1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ho chi minhs political theory and its values, meanings to the reform in viet nam

238 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 4,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ ba nội dung cơ bản nói trên học thuyết chính trị Hồ Chí Minh thể hiện những đặc trưng nổi bật: sự thống nhất giữa tính khoa học sâu sắc và tính cách triệt để, giữa tính giai cấp, tính

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

TÓM TẮT 1

ABSTRACT 2

BÁO CÁO TÓM TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Sự cần thiết của đề tài 8

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 8

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp mới của kết quả đề tài 13

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 13

8 Kết cấu của báo cáo tổng kết đề tài 14

LỜI CẢM ƠN 15

PHẦN NỘI DUNG 16

Phần thứ nhất ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT 16 CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

Chương 1 Điều kiện và tiền đề hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí 16 Minh

I Điều kiện hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh 16

Trang 2

2 Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 23

3 Phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược 27

II Tiền đề hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh 32

1 Tinh hoa chính trị - văn hóa của dân tộc Việt Nam 32

2 Tinh hoa chính trị- văn hóa phương Đông 41

3 Tinh hoa chính trị- văn hóa phương Đông 48

4 Lý luận chính trị Mác-Lênin 51

III.Nhân tố chủ quan trong việc hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh 57

1 Trải nghiệm thực tiễn chính trị cách mạng 57

2 Phẩm chất trí tuệ và đạo đức Hồ Chí Minh 62

Chương 2 Quá trình hình thành, phát triển học thuyết chính trị Hồ Chí 63 Minh

I Thời kỳ hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh (1890-1930) 63

1 Giai đoạn học tập, trang bị kiến thức và tích lũy kinh nghiệm (1890-1920) 63

2 Giai đoạn tìm đường cứu nước và thể nghiệm hoạt động chính trị (1911- 66 1920)

3 Giai đoạn hoạt động chính trị và hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí 70 Minh(1920-1930)

Trang 3

1 Giai đoạn hoạt động chính trị và phát triển học thuyết chính trị (1930- 75

1945)

2 Giai đoạn phát triển và hoàn thiện học thuyết chính trị Hồ Chí Minh (1946- 79 1969)

Phần thứ hai NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌC THUYẾT CHÍNH 85 TRỊ HỒ CHÍ MINH

Chương 1 Những nội dung cơ bản của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh 86

I Lý luận mục tiêu chính trị, đường lối chính trị và phương pháp chính trị của 86 cách mạng Việt Nam

1 Lý luận mục tiêu chính trị của cách mạng Việt Nam 86

2 Lý luận đường lối chính trị của cách mạng Việt Nam 89

3 Lý luận phương pháp chính trị của cách mạng Việt Nam 100

II Lý luận về quyền lực chính trị 103

1 Khái niệm quyền lực chính trị 103

2 Chủ thể và thể chế quyền lực chính trị 107

III Lý luận về hệ thống chính trị 114

1 Lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam 114

2 Lý luận về Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân 130

3 Lý luận về Mặt trận dân tộc thống nhất 150

Trang 4

I Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng trong học thuyết chính

trị Hồ Chí Minh

II Sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại trong học thuyết chính trị Hồ Chí Minh

157 161 III.Tính nhân văn sâu sắc trong học thuyết chính trị Hồ Chí Minh 166

Phần thứ ba GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

170 Chương một Khái quát về hệ thống chính trị Việt Nam 170

I Khái niệm và đặc điểm hệ thống chính trị Việt Nam 171

1 Khái niệm hệ thống chính trị 171

2 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam 174

II Thực trạng phát triển của hệ thống chính trị Việt Nam 180

1 Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 180

2 Hoạt động của bộ máy Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 184

3 Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 188

Chương hai Vận dụng học thuyết chính trị Hồ Chí Minh vào đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

I Yêu cầu, nguyên tắc và phương châm đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay

189

189

Trang 5

3 Phương châm đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay 195

II Những giải pháp đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay 196

1 Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh 196

2 Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân 205

3 Xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vững mạnh 213

PHẦN KẾT LUẬN 219

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 224 PHỤ LỤC

Trang 6

TÓM TẮT

Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (trong đó cốt lõi

là học thuyết chính trị) là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động cách mạng Việt Nam Trong thời kỳ đổi mới, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là học thuyết chính trị luôn định hướng cho sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Học thuyết chính trị Hồ Chí Minh là hệ thống tri thức lý luận phản ánh quá trình phát triển của hiện thực chính trị Việt Nam trong thời đại mới Nó bao gồm

ba yếu tố cơ bản: (1) Mục tiêu chính trị (Nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh), đường lối chính trị (Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội) và phương pháp chính trị (“dĩ bất biến, ứng vạn biến”); (2) Toàn bộ quyền lực chính trị thuộc về nhân dân (“dân là chủ” và “dân làm chủ”); (3) Hệ thống chính trị của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ) Từ ba nội dung cơ bản nói trên học thuyết chính trị Hồ Chí Minh thể hiện những đặc trưng nổi bật: sự thống nhất giữa tính khoa học sâu sắc và tính cách triệt để, giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại, giữa tính nhân đạo cao cả và tính nhân văn sâu sắc, giữa lý luận và thực tiễn cách mạng

Trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo học thuyết chính trị Hồ Chí Minh để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Đặc biệt là, cần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và hiện thực hoá cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ” một cách sáng tạo và có hiệu quả

Trang 7

ABSTRACT

Along with Marxism - Leninism, Ho Chi Minh Ideology (with political doctrine

as the core) is the ideological foundation and magnetic needle for the whole revolutionary activities in Vietnam During the renovation, Ho Chi Minh Ideology, especially political doctrine, always orient for the innovation in Viet Nam which the

ultimate aim is that “for a rich people, a strong country, a democratic, equitable, civilized society”

Ho Chi Minh political doctrine is a theoretical knowledge system which reflects the development of Vietnam's political reality in the New Era It consists of three basic elements: (1) Political objectives (Viet Nam is Peace – Independence - Unity – Democracy – Prosperity nation), Political lines (National Independence associated with Socialism), Political methodology (Keeping steadfast in various situations with flexibility – “Di bat bien, ung van bien”); (2) The whole political power belongs to the

people (People are bosses, People are owners); (3) Political system “of the people, by the people, for the people” (Party's leadership, State's management and People's ownership)

Form three contents mentioned above, Ho Chi Minh political doctrine shows specific characteristics: the unity between deeply science understanding and decisive thoughts; the unity among the class characteristic, the people characteristic and the characteristic of the Time, between deep humaneness and lofty humanity, between revolutionary theory of reality

Nowadays, in the innovation and international integration, we must grasp thoroughly and apply creatively Ho Chi Minh political doctrine for promoting industrialization, modernization and developing Socialist-oriented market

economy, building legitimate state in Vietnam with content “of the people, by the people, for the people” and building an advanced culture embracing national identity

Especially, we must “build clean and strong Party organization” and implement operating mechanism “Party's leadership, State's management and People's ownership” creatively and effectively

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Trong bối cảnh thế giới phát triển đa dạng, phức tạp, đang chịu tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học – công nghệ, toàn cầu hóa, ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế, các cuộc “đụng độ” về chính trị ngoại giao, chủ nghĩa khủng bố tiếp tục “hoành hành” ; công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử, song cũng đang đứng trước những khó khăn to lớn và cả những nguy cơ, thách thức không nhỏ Hoàn cảnh đó buộc chúng ta phải nổ lực nghiên cứu, học tập những tinh hoa văn hóa nhân loại và giá trị truyền thống của cha ông, nhất là tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh dưới ánh sáng của tư duy và thực tiễn mới để rút ra những giá trị đích thực, những bài học sâu sắc cho quá trình đổi mới nói chung,

và đổi mới hệ thống chính trị nói riêng Đặc biệt là, hiện nay Đảng và nhân dân ta đang tập trung nổ lực vào việc đưa Hiến pháp năm 2013 vào thực tiễn cuộc sống; đồng thời chuẩn bị những điều kiện thực tiễn và lý luận cho Đại hội XII của Đảng Công việc cực kỳ quan trọng này bắt buộc chúng ta phải trở về với học thuyết chính trị Hồ Chí Minh, nhất là nghiên cứu những quan điểm về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

và xây dựng Mặt trận Tổ quốc vững mạnh

Như vậy, thực tiễn đổi mới và hội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đủ về giá trị, ý nghĩa của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh với tính cách là kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế Vì vậy, thực hiện

đề tài “Học thuyết chính trị Hồ Chí Minh và giá trị, ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và học thuyết chính trị Hồ Chí Minh nói

