1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

2 cac phuong phap, ky thuat day hoc tich cuc

55 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 457,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tích cực vận dụng công nghệthông tin trong dạy học.Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau: Một là: dạy học thông qua t

Trang 1

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT

1 BDTX: Bồi dưỡng thường xuyên

2 THCS: Trung học cơ sở

3 THPT: Trung học phổ thông

4 UBND: Ủy ban nhân dân

5 GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo

Trang 2

PHỤ LỤC

3 2 Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh 6

5 II MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC 24

6 1 Một số vấn đề chung về PP, KT dạy học tích cực 24

Trang 3

TÀI LIỆU

CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC

HỌC SINH TRUNG HỌC

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

1 Yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học

Sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra nhữngyêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho

sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong những địnhhướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tínhhàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việchình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực vàsáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của ngườihọc Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổthông

Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đàotạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướnghiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹnăng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máymóc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển

từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạtđộng xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổimới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhậnthức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theohướng này

Trang 4

Hiện nay, tình trạng khá phổ biến hiện nay là giáo viên lệ thuộc quá nhiềuvào sách giáo khoa và sách giáo viên Vẫn còn quan niệm cho rằng sách giáokhoa là “pháp lệnh”, nên nhiều giáo viên đã cố gắng thuyết trình, giảng giải hếtnhững nội dung kiến thức có trong sách giáo khoa, yêu cầu học sinh học thuộc,nhớ máy móc theo sách giáo khoa, thậm chí biến giờ dạy thành một giờ “đọcchép” từ sách giáo khoa Chính việc cố gắng để dạy hết kiến thức trong sáchgiáo khoa đã gây ra sự quá tải, nặng nề, thiếu thời gian cho một tiết học trên lớp.Nội dung của sách giáo viên cũng chỉ là những hướng dẫn được cho rằng “có thểtốt nhất” mà thôi Vì thế khi giảng dạy giáo viên hoàn toàn được sáng tạo màkhông phải lệ thuộc vào đó Nhiều giáo viên sử dụng phương pháp dạy họctruyền thống (Dùng ngôn ngữ, thực hành, luyện tập…) một cách thụ động, chậmcải tiến, ít áp dụng phương pháp, kỹ thuận dạy học tích cực nên hiệu quả bài họcchưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới theo định hướng phát triển năng lựchọc sinh.

PPDH truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền

từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ Về cơ bản, phương pháp

DH này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm Theo Frire - nhà xã hội học,nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin đã gọi PPDH này là "Hệ thống ban phátkiến thức", là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò Thực hiệnlối dạy này, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống,học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo Với PPDH truyền thống,giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo Giáo án dạytheo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống

Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháptruyền thống có tính hệ thống, tính logic cao Song do quá đề cao người dạy nênnhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờdạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thựchành của người học; do đó kỹ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế

1 Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh

Mục tiêu của đổi mới PPDH là để nâng cao chất lượng giáo dục, góp phầnhình thành và phát triển toàn diện về: đức, trí, văn, thể, mỹ cho học sinh Hiệnnay nền GD-ĐT nước nhà đang có những bước chuyển mình rõ rệt… Chúng ta

Trang 5

đang cố gắng để xây dựng cho từng môi trường sư phạm thật trong lành, thânthiện và mỗi nhà giáo của chúng ta cũng đang phấn đấu để trở thành tấm gươngđạo đức, tự học và sáng tạo Trên con đường phát triển của đất nước, sự đổi mớicủa nền GD-ĐT để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH chắc chắnkhông thể thiếu sự đổi mới và sáng tạo các phương pháp và phương tiện trongquá trình dạy học của mỗi thầy, cô giáo chúng ta Vì đó chính là trách nhiệm vàlương tâm nghề nghiệp.

Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là

từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụngđược cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từphương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cáchvận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăngcường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theohướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnhviệc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môncần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp

Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành

và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếmthông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạocủa tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung vàphương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳphương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoànthành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”

Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chứcdạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà cónhững hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp,học ở ngoài lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành

để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thựctiễn, nâng cao hứng thú cho người học

Trang 6

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quiđịnh Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nộidung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệthông tin trong dạy học.

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một là: dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp

học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu nhữngtri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiếnhành các hoạt động học tập (chủ động, tự tin, tích cực, tự học) nhằm củng cốkiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vàocác tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…

Hai là: chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và

các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìmtòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phântích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dầnhình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba là: tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở

thành môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết vàkinh nghiệm của từng cá nhân, nhóm, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụhọc tập chung (học sinh thực sự là trung tâm của hoctj động học)

Bốn là: chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong

suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học).Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh vớinhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác địnhtiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các saisót

Kết quả vận dụng sáng tạo các PPDH và phương tiện dạy học theo hướngtích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, người ta đã rút ra một phương

châm về dạy học rất hay như sau: “Tôi nghe, tôi sẽ quên Tôi nhìn, tôi sẽ nhớ Tôi làm, tôi sẽ hiểu” Có nghĩa là, trong mỗi giờ học, nếu giáo viên biết kết hợp

Trang 7

vận dụng linh hoạt các phương pháp vừa thuyết trình, sử dụng các học cụ trựcquan và học sinh được thực hành ứng dụng thì giờ học đó chắc chắn sẽ có hiệuquả tốt Cách dạy học này thực ra không mới và không khó nhưng nhiều giáoviên lại không thường xuyên vận dụng.

Cùng với đổi mới PPDH, việc đổi mới hình thức dạy học rất quan trọng.Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, chú ý các hoạt động trải nghiệmsáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật cho học sinh, tổ chức dạy họcthực địa, gắn với di sản văn hóa, sản xuất kinh doanh Ngoài việc tổ chức hoạtđộng học trên lớp, cần coi trọng việc giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh, nhất lànhững nội dung vận dụng, tìm tòi mở rộng (chủ yếu cho đối tượng học sinh khá,giỏi), khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục-thể thao…

2 Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học

3.1 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương phápdạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằngviệc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nângcao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cầnnắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trongviệc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lýcác câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuynhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thếbên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng cácphương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của họcsinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề

3.2 Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học

Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn

bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực vànâng cao chất lượng dạy học Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạyhọc cá thể là những hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi mộthình thức có những chức năng riêng Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và

sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qualàm việc nhóm Trong thực tiễn dạy học ở trường trung học hiện nay, nhiều giáo

