Tác Phẩm tiêu biểu:Dạ Khúc Có một buổi chiều nào như chiều xưa Anh về trên cát nóng Đường dài vành môi khát bỏng Em đến dịu dàng như một cơn mưa Có một buổi chiều nào như chiều qua
Trang 1Hoàng Phủ Ngọc Tường từng dạy học, tham gia tích
cực phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống
Mỹ - ngụy đòi độc lập, thống nhất Tổ quốc từ những
năm 50 Viết văn, viết báo từ khi còn rất trẻ, từng là
Trưởng ty VHTT Quảng Trị, Tổng thư ký Liên Minh
các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố
Huế Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên
tập tạp chí Sông Hương, Cửa Việt
Tác phẩm chọn lọc :
- Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (bút ký, 1971).
- Những dấu chân qua thành phố (thơ, 1976).
- Rất nhiều ánh lửa (ký, 1979).
- Ai đã đặt tên cho dòng sông (bút ký, 1985).
- Bản di chúc cỏ lau (1991).
- Người hái phù dung (thơ).
Ông đã được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980 với tác phẩm “Rất nhiều ánh lửa”.
Trang 2 Tác Phẩm tiêu biểu:
Dạ Khúc
Có một buổi chiều nào như chiều xưa Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa
Có một buổi chiều nào như chiều qua Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến Thắm nồng như một bông hoa
Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy Ngọt ngào như trái nho tươi
Có buổi chiều nào mộng mị vây quanh Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối Rối bời như mớ tơ xanh
Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến Cho anh trọn một đời người
Có buổi chiều nào như chiều nay Căn phòng anh bóng tối dâng đầy Anh lặng thầm như là cái bóng Hoa tàn một mình em không haỵ
Bồng bềnh cho tới mai sau
Có con thuyền trong sương trắng
Bồng bềnh như một cánh chim
Có em chèo thuyền áo trắng Xôn xao như trốn, như tìm
Có vầng mặt trời rực sáng Bồi hồi như một trái tim
Em chèo thuyền về phía hướng đông
Trang 3chí Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam Thu Bồn là
ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ miền Trung Trung Bộ và ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV Ngoài bút danh đặt theo tên dòng sông Thu Bồn quê hương,
ông còn có các bút danh khác là Hà Ðức Trọng, Bờ Lốc.
Ngoài thơ, Thu Bồn còn viết tiểu thuyết, nhưng ông được biết đến nhiều với những bài
trường ca, trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là thành công có tính định hướng
cho phong cách tiêu biểu của ông và “không những là tác phẩm từ miền Nam gửi ra khá sớm, mà còn là bản trường ca đầu tiên của văn học giải phóng” [1] Đây là khúc ca ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất của những con người Tây Nguyên trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ được giảng dạy ở chương trình giáo dục phổ thông của Việt nam
Các tác phẩm chính
• Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962),
• Tre xanh (thơ, 1965),
• Mặt đất không quên (thơ, 1970),
• Những đám mây mầu cánh vạc (tiểu thuyết 2 tập,
1975);
• Oran 76 ngọn (trường ca, 1979),
Trang 4• Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985)
• Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985)
• Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)
• Tôi nhớ mưa nguồn (thơ, 1999)
• Trường ca tuyển tập (1999)
Các giải thưởng
• Giải văn học Nguyễn Đình Chiểu
• Giải thưởng văn học quốc tế Lotus của Hội Nhà văn Á Phi (1973)
• Giải thưởng báo Hà Nội Mới (1969)
• Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001
Các tác phẩm viết về Huế
Tạm biệt Huế
Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ Nên chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng Mặt trời vàng và mắt em nâu
Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ hư vô
Em rất thực nắng thì mờ ảo Xin đừng lầm em với cố đô
Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền Nón rất Huế mà đời không phải thế Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng Nhịp cầu cong và con đường thẳng Một đời anh đi mãi chẳng về đâu Con sông dùng dằng con sông không chảy Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hóa đá phía bên kia.
Trang 5
Qua sông Thu Bồn
Cầu vồng lũ trẻ chơi màu sắc
Ta thích làm mây mang bão giông Rạch chéo đất trời tia kiếm chớp Thức reo làm thác ngủ làm sông
Dòng sông rộng quá nên lai láng Nhịp cầu thường tiễn ta đi xa Hỡi con ngựa chiến tuôn về biển Bất kham dừng lại hóa phù sa
Ta yêu cỏ thẹn bên cồn mả Hoa tím em thường giả bông tai Cọng chiếu bao giờ thành xuyến ngọc? Lối cỏ anh về vẫn lắm gai
Mẹ ngủ ven trời sau cỏ mật Mây giăng Trà Kiệu chớp Sơn Trà Sau màn mưa ấy hai con mắt Xanh hơn cỏ dại ngước nhìn ta
Sâu lắng lòng sông ra Cửa Đợi Nửa đêm ta thức nhịp Nam Bình Con thuyền đã gõ xua đàn cá Sóng vẫn trào lên đẫm phận mình Trọn đời em muốn làm con sóng Sông lặng mà em lắc mạn thuyền
Trang 6Đàn cá khiếp hồn tuôn nháo nhác
Làm mắc vầng trăng giữa lưới vàng
Ta cũng là trăng luôn mắc lưới
Vớt lên ướt hết nửa cuộc đời
Đêm đêm hong gió trên triền núi
Gọi nắng mai lên vá lại trời
Sông Thu Bồn 1987
Tôi nhớ mưa nguồn
Tôi ngỡ ngàng và tưởng không bao giờ gặp HuếĐèo Hải Vân cao vút lỗ châu mai
Ô cốt giặc đen ngòm bốn phía
Biển và mây sóng vỡ vụn chân gành
Quê hương mẹ tôi chưa về được
huống chi em xa cách mấy thôi đường
Huế mờ trong khói thuốc
Huế mờ trong đạn bom
Huế chìm trong mưa lụt
Cầu Trường Tiền bắc giữa giấc mơ tôi
Trang 7Tìm tôi tìm Huế
Tôi ở đâu rơi về góc Huế
Mười năm có lẻ buồn vui
Một vợ hai con có bìa hộ khẩu
Có một làng quê mong ngóng phía mặt trời
Mà sao tôi chẳng là tôi
Khi hèn mọn đánh rơi mình vào quên lãng
Tôi tìm tôi lang thang
Đêm nào lã chã trăng như nước mắt
Trầm ngâm tôi với Ngự Bình
Trước mộ đứa con trai sinh thiếu thángCháu là người ngoài cuộc đời
Chỉ được nhìn Huế năm ngày qua lồng kính!
