Phần 2 của cuốn sách Cuốn sách Báo quấc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỷ 19 sẽ giới thiệu đến bạn đọc một số tờ báo quốc ngữ thế kỷ 19 như: Thông Loại Khóa Trình - Tờ báo của nhiều cái đầu tiên, báo Nam Kỳ, Phan Yên Báo,… Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2Thông Loại Khóa Trình số đầu tiên năm 1888.
Trang 3Thông Loại Khóa Trình còn có tên Miscellanées là tờ nguyệt
san văn hóa do Trương Vĩnh Ký sáng lập và làm chủ, ra đời vào tháng 5-1888 (từ số 3 ghi tháng 7-1888, số 4 ghi tháng
8 và số 5 ghi tháng 9-1888 mà suy ra) Báo in khổ 16x24, ba
số đầu có 12 trang, số 7 có 20 trang và các số còn lại 16 trang Tòa soạn báo có lẽ đặt tại nhà ông Ký ở Chợ Quán (nay là số
520 Trần Hưng Đạo) có lẽ ngó ra đường Trần Bình Trọng hiện nay vì đường Trần Hưng Đạo thế kỷ 20 mới có Báo ra được
18 số (một năm rưỡi) thì tự đình bản Đây là tờ nguyệt san có nhiều cái “đầu tiên”
vui pha vào một hai khi, nó mới thú Vậy ta tính làm ra một tháng đôi ba kì, một tập mỏng mỏng, nói chuyện sang đàng, chuyện tam hoàng cuốc chí, pha phách lộn lạo, xào bần để cho
Trang 4học trò coi chơi cho vui Mà chẳng phải chơi không vô ích đâu: cũng là những chuyện con người ta ở đời nên biết cả Phép học là trước học lễ sau học văn; được cả hai ấy mới ra con nhà gia giáo, biết phép tắc lễ nghi, cang thường, luân lý, biết chữ nghĩa văn chương, kinh sử truyện tích cổ kim ” (Bảo - số 1
năm 1888) Với lời nói đầu này, Trương Vĩnh Ký xác định tiêu chí và đối tượng độc giả của báo Thế nhưng, ông Ký không thể đi đến cùng được cái mục tiêu cao đẹp ấy mà phải đóng cửa báo vào tháng 10-1889 (số 18) vì “hết tiền in báo” (Cho
Hay - số 6 tháng 10-1889) Ông Ký viết “Năm ngoái năm nay
sách Thông Loại Khóa Trình có người mua hết thảy chừng ba bốn trăm; nên còn đọng lại nhiều lắm; không biết lấy đâu mà chịu tiền in Xin văn nhơn học sĩ quang cố; tuy hữu hằng tâm
mà vô hữu hằng sản thì biết làm làm sao được?”
Năm 1930 và 1931, ông Trương Vĩnh Tống, con trai ông Trương Vĩnh Ký, đã “cho in lại” bộ báo này qua nhà xuất bản
Đức Lưu Phương “Tôi sở dĩ in lại đây, là không phải có ý gì
vụ danh hay vụ lợi; vì tôi thấy một bộ sách có bổ ích cho mọi người, mà từ ấy nhẫn nay đã hơn 40 năm, tưởng không còn ai giữ đặng nguyên bổn Vã (vả) lại tôi tiếc cái công trình trước thuật của tiên nghiêm tôi đã hết lòng vì phong hóa xã hội, lủ
(lũ) trẻ đoàn em, nên tôi không nỡ để cho công trình ấy ngày
sau mai một” Coi kỹ lại thì ông Tống không “in lại toàn bộ”
mà chỉ in thêm bìa và “mấy lời nói đầu” rồi đóng thành bộ những tờ báo cũ của ông Ký còn tồn Có lẽ cũng nhờ đóng bộ
(mỗi bộ 6 tờ) như vậy mà Thông Loại Khóa Trình còn lưu lại
được tới hôm nay!
Năm 1888, sau 6 năm chữ quốc ngữ bị chánh quyền thực
Trang 5de Viler) và hơn 20 năm thứ chữ này được công khai xuất hiện
ở vùng đất Lục tỉnh thuộc Pháp, thời điểm này, Pháp đã chiếm Bắc Kỳ và hình thành Liên hiệp Đông Dương gồm 5 khu vực Tonkin (Bắc Kỳ), Annam (Trung kỳ - từ Thanh Hóa đến Bình Thuận), Nam Kỳ (từ giáp Bình Thuận đến Cà Mau), Mên (Miên, Cam Bốt hay Kampuchia) và Ai Lao (Lào) và đặt phủ toàn quyền
ở Hà Nội
Tuy vậy, chữ quốc ngữ lúc ấy chỉ phổ biến ở Lục tỉnh và số người học chữ không nhiều lắm, dù có nhiều ưu đãi từ chánh quyền Pháp Chữ quốc ngữ tuy có trường học nhưng trường không nhiều và thường không gần nhà Hạt Gia Định năm
1899 với 18 tổng, 191 làng và có 16 trường tổng Tổng Dương Hòa Thượng có 14 làng chỉ có một trường ở làng Tân Sơn Nhì, nay là trường Ngô Đa, tên cũ là trường Tiểu học cộng đồng Bà Quẹo Các Tổng An Thạnh, An Thịt (còn gọi là An Thít) và Cần Giờ có 20 làng chỉ có một trường ở Cần Thạnh (nay là trung tâm huyện Cần Giờ) Đây là trường cấp 1 Học lên cao một chút (cấp 2 và 3) thì trường càng ít Cả Lục tỉnh chỉ có trường
Le Myre de Vilers (Nguyễn Đình Chiểu) ở Mỹ Tho và trường Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn), Tabert (Trần Đại Nghĩa) ở Sài Gòn Gia đình muốn con đi học chữ phải “gởi nhờ” nhà trường hoặc người quen, vừa tốn kém, vừa xa con cái Chưa kể nỗi lo “mất con” vì không biết học hành như vậy thì Tây có bắt con mình qua Tây hay không Trường ốc như vậy, người đi
học hẳn không nhiều và người có học đủ sức đọc được Thông
Loại Khóa Trình càng ít!
Trang 6kỳ này, tiền rất có giá trị, một thước vuông đất ở trung tâm Sài Gòn giá 1,5 đồng (khoảng 7,5 franc) thì hai cắc là số tiền lớn Một giáo viên tập sự lương 360 đồng/năm, còn giáo viên chánh thức 600 đồng/năm (theo Lịch Annam 6 tỉnh Nam Kỳ năm 1899) Muốn mua được báo, học sinh phải là con nhà giàu,
có khi là giàu lắm mới có tiền hằng tháng bỏ ra mua báo Tất nhiên, còn phải có lòng “mê” sách báo nữa
Với điều kiện như vậy, sự tồn tại của tờ báo quả là mong manh, điều mà một người như ông Ký, người dành cả đời để nghiên cứu, học hành, ít quan tâm đến đời sống xã hội, có khi không chú ý mấy Ngày nay, dù điều kiện học hành tốt hơn, trường lớp mọc khắp nơi, học hành là động lực rất lớn
để thanh niên vào đời, nhưng sách báo vẫn “ế” Hiện nay, Việt Nam tròm trèm 100 triệu dân mà mỗi lần in loại sách mang chút tính học thuật các nhà xuất bản chỉ dám in 1000 bản/lần, huống hồ thời ông Ký cả Nam Kỳ độ chừng 2-3 triệu người
Ít người đọc, ít người có tiền mua báo nên tờ báo chết là bình thường Theo lời “Cho hay” ở số cuối cùng, ông Ký cho biết báo muốn tồn tại thì phải có từ 2.000 đến 2.500 người mua báo nhưng thực tế chỉ có 400 tờ báo được bán ra và trong số
đó nhiều người “thiếu nợ” lâu ngày Đó là cái chết được báo trước mà “ông thầy” Trương Vĩnh Ký vì quá đam mê nghiên cứu sách vở, đam mê làm báo, đam mê truyền đạt kiến thức
cho đời sau quên mất “Nay nhân vì bởi không có vốn cho
đủ mà in luôn sách Thông Loại Khóa Trình nữa, nên ta cực chẳng đã phải đình in đi cho đến khi các nơi các xứ có người
Trang 7chịu mua trước cho đủ số ít là 2.000, 2.500 thì mới có lẽ mà in lại nữa được là có tiền mà trả tiền in cho ít nữa là 2/3 thì mới dám lãnh làm luôn; phải có củi đậu nấu đậu mới được Phải chi mỗi Sở Tham biện anh em đồng chí lo giùm cho có được chừng 200, 250 người xin mua mà coi thì có lẽ lấy vốn ấy nhen nhúm mà làm thì còn trông xấp xỉ đủ sở phí Phần thì bây giờ
ta đang lo in các thơ văn như Vân Tiên, Thúy Kiều, Phan Trần lại in sách Minh Tâm tứ thơ, nên sở phí lớn lắm không dám chắc có vốn mà làm cho đủ nữa Năm ngoái năm nay Thông
Loại Khóa Trình có người mua hết thảy chừng ba bốn trăm;
nên còn đọng lại nhiều lắm; không biết lấy đâu mà chịu tiền
in Xin văn nhơn học sĩ quang cố; tuy hữu hằng tâm mà vô hữu hằng sản thì biết làm sao được?” Đây là lời “tâm sự” đầy đau
khổ của người mê làm báo mà phải đóng cửa báo vì hết tiền!