Trang 9

riêng đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Dưới đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu được triển khai theo ba hướng:

Hướng nghiên cứu thứ nhất là, những công trình nghiên cứu về quá trình

hình thành, phát triển và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có các công trình sau:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh – quá trình hình thành và phát triển (Võ Nguyên Giáp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1993); Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh (Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960); Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam (Võ Nguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); Hồ Chí Minh và minh triết Hồ Chí Minh (Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Hội nghị quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990); Những nhận thức cơ bản về tư tưởng

Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam (Phạm Hồng Chương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003); Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước (Nxb Lý luận chính trị,

Hà Nội, 2005); Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, tập 1, 2, 3 (Nxb Sự thật, Hà

Nội, 1992) và những tác phẩm khác

Trong các công trình nói trên, các tác giả đã phân tích khá rõ quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với quá trình hoạt động cách mạng của Người từ buổi niên thiếu cho đến cuối đời Đồng thời, phân tích khá sâu những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, về Đảng và xây dựng Đảng, về Nhà nước và vấn đề dân chủ

Hướng nghiên cứu thứ hai là, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tư

tưởng chính trị Hồ Chí Minh Theo hướng này có các công trình tiêu biểu như sau:

Trang 10

- Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Vũ Việt Mỹ, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002); Hồ Chí Minh và con người Việt nam trên con đường dân giàu, nước mạnh (Phạm Văn Đồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994); Hồ Chủ Tịch – Nhà chiến lược thiên tài, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (Võ Nguyên Giáp, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975); Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh (Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011); Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh (Phạm Văn Bính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Đại cương lịch sử tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới (Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999); Phương pháp nhân nghĩa Hồ Chí Minh (Vũ Đình Hòe, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2006); 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); Hiến pháp năm 1946 và sự kế thừa phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh – Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); Xây dựng Đảng và rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000); Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); Nguyên tắc thống nhất giữa dân tộc, giai cấp và nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh (Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012);

và những tác phẩm khác

Trong các công trình nói trên, các tác giả đã phân tích khá kỹ các phương tiện khác nhau liên quan trực tiếp (hay gián tiếp) đến tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và có hệ thống tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh với tư cách là học thuyết chính trị chỉ đạo nhất quán và xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam

Trang 11

Hướng nghiên cứu thứ ba là, nghiên cứu vận dụng tư tưởng chính trị Hồ

Chí Minh trong thời kỳ đổi mới, có các tác phẩm tiêu biểu:

- Hồ Chí Minh và minh triết Hồ Chí Minh (Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Triết lý Hồ Chí Minh – Giá trị lý luận và thực tiễn (Phạm Ngọc Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh,

Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí

Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh

và công cuộc đổi mới đất nước (Nguyễn Thế Nghĩa – Nguyễn Thanh Bình chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000); Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh (Lê Hữu Nghĩa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000); Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường chúng ta đi (Ngô Văn Thạo chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng thiên tài (Trần Nhâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011); Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay (Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới (F.Motoo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); Giải phóng dân tộc và đổi mới dưới ánh sáng

tư tưởng Hồ Chí Minh (Bùi Đình Phong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004);

Hồ Chí Minh – Nhà dự báo thiên tài (Trần Ngọc Anh, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2005); Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh (Vũ Đình Hòe, Nxb Trẻ

Tp Hồ Chí Minh, 2006); Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và chính sách xã hội (Lê Sỹ Thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); và những

công trình khác

Trong các công trình trên, các tác giả chủ yếu phân tích ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới ở các khía cạnh giáo dục con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng văn hóa mới và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Tuy nhiên, các tác giả chưa đi sâu phân tích khái quát hóa những bài học có giá trị đối với sự nghiệp phát triển,

Trang 12

hoàn thiện hệ thống chính trị, trong đó có việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; chưa làm rõ cơ chế “Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ” trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích: Làm rõ những nội dung cơ bản của học thuyết chính trị Hồ Chí

Minh Từ đó rút ra giá trị và ý nghĩa của chúng đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

Nhiệm vụ: (1) Phân tích điều kiện và tiền đề hình thành, phát triển học

thuyết chính trị Hồ Chí Minh; (2) Phân tích và trình bày nội dung và đặc điểm cơ bản của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh; (3) Phân tích giá trị, ý nghĩa của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Bối cảnh thế giới và xã hội Việt Nam cuối thế lỷ

XIX đầu thế lỷ XX, hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, học thuyết chính trị

Hồ Chí Minh, sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Những điều kiện, tiền đề làm cơ sở trực tiếp cho sự

hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh; Những nội dung và đặc điểm cơ bản của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh; Giá trị và ý nghĩa của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh có thể được vận dụng vào lĩnh vực đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện dựa trên những nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và học thuyết chính trị mácxít, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành (Triết học, Chính trị học ) kết hợp với các phương pháp liên ngành (khoa học lý luận chính

Trang 13

trị) để tiếp cận và nghiên cứu Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, phân tích, tổng hợp, lịch sử và logic, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và so sánh, tổng hợp và khái quát hóa

6 Đóng góp mới của kết quả đề tài

Một là, đề tài phân tích và trình bày một cách có hệ thống điều kiện, tiền

đề hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh Trong đó, làm nổi bật tinh hoa chính trị văn hóa Việt Nam kết hợp với tinh hóa chính trị văn hóa của nhân loại với những phẩm chất trí tuệ và đạo đức Hồ Chí Minh với tư cách là những yếu tố trực tiếp làm nảy sinh, phát triển học thuyết chính trị Hồ Chí Minh

Hai là, đề tài làm rõ một cách có hệ thống nội dung của học thuyết chính

trị Hồ Chí Minh Trong đó, làm nổi bật ba nội dung cơ bản: (1) Mục tiêu, đường lối và phương pháp chính trị; (2) Quyền lực chính trị; (3) Hệ thống chính trị Đồng thời làm rõ những đặc điểm cơ bản của học thuyết chính trị Hồ Chí Minh; trong đó, có sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại cùng với tính nhân văn sâu sắc

Ba là, đề tài luận chứng giá trị, ý nghĩa của học thuyết chính trị Hồ Chí

Minh được vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam Trong đó, đặc biệt chú trọng ban vấn đề lớn: xây dựng Đảng Cộng sản trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và xây dựng Mặt trận Tổ quốc vững mạnh

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Nội dung và kết luận của đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Nó góp phần vòa các luận cứ khoa học để thúc đẩy quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta; nhất là thúc đẩy sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; đồng thời cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ”

Nội dung và kết luận của đề tài còn đáp ứng hiểu biết về chính trị học, triết học, luật học và kinh nghiệm đổi mới, hội nhập của nhân dân, nhất là đội ngũ cán

Trang 14

bộ, đảng viên đang hoạt động trong hệ thống chính trị Đặc biệt là nó đáp ứng trực tiếp nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập của giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh trong hệ thống các viện nghiên céu, các trường Đảng, các trường đại học và cao đẳng; nhất là các trường thuộc khối khoa học lý luận chính trị, khoa học pháp lý, khoa học xã hội và nhân văn

8 Kết cấu của báo cáo tổng kết đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 phần, 6 chương và 15 tiết

Trang 15

LỜI CẢM ƠN

Chủ nhiệm và các thành viên đề tài chân thành cảm ơn lãnh đạo ĐHQG-HCM và Trường Đại học KHXH&NV đã cho phép thực hiện đề tài; cmả

ơn Ban Khoa học – Công nghệ ĐHQG-HCM, Phòng Quản lý Khoa học – Dự án

và Ban chủ nhiệm Khoa triết học, Trường Đại học KHXH&NV đã tạo điều kiện cần thiết, động viên giúp đỡ để các thành viên đề tài hoàn thành nhiệm vụ; Cảm

ơn Hội đồng Nghiệm thu đề tài đã có những đánh giá khoa học, khách quan đối với nội dung và kết quả của đề tài Xin trân trọng cám ơn!