Trang 8Tôi tìm tôi khuya khoắt
Lập loè lửa nhang gốc phượng sương mờ
Nhấp nháy hoài như mắt cây mắt gió
Bên những người xe thồ, xích lô gác chân lên
trời nằm đợi kháchKhẽ hát về đêm tàn Bến Ngự
Vâng, cho đến tàn đêm tôi mới gặp được lời của phố
Nỉ non vệ cỏ bên đường
Tôi tìm tôi lửa đốt
Mỏi rời chân đêm đứng chờ vợ đẻ
Cửa hạnh phúc đầy tiếng rên la
Bắt chước ai tôi cắm nén nhang bên gốc xà cừ
Cầu bình an cho con
Bình an cho mẹ
Sao lại không nguyện cầu cho bình an
Huế trăm năm lớp lớp oan hồn
Chính tôi một oan hồn còn sống
Tôi tìm tôi bè bạn
Góc nghĩa địa lều tranh Dương Thành Vũ
Trăng như nước đá mùa đông
Ướp lạnh những giấc mơ diều giấy
Bạn như người ngoài cuộc đời
Uống bóng mình xạm đen râu ria đáy chén
Câu thơ không đủ ấm
Kể chuyện tiếu lâm nghe tiếng mình cười!
Tôi tìm tôi lạnh toát
Đường Phan Bội Châu số nhà ba mốt
Đỉnh dốc là Sào Nam tôi ở lưng chừng
Nơi có mệ già ngồi bên đường chìa mê nón
xin đời bố thíBốn mùa mệ không đổi dáng ngồi
Như tượng đài thời gian rách nát
Mệ cũng là người ngoài cuộc đời
Tuổi trẻ ồn ào đi qua lướt qua không thèm để ýDân xe cúp xe con rú máy vèo qua
xả khói vào mê nónRơi vào mê nón nắng mưa nhiều hơn đồng hàoChuông chùa rơi từng giọt lắng trầm
“Anh chị cho tui xin một đồng”!
Tiếng cầu xin bám đuổi hồn tôi
Trang 9Ôi, khổ đau cũng cầu mong thêm được vài phút sống!
Tôi tìm tôi hờ hững
Giữa chúng ta láo nháo nói cười
Vỗ tay mừng công cụng ly thành tích
Rồi trở về tìm lá xông vợ cúm
Rồi trở về góc Huế với mình
Bước đi như hẫng hụt
Lục túi tìm mười đồng bỏ vào mê nón mệ bên đường
Mà túi rỗng
Thơ không bán được mệ ơi!
Tthơ cũng ở ngoài cuộc đời, thưa mệ!
Tôi tìm tôi tìm Huế
Góc chợ rau dưa hè phố gánh hàng
Bên dòng sông nắng đục mưa trong
Câu ca như cầu bắc
Tôi đi tìm mà nhiều khi chẳng gặp
nói rõ điều này trong cuốn Một thời nhớ lại, NXB Hội Nhà văn, 2000: "Nhưng thực ra tôi
sinh ở Hội An, tỉnh Quảng Nam, năm 1920, và ở đó đến năm chín tuổi mới theo cha ra
Huế" (trang 8)
Mẹ ông mất vào năm ông lên 12 tuổi Năm 13 tuổi, ông vào trường Quốc học (Huế) Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng của Karl Marx, Friedrich Engels, Vladimir Ilyich Lenin, Maxim Gorki qua sách báo, kết hợp với sự vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu), Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với ý tưởng cộng sản Ông gia nhập Đoàn thanh niên và được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1938
Trang 10Tháng 4 năm 1939, ông bị bắt, bị tra tấn và giam tại nhiều nhà tù miền Trung như Lao Bảo, Huế, Ban Mê Thuột
Cuối năm 1941, ông vượt ngục về hoạt động bí mật ở Hậu Lộc, Thanh Hóa Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông là chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của thành phố Huế Năm
1946, ông là bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Cuối 1947, ông lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn Từ đó, ông được giao những chức vụ quan trọng trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Đảng và nhà nước:
1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam; 1963:
Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt
Nam;
Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết
Trung ương; 1955: Ủy viên chính thức;
Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thư;
Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương;
Sau khi Lê Duẩn mất, có sự thay đổi mạnh mẽ tiến tới đổi mới nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn diện Ông bị mất uy tín vì vai trò "nhà thơ đi làm kinh tế" qua những vụ khủng hoảng tiền tệ những năm 1980 nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức nghiên cứu hình thức
Ông mất 9h15' ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện 108
• Ông là người đã phê phán quyết liệt phong trào Nhân văn-Giai phẩm với tư cách là người thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam phụ trách văn nghệ Nhiều ý kiến coi ông
tà tác giả chính của vụ án văn nghệ-chính trị này
• Ông cũng được đánh giá là con người khá bảo thủ, khi bị phê bình về các tác phẩm của mình thì thường có phản ứng rất quyết liệt (Theo nhận định của Văn Cao thì chính lí do này khiến ông bị nghi hoặc là có liên quan đến việc đẩy mạnh dập tắt
Trang 11phong trào Nhân văn-Giai phẩm và không được nhiều cảm tình từ phía các nghệ sĩ khác)
• Ngoài ra, ông còn là nhà thơ chính trị, có nhiều bài ca ngợi các lãnh tụ cộng sản quốc tế như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh
Stalin! Stalin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin
Hoan hô Hồ Chí Minh!