Trang 8

viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên vớihình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của họcsinh Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việcgiải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn cónhững hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thểchiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt nhưphương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án Mặt khác, việc bổ sungdạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy

rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh Muốn đảm bảo việc tích cực hoá

“bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụngdạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác

3.3 Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phươngpháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trongdạy học Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trườngphổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên các phương tiện dạy học tựlàm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy Đa phươngtiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy họctrong dạy học hiện đại Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phươngtiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như cácphương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng trường học kếtnối

3.4 Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn

Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học,việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạyhọc bộ môn Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ

sở lý luận dạy học bộ môn Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặcthù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên; các phương pháp dạy học nhưtrình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật,thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lựctrong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả caotrong việc dạy học các môn khoa học…

Trang 9

3.5 Khơi dạy hứng thú học tập cho học sinh (tạo động lực, hưng phấn cho người học)

- Chúng ta thường nói nhiều đến đổi mới PPDH và trong lí luận dạy họccũng nêu tên nhiều PPDH “cũ”, “mới” Tất cả các PPDH có thể gom lại thành 3nhóm PPDH chính đó là nhóm PPDH dùng lời (thuyết trình); nhóm PPDH thôngqua tổ chức hoạt động học cho HS; nhóm PPDH thông qua thực hành, trảinghiệm Tính “tích cực” của PPDH phụ thuộc vào kỹ thuật phát huy “tính tíchcực” của người học Tên PPDH không nói được nhiều nội dung của PPDH đó

mà kỹ thuật triển khai chúng mới là vấn đề cần được trang bị cho GV Việc sửdụng bất cứ PPDH nào hay muốn huy động sự tham gia của người học trước tiên

GV phải tạo được hứng thú cho người học, xuất phát từ nhu cầu học thực sự

- Muốn người học có hứng thú học tập người dạy phải là người biết

truyền cảm hứng Một nhà sư phạm nước ngoài có nêu một quan điểm về dạyhọc hiệu quả đại ý là: Học chỉ có thể hiệu quả khi người học tìm thấy niềm vui,

sự hào hứng khi học và khi họ chìm đắm trong hoạt động nhận thức, sự đam mêhọc tập sẽ phát triển

Nhà sư phạm người Mỹ có nói: Người thầy trung bình chỉ biết NÓI;người thầy giỏi biết GIẢI THÍCH, biết MINH HỌA; người thầy vĩ đại biếtTRUYỀN CẢM HỨNG” Với những điều nêu trên cho chúng ta thấy muốnngười học (HS) học có hiệu quả người thầy không chỉ biết giải thích, biết minhhọa mà còn phải biết truyền cảm hứng cho người học Truyền cảm hứng trongdạy học là một việc cần nhưng không dễ vì đây vừa là khoa học vừa là nghệthuật

- Trước hết chúng ta cần nhận thức được: Muốn người học có hứng thúphải giúp họ tìm được niềm vui khi tiếp nhận thông tin, muốn có niềm vui phảithấy được tính hữu dụng của nội dung học Cần thiết phải xây dựng ý thức vàtạo lập nhu cầu cho người học, từ đó giúp người học xác định đúng mục đíchcủa việc học, xây dựng động cơ học tập và tạo động lực cho người học là nềntảng của hứng phấn trong học tập Tuy nhiên bài viết này không đi sâu vào nộidung xây dựng động cơ và tạo động lực cho người học mà chỉ đi sâu vào kỹthuật và nghệ thuật tạo hứng thú cho người học trên lớp học, đối với một bài

Trang 10

học Cần nhận thức được rằng truyền cảm hứng cũng có yếu tố khoa học và tínhnghệ thuật và phải có những kỹ thuật hợp lí.

- Một cách ngắn gọn bộ máy học là toàn bộ giác quan và hệ thần kinh củacon người trong đó bộ “vi xử lí” chính là bộ não Bộ não với tư cách là một bộphận sinh học của một con người về cơ bản có cấu tạo giống nhau ở nhữngngười khác nhau; tuy nhiên khi nó trở thành bộ máy học thì nó khác nhau ởnhững con người khác nhau vì nó liên quan đến sự hưng phấn học và kiến thứcsẵn có qua trải nghiệm hoặc do tích lũy ở từng con người không hoàn toàn giốngnhau Nếu người học thích học, có hứng thú học, chú ý, tập trung vào vấn đềđang học thì vùng Limbic này sẽ “mở”; ngược lại nó sẽ “đóng” Nhiệm vụ củangười dạy phải “cù” vào Limbic để người học thích học thông qua việc làm chongười học thấy được lợi ích của việc học; khơi gọi niềm vui trong hoạt độngnhận thức và cỗ vũ sự tham gia tối đa từ người học khi tiếp nhận nội dung dạyhọc Với những vấn đề nêu trên muốn tạo hứng thú cho người học phải hiểu cơchế của việc học và đó là khía cạnh khoa học của việc tạo hứng thú cho việc học

ở người học và đòi hỏi GV phải có kỹ thuật tạo hứng thú

* Kỹ thuật và nghệ thuật tạo hứng thú cho người học

- Khích thích tính tò mò nhận thức và chỉ cho người học lợi ích của nộidung học:

Việc đầu tiên là kích thích sự “tò mò nhận thức” thông qua tạo cho ngườihọc trạng thái “muốn biết” nội dung học; để người học “muốn biết” thì trước hết

GV phải chỉ ra được lợi ích của nội dung mà người học tiếp nhận Người họcphần lớn không phải đi học cho vui mà học để đạt mục đích nào đó Ở một nền

GD người học học để lấy bằng cấp thì mục đích học vì điểm, vì đỗ đạt khôngphải là ít; tuy nhiên cũng có nhiều người học biết tiếp nhận nội dung học là để

sử dụng cho học lên, cho cuộc sống và cho làm việc…GV cần chỉ cho họ mụcđích của kiến thức đang học để người học có cảm hứng học Mâu thuẫn trongnhận thức cũng là tác nhân gây “tò mò nhận thức” vì vậy giáo viên (GV) nênbiết đem đến cho người học một số góc nhìn về một sự vật, hiện tượng liên quanđến nội dung học để HS tranh luận, phản biện từ đó chỉ cho họ “góc nhìn chínhxác” để nhận thức nội dung này…

Trang 11

- Biết giao tiếp sư phạm hiệu quả, tạo được bầu không khí thân thiện trong lớp học:

Có câu chuyện như sau: một học sinh năm học trước còn là học sinh cókết quả cao về môn lịch sử, sang năm học này kết quả môn học đó quá kém Khiđược hỏi nguyên nhân em đó trả lời: “năm ngoái em thích cô dạy môn lịch sử vì

cô tâm lí và quan tâm đến em nên em thích học môn lịch sử vì vậy kết quả cao;năm học này em không có cảm tình với cô dạy môn lịch sử vì cô này không thểhiện sự quan tâm và khi học em cảm thấy nặng nề nên em không thích học vìvậy kết quả môn học đó đi xuống” Câu chuyện trên cho thấy đôi khi học sinhthích học môn học do thích người dạy môn học đó và điều đầu tiên tạo hứngphấn cho người học người dạy phải tạo được sự thân thiện, yêu quý từ ngườihọc Giao tiếp sư phạm hiệu quả là phương tiện hữu hiệu cho vấn đề nêu trên.Chúng tôi muốn lưu ý một số nội dung sau:

+ Hãy nắm bắt thông tin về người học mà mình đang dạy, thông tin có thể

là sơ yếu lí lịch, là sở thích, là đặc điểm tính cách…và tận dụng cơ hội tiếp xúc

để thể hiện tình cảm và sự quan tâm đến HS, đặc biệt những học sinh “cá biệt”

+ Thể hiện sự khách quan về tình cảm đối với học sinh Mặc dù con người

là động vật có tình cảm, có tình cảm tích cực hay tiêu cực với HS là điều khótránh khỏi Tuy nhiên GV phải biết kiểm soát được cách cư xử với học sinh củamình để HS không có cảm giác phân biệt đối xử

+ Sử dụng phương tiện giao tiếp hiệu quả Ngôn ngữ và cử chỉ của GVảnh hưởng lên cảm tình của HS với GV Những GV biết sử dụng ngôn ngữ hợp

lí với giọng nói biểu cảm và ánh mắt thân thiện, cử chỉ thể hiện sự mô phạm sẽ

có tác động tốt; những GV thẳng thắn vạch ra các điểm sai của HS với lời lẽ nhẹnhàng, từ tốn và đầy sự thân mật thông qua đối thoại vui vẻ sẽ được các em đónnhận Đặc biệt không được thể hiện tính thiên vị trong giao tiếp sư phạm; hãythể hiện bằng lời nói hay cử chỉ cho mọi học sinh trong lớp thấy tất cả các HSđều được ghi nhận giá trị và tôn trọng

- Sử dụng các PPDH và các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực của người học:

Trang 12

Sự hưng phấn của người học có thể diễn biến theo hình sin, sau mộtquảng thời gian cỡ 10 phút nếu không có thao tác “kích”, hưng phấn có thể đixuống và nếu xuống quá ngưỡng thì khó duy trì sự hưng thú học tập nên phảiliên tục kích thích thông qua các thủ thuật sau:

+ Nên “công não” thông qua các câu hỏi điền khuyết hay tìm ô chữ vớinội dung liên quan đến đơn vị kiến thức cần chuyển tải

+ Nên tạo dựng những câu chuyện pha chút hài hước thể hiện một khíacạnh nội dung đang chuyển tải, cần sử dụng kỹ thuật, nghệ thuật kể chuyện cóhình tượng, có ngữ điệu để cuốn hút người học

Trong dạy học lựa chọn PPDH tích cực để triển khai hoạt động học tậpcủa người học là một cách tạo hứng thú học tập hữu hiệu Hiện nay phươngpháp dạy học dựa trên vấn đề hay phương pháp “bàn tay nặn bột” thường dùng

để lôi cuốn người học vào hoạt động học và là PPDH kích thích được hưng phấnhọc của người học nếu GV biết tổ chức tốt Ví dụ với PP “bàn tay nặn bột” nếu

GV biết chọn vấn đề, chủ đề (tất nhiên liên quan đến nội dung học) để HS haynhóm HS tự xây dựng thành các câu hỏi nội dung rồi sau đó GV tích hợp thànhmột số câu hỏi mở để các nhóm đề ra phương án, giả thuyết và thực nghiệm tìmtòi câu trả lời và cùng GV chọn phương án giải quyết tối ưu Với pha tiến hànhthực nghiệm, tìm tòi, nghiên cứu cần giao nhiệm vụ cho từng nhóm hoạt động

“tự do sáng tạo” với sự “can thiệp hợp lí” của GV Với hoạt động như vậy thờigian hưng phấn sẽ được duy trì lâu hơn nếu GV biết xúc tác đúng lúc, đúng chỗ.Ngay cả khi hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm kết thúc, ở công đoạn HS trìnhbày những khám phá hay trình bày minh chứng thuyết phục GV cũng phải làngười đạo diễn sao cho sự tham gia là tối đa cho cho các thành viên trong nhóm

GV biết đặt ra các câu hỏi dẫn dắt hay gợi ý minh họa gắn với trải nghiệm củangười học để lôi kéo HS tham gia tranh luận ôn hòa Với cách tổ chức lớp họcnhư vậy chắc chắn lớp học sẽ có hưng phấn và HS học sẽ có kết quả

* Muốn phát huy tính tích cực của người học cần có nghệ thuật

- Như trên chúng ta đã trao đổi, muốn người học (NH) có hứng thú thamgia phải tạo được niềm vui khi tiếp nhận thông tin, muốn có niềm vui họ phảithấy được tính hữu dụng của nội dung học Nếu trong lớp người học tự nguyện

Trang 13

giơ tay xung phong phát biểu điều đó chứng tỏ họ có hứng thú học tập; tuynhiên số này không nhiều Chúng ta nói nhiều đến đổi mới phương pháp, bảnchất của đổi mới phương pháp là chuyển từ dạy học theo kiểu truyền thụ mộtchiều, áp đặt sang dạy học huy động được sự tham gia tích cực vào bài học củangười học (NH) từ đó tạo tính tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh nội dung học ởngười học Chúng tôi có điều tra người học về mức độ tham gia của họ đối vớibài học, câu trả lời của hơn 50% người học được hỏi là “không tích cực lắm”.Vài con số nếu trên cho thấy việc huy động sự tham gia của người học vào bàihọc cần có kỹ thuật và nghệ thuật để lôi kéo được đa số người học tham gia tíchcực vào bài học

