Để đảm bảo việc thí điểm lồng ghép các nội dung của bộ Tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ này vào các hoạt động trên lớp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, một bản “Hướng dẫn áp dụng các phương p
Trang 1Dự án được tài trợ bởi
Liên minh Châu Âu
UBND HUYỆN TAM ĐƯỜNG BCĐ DA EU
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP/KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG QUÁ TRÌNH LỒNG GHÉP TÀI LIỆU GIÁO DỤC
BỔ TRỢ SONG NGỮ VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG TRÊN LỚP CHO
TRẺ MẪU GIÁO (5-6 TUỔI)
2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tài liệu hướng dẫn này được chủ trì và thực hiện bởi Nhóm Thực hiện Dự án “Nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số và khó khăn ở huyện Tam Đường , Lai Châu” do Liên minh Châu Âu (EU) tài trợ, bao gồm các cán bộ của Tổ chức CISDOMA và AEA, với sự trợ giúp kỹ thuật nhiệt tình và quý báu của Tiến sĩ Lương Minh Phương, nguyên cán bộ Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, và thạc sỹ Nguyễn Thị Lan Hương nguyên chuyên gia giáo dục tổ chức VVOB
Được biên soạn theo hình thức tài liệu mở, Tài liệu Hướng dẫn này là sự tổng kết các kinh nghiệm thực tế trong quá trình vừa thực hành vừa rút kinh nghiệm của các giáo viên mầm non trong quá tiến hành thí điểm lồng ghép các nội dung/câu chuyện trong Bộ Tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ do Dự án xây dựng vào các hoạt động trong Chương trình Giáo dục Mầm non được thực hiện tại các trường Mầm non thuộc 3 xã Dự án
Thay mặt Ban Chỉ đạo Dự án, Nhóm Thực hiện Dự án xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các giáo viên/cô giáo mầm non tại 3 xã Dự án huyện Tam Đường, lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tam Đường, đặc biệt là bà Tẩn Mý Khé - Phó Giám đốc, bà Đinh Ngọc Mai - Trưởng phòng Giáo dục Mầm non - Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu đã tham gia đóng góp ý kiến, giúp hiệu đính và hoàn thiện cuốn Tài liệu Hướng dẫn này để đưa vào sử dụng
Trân trọng!
Trang 3GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
I GIỚI THIỆU 1
1 Giới thiệu về DA 1
2 Mục tiêu của Tài liệu 1
3 Đối tượng sử dụng Tài liệu 2
II NỘI DUNG CHÍNH 3
1 Quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm và mối liên hệ với phương pháp dạy học tích cực 3 1.1 Khái quát về quan điểm, phương pháp, và kỹ thuật dạy học 3
1.2 Quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm 3
1.3 Phương pháp dạy học tích cực 4
2 Một số phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực 4
2.1 Phương pháp Vấn đáp (Hỏi – Đáp) 4
2.1.1 Bản chất 4
2.1.2 Quy trình thực hiện 5
2.1.3 Ưu điểm 5
2.1.4 Hạn chế 6
2.1.5 Một số lưu ý 6
2.2 Phương pháp động não 8
2.2.1 Bản chất 8
2.2.2 Quy trình thực hiện 8
2.2.3 Ưu điểm 8
2.2.4 Hạn chế 8
2.2.5 Một số lưu ý 9
2.3 Phương pháp thảo luận/ làm việc nhóm 9
2.3.1 Bản chất 9
Trang 52.3.2 Quy trình thực hiện 9
2.3.3 Ưu điểm 10
2.3.4 Hạn chế 10
2.3.5 Một số lưu ý 11
2.3.6 Kỹ thuật chia nhóm 11
2.3.7 Kỹ thuật giao nhiệm vụ 12
2.4 Phương pháp đóng vai 13
2.4.1 Bản chất 13
2.4.2 Quy trình thực hiện 13
2.4.3 Ưu điểm 13
2.4.4 Hạn chế 14
2.4.5 Những điều cần lưu ý khi sử dụng 14
2.5 Phương pháp dạy học dựa trên giải quyết vấn đề 15
2.5.1 Bản chất 15
2.5.2 Quy trình thực hiện 15
2.5.3 Ưu điểm 16
2.5.4 Hạn chế 16
2.5.5 Một số lưu ý 16
2.6 Phương pháp trò chơi 17
2.6.1 Bản chất 17
2.6.2 Quy trình thực hiện 18
2.6.3 Ưu điểm 18
2.6.4 Hạn chế 18
2.6.5 Một số lưu ý 19
2.6.6 Gợi ý các trò chơi phù hợp với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi của DA 19
3 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 5-6 tuổi và một số đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi dân tộc Mông tại địa phương 19
3.1 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 5-6 tuổi 19
3.2 Một số đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi dân tộc Mông tại địa phương 20
Trang 64 Chế độ sinh hoạt và các hoạt động, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục trong Khung
Chương trình Giáo dục Mầm non/Mẫu giáo (Thông tư 28/2016 - Bộ GD&ĐT) 21
4.1 Chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo 21
4.2 Các hoạt động giáo dục Mẫu giáo 21
4.2.1 Hoạt động chơi 21
4.2.2 Hoạt động học 22
4.2.3 Hoạt động lao động 22
4.2.4 Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân 22
4.3 Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục Mẫu giáo 22
4.3.1 Theo mục đích và nội dung giáo dục, có các hình thức 22
4.3.2 Theo vị trí không gian, có các hình thức 22
4.3.3 Theo số lượng trẻ, có các hình thức 22
4.4 Các phương pháp giáo dục Mẫu giáo 23
4.4.1 Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm 23
4.4.2 Nhóm phương pháp trực quan - minh họa (quan sát, làm mẫu, minh hoạ) 23
4.4.3 Nhóm phương pháp dùng lời nói 23
4.4.4 Nhóm phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ 23
4.4.5 Nhóm phương pháp nêu gương - đánh giá 23
5 Các bước thiết kế bài dạy cho trẻ mẫu giáo (5-6 tuổi) áp dụng phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm 24
5.1 Chuẩn bị ban đầu 24
5.2 Thiết kế bài dạy 24
5.3 Thực hiện tổ chức giờ học 25
5.4 Kết thúc giờ dạy 25
6 Cách thức và các bước lồng ghép các nội dung câu chuyện trong Bộ tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ vào hoạt động trên lớp mẫu giáo (trẻ 5-6 tuổi) 26
PHỤ LỤC 1: GIÁO ÁN MẪU 31
PHỤ LỤC 2: CÁC TRÒ CHƠI TRONG TRƯỜNG MẦM NON 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7I GIỚI THIỆU
1 Giới thiệu về DA
Dự án “Nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số và khó khăn ở huyện Tam Đường, Lai Châu” có thời hạn 3 năm, bắt đầu từ tháng 01/2016, do Liên minh Châu
Âu (EU) tài trợ và được phối hợp thực hiện bởi AEA và CISDOMA
Mục đích của Dự án nhằm tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục có chất lượng và phù hợp với các trẻ em dân tộc thiểu số tại ba xã của huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu (Tả Lèng, Nùng Nàng, Khun Há) thông qua việc cải thiện phương pháp giảng dạy cho đội ngũ cán bộ giáo viên, tăng cường sự tham gia của phụ huynh và thông tin đầy đủ tới các nhà hoạch định chính sách
Trong năm 2016, với sự tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật của Viện KHGD Việt Nam (VNIES) và định hướng chỉ đạo của BCĐ DA, nhóm thực hiện DA đã phối hợp với tư vấn, Phòng GD&ĐT huyện Tam Đường và các trường mầm non, tiểu học trong các xã Dự án hình thành nhóm Biên soạn tài liệu với nòng cốt là các giáo viên, đại diện cộng đồng và đại diện một số Phòng/Ban liên quan ở cấp huyện để phát triển bộ Tài liệu Giáo dục bổ trợ song ngữ Sau Hội thảo thẩm định do Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bên liên quan chủ trì, bộ Tài liệu Giáo dục này đã chính thức được thông qua và dự kiến sẽ đưa vào áp dụng giảng dạy thí điểm kết hợp với các hoạt động trên lớp (ở bậc học mẫu giáo) và hoạt động ngoại khóa (ở bậc học tiểu học) tại các trường mầm non
và tiểu học tại 3 xã Dự án là Tả Lèng, Nùng Nàng và Khun Há