Cây hải đăng mặt biển Bão táp chẳng rung rinh Lửa trường kỳ kháng chiến!
Từ ấy
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạMặt trời chân lí chiếu qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổGần gũi nhau thêm mạnh khối đời
Trang 12Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏKhông áo cơm, cù bất cù bơ
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đàoTrời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi!
Một làm sao, chết uất thôiCon chim tu hú ngoài trời cứ kêu!
Huế, tháng 7 năm 1939
Trên dòng Hương Giang
Em buông mái chèoTrời trong veo
Nước trong veoTrên dòng Hương Giang
Trăng lên trăng đứng trăng tànĐời em ôm chiếc thuyền nan xuôi dòngThuyền em rách nát
Trang 13Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoàiThơm như hương nhụy hoa làiSạch như nước suối ban mai giữa rừngNgày mai gió mới ngàn phương
Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuânNgày mai trong giá trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồNgày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng
Trên dòng Hương Giang
Tháng 8 năm 1938
Quê mẹ
Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa, tuổi chín mười Mây núi hiu hiu, chiều lẳng lặngMưa nguồn gió biển, nắng xa khơi
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương!
Mái nhì man mác nước sông Hương
Hà ơi, tiếng mẹ ru nhè nhẹCay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường!
Ôi những đêm mưa, tối mịt mùngCon nằm bên mẹ, ấm tròn lưng
Trang 14Ngoài hiên nghe tiếng giầy đi rỏn
Mẹ bấm con im: chúng nó lùng
Con hỏi vì sao, chúng nó tìm
Tìm ai, con hỏi, mẹ rằng: im!
Mẹ ơi, đời mẹ buồn lo mãi
Thắt ruột mòn gan, héo cả tim!
Mẹ không còn nữa, còn đây Huế
Con lớn lên con biết lẽ rồi:
Nước mất nhà tan, đời khổ thế
Không làm nô lệ, đứng lên thôi!
Con lớn lên con tìm Cách mạng
Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi
Mẹ không còn nữa, con còn Đảng
Dìu dắt khi con chửa biết gì
Huế không buồn nữa, Huế ta ơi
Mắt ướt trăm năm đã hé cười
Nghìn mảnh tương lai về phấp phớiTruyền đơn cờ đỏ gió tung trời
Roi điện cùm xai tóe máu tươi
Xà lim không thể khóa hồn ngời
Bừng bừng tiếng hát rung song sắtTiếng hát ta bay lộng giữa đời
Tháng Tám vùng lên Huế của ta
Quảng Phong ơi Hương Thủy, Hương TràPhú Vang, Phú Lộc đò lên Huế
Đò ngập dòng sông rộn tiếng ca
Từ ấy xa quê mẹ đến rày
Lắng nghe từng buổi, nhớ từng ngàyGiặc về giặc chiếm đau xương máuĐau cả lòng sông, đau cỏ cây
Cắn răng gian khổ tám năm trời
Huế của ta không một bước lùi
Huế của ta đây cầm vững súng
Chúng bay không thể có đường vui
Trang 15Chúng bay không thể có ngày mai
Chết dưới chân bay vạn bẫy gài
Chết dưới đầu bay từng hốc núi
Hải Vân thăm thẳm huyệt đêm ngày!
Làng ta giặc đốt mấy lần qua
Mà đất Phù Lai vẫn tốt cà
Mà quýt Hương Cần ta vẫn ngọt
Nhớ anh du kích trấn Dương Hòa
Chí ta như núi Thiên Thai ấy
Đỏ rực chiều hôm dậy cánh đồng
Lòng ta như nước Hương Giang ấy
Xanh biết lòng sông những bóng thông
Lửa chiến tranh nay đã tắt rồi
Mà lòng ta vẫn cháy không nguôi
Mẹ ơi dưới đất còn chua xót
Những tiếng giầy đinh đạp núi đồi!
Ôi Huế ngàn năm, Huế của ta
Đường vào sẽ nối lại đường ra
Như con của mẹ về quê mẹ
Huế lại về vui giữa Cộng hòa
6.2.1955
Huế Tháng Tám
Huế trầm mặc hôm nay sao khác khác Những mắt huyền ngơ ngác hỏi thầm nhau Chân nôn nao như khách đợi mong tàu Bước dò bước, không biết sau hay trước? Tim hồi hộp, vì sao? Ai hen ước;
Ai đang về? Dáng đó thấp hay cao?
Mắt sáng ngời, như lửa hay như sao?
