẫn đúng là cảnh thu ở đây tâm hồn trong sáng của chàng trai mới biết yêu đã gặp gỡ cái sáng trong của trời thu, sắc thu, tiếng thu Và niềm khao khát lứa đôi chỉ mới chớm nở, náo nức đấy nhng còn e ấp trong lòng, cũng phù hợp với không khí êm dịu của mùa thu Bớc đi của thu là "bớc thu êm" Bài thơ mùa thu là "bài thơ dịu" vì thế anh với em không đợc ồn ào, phải bớc

êm, bớc nhẹ, để lắng nghe cuộc giao duyên thầm kín của lòng mình và vũ trụ khi mùa thu tới

III Kết thúc vấn đề

Trang 21

Thơ duyên là một bài thơ rất tiêu biểu của Xuân Diệu, nhà thơ của tuổi trẻ và tình yêu, và rộng

hơn, nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời

Nhng không phải một Xuân Diệu mà sự bồng bột, sôi nổi bộc lộ ra bên ngoài, mà một Xuân Diệu

lắng vào bên trong để cảm nhận cái xôn xao náo nức của niềm giao cảm thầm kín và êm ái của vũ trụ

- Một Xuân Diệu sôi nổi, táo bạo, tinh tế, yêu cuộc sống đến đam mê

- Khám phá phát hiện một thiên đờng đang lồ lộ bày ra trên mặt đất.

- Bút pháp nghệ thuật độc đáo

B Kiến thức cơ bản

I Tìm hiểu chung bài thơ

Những điều ta cảm nhận đợc từ "Đây mùa thu tới" đến đây đợc Xuân Diệu trình bày và phân tích

rõ trong "Vội vàng" theo kiểu tự bạch tâm sự

Bài thơ viết về lẽ sống, quan điểm nhân sinh, phát biểu trực tiếp cho t tởng của Xuân Diệu: khao

khát giao cảm hết mình với đời Nhà thơ phát hiện ra một thế giới tràn đầy xuân sắc, một thế giới vận

động, biến đổi tiếp tục theo dòng chảy thời gian thế giới ấy phải đợc thụ hởng tích cực nhất, nhiệt tình đầy ham muốn đam mê nhất Đồng thời ở bài thơ này nhà thơ muốn vĩnh cửu hoá cuộc sống ở thời hiện tại

- Ta bắt gặp một Xuân Diệu say đắm đam mê, một tâm hồn rạo rực đầy sức sống trẻ trung khoẻ

khoắn và lành mạnh

Nhân vật trữ tình chính là thế giới tâm hồn của nhà thơ đợc thể hiện một cách trực tiếp, những khát

khao ham muốn cháy bỏng đa cung bậc Nếu ở đoạn đầu bài thơ là ý thức cỡng lại thời gian thì tới giữa bài thơ là nỗi âu lo về sự bào mòn của thời gian, cuối bài thơ là lòng ham muốn vô biên tuổi trẻ

và tình yêu

- Giọng điệu của bài thơ gấp gáp khẩn trơng sôi nổi, nhịp thở nhanh thể hiện thông qua hình thức

điệp ngữ liên tiếp và cấu trúc vắt dòng của thơ hiện đại Bài thơ là sản phẩm đặc trng cho phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu Hình ảnh thiên nhiên trong vội vàng rộn rã đầy xuân tình, xuân ý

Nhịp thơ chậm đều phù hợp với thể thơ ngũ ngôn Điệp ngữ "Tôi muốn" đợc nhắc lại hai lần bộc lộ

ham muốn của nhà thơ muốn vĩnh cửu hoá thời gian ở thì hiện tại Khổ thơ bộc lộ ớc muốn lạ kỳ của thi sĩ ấy là ớc muốn quay ngợc quy luật tự nhiên Một ớc muốn không thể: ớc muốn tắt nắng, buộc gió, thật là những ham muốn kỳ dị chỉ có ở thi sĩ Nhng làm sao cỡng đợc quy luật tự nhiên? làm sao

có thể vĩnh cửu hoá những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy Cái ham muốn lạ lùng kia đã hé mở cho chúng ta thấy đợc một lòng yêu bồng bột vô bờ đối với cái thế giới thắm sắc đợm hơng này Bốn câu thơ nh một mệnh lệnh muốn đoạt quyền tạo hoá, nhà thơ đã đặt mình ngang tầm vũ trụ để từ đó ý thức về sự có mặt của cái tôi cá nhân trớc cuộc đời

Thế giới này đợc Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng Nó bày ra nh một thiên đờng nơi mặt

đất, nh một bữa tiệc lớn của trần gian Tất cả thế giới ấy đợc cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy nhục cảm nên sự sống cũng hiện ra nh một thế giới đầy sắc dục Xuân tình - cái thiên đờng sắc hơng đó hiện ra trong "Vội vàng" nh một mảnh vờn tình ái, vạn vật đơng lúc dậy tình,

Trang 22

vừa nh một mâm tiệc với thực đơn đầy quyến rũ, lại vừa nh một ngời tình đầy khêu gợi ái ân Nhà thơ cất lên một chuỗi tiếng reo vui khi bớc chân vào mảnh vờn với những cảnh sắc mê li.

Của ong bớm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần

Cả đoạn thơ là cách diễn tả vồ vập về một thiên nhiên ở thì xuân sắc một thiên nhiên rạo rực xuân

tình

Điệp ngữ "này đây" dồn dập phân đều ở tất cả các câu thơ biểu thị sự phong phú d ờng nh bất tận

của thiên nhiên Đi liền với điệp ngữ "này đây" là những hình ảnh tơi ròng sự sống Làm sao mà không say trong chập chờn ong bớm khi ngày xuân đang ở độ tràn đầy (tuần tháng mật), bên yến anh quấn quít để hởng khúc tình si Làm sao không xao xuyến đến nao lòng trớc cái mát mẻ, thanh tân của sắc hơng hoa đồng nội xanh rì và lá non bên cành tơ phơ phất Những hình ảnh thơ chân thực tơi nguyên và ròng ròng sức sống Nhà thơ lãng mạn đón nhận sự sống bằng cặp mắt xanh non và cao hơn níu giữ sự sống bằng cả tấm lòng, bằng cả ý muốn chủ quan của mình Thơ xa nào đã mấy ai dám bộc lộ tiếng nói chủ thể cơng quyết và dứt khoát nh sự lên tiếng của Xuân Diệu Sự sống quanh

ta đang độ vào xuân thật hấp dẫn, thật say lòng ngời khiến thi sĩ cũng ngất ngây khi mà "Mỗi buổi sớm thần vui gõ cửa" Và thật bất ngờ, thật táo bạo khi nhà thơ cất lên: "Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần" Một phát hiện mang tính khám phá của thi sĩ Hình ảnh thơ sao mà khoái cảm đến thế Nhà thơ đã vật chất hoá một khái niệm thời gian (tháng giêng) trong quan hệ so sánh đầy bất ngờ: "ngon nh một cặp môi gần" Câu thơ truyền cho ta cảm giác thật cụ thể "ngon" "môi gần" Có lẽ trớc Xuân Diệu trong thơ Việt Nam cha có ai táo bạo trong lối nghĩ và so sánh nh Xuân Diệu "Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần" đây là cảm giác của ái ân tình tự, cảm giác này làm ta thấy tháng giêng mơn mởn tơi ngon đầy sức sống thanh tâm kia sao mà quyến rũ Tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cỡng đợc của một ngời tình khả ái trinh nguyên Không có tình yêu tha thiết, yêu cuộc sống tới mức cuồng nhiệt làm sao có đợc những vần thơ cháy bỏng ấy

Cả đoạn thơ nhà thơ gửi vào đó một thông điệp: Không phải đi tìm thiên đờng sự sống đâu xa mà

chính sự sống này tự nó đang bày ra trớc mắt ta tất cả sức hấp dẫn vốn có Ta có cảm nhận đ ợc hay không phụ thuộc vào thái độ sống của ta Nh vậy trong nội tại khổ thơ đã ngầm bộc lộ một quan niệm nhân sinh hết sức tiến bộ Hình ảnh diễn đạt trong đoạn thơ cũng đầy mới mẻ và sáng tạo Có thể nói nếu đặt đoạn thơ này bên cạnh những vần thơ luật đờng của thơ ca trung đại ta thấy ngay đợc cái mới lạ, cái khác biệt của thơ mới

Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đã đợc liên kết bằng lôgic ngầm của nó Thi sĩ muốn tắt nắng, buộc

gió chính vì muốn giữ mãi hơng sắc cho trần thế này Hơng sắc là cái sinh khí của sự sống, là cái vẻ

đẹp, cái nhan sắc của sự sống Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân thì Mà xuân thì vô cùng ngắn ngủi

Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân thì đối với sự sống và cái xuân thì của con ngời Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, "ngon" nhất là độ xuân, còn con ngời cũng chỉ hởng thụ đợc cái "ngon" kia khi còn tơi trẻ Mà cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cớp đi hết thảy Có lẽ cũng lần đầu tiên trong thơ ca Việt Nam xuất hiện quan điểm này

2 Cảm xúc lo âu về sự bào mòn của thời gian đối với sự sống

Tác giả sử dụng cấu trúc ngữ pháp hiện đại: "Tôi sung sớng Nhng vội vàng một nửa" Câu thơ

gồm bảy âm tiết nhng đợc ngắt ra làm hai vế Dấu chấm câu đặt giữa dòng tạo sự vô tình của câu thơ bộc lộ hai trạng thái tâm lý trái ngợc nhau của Xuân Diệu: sung sớng và âu lo trớc sự bào mòn của thời gian Nhà thơ nhận thức đợc rằng xuân vô cùng ngắn ngủi và thế là mảng thơ thứ ba này đã hình thành để nói về cái ngắn ngủi tàn nhẫn của xuân thì đối với sự sống và con ng ời Cái thế giới này lộng lẫy nhất, ngon nhất ở độ xuân còn con ngời cũng chỉ hởng thụ cái non kia khi còn trẻ, mà cả hai

đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cớp đi hết thảy

Trang 23

Hình ảnh xuân vừa là biểu tợng của sức sống vừa là biểu tợng của thời gian ở đây, thời gian đã

đ-ợc tâm lý hoá, tác giả gắn liền với tâm trạng âu lo của con ngời Lối kết cấu hiện đại theo kiểu vắt dòng tạo ra nhịp điệu thời gian chảy trôi triền miên

Đoạn thơ với cấu trúc điệp ngữ giải thích thể hiện ý thức nghiệm sinh của nhà thơ về sức sống với

thời gian; giữa cái hữu hạn với cái vô hạn

Xuân đơng đến nghĩa là xuân đơng qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng nhng lơng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

Có lẽ lần đầu tiên trong thơ ca Việt Nam có đợc quan niệm này Con ngời trung đại yên trí với thời

gian tuần hoàn với chu kỳ bốn mùa cũng nh chu kỳ ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp ngời Con ngời hiện đại đang sống với quan niệm thời gian tuyến tính Thời gian nh một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Thớc đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ Tuổi trẻ một đi không trở lại thì làm sao có sự tuần hoàn

Nh vậy điều đợc chú ý đầu tiên ở đây là tuổi trẻ

Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian sự có mặt của con ngời thật ngắn ngủi

hữu hạn Nghĩ về sự hạn chế của kiếp ngời, Xuân Diệu đã đem tới một nỗi ngậm ngùi mới mẻ:

Còn trời đất nhng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Nhà thơ cũng đem đến một cảm nhận độc đáo về thời gian và không gian:

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

Khắp sông núi đều than thầm tiễn biệt

Là ngời tiếp thu nhuần nhuyễn phép "tơng giao" của lối thơ tợng trng, Xuân Diệu đã phát huy triệt

để sự tơng giao cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới Tác giả huy động những giác quan vật chất

để cảm nhận những cái tinh vi của cuộc sống

Thời gian đợc cảm nhận bằng khứu giác: Mùi tháng năm.

Với Xuân Diệu thời gian đợc làm bằng hơng bởi vậy mà ngay mở đầu bài thơ thi sĩ cứ muốn buộc

gió lại để hơng đừng bay đi Một chữ "rớm"cho thấy khứu giác đã chuyển hoá thành thị giác Nó nhắc ta nhớ đến hình ảnh giọt lệ Chữ "vị"cho ta thấy cảm giác thơ đã chuyển qua vị giác và đây là một vị hoàn toàn phi vật chất: "Vị chia phôi" Có lẽ chữ "rớm " và chữ "vị" đều từ hình ảnh ẩn hiện của giọt lệ chia phôi mà ra Vì sao thời gian lại mang các hơng vị của hình thể chia phôi? Cái tinh tế của Xuân Diệu chính là ở đây Nhà thơ luôn khắc khoải về sự bào mòn của thời gian, thời gian sẽ huỷ hoại tuổi trẻ Đây là ý thức triết lý ngẫm suy suy t ngẫm ngợi không chỉ bám riết tâm hồn thi sĩ mà d-ờng nh còn thấm vào thời gian tạo vật Thi sĩ cảm nhận thấy hiển hiện: mỗi một khoảnh khắc đang lìa

bỏ hiện tại để trở thành quá khứ Thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn trên mỗi thời khắc đang diễn ra một cuộc chia tay giữa thời gian với con ngời, giữa thời gian với không gian và với chính thời gian Cho nên khi thi sĩ luôn nghe thấy âm vang than thầm của sự tiễn biệt khắp sông núi, một lời than vĩnh viễn: "than thầm tiễn biệt" không gian đang tiễn biệt thời gian, và thời gian trôi đi sẽ khiến cho nhan sắc thiên nhiên bớc vào sự tàn phai, một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi Nhà thơ cảm nhận đợc bớc đi của thời gian dới nhiều dạng vẻ sao mà khắc nghiệt Nhà thơ dờng nh nghe đợc, nhận biết đợc nội tâm của muôn loài tạo vật: sông núi, ngọn gió, tiếng chim tr… ớc sự ra đi của thời gian Đoạn thơ mang đậm chất ngẫm suy Hình ảnh thơ cô đọng súc tích gợi sự liên tởng, tởng tợng cho độc giả Từ ý thức về sự chảy trôi của thời gian, ý thức đợc cái hữu hạn của đời một con ng ời nhà thơ muốn đề ra một giải pháp

3 Cỡng lại sự chảy trôi của thời gian

Trang 24

Ngay từ đầu bài thơ nhà thơ đã đa ra giải pháp: "tắt nắng" "buộc gió" nhng không thể tắt nắng,

không thể buộc gió và cũng không thể cầm giữ đợc thời gian thì chỉ còn một cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, phải tranh thủ sống Đốt mình lên mà sống Đoạn thơ kết này bùng cháy ngọn lửa của tình yêu cuộc sống Nó thắp sáng lên lời giải đáp cho quan niệm sống, tinh thần sống: "Mau

đi thôi mùa cha ngả chiều hôm" Đến đây phần luận giải của tuyên ngôn "Vội vàng" đủ đầy luận lý Nghĩa của tiêu đề "Vội vàng" cũng đợc giải thích "Vội vàng" không phải tốc độ sống mà là cờng độ sống trong từng giây từng phút giữa thế gian này

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đa và gió lợn

Ta muốn say cánh bớm với tình yêu

Ta muốn thân trong một cái hôn nhiều

Và non nớc, và cây, và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đủ đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tơi;

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngơi !

Đoạn thơ là những cảm xúc mãnh liệt, những ham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt vồ vập Đó là cả

một cuộc tình tự với tự nhiên, ái ân cùng sự sống Chỉ có thể tả nh thế Xuân Diệu mới phô diễn đợc cái lòng ham sống, khát sống sung mãn của mình Nếu chọn một đoạn thơ để minh hoạ cho chất giọng sôi nổi của Xuân Diệu thì đó chính là đoạn thơ này Ta có thể nghe thấy cả giọng nói và nhịp

đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ đó Nó hiện ra trong những làn sóng ngôn từ đan chéo nhau giao thoa và đập vào hồn ngời

Ta muốn ôm

Đứng biệt lập thành một câu mệnh đề Tiếp sau đó, điệp ngữ "Ta muốn" đợc lặp lại với mật độ thật

dày thật đích đáng Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đơng mỗi lúc một mạnh

mẽ, mãnh liệt, nồng nàn: ôm - riết- say - thâu - cắn Có thể nói câu thơ "và non nớc, và cây, và cỏ rạng" là không thể có với thi pháp thơ trung đại Thậm chí với thơ xa đó là câu thơ vụng non về nghệ thuật Tại sao lại nhiều liên từ "và" đến thế? Với thơ mới đó là một sáng tạo Những chữ "và" hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng các giọng nói, khẩu khí của thi sĩ Nó thể hiện một cách trực tiếp tơi sống cái cảm xúc ham hố tham lam đang trào lên mãnh liệt trong lồng ngực yêu đời của thi sĩ

Câu thơ:

"Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tơi"

Cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ nh ở trên Từ "cho" điệp lại với nhịp điệu tăng tiến nhấn

mạnh các động thái hởng thụ thoả thê:

Chếnh choáng - Đã đầy- No nê

Cái điều tác giả cần hởng thụ là gì vậy ? Là sự sống trong đó: Mây đa, gió lợn, cánh bớm, tình yêu,

non nớc, cỏ rạng, xuân hồng Động thái hởng thụ này càng lúc càng nâng cao, càng vỡ mạnh đẩy cảm xúc lên tột đỉnh

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngơi

Xuân Diệu nh một con ong hút nhuỵ đã no nê đang lảo đảo bay đi Lại thấy thi sĩ nh một tình lang

trong cuộc tình chếnh choáng men say mà ngời tình ở đây là sự sống mơn mởn xuân thì Ta cảm thấy cả đoạn thơ nh một ngọn lửa đang bừng cháy trớc cuộc đời Một Xuân Diệu vô cùng thành thật với mình, với đời, với ngời

Một quan niệm sống, một triết lý sống đam mê mãnh liệt, đợc bộc lộ trọn vẹn trong suốt cả bài thơ

mà đoạn thơ này là đỉnh điểm Quan niệm sống ấy chỉ có đợc ở con ngời sống có trách nhiệm với

đời, với ngời, với chính bản thân mình

Sống biết hởng thụ hạnh phúc trần thế, hởng thụ hơng vị cuộc sống, biết sống cho ra sống cũng là

một cách cống hiến Sống là hạnh phúc muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng Ta có thể coi vội vàng là cách đến với hạnh phúc là chính hạnh phúc, là sự trả giá cho hạnh phúc Ta hiểu vì sao khi Xuân Diệu xuất hiện lập tức thi sĩ đã thuộc về tuổi trẻ

Trang 25

"Vội vàng" là bài thơ thể hiện t tởng nhân văn của Xuân Diệu Đó là lòng yêu đời yêu ngời, yêu

cảnh, yêu tuổi trẻ yêu mùa xuân, đó là sự thích sống thèm sống của Xuân Diệu Một Xuân Diệu đang

tự đốt cháy mình lên giữa cuộc đời bằng quan niệm sống tích cực: sống toàn tâm, toàn ý, toàn hồn sống thức chọn mọi giác quan

"Vội vàng" quả là lời tự bạch chân thành, bản tốc kí tâm trạng, tuyên ngôn nhân sinh gửi những

ngời trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng

TRàNG GIANG

Huy Cận

A.Yêu cầu

Nắm đợc những đơn vị kiến thức cơ bản

1 Bức tranh "Trời rộng sông dài" vừa cổ điển vừa hiện đại đợc gửi vào Tràng Giang".

2 Tâm trạng bơ vơ - buồn của nhà thơ cũng là cái tôi lãng mạn đơng thời.

3 Đặc sắc của từng khổ thơ.

