1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

85 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tập trung chủ yếu phân tích các loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo Bộ luật hình sự 1999 - Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

-

ĐẶNG THỊ KHÁNH NGỌC

CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

-

ĐẶNG THỊ KHÁNH NGỌC

CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 8380103

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều có nguồn dẫn rõ ràng Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2019

TÁC GIẢ

ĐẶNG THỊ KHÁNH NGỌC

Trang 4

LSHTT sửa đổi 2009 là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ

số 36/2009/QH12 được Quốc hội ban hành ngày ngày 19 tháng 6 năm 2009

TRIPS là Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của Quyền

sở hữu trí tuệ ký ngày 15 tháng 4 năm 1994

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 6

1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 6

1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ 6

1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 7

1.2 Hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 8

1.2.1 Đặc điểm hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 8

1.2.2 Các loại hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 10

1.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 13

CHƯƠNG.2 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 16

2.1 Chủ thể có quyền khởi kiện 16

2.1.1 Đối với quyền tác giả, quyền liên quan 17

2.1.2 Đối với quyền sở hữu công nghiệp 18

Trang 6

2.2 Cơ quan giải quyết tranh chấp 19

2.2.1 Toà án 19

2.2.2 Trọng tài thương mại quốc tế 22

2.3 Các biện pháp dân sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 23

2.3.1 Buộc chấm dứt hành vi vi phạm 23

2.3.2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai 27

2.3.3 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự 29

2.3.4 Buộc bồi thường thiệt hại 31

2.3.5 Buộc tiêu hủy hoặc hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại 35

CHƯƠNG.3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH VÀ BIỆN PHÁP HÌNH SỰ 39

3.1 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính 39

3.1.1 Khái niệm biện pháp hành chính trong xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 39

3.1.2 Đặc điểm biện pháp hành chính xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 40

3.1.3 Các hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính 42

3.1.4 Xác định giá trị hàng hóa vi phạm 44

3.1.5 Các biện pháp hành chính cụ thể được áp dụng 45

3.1.5.1 Các biện pháp xử phạt chính 45

3.1.5.2 Hình phạt xử phạt bổ sung 46 3.1.5.3 Một số biện pháp nhằm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu qua biên

Trang 7

3.1.6 Cơ quan xử lý bằng biện pháp hành chính trong sở hữu trí tuệ 50

3.2 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự 53

3.2.1 Khái niệm biện pháp hình sự trong xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 53

3.2.2 Các xác định giá trị hàng hóa vi phạm 54

3.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự 54

3.2.3.1 Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan 56

3.2.3.2 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả 58

3.2.3.3 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm 61

3.2.3.4 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh 63

3.2.3.5 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi 65

3.2.3.6 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 67

3.2.3.7 Tội vi phạm các quy định về hoạt động xuất bản 71

CHƯƠNG.4 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam tham gia WIPO ngày 02 tháng 6 năm 1976 khi phê chuẩn Công ước thành lập WIPO Năm 2005, Việt Nam cho ra đời Luật sở hữu trí tuệ đầu tiên nhằm quy định cụ thể và chặt chẽ các quan hệ về tài sản sở hữu trí tuệ giữa các chủ thể tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài

Sinh sau đẻ muộn hơn các văn bản pháp luật khác, đồng thời, hoạt động sở hữu trí tuệ tại Việt Nam còn khá mới mẻ do sự nhìn nhận đây là một tài sản trí tuệ

và không rõ ràng, cụ thể hoá như động sản hay bất động sản, chính vì vậy mà mặc

dù đã xây dựng một hệ thống văn bản điều chỉnh dựa trên các Hiệp định, sự hỗ trợ

từ các tổ chức quốc tế, song vẫn chưa phát huy được hiệu quả của nó, đặc biệt là sau khi tài sản sở hữu trí tuệ được pháp luật thừa nhận hình thành quyền sở hữu trí tuệ, việc đảm bảo chính quyền sở hữu đó còn tồn tại rất nhiều hạn chế dẫn đến người có quyền không thật sự hài lòng Hoặc cũng có thể nảy sinh một vấn đề nghiêm trọng hơn đó là người có quyền chưa biết cách làm sao để họ có thể tự mình bảo vệ quyền

mà mình đã được xác lập

Thế giới ngày càng phẳng, xã hội ngày càng quốc tế hóa, mục tiêu làm sao

để tài sản sở hữu trí tuệ được bảo hộ và đảm bảo được quyền của chủ sở hữu tài sản

đó có ý người sống còn đối với sự phát triển kinh tế của tất cả mọi quốc gia trong tương lai Tính đến thời điểm này, lượt đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ đã đạt đến con số ổn định và còn có khả năng tăng cao, do vậy, luật cần có những cơ chế chặt chẽ để đặt ra vấn đề sau đó là bảo đảm quyền và lợi ích của chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ của mình Vì vậy, nghiên cứu các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ đóng góp thêm các vấn đề lý luận xoay quanh đề tài này cũng như đánh giá được những khác biệt giữa các biện pháp bảo vệ quyền, từ đó làm cơ sở cho các chủ thể lựa chọn phương thức phù hợp để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế

Trước tình hình đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Các biện pháp bảo vệ

Trang 9

Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tác động trực tiếp đến sự thiết lập cơ chế đảm bảo sự thừa nhận và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong đời sống xã hội Do vậy, bảo

vệ quyền luôn được quan tâm khi các nhà làm luật, người giảng dạy, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành luật khi nghiên cứu về đề tài liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Bên cạnh đó, các tổ chức liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ luôn thường xuyên có những báo cáo rà soát đến họat động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu một số công trình trước đó, có thể kể đến các tài liệu được tập trung nghiên cứu có giá trị tham khảo cao, cụ thể là:

- Sách Tài liệu tập huấn về giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu trí tuệ, NXB

Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội của tác giả Nguyễn Văn Bảy Tài liệu tập trung chủ yếu hướng dẫn cách thức giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án

- Sách chuyên khảo “Tài liệu đấu tranh với tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ: Thực trạng và giải pháp” của TS Hồ Thế Hòe và TS Lê Việt Long NXB

Công an nhân dân, tài liệu giới hạn về việc phân tích các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự theo quy định cũ (căn cứ theo bộ luật hình sự 1999) Tài liệu tập trung chủ yếu phân tích các loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo Bộ luật hình sự 1999

- Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc

tế liên quan”, tác giả Hứa Thị Hồng, Hà Nội, 2012 Tài liệu tập trung phân tích các

biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng là nhãn hiệu hàng hóa

- Luận văn thạc sĩ luật học “Hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”, tác giả Đỗ Đô Thành, Hà Nội, 2014 Tài liệu tập

trung phân tích các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng là hàng hóa giả mạo

Những công trình nghiên cứu trên đã gợi mở nhiều vấn đề quan trọng giúp ích cho tác giả trong nghiên cứu đề tài để có thể kế thừa và vận dụng Tuy nhiên,

Trang 10

những tài liệu nghiên cứu trước đây đều có hai hạn chế lớn ở thời điểm hiện tại, thứ nhất, các biện pháp áp dụng nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đã có phần được điều chỉnh do sự thay đổi và cải cách từ các bộ luật dân sự, bộ luật hình sự mới, thứ hai, các hoạt động kinh doanh thương mại và xu hướng xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong những năm gần đây được hoạt động sôi nổi, mạnh mẽ, khi phát sinh tranh chấp, những vụ việc được đan xen với nhau bằng nhiều phương pháp giải quyết khác nhau, mà phần lớn các công trình gắn với việc thiết lập quyền sở hữu trí tuệ trong từng lĩnh vực nhất định kèm theo phân tích đánh giá biện pháp bảo vệ quyền

sở hữu trí tuệ tương ứng và chưa có một công trình nghiên cứu nào toàn diện, mang tính chất tổng hợp các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Bằng sự hiểu biết, nghiên cứu của mình và đi từ pháp luật thực định, tác giả mong muốn tìm ra những bất cập, theo đó định hướng hoàn thiện phần nào về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sát với tình hình hiện nay

