1. Trang chủ
  2. » Địa lý lớp 11

TẬP SAN VĂN HỌC ĐỊA PHƯƠNG

77 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 5,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống trụ biểu cũng chính là lối ra vào đình, trụ biểu có hình khối vuông gồm có 4 trụ, hai trụ chính giữa cao 5,4m, hai trụ hai bên cao 5,1m, được xây dựng bằng chất liệu ximăng cốt [r]

Trang 2

Lời nói đầu Xin chào các bạn!

Môn Văn học địa phương trong chương trình Trung học cơ sở có vai trò quan trọng nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về văn hóa, lịch sử địa lí, kinh tế xã hội, môi trường, hướng nghiệp…của địa phương Từ đó bồi dưỡng thêm về tình yêu quê hương, đất nước Hôm nay chúng tôi muốn giới thiệu đến các bạn học sinh cuốn tập san “Văn học địa phương cấp THCS” Hi vọng cuốn tập san sẽ mang lại nhiều kiến thức để giúp các bạn phát huy hiệu quả trong việc học tập của mình.

Cuốn tập san gốm năm phần cơ bản:

Phần 1: Giới thiệu về chủ đề và hệ thống nội dung học tập văn học địa phương trong chương trình THCS

Phần 2: Một số di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa phương

Phần 3: Giới thiệu một số câu ca dao dân ca, điệu hò, lễ hội ở địa phương Phần 4: Giới thiệu một số tác giả ở địa phương và tác phẩm chính

Phần 5: Giới thiệu phương ngữ

.

Trang 3

Phần 1: Giới thiệu về chủ đề và hệ thống nội dung học tập văn học địa phương trong chương trình THCS.

Tiết theo

kế hoạch học tập Yêu cầu về nội dung học tập Giới thiệu về di tích

lịch sử, danh lam

thắng cảnh ở địa

phươn

Ngữ văn 6

Tiết 137, 138:

Chương trình địa phương phần Văn

và Tập làmvăn

Tìm hiểu những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa phương,

- Ý nghĩa lịch sử

- Giá trị về kinh tế, văn hó giáo dục, du lịch của di tích

- Ý nghĩa giáo dục của di tích

Tìm hiểu thơ ca, điệu

hò, lễ hội ở địa

phương

Ngữ văn 6

Tiết 70, 71:

Chương trình Ngữ văn địa phương

Giới thiệu trò chơi dân gian:

và Tập làmvăn

Sưu tầm những câu ca dao tục ngữ lưu hành ở địa phương mình

Tìm hiểu các tác giả ở

địa phương và những

Ngữ văn 8

Tiết 62:

Chương trình địa

Lập bảng danh sách các nhà văn, nhà thơ quê ở thành phố, tỉnh (hoặc quận, huyện) nơi em đang

Trang 4

tác phẩm chính phương

phần Văn

sinh sống có sáng tác từ năm 1975 đến nay, theo trình tự: họ tên, bút danh (nếu có), năm sinh, năm mất (nếu đã mất) và tác phẩm chính

Ngữ văn 9

Tiết 37:

Chương trình địa phương phần Văn

Tìm đọc các sách, báo, tạp chí văn nghệ địa phương để nắm những tácgiả người địa phương và những tácphẩm viết về địa phương

Phương ngữ

Ngữ văn 8

- Tiết 29, tiết 138:

Chương trình địa phương phần Tiếngviệt

- Tìm hiểu một số phương ngữ ở địa phương và từ ngữ toàn dân tương ứng

- Tìm hiểu phương ngữ chỉ người ruột thịt

Ngữ văn 9

Tiết 65, tiết 148:

Chương trình địa phương phần Tiếngviệt

Hãy tìm trong phương ngữ em đang sử dụng hoặc trong một phương ngữ mà em biết những từ ngữ chỉ các sự vật, hiện tượng… không có tên gọi trong phương ngữ khác và trong ngôn ngữ toàn dân

Phần 2: Giới thiệu một số di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa phương

1 Lăng Khải Định

Trang 5

Lăng Khải Định (Ứng Lăng), nằm trên triền Tây-Nam của một quả núi thuộcvùng núi Châu Ê, thuộc làng Châu Chữ, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.Lăng Khải Định được công nhận là Di tích Nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 1979theo Quyết định số54-VH/TTQĐ ngày 29-4-1979 Di tích cách trung tâm thành phốHuế khoảng 8 km.

Vua Khải Định là vị vua thứ 12 của triều Nguyễn Ông tên thật là Nguyễn PhúcTuấn (tên Tuấn là do chọn chữ thứ 9 trong Kim sách), tên húy là Nguyễn Phúc BửuĐảo Ông là con trai trưởng của vua Đồng Khánh (Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế) và bàTiên Cung Dương Thị Thục (Hựu Thiên Thuần Hoàng Hậu) Ông sinh ngày 8-10-

1885, đúng vào năm Kinh đô Huế thất thủ, chủ quyền đất nước hoàn toàn rơi vào taythực dân Pháp

Năm Giáp Tý (1924), vua Khải Định mắc bệnh nặng nhưng vẫn tổ chức lễ Tứtuần Đại khánh (thọ 40 tuổi) hết sức long trọng và tốn kém Ngày 20 tháng 9 năm ẤtSửu (6-11-1925), vua Khải Định băng hà, thọ 41 tuổi (tuổi âm lịch) Ông được vuaBảo Đại truy tôn thụy hiệu là Hoằng Tông Tự Đại Gia Vận Thánh Minh Thần TríNhân Hiếu Thành Kính Di Mô Thừa Liệt Tuyên Hoàng Đế.Vua Khải Định được thờtại Thế Miếu (án thứ 3 bên phải), điện Phụng Tiên và tại lăng Khải Định (Ứng Lăng)

Để chuẩn bị cho cuộc sống kiếp sau của mình, từ năm 1920, vua Khải Định đã quyếtđịnh cho xây dựng một khu lăng đồ sộ ở triền núi Tây-Nam của một hòn núi đá thuộcdãy núi Châu Ê

Trong suốt 11 năm ấy vua Khải Định đã huy động nhiều binh lính thợ thuyền

và tù nhân lên đây làm việc khổ sai, mở đường phá núi, làm toại đạo, tạo ra mặt bằngxây dựng ở triền phía Tây của một ngọn núi thuộc vùng Châu Chữ Tất cả mọi người

và mọi việc xây lăng đều đặt dưới sự điều khiển của điền quân Đô thống phủ Lê Văn

Bá Nhà thầu khoán Nguyễn Thành Hưng coi về vật liệu xây dựng Ông Bang Phuđiều hành về nhân sự Triều đình đã đưa tất cả thợ thủ công có tay nghề cao nhất trong

“Nê ngõa tượng cuộc” lên đây làm việc dài hạn

Lăng Khải Định được khép kín trong 1 khuôn tường thành hình chữ nhật dài117m; rộng 48,5m, diện tích hơn nửa ha, gồm 10 công trình kiến trúc chính Toàn bộlăng đều được làm bằng xi-măng cốt sắt, chạy thẳng theo một trục dọc và không chiathành từng khu vực khác nhau

Lăng Khải Định có hình chữ nhật chạy thoai thoải từ dưới chân núi lên tới lưngchừng Bao quanh lăng là hệ thống hàng rào chắn song đắp nổi bằng xi-măng cốt sắt,cao 2,97m Riêng phần phía sau lăng được bao che bằng tường kín hình vòm dựa theothế khum của đỉnh núi phía sau Tường xây mặt ngoài trang trí kiểu tổ ong (ô hình lụcgiác)

Trước lăng là cửa chính ra vào gồm 3 lối đi Dẫn lên cửa gồm có 37 bậc cấp,chia 3 lối lên Thành bậc giữa các lối lên là các con rồng đắp bằng gạch vữa, uốn lượndọc theo hai bên lối đi theo hướng từ trên xuống dưới với dáng vẻ dữ tợn, miệng ngậmngọc, hai chân trước đưa ra giữ quả cầu tròn có các vân xoắn và hoa văn hình sóng

Trang 6

nước bao quanh So với các lăng khác, lăng vua Khải Định có độ dốc cao, các bậcthềm choán toàn bộ mặt trước của lăng nên 4 con rồng này cũng rất lớn, cân xứng vớikích thước bề thế của bậc cấp Rồng đắp bằng vật liệu vôi gạch và xi măng chứ khônglàm bằng đá nên các chi tiết có phần không được sắc sảo, thanh thoát bằng rồng ở cáclăng khác, mà có phần thô và xấu hơn.

Cửa vào lăng gồm 3 lối vào, đóng khép bằng 2 cánh cửa sắt, cửa giữa rộng5,70m, cửa 2 bên rộng 4,70m nền lát đá Thanh Trụ cửa được làm theo hệ thống képtròn ở hai bên ấp vào hai trụ vuông khác nhau Đỉnh trụ tròn là một búp nhọn như bútlông đặt trên 5 tầng hình lọng, quanh các tầng tròn chia ô chạm hoa quả Thân trụ trònđắp hình nổi, đế trụ trang trí hoa quả Hai trụ vuông sát nhau, đỉnh chia hai tầng, trên

là quả cầu tròn, dưới là lồng đèn bổ 4 trụ, để rỗng lòng Cả hai tầng mái đắp vân xoắn.Thân trụ vuông trang trí câu đối khảm trai với các đường riềm chữ vạn và hoa lá baoquanh, đế trụ chia ô đắp nổi chữ Thọ Ở 2 cửa bên trục vuông chỉ có mặt trong

Từ sân Tả, Hữu Tùng tự dẫn lên Bái đình là hệ thống 29 bậc cấp xây gạch trátvữa chia thành 3 lối đi Thành bậc đắp 4 con rồng giống như 4 con rồng ở hệ thống bậccấp lên cửa lăng nhưng 2 chân trước của các con rồng này không giữ quả cầu

Lên hết 29 bậc cấp ta đi tới Bái Đình, đây là một sân rộng lát gạch carô, bó nền

là đá hộc xây theo kiểu tổ ong lục giác Sân hình chữ nhật, có diện tích là 40,5m x47m Mặt trước sân là tường bao gạch hoa đúc rỗng hình triện Chính giữa tường lànghi môn đắp vôi vữa chia 3 lối vào có bề rộng tương ứng với 3 lối đi lên của bậc cấp.Cột nghi môn, đình xây kiểu hình tháp đội quả cầu tròn có những vân xoắn nổi hìnhrồng cuốn bằng vôi vữa Đế cột đắp vuông giật cấp, 4 mặt đế là 4 ô hộc trang trí nhữngtrái cây mang ý nghĩa cầu phúc Hai cột ở giữa nối với nhau bằng một chương có haidải chia thành nhiều ô hộc Mặt chương đắp nổi chữ thọ, đình chương đắp nổi “lưỡnglong chầu nhật” Mặt trời được đặt trên đế mây cụm xoắn Phần chương nối cột của 2cửa 2 bên chỉ trang trí mây cụm đỡ mặt trời đang bốc các đao lửa

Hai bên sân thiết trí mỗi bên hai hàng tượng, hàng trước có 2 tượng quan văn, 2tượng quan võ, hai hàng sau gồm 4 tượng lính, 1 voi và 1 ngựa đều được làm bằng đáthể hiện theo kiểu chân dung tả thực

Chính giữa Bái đình, nằm sát tầng sân trên của lăng là tòa Bi đình hình bát giácdựng bằng bê tông cốt sắt, nền được lát đá cẩm thạch Phần nền phía ngoài lát gạch ca

rô, mái lợp ngói ardoise chia làm hai tầng Bao quanh nhà bia là tường lan can hình bátgiác, một mặt tường kín nằm cạnh một mặt mở một lối vào, hai bên trổ hai cửa trụ trònđặt trên đế vuông Các góc tường cũng được bổ trụ như vậy Phần trụ tròn được đắpnổi hình rồng Phần đế vuông trang trí các chữ thọ và chữ vạn cách điệu thể hiện theokiểu chữ triện Nối trụ tròn với đế vuông là một dấu vuông thót đáy, xung quanh trangtrí hình lá cách điệu Dẫn lên Bi đình là 3 bậc cấp, thành bậc đầu có rồng chầu đắpbằng vôi vữa Nhà bia được chia hai tầng mái Bờ nóc đắp hình mặt trời, hổ phù vàhình rồng Phần tường bao quanh 4 phía trổ 4 cửa vòm để ra vào, phần tường còn lại

Trang 7

phía trên đắp nổi hổ phù hai bên có dơi chầu Các góc tường bổ trụ tròn đắp nổi hìnhrồng Trong lòng nhà có 4 trụ bát giác đỡ phần trần Chính giữa nhà là tấm bia bằng đáThanh đặt trên hai cấp nền xi-măng Bia chỉ khắc chữ ở mặt trước và được trang trínhư bia ở các lăng khác Bia có chiều cao 3,10m; rộng 1,20m, bệ bia cao 0,76m; rộng0,85m; dài 2,1m được chia làm hai phần Phần trên hình vỏ măng trang trí bát bửu xengiữa hồi văn chữ triện, phần dưới chạm mặt hổ phù, 4 góc chạm thao thiết

Hai bên góc trong Bái đình dựng hai trụ biểu bằng bê tông cốt sắt, phần nềnvuông có kích thước 3,70m x 3,70m Bao quanh trụ biểu là tường lan can 4 góc bổ trụvuông, đỉnh trụ là 2 đấu vuông thớt đáy úp chồng lên nhau Phần giữa hàng lan can 4mặt đều trổ cửa dẫn vào trụ biểu với 6 bậc cấp lên xuống có lân chầu ở hai bên phíatrước và sau Hai bên lối vào cũng bổ trụ vuông, các trụ đều trang trí bát bửu Đế trụvuông mở rộng hơn thân trụ và chia làm hai phần, phần dưới rộng hơn xung quanhtrang trí hai lớp vân xoắn và hoa cúc cách điệu bao quanh khung hình chữ nhật, phầntrên là các ô lõm hình bầu dục Bốn góc đế bổ trụ vuông, đỉnh hình tháp nhọn đầu chialàm nhiều tầng Trên đế là thân trụ, 4 góc có bổ trụ tròn có các đường xoi bao quanh.Phía trên thân trụ trang trí hoa lá xen với các vân xoắn Mặt thân trụ ở trên là một bônghoa lớn kết hình mặt hổ phù, viền hai bên là những dải lá cách điệu Phần giữa mặtthân trụ để trơn có đắp các gờ nổi Phía dưới của thân trụ có đắp các sóng song hàng.Trên thân trụ là tầng vuông có lan can bao quanh, 4 góc bổ 4 trụ tròn, có nhiều rãnh ănsâu vào trụ tròn Mỗi mặt lan can đều mở 3 cửa giống kiểu khám thờ Trên tầng này làmột hàng hoa lá đắp nổi đỡ mặt hổ phù phía trên với 4 góc là 4 con giao Nằm trên mặt

hổ phù là một tháp chuông 4 tầng Tầng dưới cùng thiết trí với các chỉ chìm trang trí.Tầng thứ hai chính giữa mỗi mặt là một chùm nho rủ xuống, xung quanh đắp nổi hoa

lá Tầng thứ 3 chính giữa mỗi mặt là đôi rồng chầu vào giữa, các góc trang trí các congiao chạy ra Tầng trên cùng các mặt đắp nổi chữ Thọ, phía trên là các vân xoắn loe ranhư mái nhà Trên tầng này là đỉnh trụ biểu hình tháp tròn nhọn mũi chia làm 6 tầngngăn cách nhau bằng một đường gờ Các mặt trụ đều được quét vôi màu xám giả đá

Tiếp theo Bái đình là 3 tầng sân nền lát gạch carô trắng dẫn lên cung ThiênĐịnh Tầng sân dưới rộng 47m, dài 12,50m, bó nền bằng đá hộc trang trí hoa văn tổong Tầng sân này ngăn cách với Bái đình bằng hàng lan can gạch trát vữa xoi thủnghình triện có trổ lối lên ở hai bên với 13 bậc cấp lên xuống Thành hai bên bậc cấp đắprồng chầu bằng vôi vữa Riêng phần lan can nằm phía sau nhà bia được thể hiện thànhmột bình phong lớn có đế làm theo kiểu hình sập chân quỳ Mặt bình phong để trơn,phần viền quanh trang trí bát bửu, hoa lá, hồi văn chữ triện Trước bình phong là bểtrồng hoa xây gạch trát vữa hình chữ nhật Phần dưới bể cũng được xây kiểu sập chânquỳ, các mặt bể được đắp mặt hổ phù Hai bên sân thiết trí những bồn hoa xây đốixứng nhau

Từ tầng sân dưới qua 13 bậc cấp với 3 lối đi là tới tầng sân thứ 2 có chiều rộng47m, dài 9,50m Hai bên thành có các lối lên đều có rồng chầu Phía hai bên sân cũng

có các bồn hoa như tầng sân phía dưới Hai góc sân phía trong thiết trí hai cột cờ Tầng

Trang 8

sân thứ 2 qua 13 bậc cấp chia 3 lối lên là tới tầng sân trên cùng có kích thước dài8,90m, rộng 47m không trang trí Hai mặt hàng rào chắn song ở hai bên, mỗi mặt mởmột cửa hông để thông ra bên ngoài khu vực lăng Cửa rộng 1,25m được đóng khépbằng hai cánh cửa sắt.

