1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tập san Thơ văn xứ Huế

77 853 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập San Thơ Văn Xứ Huế
Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thu Bồn
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Huế
Chuyên ngành Văn học
Thể loại tạp chí
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Tác Phẩm tiêu biểu:Dạ Khúc Có một buổi chiều nào như chiều xưa Anh về trên cát nóng Đường dài vành môi khát bỏng Em đến dịu dàng như một cơn mưa Có một buổi chiều nào như chiều qua

Trang 1

Hoàng Phủ Ngọc Tường từng dạy học, tham gia tích

cực phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống

Mỹ - ngụy đòi độc lập, thống nhất Tổ quốc từ những

năm 50 Viết văn, viết báo từ khi còn rất trẻ, từng là

Trưởng ty VHTT Quảng Trị, Tổng thư ký Liên Minh

các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố

Huế Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên

tập tạp chí Sông Hương, Cửa Việt

Tác phẩm chọn lọc :

- Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (bút ký, 1971).

- Những dấu chân qua thành phố (thơ, 1976).

- Rất nhiều ánh lửa (ký, 1979).

- Ai đã đặt tên cho dòng sông (bút ký, 1985).

- Bản di chúc cỏ lau (1991).

- Người hái phù dung (thơ).

Ông đã được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980 với tác phẩm “Rất nhiều ánh lửa”.

Trang 2

 Tác Phẩm tiêu biểu:

Dạ Khúc

Có một buổi chiều nào như chiều xưa Anh về trên cát nóng

Đường dài vành môi khát bỏng

Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có một buổi chiều nào như chiều qua Lòng tràn đầy thương mến

Mang cả xuân thì em đến Thắm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi Cho tôi chiếc hôn nồng cháy

Nỗi đau bắt đầu từ đấy Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh Nửa vành mi cong hờn dỗi

Em xõa muộn sầu trên gối Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn

Em có lời thề dâng hiến Cho anh trọn một đời người

Có buổi chiều nào như chiều nay Căn phòng anh bóng tối dâng đầy Anh lặng thầm như là cái bóng Hoa tàn một mình em không haỵ

Bồng bềnh cho tới mai sau

Có con thuyền trong sương trắng

Bồng bềnh như một cánh chim

Có em chèo thuyền áo trắng Xôn xao như trốn, như tìm

Có vầng mặt trời rực sáng Bồi hồi như một trái tim

Em chèo thuyền về phía hướng đông

Trang 3

chí Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam Thu Bồn là

ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ miền Trung Trung Bộ và ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV Ngoài bút danh đặt theo tên dòng sông Thu Bồn quê hương,

ông còn có các bút danh khác là Hà Ðức Trọng, Bờ Lốc.

Ngoài thơ, Thu Bồn còn viết tiểu thuyết, nhưng ông được biết đến nhiều với những bài

trường ca, trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là thành công có tính định hướng

cho phong cách tiêu biểu của ông và “không những là tác phẩm từ miền Nam gửi ra khá sớm, mà còn là bản trường ca đầu tiên của văn học giải phóng” [1] Đây là khúc ca ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất của những con người Tây Nguyên trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ được giảng dạy ở chương trình giáo dục phổ thông của Việt nam

 Các tác phẩm chính

• Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962),

• Tre xanh (thơ, 1965),

• Mặt đất không quên (thơ, 1970),

• Những đám mây mầu cánh vạc (tiểu thuyết 2 tập,

1975);

• Oran 76 ngọn (trường ca, 1979),

Trang 4

• Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985)

• Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985)

• Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)

• Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999)

• Trường ca tuyển tập (1999)

 Các giải thưởng

• Giải văn học Nguyễn Đình Chiểu

• Giải thưởng văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi (1973)

• Giải thưởng báo Hà Nội Mới (1969)

• Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001

 Các tác phẩm viết về Huế

Tạm biệt Huế

Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ Nên chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng Mặt trời vàng và mắt em nâu

Xin chào Huế một lần anh đến

Để ngàn lần anh nhớ hư vô

Em rất thực nắng thì mờ ảo Xin đừng lầm em với cố đô

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền Nón rất Huế mà đời không phải thế Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng Nhịp cầu cong và con đường thẳng Một đời anh đi mãi chẳng về đâu Con sông dùng dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng

Anh trở về hóa đá phía bên kia.

Trang 5

Qua sông Thu Bồn

Cầu vồng lũ trẻ chơi màu sắc

Ta thích làm mây mang bão giông Rạch chéo đất trời tia kiếm chớp Thức reo làm thác ngủ làm sông

Dòng sông rộng quá nên lai láng Nhịp cầu thường tiễn ta đi xa Hỡi con ngựa chiến tuôn về biển Bất kham dừng lại hóa phù sa

Ta yêu cỏ thẹn bên cồn mả Hoa tím em thường giả bông tai Cọng chiếu bao giờ thành xuyến ngọc? Lối cỏ anh về vẫn lắm gai

Mẹ ngủ ven trời sau cỏ mật Mây giăng Trà Kiệu chớp Sơn Trà Sau màn mưa ấy hai con mắt Xanh hơn cỏ dại ngước nhìn ta

Sâu lắng lòng sông ra Cửa Đợi Nửa đêm ta thức nhịp Nam Bình Con thuyền đã gõ xua đàn cá Sóng vẫn trào lên đẫm phận mình Trọn đời em muốn làm con sóng Sông lặng mà em lắc mạn thuyền