Để đảm bảo việc thí điểm lồng ghép các nội dung của bộ Tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ này vào các hoạt động trên lớp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, một bản “Hướng dẫn áp dụng các phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực lồng ghép các nội dung Tài liệu Giáo dục bổ trợ song ngữ vào các hoạt động trên lớp cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” được xây dựng làm tài liệu tham khảo để nhóm giáo viên Mầm non tại 3 xã Dự án có thể sử dụng trong thực tế Cuốn Hướng dẫn sử dụng này được biên soạn dưới dạng tài liệu mở và sẽ tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện thông qua một quá trình tổng hợp các kinh nghiệm thực tiễn của các giáo viên mầm non tại 3 xã Dự án đã đúc kết được trong quá trình áp dụng thí điểm
2 Mục tiêu của Tài liệu
- Giúp giáo viên mầm non và các cán bộ quản lý giáo dục tại Lai Châu nắm được cách tiếp cận
và lồng ghép nội dung tài liệu “Quyền trẻ em“, Bình đẳng giới“, “Kỹ năng sống“, “Phòng chống thiên tai“, “Văn hoá bản địa“ trong quá trình tổ chức các hoạt động trên lớp mầm non, đặc biệt dành cho trẻ 5-6 tuổi, một cách hiệu quả và phù hợp
Trang 8- Giúp cán bộ cốt cán và quản lý giáo dục giám sát và hỗ trợ kỹ thuật cho giáo viên trong quá trình lồng ghép nội dung bộ tài liệu bổ trợ của Dự án vào các hoạt động tổ chức trên lớp cho trẻ mầm non
3 Đối tượng sử dụng Tài liệu
- Cán bộ quản lý giáo dục: Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non thuộc Sở GD&ĐT Lai Châu, Phòng GD&ĐT và cán bộ quản lý các trường mầm non các huyện
- Giáo viên tại các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Trang 9II NỘI DUNG CHÍNH
1 Quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm và mối liên hệ với phương pháp dạy học tích cực
1.1 Khái quát về quan điểm, phương pháp, và kỹ thuật dạy học
Quan điểm dạy học (QĐDH) là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp,
trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của giáo viên (GV) và trẻ trong quá trình dạy học Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của Phương pháp dạy học (PPDH)
Phương pháp dạy học (PPDH) là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và TRẺ,
trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học
Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình
huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH Ví dụ, trong phương pháp thảo luận nhóm
có các kĩ thuật dạy học như: Kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép
Mỗi QĐDH có những PPDH cụ thể phù hợp với nó; mỗi PPDH cụ thể có các KTDH đặc thù Tuy nhiên, có những PPDH cụ thể phù hợp với nhiều QĐDH, cũng như có những KTDH được sử dụng trong nhiều PPDH khác nhau (Ví dụ: Kĩ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương pháp đàm thoại và phương pháp thảo luận) Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH đôi khi chỉ mang tính
tương đối, nhiều khi không rõ ràng Ví dụ, động não (Brainstorming) có trường hợp được coi là
phương pháp, có trường hợp lại được coi là một KTDH
Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động
1.2 Quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm
Dạy học lấy trẻ làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: Dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của trẻ trong qúa trình dạy học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của giáo viên, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế
Trang 10Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy trẻ làm trung tâm không phải là
một phương pháp dạy học cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận
quá trình dạy học chi phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học
1.3 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học "Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Dạy học tích cực, sáng tạo là đưa trẻ vào tình huống thực tế: Trẻ được quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề theo cách suy nghĩ của riêng mình, trên
cơ sở đó trẻ có được kiến thức, kỹ năng mới, không dập khuôn máy móc mà phát huy được khả năng tưởng tượng, sáng tạo
Theo cách dạy học này, giáo viên không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập/sinh hoạt tạo mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với trẻ; giữa trẻ với trẻ; giữa giáo viên, trẻ và môi trường học tập/sinh hoạt
2 Một số phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực
2.1 Phương pháp Vấn đáp (Hỏi – Đáp)
2.1.1 Bản chất
Phương pháp Vấn đáp là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để trẻ trả lời, hoặc trẻ có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó trẻ lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu trẻ nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa
vào trí nhớ, không cần suy luận Đó là hình thức được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học
Trang 11- Vấn đáp giải thích - minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần
lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để trẻ dễ hiểu, dễ nhớ hương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe - nhìn
- Vấn đáp gợi mở (vấn đáp tìm tòi): Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý
để hướng trẻ từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa giáo viên với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong quá trình dạy học, GV có thể sử dụng cả 3 hình thức, tuy nhiên cần khuyến khích GV sử dụng hình thức vấn đáp tìm tòi
2.1.2 Quy trình thực hiện
Trước giờ học:
- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học Xác định các đơn vị kiến thức kĩ
năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung này dưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt trẻ
- Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi (đặt câu hỏi ở chỗ
nào?), trình tự của các câu hỏi (câu hỏi trước phải làm nền cho các câu hỏi tiếp sau hoặc định hướng suy nghĩ để TRẺ giải quyết vấn đề) Dự kiến nội dung các câu trả lời của TRẺ, trong
đó dự kiến những “lỗ hổng” về mặt kiến thức cũng như những khó khăn, sai lầm phổ biến mà TRẺ thường mắc phải Dự kiến các câu nhận xét hoặc trả lời của GV đối với TRẺ
- Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tùy tình hình từng đối tượng cụ thể mà tiếp tục gợi ý,
dẫn dắt TRẺ
Trong giờ học
đối tượng trẻ) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thập thông tin phản hồi từ phía TRẺ
Sau giờ học
- GV chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic của hệ thống câu hỏi đã
sử dụng trong giờ dạy
Trang 12✓ Giúp GV thu nhận tức thời nhiều thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì sự chú ý của TRẺ; giúp kiểm soát hành vi của TRẺ và quản lý lớp học
✓ Ở đây GV giống như người tổ chức tìm tòi còn TRẺ thì giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới, vì vậy kết thúc cuộc đàm thoại TRẺ có được niềm vui của sự khám phá, vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được cách thức đi tới tiến bộ đó, trưởng thành thêm một bước
về trình độ tư duy Cuối đoạn đàm thoại, GV cần biết vận dụng các ý kiến của TRẺ để kết luận vấn đề đặt ra, dĩ nhiên là có bổ sung, chỉnh lí khi cần thiết Làm được như vậy, TRẺ càng hứng thú, tự tin và thấy trong kết luận của giáo viên có phần đóng góp ý kiến của mình
✓ Dẫn dắt theo phương pháp vấn đáp tìm tòi như trên rõ ràng mất nhiều thời gian hơn phương pháp thuyết trình giảng giải nhưng kiến thức TRẺ lĩnh hội được sẽ chắc chắn hơn nhiều
2.1.4 Hạn chế
Hạn chế lớn nhất của phương pháp vấn đáp là rất khó soạn thảo và sử dụng hệ thống câu hỏi gợi
mở và dẫn dắt trẻ theo một chủ đề nhất quán, cụ thể như:
Nếu GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi không tốt, sẽ dẫn đến tình trạng đặt câu hỏi không rõ mục đích, đặt câu hỏi mà TRẺ dễ dàng trả lời có hoặc không Hiện nay nhiều GV thường gặp khó khăn khi xây dựng hệ thống câu hỏi do không nắm chắc trình độ của TRẺ, vì vậy thường ngay sau khi đặt câu hỏi là nêu ngay gợi ý câu trả lời khiến TRẺ rơi vào trạng thái
bị động, không thực sự làm việc, chỉ ỷ lại vào gợi ý của GV
Khó kiểm soát quá trình học tập của TRẺ (có nhiều tình huống bất ngờ trong câu trả lời, thậm chí câu trả lời từ phía người học, giờ học dễ lệch hướng do câu hỏi vụn vặt, không nhất quán)
Khó soạn và xây dựng đáp án cho các câu hỏi mở (vì phương án trả lời trả của TRẺ sẽ không giống nhau)
Vì vậy GV phải có sự chuẩn bị rất công phu, nếu không, kiến thức mà trẻ thu nhận được qua trao đổi sẽ thiếu tính hệ thống, tản mạn, thậm chí vụn vặt
2.1.5 Một số lưu ý
- Khi soạn các câu hỏi GV cần lưu ý các yêu cầu sau đây:
• Câu hỏi có nội dung chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu của bài học, không làm cho người học có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau
• Câu hỏi phải sát với từng loại đối tượng TRẺ, nghĩa là phải có nhiều câu hỏi ở mức độ khác nhau, không quá dễ, cũng không quá khó GV có kinh nghiệm thường tỏ ra cho TRẺ thấy các câu hỏi đều có tầm quan trọng và độ khó như nhau (để TRẺ yếu có thể trả lời được những câu hỏi vừa sức mà không có cảm giác tự ti rằng mình chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ và không quan trọng)
Trang 13• Cùng một nội dung học tập, cùng một mục đích như nhau, GV có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi với nhiều hình thức hỏi khác nhau
- Bên cạnh những câu hỏi chính cần chuẩn bị những câu hỏi phụ (trên cơ sở dự kiến các câu trả lời của TRẺ, trong đó có thể có những câu trả lời sai) để tùy tình hình thực tế mà gợi ý, dẫn dắt tiếp
- Nên chú ý các câu hỏi mở để TRẺ đưa ra nhiều phương án trả lời và phát huy được tính tích cực, sáng tạo của TRẺ
- Câu hỏi được giáo viên sử dụng với những mục đích khác nhau, ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học nhưng quan trọng nhất và cũng khó sử dụng nhất là ở khâu nghiên cứu tài liệu mới Trong khâu dạy bài mới, câu hỏi được sử dụng trong những phương pháp khác nhau nhưng quan trọng nhất là phương pháp vấn đáp
- Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt TRẺ tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của TRẺ; TRẺ cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các TRẺ khác về những nội dung chưa sáng tỏ Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa TRẺ -
GV và TRẺ - TRẺ Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của TRẺ càng nhiều; TRẺ sẽ học tập tích cực hơn Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:
• Kích thích, dẫn dắt TRẺ suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho TRẺ tham gia vào quá trình dạy học
• Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kinh nghiệm của TRẺ và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với nội dung học tập
• Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức
- Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
• Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
• Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
• Đúng lúc, đúng chỗ
• Phù hợp với trình độ TRẺ
• Kích thích suy nghĩ của TRẺ
• Phù hợp với thời gian thực tế
• Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
• Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích
• Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
- Các yêu cầu về ứng xử của giáo viên khi hỏi trẻ:
Trang 14• Dừng lại sau khi hỏi để trẻ có thời gian suy nghĩ, có thể nhắc lại câu hỏi nếu được yêu cầu
• Phân phối câu hỏi cho cả lớp, không nên chỉ tập trung vào một số trẻ
• Tôn trọng, lắng nghe ý kiến trẻ Khen ngợi, động viên trẻ sau khi trả lời tốt
• Khuyến khích, gợi ý, tạo cơ hội cho trẻ trả lời lại sau khi các em không trả lời được câu hỏi
• Không chê bai, mỉa mai, làm tổn thương trẻ
• Tập trung vào trọng tâm, không đi lan man
• Tránh nhắc lại câu trả lời của trẻ cũng như tự trả lời câu hỏi của mình đặt ra
2.2 Phương pháp động não
2.2.1 Bản chất
Động não là phương pháp giúp trẻ trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng) Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận
2.2.2 Quy trình thực hiện
Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm
- Khích lệ trẻ phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt
- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to
- Phân loại ý kiến
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý
- Tổng hợp ý kiến của trẻ và rút ra kết luận
2.2.3 Ưu điểm
✓ Thúc đẩy tinh thần hợp tác, sự phối hợp, hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, từ
đó tạo ra những giải pháp mới cho mọi vấn đề khó khăn
✓ Những kỹ năng và sự hiểu biết của cả nhóm có lợi ích lớn đối với từng cá nhân, đồng thời có thể giúp cá nhân hoàn thiện bản thân khi tham gia
✓ Lợi ích lớn nhất là tận dụng được mọi nguồn lực chung của nhóm
2.2.4 Hạn chế
Rất dễ gây tình trạng lạc đề nếu chủ đề đưa ra không rõ ràng
Trang 15Việc lựa chọn các ý tưởng tốt nhất có thể mất thời gian
Có thể xảy ra tình trạng một số trẻ phát biểu nhiều và một số trẻ thì lại không tham gia 2.2.5 Một số lưu ý
- Không bỏ qua bất kỳ ý tưởng nào
- Không chỉ trích, phê bình bất kỳ ý tưởng nào
- Duy trì bầu không khí hoàn toàn tự do
- Số lượng ý tưởng càng nhiều càng tốt
- Kết hợp và phát huy ý tưởng của người khác
2.3 Phương pháp thảo luận/ làm việc nhóm
2.3.1 Bản chất
Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó TRẺ của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của TRẺ
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 em Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau Nhóm tự bầu nhóm trưởng để điều khiển thảo luận Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
2.3.2 Quy trình thực hiện
Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:
- Làm việc toàn lớp: Giao nhiệm vụ
• Giới thiệu chủ đề
• Xác định nhiệm vụ các nhóm
Trang 16• Thành lập nhóm
- Làm việc nhóm
• Chuẩn bị chỗ làm việc
• Lập kế hoạch làm việc
• Thoả thuận quy tắc làm việc
• Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ
• Chuẩn bị báo cáo kết quả
- Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá
✓ Học tập theo nhóm giúp trẻ phát triển năng lực xã hội, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng thảo luận, bảo vệ ý kiến và giải quyết mâu thuẫn Học tập theo nhóm giúp trẻ nhút nhát, thiếu tự tin có cơ hội để phát biểu, trình bày ý kiến của mình và từ đó trở nên tự tin, năng động, mạnh dạn hơn trước tập thể
✓ Học tập theo nhóm giúp trẻ phát triển năng lực hoạt động Trẻ có cơ hội phát huy kỹ năng sáng tạo, đánh giá, phân tích, so sánh, tổng hợp Trẻ biết giải quyết các vấn đề và tình huống trong học tập một cách phù hợp, hiệu quả và sáng tạo Từ đó sẽ rút ra được những bài học, kinh nghiệm quý giá cho bản thân
Có một số trẻ có cá tính mạnh quyết định quá trình, kết quả thảo luận nhóm nên chưa đề cao
sự tương tác bình đẳng và tầm quan trọng của từng thành viên trong nhóm
Trang 17Điều hành không tốt dễ dẫn đến mất trật tự trong nhóm, tốn thời gian không cần thiết
- Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:
• Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?
• Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?
• TRẺ đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?
• Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?
• Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?
• Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia
2.3.6 Kỹ thuật chia nhóm
Khi tổ chức cho TRẺ hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho TRẺ, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp Dưới đây là một số cách chia nhóm:
- Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,
• GV yêu cầu TRẺ điểm danh từ 1 đến 4/5/6 (tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm, ); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng, ); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc, ); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông, )
• Yêu cầu các TRẺ có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm
Trang 18- Chia nhóm theo hình ghép
• GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số TRẺ muốn có là 3/4/5 TRẺ trong mỗi nhóm Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có
• TRẺ bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt
• TRẺ phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh
• Những TRẺ có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm
- Chia nhóm theo sở thích: GV có thể chia TRẺ thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,
- Chia nhóm theo tháng sinh: Các TRẺ có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm
- Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: Nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,
Như vậy, có nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong thời gian dài mà cần có sự chia nhóm xem kẽ tùy theo tình hình học tập thực tế của trẻ
2.3.7 Kỹ thuật giao nhiệm vụ
Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
- Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ TRẺ, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị
Trang 192.4 Phương pháp đóng vai
2.4.1 Bản chất
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho TRẺ thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp TRẺ suy nghĩ sâu sắc về một vấn
đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc
“diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy
✓ Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của trẻ
✓ Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của trẻ theo chuẩn mực
✓ Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn
✓ Góp phần tích cực thúc đẩy động cơ và hiệu quả học tập cao, rèn luyện kỹ năng giải quyết tình huống tốt
✓ Giúp trẻ nhập vai, diễn tả thái độ, ý kiến của người mà mình nhập vai, rèn thái độ, kỹ năng giao tiếp linh hoạt, khả năng giải quyết vấn đề, chủ động trong mọi tình huống nhằm tìm ra phương thức xử lý mới
✓ Giúp người xem, người học dễ dàng nắm bắt được cách xử lý tình huống qua vai diễn của người khác
Trang 20✓ Luyện tập được cách dẫn chuyện và cách xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn
✓ Giúp trẻ được tập dượt qua những tình huống, phát huy tính chủ động sang tạo, tập phân tích đánh giá lợi ích của từng giải pháp, so sánh, lựa chọn… để có được những kỹ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay
2.4.5 Những điều cần lưu ý khi sử dụng
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi, trình độ TRẺ và điều kiện, hoàn cảnh lớp học
- Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép
- Tình huống phải có nhiều cách giải quyết
- Tình huống cần để mở để TRẺ tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước
“kịch bản”, lời thoại
- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai
- Phải dành thời gian phù hợp cho TRẺ thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn bị đóng vai
- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và đóng vai của các nhóm
- Trong khi TRẺ thảo luận và chuẩn bị đóng vai, GV nên đi đến từng nhóm lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ TRẺ khi cần thiết
- Các vai diễn nên để TRẺ xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận
- Nên khích lệ cả những TRẺ nhút nhát cùng tham gia
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai
Trang 212.5 Phương pháp dạy học dựa trên giải quyết vấn đề
2.5.1 Bản chất
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH đặt ra trước TRẺ các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển TRẺ vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề
2.5.2 Quy trình thực hiện
Bước 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
- Tạo tình huống có vấn đề
- Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống
- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra
Bước 2: Giải quyết vấn đề đặt ra
- Liệt kê các cách giải quyết có thể có
- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị)
- So sánh kết quả các cách giải quyết
- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất
- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn
Bước 3: Kết luận
- Thảo luận kết quả và đánh giá, kết luận
- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác
- Đề xuất vấn đề mới
- Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
• Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Trẻ thực hiện cách giải quyết vấn
đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của trẻ
• Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để trẻ tìm ra cách giải quyết vấn đề Giáo viên và trẻ cùng đánh giá
• Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Trẻ phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Trẻ thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và trẻ cùng đánh giá
Trang 22• Mức 4: Trẻ tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Trẻ giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến
bổ sung của giáo viên khi kết thúc
Phần đông GV mới vận dụng dạy học đặt - giải quyết vấn đề ở mức độ 1 và mức độ 2 Phải phấn đấu để trong nhiều trường hợp có thể đạt tới mức độ 3 và 4 và làm cho dạy học đặt - giải quyết vấn đề trở thành phổ biến
2.5.3 Ưu điểm
✓ Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho TRẺ Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có, TRẺ sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết
✓ Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều gốc độ khác nhau, TRẺ sẽ huy động tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác trao đổi, thảo luận với bạn
bè để tìm ra cách giải quyết tốt nhất