Và sự hết tiền này đã “góp” thêm một cái nhứt nữa cho tờ báo
“tờ báo đóng cửa trước nhứt” Bởi sau đó, rất nhiều tờ báo ra đời rồi đóng cửa vì rất nhiều lý do, trong đó cũng có không ít
tờ tự đình bản vì “hết tiền”
Thông Loại Khóa Trình là tờ báo tiên phong trong việc phổ
biến kiến thức, là chuyên san đầu tiên về văn hóa, nghiên cứu văn học, lịch sử nước nhà mà bất cứ chánh quyền nào cũng
quan tâm đầu tư Song Thông Loại Khóa Trình ra đời không
đúng lúc và lại do một tư nhân “không giàu có” về tiền bạc
mà chỉ có tâm huyết nên lực bất tòng tâm, có hằng tâm mà không hằng sản nên Giả dụ thời ấy mà ông Ký “nắm áo” các đại gia như Tổng đốc Phương, Huyện Sĩ để đỡ đầu hẳn tờ báo không chết yểu!
Thông Loại Khóa Trình ra đời vào buổi bình minh của báo
Trang 8ra đời của tờ báo, thực dân Pháp vừa chiếm Bắc kỳ không bao lâu, tình hình chính trị chưa thật ổn định Ở miền Trung thì phong trào Văn Thân đang nổi lên với nhiều cuộc “dậy giặc”, thực dân vừa lo trong triều đình vừa xua quân “dẹp giặc” ở trong rừng Năm 1888 cũng là thời điểm mà chữ quốc ngữ vẫn chưa bám rễ chắc chắn vào lòng người Việt ngay ở Nam
Kỳ, vùng đất từ năm 1862 rồi 1874, nhà Nguyễn đã để cho Pháp trọn quyền cai trị Với thực dân, chữ quốc ngữ được cổ
võ phổ biến với nhiều trường lớp, thầy dạy là nhằm để có người biết chữ để “phục vụ cho nhà nước Đại Pháp”, để làm công chức trung gian giữa người Pháp nắm trọn quyền lực ở mỗi địa phương với người dân bị trị, để người dân có thể đọc biết được những lịnh lạc từ chánh quyền mà chấp hành, chớ không phải dạy chữ để dân biết lịch sử hào hùng, nền tảng văn hóa, nhân cách cao đẹp của người Việt Chánh quyền nào cũng muốn dân chúng dễ dạy, biết nghe lời, chỉ đâu làm đó chớ không muốn dân chúng trên dưới đều là “trí thức” (vốn
là loại người biết nhiều chuyện, hay có ý kiến, thích bàn bạc, cãi lại các lịnh lạc từ chánh quyền) để việc trị an rối rắm, mất sức, nhứt là chánh quyền thực dân
Từ tâm lý ấy, việc Thông Loại Khóa Trình ra đời không nhằm
vào việc thông tin bình thường mà chỉ chăm chăm việc nâng cao kiến thức cho dân chúng, chăm chăm việc làm tăng thêm
sự hiểu biết của người học chữ quốc ngữ về lịch sử, văn hóa của nước Việt là “đi ngược” lại ý đồ của thực dân Hẳn nhiên, Pháp là một quốc gia có nền văn hóa đáng nể, người Pháp có truyền thống văn hóa trong cách hành xử và ông Ký là một nhân
Trang 9có truyền thống mấy, có lịch sự mấy, có kính nể mấy thì nhà cầm quyền Nam Kỳ cũng không thể ủng hộ việc làm của ông
Ký Song việc họ để cho ông Ký làm mà không cấm, không phá chính vì lịch sự và kính nể, nhưng không hoàn toàn ủng hộ
Do không ủng hộ nên tờ báo phải chết yểu Cứ theo lời “cho hay” của ông Ký thì các Sở Tham biện không mua nhiều báo lắm! Mức mong muốn của ông Ký chỉ là 200 tới 250 tờ một Sở Tham biện cũng không có Tham biện là cơ quan tương đương cấp tỉnh hiện nay nhưng địa giới có lẽ lớn hơn nhiều Đó là nơi tập trung hầu hết những người “biết chữ quốc ngữ” là lực lượng thông ngôn và các quan chức người Việt từ làng xã đến tỉnh Tới năm 1888, ai không biết chữ quốc ngữ đều bị loại ra khỏi hệ thống hành chánh (theo nghị định ngày 1-1-1882 của thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers) từ làng xã trở lên và chắc chắn số công chức ấy không thể dưới 250 người/tỉnh Vậy mà cho thấy thực dân đã ngấm ngầm tẩy chay bằng cách không hoặc mua báo rất ít! Đây là cách tẩy chay “vô cùng lịch sự” Bởi chánh quyền vẫn để ông Ký mua giấy, in báo (thuở ấy chỉ có vài nhà in nằm trong tay nhà nước và giáo hội) để rồi sau khi
in ra thì bán không hết và “còn đọng lại nhiều lắm”
Đây là nguyên nhân chánh khiến Thông Loại Khóa Trình
chết chớ không chỉ vì ông Ký không còn tiền để tiếp tục công trình đáng kính phục này Bởi dù tiếng là xuất bản để “học trò coi chơi” nhưng có mấy học trò đủ tiền mua báo hằng tháng? Quy định của chánh quyền năm 1881, mỗi học sinh được vô trường Chasseloup - Laubat được học bổng hằng tháng là 5 đồng dành cho ăn ở, áo quần, tập vở, bút mực Bỏ ra một số
Trang 10xa xỉ, nhứt là học sinh nghèo lại sống xa nhà! Phải là học sinh
vô cùng mê đọc báo, phải là học sinh con nhà giàu thì mới dám
“chơi” mua báo hằng tháng Vì vậy, người có khả năng mua báo phần lớn là “người lớn” đang là quan chức hoặc làm việc cho nhà nước Pháp từ làng xã đến tham biện (tỉnh) Trong số
đó, có nhiều người là học trò của ông Ký như Nguyễn Trọng Quản (thông ngôn), Trương Minh Ký (thầy giáo), Diệp Văn Cương (thầy giáo) và đồng nghiệp làm chung ở phòng thông
ngôn, Gia Định Báo nhưng học trò dù thương thầy mấy cũng
không thể nào “mua hàng ngàn tờ báo” một tháng được
Vậy Thông Loại Khóa Trình viết gì mà người Pháp phật lòng? Trong số đầu tiên, mục lục của Thông Loại Khóa Trình là
“Tam cang, tam cang là những cang nào? Tam cang, tiền bạc,
các trò nói chuyện, câu hát, câu đố câu thai, cuộc chơi, giải ít câu chữ Nho, tập đọc tiếng nói Phangsa” Ông Ký chỉ giải thích
“tam cang”: “Chỉ vua với tôi ở cùng nhau phải cho có đạo, cha
với con ở cùng nhau phải cho có tình, vợ với chồng ở cùng nhau phải cho có nghĩa là thuận hòa với nhau” Rồi ông viết “Thật nghĩ lại con người sanh ra ở đời chẳng có cái chi mà quý cho bằng đạo cang thường Vì nhờ đạo ấy mà nước bền nhà vững, vua thánh tôi hiền nhơn dân cần vương ái quốc, con thảo cha kính mẹ, nhỏ dưới thuận thảo lớn trên; ở với nhau thù tạc ngay tín, trên dưới lớn nhỏ phân biệt, có tôn ti thượng hạ; ràng buộc lấy nhau, thành nên một nhà một hội bền bĩ (bỉ) chắc chắn; vì nhờ giáo hóa biết đạo nên có hằng tâm thì khỏi phóng tịch tà xí” (Tam cang) Tam cang là loạt bài rất nhiều kỳ, nói về nhiều
chuyện đời, xuất hiện trong mỗi số báo như nhắc nhở người
Bài sưu tầm trên Thông Loại Khóa Trình.