Trang 6

Đàn cá khiếp hồn tuôn nháo nhác

Làm mắc vầng trăng giữa lưới vàng

Ta cũng là trăng luôn mắc lưới

Vớt lên ướt hết nửa cuộc đời

Đêm đêm hong gió trên triền núi

Gọi nắng mai lên vá lại trời

Sông Thu Bồn 1987

Tôi nhớ mưa nguồn

Tôi ngỡ ngàng và tưởng không bao giờ gặp HuếĐèo Hải Vân cao vút lỗ châu mai

Ô cốt giặc đen ngòm bốn phía

Biển và mây sóng vỡ vụn chân gành

Quê hương mẹ tôi chưa về được

huống chi em xa cách mấy thôi đường

Huế mờ trong khói thuốc

Huế mờ trong đạn bom

Huế chìm trong mưa lụt

Cầu Trường Tiền bắc giữa giấc mơ tôi

Trang 7

Tìm tôi tìm Huế

Tôi ở đâu rơi về góc Huế

Mười năm có lẻ buồn vui

Một vợ hai con có bìa hộ khẩu

Có một làng quê mong ngóng phía mặt trời

Mà sao tôi chẳng là tôi

Khi hèn mọn đánh rơi mình vào quên lãng

Tôi tìm tôi lang thang

Đêm nào lã chã trăng như nước mắt

Trầm ngâm tôi với Ngự Bình

Trước mộ đứa con trai sinh thiếu thángCháu là người ngoài cuộc đời

Chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính!

Trang 8

Tôi tìm tôi khuya khoắt

Lập loè lửa nhang gốc phượng sương mờ

Nhấp nháy hoài như mắt cây mắt gió

Bên những người xe thồ, xích lô gác chân lên

trời nằm đợi kháchKhẽ hát về đêm tàn Bến Ngự

Vâng, cho đến tàn đêm tôi mới gặp được lời của phố

Nỉ non vệ cỏ bên đường

Tôi tìm tôi lửa đốt

Mỏi rời chân đêm đứng chờ vợ đẻ

Cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la

Bắt chước ai tôi cắm nén nhang bên gốc xà cừ

Cầu bình an cho con

Bình an cho mẹ

Sao lại không nguyện cầu cho bình an

Huế trăm năm lớp lớp oan hồn

Chính tôi một oan hồn còn sống

Tôi tìm tôi bè bạn

Góc nghĩa địa lều tranh Dương Thành Vũ

Trăng như nước đá mùa đông

Ướp lạnh những giấc mơ diều giấy

Bạn như người ngoài cuộc đời

Uống bóng mình xạm đen râu ria đáy chén

Câu thơ không đủ ấm

Kể chuyện tiếu lâm nghe tiếng mình cười!

Tôi tìm tôi lạnh toát

Đường Phan Bội Châu số nhà ba mốt

Đỉnh dốc là Sào Nam tôi ở lưng chừng

Nơi có mệ già ngồi bên đường chìa mê nón

xin đời bố thíBốn mùa mệ không đổi dáng ngồi

Như tượng đài thời gian rách nát

Mệ cũng là người ngoài cuộc đời

Tuổi trẻ ồn ào đi qua lướt qua không thèm để ýDân xe cúp xe con rú máy vèo qua

xả khói vào mê nónRơi vào mê nón nắng mưa nhiều hơn đồng hàoChuông chùa rơi từng giọt lắng trầm

“Anh chị cho tui xin một đồng”!

Tiếng cầu xin bám đuổi hồn tôi

Trang 9

Ôi, khổ đau cũng cầu mong thêm được vài phút sống!

Tôi tìm tôi hờ hững

Giữa chúng ta láo nháo nói cười

Vỗ tay mừng công cụng ly thành tích

Rồi trở về tìm lá xông vợ cúm

Rồi trở về góc Huế với mình

Bước đi như hẫng hụt

Lục túi tìm mười đồng bỏ vào mê nón mệ bên đường

Mà túi rỗng

Thơ không bán được mệ ơi!

Tthơ cũng ở ngoài cuộc đời, thưa mệ!

Tôi tìm tôi tìm Huế

Góc chợ rau dưa hè phố gánh hàng

Bên dòng sông nắng đục mưa trong

Câu ca như cầu bắc

Tôi đi tìm mà nhiều khi chẳng gặp

nói rõ điều này trong cuốn Một thời nhớ lại, NXB Hội Nhà văn, 2000: "Nhưng thực ra tôi

sinh ở Hội An, tỉnh Quảng Nam, năm 1920, và ở đó đến năm chín tuổi mới theo cha ra

Huế" (trang 8)

Mẹ ông mất vào năm ông lên 12 tuổi Năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học (Huế) Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng của Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Ilyich Lenin, Maxim Gorki qua sách báo, kết hợp với sự vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu), Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với ý tưởng cộng sản Ông gia nhập Đoàn thanh niên và được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1938

Trang 10

Tháng 4 năm 1939, ông bị bắt, bị tra tấn và giam tại nhiều nhà tù miền Trung như Lao Bảo, Huế, Ban Mê Thuột

Cuối năm 1941, ông vượt ngục về hoạt động bí mật ở Hậu Lộc, Thanh Hóa Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông là chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của thành phố Huế Năm

1946, ông là bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Cuối 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn Từ đó, ông được giao những chức vụ quan trọng trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước:

1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam; 1963:

Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt

Nam;

Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết

Trung ương; 1955: Ủy viên chính thức;

Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thư;

Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương;

Sau khi Lê Duẩn mất, có sự thay đổi mạnh mẽ tiến tới đổi mới nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn diện Ông bị mất uy tín vì vai trò "nhà thơ đi làm kinh tế" qua những vụ khủng hoảng tiền tệ những năm 1980 nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức nghiên cứu hình thức

Ông mất 9h15' ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện 108

• Ông là người đã phê phán quyết liệt phong trào Nhân văn-Giai phẩm với tư cách là người thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam phụ trách văn nghệ Nhiều ý kiến coi ông

tà tác giả chính của vụ án văn nghệ-chính trị này

• Ông cũng được đánh giá là con người khá bảo thủ, khi bị phê bình về các tác phẩm của mình thì thường có phản ứng rất quyết liệt (Theo nhận định của Văn Cao thì chính lí do này khiến ông bị nghi hoặc là có liên quan đến việc đẩy mạnh dập tắt

Trang 11

phong trào Nhân văn-Giai phẩm và không được nhiều cảm tình từ phía các nghệ sĩ khác)

• Ngoài ra, ông còn là nhà thơ chính trị, có nhiều bài ca ngợi các lãnh tụ cộng sản quốc tế như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh

Stalin! Stalin!

Yêu biết mấy, nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin

Hoan hô Hồ Chí Minh!

Cây hải đăng mặt biển Bão táp chẳng rung rinh Lửa trường kỳ kháng chiến!

Từ ấy

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chiếu qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Trang 12

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏKhông áo cơm, cù bất cù bơ

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đàoTrời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không

Ta nghe hè dậy bên lòng

Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!

Một làm sao, chết uất thôiCon chim tu hú ngoài trời cứ kêu!

Huế, tháng 7 năm 1939

Trên dòng Hương Giang

Em buông mái chèoTrời trong veo

Nước trong veoTrên dòng Hương Giang

Trăng lên trăng đứng trăng tànĐời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòngThuyền em rách nát

Trang 13

Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoàiThơm như hương nhụy hoa làiSạch như nước suối ban mai giữa rừngNgày mai gió mới ngàn phương

Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuânNgày mai trong giá trắng ngần

Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồNgày mai bao lớp đời dơ

Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay

Cô ơi tháng rộng ngày dài

Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng

Trên dòng Hương Giang

Tháng 8 năm 1938

Quê mẹ

Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!

Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười Mây núi hiu hiu, chiều lẳng lặngMưa nguồn gió biển, nắng xa khơi

Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương!

Mái nhì man mác nước sông Hương

Hà ơi, tiếng mẹ ru nhè nhẹCay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường!

Ôi những đêm mưa, tối mịt mùngCon nằm bên mẹ, ấm tròn lưng

Trang 14

Ngoài hiên nghe tiếng giầy đi rỏn

Mẹ bấm con im: chúng nó lùng

Con hỏi vì sao, chúng nó tìm

Tìm ai, con hỏi, mẹ rằng: im!

Mẹ ơi, đời mẹ buồn lo mãi

Thắt ruột mòn gan, héo cả tim!

Mẹ không còn nữa, còn đây Huế

Con lớn lên con biết lẽ rồi:

Nước mất nhà tan, đời khổ thế

Không làm nô lệ, đứng lên thôi!

Con lớn lên con tìm Cách mạng

Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi

Mẹ không còn nữa, con còn Đảng

Dìu dắt khi con chửa biết gì

Huế không buồn nữa, Huế ta ơi

Mắt ướt trăm năm đã hé cười

Nghìn mảnh tương lai về phấp phớiTruyền đơn cờ đỏ gió tung trời

Roi điện cùm xai tóe máu tươi

Xà lim không thể khóa hồn ngời

Bừng bừng tiếng hát rung song sắtTiếng hát ta bay lộng giữa đời

Tháng Tám vùng lên Huế của ta

Quảng Phong ơi Hương Thủy, Hương TràPhú Vang, Phú Lộc đò lên Huế

Đò ngập dòng sông rộn tiếng ca

Từ ấy xa quê mẹ đến rày

Lắng nghe từng buổi, nhớ từng ngàyGiặc về giặc chiếm đau xương máuĐau cả lòng sông, đau cỏ cây

Cắn răng gian khổ tám năm trời

Huế của ta không một bước lùi

Huế của ta đây cầm vững súng

Chúng bay không thể có đường vui

Trang 15

Chúng bay không thể có ngày mai

Chết dưới chân bay vạn bẫy gài

Chết dưới đầu bay từng hốc núi

Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày!

Làng ta giặc đốt mấy lần qua

Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà

Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt

Nhớ anh du kích trấn Dương Hòa

Chí ta như núi Thiên Thai ấy

Đỏ rực chiều hôm dậy cánh đồng

Lòng ta như nước Hương Giang ấy

Xanh biết lòng sông những bóng thông

Lửa chiến tranh nay đã tắt rồi

Mà lòng ta vẫn cháy không nguôi

Mẹ ơi dưới đất còn chua xót

Những tiếng giầy đinh đạp núi đồi!

Ôi Huế ngàn năm, Huế của ta

Đường vào sẽ nối lại đường ra

Như con của mẹ về quê mẹ

Huế lại về vui giữa Cộng hòa

6.2.1955

Huế Tháng Tám

Huế trầm mặc hôm nay sao khác khác Những mắt huyền ngơ ngác hỏi thầm nhau Chân nôn nao như khách đợi mong tàu Bước dò bước, không biết sau hay trước? Tim hồi hộp, vì sao? Ai hen ước;

Ai đang về? Dáng đó thấp hay cao?