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về mục đích nghiên cứu đề tài: Nhằm hoàn thiện về mặt lý luận và quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, cụ thể hơn là các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Trên cơ sở đó, giúp người có quyền tự bảo quyền lợi của mình khi có dấu hiệu cho thấy quyền của mình đang bị xâm phạm hoặc phần nào hoàn thiện thủ tục giải quyết tranh chấp, áp dụng biện pháp phù hợp khi xảy ra tranh chấp liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các các biện pháp bảo vệ quyền đối với tài sản sở hữu trí tuệ, nghiên cứu các biện pháp được pháp luật Việt Nam thừa nhận tại các quy phạm pháp luật về dân sự, hành chính, hình sự Luật văn tập trung đánh giá hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế và kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện trong việc áp dụng các biện pháp

Trang 11

nước Kết quả nghiên cứu sẽ nhằm hoàn thiện pháp luật trong phạm vi các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhằm tạo ra khung pháp lý phù hợp góp phần hạn chế việc giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ

Về thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu các báo cáo liên quan đến hoạt động sở

hữu trí tuệ của các tổ chức nghiên cứu hiện nay, thực tiễn xử giải quyết tranh chấp

về quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế và pháp luật thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của một số quốc gia khác, mong muốn đưa ra các giải pháp có khả năng áp dụng hiệu quả tại Việt Nam, đồng thời là tài liệu hữu ích của các sinh viên, học viên chuyên ngành luật, các nhà nghiên cứu trong tương lai

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp khác nhau như: phương pháp tổng hợp

và phân tích từ các văn bản pháp luật; phương pháp so sánh với các trình thủ tục giải quyết vụ việc của luật các nước khác (như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật); kết hợp nghiên cứu lý luận trên tài liệu và thực tiễn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 4 chương:

Chương 1: Khái quát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam

Chương 1 phân tích các nội dung tổng quan về các khái niệm quyền sở hữu trí tuệ, khái niệm hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và sơ lược các biện pháp sở hữu trí tuệ được áp dụng để xử phạt các hành vi vi phạm tương ứng cũng như bảo

vệ quyền lợi cho chủ thể có quyền, hạn chế các nguy hại cho xã hội

Chương 2: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự

Chương 2 trình bày chi tiết hơn về các biện pháp dân sự được áp dụng để giải quyết các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ, phân tích các đối tượng sở hữu trí tuệ phù hợp để áp dụng biện pháp dân sự tương ứng

Chương 3: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự

Trang 12

Chương 3 bao gồm hai biện pháp chính được áp dụng đối với vụ việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm: (1) biện pháp hành chính, các hành vi vi phạm được xử lý bằng biện pháp hành chính và (2) biện pháp hình sự, các hành vi vi phạm được xử lý bằng biện pháp hình sự và các dấu hiệu đặc thù để nhận biết tội phạm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong từng loại tội phạm

Trang 13

CHƯƠNG.1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Khi sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ, người nắm giữ tài sản đó sẽ có quyền đối với tài sản của mình, đó chính quyền sở hữu trí tuệ; và cũng từ đó tài sản trí tuệ mới

trở thành một loại tài sản có giá trị Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là quyền mà nhà

nước dành cho các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu tài sản trí tuệ kiểm soát độc quyền trong một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản này một cách bất hợp pháp Theo LSHTT 2005, quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là:

quyền SHTT) là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

Quyền SHTT cũng như các quan điểm về bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ được đặt ra như một phương cách để bảo vệ sự sáng tạo của con người trong các lĩnh vực hoạt động sáng tạo trong đời sống xã hội Từ đó, tạo cơ hội để các hoạt động sáng tạo luôn được thúc đẩy, phát triển hơn, đặc biệt là trong hoạt động nghệ thuật và sản xuất kinh doanh

Ở Mỹ, tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ đã được đưa vào Hiến pháp

Mỹ những năm 1789, mặc dù chưa thật sự phát huy được vai trò của nó nhưng sau

đó, Nhà sáng lập Thomas Jefferson, với tư cách là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, người rất tích cực cho việc hình thành hệ thống bằng sáng chế năm 1790 và đã cho ra đời soạn thảo đầu tiên về bằng sáng chế năm 1790, ông cũng chính là tác giả của Luật Bằng sáng chế năm 1793 Các nhà sáng lập đã nhấn mạnh vai trò của quyền SHTT

đã được thể hiện rõ bằng những hành động mà Quốc hội đã làm từ ngay những ngày đầu thành lập Trong phiên họp đầu tiên năm 1790, Quốc hội đã thông qua Đạo luật

về bằng sáng chế và đạo luật về quyền tác giả Hành động mau lẹ này của Quốc hội

đã chứng tỏ quan điểm của các Nhà sáng lập về vai trò SHTT đối với quốc gia Tài sản sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng tối cao; quốc gia non trẻ phải ngay lập tức

Trang 14

hình thành một hệ thống pháp luật liên bang đối với bằng sáng chế và quyền tác giả dựa trên triết lý về sự ban thưởng cho các tác giả và nhà sáng chế1 Những điều trên cho thấy tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ khi nó được chú trọng từ những lúc rất sớm

Điều 2 (viii) Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ (WIPO) đưa ra danh mục các đối tượng thuộc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; chương trình biểu diễn của các nghệ sỹ, tác phẩm ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế thuộc mọi lĩnh vực; phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn

và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh và mọi quyền khác bắt nguồn từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật cho thấy tầm quan trọng của các đối tượng được xem xét bảo hộ dưới dạng quyền SHTT

Thuật ngữ “bảo vệ” là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho toàn vẹn Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hệ thống chính sách và pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu QSHTT nhằm chống lại bất kỳ sự vi phạm từ một bên không

Trang 15

Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động “bảo vệ” và “bảo hộ” quyền sở hữu trí tuệ có nhiều điểm tương đồng, bảo vệ quyền SHTT được xem là nội hàm của hoạt động bảo hộ quyền SHTT Mặc dù vậy, quy định tại luật SHTT tách bạch các quy định về bảo hộ quyền SHTT tại các Phần thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư, quy định về bảo vệ quyền SHTT được nêu tại Phần thứ năm Qua đó thấy được rằng

“bảo vệ” và “bảo hộ” quyền SHTT có những ý nghĩa riêng nhất định, việc phân tách này sẽ có ý nghĩa về mặt thực tiễn, xác định cụ thể chức năng của hoạt động bảo vệ

và hoạt động bảo hộ, sử dụng đúng thuật ngữ trên thực tế

Bảo vệ quyền SHTT áp dụng các quy định của pháp luật nhằm thực hiện

song song hai mục đích: thứ nhất, nhằm bảo đảm cho quyền sở hữu trí tuệ đã được pháp luật công nhận được bảo vệ, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể; thứ hai,

ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm đến quyền của các chủ thể thuộc quyền sở hữu trí tuệ, tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm mà áp dụng những biện pháp cụ thể để xử lý hành vi xâm phạm nhất định

Hiện nay, pháp luật ghi nhận các biện pháp bảo vệ quyền SHTT gồm: biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự Mỗi biện pháp được điều chỉnh bởi ngành luật riêng mang đến những hiệu quả bảo vệ khác nhau

Thẩm quyền bảo vệ quyền SHTT thuộc về tòa án, thanh tra, quản lý thị trường, hải quan, công an, ủy ban nhân dân Dựa trên mỗi biện pháp khác nhau mà thẩm quyền giải quyết sẽ được phân cho cơ quan chuyên biệt

1.2 Hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ

Theo quy định tại Điều 28, 35, 126, 127, 129, 188 Luật sở hữu trí tuệ và Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/06/2006 được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 119/2010/NĐ-CP ngày 30/10/2010 (sau đây gọi là nghị định 105/2010/NĐ-CP), hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi có những đặc điểm: (i) Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; (ii) Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét; (iii) Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và

Trang 16

không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép và (iv) Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam Tức là, hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ có những đặc điểm cụ thể như sau:

-Phải có hành vi sử dụng đối tượng, mà đối tượng đó đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Nghĩa là, đối tượng đó phải đang còn thời gian được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đối với suốt cuộc đời tác giả và sau 50 năm kể từ khi tác giả trong trường hợp quyền tác giả2 và thời hạn của hiệu lực của văn bằng bảo hộ đối với các đối tượng: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch bán dẫn, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý3

Có thể thấy được rằng, trong trường hợp sau khi tác giả chết được 50 năm, quyền tài sản của tác giả không còn nữa nhưng quyền nhân thân vẫn còn tồn tại Nếu có hành vi vi phạm đối với quyền tác giả của tác phẩm thì có thể kiện đòi được hay không? Và chủ thể nào sẽ thay mặt tác giả để yêu cầu xử lý hành vi vi phạm