B Kiến thức cơ bản

I Vài nét về tác giả, tác phẩm

- Huy Cận sinh 1919 tại Hơng Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân Lúc

nhỏ học ở quê, sau vào Huế học trung học rồi ra Hà Nội học trờng Cao đẳng canh nông

- Từ 1942 ông tham gia phong trào sinh viên yêu nớc và Mặt trận Việt minh.

- Sau cách mạng tháng Tám ông từng là bộ trởng, thứ trởng từ năm 1984 ông là chủ tịch, phó chủ

tịch uỷ ban Trung ơng liên hiệp và văn học Việt Nam

- Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936 Tập thơ "lửa thiêng" xuất bản 1940 bao trùm toàn bộ tập thơ

là nỗi buồn mênh mang da diết với đủ cung bậc: "Sầu nhân thế, sầu thời thế, sầu thân thế" Thiên nhiên trong tập thơ thờng bao la, hiu quạnh, đẹp nhng buồn

- Sau cách mạng tháng Tám nhất là từ 1958 hồn thơ Huy Cận đợc khởi nguồn từ cuộc sống chiến

đấu và lao động dựng xây của nhân dân, trở nên dồi dào, tràn đầy lạc quan

- "Tràng Giang" trích trong tập thơ "Lửa thiêng" là một trong những bài tiêu biểu và nổi tiếng nhất

của Huy Cận trớc cách mạng tháng Tám

II Tìm hiểu chung về bài thơ

1 Tiêu đề bài thơ

"Tràng Giang" không nhất thiết phải là sông Hồng, sông Cửu Long, sông Mã mà có thể là

Hoàng Hà, Hằng Hà, Vonga Dẫu là sông gì thì "Tràng Giang" vẫn là một tạo vật thiên nhiên Nó có thể đợc gợi ý, gợi tứ từ sông Hồng, từ một chỗ đứng xác định là bến Chèm Nhng khi đã thành hình t-ợng Tràng Giang thì nó khớc từ mọi địa danh, địa chỉ cụ thể để trở thành một tạo vật thiên nhiên mang tính phổ quát Lòng yêu của thi sĩ trong đó là lòng yêu dành cho tạo vật thiên nhiên Một lòng yêu hết thảy ở con ngời đó là tầm vóc đáng phải có ở bài thơ

Tác giả đặt tên bài thơ là "Tràng Giang" hai âm Hán - Việt "Tràng Giang" có một sắc thái cổ kính,

trang nhã gợi hình ảnh một con sông vừa rộng vừa dài Ngay tiêu đề bài thơ đã mang sắc thái cổ điển Hai chữ "Tràng Giang" lại thờng gặp trong thơ Đờng thi nên còn gợi ra trong ngời đọc những liên t-ởng văn hóa, con sông từ xa xa, chảy tới hôm nay ngày một dài rộng, bát ngát hơn, đồng thời cũng gợi cảm nên thơ hơn Việc láy lại âm "ang" càng làm đậm thêm cảm giác về sự mênh mông bát ngát của con sông dài

2 Cảm hứng chung của bài thơ là cảm hứng không gian, không gian đợc trải ra từ mặt sông lên tận

chót vót đỉnh trời, không gian đợc mở ra từ sâu thẳm vũ trụ vào tận sâu thẳm tâm linh con ngời ấy là cái thế giới vừa đợc nhìn bằng sự chiêm nghiệm cổ điển vừa đợc cảm nhận bằng tâm thế cô đơn của cái tôi hiện đại rất đặc trng cho thơ mới Bởi vậy "Tràng Giang hiện ra nh một bức tranh tạo vật trờng cửu lớn lao, vừa hoang sơ vừa cổ kính Trong đó thi sĩ hiện ra nh một lữ thứ đơn độc lạc loài "Tràng Giang" là một không gian mênh mông vô biên Ngay tên bài thơ đã nh một cửa ngõ dẫn vào cái vô biên ấy Nó hiện ra một con sông chảy mênh mang giữa trời đất, từ miền cổ tích ca dao chảy về thực tại, con sông vừa thật vừa nh mộng

III Phân tích và bình giảng bài thơ

Trang 26

dạt dào gợi niềm vui, cũng không phải "trắng xóa Tràng Giang phẳng lặng tờ" gợi cảm giác êm ả mà

đây là sóng gợi lô xô gối lên nhau tới vô tận nh nỗi buồn âm thầm mà da diết khôn nguôi Sóng ở đây vừa là sóng nớc vừa là sóng lòng tác giả Câu thơ mở đầu mở ra hình ảnh một dòng sông và đồng thời cũng là một dòng cảm xúc "Sóng gợi Tràng Giang buồn điệp điệp" Câu thơ tả cảnh bị phá vỡ bởi nỗi buồn mãnh liệt, nỗi buồn đợc nhân đôi cùng dòng sông Từ "điệp điệp" đáng lí ra tả sóng đã chuyển sang tả tình: Buồn điệp điệp là nỗi buồn nh sóng triền miên mãi không thôi Nhờ vào cách dùng từ

mà nỗi buồn trở nên cụ thể hơn "Xuôi mái" nghĩa là xuôi theo dòng nớc mà cũng có thể là mái chèo buông xuôi từ đó cho ta nghĩ đến con thuyền trôi không biết đâu là bến là bờ Câu thứ nhất tả sóng, câu thứ hai tả những dòng trôi, những luồng trên mặt sông Nếu câu thứ nhất gợi đợc những vòng sáng loang ra, lan xa, gối lên nhau, xô đuổi nhau đến tận chân trời thì câu thứ 2 vẽ ra những luồng n-

ớc cứ song song, rong ruổi về phía cuối trời Không gian vừa mở ra bề rộng lại vừa vơn theo chiều dài Hai câu thơ thấp thoáng âm hởng Đờng thi

"Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ Bất tận Tràng Giang cổn cổn lai" (Đỗ Phủ - Đăng Cao) (Ngàn cây bát ngát lá rụng xào xạc

Dòng sông dằng dặc nớc cuộn cuộn trôi).

Cũng là đối nhng Đỗ Phủ viết theo lối đối chọi còn Huy Cận có cải biên chỉ dùng tơng xứng thôi

Cả hai tác giả cùng dùng từ láy nguyên để gợi tả, trong khi tác giả của "Đăng Cao" đặt ở giữa câu thì tác giả "Tràng Giang" lại đẩy xuống cuối câu Nhờ thế hai từ láy nguyên "điệp điệp" "song song" tạo

ra đợc dăm ba, nghĩa là lời thơ đã ngừng mà âm hởng và ý thơ còn vang vọng nh dội mãi vào vô biên hợp với vòng sóng nớc tới vô tận Dòng sông lớn mang trong lòng nỗi buồn lớn Hình ảnh con thuyền xuất hiện ở câu thứ hai nhng lại ở t thế "Thuyền về" để nỗi sầu ở lại dâng lên tỏa ra trăm nơi:

"Thuyền về nớc lại sầu trăm ngả".

Câu thơ gợi cảm giác chia lìa và càng buồn: Thuyền "về" một ngả nớc "lại" một phơng, còn mối

sầu thì lan tỏa khắp trăm ngả đất trời Thật ra "Buồn điệp điệp" đâu phải vì sóng gợn lô xô đơn điệu, không dứt, "sầu trăm ngả" đâu phải vì "thuyền về nớc lại" mà đó chính là khối buồn thơng vốn chứa chất trong hồn thơ ảo não của nhà thơ Những câu thơ đầu đã rất buồn Trên mặt sông rộng mênh mông ấy, chỉ có một con thuyền nhỏ nhoi xuôi mái rẽ nớc song song Cái lẻ loi của con thuyền nhỏ càng làm nổi bật cái mênh mông hoang vắng của sông rộng và ngợc lại, cái mênh mông của mặt sông càng tô đậm cảm giác lẻ loi, cô đơn của con thuyền nhỏ đang xuôi dòng Thuyền về để lại nỗi sầu chao nghiêng trên mặt nớc của dòng sông âu cũng là chuyện đã muôn đời, chỉ có hình ảnh "Củi một cành khô lạc mấy dòng" vừa hiện đại vừa lãng mạn Bởi lối thơ xa không chấp nhận những gì gân guốc xù xì

Tác giả sử dụng nghệ thuật đối một cách triệt để "Một cành khô" >< "lạc mấy dòng" số từ "một"

định vị cái đơn lẻ, lọt thỏm vào cái "mấy dòng" làm nổi bật sự đơn độc, lẻ loi, không có sự liên hệ với một đối tợng thứ hai nghĩa là giữa mấy dòng nớc hình ảnh cành củi kia không biết đi đâu về đâu Nhà thơ dờng nh muốn phát huy thế mạnh của biện pháp tu từ ẩn dụ, gợi cho ta nghĩ đến thân phận bơ vơ "hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu"

Chỉ là một cành củi khô mục, không biết đã rơi xuống từ khu rừng già nào trên vùng thợng nguồn,

vậy mà đã phải trôi nổi qua bao suối, bao sông và chẳng biết sẽ còn phiêu dạt chìm nổi tới đâu Câu thơ gợi sự liên tởng, tởng tợng đầy ám ảnh giống nh những biểu tợng về những số kiếp lênh đênh lạc loài

ở khổ thơ này, chẳng những hình ảnh thơ mà cả âm điệu thơ đều gợi buồn Đó là những câu thơ

giàu tính nhạc Với sự hoán vị bằng trắc đều đặn, gieo vần bằng gián cách, cấu trúc đăng đối: "buồn

điệp điệp" - "nớc song song" (những từ láy toàn phần tạo nhiều d ba) "Thuyền về" - "nớc lại", "một cành khô", "lạc mấy dòng" Khổ thơ có một âm điệu nhịp nhàng, trầm buồn da diết mà lắng sâu Tự

Trang 27

trong lòng khổ thơ nh có âm vang của những đợt sóng vô hình nối tiếp nhau tạo nên mạch chảy của một dòng sông tâm tởng Đó cũng là giọng điệu chung của cả bài thơ.