Người hay mộng? Ngoài vào hay trong tới? Giáng từ trên hay là vươn từ dưới?
Huế xôn xao lo lắng, những đêm mơ
Khát khao hoài, như cô gái mong chờ
Trang 16Sau cửa hé, người yêu chưa biết mặt
Trên hương giang mênh mang đò lạnh ngắt Tiếng đàn im Ca kỹ nép phương nào?
Trăng thì thầm chi với sóng lao xao
Đức Kim Thượng đêm nay trong ngọc điện
Ngự lên lầu, trông lên cao xao xuyến
Muôn vì sao Lạnh lẽo thấm hoàng bào
Người rùng mình, tưởng đứng đỉnh cù lao
Nổi cô độc giữa gió triều biến động,
Đôi gốc đại nghiêng nghiêng tàn lay bóng
Sầu thâm cung vờ vật dưới chân chầu
Người đứng đây Trăm họ đang về đâu?
Đình thần đó, rầu rầu thân lá trắng
Quá khứ nặng đè xuống đầu cúi lặng
Một gai vàng không thể thắng cả giang sơn!
Lòng muôn dân rần rật lửa căm hờn
Máu giải phóng đã sôi dòng nhân loại!
Người phải xuống, đến nay, đêm chiến bại
Để toàn dân chiến thắng giữ ngôi son!
Người phải lui, cho Dân tiến, Nước còn
Dân là chủ, không làm nô lệ nữa!
Hãy mở mắt: Quanh hoàng cung biển lửa
Đã dâng lên, ngập Huế đỏ cờ sao
Mở mắt trông: Trời đất bốn phương chào
Một dân tộc đã ào ào đúng dậy!
Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!
Nước mắt ta trào, búp mí, tràn môi
Cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc!
Ta ôm nhau, hôn nhau từng mái tóc
Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta?
Ta hét huyên thiên, ta chạy khắp nhà
Gió gió ơi! hãy làm giông làm tố
Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tơi
Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi
Ta ngã vật trong dòng người vuộn thác
Ôi thiên đường! Tai miên man lắng nhạc
Trang 17Từ muôn phương theo gót nện rầm rầm Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm!
Lâm Thị Mỹ Dạ sinh tại quê: huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình,
cha là người gốc Hoa, mẹ người Huế Bà làm việc tại Ty văn
hóa Quảng Bình, năm 1978 đến 1983 học Trường viết văn
Nguyễn Du Sau đó bà làm phóng viên, biên tập viên tạp chí
Sông Hương (của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thừa Thiên
- Huế) Lâm Thị Mỹ Dạ là ủy viên Ban chấp hành Hội Văn học
Trang 18Nghệ thuật Thừa Thiên - Huế, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Ban Chấp hành
Hội Nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa V Hiện bà đang sống tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế Chồng bà, Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là một nhà văn, nhà thơ có tiếng ở Việt nam
Tác phẩm chính
Trái tim sinh nở (thơ, 1974)
Bài thơ không năm tháng (thơ, 1983)
Danh ca của đất (truyện thiếu nhi, 1984)
Nai con và dòng suối (truyện thiếu nhi, 1987)
Phần thưởng muôn đời (truyện thiếu nhi, 1987)
Hái tuổi em đầy tay (thơ, 1989)
Mẹ và con (thơ, 1994)
Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1998)
Hồn đầy hoa cúc dại (thơ, 2007)
Một tập thơ gồm 56 bài do bà tự tuyển chọn trong những tập thơ đã xuất bản của mình
được Nhà xuất bản Curbstone dịch sang tiếng Anh và phát hành năm 2005
Đánh giá
Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hồ Thế Hà đã viết: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giàu ý tứ Tứ thơ bao giờ cũng là bất ngờ Hình như không tạo được tứ lạ thì bài thơ vẫn còn trong dự tưởng." Nhà thơ Ngô Văn Phú cũng nhận định: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hay ở những chỗ bất thần, ngơ ngác và những rung cảm đầy nữ tính." [2] Những bài thơ Truyện cổ nước
mình, Khoảng trời - hố bom của bà được giảng dạy trong chương trình tiếng Việt, văn học phổ thông của Việt nam
Tác Phẩm tiêu biểu
Tôi về với tôi
Thả mây cho gió Thả xanh cho cỏ Thả trăng cho trời Tôi về với tôi
Trang 19Thả người thục nữ Hồn nhiên nói cười Thả người tục lụy Danh vọng đua đòi Thả hết, thả hết Tôi về với tôi
Thả thời thiếu nữ Khuất vào xa xăm Thả chùm tóc bạc Trắng cả ngàn năm
Ai đem nụ cười Chạm vào nước mắt Niềm vui có màu Nỗi buồn trong vắt Tôi về với tôi
Thơ như máu thắm Tan vào hư vô Ðời bao phúc họa Gieo gặt bất ngờ Mỏi không thể nghỉ Ðau không còn kêu Người im như bóng Tôi về với tôi
May có đứa bé Còn ở trong hồn Cái nhìn xanh biếc Lung linh cội nguồn Trái tim thơ dại Tôi về với tôi
Khoảng trời - hố bom Chuyện kể rằng: Em, cô gái mở đường
Ðể cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa Ðánh lạc hướng thù, hứng lấy luồng bom
Ðơn vị tôi hành quân qua con đường mòn Gặp hố bom nhắc chuyện người con gái
Trang 20Một nấm mồ, nắng ngời bao sắc đá, Tình yêu thương bồi đắp cao lên
Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ Ðất nước mình nhân hậu
Có nước trời xoa dịu vết thương đau
Em nằm dưới đất sâu Như khoảng trời đã nằm yên trong đất Ðêm đêm, tâm hồn em tỏa sáng
Những vì sao ngời chói, lung linh
Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong
Ðã hóa thành những làn mây trắng ?