Mắt sáng ngời, như lửa hay như sao?

Người hay mộng? Ngoài vào hay trong tới? Giáng từ trên hay là vươn từ dưới?

Huế xôn xao lo lắng, những đêm mơ

Khát khao hoài, như cô gái mong chờ

Trang 16

Sau cửa hé, người yêu chưa biết mặt

Trên hương giang mênh mang đò lạnh ngắt Tiếng đàn im Ca kỹ nép phương nào?

Trăng thì thầm chi với sóng lao xao

Đức Kim Thượng đêm nay trong ngọc điện

Ngự lên lầu, trông lên cao xao xuyến

Muôn vì sao Lạnh lẽo thấm hoàng bào

Người rùng mình, tưởng đứng đỉnh cù lao

Nổi cô độc giữa gió triều biến động,

Đôi gốc đại nghiêng nghiêng tàn lay bóng

Sầu thâm cung vờ vật dưới chân chầu

Người đứng đây Trăm họ đang về đâu?

Đình thần đó, rầu rầu thân lá trắng

Quá khứ nặng đè xuống đầu cúi lặng

Một gai vàng không thể thắng cả giang sơn!

Lòng muôn dân rần rật lửa căm hờn

Máu giải phóng đã sôi dòng nhân loại!

Người phải xuống, đến nay, đêm chiến bại

Để toàn dân chiến thắng giữ ngôi son!

Người phải lui, cho Dân tiến, Nước còn

Dân là chủ, không làm nô lệ nữa!

Hãy mở mắt: Quanh hoàng cung biển lửa

Đã dâng lên, ngập Huế đỏ cờ sao

Mở mắt trông: Trời đất bốn phương chào

Một dân tộc đã ào ào đúng dậy!

Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!

Nước mắt ta trào, búp mí, tràn môi

Cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc!

Ta ôm nhau, hôn nhau từng mái tóc

Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta?

Ta hét huyên thiên, ta chạy khắp nhà

Gió gió ơi! hãy làm giông làm tố

Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tơi

Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi

Ta ngã vật trong dòng người vuộn thác

Ôi thiên đường! Tai miên man lắng nhạc

Trang 17

Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm!

Lâm Thị Mỹ Dạ sinh tại quê: huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình,

cha là người gốc Hoa, mẹ người Huế Bà làm việc tại Ty văn

hóa Quảng Bình, năm 1978 đến 1983 học Trường viết văn

Nguyễn Du Sau đó bà làm phóng viên, biên tập viên tạp chí

Sông Hương (của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên

- Huế) Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học

Trang 18

Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành

Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa V Hiện bà đang sống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế Chồng bà, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt nam

Tác phẩm chính

Trái tim sinh nở (thơ, 1974)

Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983)

Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)

Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)

Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)

Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)

Mẹ và con (thơ, 1994)

Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)

Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)

Một tập thơ gồm 56 bài do bà tự tuyển chọn trong những tập thơ đã xuất bản của mình

được Nhà xuất bản Curbstone dịch sang tiếng Anh và phát hành năm 2005

Đánh giá

Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hồ Thế Hà đã viết: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu ý tứ Tứ thơ bao giờ cũng là bất ngờ Hình như không tạo được tứ lạ thì bài thơ vẫn còn trong dự tưởng." Nhà thơ Ngô Văn Phú cũng nhận định: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hay ở những chỗ bất thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính." [2] Những bài thơ Truyện cổ nước

mình, Khoảng trời - hố bom của bà được giảng dạy trong chương trình tiếng Việt, văn học phổ thông của Việt nam

Tác Phẩm tiêu biểu

Tôi về với tôi

Thả mây cho gió Thả xanh cho cỏ Thả trăng cho trời Tôi về với tôi

Trang 19

Thả người thục nữ Hồn nhiên nói cười Thả người tục lụy Danh vọng đua đòi Thả hết, thả hết Tôi về với tôi

Thả thời thiếu nữ Khuất vào xa xăm Thả chùm tóc bạc Trắng cả ngàn năm

Ai đem nụ cười Chạm vào nước mắt Niềm vui có màu Nỗi buồn trong vắt Tôi về với tôi

Thơ như máu thắm Tan vào hư vô Ðời bao phúc họa Gieo gặt bất ngờ Mỏi không thể nghỉ Ðau không còn kêu Người im như bóng Tôi về với tôi

May có đứa bé Còn ở trong hồn Cái nhìn xanh biếc Lung linh cội nguồn Trái tim thơ dại Tôi về với tôi

Khoảng trời - hố bom Chuyện kể rằng: Em, cô gái mở đường

Ðể cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương Cho đoàn xe kịp giờ ra trận

Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa Ðánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom

Ðơn vị tôi hành quân qua con đường mòn Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái

Trang 20

Một nấm mồ, nắng ngời bao sắc đá, Tình yêu thương bồi đắp cao lên

Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ Ðất nước mình nhân hậu

Có nước trời xoa dịu vết thương đau

Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Ðêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng

Những vì sao ngời chói, lung linh

Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong

Ðã hóa thành những làn mây trắng ?

Và ban ngày khoảng trời ngập nắng

Ði qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực Soi cho tôi

Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài ?