✓ Thông qua việc giải quyết vấn đề, TRẺ lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức (“giải quyết vấn đề” không còn chỉ phụ thuộc phạm trù phương pháp đã trở thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thành một mục tiêu là phát triển năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị trí hàng đầu để con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội) 2.5.4 Hạn chế
Đòi hỏi người GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và hướng dẫn TRẺ tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề
Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp giải quyết vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn so với bình thường Hơn nữa, chỉ có một số tri thức và phương pháp hoạt động nhất định, được lựa chọn khéo léo và có cơ sở mới trở thành đối tượng của dạy học nêu vấn đề
2.5.5 Một số lưu ý
- Các vấn đề/ tình huống đưa ra để TRẺ xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:
• Phù hợp với chủ đề bài học
• Phù hợp với trình độ nhận thức của TRẺ
• Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của TRẺ
• Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của TRẺ
Trang 23• Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải
• Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho TRẺ nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề
- Tổ chức cho TRẺ giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:
• Các nhóm TRẺ có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động
• TRẺ cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề
• Cần sử dụng phương pháp động não để TRẺ liệt kê các cách giải quyết có thể có
• Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi TRẺ có thể giống hoặc khác nhau
2.6 Phương pháp trò chơi
2.6.1 Bản chất
Hoạt động chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo Chơi là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ, không chơi, trẻ không phát triển Chơi nhằm thoả mãn nhu cầu của chính trẻ, được thể hiện mình chứ không phải là kết quả đạt được của hoạt động Động cơ chơi của trẻ nằm trong quá trình chơi
Hoạt động chơi của trẻ mang tính tự do, tự nguyện, tự lập Cách chơi của trẻ bị áp đặt thì trò chơi
của trẻ không còn mang lại niềm vui sướng; đồng thời, trẻ mất đi tính tự tin và khả năng tự lập trong cuộc sống sau này
Hoạt động chơi của trẻ mô phỏng cuộc sống và các mối quan hệ, vì thế nó mang tính tượng
trưng, trẻ có thể dùng đồ vật thay thế giúp trẻ thoả sức tưởng tượng và sáng tạo Trong quá trình
chơi, trẻ được trải nghiệm nhiều loại cảm xúc khác nhau và rèn luyện cách thể hiện và kiểm soát
cảm xúc
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo phù hợp với các loại trò chơi trong lớp hoặc ngoài trời như sau:
- Trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Trò chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng
- Trò chơi đóng kịch
- Trò chơi vận động
- Trò chơi dân gian
- Trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại
- Trò chơi học tập
Trang 242.6.2 Quy trình thực hiện
- GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi
- Chơi thử (nếu cần thiết)
- TRẺ tiến hành chơi
- Đánh giá sau trò chơi
- Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi
2.6.3 Ưu điểm
✓ Tạo được sự thích thú, hấp dẫn, không khí vui vẻ
✓ Khi chơi TRẺ sẽ bộc lộ, thể hiện mình một cách tự nhiên
✓ Giúp thay đổi hình thức hoạt động và trạng thái tình cảm với việc học tập sinh hoạt trong lớp hay ngoài trời
✓ TRẺ tiếp thu bài học một cách tích cực và tự giác;
✓ Tạo cơ hội giúp TRẺ rèn luyện kỹ năng và củng cố kiến thức;
✓ Giúp TRẺ phát triển tâm lí, thái độ đạo đức: Có trách nhiệm cao với đồng đội tôn trọng kỷ luật của nhóm, đội và luật chơi, giúp đỡ đồng đội…
✓ Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; Không khô khan nhàm chán TRẺ được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiêm, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải tỏa được những mệt mỏi, căng thẳng
✓ Qua trò chơi, TRẺ có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi Chính nhờ sự thể nghiệm này sẽ hình thành được ở các em niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống
✓ Qua trò chơi, TRẺ sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống
✓ Qua trò chơi, TRẺ được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi
✓ Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa TRẺ với TRẺ, giữa GV với TRẺ 2.6.4 Hạn chế
Trong quá trình chơi TRẺ có thể ồn ào, làm ảnh hưởng đến các lớp khác
TRẺ có thể ham vui sẽ kéo dài thời gian chơi, làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác
Trang 25Ý nghĩa giáo dục của trò chơi có thể bị hạn chế nếu lựa chọn trò chơi không phù hợp hoặc
tổ chức trò chơi không tốt
2.6.5 Một số lưu ý
- Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề hoạt động/bài học, với đặc điểm và trình độ TRẺ, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho TRẺ
- TRẺ phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi
- Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi
- Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của TRẺ, tạo điều kiện cho TRẺ tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: Từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi
- Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho TRẺ
- Sau khi chơi, giáo viên cần cho TRẺ thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi
2.6.6 Gợi ý các trò chơi phù hợp với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi của DA
(Phụ lục 1 đính kèm)
3 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 5-6 tuổi và một số đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi dân tộc Mông tại địa phương
3.1 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 5-6 tuổi
Các đặc điểm chung của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động dạy và học đối với giáo dục mẫu giáo được tổng hợp trong bảng 1 dưới đây:
Bảng 1: Đặc điểm phát triển chung của trẻ 5-6 tuổi
Trẻ 5-6 tuổi
Vận động thể
chất
✓ Vận động đã hoàn thiện, vận động toàn thân, đặc biệt các ngón tay
Học cách kiểm soát cơ thể;
✓ Có nhiều năng lượng: vận động liên tục, không thể ngồi một chỗ
✓ Tò mò, ham học hỏi, thích tự làm việc
Trang 26Trẻ 5-6 tuổi
Nhận thức ✓ Tư duy hành động trực quan phát triển mạnh Học tốt nhất qua
“chơi”;
✓ Nội dung học nhẹ nhàng, gần gũi, cụ thể và trực quan;
✓ Sự phân tán chú ý mạnh, nhiều trẻ không tự chủ tập trung bởi môi trường xung quanh;
✓ Trí tưởng tượng phong phú
Giao tiếp xã hội ✓ Có xu hướng hướng ý thức của mình vào đối tượng cần vui chơi,
học tập hoặc lao động tự phục vụ;
✓ Chơi theo cặp tốt hơn
✓ Cần được nhắc nhở liên tục về quy tắc làm việc
✓ Thích thể hiện bản thân nhưng phải được yêu cầu trực tiếp