Và ban ngày khoảng trời ngập nắng
Ði qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực Soi cho tôi
Ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài ?
Tên con đường là tên em gửi lại Cái chết em xanh khoảng trời con gái Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em Gương mặt em, bạn bè tôi không biết Nên mỗi người có gương mặt em riêng
(1972)
Khoảng thời gian xanh biếc
Tôi bâng quơ hát một lời ca
Trước trời đất đầy hoa và gió
Và câu hát tơ non ngọn cỏ Nhú lên mùa xuân
Ai biết lời ca tôi bay về đâu Trong nắng vàng tươi hay cánh đàn chim trắng
Trang 21Xôn xao thời gian tình đời như lá thắm Lời ca có ở trong màu cây?
Mùa xuân tôi lại đến nơi đây Bỗng chợt nhớ khoảng đời thuở trước Trên bước chân tình yêu câu ca xưa trở lại Ngân lên từ sâu thẳm trái tim tôi
Mảnh tâm hồn ánh ỏi thắm tươi Theo đàn bướm chợt về trên hoa cỏ Nghe xa vọng một điều gì không rõ Những tiếng thầm như men rượu bừng lên
Tôi đã trải bao vui buồn, sướng khổ Trước cuộc đời vất vả gian lao Năm tháng dày thêm xa dần tuổi nhỏ Giai điệu xưa chẳng quên được đâu nào
Theo bài ca tôi về tìm lại Khoảng thời gian xanh biếc dưới cỏ mềm Cái quãng đời vô tư trong sáng
Lại rộn ràng từ hoa cỏ mọc lên!
Nam Trân
Tiểu Sử
Nhà thơ Nam Trân tên thật là Nguyễn Học Sĩ, sinh ngày 15/2/1907, mất ngày 21/12/1967
là người quê Đại Lộc, Quảng Nam, nhưng tên tuổi ông gắn bó với Huế hơn nửa thế kỷ naykhông chỉ vì ông từng là học sinh Trường Quốc học Huế và sau khi đỗ tú tài làm tham tátòa Khâm sứ Huế, mà chủ yếu vì tập thơ đầu tay "Huế Đẹp và Thơ" đã được các tác giả
"Thi nhân Việt Nam" trân trọng đánh giá: " tả cảnh Huế chưa ai bằng được Nam Trân."
Tác phẩm về Huế
Trang 22Cô gái Kim Luông
Kim Luông nhiều ả mỹ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi
Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng,
Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo
Tôi xuống thuyền cô, cô chẳng biết
Rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo
Thuyền qua đến bến; cô lui lại,
Vẩy chiếc chèo ngang: giọt nước gieo
Đăm đăm mắt mỏi vì chèo
Chèo cô quấy nước trong veo giữa dòng
Biết không? Cô hỡi, biết không?
Chèo cô còn quấy, sóng lòng còn sao!
Trang 23Cò bay, yên lặng, Quanh đồng
Thi tứ viễn vông:
Thần Tưởng tượng Như đàn có đói lượn Đồng không
(Huế, Đẹp và Thơ, 1939)
Giận khúc Nam ai
Đừng kể nữa những mảnh tình tan tác
Hãy đứng lên, Nhạc sỹ, với tôi, đi!
Tôi ghét anh mê giọng hát sầu bi
Và tung mãi tâm hồn thừa trụy lạc
Hãy đứng dậy! Vứt chiếc cầm ảo não!
Tôi cần nghe những khúc nhạc rất hùng -Thét ngựa lòng phi mãi chẳng chồn chân- Sáng như gươm tuốt, mạnh như luồng bão
Ôi nhạc sĩ, thật anh người thậm tệ:
Quan hoài chi những lối hát mê ly, Những câu ca không Đẹp lại không Thi Của kỹ nữ vọc cuộc đời ê chệ?
Hãy cung kính nhượng các ngài tuổi tác Những bản đờn, dịp hát thiếu tinh thần
Hãy ra nghe sóng vỗ, ngắm mây vần Rồi sáng chế cho tôi vài điệu khác Huế, Đẹp và Thơ - 1939
Huế, đêm hè
Trời nóng dăm bốn độ
Đèn, sao khắp đế đô, Mặt trăng vàng, trỏn trẻn Nấp sau nhánh phượng khô
Ba dịp cầu Trường Tiền Đứng dày người hóng mát;
Ngọn gió Thuận An lên,
Áo quần kêu sột sạt
Trang 24Đủng đỉnh chiếc thuyền nan
Qua, lại bến sông Hương
Tiếng đờn chen tiếng hát,
Thánh thót điệu Nam Bường
Hai tay xách hai vịm,
Một vài mụ le te,
Tiếng non rao lảnh lói:
Chốc chốc: "Ai ăn chè?"
(Huế, Đẹp và Thơ)
Núi Ngự, sông Hương
Anh đã đến Huế rồi,
Anh đã biết Huế chưa?
Ví đã biết Huế rồi
Thì đã hiểu Huế chưa?