Cung Thiên Định là công trình kiến trúc lớn nhất trong khuôn viên lăng KhảiĐịnh Trong khuôn tường hình chữ nhật chạy thoai thoải từ thấp đến cao, cung ThiênĐịnh nằm ở phía cuối trục thần đạo nơi cao nhất của lăng Khải Định Ngay trước mặtThiên Định cung là 3 tầng sân nằm sau Bái đình Hai bên hông và sau cung ThiênĐịnh là một hệ thống hành lang ăn thông với nhau Hành lang này được tạo thành bởitường bao che của cung Thiên Định và hệ thống hàng rào chắn quanh lăng Nền hànhlang lát gạch carô rộng 6,20m Tường bao che mặt trước cung Thiên Định, phía haiđầu tường gắn liền với hàng lan can gạch trát vữa nối hàng chắn song bao quanh lăng.Khoảng giữa của hàng lan can này trổ 1 lối đi với 13 bậc cấp thông vào hệ thống hànhlang bao quanh cung Thiên Định Thành hai bên bậc cấp đều có rồng chầu bằng gạchtrát vữa

Cung Thiên Định chia làm 5 phòng, hai bên Tả, Hữu trực phòng giữa là điệnKhải Thành, Chính tẩm và hậu điện Toàn bộ cung Thiên Định có kích thước dài34,50m, rộng 26,40m Nền nhà lát bằng đá Cẩm thạch, mặt trước bó vĩa bằng đá hộctrang trí kiểu tổ ong lục giác với 15 bậc cấp dẫn lên có rồng chầu ở hai bên thành Hệthống bậc cấp này có chiều rộng chạy suốt 3 gian giữa và không chia lối lên

Toàn bộ tường nhà được đúc bằng bê tông cốt sắt, chỉ trang trí ở mặt trước, 3mặt còn lại để trơn Tường hai bên hông mỗi bên mở 3 cửa ra vào được đóng khépbằng 4 cánh cửa gỗ Mặt tường trước mở hai cửa sổ ở hai bê gian Tả, Hữu trực phòng,

và mở 3 cửa ra vào ở 3 gian giữa, với cửa chính rộng 3,76m, hai bên rộng 2,97m Cáccửa đều được đóng khép bằng 4 cánh kiểu cửa bảng khoa nhưng phần dưới ghép vánchạm lá hóa long, phần trên lắp kính chia hai ngăn: ngăn trên một tấm kính, ngăn dưới

3 tấm kính Hiện nay các tấm kính đã vỡ hỏng hết, thay vào đó là mica và lưới thépđược làm trong các lần trùng tu sau này, nhưng cũng chỉ còn một vài tấm mà thôi, sốcòn lại đã hư hỏng Ngoài các tấm kính là lớp sắt uốn theo hình hoa lá Phần tườngngay phía trên cửa là vòm tròn giật sâu vào lòng nhà so với mái dưới đắp nổi hoa lá,trên đắp mặt hổ phù, hai bên có 2 con dơi ngậm kim tiền Hai bên cửa là tường bao cheđược trang trí bằng hồi văn triện chữ vạn Ba gian giữa được ngăn cách nhau bởi cáctrụ tròn nổi trên nền tường Đế trụ vuông giật cấp ở các gờ nổi chung quanh, còn phầnlõm ở giữa là chữ triện xoi thủng Thân cột đắp nổi hình rồng cuốn Đỉnh cột đắp búpsen đặt trên lồng đèn có các gờ nổi chạy quanh Lòng lồng đèn trang trí đồ thờ, hoaquả thiêng, dưới chân lồng đèn đắp nổi hoa lá Phần tường phía trên cửa đắp ô hộc nổihai hàng chạy suốt 3 gian giữa, ô chính giữa gian giữa đắp 3 chữ Hán, phiên âm:

“Thiên Định Cung”, dịch nghĩa: “Cung Thiên Định” Ô giữa gian bên trái là 4 chữ,phiên âm: “Vĩ khí chí cương”, dịch nghĩa: “Phải có chí khí thật vững chắc”; ô gian

Trang 9

giữa bên phải là 4 chữ, phiên âm: “Kỳ đức khắc hiển”, dịch nghĩa: “Sống có đạo lý sẽđược hiển vinh”.

Mặt trước của hai gian Tả, Hữu trực phòng được kiến trúc kiểu 2 tầng mái Bờnóc tầng trên trang trí lưỡng long chầu nhật Các bờ dải đều có rồng chầu Thân tầngnày 4 góc đều có bổ trụ trang trí cây cối, bát bửu quanh thân trụ Chính giữa tầng trên

là một ô tròn, trong ô đắp nổi mặt hổ phù, ô chữ nhật lồng ngoài ô tròn trang trí hồivăn, các văn vuông lục giác Đế tầng trên đắp nổi các cành nho, cúc Tầng dưới các bờdải cũng có rồng chầu Thân tầng viền quanh là hồi văn chữ triện xoi thủng, giữa làcác ô hộc đắp nổi, ô chính giữa phần dưới mái gian bên tả có 4 chữ: “Vi nhân do kỷ”,dịch nghĩa: “Sống có lòng yêu thương kẻ khác là do ở nơi mình”, ô giữa gian bên hữulà: “Dĩ lễ chế tâm”, dịch nghĩa: “Dùng lễ để giới hạn lòng ham muốn của mình” Phầnchân của tầng này thiết trí các ô hộc lõm sâu, trong đắp nổi lư hương, ống bút, ấm trà Chương cửa là mặt hổ phù, hai bên có hai con dơi ngậm kim tiền, trên mặt chương cửađắp nổi hoa lá cách điệu Tường mặt trước của hai gian này cũng được trang trí giống

3 gian giữa Chính giữa tường trổ cửa sổ lớn Hai bên cửa bổ trụ, mặt cột trụ thể hiệncác câu đối theo chiều dọc

Hai cửa hai bên thông vào hàng lang cung Thiên Định làm kiểu một tầng mái.Chính giữa bờ nóc mái thiết trí bầu rượu với các vân xoắn bay từ miệng bầu rượu Haiđầu bờ nóc là hồi long, bốn bờ dải đắp 4 con giao Thân cửa phía trên là bức phù điêuđắp nổi hoa lá Hai bên cửa sổ trụ trang trí cây cối như trúc, tùng Hai bên góc cửa,chương cửa là dơi ngậm kim tiền Vòm trên đỉnh là cung tròn trang trí nhiều tia dàingắn đang bay lên

Ba mặt tường bao che còn lại của cung Thiên Định để trơn không trang trí Mặttường hai bên hông, mỗi bên mở 3 cửa ra vào hình chữ nhật được đóng khép bằng 4cánh cửa gỗ Sau cung Thiên Định hai bên có 2 cầu thang lộ thiên dẫn lên tầng nền caocủa hành lang phía sau

Mái cung Thiên Định lợp ngói ardoise, nhưng do trận bão năm 1985, ngói bị hưnên hiện nay được đúc bằng xi măng Chính giữa bờ nóc được đặt cột thu lôi, 2 đầu làhồi long Bờ quyết 4 góc đắp 4 con rồng chầu

Chân tường là băng ngang chạy quanh 4 mặt trang trí triện gấm chữ vạn xemvới các ô chữ nhật, có hai đầu cong trong chạm rồng, ô nhỏ 1 con, ô lớn 2 con kiểu hồilong đối nhau Phần tường phía trên băng ngang nằm xen giữa các cửa là các bức tranhbằng sành sứ ghép với nhiều đề tài khác nhau đứng dọc theo tường

Nằm xen giữa 3 cửa ra vào ở mặt tường trước là 2 bộ tranh ghép mảnh sành sứ,mỗi bộ 3 bức có đề tài giống nhau với bố cục đăng đối nhau qua bộ cửa chính giữa dẫnvào Khải Thành điện Hai bức tranh nằm sát hai bên cửa giữa thể hiện hai cây trúcnằm trên giả sơn Phần gốc là một bụi trúc gồm nhiều cây lớn nhỏ, có thân chia nhiềuđốt ghép bằng những mảnh thủy tinh màu nâu nhạt Lá trúc nhọn đầu bằng các mảnhthủy tinh xanh nhạt

Trang 10

Mặt tường phía sau, nằm xen giữa 3 cửa thông vào chính tẩm cũng là hai bộtranh đứng dọc tường mỗi bộ gồm 3 bức tranh có bố cục đối nhau qua cửa chính giữa.Hai bức đứng sát hai bên cửa giữa thể hiện đề tài tùng lộc Thân tùng gồm hai nhánhnhô lên từ một hòn giả sơn, với 1 nhánh xuất phát từ gốc và một nhánh đi vòng chỉxuất hiện ở phần ngọn Cả hai nhánh thân cây đều được gắn thủy tinh màu sẫm Látùng thể hiện kiểu lá cụm, mọc đứng theo thân do nhiều mảnh thủy tinh nhỏ màu xanhđậm gắn thành

Chính giữa nhà chính tẩm là tượng vua Khải Định đúc bằng đồng mạ vàng đangngồi trên ngai vàng Tượng được đặt trên 3 tầng cấp bằng xi măng Trên tượng là bửután bằng xi-măng cốt sắt nặng 1 tấn, ngoài ghép sành sứ được treo trên trần trông rấtđẹp mắt Ngay dưới tượng, sâu dưới 8m là mộ vua Khải Định Quanh tường đặt một sốvòng hoa bằng thiếc dát mỏng của người Pháp đi điếu vua Khải Định năm 1925

Gian thờ vua Khải Định là phòng trong cùng nằm ngay sau chính tẩm và caohơn nền chính tẩm 1,70m Đây là căn phòng chữ nhật có chiều rộng 16m; dài 7,55m.Nền nhà lát đá hoa, trần vẽ cửu long ẩn vân Mặt tường trước mở ba cửa nhìn ra chínhtẩm, nhưng hai cửa hai bên không có lối lên, cửa giữa trổ bậc cấp xuống hai phía, mỗiphía 8 bậc Mặt tường hai bên, mỗi bên trổ một cửa thông với Tả, Hữu trực phòng, cóbậc cấp lên xuống Tường mặt sau trổ hai cửa sổ nhỏ ở hai bên nằm gần sát trần nhà

Hệ thống tường bao quanh gian thờ chia 2 phần Phần dưới từ mặt nền lên trên0,70m, trang trí ô hình lục lăng dạng tổ ong, giữa mỗi ô có một bông hoa cánh trắngnhụy hồng Phần tường trên tới sát trần trang trí hồi văn triện chữ Vạn, xen vào đó làcác chữ Thọ tròn cách điệu nằm cách đều khắp 4 mặt tường Tường trên các cửa ở mặttường đắp một mặt hổ phù lớn Các phần nối nhau giữa các cửa trên tường đều đượcthể hiện tam sơn đắp nổi, trên tam sơn đặt lư hương, bình hoa, bát bửu và nhiều đồthờ khác Ứng với mỗi tam sơn phía trên là mặt hổ phù Nối giữa tam sơn và mặt hổphù là bình hoa có thân làm bằng các đường gờ nổi hình chữ thọ cách điện

Giữa gian thờ phía trước đặt bàn thờ bằng bê tông ngoài ghép sành sứ, phía saubàn thờ đặt khám thờ cũng bằng bê tông ngoài ghép sành sứ Hai bên khám thờ đặt 2

tủ kính móc áo lúc sinh thời của vua Khải Định

Với óc thông minh sáng tạo, với tính nhẫn nại cần cù, với tay nghề tài hoạ,người thợ thủ công Việt Nam thời Khải Định đã thổi một luồng sinh khí mới vào nền

mỹ thuật đương thời bằng nghệ thuật đắp phù điêu sành sứ cực kỳ tinh xảo, vô cùngđộc đáo và hết sức hấp dẫn Với tượng đồng bia đá, với cung Thiên Định giống nhưmột viện bảo tàng, với ngoại cảnh thiên nhiên bao la hùng vĩ, lăng vua Khải Định làmột bộ tác phẩm mỹ thuật tổng hòa của nhiều dòng văn hóa, một điểm giao thoa giữa

mỹ thuật kim cổ đông tây Nó phản ánh rõ nét phong cách sống thích chưng diện củavua Khải Định lúc sinh thời và đánh dấu giai đoạn giao thời giữa hai nền văn hóa Á,

Âu của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

2 Lăng Thiệu Trị

Trang 11

Lăng Thiệu Trị (昌昌 ) còn được gọi là Xương Lăng, thuộc địa phận xã ThuỷBằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế Di tích lăng Thiệu Trị được côngnhận là Di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 1997, theoQĐ số 2890-VH/QĐ ngày 27-9-1997 Xương Lăng nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng7,5km đường bộ và 12 km đường thủy về phía Tây-Nam

Sau bảy năm ngự trị trên ngai vàng, vua Thiệu Trị (1840-1847) lâm bệnh quađời ngày 4-11-1847, giữa lúc mới 41 tuổi Trước lúc lâm chung, ông căn dặn ngườicon trai sắp lên nối ngôi (gọi là Tự quân) rằng “chỗ đất làm sơn lăng nên chọn chỗ bãicao chân núi cận tiện, để dân binh dễ làm công việc Con đường ngầm đưa quan tàiđến huyệt, bắt đầu từ Hiếu Lăng, nên bắt chước mà làm Còn điện vũ liệu lượng màlàm cho kiệm ước, không nên làm nhiều đền đài, lao phí đến tài lực của binh dân”1

Khi vua Thiệu Trị vừa băng hà, thái tử Hồng Nhậm lên nối ngôi, lấy niên hiệu

là Tự Ðức, liền theo di nguyện của vua cha điều động các thầy địa lý và các nhà thuật

số, các nhà phong thuỷ đi tìm đất để xây lăng Cuối cùng họ tìm được một chỗ “cuộcđất tốt” tại chân một dãy núi thấp ở địa phận làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, cáchKinh Thành không xa như lăng của hai vị vua tiền nhiệm (Gia Long và Minh Mạng).Ngay sau đó, ngọn núi ấy được đặt tên là núi Thuận Đạo và tòa lăng tẩm nguy ngadựng lên với tên gọi Xương Lăng

Các công trình kiến trúc và các di vật trong lăng Thiệu Trị còn lại khá nhiều vàtương đối hoàn chỉnh Tổng thể kiến trúc lăng Thiệu Trị được bố trí thành hai phần rõrệt đó là phần lăng mộ và phần tẩm điện Khu vực lăng mộ hiện còn gồm có các côngtrình sau: Sân Bái đình với hai hàng tượng đá voi ngựa và văn võ quan viên đứngchầu; Bi Đình với tấm bia “ Xương Lăng Thánh Đức Thần Công”; Hai con Nghê đồng

ở trước Bi Đình; Nền đài của lầu Đức Hinh và Hiển Quang Các; Hai cột trụ biểu; Ba

1 Quốc sử quán triều Nguyễn (1973), Đại Nam thực lục, tập XXVII, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.

85.

Trang 12

cổng Nghi môn bằng đồng; Cầu Chính Trung có lan can bằng sắt; Cầu Đông Hòa; CầuTây Định; Bửu Thành (nơi chôn thi hài nhà vua) và Bửu Thành Môn; Hồ NhuậnTrạch; Hồ Ngưng Thúy Khu vực tẩm điện hiện còn gồm có các công trình: Hồ Điện(hình bán nguyệt); Tấm bình phong xây bằng gạch ở hai bờ hồ; Nghi môn xây bằng đáthanh; Bốn tầng sân tế trước điện; Cửa Hồng Trạch Môn; Điện Biểu Đức (điện thờchính); Hữu Phối Điện (còn gọi là nhà Xanh) với tấm “ngựa một” bằng gỗ rất lớn vàquý hiếm; Tả Phối Điện (còn gọi là nhà Vàng); Tả Tòng Viện - Hữu Tòng Viện; Vòngtường thành chung quanh điện thờ; Chiếc cổng nhỏ ở mặt sau khu vực này.