3.2 Một số đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi dân tộc Mông tại địa phương
Các quan sát thực tế của nhóm DA cho thấy, trẻ 5-6 tuổi dân tộc Mông có các đặc điểm chung như sau:
- Vốn tiếng Việt và khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt còn hạn chế
- Trẻ thường nhút nhát và ít có cơ hội giao tiếp
- Trẻ chơi tốt với các trò chơi vận động và tiếp xúc nhiều ngoài thiên nhiên
- Trẻ có tính tự lập cao
- Trẻ có tư duy về hình học và phối mầu tốt
Trang 274 Chế độ sinh hoạt và các hoạt động, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục trong Khung Chương trình Giáo dục Mầm non/Mẫu giáo (Thông tư 28/2016 - Bộ GD&ĐT)
4.1 Chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo
Chế độ sinh hoạt là sự phân bổ thời gian và các hoạt động trong ngày ở cơ sở giáo dục mầm non/mẫu giáo một cách hợp lí nhằm đáp ứng nhu cầu về tâm lý và sinh lý của trẻ, qua đó giúp trẻ hình thành thái độ, nền nếp, thói quen và những kỹ năng sống tích cực
Bảng 2: Chế độ sinh hoạt cho trẻ mẫu giáo
Trang 28- Trò chơi dân gian
- Trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại
4.2.4 Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân
Là các hoạt động nhằm hình thành một số nền nếp, thói quen trong sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu
sinh lý của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ
4.3 Các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục Mẫu giáo
4.3.1 Theo mục đích và nội dung giáo dục, có các hình thức
- Tổ chức hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý thích của trẻ
- Tổ chức lễ, hội: Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự kiện quan trọng trong năm liên quan đến trẻ có ý nghĩa giáo dục và mang lại niềm vui cho trẻ (Tết Trung thu, Ngày hội đến trường, Tết cổ truyền, sinh nhật của trẻ, Ngày hội của các bà, các mẹ, các cô, các bạn gái (8.3), Tết thiếu nhi (ngày 1/6), Ngày ra trường )
4.3.2 Theo vị trí không gian, có các hình thức
Trang 294.4 Các phương pháp giáo dục Mẫu giáo
4.4.1 Nhóm phương pháp thực hành, trải nghiệm
- Phương pháp thực hành thao tác với đồ vật, đồ chơi: Trẻ sử dụng và phối hợp các giác quan, làm theo sự chỉ dẫn của giáo viên, hành động đối với các đồ vật, đồ chơi (cầm, nắm, sờ, đóng
mở, xếp chồng, xếp cạnh nhau, xâu vào nhau, ) để phát triển giác quan và rèn luyện thao tác
tư duy
- Phương pháp dùng trò chơi: sử dụng các loại trò chơi với các yếu tố chơi phù hợp để kích thích trẻ tự nguyện, hứng thú hoạt động tích cực giải quyết nhiệm vụ nhận thức, nhiệm vụ giáo dục đặt ra
- Phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra
- Phương pháp luyện tập: Trẻ thực hành lặp đi lặp lại các động tác, lời nói, cử chỉ, điệu bộ theo yêu cầu của giáo viên nhằm củng cố kiến thức và kỹ năng đã được thu nhận
4.4.2 Nhóm phương pháp trực quan - minh họa (quan sát, làm mẫu, minh hoạ)
Phương pháp này cho trẻ quan sát, tiếp xúc, giao tiếp với các đối tượng, phương tiện (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh); hành động mẫu; hình ảnh tự nhiên, mô hình, sơ đồ và phương tiện nghe nhìn (phim vô tuyến, đài, máy ghi âm, điện thoại, vi tính) thông qua sử dụng các giác quan kết hợp với
lời nói nhằm tăng cường vốn hiểu biết, phát triển tư duy và ngôn ngữ của trẻ
4.4.3 Nhóm phương pháp dùng lời nói
Phương pháp này sử dụng các phương tiện ngôn ngữ (đàm thoại, trò chuyện, kể chuyện, giải thích) nhằm truyền đạt và giúp trẻ thu nhận thông tin, kích thích trẻ suy nghĩ, chia sẻ ý tưởng, bộc lộ những cảm xúc, gợi nhớ những hình ảnh và sự kiện bằng lời nói Lời nói, câu hỏi của giáo viên cần ngắn gọn, cụ thể, gần với kinh nghiệm sống của trẻ
4.4.4 Nhóm phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ
Phương pháp này dùng cử chỉ điệu bộ kết hợp với lời nói thích hợp để khuyến khích và ủng hộ trẻ hoạt động nhằm khơi gợi niềm vui, tạo niềm tin, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình hoạt động 4.4.5 Nhóm phương pháp nêu gương - đánh giá
- Nêu gương: Sử dụng các hình thức khen, chê phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ Biểu dương trẻ là chính, nhưng không lạm dụng
- Đánh giá: Thể hiện thái độ đồng tình hoặc chưa đồng tình của người lớn, của bạn bè trước việc làm, hành vi, cử chỉ của trẻ Từ đó đưa ra nhận xét, tự nhận xét trong từng tình huống hoặc
Trang 30hoàn cảnh cụ thể Không sử dụng các hình phạt làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm - sinh lý của trẻ
5 Các bước thiết kế bài dạy cho trẻ mẫu giáo (5-6 tuổi) áp dụng phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm
5.1 Chuẩn bị ban đầu
- Xác định rõ mục tiêu: Kiến thức, kỹ năng cơ bản tối thiểu, được nâng cao
- Kiến thức/kỹ năng cơ bản của các bài cũ cần thiết trẻ phải nắm vững để tiếp cận nội dung của bài mới
- Nắm chắc tình hình chất lượng trẻ giờ học trước
- Những dụng cụ, phương tiện, đồ dùng cần thiết thực hiện trong bài dạy: Liệt kê đồ cùng dạy học cho GV, cho cá nhân và cho nhóm TRẺ Tìm hiểu, khai thác trong tự nhiên, môi trường
xã hội, khai thác trên mạng về những vấn đề liên quan để phục vụ cho bài giảng
- Phác họa các hoạt động trong giờ dạy gắn với từng yêu cầu nội dung kiến thức, kỹ năng cơ bản mà trẻ cần đạt được, đảm bảo phân bổ thời gian cho mỗi hoạt động phù hợp, xác định phương tiện, điều kiện, đồ dùng cho mỗi hoạt động
5.2 Thiết kế bài dạy
- Thiết kế theo từng hoạt động cụ thể, mỗi hoạt động xác định rõ kiến thức kỹ năng cơ bản mỗi trẻ phải đạt được, kiến thức kỹ năng được nâng cao
- Mỗi hoạt động xác định rõ các phương án có thể thực hiện (Phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp) cho từng loại đối tượng để đạt được kiến thức kỹ năng cơ bản
- Tập trung vào cách thức tổ chức các hoạt động của TRẺ Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ: (i) Tên hoạt động; ii) Mục tiêu của hoạt động; iii) Thời lượng thực hiện hoạt động; iv) Cách tiến hành hoạt động bao gồm cả dự kiến những khó khăn mà TRẺ dễ gặp, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết; v) Kết luận của GV về: Nội dung kiến thức, kỹ năng, thái độ của TRẺ trong bài học; Những tình huống thực tế có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học để giải quyết; Những sai lầm thường gặp, những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp
- Sử dụng phối hợp các PP dạy học, các hình thức, các kỹ thuật dạy học tích cực khác nhau
- Xác định rõ các phương án, biện pháp hỗ trợ trẻ gặp khó khăn trong việc tham gia và tiếp nhận kiến thức/kỹ năng mới
Trang 31- Sử dụng đồ dùng dạy học, dữ liệu, hiện tượng, hiện vật có trong tự nhiên, xã hội vào bài dạy đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp
- Dự kiến tình huống sư phạm có thể xảy ra và giải pháp
5.3 Thực hiện tổ chức giờ học
- Tạo ra không khí thoải mái, thân thiện ngay những phút đầu
- Bố trí vị trí (chỗ đứng/chỗ ngồi) của trẻ theo phương án được dự kiến đối với từng hoạt động
và từng nội dung kiến thức, kỹ năng cần thực hiện
- Xuất phát từ tình hình thực tế, từng đối tượng trẻ, điều kiện, diễn biến của từng hoạt động, để giáo viên linh hoạt, sáng tạo triển khai, thay đổi các phương án cho phù hợp
- Tập trung vào nhấn mạnh hoạt động học của TRẺ, sau đó là hoạt động dạy của GV nhằm hỗ trợ hoạt động học của TRẺ
- Đề cao việc theo dõi diễn biến tâm lý của trẻ để điều chỉnh phương án, phương pháp và đưa ra kiến thức, rèn luyện kỹ năng nâng cao cho phù hợp
- Chú trọng đảm bảo mọi hoạt động trong giờ giảng phải đạt được mục tiêu kiến thức, kỹ năng
- Nắm vững những trẻ có khả năng phát triển cần được bồi dưỡng nâng cao Phối hợp với gia đình, báo cáo Hiệu trưởng để có kế hoạch bồi dưỡng
- Suy ngẫm chuẩn bị cho giờ học tiếp theo
Hiện nay, điều kiện về không gian lớp học, thời lượng dành cho một tiết dạy, khâu chuẩn kế hoạch bài học mới và khâu đánh giá rút kinh nghiệm còn là điểm khó đối với giáo viên nên việc
“dạy học lấy trẻ làm trung tâm” vẫn là thách thức đối với cán bộ giáo viên mầm non, nhưng vì sự
Trang 32tiến bộ của mỗi trẻ, các giáo viên cô giáo mầm non/mẫu giáo cần kiên trì, sáng tạo, ứng dụng các biện pháp, phương pháp mới để tự hoàn thiện quá trình dạy học của mình hướng tới sự thành công công việc thực hiện “dạy học lấy trẻ làm trung tâm”
6 Cách thức và các bước lồng ghép các nội dung câu chuyện trong Bộ tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ vào hoạt động trên lớp mẫu giáo (trẻ 5-6 tuổi)
Để hiểu và áp dụng được các phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực trong quá trình lồng ghép các nội dung/câu chuyện của bộ Tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ Việt – Mông vào các hoạt động phù hợp trong Khung Chương trình giáo dục Mẫu giáo hiện nay, các giáo viên mầm non cần nắm vững và thực hiện các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn câu chuyện/bài viết phù hợp trong 5 chủ đề của tài liệu để lồng ghép vào chủ đề của kế hoạch theo tuần, tháng của các trường mầm non
(i) Cơ sở để lựa chọn nội dung đối với bậc mầm non (Mẫu giáo – trẻ 5-6 tuổi)
- Chương trình Giáo dục Mầm non;
- Kế hoạch giáo dục của lớp mẫu giáo 5-6 tuổi của một số trường mầm non;
- 5 bộ tài liệu bổ trợ của AEA và CISDOMA
(ii) Tiến trình lựa chọn nội dung:
- Các giáo viên đọc và rà soát các nội dung trong bộ tài liệu Giáo dục bổ trợ song ngữ để lựa chọn nội dung trong tài liệu bổ trợ cho hoạt động trên lớp mẫu giáo 5-6 tuổi Việc lựa chọn nội dung này dựa trên các chủ đề có sẵn của nhà trường theo kế hoạch tuần, tháng để đảm bảo việc lồng ghép các nội dung trong tài liệu phù hợp với chương trình và kế hoạch hoạt động của trường MN
Bước 2: Lựa chọn và điều chỉnh nội dung cho phù hợp với trẻ 5-6 tuổi và điều kiện dạy học ở địa phương
- Các tiêu chí chú ý khi lựa chọn và điều chỉnh nội dung:
• Bám vào nội dung, thông điệp của câu chuyện, bài thơ để xác định mục tiêu cho các hoạt động trong ngày
• Chia thành đoạn, tìm ý chính quan trọng trong từng đoạn, chọn tình huống gần gũi với trẻ
• Lựa chọn hình ảnh trong câu chuyện hoặc sử dụng đồ dùng trực quan phù hợp (rối, video…)
• Thời gian tổ chức phù hợp;
Trang 33• Dựa vào phần “Đố em” ở phần cuối câu truyện trong Tài liệu GD bổ trợ song ngữ để lựa
chọn nội dung câu chuyện, bài th phù hợp
Bước 3: Lựa chọn hoạt động trên lớp phù hợp để thực hiện việc lồng ghép nội dung đã lựa chọn
Dựa trên các hoạt động quy định trong một ngày đến trường đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi như Bảng 3 dưới đây, giáo viên mầm non sẽ căn cứ vào nội dung của từng câu chuyện, bài thơ trong
Bộ Tài liệu GD bổ trợ song ngữ được lựa chọn để thực hiện việc lồng ghép đưa vào hoạt động nào trên lớp cho phù hợp
Bảng 3: Các hoạt động cụ thể và phân bố thời gian trong một ngày đến trường của trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi
(Nguồn: Hướng dẫn về Chương trình giáo dục mầm non năm 2016 của Bộ GD&ĐT)
- Việc lựa chọn hoạt động trên lớp phù hợp sẽ dựa vào các tiêu chí sau:
• Mục tiêu của hoạt động: Nội dung của câu chuyện hay bài thơ phải phù hợp với mục tiêu của hoạt động đặt ra trong chương trình/kế hoạch giáo dục của lớp
• Nội dung của câu chuyện/bài thơ phù hợp với hoạt động
• Thời gian triển khai của hoạt động
• Phương pháp thực hiện của hoạt động
• Điều kiện thực hiện hoạt động
Trang 34Bước 4: Lựa chọn phương pháp và các trò chơi để tổ chức hoạt động trên lớp phù hợp với nội dung đã lựa chọn
Giáo viên có thể linh hoạt lựa chọn các phương pháp/kỹ thuật dạy học lấy trẻ làm trung tâm như
đã mô tả chi tiết ở Mục 2 ở trên hoặc theo tóm tắt dưới đây:
(i) Kể chuyện qua tranh/ảnh
- Là nghệ thuật tương tác của việc sử dụng Ngôn ngữ, Hành động và Hình ảnh để bộc lộ các yếu tố/nội dung của một câu chuyện trong đó khuyến khích trí tưởng tượng của người nghe
- Ưu điểm: Bắt mắt, dễ hiểu, dễ tưởng tượng/theo dõi, nhớ nhanh
(ii) Quan sát vật thật, xem video
- Sử dụng phương tiện trực quan với 2 hình thức này theo cách minh họa và/hoặc trình bày
- Ưu điểm: Dễ thu hút sự chú ý, tham gia với nhiều giác quan; dễ hiểu, dễ nhớ (nhớ lâu), kích thích quan sát và tò mò
(iii) Vẽ tranh/chụp ảnh
- Thể hiện ý tưởng về một chủ đề theo sáng tạo và tư duy riêng
- Ưu điểm: Tạo cơ hội sáng tạo, phát triển năng khiếu cho trẻ, nhớ lâu
(iv) Đóng vai/tiểu phẩm
- Trực tiếp thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định
- Ưu điểm: Tăng cường kỹ năng quan sát, ứng xử, sáng tạo, dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu cho trẻ (v) Trải nghiệm/thực hành
- Tổ chức/dẫn dắt trẻ tham gia quan sát, trải nghiệm, thực hành các nội dung được học/giới thiệu thông qua thăm quan/giao tiếp/cọ xát với môi trường và thực tế cuộc sống xung quanh
- Ưu điểm: Kích thích vận động, giao tiếp/cọ xát, thân thuộc, thực tế trẻ được trực tiếp tham gia, nhìn, sờ, tìm hiểu sự việc/sự vật nên dễ nhớ, dễ hiểu
(vi) Tổ chức trò chơi phù hợp với trẻ lứa tuổi mẫu giáo (5-6 tuổi)
- Có nhiều hoạt động trò chơi học tập tạo hứng thú và kích thích sự tham gia của trẻ có thể áp dụng khi lồng ghép với các nội dung/câu chuyện trong bộ Tài liệu GD bổ trợ song ngữ (xem Phụ lục 1 - Giới thiệu và hướng dẫn tổ chức một số trò chơi phù hợp với trẻ 5-6 tuổi)
Bước 5: Soạn giáo án và thiết kế hoạt động trên lớp với nội dung tài liệu đã lựa chọn (gồm nội dung, phương pháp, đồ dùng dạy học và hoạt động trên lớp)