Trang 11xa xỉ, nhứt là học sinh nghèo lại sống xa nhà! Phải là học sinh
vô cùng mê đọc báo, phải là học sinh con nhà giàu thì mới dám
“chơi” mua báo hằng tháng Vì vậy, người có khả năng mua báo phần lớn là “người lớn” đang là quan chức hoặc làm việc cho nhà nước Pháp từ làng xã đến tham biện (tỉnh) Trong số
đó, có nhiều người là học trò của ông Ký như Nguyễn Trọng Quản (thông ngôn), Trương Minh Ký (thầy giáo), Diệp Văn Cương (thầy giáo) và đồng nghiệp làm chung ở phòng thông
ngôn, Gia Định Báo nhưng học trò dù thương thầy mấy cũng
không thể nào “mua hàng ngàn tờ báo” một tháng được
Vậy Thông Loại Khóa Trình viết gì mà người Pháp phật lòng? Trong số đầu tiên, mục lục của Thông Loại Khóa Trình là
“Tam cang, tam cang là những cang nào? Tam cang, tiền bạc,
các trò nói chuyện, câu hát, câu đố câu thai, cuộc chơi, giải ít câu chữ Nho, tập đọc tiếng nói Phangsa” Ông Ký chỉ giải thích
“tam cang”: “Chỉ vua với tôi ở cùng nhau phải cho có đạo, cha
với con ở cùng nhau phải cho có tình, vợ với chồng ở cùng nhau phải cho có nghĩa là thuận hòa với nhau” Rồi ông viết “Thật nghĩ lại con người sanh ra ở đời chẳng có cái chi mà quý cho bằng đạo cang thường Vì nhờ đạo ấy mà nước bền nhà vững, vua thánh tôi hiền nhơn dân cần vương ái quốc, con thảo cha kính mẹ, nhỏ dưới thuận thảo lớn trên; ở với nhau thù tạc ngay tín, trên dưới lớn nhỏ phân biệt, có tôn ti thượng hạ; ràng buộc lấy nhau, thành nên một nhà một hội bền bĩ (bỉ) chắc chắn; vì nhờ giáo hóa biết đạo nên có hằng tâm thì khỏi phóng tịch tà xí” (Tam cang) Tam cang là loạt bài rất nhiều kỳ, nói về nhiều
chuyện đời, xuất hiện trong mỗi số báo như nhắc nhở người
Bài sưu tầm trên Thông Loại Khóa Trình.
Trang 12đọc Trong bài “tiền bạc” có đoạn: “Nước Annam nguyên thuở
đầu dụng tiền gì, hoặc tiền ốc, tiền điếu Tàu hay sao thì không lấy đâu mà rõ biết được Từ đời nhà Trần mới có đúc tiền kẽm; rốt đời nhà Trần lúc Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương chiếm soán Trần thì cũng có bày lập tiền giấy mà dùng Annam cũng có tiền điếu, tiền bạc, tiền vàng; bạc vàng có nén, có thoi, có đỉnh,
có thẻ, cứ đồng cân lượng mà kể Tiền nhỏ hơn hết là đồng tiền kẽm, 60 đồng là một tiền, 600 đồng bằng 10 tiền, thì kêu là một quan Tiền điếu có thứ ăn 3 có thứ ăn 6” Trong báo số 2,
có những câu bình thường nhưng ngẫm nghĩ thì dễ suy diễn
như “hễ cái mình không muốn cho mình thì chớ có làm cho
người ta” (dịch lại câu của Khổng Tử “kỉ sở bất dục vật thi ư nhơn”), hoặc “một tấm áo, một miếng ăn, nên nhớ đến công làm nên khó nhọc Phải nhớ ơn chẳng nên bơ thờ tưởng đâu tự nhiên phải có sẵn ra cho mà dùng Biết là mấy người lơ láo cho đến chừng ấy!” (câu chữ số 2) hay “Ruột bỏ ra, da bỏ vào chỉ nghỉa (nghĩa) là bà con cật ruột mình thì lại không nghĩ không thương, mà vị cùng yêu kẻ xa lạ, người dưng” (Tiếng tục - số
2) Bắt đầu từ số 3 tháng 7-1888 thì xuất hiện trên báo mục
“Nhơn vật nước Nam” giới thiệu những nhân vật lịch sử của Việt Nam như Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt (số 3), Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền (số 4), Phùng Khắc Khoan (số 5), Nguyễn Bỉnh Khiêm (số 3 tháng 7-1889), Hà Tôn Quyền (số 5 tháng 9-1889) Từ số 3 tháng 7-1888 trở đi, trên báo bắt đầu xuất hiện loại thơ “sáng tác” để răn đời hoặc nói về thời cuộc Bài
đầu tiên là “Nhớ song thân thơ” là bài thơ thất ngôn bát cú với
lời ghi chú là nguyên “của thầy Huề”1, học trò Đỗ Kim Thinh,
1 Thầy Huề: là ông Nguyễn Khắc Huề (không rõ năm sanh năm mất),
Trang 13“Ngùi ngùi khuya sớm luống ra vào
Thương nhớ hai thân lụy nhỏ sa
Chín tháng cưu mang nhờ đức mẹ
Ba năm bồng ẳm (ẵm) cám ơn cha
Xưa khuyên ăn học lòng vui vẻ
Nay giữ vùa hương dạ xót xa
Phước để nuôi lành con cháu nối
Dốc nguyền vẹn giữ trọn giềng ba”
Thương nhớ ơn cha mẹ là chuyện bình thường nhưng nếu suy diễn thì
“Trước kính gởi thăm ai không biết
Sau ngõ thăm bạn ngọc bông lông
Kể từ ngày đó bắc đây đông
Lòng luống tưởng không thương không nhớ
người Bến Tre, giáo tập, từng dạy ở trường Chassloup - Laubat vài năm sau chuyển về Bến Tre dạy và “làm Giáo học coi sóc các trường Tổng
trong nội hạt” (Nguyễn Liên Phong, Điếu cổ hạ kim thi tập, Cao tự
Thanh chỉnh lý và giới thiệu, VHVN 2013) Ông Huề viết báo khá nhiều
Sau này trên báo Nam Kỳ Nhựt Trình, Nông Cổ Mín Đàm, rồi Lục Tỉnh
Tân Văn những số đầu cũng thấy xuất hiện bài viết của ông.
