Bài giảng pptx các môn chuyên ngành Y dược hay nhất có tại “tài liệu ngành dược hay nhất”; https://123doc.net/users/home/user_home.php?use_id=7046916. Slide hóa sinh ppt dành cho sinh viên chuyên ngành Y dược. Trong bộ sưu tập có trắc nghiệm kèm đáp án chi tiết các môn, giúp sinh viên tự ôn tập và học tập tốt môn hóa sinh bậc cao đẳng đại học chuyên ngành Y dược
Trang 1
hoá sinh miễn dịch ứng dụng trong chẩn đoán các bệnh
lý miễn dịch, nội tiết, ung thư
Bài giảng pptx các môn chuyên ngành Y dược hay nhất có tại “tài liệu ngành dược hay nhất” ;
https://123doc.net/users/home/user_home.php? use_id=7046916
Trang 2I
Khái niệm chung về hoá sinh miễn dịch:
Dựa theo nguyên tắc của phản ứng miễn dịch:
Kháng nguyên + Kháng thể Phức hợp KN-KT.
Tuy nhiên phức hợp này trong phân tích hoá sinh không thể xác định được, vì hàm lượng các thàh phần cần xác định là quá nhỏ bé Muốn xác định được, cần phải thông qua một chất gắn đặc biệt, tuỳ theo mỗi loại phương pháp phân tích :
Trang 3+ Kỹ thuật ELISA
( Enzyme Liked Immunosorbent assay ):
Chất ghi dấu là enzym
+ Kỹ thuật miễn dịch phóng xạ
(RIA: Radio Immuno Assay)
Chất ghi dấu là đồng vị phóng xạ
+ Kỹ thuật Miễn dịch huỳnh quang
(FIA: Fluorescence Immuno Assay )
Chất ghi dấu là huỳnh quang.
+ Kỹ thuật hoá phát quang
( Luminescence immunoasay),
chất ghi dấu chính là các hợp chất phát quang hoá học ( Chemiluminescence producing compounds)
Trang 41 Xác định các chỉ tố ung thư.
2 Xác định các Virus.
3 Xác định các thành phần hormon ( Nội tiết)
4 Xác định hàm lượng một số loại thuốc
* ứng dụng của hoá sinh miễn dịch:
Trang 5* I/ Chẩn đoán bệnh tuyến giáp
Ngày nay nhờ kỹ thuật hoá sinh miễn dịch hiện đại đã cho phép xác định các hormon tuyến giáp trong huyết thanh.
-Tri iodothyronin toàn phần ( T.T3) ( T= total)
-Thyroxin toàn phần (T.T4)
-Tri iodotyronin tự do (F.T3)( F=Free)
-Thyroxin tự do (F.T4)
Trang 6Trong đó, T3 và T4 ra khỏi tuyến giáp được vận chuyển ở huyết tương kết hợp với các
protein khác nhau, khoảng 60% kết hợp với
Globulin ( TBG= Thyroxin Binding globulin ), 30% được kết hợp với Pre albumin ( Tiền albumin),
10% kết hợp không đặc hiệu với albumin.
Như vậy T3,T4 có ái lực theo thứ tự nhiều hơn đối với globulin, prealbumin rồi albumin Phần
hormon tự do rất ít, khoảng 0,4% đối với T3 và 0,02% đối với T4 Tuy nhiên chỉ có hormon tự do mới có tác dụng sinh học đến tế bào đích.
Trang 7Trị số bình thường của các hormon tuyến giáp như sau: T.T3 : (1,65 0,73 ) nmol/l
T.T4 : ( 88,12 13,20) nmol/l
FT3 : ( 4,89 0,67 ) pmol/ml
FT4 : ( 11,58 2,06 )pmol/ml
Trang 8Hormon tuyến yên: Kích tố tuyến giáp –
giáp, tăng năng tuyến giáp, bình giáp hoặc
thiểu năng tuyến giáp Thông số này được xét nghiệm bằng kỹ thuật siêu nhậy của các
phương pháp miễn dịch phóng xạ, miễn dịch huỳnh quang, hoá phát quang gần đây mới được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam.
Trang 9Trị số bình thường của TSH huyết thanh là
0,25 – 5,0 UI/ml
Trong trường hợp tăng năng tuyến giáp
TSH < 0,15 UI/ml
Trường hợp thiểu năng tuyến giáp TSH >7UI/ml
TSH huyết thanh giúp phân biệt thiểu năng tiên phát ( TSH tăng ) với thiểu năng thứ phát nguồn gốc tuyến yên ( TSH giảm )
Nồng độ TSH trở lại bình thường chứng tỏ việc điều trị bệnh tuyến giáp có hiệu quả.