Khổ 2:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót;

Sông dài trời rộng bến cô liêu.

Vẫn nối tiếp mạch cảm xúc về thiên nhiên, vũ trụ nhng bức tranh Tràng Giang có thêm chi tiết:

cồn đất, gió thổi, tiếng chợ búa, làng xóm, bến sông Đáng lẽ với những chi tiết đó, bức tranh có thêm sự sinh động rộn ràng nhng trái lại chỉ làm cho cảnh vốn mênh mang hiu quạnh càng thêm hiu quạnh, mênh mang hơn mà thôi Cồn nhỏ mà lại "lơ thơ" tạo cảm giác về sự tiêu điều hoang vắng Ngọn gió "đìu hiu" lúc nh có lúc nh không Con ngời không xuất hiện trong cảnh mà chỉ hiện lên qua tín hiệu âm thanh mờ nhạt văng vẳng đa ra Đấy là âm thanh xao xác của chợ chiều gần tan ở một nơi nào đó Cho đến cả bến thuyền cũng nằm trong cảnh cô liêu nghĩa là đơn độc và trống vắng đến tuyệt

đối Để làm nổi bật cảnh trống vắng tác giả sử dụng bố cục đối lập Đối lập giữa không gian vô hạn vô hình với sự hữu hạn, hữu hình của sự sống Sự đối lập này càng làm cho đất trời mênh mang hơn, cảnh vật cũng trở nên thanh sơ hơn Tác giả vẫn sử dụng bút pháp cổ điển để phác hoạ bức tranh Một nét bút phác thảo vũ trụ, một nét phác thảo sự sống cảnh hiện lên nh một bức tranh thủy mặc

Câu 3 có một chữ khác thờng: "nắng xuống, trời lên sâu chót vót" Câu thơ mở ra sự vô biên về

chiều cao, sự vô biên về chiều cao ấy đợc cảm nhận thông qua từ "sâu" Chữ "sâu" tởng nh đặt không

đúng chỗ nhng kỳ thực thể hiện đúng cái nhìn tâm tởng của nhà thơ: không phải ông đứng bình thản trên mặt đất nhìn trời xanh mà nh là đang đứng bơ vơ để nhìn vào vũ trụ thăm thẳm tới tận cùng Có một khoảng không gian đang giãn nở qua cụm từ: "Nắng xuống trời lên" Hai động từ ngợc hớng

"lên" và "xuống" đem đến cho ngời đọc cảm giác chuyển động rất rõ rệt: Nắng xuống đến đâu trời lên đến đó và nó đợc hoàn tất bởi cụm từ "sâu chót vót" ánh mắt của tác giả không dừng lại ở đỉnh trời một cách bình thờng để nhận biết chiều cao mà nó nh xuyên vào đáy vũ trụ để nhận biết chiều sâu song đây vẫn là chiều sâu của cái nhìn lên Từ "sâu" cũng nói về độ cao nhng đó là độ cao thăm thẳm khó thấy đã thế lại đi liền với từ "chót vót" nghĩa là độ cao lên đến hết giới hạn, tới tận cùng

"Chót vót" là từ láy độc quyền để chỉ chiều cao, đặt trong hoàn cảnh đặc biệt này nó đã phát huy hiệu quả đến không ngờ Ngoài độ cao nó còn gợi cảm giác chan hoàn tất dờng nh cái nhìn của thi sĩ vơn lên tới đâu thì trời dâng đến đấy Mỗi lúc một chót vót hơn

Câu thứ t vừa tơng xứng vừa hô ứng với câu 3 vừa mở ra cái bát ngát tít tắp, cái vô biên cả về chiều

rộng lẫn chiều dài: "Sông dài trời rộng bến cô liêu" Câu thơ đợc viết thận giản dị, không một chữ nào cầu kỳ, dờng nh đây là sự sắp xếp các chiều rộng, dài kích cỡ của Tràng Giang vậy

Nhng trong nội tại của tứ thơ ta vẫn thấy có sự cựa quậy Trong áp lực của cái nhìn xa hút, dòng

sông nh cứ dài ra thêm mãi trời nh cứ rộng thêm, bến thì cứ cô liêu đi vậy Câu thơ đẫm chất Đờng thi Làm nên phong vị Đờng thi ấy chính là cái không gian kia, thứ nữa là tác giả đã diễn tả thật linh diệu trạng thái tĩnh của thế giới Điều này có nguồn gốc từ triết học phơng Đông: Tĩnh là gốc của

động, tĩnh là cội nguồn của thế giới Cùng với nó là thanh vắng, một tiêu chuẩn mĩ học để nhìn nhận

vẻ đẹp của thiên nhiên Tái tạo cái tĩnh vắng mênh mông đợc xem là một qui chuẩn của thơ Đờng Huy Cận cũng tái tạo nh thế nhng thi sĩ muốn đi xa hơn Cái thanh vắng của thơ xa đợc cảm nhận bằng nỗi cô đơn bơ vơ Có lẽ vì thế mà "Tràng Giang" còn một thế giới quạnh hiu tuyệt đối đến hoang vắng Đối diện với không gian vô biên trống trải, cái tôi ấy đi tìm sự cảm thông nhng con ngời hoàn toàn vắng bóng

Khổ 3:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng,

Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

ở khổ 3 bức tranh toàn cảnh "Tràng Giang" đợc bổ sung thêm vài hình ảnh mới đang có trớc mắt

nhà thơ Đó là những lớp bèo nối nhau trôi dạt trên sông và những bờ xanh tiếp bãi vàng ven bờ

Nh-ng điều đáNh-ng lu ý ở đây là nhà thơ còn bổ suNh-ng, tô đậm cảm giác mênh môNh-ng hiu quạnh của "TràNh-ng Giang" bằng những cái thiếu vắng trong bức tranh Cảnh mênh mang buồn trống vắng quạnh hiu đợc

Trang 28

nhân lên bằng mấy lần phủ định: "không một chuyến đò ngang" không cần " chiếc cầu, con đò nối

đôi bờ là biểu hiện sự giao nối của con ngời và cuộc sống, gợi sự tấp nập giao lu Nhng ở đây tuyệt nhiên không một chuyến đò qua lại, không một chiếc cầu bắc nối đôi bờ nghĩa là không một tín hiệu hay dấu vết dù nhỏ của sự sống, hay một cái gì đó gợi về tình ngời, lòng ngời muốn gặp gỡ lại qua nơi đôi bờ hoang vắng Hai bờ sông cứ thế chảy dài về phía chân trời xa nh hai thế giới cô đơn xa lạ không bao giờ gặp nhau không chút niềm thân mật của những tâm hồn đồng điệu Có lẽ Huy Cận không đủ sức thổi linh hồn cho vạn vật, không đủ sức để trải lòng mình đi muôn nơi bởi thế giới quá rộng nên hoang mang, khi lên với trời cao, khi tìm về với dòng nớc "Bèo dạt về đâu hàng nối hàng"

ở đây là "bèo dạt" chứ không phải bèo trôi "Bèo dạt" gợi nên sự xô đẩy, sự lạc loài trôi nổi một cách vô định "Bèo dạt" đi liền với cụm từ "về đâu" càng làm tăng thêm thân phận lạc loài "hàng nối hàng"

là sự láy ý thể hiện cảnh bèo trôi dạt mãi không thôi Cảnh sắc làm cho dòng sông thêm hoang vắng Dấu hiệu sự sống tuyệt nhiên không có lại một lần nữa xuất hiện trong khổ thơ

"Mêng mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng".

Thi nhân nh ngợc thời gian trở về quá khứ để gặp lại dòng sông từ buổi hoang sơ Cái vô cùng của

vũ trụ phải đợc hội tụ từ một điểm nào đó Có thể là cây cầu hoặc con đò nhng ở đây tuyệt nhiên không Việc điệp lại từ "không" làm bật nổi sự hoang vắng đến không cùng Đúng là dòng sông của một thời xa vắng mà con ngời ngồi đợi mong một cánh buồm Tác giả muốn gửi vào đó một khát khao giao cảm với đời, đợc giao lu, đợc hội nhập Vậy mà đời vẫn trống vắng tín hiệu để giao lu để hội nhập tuyệt nhiên không tìm thấy Tâm trạng tha thiết ngậm ngùi của tác giả dẫu là gửi kín ở trong cảnh nhng ta vẫn cảm nhận đợc Câu cuối: "lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng" màu xanh nối tiếp màu vàng làm cho con ngời có xốn xang trong chốc lát nhng đây là một niềm vui lặng thầm dễ tan biến

mà thôi Dờng nh nhà thơ gắng hòa mình vào thiên nhiên nhng càng gắng bao nhiêu thì nỗi cô đơn càng tỏa bóng xuống tâm hồn bấy nhiêu bởi chuyến đò ngang hay cây cầu bắc qua sông thể hiện sự giao nối đôi bờ không có Trớc mắt nhà thơ chỉ có lớp lớp bèo trôi dạt không biết về đâu chỉ có bờ xanh tiếp bãi vàng lặng lẽ trải dài gợi cảm giác buồn bã hiu quạnh hoang sơ Tâm hồn nhà thơ nh một chiếc đảo cô đơn giữa mây trời, sông nớc "chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề" (Nguyện Cầm - Xuân Diệu) Trong bài "Đảo" mợn hình tợng một hòn đảo nhỏ "mù khơi" bị bỏ quên giữa đại dơng mênh mông, Huy Cận đã nói lên niềm mong chờ đau đáu một cánh buồm cảm thông không bao giờ đến:

"Thuyền không giao nối đây qua đó Vạn thuở chờ mong một cánh buồm"

Nỗi cô đơn niềm chờ mong của Huy Cận cũng chính là nỗi cô đơn sự chờ mong của cả một thế hệ

thi nhân mà trong đó tâm trạng của Huy Cận là tiêu biểu

Khổ cuối:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều xa Lòng quê dờn dợn vời con nớc,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Hai câu đầu mở ra cảnh bầu trời cao rộng, êm ả lúc chiều tà Lớp lớp mây trắng đùn lên, chồng

xếp lên nhau thành một núi mây trắng nổi bật lên trên nền trời xanh, trông nh dát bạc Một bức tranh chuyển động giàu chất tạo hình Mây "đùn" là những đám mây nớc vần vũ nặng nề đang cuộn lên bởi sức mạnh từ bên trong, ánh nắng chiều thu phản chiếu vào lớp lớp mây trắng đùn lên phía chân trời

nh những lớp núi bạc điệp trùng, hùng vĩ Cảnh đẹp kỳ vĩ nhng lại gợi cho ta nghĩ đến sự đơn côi bởi giữa cảnh mây núi lớp lớp, chồng chất ấy, một cánh chim bé nhỏ nghiêng cánh là cả bóng chiều sa xuống Hình ảnh cánh chim chiều gợi cái gì tội nghiệp về thân phận lạc loài Cánh chim nh một sinh linh bé bỏng cô đơn trớc cái mênh mông của vũ trụ, cái vĩnh hằng của thời gian Cũng nh trong nhiều bài thơ cổ điển, hai câu đầu khổ thơ không nói đến bầu trời mà vẫn gợi đợc hình ảnh bầu trời cao rộng trong xanh êm ả Cũng nh nhìn cánh chim nhỏ bay nghiêng mà cảm thấy "bóng chiều sa", bởi vì trong thơ, trong tranh xa, chim bay về rừng, về cuối trời, đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ báo hoàng hôn

"Ngân mai gió cuốn chim bay mỏi"

Trang 29

"Chim hôm thoi thót về rừng"

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Còn hai câu thơ của Huy Cận đã vẽ ra một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, thật đẹp, một vẻ đẹp vừa

hùng vĩ vừa thơ mộng vừa cổ kính, vừa quen thuộc

Khi hoàng hôn xuống dần, cùng với nớc triều dâng lên, khiến cảnh trời rộng sông dài càng thêm

mênh mông hiu quạnh, nỗi lòng quê hơng của nhà thơ cũng dội lên da diết:

Lòng quê dợn dợn vời con nớc Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Chiều rơi xuống cái mênh mông sóng nớc thời khắc nửa tối nửa sáng nh tác động vào da thịt làm

cho ta có cảm giác run run ớn lạnh Đứng về mặt ngữ nghĩa "dợn dợn" là gợn lên "Vời" là xa "con ớc" là con sóng Mấy từ ấy hợp lại gợi hình ảnh về những đợt sóng gợn lên trải rộng và xa tít tắp Hình ảnh đó có vẻ gần giống câu thơ mở đầu của bài, cũng là "sóng gợn Tràng Giang" nh ng cái nhịp sống ở đây khác rồi, nó khởi phát từ cõi lòng nhà thơ Mấy từ tả cảnh này đứng sau hai từ "dờn dợn" nghe lạ tai khó giải nghĩa Nhng cái lôgich lại nằm nơi sự liên kết giữa chúng với toàn bài Từ "dợn"

n-đợc lặp lại cái tiếp nối, điệp trùng, nh nỗi buồn điệp điệp ở câu đầu của bài thơ

Câu đầu: "Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp"

Câu gần cuối: "Lòng quê dờn dợn vời con nớc".

Nh thể cái "dờn dợn vời con nớc" là hình ảnh nhng cũng là tình cảm là hình ảnh diễn tả nỗi buồn

Nỗi buồn ở đây gắn liền với làng quê Hơn nữa từ "dờn dợn" tạo cảm giác ớn lạnh Nỗi nhớ quê h ơng không còn trong ý thức mà đã trở thành cảm giác thấm thía, cảm giác ấy nh đợc cảm nhận bằng giác quan vật chất Thì ra, nỗi buồn ấy còn có một nguyên nhân cụ thể: nỗi lòng của ngời xa xứ, chạnh nhớ quê nhà, đâu chỉ là nỗi buồn vô cớ, "không hiểu vì sao" !

Câu cuối cùng khẳng định thêm điều ấy: "không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" Câu cuối gợi nhớ

tới tấc lòng Thôi Hiệu trong bài "Hoàng Hạc lâu" nổi tiếng:

"Nhật mộ hơng quan hà xử thị Yên ba giang thợng sử nhân sầu"

Tản Đà dịch:

"Quê hơng khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai ?"

ở đây có sự gặp gỡ giữa cổ điển và hiện đại Nhng không phải lặp lại hoàn toàn Thôi Hiệu buồn,

nhớ quê do ngoại cảnh: khói sóng trên sông Còn Huy Cận không cần tới khói sóng khơi gợi cảm xúc bởi lòng nhà thơ vốn sẵn buồn rồi, nỗi buồn vạn cổ của một "linh hồn nhỏ" cô đơn trớc vũ trụ bao la, rộng lớn Nh vậy câu cuối bài thơ đóng khung khép lại một "Tràng Giang" với nỗi lòng nhớ quê

"Tràng Giang" hiện lên nh một thế giới hoang sơ, có lẽ từ thuở khai thiên lập địa đến giờ vẫn thế Thi

sĩ một kẻ lữ thứ lạc vào giữa một đảo hoang, trơ trọi cô đơn đến tuyệt đối và nỗi nhớ nhà dâng lên nh một tiếng gọi tự nhiên nỗi nhớ của Thôi Hiệu chỉ là nỗi hoài hơng của ngời xa xứ và nó cần khói sóng lâm duyên cớ Còn nỗi nhớ của Huy Cận thờng trực từ trong tâm hồn mà ra nên nó da diết đầy

ám ảnh

Dòng "Tràng Giang" chảy mênh mang giữa đất trời tới đây bỗng dâng lên thành tiếng sóng của

lòng quê, hay lòng quê cũng đang xao xuyến dâng đầy thành một dòng Tràng Giang của tâm hồn để hòa nhập với Tràng Giang của vũ trụ Tràng Giang là bức tranh đẹp, trang trọng, cổ kính nhng cũng

là dòng cảm xúc Bao trùm khắp cả bài thơ là một nỗi buồn thơng mênh mang mở ra bằng buồn

"điệp điệp", "sầu trăm ngả" khép lại bằng lòng quê dờn dợn nhớ thơng Tâm trạng trong "Tràng Giang" là nỗi sầu vũ trụ, con ngời buồn vì thấy quá nhỏ bé trớc vũ trụ vô cùng vô tận nhng xét đến cùng đó vẫn là nỗi buồn thơng về cuộc đời, về kiếp ngời, là nỗi sầu nhân thế Cuộc đời thì vắng vẻ thê lơng, sự sống khô héo, kiếp ngời tàn tạ trôi dạt Đằng sau tâm trạng ấy chính là niềm khao khát

sự sống, sự cảm thông, hòa hợp giữa ngời với ngời Bài thơ còn gợi ra một cái gì nh là linh hồn của quê hơng, làng mạc từ xa ở đây, lòng yêu thiên nhiên của hồn thơ lãng mạn đã bắt gặp tình cảm quê hơng đất nớc Suốt dọc bài thơ là tình cảm quê hơng đất nớc khi ẩn khi hiện Ta có thể khẳng định rằng nỗi buồn, nỗi sầu kia có cái gốc căn nguyên từ lòng yêu nớc

IV Kết luận

"Tràng Giang" không chỉ hay vì đã diễn tả tinh tế sâu sắc nỗi buồn của cả thế hệ mà còn thu hút

ngời đọc bởi vẻ đẹp cổ kính, trang trọng mà quen thuộc gần gũi, bởi hồn thơ, âm điệu, từ ngữ rất

Trang 30

Việt Nam: một dòng sông, một cảnh chợ chiều, một con thuyền xuôi mái, một cành củi khô lạc lõng, một cánh bèo trôi dạt, một cánh chim chiều có một cái gì nh hồn dân tộc, hồn đất nớc, quê hơng bàng bạc trong những cảnh vật bình dị và gợi cảm ấy.

C Định hớng đề - gợi ý:

Đề 1 Bình giảng một khổ thơ trong bài "Tràng Giang" (xem phần kiến thức cơ bản).

Đề 2 Từ cách nhìn cảnh vật, phân tích tâm trạng của Huy Cận trong bài Tràng Giang.