Do vậy, mặc dù các quy định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với quyền tác giả chưa thể hiện rõ ràng nhưng có thể hiểu xác định hành vi vi phạm đối với xâm phạm quyền tác giả chỉ giới hạn trong thời hạn bảo hộ quyền tài sản của tác giả

-Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét được thể hiện qua những yếu tố như trùng hoặc tương tự đến mức nhầm lẫn giữa đối tượng bị xâm phạm và đối tượng vi phạm

Việc sử dụng đối tượng là trái phép (không được phép của người nắm giữ)

Khác với các loại tài sản khác có thể cầm, nắm giữ được, tài sản sở hữu trí tuệ khi

sử dụng trái phép được thể hiện qua 02 hình thức: (1) không được chủ sở hữu ủy quyền cho phép sử dụng, (2) thực hiện đăng ký khi chủ sở hữu không biết đến việc đăng ký này, trường hợp này thường xảy ra đối với việc đăng ký xuyên quốc gia và rất dễ gặp phải đối với việc đăng ký nhãn hiệu chỉ tiến hành việc xem xét mức độ có khả năng đăng ký bảo hộ hay không chỉ đặt ra trong vùng lãnh thổ (khác với các loại đăng ký sáng chế, khi tiến hành đăng ký, sáng chế được xem xét trong phạm vi

Trang 17

trên toàn thế giới) Khi đó, tại vùng lãnh thổ quốc gia thực hiện việc xem xét và cấp văn bằng bảo hộ không kiểm tra được nhãn hiệu đó đã được đăng ký ở các quốc gia khác hay chưa và vẫn chấp thuận cấp văn bằng bảo hộ Trong quá trình sử dụng nhãn hiệu, nhãn hiệu có thể bị kiện đòi nếu chủ sở hữu nhãn hiệu có những bằng chứng chứng minh thuộc nhãn hiệu nổi tiếng đã được sử dụng rộng rãi trước đó

Người thực hiện hành vi sử dụng đối tượng không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng

Việc xác định những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cụ thể đối với từng đối tượng là cơ sở nền tảng để xác định được mức độ vi phạm của chủ thể vi phạm, từ đó áp dụng biện pháp và mức xử lý phù hợp

Căn cứ theo từng đối tượng bảo hộ, hành vi xâm phạm quyền SHTT bao gồm những hành vi xâm phạm như sau:

-Hành vi xâm phạm quyền tác giả4: hành vi xâm phạm quyền tác giả thể hiện qua những hành vi mang yếu tố chiếm đoạt, mạo danh, công bố phân phối các tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh, nhân bản, xuất bản, sản xuất bản sao mà không được phép từ tác giả; hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình; cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm; sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình; làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo

4 Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ 2005

Trang 18

Trường hợp việc sao chép các tác phẩm nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy, không nhằm mục đích thương mại được quy định tại Điều 25 Luật sở hữu trí tuệ thì không xem là vi phạm quyền tác giả và việc sử dụng đó không làm ảnh hưởng bất lợi tới việc khai thác bình thường của tác phẩm Tuy nhiên, với những trường hợp phổ biến thường thấy như sao chép tài liệu ở những cửa hàng photocopy quanh khu vực các trường đại học nhằm bán cho sinh viên thu lợi nhuận được xem

là là hành vi vi phạm

Cần phải lưu ý, đối với những trường hợp sao chép, trích dẫn nội dung tác phẩm hoặc nguyên vẹn tác phẩm cần phải nêu rõ, chính xác nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm

Một trong những hành vi khác không thực hiện trực tiếp trên đối tượng nhưng được xem là hành vi xâm phạm được quy định tại khoản 14 Điều 28 Luật sở

hữu trí tuệ: “Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp

kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình” Quy định này giúp hạn chế gián tiếp hành vi xâm phạm xảy ra

trên thực tế Tuy nhiên, trình độ kiểm tra, nhận biết và phát hiện những thiết bị hay biện pháp kỹ thuật nêu trên vẫn còn hạn chế tại Việt Nam

Quyền tác giả được tự động bảo hộ mà không phải đăng ký, chính vì vậy, khi

có hành vi xâm phạm, chủ thể phải mất nhiều thời gian, công sức để chứng minh quyền tác giả của mình Do vậy, khuyến khích tác giả nên đăng ký bảo hộ quyền tác giả để tăng khả năng bảo hộ cho chính tác phẩm của mình để giảm thiểu rủi ro sau này

-Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế

bố trí, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý5: Các đối tượng sở hữu trí tuệ này đều có điểm chung đó chính là quyền sở hữu trí tuệ được xác lập từ thời điểm được cấp văn bằng bảo hộ Kể từ đó, quyền của họ được bảo hộ triệt để, các đối tượng

Trang 19

xâm phạm có dấu hiệu trùng hoặc tương tự với đối tượng được bảo hộ thì có thể xác định được hành vi vi phạm Bên cạnh đó, căn cứ vào mức độ ảnh hưởng từ việc vi phạm đến lợi nhuận từ hàng hoá, sản phẩm mang yếu tố sở hữu trí tuệ, mức độ tác động đến xã hội, từ đó xác định biện pháp xử lý phù hợp như biện pháp dân sự, hình

-Nhãn hiệu nổi tiếng và bí mật kinh doanh: Nhãn hiệu nổi tiếng là một phần thuộc nhãn hiệu, tuy nhiên, chính sự “nổi tiếng” đã làm cho đối tượng này có một chút khác biệt tương đối Trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng chưa được cấp văn bằng bảo hộ tại một quốc gia nhưng đã được bảo hộ tại một quốc gia khác, dựa trên sự nổi tiếng và chứng minh được sự nổi tiếng thông qua các yếu tố như thị trường, mức độ người tiêu dùng biết đến nhãn hiệu đó, nhãn hiệu đó cũng có thể được xác lập quyền bảo hộ cho chính mình Trong quá trình toàn cầu hoá, yếu tố nổi tiếng được xem là có lợi đối với chủ sở hữu nhãn hiệu Bên cạnh đó, bí mật kinh doanh cũng được xem là tài sản sở hữu trí tuệ đặt biệt, để được bảo hộ, bí mật kinh doanh cần phải đáp ứng được những điều kiện: Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó; Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được6 Dựa trên những điều kiện để được bảo hộ bí mật kinh doanh, điều 127 LSHTT 2005 quy định các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, việc xâm phạm nhằm mục đích làm lộ bí mật kinh doanh, cố tình bộc lộ bí mật kinh doanh khi chủ sở hữu không mong

6 Điều 88 Luật sở hữu trí tuệ 2005

Trang 20

muốn, không thực hiện bảo mật bí mật kinh doanh theo sự thoả thuận của các bên Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh này thường thấy phổ biến trong kinh doanh thương mại Khi hai bên ký hợp đồng mua bán, hợp đồng thương mại dịch vụ đều thống nhất bảo mật những bí mật kinh doanh của đối phương, không chỉ giới hạn ở hai bên trong hợp đồng, bí mật kinh doanh còn có thể tác động gián tiếp đến người lao động của hai bên nhằm mục đích bảo mật tối đa bí mật kinh doanh Việc xâm phạm đến bí mật kinh doanh không chỉ ảnh hưởng đến hiện tại mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển hơn nữa với sản phẩm của một doanh nghiệp và uy tín của một doanh nghiệp đối với những đối tác khác

1.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Dựa trên các biện pháp nêu trên và căn cứ vào mức độ can thiệp của quyền lực nhà nước, tính chất mức độ hành vi xâm phạm quyền sỡ hữu, pháp luật ghi nhận các biện pháp để quyền sở hữu được bảo vệ bao gồm:

Khi áp dụng biện pháp dân sự, chủ thể sở hữu được xem là trung tâm, mang đến khả năng thực hiện chủ động, nhanh chóng và có hiệu quả các quyền sở hữu, chiếm hữu hợp pháp của mình Chủ sở hữu có toàn quyền lựa chọn thời điểm, biện pháp bảo vệ nào tối ưu nhất cho chính bản thân mình Yêu cầu bồi thường thiệt hại