Phần tẩm và phần điện thờ được quy hoạch theo một chỉnh thể thống nhất vớinhững nguyên tắc phong thủy địa lý phương Đông, gần như là một đặc điểm chung ởtất cả các lăng tẩm của các vua Nguyễn Tẩm điện của lăng vua Thiệu Trị bao gồm cáccông trình kiến trúc được bố cục một cách rất hệ thống và khoa học

Hồ Điện là một công trình kiến trúc trước nhất trong tổng thể của phần tẩm điện

ở lăng vua Thiệu Trị Hồ có hình bán nguyệt với diện tích khoảng 2400m2, chu vichừng 232m; độ sâu gần đến 4m nếu tính từ đáy lên đến bờ hồ Khác với hồNhuậnTrạch và hồ Ngưng Thúy (cũng trong quần thể các công trình trong lăng), hồ Điện cócác nữ tường bao bọc chung quanh Hệ thống nữ tường này xây bằng gạch vồ đượctrang trí thêm bằng gạch hoa đúc rỗng (vàng và xanh) Nếu tính cả phần trụ thì nữtường cao khoảng 0,8m Hồ được kè bằng đá gan gà Hai hệ thống bậc cấp dẫn xuống

hồ nằm cạnh hai bên Phường Môn được ốp bằng gạch vồ 5 bậc Hồ Điện cũng như hồNhuận Trạch và hồ Ngưng Thúy ở lăng Thiệu Trị đều được thông với nhau bằngnhững hệ thống cống ngầm Những cống ngầm này được nối với dòng khe từ hồ Thiên

An đổ xuống như một sự bổ sung nguồn nước, nên những chiếc hồ này có mực nướctương đối ổn định suốt bốn mùa

Đối diện với Phường môn, nằm phía bên kia hồ là một bức bình phong đượcxây bằng gạch vồ, có ốp gạch men xanh, vàng đúc rỗng trang trí cho hàng cổ diêm giảphía dưới mái Mái của bình phong được lợp bằng ngói ống tráng men Ở giữa giữanóc mái là một hình hổ phù gắn sành sứ, hai đầu của nóc mái đắp hình giao long cáchđiệu cũng được gắn sành sứ tạo nên sự nhẹ nhàng cho cả tấm bình phong tưởng nhưnặng nề này Phần đế của bình phong được làm theo kiểu chân quỳ Toàn bộ bìnhphong có chiều dài đo được là 15,20m, cao 3,9m và dày 0,93m Nhìn chung, bức bìnhphong này còn khá tốt Một phần mái của bình phong đã bị vỡ một đoạn khoảng 0,3m,mức độ hư hỏng của toàn bộ bình phong khoảng 30%

Phường môn được xem là một chiếc cổng khá đặc biệt so với những công trìnhkiến trúc tương đương khác trong toàn bộ quần thể kiến trúc cung đình Huế Bởi lẽ,toàn thể bốn trụ Phường môn đều được làm bằng đá cẩm thạch Mỗi trụ đều do nhữngviên đá vuông vắn xếp chồng lên nhau tạo nên và được giữ vững nhờ vào những viên

đá cẩm thạch khác ốp dọc vào hai bên Tất cả được kết dính bằng mạch vữa Cổngđược chia thành ba lối đi, lối giữa rộng 3,85m, lối đi hai bên bằng nhau và rộng 2,85m.Nếu tính toàn cổng thì chiều rộng đo được là 11,55m Các trụ này bằng nhau từng đôi

Trang 13

một Hai trụ giữa có chiều cao là 6m, hai trụ bên cao 5m Thân trụ hình lăng trụ tứ giácđều, cạnh bên đo được 0,42m Tất cả bốn trụ này đều được đặt trên bốn đế cũng bằng

đá Thanh hình khối vuông, mỗi cạnh có kích thước 0,7m Trên thân của bốn trụ, ở mặttrước và mặt sau đều được trang trí bằng những câu đối chữ Hán Những chữ Hán nàynguyên thủy bằng pháp lam, được gắn vào trụ bằng những đinh sắt Hệ thống sân BáiĐình của lăng Thiệu Trị được chia làm ba tầng rõ ràng

Tầng một được tính từ khoảng sân nền vừa nêu ở phần trên đi lên tầng một củasân Bái Đình có ba hệ thống bậc cấp, mỗi hệ thống đều có 9 bậc tạo thành những lối

đi, mỗi lối rộng 2,8m Ở lối giữa có đắp hình rồng duỗi hai bên, hai lối hai bên có đắphình con giao Các hình rồng và giao này đều được làm bằng đá Thanh với những nétchạm khắc mềm mại, sắc sảo Đây có lẽ cũng là một sự kế thừa trong nghệ thuật xâydựng truyền thống ở các công trình kiến trúc cung đình Huế Chiều dài của tầng này đođược 54,24m, rộng 12,75m Toàn bộ mặt nền được lát bằng đá Thanh ở mé ngoài.Chung quanh tầng một có hệ thống nữ tường bao bọc, ngoại trừ mặt tiếp giáp với tầnghai và đoạn giữa nối hai bậc cấp hai bên (đoạn này dài 34,2m) Hai đầu nữ tường nàybằng nhau, có kích thước mỗi đầu là 10,02m Nữ tường cao 1,3m có bổ những trụ dọcchiều cao 1,60m Ở thành trên của nữ tường có ốp ngói ống tráng men xanh, mặt thành

có trang trí những đường diềm bằng gạch hoa đúc rỗng màu xanh và vàng Tầng haicủa Bái Đình cũng có kết cấu và bố cục kiến trúc tương đồng với tầng một, chỉ khác ởchỗ chiều cao của nền thấp hơn (= 1,25m) Tầng ba có kết cấu và bố cục kiến trúctrang trí giống như tầng hai

Cả ba tầng sân Bái Đình có sự liên kết với nhau tạo thành một chỉnh thể thốngnhất thông qua một trục đường Thần đạo bằng đá Thanh Đường Thần đạo này rộng2,8m và xuyên suốt ba tầng của sân Bái Đình, chạy dài từ Phường Môn tới HồngTrạch Môn và những công trình kiến trúc kếtiếp Nhìn chung, cả ba tầng sân Bái Đìnhnày đều ở trong tình trạng còn tương đối nguyên vẹn, mức độ hư hỏng khoảng 15%

Đi quan sân Bái Đình thì chúng ta sẽ thấy Hồng Trạch Môn, đây là một cổngtam quan có quy mô tương đối rộng lớn Chiếc cổng này được xây dựng với vật liệuchủ yếu là gỗ gia cố thêm bằng hệ thống tường xây bằng gạch vồ Hệ thống mái củaHồng Trạch môn được chia làm hai phần kết nối với nhau bằng một hệ thống tườngxây và các cửa gỗ

Nền của Hồng Trạch Môn được lát bằng gạch Bát Tràng tráng men xanh vàngxen kẽ nhau Toàn bộ hệ thống mái được dựng nên bởi một khung nhà gồm 16 cột gỗlim, trên là hệ thống vì kèo, đòn tay… được sơn son thếp vàng và chạm trổ Các mảngtường hai bên được xây bằng gạch vồ, quét vôi vàng Phía trước có ốp một hàng gạchhoa đúc rỗng để trang trí phân bố theo mảng dọc

Từ ba cánh cửa của Hồng Trạch Môn, chúng ta có thể xuống Bái Đình tầng ba

và các tầng kế tiếp bằng theo ba hệ thống bậc cấp Các cánh cửa của Hồng Trạch Mônđều được làm bằng gỗ, cửa giữa được sơn vàng và chạm khắc trang trí hình dây cúc;

Trang 14

cửa này rộng 2,2m, cao2,7m Hai cửa hai bên sơn đỏ và cũng trang trí hoa văn dâycúc, hai cửa có kích thước bằng nhau, mỗi cửa rộng 1,5m, cao 2,3m Mặt sau của cổngđối diện với điện Biểu Đức, có hai bậc cấp bằng đá Thanh chạy suốt theo chiều ngangcủa cổng Hai bên cổng được bó vỉa bằng gạch vồ Sát với lối đi hai bên (tức phầnhông của cổng) được xây một vòng tường thành khá cao, ngăn cách khu vực điện thờvới các tầng sân Bái Đình bên ngoài

Điện Biểu Đức là nơi thờ phụng vua Thiệu trị và hoàng hậu Từ Dũ Đây là tòađiện chính và quan trọng nhất so với các công trình kiến trúc trong phạm vi lăng mộcủa vua Thiệu Trị Xét về bố cục mặt bằng như trên đã trình bày, lăng Thiệu Trị đượcchia thành hai khu vực, các công trình kiến trúc lại sắp xếp trên một trục dọc, hai trụcnày chỉ cách nhau khoảng 100m

Lăng Thiệu Trị đăng đối uy nghi với bên phải là khu vực lăng mộ (nằm trêntrục phải) và bên trái là khu vực tẩm điện Điện Biểu Đức nằm trên trục trái, tức là trụctẩm điện và cũng là công trình trung tâm khu vực này Tương tự như trục bên cạnh,trục chính của khu vực tẩm điện quay mặt về phía tây bắc Cuối cùng là một cửa nhỏđược xây đơn giản, mở lối đi ra phía sau khung tường Khung tường này cao quá đầungười bọc lấy khu vực nhà cửa ở đây kể từ Hồng Trạch Môn

Điện Biểu Đức là một ngôi điện lớn có mặt bằng gần như vuông, chiều dài đođược 23,40m; chiều rộng 21,50m (diện tích xây dựng 659,9m2)

Biểu Đức là ngôi điện xinh xắn, có giá trị nghệ thuật rất cao cả về nghệ thuậtkiến trúc cũng như nghệ thuật trang trí Khảo sát điện Biểu Đức, người ta thường sosánh với những ngôi điện cùng thời như điện Minh Thành ở lăng Gia Long (xây năm1815), điện Sùng Ân ở lăng Minh Mạng (xây năm 1841) và điện Gia Thành ở lăngThiên Thọ Hữu (xây năm 1846) Điện Biểu Đức khá tương đồng kiểu thức với điệnSùng Ân và Gia Thành nhưng đường nét chạm trổ ở điện Biểu Đức hết sức tinh vi,trang trí nội ngoại thất rất hài hòa Điểm nổi bật nhất trong điện Biểu Đức là 4 bứctranh lớn bằng gỗ, chạm khắc thơ văn của vua Thiệu Trị Tất cả bốn bức đều có trướng

ở hai bên ghi lại một số câu thơ, câu đối do chính vua Thiệu Trị ngự chế Bên cạnhđiện Biểu Đức, trong quần thể di tích lăng Thiệu Trị còn nhiều công trình kiến trúcphụ cận khác

Tả, Hữu Tùng Tự là tên gọi của hai công trình kiến trúc nằm phía sau cổngHồng Trạch Môn, hai bên sân trước điện Biểu Đức Cụm từ Tả, Hữu Tùng Tự hàmnghĩa hai nhà thờ phía trái phải, thờ những vị hoàng thân quốc thích hay văn thần võtướng có công lớn với đất nước được vua ân sủng cho thờ phụ theo mình Đây lànhững công trình kiến trúc thường gặp bên cạnh những miếu đền trọng yếu của triềuNguyễn

Hữu Tòng Tự (hay còn gọi là Hữu Phối Điện) cũng là một công trình kiến trúc

có công năng, kích thước và đặc điểm trang trí tương đương với Tả Tòng Tự Songmức độ hư hỏng không quá trầm trọng (khoảng từ 20-30%) Khác với Tả Tòng Tự, ở

Trang 15

gian giữa của Hữu Tùng Tự có đến 5 án thờ sơn son thếp vàng, trên các án thờ này đềuđược thiết trí các tự khí

Từ điện Biểu Đức có hai hệ thống hành lang có mái (còn gọi là nhà cầu) nốingôi điện này với hai công trình phụ cận phía sau là Tả, Hữu Tòng Viện Hành langnày mái lợp ngói liệt, hệ thống khung chịu lực được làm bằng gỗ, mặt bằng của hànhlang có chiều dài 4,35m; rộng 3,05m Hai hệ thống hành lang này hiện đang ở tìnhtrạng xuống cấp nghiêm trọng Hầu như các cấu kiện gỗ đều bị mục nát, mái bị sụt lởnhiều nơi, tường bị nứt rạn nhiều chỗ

Tả Tòng Viện là một ngôi nhà đơn, có kết cấu gồm ba gian hai chái, với tổngdiện tích khoảng 130m2 Mặt bằng nền có kích thước dài 8,75m; rộng 14,7m Các gócchịu lực của Tả Tòng Viện được bao bọc bởi một hệ thống tường bằng gạch vồ, mặttường sơn màu đỏ thẫm Khung nhà bằng gỗ không được chạm khắc, sơn thếp Máiđược lợp bằng ngói liệt, bờ nóc bờ quyết được đắp những đường ngói âm dương trángmen xanh vàng Phần dưới của bờ nóc, bờ quyết được ốp bằng gạch men đúc rỗng đểtrang trí Ở hai đầu nóc có trang trí hình giao long (dạng lá hóa long) Nền của TảTòng Viện được bó bằng gạch vồ cao 0,7m, có trổ một lối lên gồm bốn bậc cấp látgạch Bát Tràng rộng 2m Sau điện có ba lối đi, mỗi lối có ba bậc cấp bằng đá Thanh

Từ mặt tường hông phía phải của Tả Tòng Viện là một cổng vòm rộng 1,30m; cao1,90m Hai trụ hai bên cửa có bổ thành hai dải dọc trang trí gạch hoa đúc rỗng trángmen xanh Phần trên của cửa cũng được chia thành những ô nhỏ trang trí bằng gạchhoa đúc rỗng tráng men xanh vàng

Các công trình kiến trúc ở phần Lăng mộ vua Thiệu Trị hiện còn tương đốinhiều và nguyên vẹn, các công trình này được xây dựng theo một chỉnh thể thống nhất

và mang trong mình những nét đặc điểm chung ở tất cả các lăng tẩm của các vuaNguyễn.Toàn bộ khu lăng vua Thiệu Trị không có hệ thống la thành bao bọc xungquanh nên có thể xem hồ Nhuận Trạch là điểm xác định giới hạn đầu tiên của phầnlăng mộ

Hồ Nhuận Trạch có hình bán nguyệt với chu vi khoảng 325m, diện tích khoảng3.300m2 Nơi rộng nhất của hồ khoảng 58m, hai bên hồ có ba cống hình vòm đượcxây hoàn toàn bằng gạch vồ Cống bên phải nổi hẳn lên so với mặt bằng và thông vớiđồng ruộng bên ngoài Hai cống phía đối diện, một cống thông với hồ điện của phầntẩm, cống còn lại thông với hồ Ngưng Thúy Hồ Nhuận Trạch không có lan can hay nữtường bao bọc mà chỉ được kè bằng đá gan gà với chiều cao là 2m

Hiện nay, tuy mực nước của hồ vẫn còn khá ổn định nhờ vào sự thông nguồnvới hồ Thiên An, song trải qua thời gian khá dài không được nạo vét nên đáy hồ đã bịbồi cạn dần Hệ thống đá kè đã bị sụt lở nhiều nơi, mức độ hư hỏng khoảng 60% Các

hệ thống cống ngầm được xây dựng khá kiên cố nên vẫn còn đảm bảo được chức năngcủa nó Phía nam của hồ có một bức bình phong xây bằng gạch vồ ốp gạch men đúc

Trang 16

rỗng… Xét về kích thước, cấu tạo và mỹ thuật, bức bình phong này hoàn toàn giốngvới bức bình phong ở Hồ Điện, nhưng hiện trạng tốt hơn nhiều

Nghi môn ở Xương Lăng là một hệ thống cửa được cấu tạo bằng những trụđồng nhằm trang trí và thể hiện sự uy nghiêm Nằm ngay trước sân Bái Đình, NghiMôn ở khu vực lăng hoàn toàn đăng đối với Phường Môn ở khu vực Tẩm Đây là mộttam quan được đúc bằng đồng giống như các nghi môn ở các công trình kiến trúc cungđình khác trong quần thể di tích Huế mà người ta vẫn gọi là “Long môn đồng trụ”

Cổng được cấu tạo bởi một kết cấu gồm bốn trụ đối xứng nhau từng đôi một.Hai cột giữa cao 6m, hai cột hai bên cao khoảng 5m Chiều rộng của toàn bộ NghiMôn là 8,9m, riêng lối đi giữa rộng 2,45m Bốn trụ đồng này đều được đúc nổi hìnhrồng mây uốn lượn với những đường nét cực kì tinh xảo, phần trên được kết nối vớinhau bằng một hệ thống liên ba pháp lam tựa trên các khung sắt Ở các chóp trụ đềuthể hiện hình búp sen pháp lam màu trắng hồng Tất cả bốn trụ này đều được đặt trênbốn chân đá táng, những chân đá Thanh này là những khối đá liền, có hình khốivuông, trên là khối cầu cắt ngang Đá táng được trang trí hình hoa văn thủy ba, mặttrên cùng là một hình vành khăn trang trí chạm khắc Nghi Môn này được dựng trênmột nền lát bằng đá Thanh với chiều rộng là 1m; dài 9,4m Nhìn chung, toàn bộ NghiMôn còn khá nguyên vẹn, chỉ có liên ba pháp lam ở phần trên đã bị hỏng hầu như gầnhết