Chủ nhiệm đề tài

PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG Phần thứ nhất ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH Chương một ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

I ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH Học thuyết chính trị là hệ thống các tư tưởng, quan điểm, nguyên lý, phạm trù, quy luật chính trị phản ánh các quan hệ kinh tế - chính trị giữa các tầng lớp, giai cấp, dân tộc, quốc gia xoay quanh vấn đề giành và giữ chính quyền, tổ chức

và thực thi quyền lực của giai cấp thống trị xã hội Mỗi học thuyết chính trị đều là sản phẩm của thời đại, phản ánh điều kiện và quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội của thời đại; trong đó có sự kế thừa, phát triển những tinh hoa chính trị và văn hóa của thời đại trước Đó là vấn đề mang tính quy luật mà học thuyết chính trị

Hồ Chí Minh cũng không phải là ngoại lệ

Có thể nói, học thuyết chính trị Hồ Chí Minh là sự kết tinh những tinh hoa chính trị, văn hóa của dân tộc và nhân loại trong thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới được bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại

1 Bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa đế quốc

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã phát triển lên giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc Các nước tư bản phát triển đã tích lũy được số vốn tư bản khổng lồ trong khi đầu tư ở thị trường trong nước đã chật hẹp,

họ có nhu cầu xuất khẩu tư bản ra nước ngoài để kiếm lợi nhuận cao Các tập đoàn tư bản cấu kết với nhà nước tư sản mở các cuốc chiến tranh xâm lược để

Trang 17

xâm chiếm thị trường, biến các quốc gia dân tộc kém phát triển thành thuộc địa

và phụ thuộc Lúc này trên thế giới hình thành hệ thống đế quốc chủ nghĩa, bao gồm các nước chính quốc và các nước thuộc địa, phụ thuộc Chủ nghĩa đế quốc

đã áp dụng những chính sách tàn bạo “nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, chia và chia lại thuộc địa”1

Đến đầu thế kỷ XX, chỉ “Sáu nước (Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Mỹ, Hà Lan) với tổng số dân là 320 triệu người, với diện tích 11 triệu

km2 đang bóc lột hàng trăm dân tộc với một dân số 560 triệu người, với diện tích

35 triệu km2 Toàn bộ lãnh thổ của các thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thổ của chính quốc, còn dân số của các nước chính quốc bằng 3/5 số dân các nước thuộc địa”2 Dưới sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc, nhân dân các nước thuộc địa bị tước đoạt hết quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa và địa vị xã hội; thậm chí, “tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”3 Có thể nói, chủ nghĩa đế quốc như “con đỉa hai vòi”, một vòi hút máu nhân dân ở chính quốc, còn một vòi hút máu nhân dân thuộc địa Và, Nguyễn Ái Quốc đã khái quát:

“dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”4

Chính chế độ thống trị, áp bức, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đã làm cho mâu thuẫn của loài người ngày càng trở nên gay gắt (mâu thuẫn giữa giai cấp

vô sản và giai cấp tư sản, giữa chính quốc với thuộc địa, giữa các nước đế quốc với nhau ), đồng thời làm thức tỉnh ý thức dân tộc, tinh thần đấu tranh của nhân dân lao động cùng khổ chống toàn bộ chủ nghĩa đế quốc Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc đã gắn kết phong trào công nhân chống giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa thành mặt trận chống chủ nghĩa đế quốc Phản ánh và chỉ đạo thực tiễn phong trào này,

Trần Dân Tiên (2000), Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Thanh niên, Hà Nội, tr.30

4 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.266

Trang 18

V.I.Lênin đã ra lời hiệu triệu: giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới đoàn kết lại!

Như vậy, các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa và thị trường thế giới của chủ nghĩa đế quốc đã tạo ra hệ thống đế quốc chủ nghĩa thế giới bao gồm các nước chính quốc và các nước thuộc địa mà V.I.Lênin gọi là “sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa” với nhiều “mắt xích” khác nhau Khi nghiên cứu sâu vào hệ thống đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã phát hiện ra quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc Và, chính quy luật phát triển không đều này đã làm xuất hiện khâu yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc ở một “mắt xích” trong sợi dây chuyền

đó - nơi không nhất thiết là quốc gia phát triển nhất mà có thể ở một quốc gia có trình độ phát triển trung bình, nhưng lại là nơi tập trung tất cả các mâu thuẫn đã phát triển chín muồi của nhân loại, đồng thời ở đó có phong trào cách mạng đông đảo và mạnh mẽ nhất Từ những nghiên cứu này, V.I.Lênin đã rút ra kết luận: cách mạng vô sản chỉ có thể nổ ra và giành thắng lợi ở duy nhất một nước (có thể vài nước) - nơi là khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản (là nước có trình độ phát triển trung bình, nhưng tập trung tất cả các mâu thuẫn đã chín muồi và có phong trào cách mạng mạnh mẽ nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản)

Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã mở ra thời đại mới trong

Trang 19

lịch sử loài người - Thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới “Cách mạng tháng Mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân và đội tiên phong của họ

là Đảng Bônsêvích lãnh đạo Cách mạng tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng lật đổ giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ phong kiến, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người”1

Có thể nói, Cách mạng Tháng Mười Nga là tấm gương vĩ đại, là bó đuốc soi đường, là nguồn sức mạnh lớn lao thức tỉnh và thúc đẩy phong trào công nhân chống chủ nghĩa tư bản và phong trào chống chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn cầu Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào giải phóng dân tộc bước sang thời kỳ phát triển mới với sự giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin và được giai cấp công nhân lãnh đạo Trong thời kỳ này, hệ tư tưởng Mác - Lênin và thực tiễn Cách mạng Tháng Mười đã tác động mạnh mẽ, làm thức tỉnh ý thức và thay đổi

tư duy của nhiều dân tộc, nhiều nhà tư tưởng, trong đó có nhà tư tưởng vĩ đại của cách mạng Việt Nam - Nguyễn Ái Quốc “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”2 Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản

Như vậy, trong những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực tiễn phát triển lịch sử nhân loại có nhiều biến đổi to lớn và tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh Chính chủ nghĩa đế quốc phát động chiến tranh xâm lược thuộc địa, phân chia và tranh giành thị trường thế giới,

1 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.300-301

2

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.304

Trang 20

đã biến các dân tộc nhỏ yếu thành thuộc địa của chúng trong đó có Việt Nam Cách mạng tháng Mười Nga đã trở thành ngọn cờ cách mạng và động lực mạnh

mẽ cho phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới Thực tiễn cách mạng sinh động của thế giới đã đặt ra nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam là phải tìm tòi và lựa chọn con đường cách mạng đúng đắn nhất

để giải phóng dân tộc, giành tự do và xây dựng đất nước phồn vinh Tất cả những yếu tố đó đã trở thành những sự kiện chính trị, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành học thuyết chính trị Hồ Chí Minh

Chính sách cộng sản thời chiến và Chính sách kinh tế mới

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, nước Nga lại bước vào cuộc nội chiến (1918-1919) giữa một bên là lực lượng cách mạng (chính quyền Xôviết non trẻ, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản) với bên kia là lực lượng phản cách mạng (giai cấp tư sản và giai cấp địa chủ phong kiến mới bị xóa bỏ về mặt giai cấp, bọn bạch vệ, các lực lượng thù địch cách mạng cùng với 14 nước đế quốc hỗ trợ từ bên ngoài) Trong hoàn cảnh này, để giải quyết cuộc nội chiến, bảo vệ chính quyền Xôviết và những thành quả cách mạng, V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Nga

đã đưa ra và thực hiện “Chính sách cộng sản thời chiến” (tước đoạt và quốc hữu

hóa tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, giai cấp địa chủ phong kiến và các lực lượng phản cách mạng; trưng thu và trưng mua lương thực, thực phẩm của nông dân; tăng cường sức mạnh quân đội và sử dụng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng, phá vòng vây của 14 nước đế quốc)

Sau khi kết thúc cuộc nội chiến, vào năm 1920, trong khi tổng kết việc thực hiện “Chính sách cộng sản thời chiến”, V.I.Lênin rút ra kết luận: 1) Thực hiện Chính sách cộng sản thời chiến đã đập tan lực lượng phản cách mạng, bảo vệ được chính quyền Xôviết và những thành quả của cách mạng Tuy nhiên, nó cũng làm cho giai cấp nông dân dần xa rời giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản, làm

“rạn nứt” liên minh công - nông 2) - Chúng ta phải thay đổi một cách căn bản

Trang 21

quan niệm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở kết luận này, V.I.Lênin

đã xây dựng “Chính sách kinh tế mới” với những tư tưởng chủ đạo: 1) Từ một nước nông nghiệp đi lên, chúng ta không thể thực hiện được bước quá độ trực tiếp, mà phải thực hiện bước quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội thông qua những chiếc “cầu nhỏ”, những “nấc thang quá độ” và những “khâu trung gian” cần thiết; 2) Đối với nước Nga, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần thực hiện đồng bộ các quyết sách: phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; thực hiện chính sách thuế lương thực (xóa bỏ trưng thu và trưng mua lương thực); phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là “phòng chờ” để đi vào chủ nghĩa xã hội, sử dụng chuyên gia tư sản; thu hút đầu tư nước ngoài; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát từ phía Nhà nước đối với nền kinh tế và toàn bộ xã hội Việc thực hiện “Chính sách kinh tế mới” từ mùa xuân 1921 đến