Trang 10* Chẩn đoán sinh học chức năng tuyến giáp
Bệnh lý tuyến giáp có thể là hình thái học ( bướu giáp,
basedow, viêm tuyến giáp, ung thư tuyến giáp ) hoặc các
chức phận tăng năng tuyến giáp, thiểu năng tuyến giáp, hoặc bình giáp
Trong phần lớn các trường hợp các xét nghiệm hormon
tuyến giáp và hormon tuyến yên có giá trị xác định chức năng tuyến giáp.
Trang 111 Tăng năng tuyến giáp:
Tăng năng tuyến giáp là sự tăng bài tiết liên tục hormon tuyến giáp Sự tăng hormon này không chịu sự điều hoà của sự hằng định nội môi bình thường và không thể kìm hãm được
Dạng tăng năng tuyến giáp tự nhiên thường hay gặp ở phụ nữ tuổi 30 – 50 ( mắc bệnh basedow).
Trang 12nguyên nhân sinh bệnh của bệnh basedow, đó là một bệnh tự miễn.
Rối loạn miễn dịch gây ra những thương tổn của tế bào tuyến giáp.
Rối loạn miễn dịch tế bào có vai trò chủ yếu ban đầu.
Rối loạn miễn dịch dịch thể được biết do thấy có mặt của các kháng thể kháng tuyến giáp trong máu lưu thông Hai loại tự kháng thể có trong 80 – 90 % bệnh nhân bị basedow là kháng thể kháng globulin tuyến giáp và kháng thể kháng microsom.
Sự tăng năng tuyến giáp trong bệnh basedow là do sự kích thích chất thụ thể TSH bởi các globulin miễn dịch Bệnh
Basedow có thể được gọi dưới danh từ “ Tăng năng tuyến giáp tự miễn “
Trang 13Các chỉ số hoá sinh tuyến giáp chẩn đoán tăng năng tuyến giáp
BT BT
Trang 142 Thiểu năng tuyến giáp:
Thiểu năng tuyến giáp là sự giảm bài tiết hormon tuyến giáp, gắn liền với sự giảm chức năng tuyến
giáp, dẫn đến sự giảm chuyển hoá mặc dù nguồn gốc của thiểu năng tuyến giáp Cần phân biệt thiểu năng tuyến giáp tiên phát do tuyến giáp với thiểu năng
tuyến giáp thứ phát Sự khác nhau chủ yếu :
Về lâm sàng, giữa thiểu năng tuyến giáp tiên phát và thứ phát khác nhau ở chỗ, dạng thứ phát không có phù niêm( ngược lại dạng tiên phát có chứng phù
niêm )
Về mặt xét nghiệm hoá sinh, dạng tiên phát TSH
huyết thanh tăng, dạng thứ phát TSH giảm.
Trang 15Về nguyên nhân sinh bệnh của thiêủ
năng tuyến giáp tiên phát: ( có nhiều nguyên
nhân ):
-Nguyên nhân tự miễn, dạng này đ ợc gặp chủ yếu ở phụ nữ sau thời kỳ mạn kinh Chứng phù niêm ở ng ời trẻ dẫn đến viêm tuyến giáp tự
miễn dạng teo
-Nguyên nhân sau phẫu thuật cắt bỏ toàn
phần tuyến giáp ( trong ung th ), cắt bỏ bán
phần tuyến giáp ( trong basedow) hoặc một
phần tuyến giáp ( trong b ớu giáp nhân )
-Nguyên nhân do dùng thuốc kháng giáp trạng tổng hợp Bệnh giảm khi giảm liều dùng thuốc hoặc ngừng thuốc.
-Nguyên nhân do thiếu iod.
Trang 16Về nguyên nhân thiểu năng tuyến giáp thứ phát:
Gắn liền với sự thiếu hụt điều hoà của vùng dưới đồi hoặc tuyến yên, cùng với sự thiếu hụt kích tố TSH cần thiết để kích thích sự phát triển của tế bào tuyến giáp
Thiểu năng tuyến giáp thứ phát có thể riêng biệt hoặc kết hợp với
những thiếu hụt khác, đặc biệt đối với kích tố sinh dục và kích tố
thượng thận Phần lớn các triệu chứng lâm sàng hoặc xét nghiệm , gắn liền trực tiếp đến sự thiếu hụt hormon tuyến giáp
Trang 17
II.Những xét nghiệm chẩn đoán ung thư
- Chỉ tố ung thư (CTUT)
CTUT là những phân tử mà sự biến đổi nồng độ hoặc sự xuất hiện của nó phản ánh những rối loạn chuyển hoá tế bào, liên quan đến bệnh sinh
và sự phát triển của ung thư.