Hiểu rồi cũng ngỡ là chưa,
Mà chưa nào biết rằng chưa hay rồi
Ra đi lòng những bồi hồi,
Trang 25Biết chăng? Chẳng biết rằng rồi hay chưa Huế tôi, cảnh đẹp như mơ
Đế đô là một bài thơ muôn vần
Tay tiên dù nắn bút thần
Cũng đành bỏ lắm những phần thanh tao Ngự Bình như thấp, như cao,
Nhạt màu mây móc, đượm màu cỏ hoa Gió đờn, thông dịp, chim ca,
Hoạ vần thoang thoảng một vài khúc tiêu Hương Giang: cô gái mỹ miều,
Tấm thân bay bướm láy chìu nhởn nhơ, Trời xuân rải bóng dương tà:
Dưới hoa óng ả một vài tiểu thơ
Đêm thu trăng tỏ nước mờ,
Chiếc thuyền bé tí bên bờ cỏ hoen;
Điệu đờn vút tận cung tiên,
Ung dung tỏa nhẹ xuống miền nhân gian
Ru hồn một giấc mang mang
Êm như mặt nước mơ màng biếng trôi
Anh tìm cảnh lịch đến chơi
Thì anh đã hiểu Huế rồi hay chưa?
Huế, Đẹp và Thơ - 1939
Vườn cau Nam Phổ
Trung thu: cô độc quả trăng tròn
Chỉ có sân Trời vắng trẻ con
Ánh lướt da cau phơi vẻ trắng:
Thoạt trông còn ngỡ chiếc đùi non
Huế, Đẹp và Thơ - 1939
Trang 26Trước chùa Thiên Mụ
Êm êm dòng nước Hương Giang chảy, Xúm xít thuyền con chỗ ba, bảy
Tiếng hát ngư ông đẫm bóng cây
Như luồng khói nhẹ, lên, lên mãi
Tháp cao dòm nước: vết meo trôi Đồi thấp sừng trăng dõi dõi soi
Trang 27Đạo đức các cụ ta
Giở chuyện cũ ra bàn Dưới nhà, cô nổi lửa: Lốp - đốp nhả ngô rang.Huế, Đẹp và Thơ - 1939
Trang 28Ưng Bình Thúc Giạ Thị
Ưng Bình Thúc Giạ thị được nhiều người yêu mến bởi tài thơ, bởi tính khiêm cung, bình dị… Một đời ông, dù là hoàng phái, dù từng làm quan cao, nhưng vẫn chủ trương sống thanh đạm, giữ lấy cái tâm thuần chất không nhuốm tục luỵ, lòng vẫn hướng về cái đẹp, và yêu Huế thì đến tận cùng gan ruột
Ông là cháu nội một ông hoàng thi sĩ nổi tiếng Tuy Lý Vương Miên Trinh (Thi đáo Tùng, Tuy thất
Trang 29Thịnh Đường) Ở Kinh đô Huế, ông sinh vào năm 1871, khi lớn lên, đất nước đã bị giặc Pháp xâm
lược, Hoàng tộc nhà Nguyễn đã trải qua rất nhiều biến động Từ ngày cất tiếng khóc chào đời, cho đến khi học xong Quốc học Huế, đỗ đầu kỳ thi Ký lục (1904), trong ngót 30 năm, nhà Nguyễn đã thay tới 7 đời vua, một thời kỳ xảy ra nhiều biến động nhất ở Huế …
Sinh trong một gia đình hoàng tộc, yêu văn chương từ ông nội, đến cha mẹ (thân sinh của ông là
cụ Tiểu Thảo Hường Thiết có tập Liên hiệp hiên thi tập; bà mẹ là Nguyễn thị Huệ cũng có nhiều bài thơ nôm hay, được truyền tụng) nên Ưng Bình Thúc Giả thị, hầu như cả đời, dù có dấn mình vào khoa cử (đỗ cử nhân Hán học năm 1909, vào quan trường (làm tri huyện, tri phủ, Bố chánh về hưu với hàm Thượng Thư, Hiệp tá Đại học sĩ), nhưng yêu và mê say suốt đời của ông Thúc Giạ, chính là thơ ca.
Về thơ, ông viết tới hàng ngàn bài, trong đó có thơ chữ Hán (Lộc Minh thi tập) có 227 bài, còn lại
đều là thơ ca tiếng Việt, gồm ngót một ngàn bài Ông còn chuyển dịch và có phần nào phóng tác
tuồng Lệ Địch (le Cid) của nhà văn Pháp P.Corneille và viết một số tác phẩm khác như Bán buồn
mua vui, Đời Thúc Giạ Thơ của ông tập hợp trong các thi phẩm Tiếng hát sông Hương (1972) và Thơ ca tuyển (1992).
Ưng Bình Thúc Giạ thị là một người Huế gốc, mà nói đến Huế là phải nói đến một thiên nhiên với núi Ngự, sông Hương, cửa Thuận và Phá Tam Giang, những thắng tích vào bậc nhất miền Trung
và trong cả nước… Nói đến Huế là phải nói đến chất kinh thành, vương gia, lăng tẩm, chất tinh tế
có phần quý phái…và, thơ ca thì thường hay buồn, vốn dĩ xưa đã có những giọng ca buồn từ thời châu Hoá, châu Ô, châu Lý…xa xôi…
Chất Huế còn là một cái gì đó thanh nhã, dịu dàng và chút nào kiêu sa, đài các.