1924, nước Nga đã đạt được những thành tựu khả quan: Khắc phục được hậu quả chiến tranh, đưa nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, đạt mức tăng trưởng cao hơn mức trước chiến tranh, đời sống nhân dân được cải thiện “Chính sách kinh tế mới” đã tạo ra nguồn năng lượng và hệ thống động lực mới thúc đẩy nền kinh tế

và toàn bộ xã hội Nga phát triển Tuy nhiên, từ sau khi V.I.Lênin mất (1924),

“Chính sách kinh tế mới” giảm dần và đến năm 1927 không được thực hiện nữa

Do những nguyên nhân bên trong và bên ngoài, khách quan và chủ quan khác nhau, từ năm 1927, Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng, phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp; trong đó nổi bật sự kiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (1927-1937)

Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được thực hiện ở Liên Xô trong những năm 1927-1937 với đường lối nhất quán là tập trung mọi nguồn lực, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Chỉ sau 10 năm công nghiệp hóa, Liên Xô đã chuyển nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp hiện đại tương đương với nền công nghiệp Mỹ trong cùng thời kỳ Chính nhờ nền công nghiệp này mà Liên Xô

Trang 22

đã chuẩn bị được đầy đủ lực lượng (quân đội, vũ khí, phương tiện chiến tranh )

để giải quyết thắng lợi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, cứu loài người ra khỏi thảm họa chủ nghĩa phát xít Mặt khác, “câu chuyện thần kỳ công nghiệp hóa ở Liên Xô” đã lan truyền khắp thế giới, góp phần củng cố niềm tin vào chủ nghĩa

xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp Đồng thời, chúng cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc định hướng theo con đường xã hội chủ nghĩa Tất cả những điều nói trên đều có tác động và ảnh hưởng đến suy nghĩ của Hồ Chí Minh đang trên con đường chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và Chiến tranh thế giới lần thứ II

Trong lúc Liên Xô đang tăng tốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì trong lòng thế giới tư bản chủ nghĩa bùng nổ cuộc đại khủng hoảng kinh tế Đây là cuộc khủng hoảng “thừa”, mang tính toàn cầu Cuộc khủng hoảng kinh tế này làm cho hàng loạt nước tư bản đế quốc lâm vào tình trạng kiệt quệ (hàng hóa chất đầy kho không bán được, sản xuất đình trệ, nạn thất nghiệp, nạn nghèo đói, thất học, bệnh dịch xảy ra nghiêm trọng ở các nước tư bản) Lợi dụng biến động của cuộc khủng hoảng, ba quốc gia tư bản là Đức, Ý, Nhật phát triển “bứt phá” và trở thành những cường quốc Chúng liên kết với nhau trở thành “trục phát xít”, chuẩn bị cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Liên

Xô, tàn sát các nước đế quốc khác, xâm chiếm thuộc địa và làm bá chủ thế giới Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II diễn ra trong những năm 1939-1945 do Đức, Ý (ở phía Tây bán cầu) và Nhật (ở phía Đông bán cầu) thực hiện đã bị Liên

Xô và phe Đồng minh (do Liên Xô đứng đầu) chặn đứng và sau đó tiêu diệt vào năm 1945 Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II đã bộc lộ đầy đủ nhất bản chất độc ác và tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc mà đỉnh cao là chủ nghĩa phát xít; nó tiêu diệt khoảng 60 triệu người và làm thiệt hại hơn 20 ngàn tỷ USD của nhân loại Chính cuộc chiến tranh này đã tác động không nhỏ đến nghiên cứu của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa đế quốc, về cuộc cách mạng giải phóng dân tộc để cứu

Trang 23

nhân dân ra khỏi thảm họa thực dân phát xít ở Việt Nam

Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra đời

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, một loạt nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa tạo ra hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đứng đầu là Liên Xô đối lập với hệ thống tư bản chủ nghĩa Trong suốt nhiều thập niên tồn tại, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã trở thành thành trì của cách mạng, của hòa bình và lực lượng tiến bộ toàn nhân loại “Chủ nghĩa xã hội đã chiến thắng chủ nghĩa phát xít, làm cân bằng thế lực chiến tranh và bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, chôn vùi chủ nghĩa thực dân dã man; đồng thời tạo áp lực buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh và cải cách, từ đó mà có đóng góp lớn cho nền văn minh thế giới Rõ ràng là, không có chủ nghĩa xã hội thì không thể có thế giới phát triển như ngày nay”1

2 Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Từ năm 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược Việt Nam, biến nước ta từ quốc gia phong kiến độc lập thành xã hội thực dân nửa phong kiến Ngay sau khi xâm lược, thực dân Pháp đã áp đặt bộ máy cai trị thực dân để bóc lột kinh tế, áp bức về chính trị và nô dịch về văn hóa đối với dân tộc Việt Nam

Về kinh tế: Bên cạnh việc duy trì quan hệ kinh tế nông nghiệp, thực dân Pháp

đẩy mạnh chính sách khai thác thuộc địa bằng cách bóc lột sức lao động rẻ mạt

và vơ vét nguồn tài nguyên Vì vậy, chúng mở một số cơ sở công nghiệp ở Sài Gòn, Vinh, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh để đầu tư tư bản khai thác tài nguyên, chế biến nông sản để xuất khẩu Đồng thời, chúng mở các đồn điền cao

su ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, các đồn điền trồng lúa ở Tây Nam Bộ để vơ vét nông sản Mặt khác, chúng áp dụng các chính sách kinh tế khuyến khích tư bản Pháp và hạn chế tối đa sự phát triển tư bản của Việt Nam

Về chính trị: Thực dân Pháp áp đặt ách cai trị thực dân, xóa tên Việt Nam

1

Nguyễn Thế Nghĩa, Sức sống và niềm tin của một học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn, Kỷ yếu Hội

thảo khoa học “Sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay” TP Hồ Chí Minh, tháng 1-2014

Trang 24

trên bản đồ thế giới, chia Việt Nam thành 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) và sáp nhập vào Lào và Campuchia lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp Ở mỗi kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ), chúng đặt quan Thống đốc, khâm sứ hoặc thống sứ người Pháp cai trị; ở mỗi tỉnh, thành phố cũng do các quan người Pháp trực tiếp nắm quyền cùng với bộ máy quân đội, cảnh sát, nhà tù của Pháp; đồng thời, chúng biến triều đình nhà Nguyễn cùng hệ thống chính quyền phong kiến thành bộ máy công cụ tay sai trực tiếp phục vụ người Pháp Dưới ách cai trị như vậy của thực dân Pháp, người dân Việt Nam không chỉ mất độc lập, tự do mà còn không có quyền dân chủ tối thiểu

Về văn hóa: thực dân Pháp áp dụng triệt để chính sách nô dịch văn hóa, xây

dựng nhà tù, các tụ điểm cờ bạc, rượu chè, ma túy, mại dâm nhiều hơn trường học và bệnh viện Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn khuyến khích các hoạt động

mê tín dị đoan, các hoạt động tôn giáo để đầu độc nhân dân ta về mặt tinh thần Đặc biệt là, “rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại”1

Trên thực tế, thực dân Pháp cấm đoán tất cả các hoạt động yêu nước của nhân dân và tìm mọi cách bưng bít thông tin, ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn minh thế giới đến Việt Nam; đồng thời, chúng thực hiện chính sách ngu dân để cai trị “Trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên An Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ,

mà trái lại càng làm cho họ đần độn thêm Ngoài mục đích giáo dục để đào tạo tùy phái, thông ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết phục vụ cho bọn xâm lược

- người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người

đi học, chỉ dạy cho họ một lòng “trung thực” giả dối, chỉ dạy cho họ biết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một tổ quốc không phải tổ

1

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.28

Trang 25

quốc của mình và đang áp bức mình Nền giáo dục ấy dạy cho thanh niên khinh

rẻ nguồn gốc dòng giống mình Nó làm cho thanh niên trở nên ngu ngốc”1

Về xã hội: Dưới ách cai trị của thực dân Pháp, người dân An Nam vô cùng

khổ cực Bởi vì, “chính sách thực dân ăn cướp, chẳng những đã tước đoạt mất ruộng đất của cải, đã xóa bỏ hết mọi quyền lợi, mọi quyền tự do - kể cả quyền tự

do thân thể của người dân bản xứ, mà còn bắt họ phải nộp thuế về những mảnh đất cằn cỗi còn lại trong tay họ, nộp thuế về nghề nghiệp sinh sông của họ, nộp cả thuế không khí mà họ thở nữa”2