Trang 14Bậu 1 với qua 2 không dươn 3 không nợ
Qua với bậu như Tấn với Tần
Sống dương gian không được nằm gần
Thác xuống âm phủ xin phân hai ngả
Nhà huyên ấy vốn là mẹ gã
Thung thất nầy chỉn thật cha ta
Gẫm hai đàng chẳng phải sui gia
Xem đây đó người dưng hết trọi”
Cũng trong số này có bài thơ “Ăn trộm trâu cung khai” không
đề tên tác giả
“Trộm trâu tôi không biết, tôi không biết trộm trâu
Vốn nhà tôi trồng một đám bầu
Coi nhà nào lớn ruộng nhiều trâu
Tôi tháo cổng dắt nó về ỉa
Bẩm thật tình tôi kiếm cứt trâu”
3 Dươn: duyên.
4 Bánh dầu: xác đậu phộng sau khi ép lấy dầu, đóng thành bánh để làm
Trang 15bạn của linh mục Nhị Kính, rồi Khuyến nghĩa giáo dân tựu ca
của Lê Di Trung Đến số 8 tháng 12-1888 thì có bài Hịch con
muỗi, bài tế Hậu quân Võ công Tánh, Nữ nhi ca của Trương
Minh Ký Số 9 tháng 1-1889 có các bài Những câu nói vần người
ta quen dùng của Đặng Đức Tuấn, bài Tế Đinh quận công Châu Văn Tiếp, Kiếp phong trần ca của Trần Hữu Hạnh, Tống bần phú của Nguyễn Xuân Quơn, Thơ gởi cho vợ của Nguyễn Khắc
Huề, Thơ gởi cho bạn của linh mục Lê Minh Triết
Bài dịch đầu tiên trên Thông Loại Khóa Trình là thơ Thằng
ăn cướp cạn do Leon Viết dịch từ truyện Pháp Và truyện văn
xuôi đầu tiên có lẽ là Quan Âm truyện! (số 6 tháng 10-1888)
Trang 16tờ để giao con lại Nàng oan ức khóc mùi, ra lạy tạ từ giã ra về Nghĩ mình vô duyên bạc phận, nên mới giả trai lên chùa
mà đi tu Vào chùa lạy sư bạch tỏ nguồn cơn, xin nương cửa Phật, độ tấm thân Đêm ngày niệm Phật tụng kinh, chẳng còn mong tưởng sự đời nữa, ở chùa thầy đặt tên lại là Diệu Thường Vậy mà cũng chưa yên phận, nạn này vừa hết lại tới nạn khác Trong làng kia gần chùa có ông phú ông có một đứa con gái tên là Thị Mầu, vô ra đi cúng chùa liếc thấy Diệu Thường tốt trai lịch sự, thì phải lòng Mà thấy lân la ghẹo hoa hoa cũng
vô tình, đêm ngày tưởng nguyệt mơ hoa, sóng tình nổi lên túng mới trai gái với thằng Thương Đầu có chửa ra, củ trướng càng ngày càng lớn, cha mẹ hay đặng mới tra hỏi Nó tích oán ve Diệu Thường không được, nó nhè đó nó khai xả vô cho bõ ghét Làng xóm tới tra hỏi đầy nhà đông dầy dầy, hỏi nó, nó cứ khai rằng:
Xưa nay ở chốn thâm quê,
Dẫu ong hay bướm chớ hề biết ai;
Phải khi lên chốn thiền trai,
Kỉnh Tâm tiểu ấu gặp ngoài cửa bia;
Quá yêu trót đã nguyện thề,
Nhụy hoa phú mặc bướm kia ra vào,
Làng dạy đòi tiểu Kỉnh Tâm ra đôi co Sư vâng lụm cụm, tay lần hột miệng niệm kinh, dẫn tiểu ra, hỏi thì tiểu Diệu Thường thưa rằng “Mình đã quyết đi tu; như còn trau dạ trần
ai, thì xin có đức Như Lai trên đầu, cứ thề thốt hoài Làng cứ lời khai Thị Mầu mà xử, đem tiểu tăng ra đánh đòn; cứ la oan mãi, mười phương Phật chín phương trời, chẳng thấu là đâu,
ôm bụng mà chịu.
Trang 17Thị Mầu tới kỳ đẻ ra một thằng con trai, ẳm đến giao cho nàng nuôi lấy Nàng Quan Âm cũng cắn răng mà chịu Tay bồng con người, miệng niệm kinh.
Lật bật tháng lụn ngày qua, thằng nhỏ tuổi đã nên ba Quan
Âm cứ một lòng nhịn nhục oan mặc lòng Trời Phật cảm đức người, nên mới định rước hồn nàng về Khi thay đồ mà liệm thì vải (vãi) mới biết là con gái giả trai đi tu Vào bạch sư hay,
sư mới cho làng vào mà khám nghiệm cho tường Quả nhiên làm vậy, mới biết là người chơn tu Làng đòi Thị Mầu với cha
mẹ Thị Mầu ra; mà bắt tội phao phản cho người.
Khi chết nàng đã có viết thơ trần tình cầm nơi tay Sư mở
ra đọc cho thiên hạ nghe
Cả phồn 1 Thị Mầu chưng hửng sửng sờ; lại bày gian ra, thiên
hạ đàm tiếu nhạo cười.
Thiện Sĩ và cả nhà cũng hỡi ôi, biết người ngay mà mình gian ăn năn thì việc đã rồi.
Ấy là gương nhơn đức nhịn nhục hiền lành làm cho ta biết,
hễ ngay thì ra ngay, mà gian thì ra gian, vì lưới trời lồng lộng, thưa mà chẳng lọt vậy”
Có thể tóm lại, Thông Loại Khóa Trình từ khi ra đời cho đến
lúc “hoàn thành nhiệm vụ” theo cách nói ngày nay, chỉ chú tâm “tìm tòi, lượm lặt” ca dao, tục ngữ và giải thích những điều trong đời sống bình thường mà sách vở không nói tới Thứ hai