Bái Đình là một tầng sân nối liền Nghi Môn với chân nền đài của Bi Đình Đây

là sân được lát gạch Bát Tràng có chiều rộng 40m, dài 54,8m Ở giữa có đường thầnđạo xuyên qua Đường thần đạo này vốn được lát bằng đá Thanh xuyên suốt từ đâycho đến tận Bửu Thành (phần cuối cùng của khu vực lăng mộ) Hai bên sân có haihàng tượng đá gồm bốn tượng quan văn có chiều cao trung bình là 1,60m, y phụcchạm các hình hoa văn thủy ba, trước ngực là một hình hổ phù, đầu đội mũ cánhchuồn, tay áo rộng, hai tay cầm hốt đưa ngang trước ngực Tượng quan võ có chiềucao tương tự quan văn, y phục được trang trí tương đồng, đầu đội mũ võ tướng, tay áo

bó chặt, hai tay nắm đốc kiếm Hai tượng voi có chiều cao 2,2m; dài 2,3m Hai tượngngựa cao 1,75m và dài 2,0m Mặc dù các tượng voi ngựa này được tạc từ các khối đácòn nguyên vẹn nhưng vẫn thể hiện tính sinh động qua những khối nổi mềm mại,đường nét tinh tế với các họa tiết trang trí công phu Có thể xem đây là những tácphẩm điêu khắc bằng đá tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc đương thời theo đúngnghĩa của nó

Hệ thống nữ tường chung quanh sân Bái Đình cũng được làm bằng gạch vồtrang trí gạch hoa đúc rỗng tráng men vàng xanh Nữ tường có chiều cao là 1,37m, baoquanh sân Bái Đình trừ mặt tiếp xúc với Bi Đình và Nghi Môn Phần trên của tườngđược ốp gạch men màu xanh Toàn hệ thống nữ tường được gia lực bởi những trụ bổdọc cao chừng 1,60m

Trang 17

Hiện trạng của sân Bái Đình đã bị lồi lõm nhiều nơi, gạch Bát Tràng lát nền đã

bị nứt rạn với tỷ lệ cao, số gạch vỡ cũng tương đối nhiều, mức độ hư hỏng khoảng50% Các tượng đá vẫn còn tương đối tốt, riêng ở các tượng quan văn võ các họa tiếtchạm khắc trang trí trên y phục bị phai mờ đi nhiều Phần cánh chuồn trên mũ củaquan văn đã không còn nữa Hệ thống nữ tường đã bị hư hỏng nhiều nơi, đặc biệt làcác ô văng trang trí bằng gạch hoa, mức độ hư hỏng khoảng 45-50%

Bi đình là một công trình nối liền sân Bái Đính, Từ tầng sân Bái Đình lên tầngsân Bi Đình có ba lối bậc cấp Lối giữa đắp hình rồng duỗi, các bậc cấp được làm bằng

đá Thanh, lối này rộng 2,9m Hai lối hai bên đắp hình giao long cũng bằng đá Thanh

Cả hai lối có chiều rộng bằng nhau là 2,15m Nền của tầng sân Bi Đình cao 1,1m bóbằng gạch vồ Bao quanh sân là hệ thống nữ tường cao 1,15m, ở hai bên của lối đi đều

có bổ trụ cao 1,46m Cả nữ tường và các trụ đều được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗngtráng men xanh, vàng Mũ tường ốp gạch men xanh hình vòm cuốn, mặt sau sân nơitiếp giáp với các chân nền lầu Đức Hinh khuyết vào hình liềm Mặt này cũng được trổ

ba lối đi, mỗi lối cũng có 6 bậc cấp và những số đo tương tự như mặt trước

Toàn bộ Bi Đình được dựng trên một nền đài cao 2,65m hình chóp cụt tứ giácđều làm bằng gạch vồ Kích thước của đáy trên là 13m x 13m với diện tích là 169m2.Nền đài lát gạch Bát Tràng, có hệ thống nữ tường bao quanh, cao 0,75m được trang trítương tự của sân Bi Đình Trước và sau nền đài có trổ lối đi, mỗi lối có 14 bậc chialàm hai phần, phần trên hẹp hơn phần dưới Phần trên rộng 2,05m, phần dưới rộng2,25m Cả hai phần này đều được đắp rồng duỗi ở hai bên, rồng ở phần trên chỉ dài1m; rồng ở phần dưới dài 2,8m Trên nền đài này là nền của nhà bia được bó vỉa bằng

đá Thanh cao 0,55m và lát gạch Bát Tràng Nhà có bộ khung gỗ gồm 16 cột gỗ limchống đỡ cả hệ thống vì kèo Các liên ba đố bản được trang trí nhất thi nhất họa truyềnthống, các bức họa chủ yếu thể hiện đề tài bát bửu như chiếc tù và, cuốn sách, hoa sen,cây bút… Các bài thơ đề tài chủ yếu về tiết xuân, tiết thu Rầm thượng được lát ván,các liên ba ở đây cũng được trang trí ô hộc, quét vôi đỏ Mái lợp ngói liệt, các bờ nóc,

bờ quyết đều có trang trí hình giao long Giữa Bi Đình dựng một tấm bia bằng đáThanh Đây là một tấm bia to lớn có chiều cao 3,13m ( kể cả bệ đá), thân bia rộng1,23m; dày 0,4m Trán bia cao 0,77m; rộng 1,8m, ở giữa chạm hình Lưỡng Nghi, haibên chạm hình rồng và dây cúc Giữa lòng bia khắc hai bài minh “Thánh Đức ThầnCông Bi Ký” dài khoảng 2.500 chữ Hán

Cầu Chánh Trung được xây bằng gạch vồ, mặt cầu lát đá Thanh nối tiếp vớiđường Thần đạo kể trên Cầu dài 40m, rộng 4,1m và cao 2,3m Hai bên cầu có lan canbằng sắt cao chừng 0,8m, phần nền móng cầu được xây bằng gạch vồ vững chải, trổ bacống hình vòm thông nước Đường kính mỗi cống là 2m, chiều cao 1,5m Ở hai đầucầu có dựng hai Nghi Môn bằng đồng với kích thước và dạng thức giống với NghiMôn mà chúng tôi đã mô tả ở phần hồ Nhuận Trạch

Trang 18

Hiện trạng các kết cấu gạch vồ và đá Thanh của cầu Chánh Trung vẫn còntương đối tốt, lan can cầu đã bị rỉ rét và hư hỏng một số đoạn, các trang trí pháp lam ởliên ba, chóp trụ đã bị mất, tình trạng hư hỏng khoảng 30%

Cầu Tây Định và Đông Hòa là hai chiếc cầu nằm đối xứng nhau qua trục cầuChánh Trung Mặt cầu được lát bằng gạch Bát Tràng với 10 lối gạch, mỗi lối có độ dài

130 viên, gạch Bát Tràng được lát trên mặt cầu khoảng 1.300 viên Cầu cũng được xâybằng một hệ thống gạch vồ rất vững chãi, từ đáy lên mặt cầu có 23 hàng gạch vồ Cảhai cầu Tây Định và Đông Hòa đều có chiều dài bằng nhau là 40m, chiều rộng 3m vàcao 2,3m Hai cầu này cũng có trổ 3 cống vòm, riêng cầu Đông Hòa thì ba cống vòmnày được ốp bằng đá Thanh Hiện trạng nhìn chung, hai chiếc cầu này còn tương đốitốt Tuy nhiên, hệ thống lan can đã bị sụp đổ và một vài viên gạch Bát Tràng đã bị mấthoặc bị vỡ

Bửu Thành là nơi chôn cất thi hài của vua Thiệu Trị, thành có hình tròn, cao3,3m và chu vi là 260m Thành được xây bằng gạch vồ trát vôi vữa truyền thống Đốidiện với Nghi Môn ở mặt cuối cầu Chánh Trung là một cổng đơn được xây bằng đáThanh có tên gọi Bửu Thành Môn Đây là lối ra vào duy nhất của Bửu Thành Cổng cóhai cánh cửa bằng đồng hình chữ nhật cao 2,77m, mỗi cánh rộng 1,16m Vòm của BửuThành Môn cao 2,75m Trước cổng có một hệ thống bậc cấp kết thúc đường thần đạorộng 3,5m, hai bên đặt hai con rồng, mỗi con gồm hai khối đá Thanh ghép lại Rồng đádài 5,9m, chỗ cao nhất là 1,65m và thấp nhất 0,45m Bên trong Bửu Thành là Huyềncung để đặt thi hài nhà vua Quả đồi cao được Bửu Thành vây quanh như một nấm mồkhổng lồ, mà ở đó còn có nhiều cây đại thụ ngày càng um tùm rậm rạp đứng vữngchãi trước thời gian Chính yếu tố thiên nhiên này đã tạo nên cảm giác nhẹ nhàngthanh thoát, thể hiện thế giới quan và tài năng của người kiến trúc trong khả năng vậndụng địa hình có sẵn với việc quy hoạch kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc lăng tẩm

Lăng tẩm Huế nói chung và lăng Thiệu Trị nói riêng là một thắng cảnh nổitiếng Ðã có người cho rằng đây là một trong những kỳ quan của thế giới PhạmQuỳnh sau một chuyến tham quan Huế đã ghi lại cảm tưởng của ông trong tác phẩmMười ngày ở Huế: “Lăng đây là gồm cả màu giời, sắc nước, núi cao, rừng rậm, gióthổi ngọn cây, suối reo hang đá, chớ không phải là một cái nếm con con của tay ngườixây dựng Lăng đây là bức cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ghép thêm vào một cảnh nhântạo tuyệt khéo Lăng đây là cái nhân công tô điểm cho sơn thuỷ, khiến cho có một cáihồn não nùng u uất, như phảng phất trong cung điện âm thầm, như rì rào trên ngọnthông hiu hắt Không biết lấy nhời gì mà tả được cái cảm lạ, êm đềm vô cùng, nó chìmđắm người khách du quan trong cái cảnh tịch mịch u sầm ấy”2 Chỉ xét riêng về nghệthuật kiến trúc và sự phối hợp tài tình giữa công trình kiến trúc và thiên nhiên hùng vĩ,lăng Thiệu Trị xứng đáng là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam trong những thànhtựu về kiến trúc thế kỷ XIX

3 Lăng Hiếu Đông

2 Phạm Quỳnh (2001), Mười ngày ở Huế, NXB Văn học, Hà Nội, tr 51.

Trang 19

Di tích lăng Hiếu Đông (Lăng Bà) dưới thời Nguyễn thuộc đất xã CưChánh, huyện Hương Thuỷ, phủ Thừa Thiên, hiện nay thuộc thôn Cư Chánh II, xãThủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế được công nhận là Di tích Kiếntrúc nghệ thuật cấp Quốc gia vào năm 2006 theo Quyết định số 97/QĐ-BVHTT ngày13-12-2006 Lăng Hiếu Đông tọa lạc tại tọa độ 16027’ vĩ độ Bắc và 107036’ kinh độĐông đường Điện Biên Phủ, đến ngả ba đàn Nam Giao thì rẽ theo đường Nam Giao đitheo trục đường Minh Mạng, tiếp tục đi lên khoảng 1km thì gặp lăng Thiệu Trị bên taytrái Ngay phía trước, đối diện với đường dẫn vào lăng Thiệu Trị có con đường nhỏtrải bê tông thì rẽ vào lối này; tiếp tục đi khoảng 150m là nhìn thấy lăng Hiếu Đông ởbên tay trái.

Tên gọi phổ biến thường được sử dụng là lăng Hiếu Đông(昌昌昌 ), tên gọi khác(Lăng Bà) Ngày xưa, tên chữ của các lăng tẩm vua chúa và các bà hoàng hậu thường

do triều đình đặt, và bao giờ cũng có một hoặc hai chữ giống nhau trong tên lăng của

“đế” và lăng của “hậu” để nói lên sự liên quan giữa họ Lăng vua Minh Mạng đã đượcđặt tên là Hiếu Lăng Vậy nên lăng hoàng hậu Hồ Thị Hoa (nguyên là Hoàng Quý Phi,sau được truy tôn là Hoàng hậu) được đặt là Hiếu Đông Lăng

Bà Hồ Thị Hoa quê ở huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa, con gái của Phúc QuốcCông Hồ Văn Bôi và bà mẹ họ Hoàng Bà sinh ngày 30 tháng 11 năm 1791 (ngày 5tháng 11 năm Tân Hợi).Năm Bính dần (1806) đức Thế Tổ và Thuận Thiên Hoàng Hậutuyển chọn con gái công thần làm phi cho Thánh Tổ nên bà được vào hầu nơi tiềm để

Bà tính dịu dàng thận trọng, hiền đức, một lòng hiếu kính nên Thế Tổ rất ngợi khenban cho tên Thật Nguyên trước đó Thế Tổ bảo: “Phi nguyên có tên Hoa là lấy ý nghĩa

ở 4 chữ “đặc dĩ phương văn” (để truyền hương thơm) sao bằng tên Thật gồm cả phúclẫn quả” Tháng năm năm Đinh mão (1807) bà sinh Hiến Tổ Chương Hoàng Đế mới

Trang 20

được 13 ngày thì bà mất Bà mất ngày 23 tháng 5 năm Đinh mão (28-6-1807), lúc 17tuổi.Lăng của bà được xây năm Tân sửu (1841) ở xã Cư Chính, (Hương Thuỷ, ThừaThiên)

Tháng 6 năm Tân tỵ (1812) được tặng sách Chiêu Nghi, thuỵ Thuận đức, hợpthờ tại Gia Phi Phạm thị từ Tháng 5 năm Bính Thân (1836) bà được tặng là Thân Phi.Tháng 10 năm Mậu tuất (1838) sắc lập nhà thờ tại làng Vạn Xuân phía tây sông Hữu

hộ thành và đến năm Kỷ hợi (1839) rước thần chủ về thờ tại đấy Năm Tân sửu (1841)vua Hiến Tổ dâng tôn thuỵ là Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hoà Đốc Khánh

Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân Hoàng Hậu, đặt tên nhà thờ là Vĩnh Tư Điện, tênlăng là Hiếu Đông Ngày 20 tháng 8 năm đó rước thần chủ của bà về thờ ở điện Hiếu

Tư (nơi để tử cung của Thánh Tổ và thờ Thánh Tổ) nhà thờ cũ được triệt bỏ Ngày 9tháng 1 năm Quý mão (1843) rước thần chủ của bà về phối thờ với đức Thánh Tổ ởThế Miếu, tại gian thứ nhất bên trái Bà chỉ sinh được một hoàng tử là Nguyễn PhúcTuyền (Hiến Tổ Chương Hoàng Đế) Thân sinh của bà là ông Hồ Văn Bôi, vào nămBính tuất (1826) được truy tặng Nghiêm Vũ Tướng Quân Thượng Hộ Quân ĐôThống, thân mẫu được tặng nhị phẩm phu nhân

Khu lăng Hiếu Đông có quy mô tổng thể tương đối lớn, và đây chính là mộtphần trong quần thể lăng Thiệu Trị có tổng diện tích khoảng 475 ha Lăng Hiếu Đôngquay mặt về phía bắc; giới hạn khu vực lăng về phía tây ra tận sát bờ sông Hương, cócột trụ hoa biểu làm mốc giới; phía đông giáp vào khu ruộng lúa, cận kề gianh giớiXương Lăng; phía bắc ra ngoài hai trụ biểu, đến tận Khe Bối; phía nam (phía sau) giápcon đường dẫn vào bến đò qua điện Hòn Chén (Bến Than) Nhìn chung, cấu trúc khulăng gồm các phần chính như sau: Khu vực phía ngoài gồm các công trình từ BếnNgự, cột hoa biểu, Ngự lộ, Trụ biểu; Công Sở Đài; Khu vực nội lăng gồm có hồ bánnguyệt, sân Bái đình, Bửu thành, bình phong, Bửu phong (tức nấm mộ); Các khu lăng

mộ phụ thuộc gồm có khu mộ “Cố hoàng nữ”, khu mộ Tảo thương và khu lăng ChưCông

Xét về mặt tổng thể, toàn bộ cấu trúc khu vực ngoài lăng Hiếu Đông có quy môkhá lớn Bến Ngự là địa danh nằm ở đầu con đường dẫn vào lăng (Ngự Lộ), nằm phíatây khu vực lăng chính, sát bờ sông Hương Ngày xưa, mỗi khi vua Thiệu Trị lên thămlăng Hiếu Đông phải cho thuyền cập bến tại Bến Ngự và đi theo Ngự lộ để vào lăng.Khi nhà Vua băng hà, quan tài của Ông cũng dựng tạm tại đây, sau đó mới bắt đầuchuyển vào Xương Lăng Bến Ngự nay thuộc thôn Cư Chánh 2, cách lăng Hiếu Đôngkhoảng 500m Bến hiện nay đã được xây mới bằng xi măng Từ mép bờ sông đến bậccấp cuối của bến là 21m Cấu trúc của bến gồm 3 phần: cổng bến, thềm nghỉ và cácbậc cấp dẫn xuống bờ sông Có 08 bậc cấp dài 1,45m và thềm nghỉ dài 1,96m Ở haibên thềm nghỉ ta thấy có hai bờ thành cao 0,4m, dày 0,16m Tiếp đến cổng Bến có 02trụ cách nhau 2,13m, một trụ có chiều cao 0,65m, thân trụ hình vuông có chu vi 0,42m

x 0,42m Chóp trụ hình vuông, diện tích mặt chóp trụ 0,4 x 0,4 m Toàn bộ bến thuyền

có chiều dài đo được là 3,44m (tính từ mép bến đến chân trụ) Qua quá trình bào mòn

Trang 21

của thời gian, Bến Ngự đã hư hỏng một phần và đã được người dân ở đây cải tạo mớihoàn toàn bằng xi măng Hiện tại bến được sử dụng trong sinh hoạt thường ngày củangười dân trong khu vực.

