1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh những vấn đề lý luận và thực tiễn

75 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 8,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình và bài viết liên quan đcn sở hữu trí tuệ theo những cách tiêp cận khác nhau của các luật gia, các tổ chức, cơ quan chức năng, thí dụ: Đề t

Trang 3

LỜI NÓỈ Đ Ầ U 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề t à i 1

2 Tình hình nghiên cứu đề t à i 2

3 M ục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tà i 3

3.1 M ục đích nghiên cứu của đề tà i 3

3.2 N hiệm vụ của việc nghiên cứu đề t à i 3

4 Phạm vi của việc nghiên cứu đề t à i 4

5 Phương pháp nghiên cứu đề tà i 4

6 N hững điểm mới của luận v ă n 5

7 Kêt câu nội dung bài luận văn 5

CHƯ Ơ NG 1 M Ộ T SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ Q UY ÈN s ở HỪU TRÍ TUỆ LIÊN Q U A N ĐÉN CẠNH T R A N H 6

1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tu ệ 6

1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tu ệ 6

1.1.2 Đặc thù của quyền sở hữu trí tu ệ 6

1.1.3 Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương m ại 11

1.2 M ối quan hệ giữa pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh 12 1.2.1 Sự thống nhất giữa pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh

Trang 4

1.2.2 Sự mâu thuẫn giữa pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh

1.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quanđến cạnh tra n h 171.3.1 Khái quát về hệ thống văn bản pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liênquan đến cạnh tra n h 171.3.2 Sự hình thành và phát triển pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đếncạnh tranh trên thế g iớ i 171.3.3 Sự hình thành và phát triển pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đếncạnh tranh ở Việt N a m 191.4 N hững nội dung cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnhtranh 241.4.1 Quyền chổng cạnh tranh không lành mạnh liên quan đển quyền sở hữutrí tu ệ 24

1.4.2 Quyền kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sởhữu trí t u ệ 25CHƯƠNG 2 THỰ C TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ Q UY ỀN s ở HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUA N ĐẾN CẠNH TRANH Ở VIỆT N A M 272.1 Các quy định về quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật hiện h à n h 272.1.1 N hững ưu điểm của pháp luật hiện hành về quyền chống cạnh tranhkhông lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí t u ệ 272.1.2 N hững hạn chế của pháp luật hiện hành về quyền chống cạnh tranhkhông lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí t u ệ 36

Trang 5

2.1.1 N hững ưu điểm của pháp luật hiện hành về quyền kiểm soát hành vi

hạn chế cạnh tranh liên quan đển quyền sở hữu trí tu ệ 43

2.1.2 N hững hạn chế của pháp luật hiện hành về quyền kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tu ệ 55

CHƯƠNG 3 H O À N THIỆN PHÁP LU Ậ T VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN Đ ẾN CẠNH T R A N H 56

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tra n h 56

3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tra n h 59

3.3 M ột số giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tra n h 60

3.3.1 Giải pháp pháp lý 60

3.3.2 G iải pháp thực thi pháp lu ậ t 64

KẾT L U Ậ N 66

DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM K H Ả O 69

Trang 6

LỜI NÓI ĐÀU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu tiêu dùng của xã hội cũng được nâng cao Khách hàng ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Để đạt được sự thỏa mãn của khách hàng, các doanh nghiệp đã không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm mình cung cấp Cạnh tranh

đã trở thành quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, là yếu tố sống còn của doanh nghiệp

Phát huy mọi lợi thế, trong đó điển hình là lợi thế về giá trị sở hữu trí tuệ

là điểm dễ thấy nhất trong chiến lược phát triển và cạnh tranh của các doanh nghiệp Các giá trị sở hữu trí tuệ đã bộc lộ rõ tính thương mại cũng như chứng minh vai trò quan trọng của nó trong cạnh tranh, là lợi thế đặc biệt trong cạnh tranh Đen lượt mình, cạnh tranh lại tạo môi trường để các giá trị sở hữu trí tuệ được phát triển Sở hữu trí tuệ và cạnh tranh có mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ đòi hỏi phải được phát triển hài hòa và bền vững