là giới thiệu một số nhân vật lịch sử của nước nhà Và sau rốt
1 Cả phồn: cả lũ.
Trang 18Một tờ báo như vậy thì “không có gì ảnh hưởng đến sự cai trị của nhà nước Đại Pháp”, song cũng không “đã” lắm với chánh quyền vì “chỉ làm cho kiến thức của người biết chữ quốc ngữ tăng thêm nhưng chưa chắc đã có lợi cho Pháp” Đã vậy, trong những giải thích của ông Ký có nói tới những điều hơi “nhạy cảm” như quân thần, trung quân, ái quốc, ơn vua Năm 1888, phong trào Văn Thân, Cần Vương vừa tạm lắng sau khi vua Hàm Nghi bị bắt vào cuối năm 1888 Từ 1885 đến 1888, Pháp phải vất vả ở miền Bắc và Trung để dẹp phong trào này và phải đến năm 1895 công việc bình định mới tạm ổn Trong thời điểm
ấy, việc một tờ báo tiếng Việt do người Việt làm chủ, xuất hiện trên thị trường đã là cái gì đó quá hớp, quá “trân trọng”, quá tin cẩn, quá nuông chìu! Thay vì ủng hộ chánh quyền, thì báo lại có những bài, câu viết nói xa nói gần những vấn đề mà nhà nước muốn tránh Báo lại nêu ra những nhân vật lịch sử kiệt hiệt trong việc chống giặc ngoại xâm của người Việt, rồi dần
dà đăng tải những bài viết, câu ca, bài thơ ca ngợi nhân vật như Võ Tánh, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản và phê phán lối sống không lành mạnh của một bộ phận dân chúng Dù có
vô tâm mấy thì chánh quyền Pháp ở Nam Kỳ cũng thấy Thông
Loại Khóa Trình đang từng bước dạy con nít, nhắc người lớn
rằng “đất Việt, người Việt đã từng có những anh hùng không
cúi đầu trước giặc ngoại xâm”, rằng đã là người có học thì phải
“trung quân, ái quốc”, phải “nhớ ơn cha mẹ, và người làm ra miếng ăn, tấm áo” Những điều đó sẽ đưa lớp học sinh có học sau này đi về đâu, làm gì? Trương Vĩnh Ký là “đại công thần”
Trang 19Để tờ báo thoi thóp rồi chết mới là thượng sách Bởi người Pháp không bao giờ quên họ là “người ngoại quốc” và ông Ký
là “người Việt” Dù thân mấy, công lao mấy thì giữa Pháp và ông Ký cũng có khoảng cách không thể san bằng được Vả lại, sau khi từ Huế trở về rời bỏ chức cố vấn vua Đồng Khánh sau khi Paul Bert chết trở về Sài Gòn thì ông Ký đã cảm nhận được
sự nghi kỵ ông của người Pháp Có thể vì vậy mà ông tỏ thái
độ, dù là rất kín đáo và nhẹ nhàng
Mặt khác, Thông Loại Khóa Trình là tờ báo đầu tiên “ghi
chép lặt vặt” những câu ca, câu thai (một loại câu đố để suy luận ra một con số thường thấy trong trò đánh đề), câu đố,
vè, câu hát dân gian Thông Loại Khóa Trình cũng giải thích
cặn kẽ những sự kiện mang tính tục lệ trong đời sống như rằm tháng bảy, tiết Thanh Minh cho người đọc hiểu Báo cũng giải thích các câu nói của cổ nhân, của Khổng Tử, của sách học nằm lòng người xưa Đặc biệt, báo đẩy mạnh việc đăng các tác phẩm “mang tính văn học” của người đương thời sáng tác
Tác phẩm thơ đầu tiên đăng trên Thông Loại Khóa Trình
có lẽ là Kiếp phong trần ca hay Trương Lê vấn đáp của Antoine
Trần Hữu Hạnh (chưa rõ hành trạng ông này) trong số 9 tháng janvier 1889 Trong lời cuối bài thơ dài này, báo có ghi thêm:
Trang 20“Antoine Trần Hữu Hạnh diễn sách Bất Cượng ra ca Cứ theo
sách Trương Sĩ Tải đã làm mà diễn nên có ca có vịnh không thêm không bớt, không bỏ sót chỗ nào Ấy cũng là một cái tài riêng; đặt tiếng thường xuôi dễ hiểu Vì sách làm là có ý cho người ta coi cho hiểu Chớ chăng phải là cầu cao cầu kì; có nhiều người chưa lấy cái điều ấy làm hay; mà thật hay là làm được như vậy mới gọi là hay”
Xem trong sách giải Phong Trần
Vui lòng ngụ ý đặt vần ca ngâm
Mượn lời sẵn chữ quốc âm
Noi theo nghĩa lý gia tâm chép làm
Lời quê ý cạn làm thàm
Dầu hay dầu dở cũng cam đặt bày
Trương Đại Chí ra kinh học tập
Hai mươi năm chơi khắp các nơi
Phỉ lòng về xứ nghỉ ngơi
Thăm Lê Hảo Học bạn chơi với mình
Lê rằng anh đã nên danh
Thông kim bác cổ phước lành tổ tiên
Châu lưu các xứ các miền
Đa văn quảng kiến dữ hiền từng nghe
Vậy mà cũng chẳng nên khoe
Phước thì có phước họa e chừng nào
Phong trần ấy kiếp lao đao
Gẫm trong thế cuộc mà ngao ngán lòng
Trần là bụi đất mông mông
Trang 21Phong thì là gió nghĩa đồng chữ đôi
Đời nầy tạm gởi nổi trôi
Nay vầy mai khác biến thôi mấy lần
Giàu nghèo sướng cực xây vần
Nhục vinh bỉ thới hay phân đổi dời
Kiếp phong trần ca dài hơn 300 câu đăng liên tiếp trên ba
số báo 9, 10 và 11 năm 1889 Tiếp đó là “Tống bần phú” của
Nguyễn Xuân Quơn:
Gẩm (gẫm) cuộc đời tát tệ cũng bởi anh bần
Sử thế khi nhơn cũng vì chưng gả
Xét suy đã quả, nào phải rằng vu
Xuôi nhiều người thất chí thành ngu
Khiến nhiều kẻ vong tâm đảng (đãng) trí
Làm người khi dị nhiều kẻ khinh lờn
Xuôi nhiều người mất thảo quên ơn
Khiến nhiều kẻ xa thân ngái thích
Làm tàn hại cữa (cửa) nhà xát xích
Khiến leng teng quần áo tả tơi
Thấy (Tô Tần) mang tiếng trong đời
Làm (Tử Lộ) bia truyền thiên hạ
Hớn (Châu Mải) vì người mà để vợ
Tống (Từ Minh) bởi gả (gã) mà bán em
Hay nhiều người đói rách lem hem
Làm nhiều kẻ ăn nằm hẩm hút
Ấy là trong tài đức, còn phải hại vì người
Huống chi kẻ phàm phu, chẳng hư hao bởi gả
Gẩm ngươi ở nhiều đều thái quá
Trang 22Xét ngươi làm nhiều nổi (nỗi) sự sinh
Hễ theo ai thì nấy bất bình
Hễ theo ai thời làm thiệt hại
Muốn tính phải cũng không cho phải
Muốn thung dung chẳng chịu thung dung
Làm cho người đày đọa tấm thân
Khiến cho chúng hoa phiền tâm chí
Nhơn vừa thuở trọng đông
Mượn ngọn gió bắc phong
Đưa người về tây vức.
Cẩn phú
(số 10 tháng février 1889)
Rồi thơ Gởi cho vợ của Nguyễn Khắc Huề:
“Môi hồng từ thuở vấn vương nên,
Vàng đá ghi lòng có dưới trên.
Cúc dục ơn sâu già lại yếu!
Thần hồn cậy chút nhớ hay quên?
Hổ thay Ngô Khỉ tình sao nỡ?
Cám bấy Lữ Vinh nghĩa trọn đền.
Phước cả may nhờ người trước để,
Gót lân noi dấu rạng hai bên.”
(số 10 tháng février 1889)
Trang 23Từng nghe rằng: trị nước, lấy an dân làm trước,
Chẳng đặng đừng nên thấy việc dùng binh,
Ra quân tua thệ chúng ấy đầu.
Có như vậy mới đồng lòng thảo tặc,
Muốn tỏ hai đàng phải trái,
Ngõ tường mấy tiếng khuyên răn.
Nhà nước ta, cột đá an trồng,
Âu vàng vững đặt,
Mười sáu đạo mở mang điện Võ
Cõi Nam Minh biển bặt tăm kình
Hai trăm năm đồ sộ vạc Châu,
Dòng Đông Phố chằm thanh tiếng nhạn,
Nề nết phong lưu tự trước,
Đượm nhuần ân trạch đã lâu
Cớ gì một góc Tây gi
Khác lòng trâu ngựa
Quen những mấy năm đông Việt,
Mông dạ sài lang,
Vịnh Trà San nhớ nẻo thông thương.
Tàu đa sách thẳng buồm vào bến cũ.
Cửa Cần Hải chia hai đàng tấn thực
Thuyền khỉ cơ tuôn khói lọt sông trong!
Quỉ trắng đầu vùng vẫy dưới trời!
Dân đen xảy bùn bôi trên đất!
Ánh sáng nghiệp mấy tòa kim cốc
Trang 24Đống tro tàn vì một mũi xung tiêu.
Lũ phấn chi mấy mặt xuân phong.
Mùi tanh khét há chung hơi dị loại?
Ruỗi trên bộ thì đặt lũy đầu Mai Sơn Tự.
Lại đóng rãi nơi Hiển Trung, Khải Tường, Kiểng Phước,
Chùa miễu trăm năm linh tích,
Dấu khói hương lạnh ngắt như không,
Khuấy dưới sông thì gieo neo nơi khúc Hữu Bình đồn,
Lại ngược xuôi Vũng Gù, Bến Lức, Rạch Ong,
Gần xa các nẻo thương hồ.
Ghe buôn bán dật xiêu còn mấy!
Thói hung bạo khắp thần dân đều giận,
Dạ tham ô tuy săng cỏ cũng hờn.
Lẽ đâu trời giúp đứa hung cường,
Phép nước chẳng dung loài tàng tặc,
Ta nay: vưng lời minh dụ
Lãnh chức Nguyên nhung,
Cờ tiết mao khâm mạng mấy thu,
Sáu tỉnh binh dân quen mặt cũ,
Ấn Tổng thống trách thành hai lượt
Chín trùng trù hoạch lắm mưu sâu,
Đem oai linh mà dẹp lũ cuồng gi,
Dám chầy việc võ?