Từ Bến Ngự chúng ta đi theo Ngự Lộ, đây chính là con đường dẫn vào lăngHiếu Đông và dẫn qua cả khu vực lăng Thiệu Trị Hiện trạng con đường này đã được

bê tông hóa, rộng khoảng 3m Đặc biệt, trên Ngự Lộ có hai chiếc cống thoát nước xâygạch rất đẹp khi đường băng qua hai dòng khe nhỏ (nhánh của khe Bối) Hiện nay, mộttrong hai chiếc cống đã bị lũ cuốn trôi Chiếc cống còn lại có tục danh là Cống Bồ Đề,cách lăng Hiếu Đông khoảng 300m cống nước được xây bằng gạch vồ, có kích thướcchiều dài là 11,7m, chiều rộng là 4,74m Vòm cống hình vòng cung, gồm 4 lớp gạch

vồ xếp theo kiểu múi bưởi kết dính bằng vữa khói đèn có cát thô màu đen Hai bênvòm cống được lèn chặt bởi nhiều lớp đá gan gà Trên mặt cống là 2 lớp gạch vồ Haibên thành cống xây bằng gạch vồ và ở trên cùng là một lớp bờ lô được đúc bằng đá núimàu đen và xi măng Phía bên trái cách tim cống khoảng 2m có 02 trụ đúc bằng xi-măng Có thể đây là lan can của cống được xây dựng thêm sau này

Lăng Hiếu Đông có hai chiếc trụ biểu giới hạn khu nội lăng mà chúng ta vẫnthường gặp trong lăng tẩm vua chúa thời Nguyễn Hai trụ biểu nằm ở phía bắc củalăng Hiếu Đông, cách Bửu Thành khoảng 50m Mỗi trụ cao khoảng 15m, đầu trụ hìnhlăng trụ thắt eo cổ bồng Đỉnh trụ gắn hoa sen Phần thân trụ cao hơn 10m, mặt thânrộng 2,15m Ở hai mặt giáp nhau xây một đường gờ trụ Khoảng cách bên trong lòngtrụ có kích thước 1,36m Trụ có thiết diện gần vuông, nhỏ dần ở phía đỉnh, xây bằnggạch vồ và vữa kết dính thô, màu trắng Đế trụ cao 1,23m; rộng 3,40m; lòng đế trụkhoảng 2,74m Đế trụ giật cấp nhỏ dần, rồi ôm lấy chân trụ Khoảng cách giữa hai trụbiểu là 50m Tình trạng của hai trụ biểu này tương đối tốt

Công Sở Đài của Lăng Hiếu Đông là toà nhà dành cho quan binh trong đội HộLăng làm văn phòng để trực và canh giữ khu lăng Hiếu Đông Công Sở Đài nằm bêntrái khu lăng, cách sân Bái Đình khoảng 50m về phía tây (phía bờ sông Hương) Kiếntrúc này được đặt trên một mỏm đồi thấp, hiện nay trên nền nguyên thủy của côngtrình đã xuất hiện một chiếc am nhỏ, xây bằng bê tông xi-măng Đây là một miếu thờ

cô hồn của dân xóm Đông An, thuộc làng Cư Chánh, lập nên sau năm 1975 Ngôimiếu này có kích thước là dài 2,83m; rộng 1,36m Tường miếu xây bê tông xi-măng,ngoài quét vôi; xây mái giả ngói Vào tháng 5 năm 2005, Đội điều tra thám sát khảo cổhọc của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tiến hành một cuộc điều tra thám sát trong khuvực phía tây sân Bái Đình, làm xuất lộ hai cạnh phía tây và nam của Công Sở Đài.Cạnh phía Nam có chiều dài là 14,3m, hiện không còn dấu vết của móng công trình,ngoại trừ ở trên cùng có một lớp đá núi màu nâu đỏ xếp ngay ngắn Đoạn cuối củacạnh này hiện còn một đoạn móng bằng vôi vữa dài khoảng 1,23m x rộng 0,46m.Cạnhphía Tây còn một dấu vết móng khác có hình chữ Z, dài khoảng 3,3m x rộng 0,33m,cao 0,9cm Dưới chân đồi về phía Tây, cách mặt đồi khoảng 2m còn có một đoạnmóng vôi vữa tương tự, có hình cánh cung Ngoài ra, trong khu vực này còn một số vết

Trang 22

tích cho thấy ở đây đã có từng tồn tại công trình kiến trúc, tuy nhiên dựa vào nhữngdấu vết hiện còn chúng ta không thể biết chính xác về quy mô của công trình.

Kế tiếp của khu vực ngoài lăng là khu vực nội lăng với hệ thống các công trìnhkiến trúc rất tiêu biểu và mang giá trị nghệ thuật cao đặc trưng dưới triều Nguyễn

Hồ Bán nguyệt là hồ nước trước mặt khu lăng, đóng vai trò là Tiểu minh đườngcủa lăng Hiếu Đông Hồ có dạng gần như hình bán nguyệt, nằm cách khu vực lăngkhoảng 60m Hồ có chiều rộng (kiểu bán kính) 36,8m và chiều dài (tức gần như đườngkính) là 58m Bờ hồ kè bằng đá gan gà (khoảng 7 lớp), cao 103m Hai lớp dưới đượcgiật ra phía ngoài khoảng 5cm, tạo thành một đường gờ Góc đông bắc có một cốngnước dẫn nước từ phía ngoài vào Cống nước này có hai phần, phần cống cũ kè bằng

đá gan gà cao 1,75m, đoạn tiếp giáp với kè hồ có hai bậc cấp gạch ở hai bên, mỗi bậcxây bằng ba lớp gạch vồ, dài 2,45m; cao 0.33m; rộng 0.23m Lòng cống rộng 1,39m,lát đá gan gà Trên hai bậc cấp gạch là thân kè, bằng đá gan gà, cao 0,43m Phần cuốicống nước này đã được thay thế bằng một vòm cống xi măng, có đường kính khoảng0.80m Bên trên vòm cống xếp đá và gạch vồ tạo thành đường đi Hiện nay lòng hồkhô cạn và vẫn còn dấu tích hai lò nung gạch của dân địa phương từng hoạt động cáchnay khoảng hơn 30 năm

Sân Bái Đình nằm phía sau hồ bán nguyệt, cách bờ hồ khoảng 6,18m (đây làkhoảng đệm dùng để trồng cây, xây bồn hoa) Sân dài 33,5m, không chia đôi thành haikhoảng sân Chầu, sân Tế như các lăng vua mà bố trí liền nhau Tầng sân Chầu nằmdưới, sau đó là 3 tầng Tế, mỗi tầng cao cách nhau 40cm Tầng sân Chầu dài 21,5m, láthoàn toàn bằng gạch Bát Tràng loại 30 x 30cm, trừ đường thần đạo thì lát đá thanh,loại 34,5 x 25cm Hai bên sân Chầu bố trí hai hàng bồn hoa nằm song song, sắp xếptheo một đường thẳng, bao gồm những dạng hình: bát giác, thoi, vuông, được bố tríđối xứng nhau qua trục thần đạo (vị trí đối xứng nhưng hình dạng bồn hoa không đốixứng) Các bồn hoa đều được làm bằng gạch và vôi vữa

Sân Chầu của lăng Hiếu Đông được lát bằng gạch Bát Tràng, ở giữa đường thầnđạo được lát bằng đá thanh Chiều rộng đường thần đạo là 215cm; Kích thước đáthanh là 34,5cm x 25cm x 10cm; Kích thước gạch Bát Tràng là 30cm x 30cm x 6cm;Kích thước gạch ở bồn hoa là 14,5cm x 29cm x 6cm Sân Chầu có hai hàng bồn hoanằm song song, có vị trí sắp xếp theo một đường thẳng, bao gồm những hình: bát giác,thoi, vuông, được bố trí đối xứng nhau qua trục thần đạo (vị trí đối xứng nhưng hìnhdạng bồn hoa không đối xứng) Các bồn hoa đều được làm bằng gạch và vôi vữa

Bửu Thành của lăng Hiếu Đông theo đúng quy chế lăng dành cho hoàng hậu,gồm hai lớp tường thành hình chữ nhật xây quanh Bửu Phong Giữa lớp tường ngoàimặt trước là cổng vào, tức Bửu Thành Môn Đây là dạng cổng vòm được làm bằng cácphiến đá Thanh ghép lại Cổng không có mái nhưng phần đỉnh được trang trí theo hìnhkhánh với các cụm mây và một hình tròn ở giữa tượng trưng cho mặt trăng Trên cổngkhắc 3 chữ “Bửu Thành Môn” bằng chữ Hán Hai bên không trang trí Có 5 bậc cấp đi

Trang 23

lên, hai bên bậc cấp trang trí rồng duỗi bậc đã bị mòn mờ, sứt mẻ nhiều nơi, tuy nhiênvẫn nổi rõ hình rồng 5 móng Về kích thước, chiều cao vòm cửa là 266cm; chiều dàyvòm cửa là 43cm; chiều dài trong lòng vòm cửa là 214cm; chiều dày của bậc cấp vàoBửu thành là 18cm Đế trụ rộng 64,5cm; cao 77cm; Chiều cao trụ (trừ phần đế và phầnđỉnh) là 125cm.

Bậc cấp đi lên Bửu thành gồm có 5 bậc cấp, chiều dày của mỗi bậc cấp là14cm; chiều rộng của mỗi bậc cấp là 34cm; chiều dài của mỗi bậc cấp là 34,2cm.Tường thành được làm bằng gạch, vôi vữa mật mía, dài 26m; rộng 20,7m; cao hơn 3m.Phía sau đắp nổi trên tường một chiếc bình phong (làm bình phong hậu lớp ngoài),rộng 3,65m; hai bên đắp giả trụ, rộng 65cm Vòng tường trong cách vòng tường ngoài

là 5,1m; dài 16,m; rộng 13,8m; cao 2,6m Lối vào thành trong không làm cổng mà chỉxây hai trụ cao vượt so với mặt tường, trụ hình vuông, mỗi bề dài 78,5cm Phía saucũng đắp bình phong ngay trên tường, rộng 2,84m

Giữa hai lớp tường thành, ngay sau Bửu Thành Môn là chiếc bình phong tiền.Đây là một chiếc bình phong được tạo hình đơn giản nhưng tuyệt đẹp và là một tronghai chiếc bình phong của thời Nguyễn được làm hoàn toàn bằng chất liệu đá thanh.Bình phong được ghép bằng các phiến đá thanh chữ nhật, viền xung quanh trang trírồng mây, rồng 5 móng Phần trên trang trí lưỡng long triều nhật Bình phong dài3,75m; cao 2,3m; dày 40cm Phần đế bình phong cao 50cm, chạm nổi dạng chân quỳ,diềm viền hoa văn dấu móc xoắn Khoảng cách từ bình phong đến vòng thành 1 củaBửu thành là 255cm; khoảng cách từ bình phong đến vòng thành 2 của Bửu thành là255cm

Bình phong hậu của vòng thành ngoài, đây là chiếc bình phong đặt ngay trêntường thành lớp ngoài Phần trên của bình phong có làm mái giả, không trang trí Chấtliệu xây bằng gạch, vôi vữa Bình phong rộng 365cm, hai bên đắp giả trụ, rộng 65cm

Bình phong hậu của vòng thành trong, như bình phong của vòng tường ngoài,chiếc bình phong này cũng đắp giả ngay trên tường thành, dài 373cm, phần trong lòngrộng 284cm, chiều cao cả chân đế là 288cm

Bửu Phong là tên gọi của phần nấm mộ của hoàng hậu (tức phần nổi trên mặtđất của Huyền Cung) Bửu phong lăng Hiếu Đông được xây ghép bằng đá thanh, dạngkhối chữ nhật, trên có hai mái tương tự như các lăng Gia Long, Tự Đức Nóc máitrang trí hồi long, bờ mái trang trí lá hoá rồng, hai đầu hồi trang trí hình dơi ngậm kimtiền Mái phía trước có viên đá chính giữa bị vỡ, phần mái còn lại bị mẻ một vài nơi.Bửu Phong, ngoài phần chân đế có kích thước dài 423cm; rộng 333cm; cao 21cm, vàphần đường viền rộng khoảng 4cm Phần thân có kích thước chiều dài 401cmx chiềucao 312cm x chiều rộng 129cm Phía trước Bửu Phong là chiếc kỷ đá đặt trên sập dạngchân quỳ có kích thước 165cm x 80cm Phần chân kỷ được chạm trổ khá tinh xảo

Lăng Hiếu Đông là khu lăng nằm lộ thiên, cho nên ngay từ khi xây dựng xong,người ta không đặt để trong lăng các đồ tự khí, có lẽ ngoại trừ một bát hương đặt trên

Trang 24

kỷ thờ trước Bửu Phong, nhưng nay đã mất hoàn toàn Vốn xưa ở bên tả lăng hiếuĐông có đài Công Sở, cấu trúc kiểu nhà 5 gian, hẳn là nơi dành cho quan binh trongđội Hộ lăng Bài vị thờ Tá Thiên Nhân Hoàng hậu có thể cũng được đặt tại đây Tuynhiên, công trình này hiện đã không còn dấu vết do khi thực hiện công trình đào kênhNam Sông Hương người ta đã đào vét chỗ đất tại khu vực này.

Có thể thấy rằng, lăng Hiếu Đông là một công trình kiến trúc lăng mộ mangđậm phong cách nghệ thuật kiến trúc lăng mộ thời Nguyễn (đặc biệt là trong thiết kế

và quy hoạch theo thuật phong thủy) Do lăng được xây dựng vào đầu thời vua ThiệuTrị, thời kỳ phát triển thịnh đạt nhất của mỹ thuật Nguyễn, cũng là thời kỳ triềuNguyễn còn cường thịnh nên quy mô lớn, kiểu thức xây dựng hoành tráng với sự đầu

tư công phu

4 Đình và chùa làng Thủy Dương

Đình chùa nằm ở vị trí trung tâm của làng, phía trước có hồ sen hai mùa phảng

phất hương thơm Bao quanh khuôn viên đình chùa là những cây cổ thụ soi bóngxuống hồ sen càng làng tăng thêm vẻ uy nghiêm cổ kính

Ý nghĩa: Từ xa xưa, nhân dân Hương Thủy nói chung và nhân dân Thủy

Dương nói riêng đã sống trong những phong tục thuần hậu của người dân xứ ThuậnHóa Sách “Đại Nam nhất thống chí” đã ghi nhận: “Đất ấy đứng đầu mọi các tốt,phong khí ngày một mở mang, quê kệch biến thành văn minh, đoàn tụ gây nên thânmật, nhân dân đông đúc, tập trung thuần hậu, sĩ phu chăm học, dân thứ siêng năng càycấy” Vì vậy, cùng với quá trình hình thành làng, hệ thống kiến trúc đình, chùa, làngcũng ra đời Dựa theo chức năng tính chất thờ cúng và phạm vi ảnh hưởng, các côngtrình này dù lớn bé khác nhau cũng là sản phẩm của sự đóng góp chung trong cộngđồng cư dân từ những buổi đầu thành lập Chính vì lẽ đó từ sau khi làng Thủy Dươngđược thành lập, 13 vị Tộc trưởng của làng đã chọn địa điểm trung tâm làng để xâydựng khuôn viên đình – chùa làng, hệ thống cho các chùa thôn, chùa ấp cũng được rađời tạo thành mối liên kết giữa làng và từng thôn xóm

Đình và chùa làng Thủy Dương còn gắn với lịch sử đấu tranh xây dựng quêhương bảo vệ đất nước của nhân dân địa phương từ bao đời Sổ đình của làng Dạ Lê

đã lưu lại: năm 1799 vào thời Tây Sơn có 285 vị là quan quân Cho nên truyền thuyết

kể lại khi Nguyễn Huệ ra đánh Phú Xuân đã dừng chân trú quán tại đình làng và cácnhà thờ họ để chiêu tập quân sĩ và nhân dân làng Thủy Dương đã tham gia trong đoànquân của Nguyễn Huệ Đặc biệt trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến và trongcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đình – chùa làng Thủy Dương đã trở thành trụ

sở hoạt động của huyện Hương Thủy lúc bấy giờ Chính nơi đây đã tập hợp quầnchúng nhân dân cùng với các vùng phụ cận kéo về Huế cướp chính quyền tháng8/1945 Đình làng trở thành nơi hội họp, huấn luyện cán bộ cho các xã, làng, huấnluyện tự vệ, đội cứu quốc,…Các phong trào “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ đồng” của

Trang 25

huyện được diễn ra tại đây Có thể nói mọi công tác về chuẩn bị lực lượng, tổ chứctiếp tế hậu cần của huyện Hương Thủy được tập trung ở đình làng Thủy Dương.