Yêu thiên nhiên là một nét đặc sắc trong thơ Ưng Bình Thúc Giạ thị…Dù làm quan, hay là đi thăm thú danh lam thắng cảnh, điều đầu tiên Thúc Giạ chú ý tới là trời, đất, núi, sông hồn nhiên và mỗi nơi một vẻ đẹp riêng
Trong tập thơ chữ Hán, Lộc Minh thi tập, Thúc Giạ đi nhiều, viết nhiều về các vùng đất, di tích nổi
Ưng Bình Thúc Giạ thị: Một tâm hồn Huế
Trang 30tiếng như chùa Trà Am, chùa Thiên Mụ, núi Ngự, sông Hương ở Huế, sông Ngưu Chữ ở Hương Khê; Đầm Cầu Hai; núi Bạch Mã ở Thừa Thiên; Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam; sông Thạch Hãn ở Quảng Trị; núi Linh Phong ở Bình Định; động Phong Nha, Lũng Thầy, sông Gianh, sông Nhật Lệ, núi Đầu Mâu ở Quảng Bình, Đèo Ngang, ranh giới của Hà Tĩnh và Quảng Bình; văn miếu ở Hà Nội…
Các tác phẩm về Huế:
Nước sông Hương sau trận lụt
Trận lụt qua rồi nước vẫn trong
Đá viên Cồn Hến chảy quanh vòng
Dễ thương bầy cá trương vi lượn,Tội nghiệp con cò ngóng cổ trông
Tiếng súng veo vo trên mặt nướcCâu hò lạnh lẽo dưới gành sôngCây đa bến cũ còn lưa đó
Nông nỗi con đò, bạn thấy không…
Bảo Đại thoái vị
Nỏ tiếc không thương cái bệ rồng,Ngự xe cờ đỏ đến Thăng Long
Trải qua non nước nhìn quanh rạng,Ngảnh lại lâu đài bỏ trống không
Gió tạc cành thu, chim ngái tổTrăng soi cửa cấm nhện giăng mùng
Có ai vô Nội cho mình hỏiThần tử còn lưa lại mấy ông?
Câu hò xứ Huế
“Chiều chiều trước bến Vân Lâu
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm
Trang 31Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non”
* * * *
“Tiếng hát Ngư ông, giữa sông Bành Lệ,
Tiếng kêu hàn nhạn giữa ánh Hoành DươngMột mình em đứng giữa sông Hương
Tiếng ca du nữ đoạn trường ai nghe
Nước chảy xuôi, con cá bươi lội ngược
Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang
Thuyền em xuống bến Thuận An
Thuyền anh lại trẩy lên ngàn anh ơi!
Biết ở đâu là câu Ô Thước
Mênh mông nguyện ước, dưới nước trên trời.Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi
Khúc sông quạnh vắng có người sầu riêng
Nước đầu cầu khúc sâu, khúc cạn
Chèo qua Ngọc Trân đến vạn Kim Long
Sương sa gió thổi lạnh lùng
Sóng xao trăng lặng gây lòng nhớ thương
Bên chợ Đông Ba, tiếng gà gáy sáng,
Bên làng Thọ Lộc tiếng trống sang canh,
Giữa sông Hương tiếng sóng khuynh thành,Đêm khuya một chiếc thuyền tình ngửa nghiêng.Thương thì thương, chẳng thương thì chớ,
Làm chi lỡ dở như hẹn nợ thêm buồn,
Bên chùa đã động tiếng chuông
Gà Thượng Thôn đã gáy, chim nguồn đã kêu…”
Trang 32xướng ra trường thơ loạn, trường thơ điên
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ
Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh,
Phong Trần là các bút danh khác của ông Ông có tài năng
làm thơ từ rất sớm Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu
và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này Ông được Phan
Bội Châu giới thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ
báo Sau này, ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì
quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại Ông quyết
định lên Sài Gòn lập nghiệp Năm đó ông 21 tuổi
Lên Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ
báo Công luận Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm
thơ và hay gửi lên báo Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với
nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm Một
tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người [1]
Trang 33Ít lâu sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn và mất khi mới 28 tuổi [2].
Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã
để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, MộngCầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện
Tên của ông được đặt cho đường phố ở Huế và Phan Thiết Có ít nhất hai bài hát được
sáng tác để nói về cuộc đời ông: Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh [3] và Trường ca Hàn
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi Hổn hển như lời của nước mây Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc Nghe ra ý vị và thơ ngây
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Trang 34Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Thi sĩ Chàm
Ta mới thấy xuân vờn trong ánh sáng
Muôn sắc hình múa giỡn dưới ao khuya
Đôi tháp cao kiêu hãnh với hàng bia
Với lau lách ngã mình trong cảnh vắng
Sợ chừng như tiếng rụng của sao băng
Mà vì đâu những tháng Hời kiêu ngạo
Hàng muôn năm sống mãi với đêm sương
Mà vì đâu nghe tiếng bật giữa im lìm
Như mơ tiếc những thời hung bạo
Phải người chăng, bên suối uống mây trôi Phải người chăng, đồi cao đương hoảng hốt Bọc trăng vàng trong áo ngủ quên đi
Để hoàng hôn loang loáng đối oai nghi
Bao dấu vết thời xưa giờ ủ dột
Phải người chăng, thi sĩ của dân Chiêm
Người lắng nghe, lắng nghe trong đáy giếng Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống hư vô
Tiếng ngọc địch n hớ nhung còn uyển chuyển Bên cầu sương lưu đọng ánh trăng mơ
Người thổn thức tiếng buồn bao cảnh sắc
Trang 35Ta không muốn người thôi ca hát
Vì luôn đêm sóng bận réo cung Hằng Người khóc đi, khóc đi cho hả nỗi hờn căm
( trích tập thơ “Điên”)
Các tác phẩm về Huế:
Đây thôn Vĩ Giạ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây, Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay ?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà ?