Ra đức cả vỗ người qui thuận
Trước rạch lời văn
Đất Nam Kỳ từ thuở trung hưng
Dân Gia định cũng dòng nghĩa khí
Bốn bảy Nam Dương phò vạc Hán
Trang 25Hội rồng mây đua chen gót truy tùy
Năm ba Đông Thổ chống lèo Châu
Cơn mưa tuyết chẳng trừ đàng chinh dịch
Thơ son khoán sắc dấu cũ rành rành
Họ cả nhà sang cây cao vọi vọi
Đã chắc là mấy người trung liệt
Dạ sắt vàng bao quản bước chông gai
Song còn thương những kẻ hôn ngu
Thay cân phủ khá ngại phiền miệng lưỡi
Nào những Da (Gia) Tô các xóm
Dấu tích xưa quê vức vốn người Châu
Nào là Chệc Khách mấy bang
Trú ngụ đó cửa nhà nơi đất Hán
Trước sợ phố phường tan nát
Gải dạng quan thông
Xưa lầm phù thuốc trầm mê
Quên đàng hiệu thuận
Sao chẳng thấy truyện Ngụy Khôi năm trước
Mưu mô ấy mà gan dạ ấy
Mã Biền Tru còn để đó làm gương
Chẳng xem đồ Dương tặc bấy lâu
Cửa nhà ngươi cùng vợ con ngươi
Lòng tham dục biết bao nhiêu đầy túi
Chi bằng: theo đàng chánh đạo
Thú trước hiền môn
Đứa Da Tô khác lòng xưa
Biết truyện thiên đàng là dối thế
Phường Chệc Khách đành theo đất cũ
Trang 26Coi người dị vức chớ nên thân
Đất phong lưu chi nỡ để lầm than
Dẹp xú loại mặc an nơi cương ngữ
Người trung nghĩa đã đành lòng hăm hở
Dân nước trong mà rửa đám quan sơn
Ai có công triều cũng không quên
Tranh lân các phấn son thêm rực rỡ
Người ở phải trời dành cho phước
Nhà ô y lan ngọc cũng sum vầy
Nếu bằng: quen thói chấp mê
Cứ đường mọi giặc
Bóng dương hé giá sương bền được mấy
Chắc sau nhờ chi đứa gian hung
Lửa còn phừng đá ngọc nát như không
Hay trước liệu khỏi điều hận hối
Ở đất Việt này, hình như chưa có chế độ nào “thoáng” đến mức để người ta công khai chửi vô mặt, công khai vạch tội
của mình: “Thói hung bạo khắp thần dân đều giận Dạ tham
ô tuy săng cỏ cũng hờn”?
Không chỉ có vậy, trong số tháng 6-1889, báo đăng những bài thơ “nặng đô” hơn không ghi tên tác giả, có khả năng là của cụ Huỳnh Mẫn Đạt
Trang 27CÂY VÔNG THƠ
Uổng sanh trong nước mấy thu đông,
Đồ sộ làm chi vông hỡi vông
Da thịt chẳng già, già lộp xộp
Ruột gan chẳng có, có gai chông
Rường soi cột vẽ chưa nên mặt
Giậu ngã rào thưa phải lấy lòng
Mới biết cây nào hoa trái nấy
Qua xuân bớn tớn cũng đơm bông.
CON RẬN THƠ
Mặt mũi làm ri cũng có râu
Cả đời chẳng biết dụng vô đâu
Hêu đòi trên mão chưa đáng mặt
Lục đục trong chăn cứ giục đầu
Hút máu hại dân chi khác rệp
Ra công béo Nước chẳng bằng trâu
Hổ sanh cái phận trong trời đất
Có có không không cũng chẳng cầu.
Và bài của cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (bài này không đề
tựa Sau này nhiều người ghi tựa là “Ai xui Tây đến”)
Ai khiến thằng Tây tới vậy à
Đất bằng bỗng chúc (chốc) nổi phong ba
Hẳn hòi ít mặt đền ơn nước
Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà
Đá sắc ôm lòng cam với trẻ
Nước non có mắt thấy cho già
Trang 28Nam Kỳ chi thiếu người trung nghĩa
Báo quấc cần vương dễ một ta”.
Rồi ở số 11 tháng 3-1889 đăng bài thơ “Vè Khâm sai” với
lời giới thiệu: “Năm kia năm kìa tỉnh Quảng Nam còn đang bị
Nghĩa Hội chiếm cứ cự Pháp cự triều, thì có Khâm sai đem binh
vô hiệp với binh Đại Pháp mà dẹp cho yên Đàng giặc đặt cái
vè mà chê đạo Khâm sai như sau này Giặc giã thì có tàn hại khỏi đâu được; việc cả ngàn, việc mười mươi, cũng khó ngăn ngừa cấm đoán cho khỏi quân lính phá phách Dầu thật giả cũng nên in ra cho người ta coi chơi mà nhớ tích”.
VÈ KHÂM SAI
Lẳng lặng mà nghe, cái vè sai đạo
Danh vi trấp bảo, vụ dĩ an dân,
Khâm sai đại thần, kéo vô Đà Nẳng,
Tướng quân đều sẵn, Tán lý tán tương,
Chú Bang, chú Thương, chú Đề chú Lãnh;
Quân ròng tướng mạnh, các đội các cơ;
Đánh trống mở cờ, kéo vô tỉnh cũ;
Phân quân vừa đủ, phái vãng thượng du;
Thác cá Rập Cu, đôi đường tấn tiệu;
Nhứt thời phương liệu, văn miếu đồn binh;
Ai thấy cũng kinh, gọi Khâm sai giỏi;
Kêu dân tới hỏi, rằng nghĩa đã tàn;
Hạnh hoặc tương an, thị vi thạnh sự;
Sau lên Phong Thử, nghĩa dõng tứ vi;
May chẳng hề chi, nhờ ba chú Pháp;
Thâu qua Yển Giáp, trở lại La Thanh;
Từ ấy thất kinh, và làm và sợ;
Trang 29Tướng chi! Tướng dỡ, vị luyện quân tinh;
Chẳng có tây binh, e không khỏi chết;
Chước chi cũng hết, năm ngoái năm ni;
Làm chẳng ra chi, lại thêm ăn bậy;
Lũ quân đi lấy, các Tướng về chia;
Thôi đã tràn đìa, cái chi chẳng xách;
Cái quần đã rách, cái áo tả tơi;
Cũng giành mà quơ, huống chi cái khá?
Kẻ thì đào mả, người lại phá nhà
Những chó những gà, những heo những vịt
Bắt mà ăn thịt, lại bán lấy tiền
Đem về Thừa Thiên, Nghĩa, Bình, Quảng Trị
Thậm vi khả bỉ, quân lệnh Khâm sai!
Thiên hạ ai ai, chớ tin mà mắc,
Thác từ đánh giặc, hại ngã bình dân
Thiên địa quỉ thần, nguyện kỳ chiếu giám
Nói càng thêm thảm, chẳng biết làm sao
Hiệu lệnh dường nào, quân gia đến thế?
Hà mưu hà kế, hà lự hà tư!