Ngày nay, hàng năm tại đình và chùa làng Thủy Dương vẫn diễn ra lễ thu tế đểcầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu Đây là ngày lễ lớn nhất của làng Theocác cụ già làng kể lại, ngày đó các vị tộc trưởng phải chọn ngày tốt, ngày không kiêng

kỵ để tổ chức lễ tế Dân làng từ các thôn ấp mang vật phẩm về cúng bái Tiên chỉ, thứchỉ, ngũ hương đều chăm lo tế lễ Chủ tế là người cao tuổi có chức sắc, đạo đức đượcdân làng trọng vọng, am hiểu việc tế lễ Ngày thu tế cũng là ngày hội của dân làng,được diễn ra tại khuôn viên của đình làng Thời gian này người dân làng gần như đượcnghỉ lao động để tham gia tế lễ Sau buổi lễ thu tế các hoạt động văn hóa được diễn ratại đây thu hút dân làng Thủy Dương và các làng lân cận đến tham dự Hoạt động này,trở thành ngày hội của dân làng Thủy Dương Đặc biệt Hội mùa xuân: đêm 30 tếtchiêng trống từ đình làng và các chùa thôn (chùa Đông Hải) đóng lên, làm mất hẳn sự

im lìm, lặng lẽ của một cuộc sống tưởng chừng ngưng đọng, chậm rãi khép kín sau lũytre làng Sáng mồng một Tết, già trẻ, lớn bé hớn hở trong bộ y phục đẹp nhất kéo nhau

ra khỏi nhà, tay bắt mặt mừng và những lời chúc đầu năm tốt đẹp Các vị chức sắc tậptrung ở đình làng Giữa đình làng một cây nêu bằng tre cao vút báo hiệu toàn thể dânlàng hoàn toàn nghỉ ngơi, chào đón năm mới Những ngày còn cây nêu phải là nhữngngày thật sự thanh bình, những trò chơi được tổ chức quanh khuôn viên đình làng: bàichòi, bài tới… chiều mồng một Tết, dân làng tập trung tại hồ sen trước đình làng đểtham gia “hội bắt vịt” Sau một hồi trống, vịt được thả xuống hồ, một số trai tráng từquanh hồ phóng xuống nước Những người bắt được con vịt đầu năm là những ngườiđược phát tài, phát lộc sớm báo hiệu một năm mới thắng lợi

Tóm lại: sự hình thành làng và đình chùa làng Thủy Dương là một minh chứngcho quá trình di dân lập ấp khai phá làng mới trong những năm đầu thế kỷ XVI –XVII

Đình làng Thủy Dương

Trang 26

5 Cầu Ngói Thanh Toàn

Theo nhiều tài liệu để lại, Cầu Ngói Thanh Toàn đã xây cách đây 200 năm,

nhưng các sử sách cũ của mấy thế kỷ vừa qua không thấy nói đến Mãi đến đầu thế kỷnày, vào năm 1910, bộ Đại Nam Nhất Thống Chí thời Duy Tân mới bắt đầu đề cập

Đồng thời căn cứ vào một tờ sắc chỉ của vua Lê Hiển Tông niên hiệu CảnhHưng (1740- 1786) ban cho làng và được thờ ở đình làng để ghi nhận "Cầu NgóiThanh Toàn" do bà Trần Thị Đạo bỏ tiền ra xây dựng năm 1776, tức là vào năm CảnhHưng thứ 37 (ngày 27/11/1776) Vì vậy, vào thời điểm đó vua Lê Hiển Tông mới bantặng cho làng Thanh Thuỷ Chánh một tờ sắc ca ngợi bà Trần Thị Đào và miễn cho dânlàng các thứ sưu dịch để họ tưởng nhớ tới bà, thờ phụng bà và noi theo gương tốt củabà

"Cầu Ngói Thanh Toàn" được kiến trúc theo kiểu "thượng gia hạ kiều" (trênnhà dưới cầu) - là một loại kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao

Đây là một chiếc cầu gỗ, ban đầu cầu có 7 gian, bên trên có mái che lợp ngói,trông từ xa như một cái đình nhỏ hay một dãy nhà xinh xinh Cầu bắc qua con hóichảy xuyên suốt từ đầu làng đến cuối làng Thanh Thuỷ Chánh, thuộc xã Thuỷ Thanh,huyện Hương Phú

Cầu dài 43 thước (mộc) tương đương 18,75m; rộng 14 thước (tương đương5,82m), mái lợp bằng ngói ống

Vào năm 1784, cầu ngói Thanh Toàn đã bị một trận lụt lớn làm hư hỏng nặng

nề Phải đợi đến tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 7 (tháng 3/1847) công việc sửa chữa mớiđược tiến hành Bấy giờ làng đã cho khắc thời điểm này vào một trong các trục cầu

Đến năm Thìn (1904) qua một trận bão lớn Cầu Ngói đã bị sụp đổ toàn bộ vàđến hai năm sau 1906 cầu mới được sửa chữa và làm hoàn tất với tất cả kinh phí 950đồng đương thời, gồm 700 do dân làng đóng góp và 250 do nhà nước trợ cấp Tronglần tu sửa này dáng dấp cầu được tái thiết theo kiểu cũ nhưng kích thước cầu có thu

Trang 27

hẹp lại như sau: Bề dài cũ: 18,75m, bề dài mới: 16,85m, bề rộng cũ: 5,82m, bề rộngmới: 4,63m

Năm 1956, cầu ngói Thanh Toàn lại được tu sửa Trong lần tu sửa này chỉ cócái dáng dấp chung là vẫn giữ được như cũ, ngoài ra người ta đã thay đổi khá nhiều bộphận, kể cả kích thước của chiếc cầu: Bề dài trước đây: 16,85m, bề dài hiện nay:17,8m, bề rộng trước đây: 4,63m, bề rộng hiện nay: 4m

Đến năm 1971, cầu ngói đã được tu sửa lần cuối cùng và giữ mãi cho đến ngàynay Hai lần tu sửa vào các năm 1956, 1971 đều được ghi lại đầu hồi của cầu (bên tả

và hữu) mà đến nay chúng ta vẫn còn đọc được năm trùng tu một cách rõ ràng Tronglần tu sửa cuối 1917 và hiện trạng Cầu Ngói mà chúng ta thấy hiện nay có một số thayđổi về hình thức và vật liệu xây dựng:

Trước tiên người ta đã thay thế hệ thống trụ cầu gỗ lim hình tròn ngày xưabằng hệ thống trụ cầu hình vuông xây bằng gạch và xi măng Các trụ ngày trước đượcliên kết dọc bằng những đòn gỗ hình tròn, nay được thay thế bằng các thanh bê tônghình vuông Hiện nay có ba hàng cột trụ vuông, mỗi hàng có 4 cột và hai bên là haimóng cầu cũng được xây bằng xi măng bền vững Trường đà để chống đỡ gầm cầugồm 6 cột gỗ to tròn bằng gỗ lim chống đỡ

Cầu ngói gồm 3 vài 7 gian, gian giữa được xây cao lên nối liền với hai gian kia

hạ thấp xuống cho đến hai bờ của con hói Gian giữa mặt quay về hướng Đông là mộtbức khám như để thờ bà Trần Thị Đạo, ở hai gian bên hơi nghiêng về phía dòng sôngđược thiết chế hai mặt phẳng bằng gỗ trên đó người ta đến ngồi để thưởng thức giómát Chiều rộng của rầm cầu và chiều cao của mái đủ để cho xe ô tô con đi qua

Bộ mái của cầu ngói nguyên trước kia được lợp bằng ngói ống tráng men Giữa

bờ nóc của gian trung tâm chấp bầu rượu Các bờ nóc và bờ quyết của các gian đềutheo hình những con giao ngoảnh mặt oai vệ Nhưng qua các lần tu sửa thì đến nay bộmái của cầu ngói được lợp bằng ngói liệt và được kẻ nổi bởi những đường bê tôngchạy song song với nhau theo chiều mái Trên bờ nóc gian giữa được chạm trỗ bởi mặtnguyệt và hai con phụng chầu nhau oai vệ Cuối các bờ nóc của hai đầu mái là hìnhhồi long (rồng quay đầu lại) Bờ quyết ở các gian đều nới dài thêm đến tận mái

Hai phía đầu hồi của cầu được xây thêm, được xây bằng gạch và xi măng Mỗiđầu hồi có 4 cột trụ vuông và khu dĩ có cấu trúc với những đường nét hoa văn mềmmại, cách điệu Ở mặt ngoài của mỗi khu được đắp nổi bởi hình ảnh con dơi xoè cánhoai vệ, hoa lá, bát hữu, chữ tiện - mỗi đầu cầu đều có hai chữ "Phúc, Thọ" và trên mặtkhu dĩ đầu phía rèm có ghi 4 chữ: Thanh Phong Minh Nguyệt vào năm trùng tu 1971

và khu dĩ phía Bắc ghi năm trùng tu 1956 Mặt ngoài và mặt bên của các trụ được đắpnổi bằng các câu đối chữ Hán, nhưng qua thời gian, năm tháng chiến tranh đã nhiềuchỗ bị lỡ, bị bong nên có chữ hiện còn, có chữ đã bị lu mờ không đọc được

Trang 28

Từ khu dĩ này ta có thể đi vào bên trong của Cầu ngói Cấu trúc bên trong của

bộ mái hầu như còn giữ nguyên, đặc biệt là bộ sườn của các gian nhà trên cầu thì vẫncòn duy trì chất liệu gỗ Tất cả có 12 dãy đòn tay được sơn màu xanh nhạt Các kèo thìsơn đỏ và ở cuối mỗi kèo có chạm trỗ nổi hình dây leo, lá cuốn sơn vàng Trụ giữa mỗi

vì kèo được kết nối theo lối "trụ trốn" mà người thợ mộc địa phương gọi là "bộ chàycối" Toàn bộ cột nhà được chuốc tròn Chu vi cột hiện 53cm, chu vi cột giữa 60cm,với dáng vẻ mảnh mai xinh xắn được liên kết với 6 xà ngang bằng gỗ lim rất lớn (cótiết diện chữ nhật 38cm x 27cm) chống đỡ dưới rầm cầu và kê trên đầu các trụ bê tôngvững chắc

Ván rầm cầu được thay thế bằng gỗ thông trong lần tu sửa năm 1971 (gian giữa

10 tấm gỗ thông và hai gian đầu hồi 15 tấm gỗ thông ghép lại) Lòng cầu rộng 2,4m;

từ rầm cầu đến nóc cao hơn 3m, nhưng hàng cột hiên chỉ cao 1,55m Hai bên lòng cầu(trừ gian giữa đặt bàn thờ) có hai dãy lan can (bằng bục gỗ) để ngồi tựa hóng mát Haidãy lan can này cao 35cm

Vị trí quan trọng nhất trên chiếc cầu này là gian giữa cao nhất và lớn nhất sovới 6 gian hai bên - dành riêng để thờ bà Trần Thị Đạo Mặt trước để trống không cólan can (chỉ có một đường gỗ kéo dài sang gian hai bên với các chấn song cũng bằng

gỗ nhưng nay đã hư hỏng hết) Phía bên phải gian giữa được làm một khám thờ, mặtsau được bít ván Trước khám thờ được làm bằng 4 cánh cửa gỗ theo kiểu "Thượngsong hạ bản" tất cả đều được sơn màu vàng Bên trong bàn thờ chỉ để hai chữ Hán "Kỷniệm" trên vách gỗ Bên trong khám thờ này được đặt một bát nhang bằng sành sứ, haiđài trầu nước, hai đế đèn bằng gỗ Tất cả đều được sơn đỏ

Những di vật hiện còn Tại gian giữa của Cầu ngói thanh toàn hiện còn một

khám thờ, một bát nhang bằng sành sứ, hai đài trầu nước, hai đế đèn Tất cả làm bằng

gỗ và được sơn đỏ

Cầu được Bộ Văn hóa cấp bằng “di tích cấp quốc gia” năm 1990 Năm 2012,

Bộ văn hóa cho phát hành bộ tem cầu mái ngói Đây là nơi du khách rất thích chụpảnh, ngồi ngắm cảnh và nghỉ mát

Tại mỗi kỳ Festival Huế, xã Thủy Thanh đều làm lễ rước linh vị bà Trần ThịĐạo, lễ rước này là nghi thức mở đầu cho ngày khai mạc "Chợ quê ngày hội", mộttrong những chương trình văn hóa - du lịch trong khuôn khổ Festival Huế

Cầu là nơi hóng mát những ngày hè, địa điểm giao lưu văn hóa cộng đồng và

còn là nơi tham quan, du lịch nổi tiếng của tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 29

Cầu Ngói Thanh Toán

6 Phủ thờ Tôn Thất Thuyết

Di tích Lịch sử Phủ Tôn Thất Thuyết thuộc thôn Vân Thê, xã Thuỷ Thanh, thị

xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế được công nhận là di tích Lịch sử cấp Quốc giatheo Quyết định số 2754 - QĐ/ BT ngày 15-10-1994 Di tích cách thành phố Huếkhoảng 5km về phía Nam

Tôn Thất Thuyết trước đây từng đảm nhận vị trí Vệ Quốc Thượng tướng quânkiêm Thủ binh Bộ Thượng Thư sung chức phụ chánh Đại thần tước vệ chánh hầu dướithời Nguyễn Là con thứ 2 cụ Đề Đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu, sinh ngày 29tháng 3 năm Kỷ Hợi (tức ngày 12-6-1839) Chánh quán ở Gia Miếu ngoại trangThượng Bảng, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá Sinh quán ở làng Phú Xuân, tổng PhúXuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Có vợ là bà Lê Thị Thành người huyệnHương Thuỷ và có 15 người con, trong đó có 9 người con trai và 6 người con gái TônThất Thuyết là cháu bảy đời đức thúc Tôn Hiếu - Triết Hoàng Đế tục gọi là chúa Hiềnhay Hiền Vương (1619-1687) Tính tình cương trực, không ưa bề ngoài, ham hoạtđộng và rất ghét ồn ào huyên náo, có trí dũng và rất giỏi việc binh pháp

Năm 1870, khi Hoàng Kế Viên được Tự Đức suy làm Thống Đốc quân vụ Đạithần ở các tỉnh phía Bắc thì Tôn Thất Thuyết được làm sung tán tương quân vụ dướiquyền Hoàng Kế Viên Ngày 21 tháng 12 năm 1873 theo lệnh của Hoàng Tá Viên,

Trang 30

Tôn Thất Thuyết đã đem quân mai phục ở khu Cầu Giấy (Hà Nội) và cho một nhómđến sát thành Hà Nội để khiêu chiến Lúc bấy giờFrancis Garnier tên chỉ huy của thựcdân Pháp đang hội đàm với đoàn Trần Đình Túc trọng thành, thấy động FrancisGarnier bỏ họp đem quân ra ngoài thành nghênh chiến bị phục kích chết3.