- Sự tham gia của người học vào bài học rất đa dạng, nó có thể là nêu thắc

mắc khi tiếp nhận kiến thức mới, có thể là sự trao đổi, tranh luận, phản biện ýkiến khi học và cũng có thể là làm việc theo nhóm để giải quyết các nhiệm vụhọc tập mà giáo viên (GV) giao cho.v.v Tuy nhiên không phải GV nào cũng huyđộng được sự tham gia tích cực và có hiệu quả ở người học vì huy động sự thamgia của người học vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật

- Yếu tố khoa học của sự tham gia của người học: Tư duy có quy trình của

nó Tư duy bắt đầu xuất hiện khi đối mặt với một vấn đề nhận thức mà ngườihọc phải giải quyết, phải chiếm lĩnh Sự tham gia tích cực của người học vàoquá trình tiếp nhận nội dung học sẽ tạo điều kiện cho người học có cơ hội sosánh, liên tưởng mà trong lí luận dạy học gọi là “đồng hóa” kiến thức; trên cơ

sở đồng hóa kiến thức đó quá trình liên kết kiến thức cũ và mới dẫn nhập sẽđược thực hiện và kiến thức mới được định danh và lưu trữ (trong LLDH dùngthuật ngũ “điều ứng”) [1] Sự tham gia càng tích cực, chủ động quá trình “đồnghóa-điều ứng” thực hiện càng hiệu quả

GV nên yêu cầu và hướng dẫn người học tự học ở nhà và tìm minh chứng cho

Trang 14

kết luận nội dung đang nghiên cứu có liên quan với kiến thức chung đã học hoặcliên quan đến trải nghiệm của người học trong cuộc sống hàng ngày Việc nàylàm tốt nhất là trước và sau buổi học để khi học trên lớp người học có thể chủđộng tham gia Nên vận dụng một số gameshow trên truyền hình vào dạy học, ví

dụ, bắt đầu bằng câu hỏi có tính “trò chơi” như tìm ô chữ, chọn phương án đúng(chiếc nón kỳ diệu!) …để khởi động lớp học và khuyến khích mọi cánh tay giơlên; trường hợp không có cánh tay nào giơ lên phải có gợi ý hợp lí để tạo thânthiện; trong trường hợp nhiều cánh tay giơ lên hãy ưu tiên người ít giơ tay trướcđó

- Muốn người học tham gia tích cực GV phải biết phản hồi sự tham gia với nghệ thuật sư phạm cao Việc đầu tiên là phải biết nêu vấn đề, đặt câu hỏi có

tính kích thích sự tò mò nhận thức, phù hợp với nhiệm vụ học tập của bài học vànhiệm vụ đã giao về nhà trước buổi học Sau màn khởi động bằng cách vận dụnggameshow trên truyền hình như trên đã đề cập; cần cho người học tham gia vàocác bài tập và giải quyết vấn đề Hãy khuyến khích người học thắc mắc, nêu câuhỏi trước và trong quá trình tham gia Hãy cho người học thể hiện quan điểm(cái TÔI) của mình về những đợn vị kiến thức trong nội dung bài học Hãy tạobầu không khí thân thiện cỗ vũ mọi học sinh trong lớp học khi huy động sự thamgia của người học Một nghệ thuật quan trọng trong huy động sự tham gia làcách phản hồi các ý kiến phát biểu của người học và cách nhận xét kết quả giảiquyết vấn đề của người học Mọi cánh tay giơ lên trong lớp học đều là nhữngcánh tay đẹp và điều đầu tiên là ghi nhận (có nhiều cách ghi nhận tế nhị để cỗ vũcánh tay giơ lên) Câu trả lời “đúng ý GV” thường được GV khen hết cỡ! Câutrả lời sai ý GV hay sai sách thường bị GV dùng chữ “sai” để trả lời người họcsau khi người học phát biểu Cả hai cách ứng xử như trên đều thiếu tính nghệthuật Câu trả lời đúng hiển nhiên phải khảng định đúng nhưng nên dùng từ saocho người phát biểu và những HS khác thấy được sự cỗ vũ khi tham gia Kinhnghiệm cá nhân tôi khi HS trả lời đúng “đáp án” hiển nhiên có khen nhưngkhông dừng lại ở đó mà phải có thêm câu bình luận: đó là đáp án được sách viết,còn có ý kiến nào khác không (Vì cuộc sống phong phú hơn sách hiều!) Vớinhững em trả lời “sai đáp án” câu nhẹ nhàng nhất là “chưa đúng” hay “đây làmột góc nhìn nhưng chưa chính xác”…để không đụng đến cái “TÔI” và làm

Trang 15

thui chột tính tích cực tham gia của người học Sự tích cực và thụ động có hiệuứng lây lan Nên tạo sự cạnh tranh ôn hòa thông qua tưởng thưởng ví dụ mộtcánh tay giơ lên với câu trả lời đúng được 2 ngôi sao, phát biểu chính xác mộtphần, 1 ngôi sao, chưa đúng vẫn được ½ ngôi sao vì tinh thần xung phong! vàphong cấp bậc úy đến tướng cho người học vào cuối buổi học, cuối tuần học,cuối kỳ học…Trong một lớp học sôi nổi được cỗ vũ sự tham gia sẽ huy độngđược nhiều học sinh tham gia, ngược lại rất khó huy động học sinh tham gia Sựnhiệt huyết của GV, khả năng truyền cảm hứng của GV rất quan trọng trong sựhuy động tham gia của người học vào bài học.

- Cần thiết phải tạo áp lực nhẹ cho người học thông qua thủ thuật “bỏ bom” vào bất cứ NH nào trong lớp hay thủ thuật thông qua “khoảng lặng trước

cơn bão” (hỏi xong phải lướt nhìn toàn bộ lớp và chú hơn vào NH ít phát biểu vàchờ đợi các cánh tay giơ lên hoặc “bỏ bom” theo ý đồ của GV !); thời gian nàyphải đủ cho một suy nghĩ lóe lên (cỡ 15-20 giây) Trong trường hợp không có aiphát biểu GV cần khơi gợi các ý kiến khác nhau về một vấn đề rồi yêu cầu NHphân tích các ý kiến đó với các tưởng thưởng do GV đặt ra (tặng ngôi sao; trao

cờ chiên thắng ) Cạnh tranh này có thể là cá nhân hoặc theo nhóm

- Kích thích sự tham gia thông qua các câu hỏi thiếu thông tin (điền

khuyết, câu hỏi nhiều lựa chọn) Tạo chút cạnh tranh ôn hòa và sử dụng thủthuật tạo áp lực nhẹ như trên trình bày là nghệ thuật huy động sự tham gia Cạnhtranh ôn hòa cũng có thể thông qua kiểu trả lời theo chuỗi như sau: đặt một câuhỏi và yêu cầu một NH trả lời sau đó cho cả lớp biểu quyết về sự chính xác củacâu trả lời của học sinh đó với 3 lựa chọn: chính xác, chính xác một phần, chưachính xác Sau đó chọn NH trong số NH biểu quyết chính xác một phần trả lờitiếp theo Với các NH ít phát biểu thì một lần phát biểu và phát biểu đúng đượctưởng thưởng nhiều hơn, với câu trả lời sai cần làm cho NH này không “rút luivào hậu cứ” bằng cử chỉ thân thiện và lái câu trả lời của em đó vào hướng đúng