Bình luận và nhận xét
Đánh giá và bình luận về tài thơ của Hàn Mặc Tử có rất nhiều, sau đây là một số đánh giá của các nhà thơ văn nổi tiếng:
Trang 36"Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu
trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình"
"Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ
biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử."
(Nhà thơ Chế Lan Viên)
"Sẽ không thể giải thích được đầy đủ hiện tượng Hàn Mặc Tử nếu chỉ vận dụng thi pháp
của chủ nghĩa lãng mạn và ảnh hưởng của Kinh thánh Chúng ta cần nghiên cứu thêm lý luận của chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa siêu thực Trong những bài thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử, người ta không phân biệt được hư và thực, sắc và không, thế gian và xuất thế gian, cái hữu hình và cái vô hình, nội tâm và ngoại giới, chủ thể và khách thể, thế giới cảm xúc và phi cảm xúc Mọi giác quan bị trộn lẫn, mọi lôgic bình thường trong tư duy và ngôn ngữ, trong ngữ pháp và thi pháp bị đảo lộn bất ngờ Nhà thơ đã có những so sánh ví von, những đối chiếu kết hợp lạ kỳ, tạo nên sự độc đáo đầy kinh ngạc và kinh dị đối với người đọc."
(Nhà phê bình văn học Phan Cự Đệ)
"Hàn Mặc Tử có khoảng bảy bài hay, trong đó có bốn bài đạt đến độ toàn bích Còn lại là
những câu thơ thiên tài Những câu thơ này, phi Hàn Mặc Tử, không ai có thể viết nổi Tiếc là những câu thơ ấy lại nằm trong những bài thơ còn rất nhiều xộc xệch "
(Nhà thơ Trần Đăng Khoa)
" Theo tôi thơ đời Hàn Mặc Tử sẽ còn lại nhiều Ông là người rất có tài, đóng góp xứng
đáng vào Thơ mới "
Trang 37VÕ QUÊ
Tiểu sử:
Họ và tên : VÕ QUÊ
Các bút danh khác : SAO KHUÊ, QUỲ LÊ
Ngày tháng năm sinh : 7.3.1948
Quê quán : An Truyền, Phú An, Phú Vang, Thừa Thiên Huế
Nơi cư trú hiện nay : 4/4 Kiệt 113 Trần Phú Huế
Điện thoại nhà riêng : 054.823670; DĐ : 0913.408.618
Email: voque@dng.vnn.vn
Công tác hiện nay: Phó Chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt Trung Thừa Thiên Huế, Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Ca Huế Nhà Văn Hóa Huế, Ủy viên UBMTTQVN Thừa Thiên Huế, Thành viên Ban Văn hóa Xã hội HĐND Thừa Thiên Huế (2004-2011)
Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, Hội Nhà Báo Việt Nam, Hội Văn nghệ Dân Gian Việt Nam
Vài nét về quá trình công tác, học tập, sáng tác :
- Từ tháng 01/1971 - 04/1972 : Ban các sự Sinh viên học sinh Huế
- Từ tháng 05/1975 - 12/1976: Cán bộ Ban Tuyên Huấn Thành Ủy Huế
- Từ tháng 01/1977 đến nay: Bí thư Chi đoàn, cán bộ Hội, Chánh Văn phòng Hội, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Đại biểu HĐND thành phố Huế khóa II (1977-1979) và khóa III (1979-1981), Đại biểu HĐND
Trang 38Tỉnh khóa II (1989-1994), khóa IV (1999-2004), khóa V (2004-2009),Chủ tịch Công đoàn Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTQ LHCHVHNT Việt Nam Bí thư Đảng Đoàn, Bí thư Chi bộ, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế (1998-2005)
- Huy Chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam Huy chương Vì sự
nghiệpTrẻ em Huy chương Vì sự nghiệp Công Đoàn, Huy Chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật, Huy Chương Vì sự nghiệp Nhiếp ảnh Huy Chương Chiến sĩ Văn hóa
- Tác phẩm chính đã xuất bản :
Ngựa Ca (tập thơ in chung Trần Dzạ Lữ, Trần Bản Thiểm, 1969); Chị Sáu (truyện ngắn, 1971); Giọt Máu Ta Một Biển Hòa Bình (kịch thơ, 1971); Nguồn Mạch Mới (thơ in chung Thái Ngọc San, 1971); Nhờ Ơn Cây Lúa Lúa Ơi (thơ thiếu nhi 1975); Ngợi Ca (thơ, 1993); Mười Thương Em Bé (thơ, 1993); Khúc Tri Âm (Lời ca Huế, 2000); Thơ Một Thuở Xuống Đường (tập thơ ,2001); Lửa Đường Phố (Hồi ký, 2003);
- Giải thưởng văn học :
- Tập thơ "Mười Thương Em Bé "- Giải C Giải Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ I (1994)
- Tập "Tiếng Hương Bình" sưu tầm lời ca Huế - Giải Khuyến khích Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (1997)
- Tập "Khúc tri âm" lời ca Huế - Giải C - UBTQLHCHVHNT Việt Nam (2001)
-Tập thơ "Thơ Một Thuở Xuống Đường" - Giải thưởng đặc biệt UBTQLHCHVHNT Việt Nam
(2002)
- Suy nghĩ về nghề văn :
"Cuộc sống và tác phẩm văn học là một Nhà văn sống
đẹp, sống tốt với đời, với người để mỗi trang văn, mỗi
tứ thơ luôn lấp lánh hạnh phúc, ngợi ca sự hướng
thiện."