Tên con đường là tên em gửi lại Cái chết em xanh khoảng trời con gái Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em Gương mặt em, bạn bè tôi không biết Nên mỗi người có gương mặt em riêng

(1972)

Khoảng thời gian xanh biếc

Tôi bâng quơ hát một lời ca

Trước trời đất đầy hoa và gió

Và câu hát tơ non ngọn cỏ Nhú lên mùa xuân

Ai biết lời ca tôi bay về đâu Trong nắng vàng tươi hay cánh đàn chim trắng

Trang 21

Xôn xao thời gian tình đời như lá thắm Lời ca có ở trong màu cây?

Mùa xuân tôi lại đến nơi đây Bỗng chợt nhớ khoảng đời thuở trước Trên bước chân tình yêu câu ca xưa trở lại Ngân lên từ sâu thẳm trái tim tôi

Mảnh tâm hồn ánh ỏi thắm tươi Theo đàn bướm chợt về trên hoa cỏ Nghe xa vọng một điều gì không rõ Những tiếng thầm như men rượu bừng lên

Tôi đã trải bao vui buồn, sướng khổ Trước cuộc đời vất vả gian lao Năm tháng dày thêm xa dần tuổi nhỏ Giai điệu xưa chẳng quên được đâu nào

Theo bài ca tôi về tìm lại Khoảng thời gian xanh biếc dưới cỏ mềm Cái quãng đời vô tư trong sáng

Lại rộn ràng từ hoa cỏ mọc lên!

Nam Trân

 Tiểu Sử

Nhà thơ Nam Trân tên thật là Nguyễn Học Sĩ, sinh ngày 15/2/1907, mất ngày 21/12/1967

là người quê Đại Lộc, Quảng Nam, nhưng tên tuổi ông gắn bó với Huế hơn nửa thế kỷ naykhông chỉ vì ông từng là học sinh Trường Quốc học Huế và sau khi đỗ tú tài làm tham tátòa Khâm sứ Huế, mà chủ yếu vì tập thơ đầu tay "Huế Đẹp và Thơ" đã được các tác giả

"Thi nhân Việt Nam" trân trọng đánh giá: " tả cảnh Huế chưa ai bằng được Nam Trân."

 Tác phẩm về Huế

Trang 22

Cô gái Kim Luông

Kim Luông nhiều ả mỹ miều

Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi

Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng,

Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo

Tôi xuống thuyền cô, cô chẳng biết

Rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo

Thuyền qua đến bến; cô lui lại,

Vẩy chiếc chèo ngang: giọt nước gieo

Đăm đăm mắt mỏi vì chèo

Chèo cô quấy nước trong veo giữa dòng

Biết không? Cô hỡi, biết không?

Chèo cô còn quấy, sóng lòng còn sao!

Trang 23

Cò bay, yên lặng, Quanh đồng

Thi tứ viễn vông:

Thần Tưởng tượng Như đàn có đói lượn Đồng không

(Huế, Đẹp và Thơ, 1939)

Giận khúc Nam ai

Đừng kể nữa những mảnh tình tan tác

Hãy đứng lên, Nhạc sỹ, với tôi, đi!

Tôi ghét anh mê giọng hát sầu bi

Và tung mãi tâm hồn thừa trụy lạc

Hãy đứng dậy! Vứt chiếc cầm ảo não!

Tôi cần nghe những khúc nhạc rất hùng -Thét ngựa lòng phi mãi chẳng chồn chân- Sáng như gươm tuốt, mạnh như luồng bão

Ôi nhạc sĩ, thật anh người thậm tệ:

Quan hoài chi những lối hát mê ly, Những câu ca không Đẹp lại không Thi Của kỹ nữ vọc cuộc đời ê chệ?

Hãy cung kính nhượng các ngài tuổi tác Những bản đờn, dịp hát thiếu tinh thần

Hãy ra nghe sóng vỗ, ngắm mây vần Rồi sáng chế cho tôi vài điệu khác Huế, Đẹp và Thơ - 1939

Huế, đêm hè

Trời nóng dăm bốn độ

Đèn, sao khắp đế đô, Mặt trăng vàng, trỏn trẻn Nấp sau nhánh phượng khô

Ba dịp cầu Trường Tiền Đứng dày người hóng mát;

Ngọn gió Thuận An lên,

Áo quần kêu sột sạt

Trang 24

Đủng đỉnh chiếc thuyền nan

Qua, lại bến sông Hương

Tiếng đờn chen tiếng hát,

Thánh thót điệu Nam Bường

Hai tay xách hai vịm,

Một vài mụ le te,

Tiếng non rao lảnh lói:

Chốc chốc: "Ai ăn chè?"

(Huế, Đẹp và Thơ)

Núi Ngự, sông Hương

Anh đã đến Huế rồi,

Anh đã biết Huế chưa?

Ví đã biết Huế rồi

Thì đã hiểu Huế chưa?

Hiểu rồi cũng ngỡ là chưa,

Mà chưa nào biết rằng chưa hay rồi

Ra đi lòng những bồi hồi,

Trang 25

Biết chăng? Chẳng biết rằng rồi hay chưa Huế tôi, cảnh đẹp như mơ

Đế đô là một bài thơ muôn vần

Tay tiên dù nắn bút thần

Cũng đành bỏ lắm những phần thanh tao Ngự Bình như thấp, như cao,

Nhạt màu mây móc, đượm màu cỏ hoa Gió đờn, thông dịp, chim ca,

Hoạ vần thoang thoảng một vài khúc tiêu Hương Giang: cô gái mỹ miều,

Tấm thân bay bướm láy chìu nhởn nhơ, Trời xuân rải bóng dương tà:

Dưới hoa óng ả một vài tiểu thơ

Đêm thu trăng tỏ nước mờ,

Chiếc thuyền bé tí bên bờ cỏ hoen;

Điệu đờn vút tận cung tiên,

Ung dung tỏa nhẹ xuống miền nhân gian

Ru hồn một giấc mang mang

Êm như mặt nước mơ màng biếng trôi

Anh tìm cảnh lịch đến chơi

Thì anh đã hiểu Huế rồi hay chưa?