Viện những đồ hư, để đi ăn giựt
Bợm nào đắc lực, tấn trật thăng quan
Lớn bé một đoàn, vô sở bất chí
Nhơn dân nghị nghị, thùy lạc chi tùng
Sự thế nhựt cùng, Quảng Nam ở lỗ
Trời làm chi khổ, thất đảo bát điên
Nói lắm cũng phiền, như tư nhi dĩ
Nghĩa hội đồng kì
(nguyên của Thông phán Phan Tần ở Quảng Nam chép cho)
Trang 30Có lẽ chủ báo cũng biết chánh quyền không vui nên in thêm
“Lời truyền thị” của Tôn Thọ Tường “làm mà khuyên dân ở
yên đừng nghe lời quản đội mộ binh” khi còn là Đốc phủ tại
xứ Vũng Liêm Tôn Thọ Tường sau khi vạch những thua thiệt của nghĩa binh, thì kêu gọi:
“Thiếu chi kẻ anh hùng lỗi lạc
Cũng phục tùng mà hộ quốc tì dân
Còn như người minh triết bảo thân
Thì thối độn mà an sanh lạc nghiệp”
chứ đừng:
“Khoe tài trong rừng bụi
Khen chớ hay múa gậy vườn hoang
Lừa hờ cơ mà phất cờ dóng trống nhộn nhàng
Muốn địch với quan binh
Ví chẳng khác bắt cầu qua biển cả”
Đậm đà hơn, báo còn đăng “Tân trào nhơn chánh ca” của
Lê Ngọc Chất “người làng Tân An Lạc thôn, tổng Long Hưng
Thượng, huyện Tân Long làm ra để truyền cho thiên hạ biết việc tân trào đời nay” Bài thơ dài 276 câu ca ngợi “thực dân”
đã khai hóa xứ Nam Kỳ Nào là “Đắp đường vừa lớn và cao/
Ngựa xe thong thả khác nào đời Châu/Nam Kỳ sáu tỉnh đâu đâu/Khỏi lo ướt át không rầu bùn dơ” rồi thì “Trước thì nhơn đức kể no/Sau là cơ xảo lần mò thốt đi/Trải xem máy móc cao kì/Thượng thông phép nhiệm khác gì thiên tiên/Lại thêm địa
Trang 31đạo tinh chuyên/So bề hạ đạc địa tiên đã đành/Vì coi các cuộc thi hành/Trăm nghề trăm máy công thành rất mau”, lại ca
ngợi “Đi thì xe rước đò kêu/Bến Thành, Chợ Lớn cũng đều như
nhau/Dọc ngang đàng trước nẻo sau/Đâu đâu cũng có công hầu vãng lai/Vô trong rồi lại ra ngoài/Bến Thành, Chợ Lớn là hai chỗ giàu/Trên bờ thành phố đàng cầu/Dưới sông cù lạp ghe tàu nghinh ngang/Lại coi mấy chỗ nhà hàng/Đủ đồ các nước
bá ban thiếu gì/Trong nhà cho đến đàng đi/Tối thì đèn đốt một khi sáng ngời”
Trong số cuối cùng tháng 10-1889, báo đăng bài Ngũ Luân Tuyệt Cú của cụ Bùi Hữu Nghĩa do Nguyễn Khắc Huề chép lại
NGŨ LUÂN TUYỆT CÚ
Lời tự
Ngũ Đế Tam Hoàng nhẩn đến nay.
Luân thường chí trước thảo cùng ngay.
Tuyệt lời cặn kẽ dường châu ngọc;
Cú cú hàng hàng dấu hởi (hỡi) đây;
1- quân thần
Vua phải đạo vua, tôi phải tôi!
Vua tôi ngàn thuở sánh nên ngôi.
Minh lương hai chữ vầy trên dưới,
Nước trị nhà an bốn biển vui.
2- phụ tử
Cha phải đạo cha, con phải con!
Rằng lành rằng thảo tiếng hãy còn.
Trang 32Cây kiều cây tử đời thường sánh,
Chẳng trái lòng theo mới đặng tròn.
3- phu phụ
Vợ phải vợ chồng phải đạo chồng!
Vợ chồng là đạo đất trời thông.
Khi nghèo đều chịu, giàu đều hưởng,
Kết tóc trăm năm mới đặng lòng.
4- huynh đệ
Anh phải đạo anh, em phải em!
Huân Tỳ hai ống thổi nghe êm.
Sanh đồng một cội là xương thịt,
Sống thác nương nhau ở dịu mềm.
5- bằng hữu
Làm người bậu bạn muốn nên danh!
Dùng thẳng nương nhau ở lấy lòng.
Giao kết xưa rằng vàng ngọc báu;
Giúp lời nhân nghĩa tiếng càng xinh.
Tóm lại:
Của chung biết đủ cũng vui đời.
Bùi ngọt mặn nồng nếm thử chơi.
Hữu xạ tự nhiên thơm phức phức.
Nghĩa nhân khuyên khá chớ quên lời
NGUYỄN KHẮC HUỀ
Trong số này, cũng thấy bài viết của hai nhà báo tương lai
là Lương Khắc Ninh và Trần Chánh Chiếu
Trang 33HIẾU TỬ CHI TÂM NHƠN ĐẠI HỮU CHI 1
Năm hình trọng tội phải lo âu.
Chữ hiếu làm người dám phụ đâu.
Phú tái ơn sâu nhờ tạo hóa.
Sanh thành công cả cám cù lao.
Xưa còn nếm phẩn quên mùi nặc,
Nay dẩu (dẫu) nằm băng sợ lạnh đâu.
Chỉn trách sách làm hăm bốn kẻ,
Để sau dầu có khó thêm vào.
Và
Tay lần tính toán túi càn khôn
Con giáp mười hai xỏ có môn
Sĩ tượng vang rân dường bắn pháo
Ngựa xe rần rộ tựa ly cung
Lăm le kỵ mã tam phân mạng
Lúm cúm hành xa thất phách hồn
May rủi xây vần ai chắc đặng
Mần sòng tiền hết lại mòn trôn.
An Hà tỉnh giáo thọ TRẦN CHÁNH CHIẾU
Thông Loại Khóa Trình cũng là tờ báo quốc ngữ đầu tiên sưu
tầm và đăng đủ thứ ca, vè, trò chơi trong đời sống bình thường.Thai là một loại câu đố thường thấy trong trò đánh đề, một trò cờ bạc do người Hoa bày ra, nay đã thất truyền Ông Ký
1 Bài thơ của thầy Lương Khắc Ninh, thông ngôn tòa, luận gởi cho Nguyễn Khắc Huề.
2 Đề ở đây là nạn đánh đề.
Trang 34viết “Thai là tiếng nói trại bởi chữ Xai nghĩa là “đố” Mà thật
“thai” là đố việc kia việc nọ nhiều thế cho người ta xét tìm nghĩ cho ra cho nhằm mà chơi Cách chơi này có thú vị, vì nó mở trí lại làm ra cái dịp hội anh em lại mà chơi luôn trót thể” (số
tháng 9-1889) Có lẽ ban đầu, “thai” là một cách đố chơi cho vui nhưng khi biến thành “câu đố để cờ bạc” thì hết vui! Ví dụ
câu thai: “Mình ôm xương gầy, tới thưa cùng thầy, thầy nói rằng
tâm trung đa hỏa, thầy gia vị bạch chỉ phòng phong” xuất vật
dụng, thưa “cái đèn lồng” (số 1 năm 1888), “Đêm khuya trăng
đã nằm xiêu, chó kia đã sủa trống liền điểm tư Chiết nhứt tự
Là chữ Nhiên”, hoặc “Nhà ta sau trước bít bùng, xung quanh tre mọc hãy còn hở hang Xuất vật dụng Là cái Trống”, hay
“Chịu oan một tiếng có chồng, vắng vẻ loan phòng, có cũng như
không Xuất quả Là trái Sầu riêng” (số tháng 9-1889) Từ câu
thai, người chơi bàn và chọn số để đánh Ngày xưa người ta chơi
đề 36 con sau lên 40 con Nay người ta chơi đề dựa theo xổ số Trò chơi này tồn tại trong dân gian tới nay Đề còn gọi là
“cổ nhơn” là một trò cờ bạc tàn hại cuộc sống người lao động
vì kích vào lòng tham, đánh một trúng 70 (ngày nay) Gia Định
Báo năm 1865 viết: “Những người hay xét suy đánh bài bạc, dầu
có nghèo cũng chưa đi ăn cướp ăn trộm là khi nào người nào chẳng biết suy chẳng biết xét, lầm phải nghề này những người đờn ông đã hư thái quá Còn đờn bà biết nhiều thứ bài đánh thua cả chồng cả vợ Chẳng vậy 2 ba năm nay người Ngô bày
ra sự đánh cổ nhơn, đều ấy đến đổi thiệt hại đến đờn ông và đờn bà thảy thảy Ham đánh trúng một quan chung 30 quan, cho nên kẻ trí người ngu, kẻ giàu người khó, cho đến đổi con nít cùng đờn bà khó nghèo, đi buôn hàng gánh có 4 năm tiền
Trang 35cũng đem vô đặt đề Ngồi xó mà đợi xổ đề đến một hai giờ Tới coi xổ đề biết mình chẳng trúng, rồi lại bức (bứt) đầu bức tóc, gánh không trở về nhịn đói nhịn khát.