Tuy nhiên, tính thương mại của sở hữu trí tuệ trước đây không được quan tâm và bởi vậy cũng ít được các luật gia, học giả Việt Nam nghiên cứu Ngày nay, với những tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế, chúng ta dần quan tâm và thay đổi nhận thức trong lĩnh vực này Việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, việc gia nhập WTO, trong đỏ có Hiệp định TRIPS, thương mại được hiểu theo nghĩa rộng, trong đó bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đã tạo cơ

sở cho việc nghiên cứu sở hữu trí tuệ dưới góc độ pháp luật kinh tế - thương mại

Hơn nữa, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Với tư cách là một thành viên của các tổ chức quốc tế, Việt Nam có nghĩa

vụ tuân thủ các “luật chơi” chung trong một “sân chơi chung” và phải chịu nhiều tác động của nền kinh tế mang tính toàn cầu Để hội nhập, chúng ta cần phải có những bước đi chủ động và tích cực trong việc làm tương thích và hài hoà luật pháp Việt Nam với những cam kết quốc tế Một trong những lĩnh vực mà chúng

ta cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung là lĩnh vực pháp luật về sở hữu trí tuệ

Trang 7

quyết vấn đề quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ như xác lập quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Trong thương mại hiện đại, quyền sở hữu trí tuệ không chỉ có ý nghĩa đối với các chủ thể kinh doanh mà còn đối với người tiêu dùng và xã hội c ầ n phải có một hệ thống pháp luật đảm bảo vận động nhanh, thuận lợi và an toàn cho các đối tượng sở hữu trí tuệ.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, vấn đề quvền sở hữu trí tuệ đã được nghiên cứu từ lâu, đặc biệt, những khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh Tuy nhiên ở Việt Nam, vấn đề này còn khá mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, phản ánh đúng trình độ khoa học - công nghệ

và sự phát triển kinh tế - thương mại ở nước ta

Xuất phát từ vai trò của sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển của kinh tế đất nước trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập, quyền sờ hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh đã trở thành vấn đề thời sự trong giai đoạn hiện nav Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình và bài viết liên quan đcn sở hữu trí tuệ theo những cách tiêp cận khác nhau của các luật gia, các tổ chức, cơ quan chức năng,

thí dụ: Đề tài “Nâng cao vai trò và năng lực của toà án trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vẩn đề lý luận và thực tiễn” năm 1999 của Toà án nhân dân tối cao; “Pháp luật về sở hữu trí tuệ - Thực trạng và xu hướng phát triển trong những năm đầu của thế kỷ XXI" năm 2002 của Bộ Tư pháp; “Quyền sở hữu trí tuệ" năm 2001 của Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Bách; “Tạo dựng và quản trị Thương hiệu - Danh tiếng - Lợi nhuận"’ năm 2003 do tác giả Lê Anh Cường biên soạn; Luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Ngọc Thanh về "Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá theo hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa K ỹ ' năm 2004; Luận văn thạc sỹ của tác giả Hồ Ngọc Hiển về "Pháp luật bào hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam thực trạng và giái pháp hoàn thiện ” năm 2004; Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Văn Luật với đề tài

"Bào hộ quyền sở hữu công nghiệp đổi với nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam" năm 2005; Luận án tiến sv của tác giả Nguyễn Thanh Tâm “Quyền sở hữu công

Trang 8

nghiệp dưới góc độ thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ” năm 2005; Luận văn thạc sỹ của tác giả Chu Thị Thu Hương về “Đánh giá yếu tố xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng giả trong hoạt động quản lý thị trường" năm 2006; Luận văn thạc sỹ của tác giả Dương Thị Mai Hoa “Viphạm quyền sở hừu kiêu dáng công nghiệp - Thực trạng và biện pháp xử lý ở Việt Nam ” năm

2006, của Đặng Thị Hoài Thu "Thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam trước những yêu cầu hội nhập WTO" năm 2006; Luận văn thạc sỹ của tác giả Châu Thị Vân về "Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đổi với bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam ” năm 2007.