- Khi thiết kế giáo án kết hợp với việc lồng ghép nội dung tài liệu bổ trợ, giáo viên cần tham khảo lại và nắm rõ các nội dung/yêu cầu đã đề cập ở Mục 5.2 Thiết kế bài dạy, đặc biệt liên quan đến lựa chọn phương pháp và các trò chơi Một số lưu ý thêm khi thiết kế giáo án/bài giảng:
Trang 35• Sàng lọc và diễn đạt lại các nội dung bài thơ hay câu chuyện một cách ngắn gọn, từ ngữ dễ hiểu, các tình tiết đơn giản
• Trong tiết học các hoạt động cần đảm bảo có động và tĩnh Với đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi, trẻ cần có vận động nên cần có lồng ghép trò chơi vận động;
• Khuyến khích sử dụng các vật liệu địa phương để chuẩn bị trò chơi;
• Khuyến khích huy động sự tham gia và hỗ trợ của phụ huynh trẻ trong các hoạt động lồng ghép này từ khâu chuẩn bị bài giảng, chuẩn bị đồ dùng/vật liệu, đến khâu tổ chức hoạt động cùng với trẻ;
Bước 6: Chuẩn bị đồ dùng dạy học theo thiết kế giáo án và huy động sự tham gia của cộng đồng cha mẹ trẻ
- Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cần phải lưu ý là trẻ mầm non 5-6 tuổi có tư duy về hình ảnh
và tư duy trực quan hành động phát triển mạnh Vì vậy đồ dùng dạy học và trò chơi cần phải được xây dựng trên nguyên tắc này
- Các bước phát triển hình ảnh hoá cho trò chơi trong câu chuyện như sau:
• Liệt kê các chi tiết câu chuyện trẻ cần biết trong câu chuyện Điều này dựa trên mục tiêu của câu chuyện
• Lựa chọn chi tiết có thể xây dựng hay vẽ được hình ảnh lột tả và đảm bảo gần gũi, phù hợp với trẻ
• Sắp xếp các chi tiết và lựa chọn các chi tiết cần truyền đạt nội dung của câu chuyện
• Vẽ các hình ảnh hoặc chụp/tìm kiếm các hình ảnh minh hoạ cho chi tiết của câu chuyện
- Việc huy động sự tham gia của cộng đồng hay cha mẹ trẻ vào hỗ trợ giáo viên thực hiện các nội dung lồng ghép nhằm đảm bảo xoá bỏ rào cản ngôn ngữ, tạo sự tự tin cho trẻ, tăng cường lồng ghép văn hoá địa phương vào trường học và thúc đẩy sự phối kết hợp giữa gia đình và trường học
- Khi có phụ huynh tham gia, giáo viên cần làm rõ vai trò và nhiệm vụ của phụ huynh và hướng dẫn cho phụ huynh cách trợ giảng/hỗ trợ ngôn ngữ khi kể chuyện lại bằng tiếng Mông; có thể
để cha mẹ trẻ có đĩa video để xem trước câu chuyện hoặc kế hoạch /bài giảng của tiết học/hoạt động mà họ sẽ tham gia hỗ trợ giáo viên
Bước 7: Thực hiện giáo án đã thiết kế trên lớp mẫu giáo
- Việc triển khai giáo án trong tiết dạy có thể điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với đối tượng trẻ và bối cảnh ở từng trường/điểm trường
Trang 36Bước 8: Giáo viên tự đánh giá hoạt động và chia sẻ và rút kinh nghiệm về việc lồng ghép nội dung tài liệu bổ trợ vào hoạt động trên lớp mẫu giáo trẻ 5-6 tuổi
- Giáo viên tự đánh giá về hoạt động
- Các giáo viên có thể chia sẻ kinh nghiệm với nhau về việc lồng ghép tài liệu bổ trợ vào các hoạt động trên lớp thông qua các cuộc họp chia sẻ chuyên môn hàng quý theo kế hoạch Dự án
đã đề ra
Trang 37PHỤ LỤC 1: GIÁO ÁN MẪU
GIÁO ÁN SỐ 1
Tài liệu lựa chọn: Những câu chuyện kể về kỹ năng sống và đảm bảo môi trường an toàn Bài thơ lựa chọn: Sua thích đi học lắm (Trang 14)
- Phát triển ngôn ngữ: Tăng cường Tiếng Việt
- Nội dung: Ở trường con biết thêm nhiều điều mới, điều hay, được sống trong tình cảm của cô
- Trẻ nghe, hiểu và nói được các từ tiếng Việt “Đi học”, “cô giáo”, “trường Mầm non”;
- Biết đọc và nói mẫu câu mới: Bé đi học lớp Mẫu giáo, Cô giáo đang dạy học, trường Mầm non
2 Kỹ năng
- Kỹ năng nói rõ ràng, diễn đạt mạch lạc;
- Phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ
3 Thái độ
Ở trường con biết thêm nhiều điều mới, điều hay, được sống trong tình cảm của cô và các
bạn
II Chuẩn bị
1 Chuẩn bị của cô
- Đồ dùng hỗ trợ dạy tiếng Việt;
- Hệ thống câu hỏi để hỗ trợ dạy từ và câu tiếng Việt
Trang 38- Giáo viên lựa chọn hình thức tạo hứng thú cho trẻ tham gia
vào hoạt động (Bài hát, bài thơ, câu đố, hội thi )
2 Hoạt động 2: Ôn từ đã học
- Giáo viên cho trẻ ôn 1-2 từ đã học qua tranh ảnh, vật thật
Khuyến khích trẻ phát triển vốn từ qua đồ dùng trực quan
3 Hoạt động 3: làm quen với từ: “Đi học”, “cô giáo”,
“trường Mầm non”
a Từ mới: Đi học Câu mới: Con đi học trường Mầm non
- Cho trẻ quan sát bức tranh em bé đi học Giáo viên chỉ vào
tranh và hỏi trẻ:
+ Em bé đang làm gì?
- Giáo viên chỉ vào bức tranh và nói mẫu từ: “đi học” (3 lần)
- Cho 2-3 trẻ nhắc lại Cả lớp nhắc lại
- Cô động viên khuyến khích và sửa lỗi nếu trẻ nói ngọng
* Phát triển mẫu câu:
- Cô chỉ vào tranh và gợi hỏi trẻ trả lời một số câu hỏi liên
quan đến từ tiếng Việt như: (Ai đang đi học? Em bé học
trường nào? )
- Khuyến khích trẻ nói những câu khác nhau có từ: “Đi học”
+ Con đi học trường Mầm non
+ Bạn Súa đi học
+ Bạn Súa đi học trường mầm non
- Cô động viên khuyến khích và sửa sai cho trẻ
b Từ mới: Cô giáo Câu mới: Cô giáo đang dạy học
- Ai là người đã dạy các con học?
- Cô treo bức tranh: Cô giáo
- Giáo viên chỉ vào bức tranh và nói mẫu từ: “cô giáo” (3 lần)
- Cho 2-3 trẻ nhắc lại Cả lớp nhắc lại
- Cô động viên khuyến khích và sửa lỗi nếu trẻ nói ngọng
* Phát triển mẫu câu:
- Trẻ hứng thú tham gia vào giờ học
Trang 39- Cô chỉ vào tranh và gợi hỏi trẻ trả lời một số câu hỏi liên
quan đến từ tiếng Việt như: (Ai đang dạy học? Cô giáo đang
làm gì? )
- Khuyến khích trẻ nói những câu khác nhau có chứa từ: Cô
giáo Như:
+ Cô giáo dạy vẽ
+ Cô giáo chăm chỉ làm việc
+ Cô giáo của con rất đẹp
- Cô động viên khuyến khích và sửa sai cho trẻ
c Từ mới: Trường mầm non Câu mới: trường Mầm
non (Tả Lèng/Khun Há/Nùng Nàng)
- Con đang học ở trường nào?
- Cô treo bức tranh: Trường Mầm non
- Cô nói từ: Trường mầm non
- Tổ chức cho trẻ nói theo hình thức cả lớp, tổ cá nhân
- Cô động viên khuyến khích và sửa sai cho trẻ
* Phát triển mẫu câu:
- Cô gợi hỏi trẻ trả lời một số câu hỏi liên quan đến từ tiếng
Việt như: (Con đang học ở trường gì?)
- Cô nói câu: Trường Mầm non (Tả Lèng/Khun Há/Nùng
Nàng)
- Tổ chức cho trẻ nói mẫu câu theo hình thức cả lớp, tổ, cá
nhân
- Khuyến khích trẻ nói những câu khác nhau có chứa từ:
Trường Mầm non, như:
+ Trường mầm non Tả lèng rất đẹp
+ Trường Mầm non có rất nhiều các bạn
- Cô động viên khuyến khích và sửa sai cho trẻ
4 Hoạt động 4: Luyện tập thực hành nói mẫu câu vừa
học
- Lựa chọn trò chơi luyện tập phù hợp với từng đối tượng học
sinh của mối lớp
- Trò chơi gợi ý:
+ Trò chơi “Thi xem ai nói nhanh”
- Cách chơi:
Lần 1: Cô xuất hiện tranh hoặc vật thật trẻ nói tên tranh
Lần 2: Cô nói từ trẻ nói mẫu câu
+ Trò chơi 2: Tìm chữ cái đã học trong các từ tiếng Việt
- Cô động viên khuyến khích trẻ nói câu hoàn chỉnh và lưu