Còn kẻ khôn ngoan nói mình đối đáp cạch vật thông tri bị phải thầy Ngô ra đề trật trìa trật trẹo Nay nói con vật này mai nói con vật khác đi lại lầm thua, về nhà thất tình sanh chứng điên cuồng thất thơ thất thưởng Chẳng vậy có một thằng ở làng Bình Lý Đông ngang chợ Thủ Dầu Một tên là Tới, 25 tuổi đã
có vợ đạng 2 đứa con, một đứa hai tuổi một đứa 4 tuổi Trong nhà cũng đủ ăn, nghe người đánh cổ nhơn bắt chước cũng đi đánh nữa Thua hết của hết tiền phải đi làm mướn cho người
ta đạng 3 quan tiền đem đi đánh nhầm đề con ếch Nó không biết đề đặt con ếch là chi Đến giờ xổ đề, chệc rao chữ con ếch là con hiếp hãi vào mà lấy chung Khi ấy nó nghe làm vậy thì nó tưởng con ếch xái rồi, liền xé giấy chệc giao mà bỏ hết Người ta hỏi “mầy đánh con chi?”, thì nó nói rằng “đánh con ếch” Người
ta nói con ếch thì trúng đề chữ nó là hiếp hãi Nó liền lắp giấy lại vào bảo chệc chung tiền Người chệc nói rằng “xé giấy đi rồi thì ngoa không chung” Nó trở về tức mình hóa điên dại, rước thầy phù thủy chuyên chửa (chữa) không lành Mẹ nó cùng vợ
nó gìn giữ nó nhiều đêm đến cơn ngủ quên, nó lén lấy chiếu
bó một đứa con 4 tuổi đem đi chôn Khi ấy thằng nhỏ mê ngủ chẳng biết khóc la Nó bó lại rồi ôm để bên bếp lấy mai đào lổ
(lỗ) vừa đào vừa khóc Mẹ nó thức dậy liền nghe nó đang đào
đang khóc Mẹ nó hỏi nó đào khóc việc gì Nó bèn nói đề con nó
bị hiếp hãi đã chết rồi làng xóm không hội đồng mà cửu quan,
an sĩ, cho nên nó chiếm khôi bảng quế một mình Khi nó điên làm vậy, ngày đêm thì nói những đều cổ nhơn mà thôi Mẹ nó
Trang 36nghe nói đều cuồng, vào kiếm hai đứa cháu thì mất một đứa
Mẹ nó hết vía sợ hải liền la làng xóm Người ta chạy đến hỏi
nó “chớ con nào con mầy?”, nó chỉ trong bếp bó còn bỏ đó Cắt dây mở bó thằng nhỏ chờ (trờ) dậy khóc lên.
Số thằng nhỏ chưa chết, bây giờ thằng Tới hãy còn điên lõa
lồ xin ăn tại chợ Thủ Dầu Một Nghe nhiều người nói nó đánh
đề thất tình nhãy (nhảy) xuống sông mà chết Có kẻ khác điên cuồng như vậy, phải là đều thiệt hại dường nào Nào ra sự thanh tân nhơn hại nhơn chẳng phải cổ nhơn chi hại nhơn, chẳng lựa bấy nhiêu mà thôi sao? Người Ngô từng biết tính người Annam, còn tính ra nhiều việc khác nữa mà lấy của lấy tiền Cho nên người Annam mười người đều mắc người Ngô
Trang 38Cổ nhơn là hiệu tỏa ra vài hàng
Những người giàu có muôn đàng
Chớ tham “hữu lợi” quên đàng “vinh sanh”
Mấy tay “bản quế”, “thanh vân”
Bàn thẻ “chí đắc” rành rành “hóa quang”
Hai bên bổn phố bạn hàng
Hết vàng hết chuỗi kiếm đàng “thượng chiêu”
Thất tình cơm cháo bỏ liều
“giang từ” bước xuống quên đàng mây mưa
Dập diều (dìu) kẻ én người anh
“vạn kim” hết của ra danh “tam huề”
Nằng nằng ai nói chẳng nghe
Quyết đánh “tất đắc” ai dè “chí cao”
“Hiệp đồng” mới xổ lao xao
“Nguyệt bửu” “ngươn kiết” chiêm bao rõ ràng
Ai dè nó xổ “hóa quang”
Ôi thôi đốt hết mấy trang giấy tiền
Đặt bàn trầu rượu rót liền
Lâm dâm (râm) miệng vái một đề “thiền thân”
1 Lãnh quyện: tên gọi chung những người đứng thầu số đề ở một vùng Ngày nay đọc chệch thành “huyện đề”.
Trang 39Người bàn “an sĩ” “chiếm khôi”
“Quang minh”, “tỉnh lợi” thôi rồi “thiên lương”
Đi lên đi xuống dầm đường
Hết quần hết áo ra đường “Phước tôn”
Những người bạc cất tiền chôn
“Phùng xuân” “ngân ngọc” mấy con chẳng chừa
Mang tiền thẳng chỉ một bề
Nội đa ngoại thiểu lộn về tay không
“Khôn sơn” “chánh thuận” cũng không
Xổ ra “kiết phẫm (phẩm)” chẳng trông lấy tiền
Hai bên bổn phố chớ phiền
Đề này chẳng trúng ta nguyền đề mai
Thầy đề nó xổ thiệt tài
“Mậu lâm” “ngươn quới” nào ai trúng gì
Thầy đề nó xổ dị kì
Người đều thua hết cũng vì “thanh ngươn”
Hết trông “hiệp hải” “nhựt sơn”
“Minh châu” cũng mất, “hán vân” chăng là
“Cửu quang” là ó bắt gà
Chiêm bao thấy chắc hết nhà không hay
Nghề chơi gẫm cũng khéo bày
Tham vui chịu lận, biết tay anh hùng
Sao không xét lẽ cho cùng
Nói ra lại sợ mất lòng người ta.
Ngoài những gì đã ghi nhận, chúng ta cũng không quên
ẩn ý của Trương Vĩnh Ký chứa trong Thông Loại Khóa Trình
Theo Thuần Phong, ngay trương đầu, số đầu tiên, ông Ký đã viết câu “Thường bả nhứt tâm hành chánh đạo” bằng chữ Nho
Trang 40Ông Thuần Phong cho biết, đây là một câu lấy ở sách Minh
Tâm Bửu Giám, trong bài “kiểm điểm lương tâm”
“Trong khi nhàn, kiểm điểm sự việc làm trong lúc bình sanh Trong khi tịnh, nghĩ lường công việc làm hàng ngày
Thường nắm giữ một lòng làm đạo chánh
Tự nhiên trời đất chẳng thiếu của nhau”
“Trai thời trung hiếu làm đầu/Gái thời tiết hạnh là câu trau
mình”
Chính vì nghiêng về “hành chánh đạo” nên ông Ký đặc biệt chú trọng đến những tác phẩm về lễ nghi, phong hóa Và cũng
vì vậy mà Tam cang là loạt bài xuất hiện ngay từ số đầu, trang đầu “Con người sanh ra ở đời, chẳng có cái chi mà quý cho bằng
đạo cang thường Vì nhờ đạo ấy mà mà nước bền nhà vững,
1 Thuần Phong, Nhơn châu kỳ 100 năm báo chí, tạp chí đầu tiên, Đồng
Nai Văn Tập, tập 3, tháng giêng 1966.