Trong bối cảnh nói trên, xã hội Việt Nam có những biến đổi và phân hóa sâu

sắc Cụ thể là, giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm, song do

chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp nên đã phân hóa thành ba loại: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ Vốn sinh ra và trưởng thành trong lòng dân tộc có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, lại bị thực dân Pháp thống trị tàn bạo, chèn ép và bóc lột về kinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu địa chủ

và trung địa chủ tham gia vào các phong trào chống Pháp; còn một số đại địa chủ làm tay sai cho thực dân Pháp

Giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số, bị thực dân Pháp, tư sản, địa chủ

áp bức, bóc lột nặng nề và đi tới sự bần cùng hóa Một bộ phận nông dân phải bán sức lao động đi làm thuê trong các nhà máy, đồn điền, hầm mỏ hoặc bị thực dân Pháp bắt đi làm phu ở các thuộc địa khác của Pháp Còn đa số nông dân vẫn phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cùng với “sưu cao, thuế nặng” để kiếm sống

Do bị mất nước và mất hết tư liệu sản xuất, giai cấp nông dân có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến, nhất là mâu thuẫn trực tiếp với bọn thực dân Pháp ở Việt Nam và bọn phản động tay sai làm việc cho thực dân Pháp Vì vậy, họ có nhu cầu bức thiết về độc lập tự do và về ruộng đất

1 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.399

2

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 408

Trang 26

Trong lịch sử, giai cấp nông dân Việt Nam có truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường chống giặc ngoại xâm Và hiện nay, họ là lực lượng to lớn, nếu được

tổ chức lại dưới sự lãnh đạo của đội tiên phong cách mạng, họ sẽ trở thành động lực của cách mạng

Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác

thuộc địa của thực dân Pháp, tuy còn non trẻ nhưng ngày càng phát triển (đến năm 1929) đã có hơn 22 vạn người, trong đó có hơn 53.000 công nhân mỏ và hơn 81.200 công nhân đồn điền) và sống tập trung ở các đô thị, trung tâm công nghiệp

và đồn điền Giai cấp công nhân Việt Nam có đặc điểm chung với giai cấp công nhân thế giới, song còn có những đặc điểm riêng như: a) Xuất thân từ nông dân nên có quan hệ thân thiết với nông dân; b) Có cuộc sống cực khổ lại bị ba tầng áp bức bóc lột (thực dân đế quốc, phong kiến và tư bản); c) Giai cấp công nhân ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nội bộ thuần nhất, không bị phân tán về lực lượng; d) Sinh ra và trưởng thành trong lòng dân tộc có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, đoàn kết, thương người, nhân ái khoan dung, sớm tiếp nhận nền văn hóa dân tộc mà trong đó kết hợp giá trị truyền thống với giá trị hiện đại

Có thể nói giai cấp công nhân Việt Nam có ý thức tự lập tự cường, tinh thần yeu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật chặt chẽ và tác phong công nghiệp Nếu được giáo dục, rèn luyện sẽ trở thành giai cấp tiên phong trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa

Giai cấp tư sản Việt Nam được hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa

của thực dân Pháp Dưới sức ép cạnh tranh quyết liệt của tư bản Pháp, giai cấp tư sản Việt Nam trở thành lực lượng nhỏ bé về kinh tế và yếu thế về chính trị Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam được phân hóa thành hai bộ phận:

Tư sản mại bản bao gồm những nhà tư sản lớn, hình thành, phát triển gắn chặt với thực dân Pháp Nhiều nhà tư sản mại bản có vốn tư bản lớn, có những đồn điền lớn và bao thầu những công trình lớn cả trong lĩnh vực kinh tế và lĩnh

Trang 27

vực quốc phòng Vì lợi ích kinh tế và chính trị gắn chặt với thực dân đế quốc nên

tư sản mại bản đối lập với lợi ích dân tộc và trở thành đôi tượng của cách mạng

Tư sản dân tộc chiếm phần lớn trong giai cấp tư sản, đa số là các nhà tư sản nhỏ và vừa, hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, luôn bị thực dân phong kiến chèn ép nên phát triển rất khó khăn Đa số các nhà tư sản dân tộc có lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, sẵn sàng tham gia vào cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến

Tầng lớp tiểu tư sản bao gồm tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức,

nhà báo, nhà văn, họa sĩ, trí thức, học sinh sinh viên và những người làm nghề tự

do Họ bị thực dân đế quốc và địa chủ phong kiến áp bức bóc lột, chèn ép, khinh

rẻ Tuy nhiên, đa số họ có lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Đặc biệt là tầng lớp trí thức, có học vấn cao, hiểu biết rộng, luôn nhạy cảm với thời cuộc và thích ứng với tư tưởng tiến bộ, cách mạng Tầng lớp tiểu tư sản nếu được giáo dục, giác ngộ cách mạng và được tổ chức lại thì họ sẽ trở thành một lực lượng đông đảo tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh chống thực dân đế quốc và phong kiến

Như vậy, dưới ách thống trị, áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và bè lũ tay

sai, xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam đã bộc lộ những mâu thuẫn sâu sắc

và phát triển ngày càng gay gắt: a) Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và bè lũ tay sai; b) Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản; c) Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến; d) Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với bọn thực dân và phong kiến áp bức bóc lột Tất cả các mâu thuẫn nói trên đã hun đúc nên phong trào yêu nước, đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và bè lũ tay sai

3 Phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp xâm lược

Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, đặt ách thống trị lên xã hội Việt Nam, một “bài toán khó” về lịch sử đã đặt ra trước con người và dân tộc Việt Nam là:

Trang 28

bằng con đường và phương pháp nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc? Ngọn cờ tư tưởng nào định hướng và lực lượng nào đủ sức lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc? Đây là “bài toán khó” chưa có tiền lệ trong lịch sử Bởi lẽ, trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã thực hiện thành công nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc; song những kẻ thù trước đây đều là những đội quân của chủ nghĩa phong kiến Còn kẻ thù giờ đây là chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây - con đẻ của chủ nghĩa tư bản hiện đại Như vậy, thực tiễn xã hội mới ở Việt Nam đã đặt ra những vấn đề mới, cấp bách đòi hỏi phải có lời giải đáp về mặt lý luận khoa học

Trên thực tế, ngay sau khi thực dân Pháp đặt chân xâm lược lên mảnh đất Việt Nam, nhân dân ta với truyền thống yêu nước, kiên cường chống ngoại xâm vốn có từ hàng ngàn năm đã nhất tề đứng dậy, liên tục đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai Nổi bật trong các phong trào chống thực dân Pháp là phong trào “Cần Vương” (1858-1896), phong trào Duy Tân

Phong trào Cần Vương được thực hiện dưới chiếu cần Vương của vua Hàm Nghi đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh chống thực dân Pháp, giành độc lập để khôi phục lại nước Việt Nam cũ1 Dưới chiếu Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của nhân dân do các sĩ phu lãnh đạo liên tục nổ ra Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Khởi nghĩa Trương Định (1859 – 1864) đã làm tổn hại lớn cho quân Pháp, mặc dù vua quan nhà Nguyễn đầu hàng giặc (1862), ra lệnh giải binh, nhưng Trương Định vẫn kiên quyết lãnh đạo binh lính và nhân dân chống Pháp, được nhân dân suy tôn là “Bình Tây đại nguyên soái” Năm 1861, Nguyễn Trung Trực lãnh đạo nghĩa quân nổi dậy ở Tân An, đốt cháy tàu Hy Vọng (Espérance) của giặc Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, sau đó xây dựng căn cứ địa kiên trì đánh thực dân Pháp khắp vùng Rạch Giá, Hà Tiên và đảo Phú Quốc Năm 1886, Đinh Công Tráng cùng một số văn thân, thổ hào yêu nước (Phạm Bành, Nguyễn Khế,

1

Viện Luật học (1983), Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam (từ CMT8 đến nay), Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, tr.12

Trang 29

Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước ) chiêu mộ nghĩa quân, lập căn cứ địa ở Ba Đình (Nga Sơn, Thanh Hóa) tổ chức các cuộc tập kích, đánh quân Pháp gây cho chúng nhiều thiệt hại Năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật dựng cờ khởi nghĩa, lập căn cứ kháng Pháp tại Bãi Sậy kiên trì tổ chức các cuộc tấn công Pháp Năm 1885, Phan Đình Phùng chiêu mộ nghĩa quân xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh), tổ chức đánh giặc trên mười năm trời Hoàng Hoa Thám, lãnh tụ của nghĩa quân Yên Thế, bền bỉ tổ chức các cuộc chiến đấu chống Pháp suốt 25 năm, gây cho kẻ địch nhiều tổn thất nặng nề