để em biết nên suy nghĩ theo hướng nào và dùng gợi ý đó cho việc khích lệ emtiếp theo trả lời Trong một vài trường hợp phải sử dùng “câu hỏi mồi” là câu hỏirất dễ trả lời cho những em ngại phát biểu hoặc học lực kém hơn các bạn…Vớinhững câu hỏi mồi này thường có nhiều NH tự nguyện giơ tay; nhưng với ý đồtrước GV mời NH không giơ tay phát biểu; thậm chí nếu NH đó trả lời sai vẫn

Trang 16

“cảm ơn bạn đã nêu ý kiến của mình” và GV có thể nhắc lại câu hỏi tạo cơ hộicho những cánh tay đã giơ lên trước đó trả lời Tạo áp lực nhẹ và tăng dần đếnlúc tạo thói quen giơ tay cho mọi NH trong lớp là một nghệ thuật huy động sựtham gia của NH và để duy trì được trạng thái này GV luôn cổ vũ các câu trả lờivới tư tưởng “gặn đục, khơi trong” ở những câu trả lời chưa vừa ý và luôn ghinhận giá trị của của tinh thần tham gia Không tiết kiệm các câu nói “cảm ơn bạn

vì đã trả lời, thầy biết điều đó không dễ dàng….” khi huy động sự tham gia của

NH Hãy truyền thông điệp đó cho cả lớp để tránh các chỉ trích, bình luận tiêucực từ các học sinh khác Khi nhận xét ý kiến phát biểu cần chỉ rõ chỗ đúng vàchỗ chưa đúng trong các câu trả lời của NH với tinh thần khuyến khích

- Để duy trì được sự tập trung và tham gia tích cực trong lớp học, GV phải biết đặt các câu hỏi dẫn dắt Loại câu hỏi kiến thức hướng vào cái gì; ở

đâu, khi nào chủ yếu là câu hỏi mở đầu và câu hỏi dành cho NH năng lực họctập hạn chế Ngay cả khi người học này không trả lời được câu hỏi một cáchchính xác hoặc đầy đủ hãy nán lại với họ thông qua tương tác với họ để thể hiệntôn trọng “cái TÔI” nhằm cỗ vũ những NH có học lực còn hạn chế Các câu hỏi

có tính suy luận hướng vào vì sao, như thế nào và tại sao điều đó đúng…giúpđào sâu và phát triển tư duy phản biện, các câu hỏi này thường được NH có nănglực học tập tốt yêu thích trả lời Theo tài liệu [2] chia loại câu hỏi suy luận ralàm 2 loại nhỏ : Các câu hỏi suy luận khái quát và các câu chất vấn tỉ mỉ Cho

NH chiêm nghiệm câu trả lời của mình với liên hệ kiến thức đã học ở môn họckhác hay trong trải nghiệm ở cuộc sống hàng ngày; sự tham gia trên lớp nếu kéodài được ra ngoài lớp thì hiệu quả dạy học sẽ được nâng lên

- Muốn duy trì sự tham gia của NH, logic tiến hành bài học cần được chuẩn bị kỹ và áp dụng nhịp độ thích hợp Tiến trình thực hiện một bài học theo

logic sư phạm trong lí luận dạy học gọi là các bước lên lớp; ở đây chúng tôi chỉlưu ý tiến trình hợp lí cho việc huy động sự tham gia của người học vào bài học.Với phần cung cấp nội dung kiến thức trọng tâm, cốt lõi của bài cần sử cần sửdụng nhiều hơn PPDH nêu và giải quyết vấn đề và các câu hỏi đi theo là các câuhỏi suy luận Với phần cho các hoạt động giúp NH xây dựng và chiêm nghiệmgiả thuyết về kiến thức được GV cung cấp thì tốt nhất là chuẩn bị các “phiếu họctập” để NH làm việc theo nhóm Với hoạt động gíup NH thực hành và làm sâu

Trang 17

sắc thêm hiểu biết của mình về kiến thức mới thì tốt nhất là tổ chức cho NH trảinghiệm sáng tạo trong và ngoài lớp học Logic chuyển tiếp với các nhịp độ thíchhợp phải được GV cần nhắc để không làm đứt quãng sự chú ý và hứng khởi của

NH Kinh nghiệm chỉ ra rằng một tiến độ rời rạc sẽ ảnh hưởng đến sự tham giacủa NH

- Một kỹ thuật huy động sự tham gia khá hữu dụng là thu hút sư tham gia

vào cuộc tranh luận thân thiện (chúng tôi nhấn mạnh chữ thân thiện) Muốn

NH tham gia vào “tranh luận thân thiện” GV phải biết chọn vấn đề có thể cónhiều ý kiến khác nhau và điều khiển khéo léo cách tranh luận Ví dụ, khi tìmnguyên nhân của một hiện tượng có thể có nhiều ý kiến khác nhau GV sẽ sắp đặt

để hỏi một số NH cụ thể về ý kiến của NH về vấn đề này, bằng cách gọi hai NH

có ý kiến rất khác nhau về vấn đề này và cho NH xung phong đứng về phía các

NH vừa phát biểu (nhóm bên phải và nhóm bên trái), những người không về phenào đứng ở giữa Tiếp đến cho đại diện của nhóm bên phải và nhóm bên tráichứng minh ý kiến của nhóm mình và cho nhóm giữa có thể di chuyển sang mộttrong 2 nhóm tranh luận nếu bị thuyết phục bởi ý kiến của nhóm đó Trong quátrình tranh luận GV cung cấp thêm những gợi ý, bổ sung thêm thông tin…đểduy trì sự tranh luận ôn hòa Cuộc tranh luận kết thúc khi nhóm giữa đã chuyểnsang hết sang nhóm bên trái và bên phải

- Một nội dung nhỏ cũng cần lưu ý khi huy động sự tham gia của người học vào bài học là duy trì năng lượng cho các em trong quá trình thực hiện bài học nếu thấy lớp rơi vào trạng thái quá trầm lắng, mất tập trung Hãy cho cả lớp

đúng dậy và cùng vươn vai một vài phút và cho NH vận động thông qua hoạtđộng vui như biểu diễn bán kính (dang cánh tay trái); đường kính (dang 2 tay)

và chu vi của một đường tròn (vòng 2 tay lên đầu) hay làm động tác đồng hồ 9h(tay trái giơ ngang, tay phải vươn thẳng) và đồng hồ 3h (đảo tay).v v

- Điều cuối cùng mà bài viết muôn lưu ý là mối quan hệ tương tác giữa

GV và NH là rất quan trọng trọng việc huy động sự tham gia của NH trong lớp.