Trang 21

thường thiệt hại là một biện pháp đền bù cho những quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền đã bị thiệt hại Việc lựa chọn biện pháp dân sự trong trường hợp này

sẽ bảo đảm tối đa lợi ích, bù đắp được thiệt hại của chủ thể quyền

Khi áp dụng biện pháp hành chính, Nhà nước thấy rằng hành vi vi phạm có thể hoặc đã gây ra hậu quả đối với xã hội, khi đó, Nhà nước dùng sức mạnh quyền lực quyền lực của các cơ quan hành chính (nằm trong hệ thống hành pháp) thông qua các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính đó để

xử lý các vi phạm sở hữu trí tuệ mang tính chất hành chính7 Biện pháp hành chính nhằm trừng phạt, răn đe ngay lập tức hành vi vi phạm thông qua một số biện pháp chế tài như: cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, tịch thu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu nhưng thường không tính đến thiệt hại của chủ sở hữu

bị vi phạm quyền Do yếu tố này mà biện pháp hành chính thường được thực hiện trong thời gian ngắn và có tác dụng nhanh nhưng cũng chính vì vậy mà hiệu quả cũng không cao vì mức xử lý có thể chưa tương xứng với mức độ thiệt hại của chủ

sở hữu, hay nói cách khác vẫn chưa bù đắp được tổn thất mà chủ sở hữu phải gánh chịu Tuy nhiên, ở mức độ nào đó, biện pháp nào sẽ phòng ngừa được việc tái phạm cũng như răn đe đối với hành vi xâm phạm

Khi áp dụng biện pháp hình sự, Nhà nước bằng các chế tài áp dụng đối với người nào cố ý thực hiện các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại và mức độ nghiêm trọng được xem là tội phạm như có thể gây nguy hiểm đến trật tự xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng Tương tự với biện pháp hành chính, biện pháp hình sự thể hiện tính áp đặt của nhà nước đối với hành vi vi phạm nhằm mục đích bảo đảm trật

tự xã hội, ngăn chặn sự xâm phạm trật tự xã hội Hiện nay, quy định xử lý các biện pháp chế tài theo pháp luật hình sự chưa áp dụng đối với giống cây trồng Khi áp

7 http://thanhtra.most.gov.vn (Trần Minh Dũng, Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, “Bảo

vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính”)

Trang 22

dụng biện pháp hình sự để xử lý xâm phạm, các nguyên tắc chung của pháp luật hình sự được áp dụng để giải quyết

Trang 23

CHƯƠNG.2

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ

Khi những nỗ lực của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản

sở hữu trí tuệ yêu cầu người vi phạm phải chấm dứt thực hiện hành vi vi phạm của mình bằng các biện pháp như chủ động gửi công văn yêu cầu chấm dứt hành vi, công bố các thông tin xác lập quyền sở hữu của mình đã không có hiệu quả Chủ sở hữu có thể xem xét dân sự, hành chính, hình sự, nhờ sự can thiệp của cơ quan nhà nước để xử lý hành vi vi phạm đó

Trong ba phương thức bảo vệ quyền sở hữu, biện pháp dân sự thường được

ưu tiên áp dụng hơn bởi tính tự do, bình đẳng trong quan hệ dân sự của nó, giảm bớt

sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào các vấn đề mang tính dân sự Khi phát hiện có hành vi xâm phạm quyền SHTT, cá nhân, tổ chức có quyền tự bảo

vệ hoặc nhờ Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý:

-Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm

-Buộc xin lỗi, cải chính công khai

-Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự

-Buộc bồi thường thiệt hại

-Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ8

2.1 Chủ thể có quyền khởi kiện

Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện ra hành vi xâm phạm gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội đều có quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm Các chủ thể này rất đa dạng không chỉ giới hạn ở các chủ thể sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ và còn cả người

8 Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009

Trang 24

tiêu dùng bị thiệt hại hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào chịu sự ảnh hưởng và thậm chí

cả cơ quan nhà nước khi phát hiện ra vụ việc Căn cứ theo các văn bản pháp luật hiện hành, có thể thống kê được các chủ thể có quyền khởi kiện như sau:

Nghị định 22/2018/NĐ-CP về hướng dẫn LSHTT 2005 và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan thay thế các quy định tại Nghị định 100/2006/ND-CP, thông qua đó, nghị định bãi bỏ quy định chi tiết các chủ thể được quyền khởi kiện quyền tác giả, quyền liên quan Ở một góc độ khác, cho thấy quy định đã có sự mở rộng các đối tượng được phép khởi kiện mà không có một sự giới hạn nào bằng phương pháp liệt kê như trước đây Ngầm xác định rằng những đối tượng sau có quyền khởi kiện khi quyền tác giả, quyền liên quan của mình bị

xâm phạm, bao gồm:

-Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan Đây được xem là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi xâm phạm Điều 25 Nghị định 22/2018/ND-CP quy định 4 đối tượng chính như sau: Tổ chức, cá nhân Việt Nam;

Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam; Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

-Đồng tác giả: là những người cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Do đó, các đồng tác giả là chủ sở hữu chung đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và được hưởng các quyền tác giả từ tác phẩm Khi bị xâm hại, các đồng tác giả có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình

-Người được thừa kế tác phẩm;

-Cá nhân tổ chức khác như: người hỗ trợ tác phẩm, người biểu diễn, độc giả, người nghe, người xem tác phẩm, người sử dụng tác phẩm

Trang 25

-Tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan được quyền khởi kiện để bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trong phạm vi hợp đồng ủy quyền giữa chủ thể và tổ chức đại diện9

-Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan Những trường hợp cụ thể như chương trình biểu diễn, ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng thuộc về sở hữu nhà nước Khi bị xâm phạm, nhà nước có thể trở thành nguyên đơn

để yêu cầu bảo vệ lợi ích quyền hợp pháp của mình

Các cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện quyền sở hữu công nghiệp được quy định rải rác qua một số văn bản khác nhau như Luật sở hữu trí tuệ, nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Tại nghị định 99/2013/ NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, trong đó, điều 22 quy định quyền yêu cầu xử lý vi phạm và thẩm quyền chủ động phát hiện,

xử lý vi phạm, thông qua điều khoản này, có thể thấy được các đối tượng sau đây có quyền khởi kiện để yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp gồm:

-Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp bị thiệt hại do hành vi vi phạm bao gồm

cả tổ chức được trao thẩm quyền quản lý chỉ dẫn địa lý được bảo hộ tại Việt Nam;

-Người có quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp bị thiệt hại do hành

vi vi phạm, nếu không bị chủ sở hữu công nghiệp hạn chế quyền yêu cầu xử lý vi phạm;

-Tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội Dưới tác động có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng hay rộng hơn là ảnh hưởng đến xã hội như: hàng giả, hàng nhái kém chất lượng gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng,

tổ chức, cá nhân bất kỳ có thể yêu cầu giải quyết vấn đề nêu trên Khi đó, có thể lựa

9 Điều 42 Nghị định 22/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan

Trang 26

chọn khởi kiện đến tòa án hoặc đến những cơ quan khác liên quan (cơ quan bảo vệ người tiêu dùng)

-Tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp tại Việt Nam được quyền khởi kiện thông qua văn bản ủy quyền của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền đặc biệt, được giới hạn trong thời gian nhất định, đối với quyền tác giả, quyền liên quan, thời gian phát sinh quyền được tính từ thời điểm cá nhân sáng tạo ra tác phẩm và được công bố ra bên ngoài bằng hình như xuất bản công khai ra bằng các phương tiện (như internet, báo chí,…) hoặc được đăng ký ở Cục bản quyền, theo đó, chủ thể khởi kiện cũng chỉ được khởi kiện trong thời gian tác phẩm đang được bảo hộ, nghĩa là suốt cuộc đời tác và 50 năm sau khi tác giả chết Đối với quyền sở hữu công nghiệp, thời gian phát sinh quyền được tính từ thời gian được Cục sở hữu trí tuệ xác nhận bằng văn bằng bảo

hộ cho tài sản phẩm và thời gian khởi kiện được tính trong suốt khoảng thời gian được bảo hộ Do vậy, ngoài việc xác định được đúng chủ thể khởi kiện, người khởi kiện còn cần lưu ý về thời gian khởi kiện để quyền lợi của mình được đảm bảo

2.2 Cơ quan giải quyết tranh chấp

Do tính chất dân sự, nên khi phát sinh tranh chấp, các bên có thể thương lượng, trao đổi, bàn bạc và thoả thuận với nhau để giải quyết xung đột mà không có

sự can thiệp của bất kỳ cơ quan nhà nước hay bên thứ ba nào Tuy nhiên, nếu tranh chấp vẫn không giải quyết được bằng biện pháp thương lượng hoặc các bên không đồng ý thương lượng thì tranh chấp sẽ được giải quyết ở cơ quan có thẩm quyền, là Toà án hoặc Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế

Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp dân sự được quy định trong BLTTDS 2015 theo khoản 4 Điều 26 và khoản 2 Điều 30, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền khởi kiện ra tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình:

Trang 27

“Điều 26: Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,

tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”

Căn cứ vào quy định nêu trên, có thể thấy các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nói chung và những tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại (có thể xem xét tương tự với hành vi vi phạm trách nhiệm ngoại hợp đồng) được giải quyết tại Toà án, việc phân chia tại ở điều khoản khác nhau phục vụ cho mục đích thuận lợi trong việc lựa chọn toà án cấp huyện hay toà án cấp tỉnh có thẩm quyền để thụ lý vụ việc Theo đó, toà án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và toà án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận và xét xử các vụ

án phúc thẩm của toà sơ thẩm

Thủ tục giải quyết tranh chấp quyền SHTT tại Toà án do pháp luật tố tụng quy định được tính từ thời điểm bắt đầu thụ lý đơn yêu cầu cho đến khi kết thúc bằng một bản án hoặc quyết định

Trên thực tế, giải quyết tranh chấp về quyền SHTT thông qua toà án là cơ chế bảo vệ hữu hiệu nhất hiện nay Điều đó được lý giải bởi tính dân chủ, khả năng duy trì và bảo đảm công bằng của các thiết chế của thủ tục dân sự so với các thủ tục khác Bản chất của biện pháp dân sự là thông qua việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền SHTT tại toà án, các chủ sở hữu không chỉ yêu cầu toà án áp dụng

Trang 28

các biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm một cách hiệu quả mà còn buộc bên vi phạm bồi thường thiệt hại do hành vi đó gây ra (bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần) Áp dụng thủ tục dân sự là con đường hiệu quả để giải quyết thoả đáng vấn đề bồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm

Tương tự Việt Nam, hầu hết một số nước cũng áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự quyền SHTT bằng toà án, như hệ thống các nước theo pháp luật Anh-Mỹ Họ lý giải “bầu không khí” của thủ tục này phù hợp với việc bảo vệ các quyền tài sản của cá nhân trong giới kinh doanh, mặc khác, đây là các biện pháp đền bù, do vậy được xem là thuận lợi hơn so với các biện pháp trừng phạt khác Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là hành vi trái pháp luật gây thiệt hại ngoài hợp đồng, do vậy phải nhận thức đây là trách nhiệm dân sự Không phải vô tình mà trong các điều ước quốc tế, trong BTA và luật sở hữu trí tuệ, phần lớn các điều khoản là các quy định về việc áp dụng biện pháp dân sự10 Bên cạnh đó, một số quốc gia khác như Nhật Bản11 không chỉ quy định toà án là cơ quan giải quyết mà còn thành lập những cơ quan chuyên trách để giải quyết các vụ việc liên quan đến SHTT, bộ phận chuyên trách sẽ có những kỹ thuật viên có thể hỗ trợ giúp thẩm phán những vấn đề kỹ thuật liên quan đến các đối tượng phức tạp như xâm phạm quyền đối với sáng chế Singapore thành lập toà án SHTT (thuộc toà án tối cao) để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền SHTT Thẩm phán và các uỷ viên tư pháp thuộc toà án SHTT được bổ nhiệm phải là những người có chuyên môn và kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đến SHTT 12 Đây cũng là một trong những điều Việt Nam nên học hỏi, toà án Việt Nam nên xem xét có một đội ngữ chuyên biệt để vụ việc được giải quyết một cách nhanh chóng và thuận lợi

10 Chuyên đề khoa học xét xử, tập 1, Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ

tại toà án nhân dân, NXB Tư pháp

11 Đỗ Thị Minh Thuỷ, bài viết “cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản: gợi

Trang 29

hơn thay vì phải liên thông hỏi ý kiến của các cơ quan liên quan như Cục bản quyền

và tác giả, Sở Văn hoá thông tin, Cục sở hữu trí tuệ, Sở khoa học và công nghệ, Trung tâm internet Việt Nam,

Điểm d khoản 1 Điều 198 LSHTT 2005 quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể áp dụng biện pháp khởi kiện ra trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tại Việt Nam, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có một văn bản pháp luật chuyên ngành về SHTT đề cập đến các quy định về giải quyết tranh chấp nhãn hiệu bằng phương thức trọng tài Nếu các bên tranh chấp muốn giải quyết tranh chấp nhãn hiệu bằng trọng tài để phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật Trọng tài thương mại 2010 Trong khi đó, Luật trọng tài

2010 không thiết kế riêng cho giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ mà là quy định chung áp dụng cho tất cả các tranh chấp và cũng chỉ giới hạn các trong các tranh chấp thương mại, nghĩa là những tranh chấp về sở hữu trí tuệ mà trong đó chứa đựng các yếu tố về thương mại như ảnh hưởng đến lợi nhuận của chủ sở hữu do hành vi vi phạm gây nên Do đó, việc thiết lập một hệ thống giải quyết tranh chấp

sở hữu trí tuệ thông qua trọng tài là cần thiết để đáp ứng được nhu cầu thực tế cũng như tận dụng được các điểm ưu việt mà phương thức này mang lại

Mặc khác, các tranh chấp nói chung và tranh chấp sở hữu trí tuệ nói riêng tại

cơ quan trọng tài đều có thể được giải quyết nhanh chóng hơn so với cơ quan toà

án, quyết định trọng tài được xem là quyết định chung thẩm, do vậy vụ việc ngay lập tức được xử lý Đối với các vụ việc tranh chấp quyền SHTT, ưu điểm nhất có thể thấy được rằng đội ngũ trọng tài viên có thể là những người có chuyên môn cao

về lĩnh vực đặt thù này, từ đó hạn chế được thời gian hỏi ý kiến các cơ quan liên quan, hay vụ việc cũng được giải quyết nhanh mà đúng đắn hơn Thêm vào đó, trọng tài tôn trọng tính bảo mật cho toàn bộ quá trình, phiên họp trọng tài cũng được thực hiện không công khai, nhờ đó, các bên trong tranh chấp có thể đảm bảo được

Trang 30

uy tín của mình trên thương trường mà các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ luôn được xem là vấn đề hết sức nhạy cảm đối với doanh nghiệp

2.3 Các biện pháp dân sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Các quy định về biện pháp dân sự để bảo vệ quyền SHTT được xây dựng trên quy định của pháp luật dân sự cũng như thể chế các yêu cầu trong các điều ước quốc tế và Việt Nam ký kết và tham gia về thực thi quyền Như trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng có ghi nhận tại điểm c khoản 2 Điều 12 quy

định: “Mỗi bên cho phép cơ quan tư pháp của mình buộc một bên trong vụ kiện chấm dứt hành vi xâm phạm, kể cả các biện pháp ngăn ngừa sự xâm nhập vào kênh thương mại của những hàng hóa xuất nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngay sau khi hoàn thành thủ tục hải quan đối với hàng hóa đó”13 Và tại Điều 44

Hiệp định TRIPs quy định “các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh cho một bên trong vụ kiện chấm dứt sự xâm phạm, để cùng với các mục đích khác nhằm ngăn cản sự xâm nhập của hàng hóa nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vào các kênh thương mại trong phạm vi quyền hạn của mình sau khi tiến hành thủ tục hải quan”

Tùy thuộc vào hiện trạng thực tế của tài sản đang đứng ở ngưỡng bị xâm hại,

để bảo vệ quyền lợi của tài sản, người có quyền cân nhắc quyết định chọn lựa biện pháp phù hợp để đảm bảo quyền và lợi ích của mình là cao nhất

Theo bản chất của quyền dân sự thì chủ thể quyền sở hữu đối với tài sản của mình có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, có quyền khai thác lợi ích của sản phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật LSHTT

2005 đã tạo điều kiện để các chủ thể quyền được thực hiện các quyền của mình đồng thời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp đó và cấm mọi hành vi xâm phạm, cản trở quyền trái pháp luật Khi hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền của chủ sở hữu

Trang 31

không tự nguyện chấm dứt thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp ngăn chặn và buộc chấm dứt hành vi xâm phạm

Đây là một trong những yêu cầu cơ bản và đầu tiên cần được áp dụng nhất khi chủ thể bị xâm phạm đến quyền sở hữu của mình