Huế, Đẹp và Thơ - 1939

Vườn cau Nam Phổ

Trung thu: cô độc quả trăng tròn

Chỉ có sân Trời vắng trẻ con

Ánh lướt da cau phơi vẻ trắng:

Thoạt trông còn ngỡ chiếc đùi non

Huế, Đẹp và Thơ - 1939

Trang 26

Trước chùa Thiên Mụ

Êm êm dòng nước Hương Giang chảy, Xúm xít thuyền con chỗ ba, bảy

Tiếng hát ngư ông đẫm bóng cây

Như luồng khói nhẹ, lên, lên mãi

Tháp cao dòm nước: vết meo trôi Đồi thấp sừng trăng dõi dõi soi

Trang 27

Đạo đức các cụ ta

Giở chuyện cũ ra bàn Dưới nhà, cô nổi lửa: Lốp - đốp nhả ngô rang.Huế, Đẹp và Thơ - 1939

Trang 28

Ưng Bình Thúc Giạ Thị

Ưng Bình Thúc Giạ thị được nhiều người yêu mến bởi tài thơ, bởi tính khiêm cung, bình dị… Một đời ông, dù là hoàng phái, dù từng làm quan cao, nhưng vẫn chủ trương sống thanh đạm, giữ lấy cái tâm thuần chất không nhuốm tục luỵ, lòng vẫn hướng về cái đẹp, và yêu Huế thì đến tận cùng gan ruột

Ông là cháu nội một ông hoàng thi sĩ nổi tiếng Tuy Lý Vương Miên Trinh (Thi đáo Tùng, Tuy thất

Trang 29

Thịnh Đường) Ở Kinh đô Huế, ông sinh vào năm 1871, khi lớn lên, đất nước đã bị giặc Pháp xâm

lược, Hoàng tộc nhà Nguyễn đã trải qua rất nhiều biến động Từ ngày cất tiếng khóc chào đời, cho đến khi học xong Quốc học Huế, đỗ đầu kỳ thi Ký lục (1904), trong ngót 30 năm, nhà Nguyễn đã thay tới 7 đời vua, một thời kỳ xảy ra nhiều biến động nhất ở Huế …

Sinh trong một gia đình hoàng tộc, yêu văn chương từ ông nội, đến cha mẹ (thân sinh của ông là

cụ Tiểu Thảo Hường Thiết có tập Liên hiệp hiên thi tập; bà mẹ là Nguyễn thị Huệ cũng có nhiều bài thơ nôm hay, được truyền tụng) nên Ưng Bình Thúc Giả thị, hầu như cả đời, dù có dấn mình vào khoa cử (đỗ cử nhân Hán học năm 1909, vào quan trường (làm tri huyện, tri phủ, Bố chánh về hưu với hàm Thượng Thư, Hiệp tá Đại học sĩ), nhưng yêu và mê say suốt đời của ông Thúc Giạ, chính là thơ ca.

Về thơ, ông viết tới hàng ngàn bài, trong đó có thơ chữ Hán (Lộc Minh thi tập) có 227 bài, còn lại

đều là thơ ca tiếng Việt, gồm ngót một ngàn bài Ông còn chuyển dịch và có phần nào phóng tác

tuồng Lệ Địch (le Cid) của nhà văn Pháp P.Corneille và viết một số tác phẩm khác như Bán buồn

mua vui, Đời Thúc Giạ Thơ của ông tập hợp trong các thi phẩm Tiếng hát sông Hương (1972) và Thơ ca tuyển (1992).

Ưng Bình Thúc Giạ thị là một người Huế gốc, mà nói đến Huế là phải nói đến một thiên nhiên với núi Ngự, sông Hương, cửa Thuận và Phá Tam Giang, những thắng tích vào bậc nhất miền Trung

và trong cả nước… Nói đến Huế là phải nói đến chất kinh thành, vương gia, lăng tẩm, chất tinh tế

có phần quý phái…và, thơ ca thì thường hay buồn, vốn dĩ xưa đã có những giọng ca buồn từ thời châu Hoá, châu Ô, châu Lý…xa xôi…

Chất Huế còn là một cái gì đó thanh nhã, dịu dàng và chút nào kiêu sa, đài các.