Với hành vi giao tiếp thân thiện qua ánh mắt có hệ số tác động cỡ 20%; với hành

vi điệu bộ có hệ số tác động cỡ 10%; với hành vi cười có hệ số tác động cỡ 10%;với hành vi khen ngợi có hệ số tác động cỡ 30%; với hành vi liên quan đến tầnsuất trao đổi có hệ số tác động cỡ 10%; với hành vi liên quan đến thời gian trao

Trang 18

đổi có hệ số tác động cỡ 10% còn lại là tạo bởi bầu không khí lớp Muốn huyđộng sự tham gia của NH vào bài học GV phải là người thân thiện, biết truyềncảm hứng cho NH (kỹ thuật truyền cảm hứng xin lật lại xem phân 1 của bài viếtnày) và đặc biệt là phải có kỹ thuật và nghệ thuật huy động sự tham gia

Trong hóa học có các nguyên tố gọi là khí trơ và nói chung khí trơ khôngtham gia vào phản ứng hóa học Trong dạy học nếu người học không muốn học,không thích học thì dù GV có sử dụng PPDH nào cũng khó có hiệu quả trongdạy học Việc tạo được hứng khởi học cho người học là điều kiện tiên quyết chothành công trong dạy học

Một số lưu ý:

Muốn dạy học hiệu quả việc đầu tiên GV phải trả lời được câu hỏi dạy cáinày để làm gì và giúp HS trả lời câu hỏi học cái này để làm gì và để dạy họckhông nhồi nhét kiến thức và đạt được mục tiêu dạy học hướng vào năng lựcngười học trong toàn bộ nội dung mà sách viết cần đặt cho các phần nội dungcác trọng số ưu tiên trong quá trình tổ chức lĩnh hội trên lớp Một gợi ý có thểtham khảo được mô tả theo sơ đồ dưới đây : Toàn bộ nội dung của một môn họchay một bài dạy học có thể mô tả là toàn bộ “hình chữ nhật”

Sơ đồ Trọng số nội dung theo mục tiêu dạy học

- Vòng tròn 1 trong cùng mô tả những nội dung cốt lõi của môn/bài học

(ký hiệu N1) mà người học Phải biết-phải chiếm lĩnh thì mục tiêu năng lực của

người học đối với môn/bài học mới đạt được ;

- Vòng tròn 2 tiếp theo mô tả những nội dung gắn với thực tế của

môn/bài học (ký hiệu N2) mà người học Nên biết,nên chiếm lĩnh thì mục tiêu

môn/bài học đạt được MT năng lực tốt hơn;

- Phần còn lại của “hình chữ nhật” phía ngoài 2 vòng tròn nêu trên (N3)

mô tả những nội dung mở rộng hay ít quan trọng so với MT đối với đối tượng

N2 N3

N1

Trang 19

người học cụ thể về môn/bài học này và có thể coi là phần nội dung mà người

học Có thể biết (không nắm được cũng không ảnh hưởng lắm đến việc thực hiện

được mục tiêu của môn/bài học);

Việc xác định nội dung Phải biết (N1), Nên biết (N2), Có thể biết (N3) nó

giúp cho ta xác định phần cứng cốt lõi hay phần mềm, phần bắt buộc (cho tất cảhọc sinh), nội dung N2, N3 theo đối tượng học sinh Tuy nhiên, đối với một giờdạy học điều này giúp người dạy phân bổ thời lượng hợp lí cũng như đặt đúngtrọng số ưu tiên cho kế hoạch dạy học (trên lớp thông qua dạy N1 để dạy cách tưduy và N2 để dạy cách vận dụng.) Cũng cần lưu ý rằng, thời gian tiếp xúc giữa

GV và HS trên lớp không nhiều nên GV cần lựa chọn cách thức tổ chức dạy họcthích hợp với trọng số nội dung theo mục tiêu đã xác định cho đối tượng dạy học

cụ thể (sách giáo khoa viết cho cả nước, trong khi đó trình độ nhận thức và điềukiện dạy học ở mỗi vùng miền không hoàn toàn giống nhau) Cần lưu ý rằng nộidung dạy học không chỉ là nội dung học được trên lớp hay nội dung mà thầy đãtruyền đạt cho người học mà nó còn bao hàm cả nội dung người học được thảoluận, tự học, tự tìm kiếm và xử lí Một hình ảnh “cây kiến thức” (một biến thểcủa sơ đồ tư duy) giúp các giáo viên liên tưởng khi tổ chức quá trình dạy họctrên lớp là : Nếu coi toàn bộ nội dung của một bài học (hay học phần) là mộtcây cổ thụ thì phần thân, rễ, cành lớn GV nên tổ chức cho người học " Vẽ " đượcngay trên lớp; còn phần nhánh, lá nên chỉ cho họ tiếp tục " Vẽ " và hoàn thiện "Cây Kiến Thức " ở nhà hoặc cho tìm hiểu thêm ở thực tế ở cuộc sống xungquanh người học (về kỹ thuật triển khai phương pháp dạy học này mà ta tạm gọi

là “phương pháp cây kiến thức” có thể tham khảo ở sách “kỹ thuật dạy học tronghọc chế tín chỉ”[của Đặng Xuân Hải] Cũng cần lưu ý rằng khi chiếm lĩnh nộidung học người học chiếm lĩnh cả phương pháp nhận thức khoa học vì vậy đừngquan niệm nội dung chỉ là kiến thức mà còn có cả cách học, phương pháp tư duy

và vận dụng kiến thức trong cuộc sống Thông qua học nội dung người học họcđược cách xác định và xử lí, vận dụng nội dung được học vào cuộc sống và thựctiễn của bản thân