Như vậy, ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta (1858) đến cuối thế kỷ XIX, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã nhất tề đứng dậy, liên tục tổ chức các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp, song đều thất bại

“Rõ ràng là đối với kẻ thù mới tư bản chủ nghĩa phương Tây, không thể dùng vũ khí cũ đã được ông cha dùng một cách đắc lực để đối đầu với kẻ thù phong kiến xưa kia nữa”1 Thực tiễn đấu tranh kháng Pháp đã đặt ra yêu cầu mới: cần phải có ngọn cờ tư tưởng mới và đường lối chính trị mới để đánh thực dân Pháp, giải phóng dân tộc

Vào đầu thế kỷ XX, tình hình trong nước, nhất là tình hình thế giới có những chuyển biến quan trọng Chủ nghĩa đế quốc đang chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất; cuộc Cách mạng Nga (1905) diễn ra; công cuộc duy tân của đất nước Nhật Bản thắng lợi; chủ trương canh tân Trung Quốc của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi như một luồng gió mới thổi vào Việt Nam, “thức tỉnh” nhân sĩ yêu nước

Trong bối cảnh đó, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã kịp thời “thức tỉnh” và nhận rõ rằng, tư tưởng tư sản với một nền chính trị mới chắc hẳn là tiến

bộ hơn tư tưởng phong kiến với nền chính trị quân chủ phong kiến; rằng, nền chính trị giữ vai trò to lớn, có ý nghĩa quyết định đối với đời sống nhân dân; và

1

Trần Văn Giàu (2008), Tổng tập, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr.371-372

Trang 30

rằng “Họa phúc của nhân dân gốc ở nền chính trị”1 Với nhận thức đó, cả hai cụ Phan đều quyết chí tìm đường cứu nước, cứu dân

Phan Bội Châu đưa ra chủ trương đánh Pháp, giành độc lập dân tộc và xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế ở Việt Nam (theo kiểu quân chủ lập hiến Nhật Bản hoặc một chính quyền cộng hòa dân chủ theo kiểu Âu Tây2) Để thực hiện chủ trương trên, Phan Bội Châu đã đi theo con đường dựa vào Nhật Bản, sau

đó là dựa vào chính quyền Trung Hoa dân quốc với phương châm: “cầu cứu nghĩa đồng văn đồng chủng; chạy đông chạy tây, dĩ ngoại đột nội”3 để giải phóng đồng bào

Phan Châu Trinh là người chống đối triều đình quyết liệt và đấu tranh cho một nền cộng hòa ở Việt Nam4 với phương châm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”5 và dựa hẳn vào chính quyền thực dân Pháp

Cuối cùng chủ trương cứu nước và con đường cứu nước của cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều thất bại Bởi vì, “Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương…, chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương Còn cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”6

Cả hai cụ đều chưa nhận thức được rằng muốn cứu nước, phải dựa chủ yếu và trước hết vào lực lượng cách mạng ở trong nước, là “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta Dù sự giúp đỡ bên ngoài là quan trọng nhưng muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp mình đã”7

Trên thực tế, do ảnh hưởng của tư tưởng tư sản nên cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đều chưa thấy rõ vai trò to lớn và năng lực cách mạng tuyệt vời

1

Nguyễn Văn Dương (1995), Tuyển tập Phan Châu Trinh, Nxb Đà Nẵng, tr.428

2

Vũ Thị Phụng (1993), Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Khoa luật - Đại học Tổng hợp Hà Nội, tr.198

3 Đặng Xuân Kỳ (1977), Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.40

4

E Côbêlép (1985), Đồng Chí Hồ Chí Minh, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.31

5 Đặng Xuân Kỳ (1977), Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.40

6 Trần Dân Tiên (1989), Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, (in lần thứ 9, Nxb Văn học, Hà

Nội, tr.10

7

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.293

Trang 31

của quần chúng lao động, nhất là của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân trong cuộc giải phóng đất nước Rõ ràng là, đến đầu thế kỷ XX, hệ tư tưởng tư sản đã trở nên lỗi thời và đường lối cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản hoàn toàn không phù hợp với đặc điểm của thời đại mới và thực tiễn cách mạng Việt Nam, nên đã không trở thành hiện thực

Sau thất bại của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, con đường cứu nước theo ngọn cờ tư sản ở Việt Nam còn được lịch sử khảo nghiệm thông qua vai trò của Việt Nam quốc dân đảng (chính đảng của giai cấp tư sản Việt Nam) Ra đời vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, Việt Nam quốc dân đảng chủ trương đánh Pháp và sau đó “trăm họ hãy đoàn kết để xây dựng một nhà nước cộng hòa” (nhà nước cộng hòa tư sản)

Tuy nhiên, do dựa trên hệ tư tưởng tư sản đã lỗi thời và thiếu một đường lối chính trị nhất quán, rõ ràng và do không đại diện cho lợi ích của quần chúng lao động và lợi ích của toàn dân tộc, các phong trào cách mạng tư sản ở Việt Nam không tránh khỏi thất bại

Như vậy, từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) đến hai thập niên đầu thế kỷ

XX, ở Việt Nam đã diễn ra phong trào yêu nước sôi nổi, các cuộc khởi nghĩa chống Pháp và các cuộc vận động cách mạng liên tục nổ ra nhưng cuối cùng đều thất bại Điều đó chứng tỏ sự thật là: a) Hệ tư tưởng phong kiến và con đường cứu nước của chủ nghĩa phong kiến đã hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của chủ nghĩa tư bản phương Tây; b) Hệ tư tưởng tư sản và con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã lỗi thời, không phù hợp với đặc điểm mới của thời đại và yêu cầu mới của thực tiễn cách mạng Việt Nam; c) Ở Việt Nam đã xảy

ra cuộc khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân Vì vậy, vào năm 1911, người con ưu tú của dân tộc Nguyễn Tất Thành phải ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Người đã từng tâm sự với nhà văn Mỹ Lui Xtơrông: “Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai

sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Anh,

Trang 32

có người lại cho là Mỹ Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”1

II NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

Trong khi phản ánh tiến trình cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam trong những thập niên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, học thuyết chính trị Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa triết học, văn hóa, chính trị nhân loại Nói cách khác, học thuyết chính trị Hồ Chí Minh xuất phát từ nguồn gốc thực tiễn cách mạng và nguồn gốc lý luận khoa học của Việt Nam và thế giới Trong đó, trước hết nổi bật lên giá trị truyền thống và tinh hoa chính trị, văn hóa của dân tộc Việt Nam

1 Tinh hoa chính trị - văn hóa của dân tộc Việt Nam

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo dựng được cả một hệ thống giá trị, trong đó có những giá trị tiêu biểu: chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lập, tự cường; tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và sống nhân ái khoan dung; đức tính cần cù, thông minh và sáng tạo; tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống 2

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

V.I.Lênin cho rằng, yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất, được củng cố bởi sự tồn tại hàng trăm, hàng ngàn năm của những tổ quốc riêng rẽ Có thể nói rằng, yêu nước trước hết bắt nguồn từ tình cảm yêu quê hương, yêu con người và cộng đồng sinh sống trên quê hương Tình cảm đó trải qua cuộc sống lao động, chiến đấu phát triển dần trở thành ý thức yêu nước (ý thức về đất nước,

về cộng đồng quốc gia dân tộc, về trách nhiệm của công dân đối với đất nước)

Từ ý thức yêu nước phát triển thành triết lý yêu nước Và, từ triết lý yêu nước

1 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Hồ Chí Minh - Biên biên tiểu sử, tập 1, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, tr.41

2

Xem: Nguyễn Thị Hương Giang, Toàn cầu hóa và vấn đề giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống Việt Nam, Luận