Yêu thiên nhiên là một nét đặc sắc trong thơ Ưng Bình Thúc Giạ thị…Dù làm quan, hay là đi thăm thú danh lam thắng cảnh, điều đầu tiên Thúc Giạ chú ý tới là trời, đất, núi, sông hồn nhiên và mỗi nơi một vẻ đẹp riêng

Trong tập thơ chữ Hán, Lộc Minh thi tập, Thúc Giạ đi nhiều, viết nhiều về các vùng đất, di tích nổi

Ưng Bình Thúc Giạ thị: Một tâm hồn Huế

Trang 30

tiếng như chùa Trà Am, chùa Thiên Mụ, núi Ngự, sông Hương ở Huế, sông Ngưu Chữ ở Hương Khê; Đầm Cầu Hai; núi Bạch Mã ở Thừa Thiên; Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam; sông Thạch Hãn ở Quảng Trị; núi Linh Phong ở Bình Định; động Phong Nha, Lũng Thầy, sông Gianh, sông Nhật Lệ, núi Đầu Mâu ở Quảng Bình, Đèo Ngang, ranh giới của Hà Tĩnh và Quảng Bình; văn miếu ở Hà Nội…

 Các tác phẩm về Huế:

Nước sông Hương sau trận lụt

Trận lụt qua rồi nước vẫn trong

Đá viên Cồn Hến chảy quanh vòng

Dễ thương bầy cá trương vi lượn,Tội nghiệp con cò ngóng cổ trông

Tiếng súng veo vo trên mặt nướcCâu hò lạnh lẽo dưới gành sôngCây đa bến cũ còn lưa đó

Nông nỗi con đò, bạn thấy không…

Bảo Đại thoái vị

Nỏ tiếc không thương cái bệ rồng,Ngự xe cờ đỏ đến Thăng Long

Trải qua non nước nhìn quanh rạng,Ngảnh lại lâu đài bỏ trống không

Gió tạc cành thu, chim ngái tổTrăng soi cửa cấm nhện giăng mùng

Có ai vô Nội cho mình hỏiThần tử còn lưa lại mấy ông?

Câu hò xứ Huế

“Chiều chiều trước bến Vân Lâu

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm

Trang 31

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông

Thuyền ai thấp thoáng bên sông

Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non”

* * * *

“Tiếng hát Ngư ông, giữa sông Bành Lệ,

Tiếng kêu hàn nhạn giữa ánh Hoành DươngMột mình em đứng giữa sông Hương

Tiếng ca du nữ đoạn trường ai nghe

Nước chảy xuôi, con cá bươi lội ngược

Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang

Thuyền em xuống bến Thuận An

Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi!

Biết ở đâu là câu Ô Thước

Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi

Khúc sông quạnh vắng có người sầu riêng

Nước đầu cầu khúc sâu, khúc cạn

Chèo qua Ngọc Trân đến vạn Kim Long

Sương sa gió thổi lạnh lùng

Sóng xao trăng lặng gây lòng nhớ thương

Bên chợ Đông Ba, tiếng gà gáy sáng,

Bên làng Thọ Lộc tiếng trống sang canh,

Giữa sông Hương tiếng sóng khuynh thành,Đêm khuya một chiếc thuyền tình ngửa nghiêng.Thương thì thương, chẳng thương thì chớ,

Làm chi lỡ dở như hẹn nợ thêm buồn,

Bên chùa đã động tiếng chuông

Gà Thượng Thôn đã gáy, chim nguồn đã kêu…”

Trang 32

xướng ra trường thơ loạn, trường thơ điên

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ

Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh,

Phong Trần là các bút danh khác của ông Ông có tài năng

làm thơ từ rất sớm Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu

và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này Ông được Phan

Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ

báo Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì

quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại Ông quyết

định lên Sài Gòn lập nghiệp Năm đó ông 21 tuổi

Lên Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ

báo Công luận Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm

thơ và hay gửi lên báo Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với

nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm Một

tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người [1]

Trang 33

Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn và mất khi mới 28 tuổi [2].

Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã

để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, MộngCầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện

Tên của ông được đặt cho đường phố ở Huế và Phan Thiết Có ít nhất hai bài hát được

sáng tác để nói về cuộc đời ông: Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh [3] và Trường ca Hàn

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi Hổn hển như lời của nước mây Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc Nghe ra ý vị và thơ ngây

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng

Trang 34

Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Thi sĩ Chàm

Ta mới thấy xuân vờn trong ánh sáng

Muôn sắc hình múa giỡn dưới ao khuya

Đôi tháp cao kiêu hãnh với hàng bia

Với lau lách ngã mình trong cảnh vắng

Sợ chừng như tiếng rụng của sao băng

Mà vì đâu những tháng Hời kiêu ngạo

Hàng muôn năm sống mãi với đêm sương

Mà vì đâu nghe tiếng bật giữa im lìm

Như mơ tiếc những thời hung bạo

Phải người chăng, bên suối uống mây trôi Phải người chăng, đồi cao đương hoảng hốt Bọc trăng vàng trong áo ngủ quên đi

Để hoàng hôn loang loáng đối oai nghi

Bao dấu vết thời xưa giờ ủ dột

Phải người chăng, thi sĩ của dân Chiêm

Người lắng nghe, lắng nghe trong đáy giếng Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống hư vô

Tiếng ngọc địch n hớ nhung còn uyển chuyển Bên cầu sương lưu đọng ánh trăng mơ

Người thổn thức tiếng buồn bao cảnh sắc

Trang 35

Ta không muốn người thôi ca hát

Vì luôn đêm sóng bận réo cung Hằng Người khóc đi, khóc đi cho hả nỗi hờn căm

( trích tập thơ “Điên”)

Các tác phẩm về Huế:

Đây thôn Vĩ Giạ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay ?

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà ?

 Bình luận và nhận xét

Đánh giá và bình luận về tài thơ của Hàn Mặc Tử có rất nhiều, sau đây là một số đánh giá của các nhà thơ văn nổi tiếng:

Trang 36

"Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu

trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình"

"Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ

biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử."