A Hớng dẫn chung

- Đề bài trên đây là loại bài phân tích tâm trạng trong thơ trữ tình Tuy nhiên trong thơ trữ tình, nhà

thơ có nhiều cách để thể hiện tâm trạng của mình Đề bài này yêu cầu phân tích tâm trạng của Huy Cận qua cách nhìn cảnh vật của ông ở bài thơ Tràng Giang Nghĩa là căn cứ vào cảnh vật đợc miêu tả trong bài thơ mà chỉ ra tâm trạng của ngời viết

- Không nên phân tích bài thơ một cách chung chung Đề cũng không buộc ngời viết phân tích bài

thơ nh phân tích một tác phẩm toàn vẹn

- Nên vận dụng lý thuyết làm văn phân tích tâm trạng trong thơ trữ tình và những kiến thức về bài

thơ cũng nh về tác giả Huy Cận đã đợc giới thiệu trên lớp

B Dàn ý

I Đặt vấn dề

- Trong truyện Kiều, Nguyễn Du từng viết một câu thơ bất hủ:

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Ngời buồn cảnh có vui đâu bao giờ"

Câu thơ ấy, hiểu một cách nôm na, giản dị là: khi ngời ta đã buồn thì cảnh nào dới mắt họ cũng

đều trở nên sầu não cả

- Điều đó sau Nguyễn Du, hai trăm năm vẫn đúng với nhiều nhà thơ, trong đó có Huy Cận Chỉ

cần qua cảnh vật ông mô tả trong bài thơ Tràng Giang ta cũng hiểu đợc tâm trạng của nhà thơ

II Giải quyết vấn đề

- Mở đầu bài thơ đã là cảnh Tràng Giang mênh mông sóng nớc:

"Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nớc song song, Thuyền về nớc lại sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng"

+ Rõ ràng, cảnh vật ở đây không còn là cảnh vật thuần tuý nữa mà tất cả đã nhuốm màu tâm trạng

Cái tâm hồn "mang sầu thiên cổ" của Huy Cận nhìn vào đâu cũng thấy buồn Những con sóng nhỏ nhấp nhô trên dòng sông gợi nên một nỗi buồn miên man mãi không dứt "buồn điệp điệp"

Một con thuyền xuôi mái, buông trôi, hững hờ thụ động trên dòng sông Nghệ thuật đối đã đợc vận

dụng vào đây một cách linh hoạt, không câu thúc gò bó nh trong thơ cổ : Chính vì thế câu thơ uyển chuyển, linh hoạt mà vẫn tạo đợc không khí cổ, trang trọng Cách dùng từ láy "điệp điệp", "song song" và cả hai chữ Tràng giang nữa đã góp phần tạo nên âm hởng và gợi nên cảnh bát ngát mênh mông có phần cổ kính gần với thơ xa

+ Trên mặt nớc của dòng Tràng giang giàu màu sắc cổ điển ấy, Huy Cận đã thả một cành củi khô,

một chi tiết hiện thực chân thật đến mức "sống sít" mà chỉ thơ hiện đại mới có:

"Củi một cành khô lạc mấy dòng"

Hình ảnh một cách củi đơn lẻ, khô héo lênh đênh, trôi nổi bất định gợi lên nỗi buồn tủi về thân

phận của những kiếp ngời nhỏ bé bơ vơ, lạc lõng trôi nổi giữa cái mênh mông vô định của cuộc đời Cái tôi cô đơn, tội nghiệp của Thơ mới đã tìm thấy hình ảnh linh hồn của nó nơi cành củi khô lạc loài này

- ở khổ thơ thứ hai, nỗi buồn vẫn tiếp tục thấm sâu vào cảnh vật.

"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều, Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu"

Trang 31

Hai chữ "đìu hiu" nhắc ta nhớ tới một câu thơ chinh phụ:

"Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò"

+ Nỗi buồn ở đây đợc gợi lên từ sự vắng vẻ của cảnh vật, Cồn cát nhỏ và tha thớt Gió thổi nhẹ

"đìu hiu" Những cảnh vật ấy thật là nhỏ bé khi đặt trong khung cảnh dài rộng, mênh mông bát ngát của dòng "Trờng Giang" và cái sâu thẳm vô tận của vũ trụ này

+ Nỗi buồn xa vắng còn đợc gợi lên từ tiếng lao xao vãn chợ chiều nơi một làng xa vẳng lại

Những âm thanh không rõ ràng, nhỏ bé, mơ hồ, lúc có lúc không ấy, chỉ có nỗi lòng của một thi nhân

"có tâm hồn lắng nghe" mới có thể cảm nhận đợc Gợi ra một âm thanh nhng thực chất là gợi ra một không gian trống vắng, để càng làm tăng thêm không khí vắng lặng, tàn tạ, chia lìa của cảnh vật

+ Không gian mênh mông của trời rộng sông dài đợc đột ngột đẩy cao và mở rộng thêm khi nhà

thơ viết:

"Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu".

- Để làm nổi bật hơn cảnh mênh mông buồn vắng và nỗi "cô liêu" của con ngời, Huy Cận trong

khổ thơ thứ ba đã liên tiếp phủ nhận những dấu hiệu của sự sống của tình ngời:

"Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật"

Sự vắng vẻ, cô quạnh đợc tô đậm một cách độc đáo bằng chính những cái không có đó Không có

sự sống, không có con ngời, chỉ có "bờ xanh tiếp bãi vàng" và những cánh bèo lênh đênh đang trôi dạt về đâu Câu thơ đâu chỉ tả cảnh mà đã thấm đẫm tâm trạng "bèo dạt hoa trôi" Những cánh bèo trôi dạt ấy cũng với hình ảnh đơn độc "củi một cành khô lạc mấy dòng" ở tên tạo nên ấn tợng đậm nét về sự tan tác chia lìa

- Khổ thơ cuối cùng nh dồn tụ tất cả ý tởng của nhà thơ qua cách nhìn cảnh vật:

"Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa, Lòng quê dờn dợn vời con nớc,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà".

+ Một sự liên tởng độc đáo: mây trắng đùn nh núi bạc lớp lớp phía chân trời Một cánh chim nhỏ

nhoi, đơn lẻ tởng nh bị bóng chiều đè nghiêng cánh Cả không gian và thời gian nh cùng đánh thức nỗi nhớ nhà da diết của ngời lữ thứ

+ Tú Xơng trớc đây "Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn" mặc dầu "trời không chớp bể chẳng ma

nguồn" Ông đã mợn ý thơ từ một câu ca dao:

"Đêm nay chớp bể ma nguồn Hỏi ngời quân tử có buồn hay không"

ở đây Huy Cận cũng mợn ý thơ của Thôi Hiệu và nói theo cách của Tú Xơng "Không khói hoàng

hôn cũng nhớ nhà" Chính cách nói ấy đã làm nỗi buồn nhớ quê hơng vốn đã da diết của Huy Cận càng diết da hơn bởi nh đợc cộng thêm nỗi nhớ của ngời xa

III Kết thúc vấn đề

- Bài thơ Tràng Giang hầu nh chỉ tập trung tả cảnh xung quanh một con sông dài rộng, mênh mông

sóng nớc Cảnh vật trong bài thơ này đã thể hiện đợc một cách xuất sắc tâm trạng và nỗi lòng Huy Cận thời ấy Mặt khác nó còn là tâm trạng và nỗi lòng của nhiều thế hệ lúc bấy giờ

Bởi vì tất cả cảnh vật ở đó đều hết sức gần gũi, quen thuộc và thân thiết Nó gợi lên đợc những nỗi

niềm da diết của mỗi ngời Việt Nam đối với quê hơng đất nớc

- Có lẽ vì thế mà thời Pháp thuộc, có một nhà cách mạng cứ mỗi lần qua sông Hồng tự nhiên lại

nhớ tới Tràng Giang

Đề 3: Tham khảo đề 1 câu 3 phần giới thiệu đề thi

Đề 4: Tham khảo đề 22 câu 2 phần giới thiệu đề thi

ĐÂY THÔN Vĩ Dạ

Trang 32

I Giới thiệu chung

+ Hàn Mặc Tử đợc ví nh ngôi sao chổi băng qua nền thi ca Việt Nam để lại một vùng ánh sáng vừa

chói lói, vừa trong trẻo, vừa xô đẩy, vừa cuốn hút để hơn nửa thế kỷ trôi qua, thơ Hàn Mặc Tử vẫn vẹn nguyên sức quyến rũ đầy bí ẩn của nó (sao chổi là cuộc hẹn hò với vũ trụ trong hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, trờng hợp Hàn Mặc Tử cũng là nh vậy, với tài năng đột xuất và kiệt xuất của mình) Ngay từ những năm 1940, Chế Lan Viên từng tiên đoán: "còn lại của cái thời kỳ này một chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử chăng ?" Quả vậy di sản thơ ca Hàn Mặc Tử không hề bị phủ bụi thời gian mà qua thời gian càng phát sáng tâm hồn Hàn Mặc Tử Lời tiên tri của nhà thơ triết lí Chế Lan Viên đã là sự thật

Con ngời đầy tài hoa và nhiệt huyết này năm 25 tuổi bị mắc bệnh phong, căn bệnh khủng khiếp

này đã đày đọa ông suốt 3 năm trớc khi ông qua đời Chỉ vỏn vẹn hơn 10 năm sáng tác, thi sĩ đã để lại nhiều thi phẩm giá trị, trong đó Đây thôn Vĩ Dạ là một kiệt tác, đợc coi là bài thơ trong trẻo vào bậc nhất của thi sĩ tài hoa bạc mệnh này

Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ trong trẻo mà bí ẩn, có nhiều cách tiếp cận và lý giải bài thơ, nh ng đều

thống nhất ở điểm: bài thơ chứa đựng một thông điệp tình yêu trong trắng, thơ mộng, song đơn

ph-ơng, vô vọng Nhờ đó để lại cho đời một bức tranh xứ Huế mộng mơ huyền ảo và đợm buồn

Khơi nguồn xúc cảm của nhà thơ là tấm bu ảnh Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mặc Tử, khi ông đã ở nơi

cách li bởi căn bệnh hiểm nghèo Trong sự phân vân: Không biết là vờn Vĩ Dạ lúc hừng đông ? hay

là bến Vĩ Dạ đêm trăng ? Hàn Mặc Tử đã hình dung ra cảnh và ngời nơi ấy trong cả một thời gian, không gian trọn vẹn, đủ đầy: Có nắng sớm, có trăng khuya, có hoa lá cỏ cây, có dòng sông, bờ bến , nhng riêng con ngời có phần khuất lấp Bài thơ ba khổ, 12 câu đối chiếu với lối cấu tứ tứ bình dờng

nh là một thế giới cha hoàn tất, chơi vơi, hẫng hụt Cảnh đã rõ mà tình cha tỏ Cho hay cái làm nên