Để yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, trước hết, chủ thể cần chứng minh được bên vi phạm có hành vi vi phạm, hay còn gọi là phải cung cấp được chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

-Đối với nguyên đơn, một trong những chứng cứ có thể chứng minh được vi phạm gồm14:

+Bản sao Bằng độc quyền sáng chế; Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp; Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí; Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu; Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý; Bằng bảo hộ giống cây trồng; Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả; Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan nộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã được chứng thực theo quy định;

+Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp; Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan; Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng được bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền đăng ký các đối tượng đó cấp;

+Trường hợp là nhãn hiệu Quốc tế, chủ thể có cần phải cung cấp chứng cứ chứng minh chủ thể quyền là bản sao giấy Chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấp nộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã được chứng thực theo quy định

Một số chứng cứ có thể dễ dàng được chứng minh bởi giấy chứng nhận, văn bằng bảo hộ, được cung cấp bởi chủ sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ Tòa án xem xét

14

Khoản 2 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ và được hướng dẫn bởi Nghị định 105/2006/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Nghị định 119/2010/NĐ-CP

Trang 32

và ra quyết định buộc chấm dứt hành vi đối với bên vi phạm Tuy nhiên, hầu hết các

vụ việc được đưa ra Tòa, thông thường các bên sẽ không đồng ý chấp nhận ý kiến của tòa án một các dễ dàng, thay vào đó, các bên sẽ thực hiện thủ tục yêu cầu giám định, hoặc Tòa án sẽ thực hiện bước hỏi ý kiến các cơ quan chuyên ngành để đưa ra quyết định cuối cùng

Một số cơ quan kể đến hiện nay có thể thực hiện giám định chứng cứ liên quan đến SHTT bao gồm: Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư15 hoặc các tòa án có thể hỏi ý kiến chuyên môn từ viện nghiên cứu SHTT, Cục SHTT và trung tâm giám định quyền tác giả (thành lập vào ngày 03/06/2016) Chính bởi sự đa dạng giữa các cơ quan và không có một giới hạn nào

về việc tòa án chỉ được phép chọn một trong hai thủ tục giám định hay hỏi ý kiến chuyên môn hay ý kiến nào sẽ là ưu tiên khi tòa án nhận được công văn trả lời, hay kết luận nào sẽ là nguồn chứng cứ Mà căn cứ vào phản hồi từ các cơ quan, tòa án

sẽ có phán quyết của riêng mình Chính vì vậy, trên thực tế, giá trị của kết quả giám định và trả lời của cơ quan chuyên môn gây rất nhiều tranh cãi, thậm chí còn là ý kiến trái ngược nhau và dẫn tới mâu thuẫn trong phán quyết của tòa án chưa giải quyết đúng đắn vụ việc và dẫn tới hệ lụy vụ việc có thể sẽ kéo dài thời gian hơn so với quy định

Tóm tắt vụ tranh chấp “cái cốc đỏ” giữa Société des Produits Nestlé S.A (Nestlé) và Gold Roast Viet Nam Co., Ltd (Gold Roast) xảy ra vào năm 200616, Nestlé nộp đơn yêu cầu đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hình cái cốc màu đỏ (có bề mặt màu đỏ và không có bất kỳ dấu hiệu chữ nào trên đó) gắn liền với sản phẩm cà phê

ở nhóm 30 thông qua đăng ký quốc tế 824804 chỉ định ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác Lúc đầu Cục SHTT từ chối bảo hộ nhãn hiệu này vì cho rằng nó hoàn toàn không có chức năng nhãn hiệu, nhưng sau đó Cục SHTT đã rút từ chối dựa trên cơ

15

Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009

Trang 33

sở chủ nhãn hiệu khiếu nại và nộp bằng chứng chứng minh nhãn hiệu này có khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng

Phát hiện được Gold Roast sử dụng hình ảnh chiếc cốc đỏ in trên bao bì sản phẩm cà phê tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ, Nestlé đã nộp đơn yêu cầu xử

lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đến Thanh tra Bộ Khoa học và công nghiệp, sau khi chuyển vụ việc xuống khu vực, Thanh tra Sở ra quyết định xử phạt Gold Roast 100 triệu về hành vi vi phạm

Trước đó, Gold Roast gửi yêu cầu giám định lại đến Viện Nghiên cứu SHTT

và khởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương với lập luận rằng: Ý kiến chuyên môn của Cục SHTT là không đúng với bản chất khách hàng vì nhãn hiệu hình cái cốc của Gold Roast khác biệt về hình thức thể hiện so với nhãn hiệu cái cốc của Nestlé và đặt việt hơn Gold Roast còn chứng minh được rằng sản phẩm cà phê trên

đó có hình cái cốc đã được nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 1996, đến khi mở cửa nhà máy Gold Roast vào năm 2001, Gold Roast tiếp tục sử dụng cái cốc này, trong khi đó, Cục SHTT chỉ cấp văn bằng bảo hộ cho Nestlé vào năm 2014 Tuy nhiên, Tòa án vẫn giữ nguyên quyết định của mình và cho rằng hành vi của Gold Roast là xâm phạm quyền

Ý kiến từ bài viết của luật sư Lê Quang Vinh cho rằng theo tinh thần của Luật SHTT đã có quy định về việc giám định SHTT, theo đó, Cục SHTT đã không còn chức năng giám định kể từ thời điểm đó, mà chức năng giám định được trao cho những cơ quan, tổ chức có có chức năng định phù hợp với Điều 201 LSHTT

2005 và LSHTT sửa đổi 2009 Tuy nhiên, về phía khách quan và trên thực tế, các

cơ quan luôn cần hỏi ý kiến chuyên môn để xem xét cụ thể vụ việc

Kiến nghị: Từ thực trạng chồng chéo nói trên, tác giả cũng đề xuất ý kiến

xem xét thành lập cơ quan giám định riêng, độc lập với cơ quan cấp giấy chứng nhận bảo hộ để tránh vừa đá bóng vừa thổi còi Tổ chức giám định có thể xem xét được thành lập bởi Cục sở hữu trí tuệ, tuy nhiên được hoạt động theo sự quản lý chung của các Bộ có liên quan như hoạt động trực thuộc Bộ KH&CN và Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch Tổ chức giám định này sẽ hoạt động tương tự như tổ chức

Trang 34

trọng tài thương mại, thành viên của tổ chức này sẽ là đội ngũ chuyên môn cao, có hiểu biết và đã làm trong hoạt động SHTT nhiều năm liền Ý kiến của tổ chức giám định này là kết quả được ưu tiên, trong trường hợp các bên kháng cáo lên tòa án cao hơn, tòa án sẽ xem xét các ý kiến chuyên môn khác Tổ chức này sẽ đảm bảo các yêu cầu về nghiệp vụ, chuyên môn mà năng lực tố tụng của Việt Nam còn hạn chế trong bối cảnh chưa thể thành lập tòa án chuyên giải quyết SHTT

Bên cạnh đó, trong trường hợp chưa thành lập các tổ chức giám định chuyên môn cao, tác giả đề xuất lấy ý kiến chuyên môn từ các cơ quan và tổ chức giám định theo số lẻ (tương tự như lấy ý kiến từ Hội thẩm), sau đó xem xét và ra quyết định phù hợp, nhất quán nhất có thể

Trên thực tế, yêu cầu buộc xin lỗi, cải chính công khai sẽ áp dụng trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền này ảnh hưởng đến uy tín của tác giả, chủ thể

có quyền, chủ nhãn hiệu, sản phẩm bị xâm phạm, tác động xấu đến người tiêu dùng

về chất lượng của sản phẩm dịch vụ Trong trường hợp như vậy, chủ thể có thể yêu cầu bên vi phạm phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm khắc phục phần nào những ảnh hưởng xấu do hành vi vi phạm gây nên Nếu hai bên không thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thực hiện hiện việc cải chính công khai thì tòa án sẽ căn cứ vào mức độ, hậu quả do hành vi đó gây và quyết định thời điểm thực hiện việc cải chính công bố, thông thường, việc cải chính công khai sẽ nên được thực hiện tại địa điểm của bên bị thiệt hại hoặc đăng công khai trên báo hằng ngày của các cơ quan trung ương, địa phương nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số báo liên tiếp