Tháng 3 năm 1874 triều đình xét trận đánh trên đã phong Tôn Thất Thuyết làmBinh bộ hữu Tham tri, phong cho Tước Nam.Năm 1875 tại Tuyên Quang quân cờvàng hoạt động rất mạnh, bấy giờ Tôn Thất Thuyết đang làm quan tán tương quân vụtỉnh Sơn Tây đã đánh một trận lớn tại làng Châu Thượng thuộc phủ Vĩnh Tường.Hoàng Sùng Anh chỉ huy quân cờ vàng bị Tôn Thất Thuyết bắt sống Năm 1881 TônThất Thuyết được phong chức Thư binh Bộ Thượng Thư, trong bài dụ của Tự Đứcnhân việc Tôn Thất Thuyết được phong chức có viết: “Dụ rằng: Nguyên thư Tổng đốcsung hiệp đốc Tôn Thất Thuyết bị bệnh đã lâu, trước đã giải chức để về điều trị bệnh,nhiều lần cấp thuốc thang và cho thăm hỏi, nay đã khoẻ lại biết gắng lên xin lại kinhsung chức để báo đáp ơn sâu Trẫm khen là người có lỗi mà biết sửa đổi Vậy nayđiều bổ cho chức Thư binh Bộ Thượng Thư để cho xứng chức”4

Ngày 19-7-1883 (tức ngày 16 tháng 5 năm Quý Mùi) sau 35 năm ở ngôi vua,

Tự Đức qua đời đã gây nên sự kiện “tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng ba vua) Dướithời Tự Đức triều đình Huế đã ký kết với thực dân Pháp biến “Nam kỳ lục tỉnh” thànhthuộc địa của Pháp và chuẩn bị cơ sở cho hiệp ước tiếp theo chấp nhận sự “bảo hộ”của thực dân Pháp Ngày 17-7-1883 trước khi chết Tự Đức đã triệu tập các Đại thần để

Tự Đức ký di chúc truyền ngôi cho Ưng Chân, đồng thời phong cho Tôn Thất Thuyếtlàm “phụ chính Đại thần” Trước hôm tán tôn vua Dục Đức Ưng Chân), Tôn ThấtThuyết và Nguyễn Văn Tường dựa vào di chiếu để phế bỏ Dục Đức, rồi hai ông lậpHồng Dật là em út của vua Tự Đức lên ngôi lấy hiệu Hiệp Hoà Hiệp Hoà có âm mưugiảm chức Tôn Thất Thuyết để giảm bớt quyền hành của ông và đồng thời Hiệp Hoàlại muốn nhận cuộc bảo hộ của Pháp, chính vì các lý do trên, ngày 29 tháng 11 năm

1883 (tức ngày 30 tháng 10 năm Quý Mùi) Hồng Dật bị Tôn Thất Thuyết cùng cácquan lại phế truất Cùng ngày hôm đó Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã đưaƯng Đăng (Kiến Phúc) lên ngôi

Tuy là thiểu số trong triều, nhưng nhờ nắm binh quyền nên Tôn Thất Thuyếtvẫn giữ được ưu thế Ông vừa bí mật liên kết với các quan văn, võ ở các tỉnh khángchiến ngoài Bắc vừa chuẩn bị thực lực tích cực ở miền Trung từ Ninh Bình đến Nghệ

An, Quảng Trị Ở mọi nơi ông đều tổ chức và củng cố sơn phòng, ông đã bỏ châu báuvàng bạc và lương thực để xây dựng căn cứ địa, phòng khi cần sẽ đưa Vua lên đó Tạikinh đô Huế Tôn Thất Thuyết tìm mọi cơ hội để kích thích lòng trung nghĩa Trong khiTôn Thất Thuyết tích cực chuẩn bị mọi lực lượng chống Pháp thì đã số đình thần và cảvua Kiến Phúc lại tư thông với Khâm sứ Pháp

3 Nguyễn Tú - Triều Nguyên (1998), Địa chí Hương Thủy, NXB Thuận Hóa, Huế, tr 337.

4 Bảo tàng Lịch sử & Cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế (1994), Lý lịch di tích lịch sử phủ thờ Tôn Thất Huyết, Lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử & Cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế, tr 2.

Trang 31

Đầu tháng 1 năm 1884 Tôn Thất Thuyết lập phái nghĩa quân và giao cho TrầnXuân Soạn chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ huy Ngay từ ngày cuối năm 1883 Tôn ThấtThuyết đã có chủ trương lập đội quân này và dự định khởi nghĩa vào ngày 28-11-1883.Ngày 6-8-1884 nghĩa là vừa sau 2 tháng hoà ước 6-6-1884 tên đại tá Ghê-ri-ê đãmang 600 quân, hai đội pháo binh và chiến thuyền vào Huế với nhiệm vụ chiếm lấyHoàng thành nếu Viện Cơ Mật không tuân theo tối hậu thư của hắn, nhưng Tôn ThấtThuyết đã cương quyết gạt bỏ tối hậu thư đó.

Ngày 17-5-1884 tên Khâm sứ Pháp Rây-Nan (Rkeinart) và các võ quan thựcdân Pháp vào triều đình yết kiến nhà vua Tôn Thất Thuyết giả quân lính và bá quanrất chỉnh tề, vua Hàm Nghi ngồi trên ngai mà tiếp không đứng dậy, cũng không đixuống Sau lễ Tôn Thất Thuyết cho quân lính dắt cả đoàn Pháp đi bằng cửa hông,không cho ra thẳng cửa chính, hành động này đã đánh một đòn choáng váng vào chủnghĩa thực dân gây tiếng vang cho cả nước Không những thế, Tôn Thất Thuyết cònsai đặt súng đại bác trên kinh thành chỉa sang lầu sứ Pháp và đem nhiều bộ binh vềHuế

Đầu tháng 5 năm 1885 Pháp cho lập hai đội xạ thủ người Việt và chúng choViện Cơ Mật biết việc ấy Tôn Thất Thuyết đã trả lời y bằng bức thư có đoạn viết: “Ýđịnh của ngài Tổng Tư Lệnh là thế nào và ý nghĩa của hai chữ “Bảo hộ” là thế nào? vềviệc lập các toán xạ thủ là trái ngược các điều khoản của Hiệp định”

Trong triều những kẻ chủ hoà đều là kẻ thù của Tôn Thất Thuyết, ông sẵn sàngtrừ khử tất cả những quan tướng mà có quan hệ mật thiết với Pháp, bọn thực dân Phápcăm tức ông và chúng loại bỏ ông Vào thời gian này các cuộc nổi dậy chống Pháp ởCam-pu- chia đều có người của Tôn Thất Thuyết, nhiều lần bọn Khâm sứ Pháp éptriều đình đổi Thuyết từ bộ binh sang bộ lại, đưa bộ binh về tay người Pháp, nhưng ýđịnh của chúng không thành và Bộ trưởng ngoại giao Pháp đã điện cho cơ quan Khâm

sứ ở Huế: “ Không thể không trừng phạt hành vi của Viên Thượng Thư Bộ binhnước Nam và báo cho nước Nam biết chúng ta không chịu để tên Thuyết ở chức vụphụ chánh lâu hơn ”

Cuối năm Ất Dậu (1885) nhiều trận đánh giữa quân đội của Tôn Thất Thuyếtvới thực dân Pháp đã xảy ra Quân Pháp Việt lại khá nhiều, nhưng quân của nhà Vua

bỏ chạy Sau các trận đánh này Tôn Thất Thuyết giao cho hai con là Tôn Thất Đạm vàTôn Thất Tiệp ở lại cùng các quan bảo vệ Vua, còn ông cùng Trần Xuân Soạn sangTrung Quốc tiếp tục con đường chống Pháp

Sau khi Tôn Thất Thuyết mất (1913) dòng họ lấy phủ này làm phủ thờ ông và

từ đó mang tên Phủ Tôn Thất Thuyết Vào năm 1954 cụ Tôn Thất Tuân cùng con cháudòng họ góp công sức và của cải để xây dựng lại phủ Quá trình xây dựng thu gọn lạicòn một loại kèo và thêm một hành lang phía trước phủ, mái lợp lại bằng thiếc, toàn bộcột kèo, tay đòn bằng đanh mộc trông cổ kính, rộng rãi, uy nghiêm và rất đẹp mắt Đếnnăm 1974 do ảnh hưởng của chiến tranh và sự huỷ hoại của mối mọt phủ bị hư hỏngnhiều, cụ Tôn Thất Thắng cùng con cháu dòng họ lại tiến hành tu sửa lần nữa, lần này

Trang 32

giữ nguyên cấu trúc của năm 1954, mái bằng thiếc được thay bằng Phi-prô xi mănggồm 3 gian 2 chái và giữ nguyên cho đến bây giờ

Tổng thể cấu trúc phủ Tôn Thất Thuyết bao gồm các công trình từ ngoài vàotrong gồm có: Cổng chính; Lư hương; Điện thờ; Mộ Tôn Thất Hiệp; Tấm bình phongsau; Cổng hậu

Cổng chính của phủ được xây theo kiểu giữa bình phong hai bên là hai cổngvào ra, toàn bộ cổng xây dựng lại bằng gạch và vôi vữa vào năm 1954.Tấm bìnhphong cao1,45m; rộng 5,80m; dày 20cm.Trên nóc cổng có chữ “Hỷ” bằng chữ Nhoxây theo kiểu bán nguyệt, mặt trước và sau đều có chạm nổi một con rồng uốn khúccách điệu và cá chép tượng trưng cho cá chép hoá rồng

Nối liền với bình phong sang hai phía tả hữu là hai cổng vào ra có hình dáng,cấu trúc, kích thước như nhau, chất liệu cũng được xây dựng bằng vôi vữa và gạch.Mỗi cổng gồm ba trụ biểu hình vuông thấp dần từ trong ra ngoài và có kích thước cụthể như sau: Trụ thứ nhất cao 3,20m, rộng 40cm; Trụ thứ hai cao 2,90m, rộng 40cm;Trụ thứ ba cao 1,20m, rộng 40cm.Trụ thứ nhất được nối với trụ thứ hai bằng một máicong có chạm nổi hình con dơi dang đều hai cánh, phía trên hai trụ biểu lớn có hai búpsen.Khoảng cách hai trụ biểu thứ nhất và thứ hai là 1,20m Đây cũng là phần cửa để đivào ra.Trụ biểu thứ hai nối liền với trụ thứ ba bằng một bức tường cao 1m, dài2m.Toàn bộ tường thành bình phong, cột trụ cổng chính có chiều rộng là 16m Cổngchính được tu sửa vào năm 1974

Lư hương của phủ cách bình phong của cổng chính khoảng 2m, lư hương đượcxây bằng gạch và xi măng có hình chữ nhật, chiều cao lư là 0.7m; phần miệng dày7cm, có hai tai ở hai bên Lư dùng để làm nơi đốt giấy tiền và quần áo vào các ngày lễ,cúng kỵ

Điện thờ Tôn Thất Huyết được xây theo hướng Bắc-Nam, gồm 3 gian 2 chái,phía trước có một hành lang, phía sau điện thờ có dãy nhà phụ Điện xây bằng gạch,vôi vữa, mái lợp bằng Fi-prô xi măng, riêng dãy nhà phụ lợp bằng ngói liệt Diện tíchnhà thờ (không kể hành lang và nhà phụ) có chiều dài là 11,50m; rộng 9,80m; cao5,50m Hành lang gồm 4 cột hình trụ xây bằng gạch và xi măng có chiều cao 2,50m;đường kính 0.25m, toàn bộ hành lang có diện tích là 8,50m x 2,50m

Tiếp giáp với hành lang là mặt trước của điện thờ là hệ thống cửa gồm 3 cửalớn, mỗi cửa gồm 6 cánh cửa gỗ, kích thước như nhau, mỗi cánh cửa làm hình chữnhật dài 2,20m; rộng 40cm Phần mặt trước nhà thờ, trên hai cột hai bên cửa chính củagian giữa có hai câu đối sơn son thếp vàng, có chạm chữ Nho nổi đã cũ

Bước qua cửa vào trong điện thờ, chúng ta sẽ thấy điện thờ có 4 dãy cột songsong nhau gồm 16 cột lớn và 6 cột nhỏ Các cột đều hình tròn, làm bằng gỗ, cột lớnnhất cao 4,20m; đường kính 0,22m, cột nhỏ nhất cao 2,20m; đường kính 0,2m, trêncác dãy cột này đều có các câu đối (trừ dãy cuối cùng) chữ Hán làm bằng gỗ, sơn sonthếp vàng kích thước như nhau, dài 2,10m; rộng 24cm; dày 2,5cm

Trang 33

Ở cột hàng thứ nhất có 2 câu đối quay mặt vào nhau, ở hàng 2 có 4 câu đốiquay mặt ra ngoài và ở hàng 3 có 2 câu đối cũng quay mặt ra Phía trên cao ngay giangiữa có bức hoành sơn son thếp vàng có chạm nổi 4 chữ Hán tạm dịch là “Quốc oaiCông từ” bức hoành còn ghi thời gian làm nó vào ngày tốt tháng 2 năm Tự Đức thứ 19(1866).

Phía dưới ngay tại chính đường đặt một bàn thờ tổ dòng họ, hai phía tả hữu đặthai bàn thờ các vị quan trong dòng họ có công với nước trước đời Tôn ThấtThuyết.Phía sau ngăn cách bằng bức tường tại gian giữa đặt bàn thờ phụ thánh Đạithần Tôn Thất Thuyết, hai bên tả hữu thờ hai con của Tôn Thất Thuyết đã có công vớinước là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Tiệp

Dãy nhà phụ được thông với điện thờ bằng hai cửa phụ, ngôi nhà này nguyêngốc do chính Tôn Thất Thuyết cho xây, nhà phụ liền tường với điện thờ, tại đây trên 4trụ cột của tường có khảm sánh sứ 4 câu đối (xem bản viết kèm theo) và một bức cuộnthư đúc bằng xi măng trên có ghi công đức cúng của để xây dựng và sửa chữa phủ thờbằng chữ Hán, bức cuộn thư này làm vào năm Bảo Đại thứ 5 (1930) Hai hồi nhà cóhai cửa hình tròn thông ra ngoài Nhà phụ này dùng làm nơi cho con cháu dòng họchuẩn bị cho cúng kỵ

Cách phủ thờ 8m về phía phải là phần mộ của Quốc Oai Tôn Thất Hiệp đượcxây hình lục giác, có cổng vào gồm hai cột hình trụ trên có hai búp sen và nối liền với

bờ tường xung quanh, trước mặt mộ có hai tấm bia đá to nhỏ dặt song song nhau Phíatrên phần mộ có các cánh sen mở rộng, sau mộ thẳng cổng có tấm bình phong hìnhchữ nhật, hoa văn viền hình mây, giữa tấm bình phong phía trên có 3 chữ Nho tạmdịch là “Quốc Oai Công”, dưới là 3 chữ khảm bằng thuỷ tinh màu Chân bình phong

có đặt một bàn cờ tướng bằng xi măng cách mộ khoảng 4m và bên phải có một am thờngoài trời

Cách nhà phụ, chính giữa có bình phong được xây bằng gạch, vôi vữa với chiềucao là 1,70m; rộng 3m; dày 0,18m.Theo cụ Tôn Thất Cừ thì tấm bình phong cũng nhưnhà phụ và cổng hậu đều còn lại từ khi xây dựng phủ đến giờ và không qua sửa chữa,

do thời gian tấm bình phong đã bị vỡ mất hai miếng ở hai góc chéo nhau

Cổng hậu của phủ nằm thẳng hồi bên phải của phủ kéo dài ra phía sau, cổngcao 4m; dài 12m Cổng có cấu trúc mái cong, lợp ngói, toàn bộ cổng được xây bằnggạch, đá và vôi vữa Cổng có một cửa cuốn tròn, kéo ra hai phía tả hữu là hai bứctường phía cuối hai bức tường là hai trụ cột hình vuông, hiện nay chỉ còn một trụ phíabên phải.Mặt sau cổng phía trên có trang trí hoa văn, hai bên có hai câu đối, song dothời gian cùng sự huỷ hoại của thiên nhiên nên không còn đọc được nữa Đi qua cổng

ra mặt sau cổng tiếp giáp với đường làng và bờ sông Như Ý, phía trên cổng có 4 chữNho khảm sành bằng chữ Hán, tạm dịch nghĩa: “ơn nước nghiệp nhà” Phía dưới haibên cửa của cổng có hai câu đối bằng chữ Hán cũng khảm sành, chân cổng có hai conlân đắp nổi cách điệu trên tường tượng trưng cho dòng dõi dồi dào, vòng theo vòm cửa

Trang 34

có hình hai con dơi dang cánh Nền cửa cổng được lát gạch và đá Hiện nay dòng họlấy cổng hậu để đi lại.