điệu sầu, lời thơng khắc khoải, da diết ấy đâu phải cảnh kia đem lại mà vì tình này gây nên Trên phông nền tuyệt đẹp của khung cảnh Vĩ Dạ là bản tốc kí tâm trạng Hàn Mặc Tử Trong ám ảnh của ngời hiểu quĩ thời gian đang vơi cạn, không còn kịp cho một giấc mơ dang dở một giấc mơ Bởi thế

dù đây là bài thơ trong sáng vào bậc nhất nhng vẫn là thơ Hàn Mặc Tử, thờng có những bớc nhảy về

ý ý nọ cách ý kia một khoảng rất lớn, ngỡ không liên hệ gì với nhau, nhng rất lôgíc và liền mạch

II Phân tích

Khổ 1: Cảnh vờn Vĩ lúc hừng đông

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vờn ai mớt quá xanh nh ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Vĩ Dạ không chỉ là mảnh đất đẹp của xứ Huế, mà còn là nơi tâm hồn thơ Hàn Mặc Tử neo đậu

Thi sĩ gắn bó với Vĩ Dạ bằng tình yêu xứ Huế và bằng cả mối tình riêng, mối tình đơn phơng với

ng-ời con gái nơi đây Nhà thơ từng đến Vĩ Dạ, giờ đây bệnh tật đã cột chặt vào giờng bệnh, nỗi đau đớn tiếc nuối trào dâng thành lời tự hỏi Một ao ớc thầm kín bên trong cất lên nh lời mời mọc bên ngoài, chủ thể trữ tình tự phân thân trong hình thức đối thoại giả định, thực chất là độc thoại nội tâm, là cách để nhà thơ bày tỏ nỗi niềm riêng t sâu kín nhất Chỉ một khổ thơ, Hàn Mặc Tử đã giới thiệu khái quát địa danh Vĩ Dạ: Cảnh và ngời nơi đây và hé mở tâm trạng riêng không dễ giãi bày: ao ớc về thăm nơi đó là tất cả những gì còn lại trong những ngày tháng cuối đời Để về nơi chốn cũ, gặp lại ngời xa, với Hàn Mặc Tử chỉ còn duy nhất, bằng tởng tợng và nhờ tởng tợng Câu thơ đầu tiên đã chao giữa đôi bờ thực - mộng, tỏa lấp lánh thứ ánh sáng huyền ảo của khát khao:

"Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vờn ai mớt quá xanh nh ngọc"

Trang 33

Câu thơ điệp 2 từ "nắng" nh là một tiếng reo, phụ họa cùng từ "mớt quá" càng chỉ rõ sắc thái thích

thú, cái nhìn ngả nghiêng, ngẩng cao đầu chiêm bái ngỡng vọng: cau là cây cao nhất trong vờn, là cây nhận tia nắng đầu tiên trong ngày Bởi vậy, "nắng hàng cau", "nắng mới lên" là thứ nắng ban mai tinh khiết, nắng thiếu nữ, nắng trinh nguyên Lối so sánh "xanh nh ngọc" vốn quen thuộc trong thơ

ca cổ điển bỗng trở nên mới mẻ nhờ chữ "quá" đặt ở phía trớc "Quá" vốn là từ chỉ độ nhng trong câu thơ vang lên nh một tiếng reo trầm trồ trớc vẻ đẹp đến sửng sốt bất ngờ của vờn Vĩ Cả khổ thơ bừng lên một thứ ánh sáng lung linh, bức tranh toàn cảnh vờn Vĩ lúc hừng đông nh phát sáng Đại từ phiếm chỉ "ai" đầy biến ảo: Vờn ai vẻ đẹp ấy, vẻ đẹp thần diệu ấy đã thuộc về ai ? Cái thế giới huyền diệu thanh khiết non tơ rờ rỡ là thế giới đã ngoài tầm tay với ám ảnh cách ngăn hiện diện rõ ràng: Lá trúc che ngang mặt chữ điền Trở về thôn Vĩ dù bằng mơ, bằng thơ vẫn không khỏa lấp đợc nỗi đau chia cắt Câu thơ đợc viết theo lối cách điệu hóa : cận cảnh là "lá trúc", hậu cảnh là "mặt chữ

điền" Đó là gơng của ngời đứng ngoài nhìn vào, gợi lên vẻ đẹp kín đáo mà đầy u uẩn

Khổ 2: Cảnh bến Vĩ Dạ đêm trăng

Gió theo lối gió mây đờng mây Dòng nớc buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Toàn bộ khổ 2 là cảnh bến Vĩ Dạ đêm trăng, bến Vĩ Dạ nằm ở phía Nam kinh thành Huế Nhớ về

Vĩ Dạ không thể không nhớ sông Hơng Sông Hơng là cảnh đẹp nổi tiếng của xứ Huế, chảy qua Vĩ Dạ Dòng sông ấy đã chảy vào bao áng thơ ca của thi nhân muôn đời với vẻ đẹp mộng ảo

Huế mà không có sông Hơng Câu thơ xứ Huế ngang đờng đánh rơi

Sông Hơng: "Sông dài mái tóc cung nga buông hờ" lại đi vào thơ Hàn Mặc Tử với nỗi buồn li tán,

với ám ảnh cái chết

Gió theo lối gió, mây đờng mây

Câu thơ vỡ tách ra làm 2 vế, gió chỉ còn đối diện với gió, mây chỉ còn cuốn lòng riêng mây Gió

mây kia đợc cảm nhận trong tâm trạng biệt li đã tạo nên ảo giác: gió mây ngợc chiều li tán, những cái sinh ra để đồng hành, nay không còn gặp gỡ mà chia li, làm sao có thể thấu tỏ hòa đồng Gầm mối sầu cô đơn, ôm mối tình đơn chiếc, tình ta chỉ biết giãi bầy với lòng ta Câu thơ: "Dòng nớc buồn thiu hoa bắp lay" đã biến con sông thành một sinh thể có tâm trạng Hoa bắp lay vật vờ bên bờ sông Hơng gợi cảm nhận về một thế giới không sinh khí, không sức sống Khó có thể nói đây là hai câu thơ về vẻ đẹp của Huế thơ, Huế mộng Dòng sông nh kiệt mòn sinh lực "buồn thiu", hoa bên bờ sông lại là hoa bắp, một thứ hoa vô hơng vô sắc, vô duyên Hai câu thơ là đỉnh điểm của nỗi sầu cô đơn, của ám ảnh chia lìa

Hai câu dới của khổ thơ lại vặn mình chuyển điệu sang một thế giới khác, một thế giới toàn trăng:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Thuyền trăng, sông trăng, bến trăng, hai câu thơ đầy trăng dờng nh không mới, nhng vẫn rất lạ bởi

tâm trạng thi nhân phập phồng trong ám ảnh chia lìa, trong hối thúc thời gian một đi không trở lại

"Kịp tối nay": một là đêm nay, hai là không bao giờ, một chữ "kịp" làm tan đi cái diễm lệ huyền ảo của câu thơ, nó tấu lên giai khúc khẩn khoản, nôn nao, cồn cào đến lạ thờng Sống trong bệnh tật cách li với cuộc sống bên ngoài, Hàn Mặc Tử nh sống giữa một sa mạc cô đơn ghê gớm Bạn tri kỷ của nhà thơ là trăng nhng liệu trăng có kịp theo thuyền về "tối nay" Quỹ thời gian đang vơi dần từng ngày, phút chia lìa lạnh lùng sắp điểm, thuyền không trở trăng về kịp thì cuộc ra đi sẽ đau thơng tuyệt vọng vô cùng Cái chết quả là điều đáng sợ, song đáng sợ hơn cái chết là sự lãng quên, sự thờ ơ của tình ngời Hàn Mặc Tử vì vậy mong đến cháy lòng một tri âm, tri kỷ

Khổ 3: Khao khát yêu và sự đồng cảm:

Nhớ về Vĩ Dạ không thể không nhớ ngời thôn Vĩ - ngời thiếu nữ thôn Vĩ trong tâm tởng của nhà

thơ

"Mơ khách đờng xa khách đờng xa

áo em trắng quá nhìn không ra"

Câu thơ điệp 2 lần từ "khách" để đẩy nỗi nhớ ngày càng xa vào hoài niệm, sơng khói thời gian nh

phủ lên dáng hình thiếu nữ Màu áo trắng trong, vời vợi hơn bởi khoảng cách giữa quá khứ và hiện

Trang 34

tại, giữa thực và mộng ảo Ngời thôn Vĩ xa vời, tình đơn phơng cha lời trao gửi cũng trở nên xa vời yêu không dám nói, chỉ dám giữ lại cho mình một kỉ niệm cũng mong manh:

"áo em trắng quá nhìn không ra"

Sơng khói thời gian hay niềm tuyệt vọng đã khỏa lấp ớc vọng Câu thơ trở nên chới với nghẹn

ngào

ở đây sơng khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà

ở đây - nơi cách ly của Hàn Mặc Tử, hay nơi vờn Vĩ Dạ nơi có ngời thơng yêu của mình Đại từ

"ai" đầy biến ảo: "Anh" - hay "Em" ? chỉ 14 mà chữ ngân rung bao cung bậc đau thơng, não nề, se xót Nàng thơ cất cánh thần tiên tiêu tan vào sơng khói Bản tốc kí tâm trạng dừng lại Tiếng nói trữ tình chỉ còn rung ngân lên trong câm lặng một nỗi niềm bâng khuâng day dứt pha đôi chút oán trách giận hờn