Phương pháp xử lý bằng biện pháp buộc xin lỗi, cải chính công khai thường được áp dụng nhằm mục đích bảo vệ quyền nhân thân của tác giả hay nói cách khác, nhằm bảo vệ quyền tác giả Khôi phục danh dự, uy tín cho tác giả Ví dụ: Người có hành vi xâm phạm quyền tác giả đã sửa chữa, cắt xén xuyên tạc tác phẩm

Trang 35

giả Lê Phong Linh (bút danh Lê Linh) và Công ty TNHH Truyền thông Giáo dục & Giải trí Phan Thị (gọi tắt là “Phan Thị”) cùng bà Phan Thị Mỹ Hạnh17 Tác giả Lê Linh yêu cầu công nhận ông Linh là tác giả duy nhất của bộ truyện tranh Thần đồng đất Việt, trong khi đó, bà Hạnh đã ghi tên mình là đồng tác giả Đồng thời, Phan Thị cũng đã sử dụng những hình tượng do ông Linh sáng tạo từ các tập Thần Đồng Đất Việt tiếp theo cũng như trên các ấn bản khác như Thần Đồng Đất Việt khoa học, Thần Đồng Đất Việt mỹ thuật Trong thời gian này, ông phát hiện Phan Thị phát hành các tập truyện Thần Đồng Đất Việt tiếp theo mà không có sự đồng ý của ông

Trải qua hơn 10 năm theo đuổi vụ kiện, cuối cùng tác giả Lê Linh cũng được công nhận là tác giả duy nhất của bộ truyền tranh Thần đồng đất việt Theo đó, buộc

bị đơn chấm dứt việc tạo ra và sử dụng những biến thể khác nhau của các hình tượng do ông Linh sáng tạo Đồng thời buộc bị đơn xin lỗi công khai trên một số phương tiện thông tin đại chúng trong 3 kỳ liên tiếp

Từ vụ việc nói trên, thấy được rằng để giải quyết vụ án liên quan đến quyền

sở hữu trí tuệ đã phải trải qua thời gian rất dài, trong thời gian đó, không chỉ tiêu tốn rất nhiều công sức, tiền của mà còn là danh dự của một tác giả khi quyền của họ bị xâm phạm Đối với những vụ việc buộc phải cải chính công khai mà chưa được giải quyết, chủ thể có quyền sẽ phải chịu tình trạng quyền của mình bị xâm hại trong thời gian dài, cộng đồng xã hội có thể dùng những lời lẽ không hay lên chính chủ thể thật sự, gây cho họ nhiều tổn thương về tinh thần sâu sắc, thậm chí, có thể dẫn đến sự mất niềm tin từ người tiêu dùng đối với các sản phẩm “thật” Bên cạnh đó, cũng phải kể đến góc độ từ phía bên vi phạm, sau khi vụ việc được giải quyết, nếu đối với những tranh chấp như đồng sở hữu bên trên, các vụ việc liên quan đến thỏa thuận quyền sở hữu trí tuệ các bên thông qua hợp đồng (không kể đến những vụ bên

vi phạm làm cố tình trục lợi từ hành vi vi phạm), khi thi hành án theo phương án buộc cải chính công khai, người vi phạm sẽ phải gánh chịu thêm sự “cáo buộc” từ phía cộng đồng mà hành vi của họ chưa đến mức như vậy Tuy nhiên, cũng có

17

https://thanhnien.vn (“Những vấn đề pháp lý từ vụ kiện Thần Đồng Đất Việt”)

Trang 36

những hành vi đáng lên án mà xin lỗi công khai trong 3 kỳ báo liên tiếp không đủ

để người tiêu dùng nhận biết được

Kiến nghị: Thứ nhất, về thời gian xử lý vụ án cũng như chất lượng đội ngũ

xử lý tố tụng, từ vụ việc Thần Đồng Đất Việt nêu trên và những ý kiến từ phía tác

giả, thấy được rằng đáng lẽ ra vụ việc cần phải được giải quyết nhanh chóng triệt để hơn nếu như đội ngũ nhân sự có trình độ cao hơn (thời gian xét xử vụ việc Thần Đồng Đất Việt mất 12 năm) Do vậy, việc nâng cao trình độ nhân sự luôn là vấn đề quan tâm hằng đầu để thay đổi một nền tố tụng Từ phía cơ quan chức năng nên tăng cường tập huấn và tích cực đào tạo cán bộ để mọi việc được giải quyết nhanh hơn, đảm bảo quyền lợi của mọi công dân trong xã hội này Không chỉ dừng lại ở việc thời gian giải quyết vụ việc kéo dài mà danh dự, uy tín của một cá nhân, tổ

chức mới thật sự đáng quan tâm Thứ hai, cách thức thực hiện cải chính công khai,

đối với một số nguyên đơn khi đi kiện, giá trị của tài sản mang lại không bằng với chính danh dự, “đứa con tinh thần” là sản phẩm của họ bị người khác sử dụng và xâm phạm Việt đăng báo trong 3 kỳ liên tiếp có thật sự là giải pháp hữu hiệu hay không? Trên thực tế, các nhà làm luật nên xem xét cho các bên thỏa thuận phương pháp để thực hiện xin lỗi công khai đến cộng đồng hoặc có văn bản hướng dẫn cụ thể việc xin lỗi cải chính công khai trong những năm nhất định, phù hợp với tình hình thay đổi thực tế Ngoài việc đăng báo có thể kèm theo các yêu cầu như họp báo chính thức một buổi, các phóng viên từ các cơ quan báo chí uy tín, các đơn vị đưa tin có thể đến và ghi nhận trực tiếp, sau đó thông báo đến rộng rãi tất cả mọi để được biết Với thời điểm hiện tại, quy định về việc đăng báo dường nhất đã không còn phù hợp nữa

Tòa án sẽ áp dụng buộc người có hành vi vi phạm nghĩa vụ đối với chủ thể

có quyền sở hữu trí tuệ, đây là biện pháp dân sự được áp dụng khi người có nghĩa

vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong

Trang 37

được Tòa án sử dụng để áp chế thực hiện nghĩa vụ dân sự khi bên vi phạm không tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện không đúng đối với chủ thể quyền SHTT

Biện pháp này thể hiện rõ trong một số trường hợp vi phạm về SHTT khi các bên ký hợp đồng thương mại trong đó có nêu rõ quy định bảo mật quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình các bên giao dịch, thậm chí sau một thời hạn nhất định khi hợp đồng đã chấm dứt, điều khoản đặc biệt này vẫn còn giữ nguyên giá trị Hoặc các bên có ký với nhau riêng về thoả thuận bảo mật thông tin để đảm bảo quyền lợi của các bên

Tuy nhiên, việc ký thoả thuận thường không được các bên xem trọng và một trong các bên vẫn thực hiện những hành vi sai trái nhầm đạt được nhiều lợi ích hơn

Vi phạm sở hữu công nghiệp, tổn hại đến bí mật kinh doanh là một trong những hành vi rất phổ biến Khi đó, toà án căn cứ vào thoả thuận giữa các bên, có quyền yêu cầu bên vi phạm ngừng thực hiện hành vi vi phạm, sau đó, có thể áp dụng một trong những biện pháp như bồi thường thiệt hại (trong trường hợp có thiệt hại phát sinh), xin lỗi, cải chính thông tin (trường hợp có hành vi được xã hội biết đến) gây tổn hại cho chủ sở hữu,…Các hình thức xử lý sẽ được xem xét áp dụng để đảm bảo quyền lợi của các bên

Kiến nghị: buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ được áp dụng khi các bên có

thoả thuận với nhau, do vậy, trên thực tế, nhiều bên ít xem trọng nội dung này mà hầu hết chỉ quan tâm đến mua bán sản phẩm, chất lượng sản phẩm,…khi sản phẩm được nhiều người biết đến, khả năng bị xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh xảy ra rất cao, do vậy, chính từ mỗi cá nhân, mỗi tổ chức nên chú trọng hai vấn đề (1) thiết lập quyền bảo hộ thông qua các cơ chế như đăng ký bảo hộ và (2) thoả thuận trong hợp đồng thương mại về việc bảo mật thông tin Bên cạnh đó, phía toà án, khi xem xét hành vi vi phạm nên áp dụng biện pháp này nhằm răn đe trên chính sự thoả thuận của các bên Vì sự thoả thuận là căn cứ tự nguyên, các bên cần phải có trách nhiệm với chính sự thoả thuận của mình