Có 2 loại CTUT:
* CTUT tế bào
* CTUT thể dịch
Trang 18Đặc điểm của chỉ tố ung thư:
* Đặc hiệu
* Nhậy
* Chẩn đoán sớm
* Đặc hiệu với cơ quan
* Xác định được giai đoạn ung thư
* Tiên lượng mức độ ung thư
* Đánh giá hiệu quả điều trị
Trên thực tế:
-Không phải CTUT nào cũng có giá trị chẩn đoán sớm
Vì thực tế phải làm xét nghiệm sàng lọc hàng loạt Điều này chưa thực hiện được
Riêng PSA được coi là chẩn đoán sớm ung thư tiền liệt tuyến, AFP chẩn đoán sớm ung thư gan
Trang 19Chẩn đoán ung thư phổi :
1 Cyfra 21-1 (Cytokeratin-19 fragment 21-1)
*Bản chất là các mảnh Cytokeratin 19, chủ yếu ở mô phổi, nên đặc hiệu với mô này.
Cytokeratin là protein làm giá đỡ không tan của tế bào Nhưng mảnh của Cytokeratin như Cyfra 21-1 thì tan trong huyết thanh.
* Giá trị của Cyfra21-1: Khi tăng trong huyết thanh, có vai trò chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ.
* Độ đặc hiệu của Cyfra 21-1 đối với ung thư TB nhỏ của phổi là 95%-100% Độ đặc hiệu này tăng hơn khi xét nghiệm phối hợp với
XN CEA ( Một CTUT đa dòng, thường hay dùng xét nghiệm để chẩn đoán ung thư dạ dầy ).
Nồng độ bình thường trong huyết thanh là 0-4ng/ml
Trang 20Chẩn đoán ung thư hệ thống tiêu hoá
1 CA 72-4 ( Carbonhydrate antigen 72-4: Kháng nguyên đ 72-4)
CA72-4 còn gọi là TAG72 (Tumor associated glycoprotein 72)
* Bản chất là glycoprotein liên kết ung thư, tìm thấy trong
Adenocarcinom đường tiêu hoá chủ yếu là dạ dầy, buồng trứng, phế quản.
* Giá trị xét nghiệm: CA72-4 đặc hiệu hầu như 100% với ung thư dạ dầy,hơn hẳn CEA và CA19-9.
Nếu phói hợp với xét nghiệm CEA, CA19-9 sẽ làm tăng giá trị chẩn đoán
Nòng độ bình thường của CA72-4 trong huyết thanh là: 2,26 0,75 U/ml.
Trang 21Chẩn đoán ung thư hệ thống tiêu hoá
2 CEA ( Carcino-Embryonic Antigen : Khámg nguyên carcinom phôi).
* Bản chất CEA là một glycoprotein gồm thành phần đ carbon và một
chuỗi polypeptit CEA được sản xuất trong thời gian phôi thai, mã hoá bởi
14 gen Sau khi sinh ra, sự sản xuất này bị kìm hãm nên xuất hiện rất ít trong huyết thanh người Trong trường hợp ung thư, nhất là ung thư
đường tiêu hoá, do sự giải kìm hãm ở các u, nên CEA được tăng cường sản xuất, tăng lên trong máu
* Giá trị cuả CEA trong chẩn đoán ung thư:
Nó là một loại CTUT đa dòng, không đặc hiệu cho một cơ quan nhất định
Tuy nhiên CEA vẫn là một chỉ tố quan trọng nhất của adenocarcinom đại tràng và trực tràng CEA còn có vai trò trong chẩn đoán ung thư dạ dầy, tuỵ, phổi, buồng trứng, cổ tử cung khi phối hợp xét nghiệm với một số CTUT khác.
Nồng độ bình thường của CEA trong huyết thanh là :
0,78-4,26 ng/ml.
Trang 22Chẩn đoán ung thư hệ thống tiêu hoá
3 CA19-9 ( Carbonhydrate Antigen19-9: Kháng nguyên hydrat
carbon 19-9):
*Bản chất: Là một Glycolipid có ở biểu mô phôi thai, trong
máu, nước tiểu, nước bọt, dịch dạ dầy, dịch tuỵ, dịch mật, dịch tá tràng, dịch ối, tinh dịch.