Tình ai ? ai biết ? đại từ phiếm chỉ "ai" đã biến tiếng nói nội tâm rất riêng t của thi nhân thành câu

hỏi ngàn đời, dành cho tất cả những ai đang khao khát yêu đơng, khao khát sự đồng điệu đồng cảm

"Đi tìm cái đẹp trong cõi thực, cõi thực hờ hững Đi tìm sự đồng cảm, đồng điệu trong cõi mộng,

cõi mộng h ảo mờ mịt Cho nên đắm say rồi nguội lạnh, nồng nhiệt để băng giá, mộng để tỉnh", đó là lôgíc vận động tâm trạng của một cái tôi ham sống yêu đời trong "Đây thôn Vĩ Dạ" Lôgíc tâm trạng

đã chi phối lôgíc phong cách và tổ chức giọng điệu trữ tình: Cảnh lúc gần lúc xa, lúc thực lúc mộng nhng giọng điệu chủ đạo vẫn là giọng điệu bâng khuâng đầy mơ mộng

III Kết luận

Đây thôn Vĩ Dạ là tiếng nói của một cái tôi bơ vơ cô đơn, là khát vọng ngàn đời của con ngời về sự

đồng cảm, đồng điệu mà tình yêu lứa đôi là biểu hiện cao nhất Bài thơ - nh cách nói của Hoài Thanh: "Vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại Nó ra đời giữa niềm vui, nỗi buồn của loài ngời và nó sẽ kết bạn với loài ngời cho đến ngày tận thế"

CHữ NGời Tử Tù NGUYễN TUÂN

- Với 1/2 thế kỷ lao động nghiêm túc, ông đã để lại một sự nghiệp sáng tác phong phú có những

áng văn đợc coi là kiệt tác ông coi cái đẹp nh tôn giáo của mình

Là cây bút tài hoa, độc đáo Đợc tặng giải thởng Hồ Chí Minh "Chữ ngời tử tù" in trong tập "Vang bóng một thời" xuất bản 1940 "Vang bóng một thời" gồm 11 truyện ngắn viết về một thời đã xa chỉ còn vang bóng: Thời nhà Nguyễn suy tàn, thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, những nhà nho "dự khoa thi cuối cùng" trong không khí đầy lo âu, không ổn định Những nhà nho tài hoa ấy gặp "buổi Tây Tàu nhố nhăng, làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao giá trị tinh thần", tự cảm thấy "phẫn uất với buổi giao thời" Họ giữ lại vẻ đẹp xa: thởng hoa, uống rợu, họ nhấm nháp chén trà buổi sớm với tất cả nghi lễ thiêng liêng Ngay đánh bạc họ cũng chơi một cách nho nhã: đánh bằng thơ Thông qua những nhân vật trong "Vang bóng một thời" nhà văn bày tỏ thái độ bất hòa sâu sắc với xã hội đ-

ơng thời, không chịu vất bỏ lơng tâm, chạy theo danh lợi, cố giữ thiên lơng và sự trong sạch của tâm hồn Trong số đó Huấn Cao trong "Chữ ngời tử tù" là một thành công đặc sắc Con ngời này vừa là

Trang 35

một nghệ sĩ tài hoa vừa là một trang anh hùng dũng liệt, mặc dù chí lớn không thành nhng bao giờ t thế cũng hiên ngang bất khuất.

II Nhân vật Huấn Cao

Huấn Cao là nhân vật đẹp nhất của đời văn Nguyễn Tuân Huấn Cao không chỉ nh một kẻ tài hoa tài tử thờng gặp trong thế giới nghệ thuật Nguyễn Tuân Huấn Cao là một đấng tài hoa nhng cũng là một đấng anh hùng Trong con ngời này ngời ta thấy sự kết hợp ở mức lý tởng của một hào kiệt và một nghệ sĩ

Mở đầu truyện Huấn Cao xuất hiện gián tiếp thông qua ý nghĩ của viên quản ngục và lời kể của thầy Th lại Ngay từ những dòng đầu tiên ấy phẩm chất, vẻ đẹp của nhân vật đã đợc khẳng định: viết chữ đẹp và có tài bẻ khóa vợt ngục khiến cho Quản ngục cũng phải kính nể kiêng dè

Nhân vật xuất hiện trớc mắt ngời đọc trong t thế của ngời tử tù đến nhà giam của tỉnh Sơn chờ ngày thụ án Huấn Cao đi đầu và theo sau là năm đồng chí của ông Trên vai họ là một cái gông bằng lim vậy mà từ trong con ngời Huấn Cao vẫn toát ra một thái độ điềm tĩnh, thản nhiên đến khinh bạc

Ông quay lại bảo các bạn tù rỗ rệp ở gông bằng một thái độ lạnh lùng Chỉ bằng một vài lời thoại ngắn Huấn Cao đã gây đợc cảm tình cho ngời đọc Tên lính thị oai buông lời dọa nạt nhng dờng nh lời doạ nạt ấy không lọt vào tai Huấn Cao Cửa nhà lao mở, Huấn Cao cùng các bạn đồng chí điềm nhiên bớc vào Tất cả những hành vi cử chỉ ban đầu ấy của Huấn Cao đã khiến cho độc giả và ngay cả viên quản ngục phải thán phục kiêng nể Chỉ bằng một chi tiết "rỗ gông" thôi lập tức khí phách phi thờng của Huấn Cao đã thể hiện đã hằn lên nh một ấn tợng Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân lại để Huấn Cao xuất hiện lần đầu trong thiên truyện bằng chi tiết "rỗ gông" ấy là hành động biểu thị tự do Huấn Cao đã cho thấy việc gì ông muốn là làm, và hoàn toàn có thể làm đ ợc Bất chấp nó khó khăn đến đâu và có đợc phép hay không để rồi Huấn Cao cứ sừng sững hiên ngang đi cho hết sinh mệnh của mình trong thế giới của câu chuyện

Huấn Cao hiện thân của khí phách kiên cờng bất khuất Đây là khía cạnh nổi bật nhất làm nên vẻ

đẹp rực rỡ, tầm vóc lớn lao của Huấn Cao Hình tợng Huấn Cao lạnh lùng đứng đầu gông dài bớc vào buồng tử tù, thản nhiên nhận rợu, thịt coi đó là cái việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh Huấn Cao trả lời Quản ngục bằng những lời khinh bạo đến điền, khinh bỉ ra mặt bọn ngục quan dù biết chúng

sẽ dở trò tiểu nhân thị oai tàn bạo để báo thù (khi đợc dâng rợu thịt Huấn Cao nghĩ rằng Ngục quan

có âm mu xấu xa nào đó) Tất cả những chi tiết ấy cho chúng ta thấy Huấn Cao đúng là con ng ời chọc trời khuấy nớc Đến cái cảnh chết chém ông cũng chẳng sợ nữa là cái trò bày đặt của bọn tiểu nhân Khi Quản ngục bớc chân vào buồng giam Huấn Cao, ông mắng quản ngục bằng những lời lẽ khinh bạc đến điều Ngay cả việc cho chữ ông cũng bộc lộ bản lĩnh hơn ngời: Nhất sinh không vì tiền bạc hay quyền lực mà ép ông viết chữ, rồi nữa t thế viết chữ ở thời khắc cuối cùng của cuộc đời ung dung đờng bệ cũng là t thế kiên cờng đầy bản lĩnh khinh thờng cái chết Huấn Cao là con ngời văn võ toàn tài, kẻ thủ xớng dựng cờ khởi nghĩa chống triều đình ấy giờ đây chí lớn không thành bị giam trong ngục tối cổ mang gông chân đeo xiềng chờ ngày xử án vậy mà vẫn ung dung đờng hoàng ngang tàng đến lẫm liệt Chân dung Huấn Cao toát ra hào quang của một anh hùng nghĩa kiệt

Huấn Cao nh hầu hết các nhân vật chính trong "Vang bóng một thời" và trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Tuân là một ngời tài hoa viết chữ rất nhanh, rất đẹp Chữ ông đẹp lắm, vuông lắm, có đợc chữ ông mà treo nh là có một vật báu trên đời

Về điểm này Huấn Cao hiện diện phẩm chất của một nghệ sĩ th pháp (nghệ thuật viết chữ) cao siêu Tài năng hội họa thì nhiều Nhng hoạ sĩ có tài th pháp thì vô cùng hiếm hoi, và nh vậy Huấn Cao hiện thân của một tài năng hiếm hoi Chữ trong những tác phẩm th pháp không phải là sản phẩm khéo tay, quen việc, thạo nghề của một ngời thợ Mà một lần đặt bút đối với nhà th pháp là một lần sáng tạo Một nét bút là sự tập trung, kết tụ tinh hoa và tâm huyết của ngời nghệ sĩ Một nét chữ đều

là sự hiện hình của những khát khao thầm kín mà mãnh liệt chất chứa trong tâm khảm, trong nhân cách của ngời viết Chữ Huấn Cao là nhân cách cao khiết phi thờng của Huấn Cao Nó quí giá không chỉ vì đợc "viết rất nhanh và rất đẹp", không chỉ vì "đẹp lắm vuông lắm" mà quan trọng hơn là

"những nét chữ vuông vắn, tơi tắn nó nói lên hoài bão tung hoành của một đời con ngời" Có hiểu nh thế ta mới cắt nghĩa đợc tại sao "có đợc chữ ông Huấn Cao mà treo là một vật báu trên đời" ở đây Nguyễn Tuân không tả vẻ đẹp của những con chữ tài hoa mà chú tâm vào cái đẹp của nghĩa khí tỏa

ra từ nét chữ

Ngày đăng: 31/10/2013, 03:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w