án tiến sĩ triết học, TP Hồ Chi Minh, 2004, tr.139-163

Trang 33

được mở rộng ra, khái quát hóa thành chủ nghĩa yêu nước Vì vậy, chủ nghĩa yêu nước là hệ thống quan điểm và học thuyết về đất nước, về cộng đồng quốc gia dân tộc, về lòng tự hào và nghĩa vụ công dân đối với Tổ quốc Trần Văn Giàu

nhận xét: “Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam

từ cổ đại đến hiện đại Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam”1

Trong lịch sử, chủ nghĩa yêu nước đã thấm sâu vào tâm hồn của mỗi thế hệ, mỗi người Việt Nam, làm cho mọi người thấu hiểu được cảnh “nước mất, nhà tan” Vì vậy, “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Và, để chiến thắng kẻ thù đông hơn, mạnh hơn mình gấp bội phần, thì không chỉ dừng lại ở tri thức “biết địch biết ta”, mà còn phải nâng tri thức lên nghệ thuật “lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh” và “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” Hồ Chí Minh đã khái quát: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần

ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”2 Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được Hồ Chí Minh phát triển thành khoa học và nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, bảo vệ đất nước Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã dẫn đến đất nước Việt Nam thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội, đã chứng minh cho giá trị cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với những nguyên lý bất hủ: “Không co gì quý hơn độc lập tự do”, “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”

1 Xem: Nguyễn Đăng Thục (1998), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, tr.98

2 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.171

Trang 34

Ý chí tự lực, tự cường dân tộc

Từ rất sớm, con người và cả dân tộc Việt Nam đã hình thành ý chí tự lập, tự cường và tự hào dân tộc với quốc hiệu “Đại Việt”, “Đại Cồ Việt”, “Đại Ngu” Ý chí đó được thể hiện không cỉ ở việc khẳng định nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước mà còn thể hiện bằng những hành động dũng cảm đánh giặc giữ nước, không khuất phục tước bất kỳ kẻ thù nào dù chúng có to lớn và tàn bạo đến đâu

Trong 1117 năm Bắc thuộc, mặc dù bị đô hộ, bị áp bức bóc lột, nhưng chúng

ta quyết không để mất nước, mất dân, không bị đồng hóa; và cuối cùng chúng ta

đã chiến thắng kẻ thù Trong thời kỳ phong kiến độc lập, ý chí tự lực tự cường dân tộc được phát triển lên một trình độ mới, thể hiện ở việc khẳng định nước Việt Nam là quốc gia độc lập có quốc hiệu riêng, có vị thế vua ngang hàng với phương Bắc:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”1

Trong thời kỳ hiện đại, ý chí tự lập tự cường được Hồ Chí Minh phát triển nâng lên một tầm cao mới phù hợp với xu thế thời đại và được thể hiện một cách hùng hồn trong “Tuyên ngôn độc lập”: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh

ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và

1

Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Tài liệu giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

2000, tr.77

Trang 35

của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”1

Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước với ý chí tự lập tự cường “quyết đem sức ta để giải phóng cho ta”, với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” và “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Biểu tượng sáng ngời đó đã và đang soi rọi cho

sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của Việt Nam

Tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và lòng nhân ái khoan dung

Đoàn kết là một trong những giá trị truyền thống nổi bật của dân tộc Việt

Nam Trong lịch sử, nhờ có đoàn kết mà ông cha ta đã tập hợp được lực lượng, phát huy được mọi sức mạnh của nhân dân để khai hoang, mở mang bờ cõi, khắc phục được “thiên tai, địch họa”, tạo dựng được giang sơn gấm vóc Việt Nam Đoàn kết bắt đầu từ nguồn cội “con Hồng cháu Lạc”, sinh ra từ “bọc trăm trứng” của mẹ Âu Cơ, đi đến “đồng bào”, tỏa ra cộng đồng “Nhà - Làng - Nước” với ý thức tự giác về quốc gia dân tộc thống nhất Đó là điểm tựa tinh thần vững chắc của dân tộc trong suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”2 và “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”3

Tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức và giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam Nó bắt nguồn từ thời kỳ cổ đại, trong chính cuộc sống lao động, chiến đấu của con người Việt Nam, được nuôi dưỡng, bồi đắp qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm với phương châm “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách” đi đến triết lý “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Đó không phải là kiểu “thương hại”, càng không phải là

1

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.4

2

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.276

3 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.350

Trang 36

kiểu thương tiêu cực, thụ động, trông chờ vào “ảo ảnh” cứu giúp của đấng siêu nhiên, mà chính là hành động vì nghĩa cứu người, cứu dân, cứu nước Vì vậy, thương người gắn với tinh thần vì nghĩa “Nghĩa là điều phải, đối chọi với điều trái Vì nghĩa là làm điều phải một cách có ý thức, chống điều trái Nghĩa cũng là tình cảm chính đáng gắn bó người với người trong sinh hoạt gia đình, xã hội, dân tộc, cho đến quốc tế Theo nội dung ấy, nghĩa là một sức mạnh tinh thần có thể khuyến khích, thúc giục, chỉ thị cho người ta hành động trên hướng tốt đẹp, cho

dù làm việc nghĩa, mình chẳng được lợi riêng gì, mà lắm khi bị thiệt hại nữa là khác”1

Lòng nhân ái, khoan dung là lối sống tích cực, tốt đẹp của con người và dân tộc Việt Nam Nó bắt nguồn từ cuộc sống vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu chống giặc ngoại xâm nên phải chắt chiu, nuôi dưỡng con người và duy trì nòi giống Việt Nam Trong lịch sử, lòng nhân ái, khoan dung của dân tộc Việt Nam được thể hiện với sự cảm thông không chỉ đối với những người “lầm đường lạc lối” (“Đánh kẻ chạy đi, không ai nỡ đánh người trở lại”), mà còn bao dung đối với những kẻ xâm lược (“Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”) Trên thực tế, mỗi khi kết thúc chiến tranh, chúng ta không những không giết tù binh mà còn cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men và các phương tiện để họ về nước đoàn tụ với gia đình Và sau đó, chúng ta thực hiện hòa giải

“khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” để hợp tác cùng phát triển vì một thế giới hòa bình Lòng nhân ái, khoan dung của con người và dân tộc Việt Nam còn thể hiện sinh động trong cuộc sống lao động, sinh hoạt ở mỗi gia đình, dòng họ và cả cộng đồng với phương châm hòa thuận, sẻ chia “lá lành đùm lá rách”, “tối lửa tắt đèn có nhau” trong “tình làng nghĩa xóm”, “sống có lý có tình” và “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, v.v

Như vậy, tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và lòng nhân ái,

1

Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,

tr.297

Trang 37

khoan dung là giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, được

kế thừa, phát triển và tỏa sáng rực rỡ trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh Khi đất nước nằm dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, “đuổi thực dân, giải phóng đồng bào” Sau khi tìm được con đường cứu nước, người đã lãnh đạo và tổ chức thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Và trong “kế hoạch kiến quốc” đầu tiên, Người đã chỉ đạo Chính phủ thực hiện ngay bốn nhiệm vụ: làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành1

Lúc sinh thời, Hồ Chí Minh đã giành tất cả tình yêu thương và lòng nhân ái khoan dung cho đồng bào, già trẻ, gái trai, miền Nam, miền Bắc, miền xuôi, miền ngược Khi ra đi, người để lại “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng ”2 Trong “muôn vàn tình thân yêu” ấy có đủ chỗ cho mọi người, không quên, không sót một ai cả Và hơn thế nữa, “những tình cảm vĩ đại của Hồ Chủ tịch không phải chỉ hạn chế trong phạm vi một nước, một dân tộc, mà còn mở rộng ra với giai cấp công nhân các nước, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới”3

Đức tính cần cù, trí tuệ thông minh và tư duy sáng tạo

Cần cù, thông minh và sáng tạo là đức tính vốn có ở nhiều dân tộc trên thế giới, song ở Việt Nam, nó thể hiện một cách sinh động, độc đáo và rất Việt Nam Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, con người Việt Nam

đã phải hoạt động trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt “nắng như thiếu như đốt” xen lẫn với cái “rét cắt da cắt thịt” để khai hoang mở cõi, vừa sản xuất với “hai sương một nắng” vừa phải chiến đấu chống những đội quân xâm lược to lớn và tàn bạo ở cả phương Đông và phương Tây Nhà báo nổi tiếng Pháp R.Grilan đã

Trang 38

nhận xét về đức tính cần cù, thông minh và sáng tạo của người Việt Nam thể hiện trong chiến tranh như sau: “nhân tố của cuộc chiến tranh này là cái nhân tố mà không có một bộ máy điện tử nào của Mỹ có thể tính nổi, nhưng đó lại là nhân tố quyết định: khả năng chịu đựng gian khổ phi thường của người Việt Nam Khả năng này là phẩm chất vốn có của người Việt Nam nhờ ý chí tự cường và lòng yêu nước cực kỳ mãnh liệt”1