* Giá trị của CA 19-9: Có giá trị nhất trong chẩn đoán ung
thư tuỵ Nếu phối hợp xét nghiệm CA72-4 và CEA
thì có giá trị chẩn đoán ung thư dạ dầy.
CA19-9 rất có giá trị trong theo dõi tiến triển và điều trị ung
thư tuỵ
Nồng độ bình thường trong huyết thanh là:
29,56 U/ml
Trang 23Chẩn đoán ung thư gan:
AFP (Alpha- Fetoprotein)
* Bản chất là một Glycoprotein có một chuỗi polypeptid, thuộc nhóm protein
phôi thai AFP được tổng hợp ở gan phôi thai và túi noãn hoàng, rồi đổ vào dịch ối, đi qua rau thai và vào máu mẹ.
AFP cao nhất vào tuần thứ 13, sau đó giảm dần trong máu mẹ.
* Giá trị của AFP: Có giá trị nhất để chẩn đoán và theo dõi điều trị Hepatom, độ
đặc hiệu 95-100%, độ nhậy 90-95%
-Trong ung thư gan, AFP tăng rất cao, thậm chí có thể tới 1000.000U/ml.
-Trong trường hợp ung thư ở nơi khác di căn vào gan, AFP cũng tăng nhưng
không vượt quá 400U/ml.
- AFP hay được dùng để phát hiện sớm ung thư gan ở những người có nguy cơ
cao như : nghiện rượu,Viêm gan B mạn tính,Viêm gan C mạn tính, Xơ gan
Nồng độ AFP bình thường trong máu: 8,5 IU/ml
Trang 24Chẩn đoán Ung thư vú:
1 CA 15-3 ( Carbonhydrate antigen 15-3: Kháng nguyên hydrat
carbon 15-3)
* Bản chất: Là một glycoprotein, có ở biểu mô các tế bào tiết và
chất tiết của người bình thường
* Giá trị chẩn đoán trong ung thư vú, với độ đặc hiệu 95% Nó có
tác dụng phát hiện sớm hơn đối với kỹ thuật chụp vú là 4-7 tháng.
Nếu kết hợp với CEA thì giá trị chẩn đoán được tăng lên.
Nồng độ của CA 15-3 bình thường là 2,14-28,34 UI/ml.
Trang 25Chẩn đoán ung thư buồng trứng:
CA125 ( Carbonhydrate Antigen 125: Kháng nguyên hydrat carbon 125)
* Bản chất: Là một Glycoprotein, tìm thấy trong các dẫn xuất biểu mô của đại
tràng phôi thai, biểu mô phế quản, thanh quản của phôi thai.
* Giá trị của CA125 là chẩn đoán và theo dõi điều trị Carcinom buồng trứng
Nồng độ chỉ tố tương quan với khối u, phản ánh đúng diễn biến lâm sàng
Có thể tăng gấp hàng trăm lần bình thường.
Tuy nhiên cần kết hợp với xét nghiệm CEA và CA72-4 để tăng giá trị chẩn
đoán.
Nồng độ bình thường của CA125 trong máu là 35UI/m
Trang 26Chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến
1 PSA ( Prostate- Specifie Antigen: Kháng nguyên đặc hiệu của
tuyến tiền liệt)
* Bản chất: Là một glycoprotein, do mô tuyến tiền liệt sản xuất
* Giá trị của PSA: đặc biệt quan trọng, vì đây là một chỉ tố hiếm
hoi được coi là chẩn đoán sớm ung thư, đặc hiệu với tuyến
tiền liệt.
Nó được dùng làm xét nghiệm sàng lọc cho nam giơí ở tuổi trên
50 Thường người ta chỉ cần làm xét nghiệm PSA là đủ để xác định ung thư tiền liệt tuyến Nhưng trong trường hợp cần phân biệt với viêm, phì đại tuyến tiền liệt, nên phối hợp với PAP.
Trang 27
Chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến
Nồng độ bình thường của PSA tăng dần theo tuổi:
- 40-49 tuổi : 0-2,5ng/ml
-50-59 tuổi : 0-3,5ng/ml
-60-69 tuổi : 0-4,5ng/ml
-Trên 70 tuổi: 0-6,5ng/ml
2 PAP ( Prostatic Acid phosphatase)
* Bản chất là một glycoprotein được sản xuất từ biểu mô tuyến
Trang 28xin chân thành cám ơn