Trang 38

2.3.4 Buộc bồi thường thiệt hại

Biện pháp bồi thường thiệt hại sẽ áp dụng khi hành vi xâm phạm quyền SHTT đã gây ra những tổn thất nhất định cho chủ sở hữu mà không thể khôi phục được Trong trường hợp này, luật sở hữu trí tuệ quy định cho chủ thể có quyền lựa chọn buộc bên vi phạm phải bồi thường những thiệt hại đã xảy ra bằng các phải thanh toán cho chủ thể quyền giá trị thiệt hại bằng một số tiền nhất định tương đương với thiệt hại mà chủ hữu phải gánh chịu Bên bị thiệt hại phải chứng minh được thiệt hại từ hành vi vi phạm đó gây nên, từ đó có căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại phù hợp

Nguyên tắc xác định thiệt hại được quy định như sau:

Điều 204 LSHTT sửa đổi 2009 quy định nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như sau:

Điều 204 Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

1 Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

a) Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;

b) Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng

2 Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra

Theo quy định trên, thiệt hại được hiểu là sự tổn thất thực tế về vật chất và tinh thần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể quyền SHTT, thiệt hại được coi là tổn thất thực tế khi có đủ các căn cứ sau:

Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại Tổn

Trang 39

quyền sở hữu, chuyển giao quyền, giá trị góp vốn kinh doanh, giá trị quyền sở hữu trong khối tài sản của doanh nghiệp, giá trị đầu tư cho việc tạo ra và phát triển đối

tượng quyền sở hữu trí tuệ; tổn hại về thu nhập, lợi nhuận, mức thu nhập lợi nhuận

do sử dụng, khai thác trực tiếp, cho thuê, chuyển giao đối tượng sở hữu trí tuệ, thu nhập này được tính trên thực tế, căn cứ dựa vào số lượng, sản lượng hàng hóa, dịch

vụ tiêu thụ thực tế hoặc cung ứng trước và sau khi xảy ra hành vi vi phạm; tổn thất

về cơ hội kinh doanh, khả năng xác định trong tương lai khi chủ sở hữu khai thác,

sử dụng, cho thuê hoặc chuyển giao đối tượng, cơ hội kinh doanh khác bị mất do

hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra; chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại

và chi phí thuê luật sư

Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích nói trên

Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâm phạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm và hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó

Khi xác định thiệt hại, cách thức bồi thường thiệt hại đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại phải dựa trên các nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo quy định tại Luật sở hữu trí tuệ, không dựa trên các quy định tại BLDS 2015, bởi lẽ, luật sở hữu trí tuệ đã quy định cụ thể hơn các nguyên tắc xác định hành vi vi phạm và từ đó xác định bồi thường thiệt hại so với Bộ luật dân sự18

Khi xem xét các chứng cứ chứng minh về thiệt hại vật chất, cần lưu ý:

-Phải có quan hệ nhân quả trực tiếp giữa tổn thất về tài sản và mức giảm sút

về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh đối với hành vi vi phạm Sự giảm sút về thu nhập hay doanh thu có thể không phải do hành vi vi phạm gây ra

Ví dụ: doanh nghiệp A trước khi bị giả mạo nhãn hiệu có thu nhập 1 tỷ đồng/ 1 năm, lợi nhuận là 100 triệu đồng Năm sau đó, doanh nghiệp B có hành vi vi phạm nhãn hiệu của doanh nghiệp A, trong năm này, doanh nghiệp A thu nhập 500 triệu

18 Mục 4.1 Phần IV Thông tư liên tịch số BKH&CN-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân

Trang 40

02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-đồng/ 1 năm, lợi nhuận là 20 triệu đồng Trong trường hợp này không thể tính đơn thuần phần giảm thu nhập 500 triệu và lợi nhuận 80 triệu là do hành vi vi phạm của doanh nghiệp B gây nên19 Phần giảm thu nhập và lợi nhuận đó còn có thể do thị trường tác động, ví dụ, giá cả tăng lên dẫn tới nhu cầu đối với sản phẩm giảm đi, chi phí đầu vào, giá thành nguyên liêu tăng, dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp A giảm đi, hoặc thậm chí là do chất lượng sản phẩm giảm sút và thị trường không còn đón nhận,….Tất cả những yếu tố này phải được xác định khi tính toán mức thiệt hại

mà doanh nghiệp A phải chịu Đồng thời, doanh nghiệp A phải cung cấp đủ chứng

cứ để chứng minh minh thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền gây ra và Tòa án chỉ quyết định trên cơ sở xác định chính xác thiệt hại nào là hành vi do doanh nghiệp B gây ra

Ngoài ra, tổn thất còn được đánh giá bằng việc bị đơn (bên vi phạm quyền sở hữu trí tuệ) có được lợi nhuận từ việc vi phạm này hay không Tuy nhiên, trong một

số trường hợp lợi nhuận thu được từ việc vi phạm chưa thật sự có mối liên hệ với nguyên đơn (chủ sở hữu nhãn hiệu), tức là, nếu bên nguyên đơn chưa khai thác đối tượng sở hữu trí tuệ, chưa mang tài sản sở hữu trí tuệ ra thị trường Khi đó, nguyên đơn chưa có thu nhập từ khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản trí tuệ của mình, do vậy, đây không được coi là thiệt hại vật chất trực tiếp

Hiện nay, trong trường hợp không xác định thiệt hại về vật chất theo các căn

cứ quy định pháp luật, thì mức bồi thường thiệt hại sẽ do Tòa án ấn định, tùy thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá 500 triệu đồng20 Mức phạt và thậm chí cả

19

Nguyễn Văn Bảy (2009), Tài liệu tập huấn về giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu trí tuệ, NXB

Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, trang 80

20

điểm c, khoản 2 mục B Thông tư BKH&CN-BTP hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân do Tòa Án Nhân Dân Tối Cao - Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao - Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch - Bộ Khoa Học

Ngày đăng: 21/01/2021, 19:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Văn Bảy (2009), Tài liệu tập huấn về giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu trí tuệ, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Nguyễn Văn Bảy
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
Năm: 2009
15. Chuyên đề khoa học xét xử, tập 1, Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân
Nhà XB: NXB Tư pháp
16. TS. Hồ Thế Hòe – TS Lê Việt Long (2012), Đấu tranh với tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ: Thực trạng và giải pháp (sách chuyên khảo), NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh với tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ: Thực trạng và giải pháp (sách chuyên khảo)
Tác giả: TS. Hồ Thế Hòe – TS Lê Việt Long
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2012
17. Nguyễn Ngọc Xuân Thảo (2014), Luật Sở hữu trí tuệ - Án lệ, lý thuyết và bài tập áp dụng, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh;III. Luận văn, luận án, đề tài khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sở hữu trí tuệ - Án lệ, lý thuyết và bài tập áp dụng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Xuân Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh; III. Luận văn
Năm: 2014
18. Dương Đình Công (2011), “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia Đông Nam Á”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia Đông Nam Á
Tác giả: Dương Đình Công
Năm: 2011
19. Nguyễn Thị Hoa (2009), “Hiệp định TRIPS/WTO và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quan hệ quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định TRIPS/WTO và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ trong giai đoạn hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2009
20. Hứa Thị Hồng (2012), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hoá tại biên giới theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan
Tác giả: Hứa Thị Hồng
Năm: 2012
21. Đỗ Đô Thành (2014), “Hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Đô Thành
Năm: 2014
22. Lê Thành Trung (2006), “Về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS trong tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà NộiIV. Bài báo, bài nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS trong tương quan so sánh với pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lê Thành Trung
Năm: 2006
24. Đỗ Thị Minh Thuỷ, bài viết “Cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản: gợi mở đối với Việt Nam”, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản: gợi mở đối với Việt Nam
25. Luật sư Lê Quang Vinh (2018), bài viết “Một số vấn đề pháp lý liên quan đến giám định SHTT và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam, số 4/2018V. Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý liên quan đến giám định SHTT và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Luật sư Lê Quang Vinh
Năm: 2018
4. Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (2012), Công văn số 1647/C46 (P8) ngày 27/12/2012 về việc cung cấp thông tin tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, Hà Nội Khác
5. Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thương mại và sở hữu trí tuệ (Hiệp định BTA) (2001);6. Hiệp định TRIPS Khác
9. Nghị định 105/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ Khác
10. Nghị định 99/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Khác
11. Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan Khác
12. Nghị định 22/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan Khác
23. Bộ Công An, Những vụ buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại điển hình (Kèm theo Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định 127/QĐ-TTg) của Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w