Có thể nói nhờ đức tính cần cù, trí tuệ thông minh và sáng tạo mà tổ tiên người Việt đã tạo dựng được cái nôi dân tộc, nơi sinh tụ và khởi sắc giống nòi, sau đó các thế hệ bồi đắp và phát triển tạo ra giang sơn hùng vĩ từ lưu vực sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đến nước ta đều có chung nhận xét rằng, mọi cơ năng của người Việt Nam đều được dùng để làm việc: đầu nghĩ, vai gánh, lưng cõng, tay cầm, chân chạy như bay Giáo sư Phan Ngọc đã đúng khi kết luận rằng: “công sức lao động dựng nên đất nước này của người dân Việt đã ở mức độ tột đỉnh, hiếm có dân tộc nào trên thế giới có thể sánh được”2

Khoa học và thực tiễn dựng nước, giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc đã chỉ ra rằng, chính cuộc sống lao động sản xuất, chống chọi với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm đã thúc đẩy và tạo điều kiện để con người Việt Nam phát triển trí thông minh, sáng tạo Không thông minh, không sáng tạo thì mất nước và

có thể mất cả nòi giống dân tộc Trong lịch sử, các chiến công oanh liệt của dân tộc (trận chiến trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền với hàng loạt cộc gỗ đầu bịt sắt nhọn đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán năm 938; ba lần quân và dân nhà Trần đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII dựa trên chiến lược

“khoan thư sức dân”, “vua tôi đồng lòng”; Cuộc hành quân thần tốc của quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đã đánh tan 20 vạn quân xâm lược nhà Thanh năm 1789; Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đánh đổ chế độ thực dân Pháp, lập ra nước Việt Nam

1 Xem: Phạm Bình Minh (2010), Cục diện thế giới đến năm 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.388

2 Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.36

Trang 39

mới; Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “chấn động địa cầu” và đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ) đã

là những minh chứng sinh động, đầy sức thuyết phục cho trí tuệ thông minh, sáng tạo của dân tộc Việt Nam

Không dừng lại ở đó, trí tuệ thông minh và sáng tạo của con người Việt Nam còn tỏa sáng trong phát triển văn học, nghệ thuật - đó là lĩnh vực luôn đòi hỏi trí thông minh, sức sáng tạo phong phú và “thăng hoa” nhất “Truyện cổ dân gian và truyền thuyết là những hình ảnh của lịch sử trong quá trình được sáng tạo bởi óc tưởng tượng và trí nhớ của nhân dân theo một phong cách nửa huyền thoại, nửa lịch sử, những tác phẩm kể chuyện dân gian này phản ánh cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc sống gia đình và xã hội cũng như quan hệ tình yêu ”1 Kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam đã thể hiện “tuyệt vời sự thông minh, dí dỏm và trí sáng tạo của nhân dân ta trong đời sống và quan hệ Ví dụ, “nước, phân, cần, giống” là một thành ngữ quen thuộc liên quan đến lĩnh vực lao động nông nghiệp, sử dụng có bốn chữ mà không có từ nào thừa, từ nào thiếu ”2 Trên thực tế, tục ngữ, ca dao, dân ca hòa quyện với văn học, âm nhạc và nghệ thuật do nhân dân sáng tạo ra phản ánh đời sống thực tiễn của dân tộc đã thể hiện tính nhân văn sâu sắc; trong đó bộc lộ cả chiều sâu tình cảm, tầm cao tư tưởng và cả triết lý về con người và vũ trụ, Tổ quốc và xã hội, dân tộc và nhân loại cùng với sự tự “phản tư” về chính bản thân mình

Tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống

Lạc quan, yêu cuộc sống là giá trị tinh thần tiêu biểu của con người và dân tộc Việt Nam Nó thể hiện trình độ nhận thức quy luật, niềm tin vào sức mạnh của dân tộc và thái độ coi đời là đáng quý và đáng sống, mặc dù trên đường đời

có thể còn gian khổ, phiền muộn, thậm chí phải đụng độ với nhiều điều hèn nhát,

1 Lê Quang Trung, Nguyễn Trọng Hoàn (1998), Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

tr.349-350

2

Lê Quang Trung, Nguyễn Trọng Hoàn (1998), Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội,

tr.350

Trang 40

ti tiện và phản trắc

Tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống của con người Việt Nam thể hiện nổi bật

và xuyên suốt lịch sử dựng nước, giữ nước hàng ngàn năm, suốt 1117 năm Bắc thuộc, nhân dân ta vẫn tổ chức hàng trăm cuộc khời nghĩa đánh giặc, với phương châm “thua keo này, bày keo khác” “thất bại là mẹ thành công” và cuối cùng đã đánh tan quân xâm lược, giành độc lập dân tộc Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, tinh thần lạc quan của vua tôi, quân dân nhà Trần phát triển lên cao độ và sẵn sàng “sát thát” Có được điều đó là do nhà Trần nắm được chỗ mạnh, chỗ yếu của kẻ địch, và càng biết rõ chỗ mạnh, chỗ yếu của ta nên đã huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, nâng cao sĩ khí, quyết chiến và quyết thắng của kẻ thù Đó là tinh thần lạc quan dựa trên quy luật của cuộc chiến tranh chính nghĩa, được xây dựng trên cơ sở “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” giết giặc lập công

Đến thế kỷ XX, đứng trước những kẻ thù to lớn và tàn bạo, dân tộc ta đã dựa vào “quy luật chiến tranh” và “quy luật lòng dân”, phát triển tinh thần lạc quan truyền thống lên tinh thần lạc quan cách mạng nên đã “dám đánh, biết đánh và biết thắng” những đội quân xâm lược chuyên nghiệp và tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại (thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ)

Như vậy, chủ nghĩa yêu nước; ý thức tự lập, tự cường; tinh thần đoàn kết,

tình yêu thương con người, lòng nhân ái khoan dung; đức tính cần cù, trí tuệ thông minh, sáng tạo và tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống là giá trị truyền thống nổi bật của dân tộc, được Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa, phát triển trong suốt hành trình tìm đường cứu nước, suốt hành trình cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân để bảo vệ đất nước Giá trị truyền thống cao đẹp đó được nở hoa, kết trái và “thăng hoa” trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có học thuyết chính trị của Người “Nếu có ai hỏi văn bản nào giải thích kỹ càng nhất học thuyết Hồ Chí Minh, chúng ta trả lời: khi một gia đình nào đó ở Việt Nam dỡ nhà và lấy đồ đạc của mình để giúp vào việc xây hầm hoặc

Ngày đăng: 23/01/2021, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lưu Văn An (2011), Giáo trình Chính trị học so sánh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính trị học so sánh
Tác giả: Lưu Văn An
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
2. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2000
3. Phạm Ngọc Anh (2012), Phát huy các nguồn lực của dân, làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy các nguồn lực của dân, làm lợi cho dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
4. Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2) – Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Tệ quan liêu, lãng phí và một số giải pháp phòng chống, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tệ quan liêu, lãng phí và một số giải pháp phòng chống
Tác giả: Ban Chỉ đạo Trung ương 6, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
5. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1960
6. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh (1985), Những mẫu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mẫu chuyện về thời niên thiếu của Bác Hồ
Tác giả: Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1985
7. Lương Gia Ban (2000), Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Lương Gia Ban
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
11. Hoàng Chí Bảo (2011), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Nguyễn Quốc Bảo (1999), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, Nxb. Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 1999
13. Nguyễn Khánh Bật (1999), Những bài giảng về môn học tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về môn học tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
14. Nguyễn Khánh Bật (2010), Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Năm: 2010
15. Nguyễn Đức Bình - Lê Hữu Nghĩa - Trần Hữu Tiến (2003), Góp phần nhận thức thế giới đương đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nhận thức thế giới đương đại
Tác giả: Nguyễn Đức Bình - Lê Hữu Nghĩa - Trần Hữu Tiến
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16. Phạm Văn Bính (2008), Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Văn Bính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
17. Brezinski (1993), Ngoài vòng kiểm soát - Sự rối loạn toàn cầu bên thềm thế kỷ XXI, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoài vòng kiểm soát - Sự rối loạn toàn cầu bên thềm thế kỷ XXI
Tác giả: Brezinski
Nhà XB: Tổng cục II, Bộ Quốc phòng
Năm: 1993
18. Phan Bội Châu (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 2000
19. Chủ tịch Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp (1975), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp
Tác giả: Chủ tịch Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1975
20. Phạm Hồng Chương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
21. Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2004
22. E. Côbêlép (1985), Đồng Chí Hồ Chí Minh, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Chí Hồ Chí Minh
Tác giả: E. Côbêlép
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ
Năm: 1985
23. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1976

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w