Kỹ thuật tạo hứng khởi học tập và huy động sự tham gia của người họcvào bài học nói riêng và hoạt động học trên lớp nói chung là một khoa học vànghệ thuật Kỹ thuật huy động trong thực tế vận dụng mềm dẻo và tùy loại bài

Trang 20

học; tuy nhiên chúng tôi chia sẻ những kỹ thuật thông dụng khi huy động sựtham gia của người học vào bài học để người dạy có thể tổ chức hoạt động học

có hiệu quả trên lớp Vài vấn đề chúng tôi đề cập ở bài viết này có thể giúp GVtìm được cách tạo hứng khởi cho NH của mình và từ đó sử dụng kỹ thuật vànghệ thuật huy động tham gia tích cực của người học vào bài học; tạo điều kiệncho người học tiếp thu bài học có hiệu quả hơn và người dạy được người họcđánh giá cao hơn

1.6 Tổ chức các hoạt động học cho học sinh trong tiến trình sư phạm của một bài học (chủ đề dạy học)

Quy trình tổ chức các hoạt động học (5 bước) được vận dụng vào mỗi bàihọc hoặc một chủ đề dạy học Nếu chủ đề dạy học có nhiều tiết học, chia ranhiều thời điểm thực hiện nối tiếp thì vẫn cần vận dụng quy trình này

- Cần hướng dẫn tiến trình hoạt động khởi động của HS thông qua hoạtđộng cá nhân hoặc nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp các em huyđộng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân, vừa xây dựng được ý thứchợp tác, tinh thần học tập lẫn nhau trong HS Việc trao đổi với GV có thể thựchiện sau khi đã kết thúc hoạt động nhóm

HĐ 2 Hoạt động hình thành kiến thức

- Hoạt động này giúp HS tìm hiểu, lĩnh hội nội dung kiến thức của bài,chủ đề; rèn luyện năng lực cảm nhận, cung cấp cho HS cơ sở khoa học củanhững kiến thức được đề cập đến trong chủ đề

- Có thể đặt các loại câu hỏi để HS tìm hiểu kiến thức liên quan trực tiếpđến các nội dung trong chủ đề hoặc câu hỏi sáng tạo khuyến khích các em tìmhiểu thêm kiến thức liên quan ngoài nội dung trình bày trong chủ đề

Trang 21

- Đây là hoạt động cốt yếu của bài học/ chủ đề GV bắt buộc tổ chức hoạtđộng học trong từng đơn vị kiến thức theo 4 bước sau:

+ Chuyển giao nhiệm vụ học tập: Giáo viên giao nhiệm vụ học tập rõ ràng

và phù hợp với khả năng của học sinh, gợi ý tư liệu sử dụng; yêu cầu về sảnphẩm mà học sinh phải hoàn thành khi thực hiện nhiệm vụ;

+ Thực hiện nhiệm vụ học tập: Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập cá

nhân, hợp tác nhóm; giáo viên phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh

và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, hiệu quả; không có học sinh bị "bỏ quên";

+ Báo cáo kết quả và thảo luận: Học sinh báo cáo sản phẩm, kết quả thực

hiện nhiệm vụ, khuyến khích cho học sinh trao đổi, thảo luận với nhau về kếtquả báo cáo; xử lí những tình huống sư phạm nảy sinh một cách hợp lí;

+ Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập: Nhận xét về quá trình

thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quảthực hiện nhiệm vụ và những ý kiến thảo luận của học sinh; chốt kiến thức saumỗi hoạt động học

HĐ 3 Hoạt động luyện tập

- Hoạt động này yêu cầu HS phải vận dụng những kiến thức vừa tiếp thuđược để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể, qua đó GV xem HS đã nắm đượckiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào

- Đây là những hoạt động như trình bày, luyện tập, bài thực hành,… giúpcho các em thực hiện tất cả những hiểu biết ở trên lớp và biến những kiến thứcthành kĩ năng

- Hoạt động luyện tập có thể thực hiện qua hoạt động cá nhân rồi đến hoạtđộng nhóm để các em học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trìnhhọc tập hiệu quả hơn

HĐ 4 Hoạt động vận dụng

- Hoạt động vận dụng nhằm tạo cơ hội cho HS vận dụng những kiến thức,

kĩ năng, thể nghiệm giá trị đã được học vào trong cuộc sống thực tiễn ở gia đình,nhà trường và cộng đồng

Trang 22

- Với hoạt động này, HS có thể thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm, có thểthực hiện với cha mẹ, bạn bè, thầy cô giáo hoặc cộng đồng…

HĐ 5 Hoạt động tìm tòi, mở rộng

- Hoạt động này khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu thêm để mở rộng kiếnthức, nhằm giúp HS hiểu rằng ngoài kiến thức đã học trong nhà trường còn rấtnhiều điều cần phải tiếp tục học hỏi, khám phá

- GV giao cho HS những nhiệm vụ nhằm bổ sung kiến thức và hướng dẫncác em tìm những nguồn tài liệu khác, cung cấp cho HS nguồn sách tham khảo

và nguồn tài liệu trên mạng, cộng đồng để HS tìm đọc thêm

- Phương thức hoạt động là làm việc cá nhân (hoặc theo nhóm), chủ yếulàm ở nhà, đồng thời yêu cầu HS làm các bài tập đánh giá năng lực

Lưu ý: Bước 1, bước 2, bước 3: Bắt buộc phải triển khai thực hiện trên

lớp; Bước 4, bước 5 (Hoạt động vận dụng; hoạt động tìm tòi, mở rộng): khôngnhất thiết phải thực hiện trên lớp, chủ yếu giao cho học sinh khá, giỏi thực hiện

và báo cáo sản phẩm theo yêu cầu của giáo viên

Trong hoạt động học, học sinh đóng vai trò trung tâm, người thầy cầnkhơi dậy, kích thích ở học sinh về động cơ, ý chí, hứng thú, khát khao, niềm đam

mê, tự giác và sáng tạo trong học tập và rèn luyện để phát triển năng lực vàphẩm chất học sinh, khi đó hoạt động học mới có hiệu quả tích cực

Đổi mới mạnh mẽ PPDH và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kỹ năng của họcsinh Kết hợp đa dạng những phương pháp dạy học truyền thồng với phươngpháp, kỹ thuật dạy học tích cực: phương pháp “Bàn tay nặn bột”, dạy học nêuvấn đề, dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng…; Kỹ thuật bản đồ tư duy,

kỹ thuật động não, kỹ thuật thảo luận viết, kỹ thuật XYZ, kỹ thuật khăn phủ bàn,

kỹ thuật bể cá, kỹ thuật tia chớp…, giáo viên cần chú ý áp dụng đúng quy trình,các bước thực hiện của các PPDH, kỹ thuật dạy học tích cực theo quy định…nhằm khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung dạycách học, cách nghĩ, phương pháp tự học; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiếnthức, rèn luyện kỹ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh…Đặc biệt

Trang 23

là biết vận dụng phù hợp, hiệu quả các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cựctrong dạy học (sẽ giới thiệu dưới đây).

III MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

1 Một số vấn đề chung về phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học tích cực

- Khái niệm PPDH ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các PPDH, các

mô hình hành động cụ thể PPDH cụ thể là những cách thức hành động củagiáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phùhợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể PPDH cụ thể bao gồmnhững phương pháp chung cho nhiều môn và các phương pháp đặc thù bộmôn Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình,đàm thoại, trực quan, làm mẫu, có thể kể một số phương pháp khác như:phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp học tập theo tra cứu, phươngpháp dạy học dự án…

- Kỹ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của giáo viên

và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiểnquá trình dạy học Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập

Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực chính là phát huyđược tính tích cực trong nhận thức của học sinh Trong dạy học tích cực, họcsinh là chủ thể của mọi hoạt động (nghiên cứu, tìm hiểu, thực hiện nhiệm vụ, tựđánh giá), giáo viên đóng vai trò là người định hướng, tổ chức, hướng dẫn, đánhgiá Sự chuyển biến trong tương tác giữa GV và HC cũng rõ rệt: Gv làm nói ít,học sinh hoạt động nhiều; tương tác giữa GV và HS nhiều lên

PPDH hiện đại xuất hiện ở các nước phương Tây (ở Mỹ, ở Pháp ) từđầu thế kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh hưởng sâurộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đó là cách thức DH theolối phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Vì thế thường gọi PP này làPPDH tích cực; ở đó, giáo viên là người giữ vài trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức,giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranhluận, hội thảo theo nhóm Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiểntiến trình giờ dạy, tổ chứ các hoạt dộng học cho học sinh

Trang 24

PPDH tích cực này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việcnâng cao quyền năng cho người học Giáo viên là người nêu tình huống, kíchthích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học sinh; từ đó hệthống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững.Giáo án dạy học theo PP tích cực được thiết kế kiểu chiều ngang theo hai hướngsong hành giữa hoạt động dạy của thầy và học của trò

Ưu điểm của PPDH tích cực rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụnggiải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học, hình thành kỹnăng, năng lực, phẩm chất người học Đặc điểm của dạy học theo phương phápnày là giảm bớt thuyết trình, diễn giải; tăng cường dẫn dắt, điều khiển, tổ chức,

xử lý tình huống song nếu không tập trung cao, học sinh sẽ không hệ thống vàlogic

Yêu cầu của PPDH tích cực cần có các phương tiện dạy học, học sinhchuẩn bị bài kỹ ở nhà trước khi đến lớp và phải mạnh dạn, tự tin bộc lộ ý kiến,quan điểm Giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài giảng, thiết kế giờ dạy, lường trướccác tình huống để chủ động tổ chức giờ dạy có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạtđộng của thầy và hoạt động của trò

Cũng bởi PPDH tích cực tuy có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những yêucầu cao như vậy, nên thực trạng công tác dạy học trong các nhà trường ở cáccấp, các bậc học hiện nay còn không ít giáo viên dạy học vẫn rất lạc hậu chỉ theolối diễn giảng đơn điệu, không đổi mới, không chú ý đến người học (vẫn làpương pháp đọc chép) Nguyên nhân của tình trạng này là do: cơ sở vật chất,phương tiện dạy và học ở các đơn vị còn rất thiếu thốn, do học sinh chưa chămđều, số đông chưa chuẩn bị bài trước khi đến lớp, do bản thân người giáo viênthiếu năng động, học hỏi, chậm đổi mới, do các nhà trường quan tâm chưa thoảđáng đến việc cải tiến PPDH Nhưng cốt yếu nhất là giáo viên đứng lớp

Mỗi PPDH truyền thống hay hiện đại cũng đều có những đặc điểm, ưuthế và nhược điểm riêng Không có phương thuốc nào có thể chữa được báchbệnh, không có PPDH nào là chìa khoá vạn năng Việc nghiên cứu kỹ từng bàidạy, từng đặc điểm bộ môn và đối tượng người học để có sự phối kết hợp đadạng các PPDH là việc cần làm ngay của mỗi giáo viên để nâng cao chất lượng

Trang 25

GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướctrong giai đoạn hiện nay.

2 Một số phương pháp dạy học tích cực

2.1 Phương pháp Dạy học theo dự án

* Khái niệm dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong

đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lýthuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ nàyđược người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từviệc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điềuchỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơbản của DHDA

* Đặc điểm của dạy học theo dự án

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huốngcủa thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm

vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng củangười học

- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc họctập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lýtưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nộidung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú củangười học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vựchoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợpgiữa nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn,thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũngnhư rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học

- Tính tự lực cao của người học : Trong DHDA, người học cần tham giatích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi

Trang 26

và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóngvai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp vớikinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.

- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viêntrong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làmviệc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng

xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mangtính xã hội

- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩmđược tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lýthuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vậtchất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng,công bố, giới thiệu

* Các dạng của dạy học theo dự án:

- Phân loại theo chuyên môn

+ Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.+ Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau

+ Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vàocác môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường

- Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá

nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học

- Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một

GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV

- Phân loại theo quỹ thời gian:

+ Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học

Trang 27

+ Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”),nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.

+ Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần(hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)

- Phân loại theo nhiệm vụ:

+ Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng

+ Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiệntượng, quá trình

+ Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm làviệc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thựctiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sángtác

+ Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vựcchuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng

* Tiến trình thực hiện DHDA

Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tếnhiều tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án qua 4 giai đoạn sau:Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án Dựa trên cấu trúc của tiếntrình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạnnhỏ hơn Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy hoc theo

dự án theo 5 giai đoạn

- Quyết định chọn đề tài và xác định mục đích của dự án : GV và HS cùngnhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huốngxuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong

đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ýđến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giớithiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợpthích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giai

Ngày đăng: 24/01/2021, 16:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w