(Nhà thơ Chế Lan Viên)

"Sẽ không thể giải thích được đầy đủ hiện tượng Hàn Mặc Tử nếu chỉ vận dụng thi pháp

của chủ nghĩa lãng mạn và ảnh hưởng của Kinh thánh Chúng ta cần nghiên cứu thêm lý luận của chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực Trong những bài thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử, người ta không phân biệt được hư và thực, sắc và không, thế gian và xuất thế gian, cái hữu hình và cái vô hình, nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể, thế giới cảm xúc và phi cảm xúc Mọi giác quan bị trộn lẫn, mọi lôgic bình thường trong tư duy và ngôn ngữ, trong ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn bất ngờ Nhà thơ đã có những so sánh ví von, những đối chiếu kết hợp lạ kỳ, tạo nên sự độc đáo đầy kinh ngạc và kinh dị đối với người đọc."

(Nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ)

"Hàn Mặc Tử có khoảng bảy bài hay, trong đó có bốn bài đạt đến độ toàn bích Còn lại là

những câu thơ thiên tài Những câu thơ này, phi Hàn Mặc Tử, không ai có thể viết nổi Tiếc là những câu thơ ấy lại nằm trong những bài thơ còn rất nhiều xộc xệch "

(Nhà thơ Trần Đăng Khoa)

" Theo tôi thơ đời Hàn Mặc Tử sẽ còn lại nhiều Ông là người rất có tài, đóng góp xứng

đáng vào Thơ mới "

Trang 37

VÕ QUÊ

 Tiểu sử:

Họ và tên : VÕ QUÊ

Các bút danh khác : SAO KHUÊ, QUỲ LÊ

Ngày tháng năm sinh : 7.3.1948

Quê quán : An Truyền, Phú An, Phú Vang, Thừa Thiên Huế

Nơi cư trú hiện nay : 4/4 Kiệt 113 Trần Phú Huế

Điện thoại nhà riêng : 054.823670; DĐ : 0913.408.618

Email: voque@dng.vnn.vn

Công tác hiện nay: Phó Chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt Trung Thừa Thiên Huế, Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Ca Huế Nhà Văn Hóa Huế, Ủy viên UBMTTQVN Thừa Thiên Huế, Thành viên Ban Văn hóa Xã hội HĐND Thừa Thiên Huế (2004-2011)

Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Nhà Báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam

Vài nét về quá trình công tác, học tập, sáng tác :

- Từ tháng 01/1971 - 04/1972 : Ban các sự Sinh viên học sinh Huế

- Từ tháng 05/1975 - 12/1976: Cán bộ Ban Tuyên Huấn Thành Ủy Huế

- Từ tháng 01/1977 đến nay: Bí thư Chi đoàn, cán bộ Hội, Chánh Văn phòng Hội, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Đại biểu HĐND thành phố Huế khóa II (1977-1979) và khóa III (1979-1981), Đại biểu HĐND

Trang 38

Tỉnh khóa II (1989-1994), khóa IV (1999-2004), khóa V (2004-2009),Chủ tịch Công đoàn Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTQ LHCHVHNT Việt Nam Bí thư Đảng Đoàn, Bí thư Chi bộ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (1998-2005)

- Huy Chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam Huy chương Vì sự

nghiệpTrẻ em Huy chương Vì sự nghiệp Công Đoàn, Huy Chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật, Huy Chương Vì sự nghiệp Nhiếp ảnh Huy Chương Chiến sĩ Văn hóa

- Tác phẩm chính đã xuất bản :

Ngựa Ca (tập thơ in chung Trần Dzạ Lữ, Trần Bản Thiểm, 1969); Chị Sáu (truyện ngắn, 1971); Giọt Máu Ta Một Biển Hòa Bình (kịch thơ, 1971); Nguồn Mạch Mới (thơ in chung Thái Ngọc San, 1971); Nhờ Ơn Cây Lúa Lúa Ơi (thơ thiếu nhi 1975); Ngợi Ca (thơ, 1993); Mười Thương Em Bé (thơ, 1993); Khúc Tri Âm (Lời ca Huế, 2000); Thơ Một Thuở Xuống Đường (tập thơ ,2001); Lửa Đường Phố (Hồi ký, 2003);

- Giải thưởng văn học :

- Tập thơ "Mười Thương Em Bé "- Giải C Giải Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ I (1994)

- Tập "Tiếng Hương Bình" sưu tầm lời ca Huế - Giải Khuyến khích Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (1997)

- Tập "Khúc tri âm" lời ca Huế - Giải C - UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2001)

-Tập thơ "Thơ Một Thuở Xuống Đường" - Giải thưởng đặc biệt UBTQLHCHVHNT Việt Nam

(2002)

- Suy nghĩ về nghề văn :

"Cuộc sống và tác phẩm văn học là một Nhà văn sống

đẹp, sống tốt với đời, với người để mỗi trang văn, mỗi

tứ thơ luôn lấp lánh hạnh phúc, ngợi ca sự hướng

thiện."

Ngày đăng: 30/10/2013, 12:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất - Tập san Thơ văn xứ Huế
rong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất (Trang 62)
"Tên sông Hồng gọi theo màu sắc, tên sông Cửu Long gọi theo hình dáng, còn sông Hương mình thì gọi theo mùi hương..."   - Tập san Thơ văn xứ Huế
34 ;Tên sông Hồng gọi theo màu sắc, tên sông Cửu Long gọi theo hình dáng, còn sông Hương mình thì gọi theo mùi hương..." (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w