Phủ thờ Tôn Thất Thuyết đã trải qua ba lần xây dựng và tu sửa chính Cho đếnnay đã hơn 100 năm, thời gian và chiến tranh, sự tác động của các điều kiện thiênnhiên đã ảnh hưởng không nhỏ đến di tích phủ Tôn Thất Thuyết Đặc biệt do ảnhhưởng của các trận đánh năm 1954 phủ đã bị hư hỏng nặng, phần mái đã phải lợp lạibằng Fi-prô xi măng Các di vật còn sót lại trong phủ Tôn Thất Huyết là khá ít ỏi, chủyếu là do con cháu của ông bổ sung thêm sau này Những di vật còn sót lại từ năm

1930 trở về trước bao gồm: 01 chuông đồng (có ghi chữ Nho); 10 câu đối bằng gỗ sơnson thếp vàng khắc nổi chữ Hán; 01 bức hoành sơn son thếp vàng bằng gỗ; 01 lưhương sành sứ; 01 bức thư quyển bằng xi măng chữ Hán (thời Bảo Đại năm thứ5).Những vật sau này con cháu bổ sung bao gồm: 1 trống gỗ;10 lư hương sành sứ; 2 lưhương đồng; 8 đèn đồng; 8 đèn gỗ; 13 quả bồng bằng gang; 2 quả bồng bằng gỗ; 3 bàivị

Việc tổ chức cúng và tưởng niệm Tôn Thất Thuyết hàng năm chủ yếu do concháu dòng họ tổ chức vào hai ngày 14 và 15 tháng 6 âm lịch Ngoài ra hàng tháng cứvào các ngày mồng 1, 14, 15 và 30 là thắp hương tưởng niệm ông và dòng họ Concháu dòng họ chỉ tổ chức cơm chay để cúng ông, bởi ông là người mê đạo Phật

Trong hệ thống các di tích lịch sử phản ánh những chân giá trị về những ngàyđầu chống quân xâm lược trong cuộc kháng chiến lâu dài, anh dũng chống thực dânPháp xâm lược của dân tộc Việt Nam ở Thừa Thiên Huế thì di tích lịch sử phủ TônThất Huyết có giá trị và có ý nghĩa lịch sử phản ánh những giá trị chân - thiện - mỹ củathời đại ông sống và hoạt động, một thời đại đã được ghi vào trang sử dân tộc như mộtthời kỳ đầy kịch tính, đặc biệt là trong phong trào Cần Vương, hơn nữa cũng để phảnánh những mâu thuẫn trong nội bộ của triều đình Huế đương thời

Tôn Thất Thuyết và những di tích lịch sử của ông là bằng chứng hùng hồn đểchứng minh cho thời kỳ lịch sử đầy biến động đó Đã phản ánh những tư tưởng và conđường cách mạng của ông là phù hợp với quy luật, phù hợp với tiến độ của lịch sửchống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Ông là lãnh tụ cang cường nhất lúc bấy giờ,tiêu biểu cho ý chí đề kháng, ông là một nhà ái quốc, là tấm gương sáng ngời, là bônghoa trong vườn hoa những anh hùng, những nhà yêu nước của đất nước quê hương,cho muôn đời sau ngưỡng mộ Ngoài giá trị về lịch sử, phủ Tôn Thất Thuyết còn là giátrị về kiến trúc xây dựng, là một loại hình trong các loại hình xây dựng phủ thờ trongtổng thể kiến trúc đặc trưng của triều Nguyễn Phủ thờ Tôn Thất Huyết được côngnhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia vào năm 1994 theo Quyết định số 2754 - QĐ/ BTngày 15-10-1994

7 Đền Văn Thánh

Trang 35

vinh sự học, thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo”, “cầu hiền đãi sĩ” theo đạo lý

làm người của dân tộc Ở làng Thanh Thủy Chánh, Hội Tư văn và đền Văn Thánh thờĐức Khổng Tử được hình thành khá sớm vào khoảng thế kỷ XVIII

Đến thời Tự Đức, nhận thấy con em trong làng ít người học hành đỗ đạt, nêndân làng đã bỏ tiền ra để trùng tu lại đền Văn Thánh với ước nguyện cầu mong concháu tu chí học tập thành tài, thi cử đỗ đạt làm rạng danh làng xã, góp phần xây dựngquê hương

+Trước năm 1945, ở làng Thanh Thủy Chánh có đầy đủ các thiết chế văn hóa,tín ngưỡng, như đình, chùa, miếu, nhà thờ họ, khuôn hội Nhưng đến năm 1947, thực

hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến” không để cho thực dân Pháp có nơi đóng quân,

lập đồn bốt tấn công lực lượng cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ xã Hồng Thủy,dân làng chủ động tháo dỡ các công trình kiến trúc đó Tất cả hương án, đồ thờ tự ởcác đình, chùa… được đưa vào thờ tại đền Văn Thánh Cho đến sau năm 1956, khi cáccông trình này được xây dựng lại, dân làng mới thỉnh về để thờ tự Trong khoảng thờigian đó, các hoạt động tế lễ đều diễn ra ở đền Văn Thánh Riêng miếu Võ Thánh thờQuan Công, trước đây được dân làng lập thờ riêng, nhưng do bị hư hỏng nặng, sau nàycũng được thỉnh vào thờ chung tại đền Văn Thánh

- Khảo tả di tích

+ Khuôn viên của đền Văn Thánh khá rộng, có tổng diện tích là 2.467m2, ngôiđền được bố trí nằm ở ví trí trung tâm của thửa đất, xây dựng theo kiểu nhà rường 3gian 2 chái, mái lợp ngói, gồm có các công trình sau: Hồ bán nguyệt; Bình phong; Sânđền và Đền

∙ Hồ bán nguyệt: Nằm ở phía trước đền, trong hồ trồng hoa sen, hoa súng, thả

cá… Ngoài chức năng làm tôn thêm vẻ đẹp và trang nghiêm của đền, hồ bán nguyệt

Trang 36

còn chứa đựng một yếu tố quan trọng trong thuật phong thủy, trong cách xây dựng cáccông trình kiến trúc dân gian xứ Huế

∙ Bình phong: Theo quan niệm “phong thủy”, bình phong là nơi để che chắn

cho ngôi đền tránh khỏi những điều không hay, tạo sự kín đáo cho hệ thống các côngtrình bên trong, đồng thời cũng là nơi để đắp vẽ, trang trí những hình tượng có tínhchúc tụng, mong ước của dân làng, bình phong của đền Văn Thánh cũng không nằm

ngoài ý nghĩa ấy Bình phong được xây kiểu “cuốn thư”, mặt trước trang trí hình tượng “Hà đồ cõng lạc thư”, mặt sau trang trí “chữ thọ”, xung quanh và dưới chân

của 2 mặt đều được nề, đắp vẽ các họa tiết dây, hoa lá tứ thời, sóng nước, Long ẩn vânuốn lượn cách điệu Gần sát sau bình phong đặt một cái lư khá lớn làm bằng chất liệu

xi măng, dùng để hóa vàng mã mỗi khi có dịp cúng tế

∙ Sân đền: Nối liền với bình phong và đền là khoảng sân khá rộng được đúc

bằng bêtông, hai bên tả, hữu có các bồn hoa, cây cảnh, xung quanh là vườn trồng rauxanh Từ sân đi qua các bậc tam cấp là đến đền

∙ Đền: Đền quay mặt về hướng Tây Nam, trước là cánh đồng lúa rộng lớn tạo

nên một không gian thoáng, xa xa là núi Ngự Bình được xem là tiền án; Có hồ bán

nguyệt được chọn làm yếu tố“minh đường thủy tụ” Đền gồm có tiền đường và chánh

điện

+ Tiền đường: Mái lợp ngói liệt, chính giữa nóc trang trí hình tượng mặt Hổ

phù, trên các bờ nóc, bờ quyết, nóc phụ trang trí long hồi, long hóa lá, long, lân, quy, phụng Hai đầu hồi đắp nổi hình mặt Dơi cách điệu, chất liệu chủ yếu bằng xi

măng, vẽ bột màu, ghép sành sứ

Từ sân đền đi qua các bậc cấp để vào tiền đường, phía trước có hàng cột trụtròn bằng bêtông dùng đỡ phần mái hiên, cột được trang trí rồng cuốn từ dưới lên, vẽbằng bột màu Nội thất của tiền đường để trống, tạo một không gian mở thoáng dùnglàm nơi hội họp, tế lễ, sinh hoạt văn hóa… tiền đường được chia làm ba gian thôngnhau và tạo thành ba lối đi vào bên trong chánh điện, trên ngạch cửa của lối vào trongđền có treo các bức đại tự bằng chữ Hán, theo kiểu cuốn thư bằng chất liệu ximăng,ghép sành sứ, bột màu

+ Bức đại tự ở giữa: Chữ Hán: 殿 殿 殿 殿 Phiên âm: Văn võ thánh điện + Bức đại tự bên trái: Chữ Hán: 殿 殿 殿

Phiên âm: Thánh Đức Quang + Bức đại tự bên phải: Chữ Hán: 殿 殿 殿

Phiên âm: Đức vô cương Chánh điện: Trước đây đền Văn Thánh được dựng theo kiến trúc nhà rường 3

gian 2 chái với bộ sườn bằng gỗ, mái lợp ngói liệt; trải qua thời gian ngôi nhà đã bị hưhỏng nặng Năm 2008, dân làng đã tiến hành hạ giải ngôi đền cũ để bảo đảm an toàn,đền mới được xây lại ngay trên nền đất cũ bằng chất liệu bê tông giả gỗ theo mô-típkiến trúc nhà rường, mang đặc trưng của một ngôi đền xứ Huế

Trang 37

Kết cấu chính của đền Văn Thánh được đúc bằng bêtông giả gỗ rất tinh tế nhưmột nhà rường 3 gian 2 chái, tường gạch, mái lợp ngói liệt, chính giữa nóc trang tríhình tượng Long triều nhật, trên các bờ nóc, bờ quyết, nóc phụ trang trí hình tượng

long hồi, long hóa lá, quy, phụng hoa lá cách điệu, hai đầu hồi có đắp nổi hình “Dơi ngậm kim tiền” Tường được xây bằng gạch, vừa để che chắn, vừa làm chức năng chịu

lực Cửa làm bằng gỗ theo lối bản khoa, chia làm 3 lối đi, mỗi lối có 4 cánh Hai bên tả

và hữu mặt tường trước của chái Đông và chái Tây có đắp nổi hình “Long mã chở lạc thư” để tạo thế trấn yểm bảo vệ cho ngôi đền, phía trên có trổ cửa sổ đúc rỗng theo lối

chữ Thọ, để lấy ánh sáng bên ngoài vào trong đền, xung quanh trang trí hoa văn dây lá,tất cả đều được ghép bằng sành sứ và vẽ bằng bột màu rất hài hòa tạo cảm giác nhẹnhàng tinh tế

Nội thất bên trong chánh điện, các án thờ được bài trí ở cả ba gian từ ngoài vàotrong đến sát tường, ở gian chính giữa đặt một bàn thờ bằng gỗ sơn son thiếp vàng, hai

án tả, hữu trước đây được làm bằng gỗ, sau do bị hư hỏng nên được làm lại bằng bêtông giả gỗ, mặt trước được quét sơn và trang trí khá tỉ mỉ, xung quanh hương án đượcchia làm nhiều ô hộc với những hình vuông và hình chữ nhật, mỗi ô hộc đều được

trang trí các đề tài tứ linh, cây cối, hoa lá… ở chính giữa là mặt “Hổ phù” Bên trên

bài trí các đồ thờ tự như: Bài vị, lư xông trầm, lư hương, bình hoa, khay đựng trầu cau,đĩa đựng hoa quả, đế đèn

+Sau lưng ba án thờ chính là bàn soạn, nơi bày biện lễ vật khi có việc tế lễ hoặc

kỵ giỗ, sát vách của nội điện là ba bàn thờ lớn, trên mỗi bàn thờ thiết trí một chiếc ngaiđược chạm trổ, sơn son thếp vàng và trên ngai thiết trí một tượng thánh, gian giữa thờđức Khổng Tử, hai gian tả hữu thờ Quan Thánh và các vị học trò của Đức Khổng Tử,cùng các đồ thờ tự: Bài vị, lư xông trầm, lư hương, bình hoa, khay đựng trầu cau, đĩađựng hoa quả, đế đèn…

Chính giữa gian ngoài (gian nhất) trên cao ngang trến có treo 3 bức đại tự chữHán sơn son thếp vàng với nội dung:

+ Bức đại tự ở giữa: Chữ Hán: 殿 殿 殿

Phiên âm: Thanh quang tự

+ Bức đại tự bên trái: Chữ Hán: 殿 殿 殿

Phiên âm: Tập đại thành + Bức đại tự bên phải: Chữ Hán: 殿 殿 殿

Phiên âm: Thần linh hiển

Bên phải của đền còn có một ngôi nhà ba gian của con cháu bác Lê Viết Khứu

ở để trông coi, chăm sóc và hương khói cho đền Nhà được xây bằng gạch và xi măng,mái lợp ngói, nhà cũng được dùng để làm nơi soạn sửa đồ cúng, trà rượu khi làng có lễ

tế hoặc kỵ giỗ

Giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ của di tích

Thanh Thủy Chánh là một trong những làng xuất hiện tương đối sớm ở vùngđất Thuận Hóa Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nhưng làng vẫn còn lưu giữ được

Trang 38

nhiều nét đặc trưng văn hóa thuần Việt: Hệ thống đình, chùa, miếu mạo, nhà thờ họ…gắn liền với nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa dân gian

Là những thiết chế văn hóa lâu đời hiện hữu và tồn tại bên cạnh đình, chùa,miếu, đền Văn Thánh cùng với Hội Tư văn (làng Thanh Thủy Chánh) xuất hiệnkhoảng thế kỷ XVIII, là một yếu tố độc đáo của văn hóa làng xã Đền Văn Thánh đượcxây dựng để thờ Đức Khổng Tử, với mục đích đề cao đạo đức, lễ giáo phong kiến theo

tư tưởng của Nho gia, tôn vinh việc học, tinh thần “tôn sư trọng đạo” Nhưng cùng

với thời gian, đền Văn Thánh trở thành biểu tượng cho việc giáo dục nếp sống vănhóa, lễ nghi, tôn ti trật tự, đạo đức lành mạnh cho dân làng; góp phần hình thành, pháttriển truyền thống hiếu học, coi trọng giáo dục, xem việc học như là phương tiện đểhình thành nhân cách tốt đẹp cho con em trong làng; hình thành tình yêu thương giađình, dòng tộc, yêu quê hương, Tổ quốc

Cùng với việc tôn vinh những bậc hiền tài đỗ đạt, cống hiến công sức cho nướcnhà, đền Văn Thánh còn là một trong những di tích quý ghi lại những sự kiện, dấu ấnlịch sử, nhiều chiến công của người dân nơi đây trong hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ

+Với vị trí tự nhiên thuận lợi, kín đáo, ít người qua lại, khó tiếp cận, có nhiềulối thoát hiểm, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), đền VănThánh trở thành một địa điểm lý tưởng để hoạt động bí mật của cách mạng Nơi đây,

là địa điểm thành lập Chi bộ Đảng Đông Sơn (xã Hồng Thủy), nơi sinh hoạt của tổchức cơ sở Đảng địa phương, đồng thời là điểm cất giấu vũ khí phục vụ cho khángchiến

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, với hệ thống hầm bí mật được bốtrí ở những vị trí bất ngờ, ngụy trang một cách khéo léo, đền Văn Thánh trở thành cơ

sở nuôi giấu, che chở cho nhiều cán bộ lãnh đạo của huyện xuống nằm vùng, bám trụtrực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng để giữ vững địa bàn mang tính chiến lược là xãThủy Thanh, nơi trung chuyển, cung cấp nhân tài vật lực cho kháng chiến, là vùngđệm nối liền các xã vùng ven biển của huyện Phú Vang và vùng giải phóng

Đền Văn Thánh còn là địa điểm ẩn nấp của cán bộ, chiến sĩ cách mạng ở địaphương, là địa bàn đứng chân, tập kết của nhiều lực lượng vũ trang cách mạng gópphần làm nên thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vàXuân 1975)

Chiến tranh đã lùi xa, đền Văn Thánh lại trở về với không gian tĩnh mịch, trangnghiêm vốn có của một chốn thờ tự thiêng liêng, nhưng giờ đây trong ký ức của nhiềucán bộ, chiến sĩ cách mạng và người dân ở vùng đất này, đền Văn Thánh còn là mộtđịa danh gắn liền với một thời kỳ đấu tranh vô cùng gian khổ với những hy sinh, mấtmát, nhưng cũng rất vinh quang với nhiều chiến công rất đỗi tự hào vì độc lập, tự docủa dân tộc; với tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường của người dân làng Thanh

Ngày đăng: 26/01/2021, 21:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w