Các công trình trên đã ít nhiều đề cập đến nội dung quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào mang tính tổng thể và đề cập trực tiểp tới vấn đề hoàn thiện các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh Do đó, đề tài này về cơ bản là mới

và chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

(i) Tiếp cận và nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

(ii) Tìm ra các ưu, nhược điểm của các quy định pháp luật hiện hành về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh trong mối tương quan với nhu cầu điều chỉnh của xã hội và trong mối quan hệ với pháp luật các nước trên thế giới.(iii) Đe xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

3.2 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Đe thực hiện được mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn chủ yếu tập trung vào những nhiệm vụ sau:

(i) Tiếp cận và phân tích khái quát về quyền sở hữu trí tuệ

(ii) Xác định mối quan hệ giữa pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ với pháp ỉuật cạnh tranh nhằm tìm ra mối quan hệ giữa hai lĩnh vực pháp luật này

Trang 9

(iii) Phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh đề nắm bắt một cách có hệ thống các quy định pháp luật này trong từng giai đoạn nhất định.

(iv) Xác định rõ những nội dung cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh sẽ được nghiên cứu

(v) Phân tích, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật hiện hành liên quan đến từng nội dung của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh, trên cơ sở so sánh với pháp luật các nước trên thế giới cũng như nhu cầu điều chỉnh bàng pháp luật của Nhà nước

(vi) Xác định quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh Đồng thời đưa ra các giải pháp cơ bản để hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực này

4 Phạm vi của việc nghiên cứu đề tài

Quyền sở hữu trí tuệ theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm ba bộ phận cấu thành là quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với cây trồng Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ luật học, luận văn chủ yếu tập trung phân tích các quy định về quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến cạnh tranh Các quy định về quyền tác giả và quyền liên quan, quyền đối với cây trồng liên quan đến cạnh tranh được phân tích ở mức độ hạn chế hơn

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là quan điểm về phát triển khoa học - công nghệ và sở hữu trí tuệ, về thị trườns khoa học - công nghệ, hội nhập kinh tế quốc tế và hướng tới nền kinh tế tri thức Phương pháp phân tích, tổng họp được sử dụng để làm rõ các quy định của WTO cũng như pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh Ngoài ra, phương pháp so sánh, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống hoá cũng được sử

Trang 10

dụng nhăm đặt vân đê nghiên cứu trong quá trình phát triên lịch sử của pháp luật Việt Nam, cũng như so sánh với các quy định của WTO hiện hành để tìm ra những tồn tại, nhằm có những giải pháp hoàn thiện các chế định này trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thể giới (WTO)

6 Những điểm mới của luận văn

(i) Là luận văn thạc sỹ đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật

về sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh Cụ thể, luận văn tiếp cận các quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ ở góc nhìn thương mại và cạnh tranh; chỉ ra mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và cạnh tranh Trên cơ sở đó, luận văn xác định nội hàm của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

(ii) Luận văn phân tích và đánh giá một cách khách quan và có hệ thống những nội dung cơ bản của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

(iii) Luận văn đưa ra các định hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh, nhàm tạo cơ sở pháp

lý bảo đảm cho sự hài hoà giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm quyền tự

do cạnh tranh

7 Kết cấu nội dung luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đếncạnh tranh

Chương 2 Thực trạng pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranhChương 3 Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

Trang 11

CHƯƠNG 1.

MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ QƯYÈN S Ở HỮU TRÍ TUỆ

LIÊN QUAN ĐẾN CẠNH TRANH

1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ

/ 1.1 Khái niệm quyền sở hữu tri tuệ

Theo nghĩa khách quan: Quyền sở hữu trí tuệ là tổng hợp các quy phạm

pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong việc sáng tạo, khai thác và sử dụng các sản phẩm trí tuệ, bao gồm các quy định về xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo, sử dụng và chuyển giao các đối tượng sở hữu trí tuệ, quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm [5, tr.8]

Theo nghĩa chủ quan: Quyền sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu của tổ chức,

cá nhân đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Trong

đó, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu; quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá; quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích họp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh; quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới

do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu (Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005)

1.1.2 Đặc thừ của quyền sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ là quyền đổi với kết quả của hoạt động

sáng tạo Sản phẩm trí tuệ không đơn thuần tạo ra qua quá trình lao động giản đơn, không thè được tạo ra một cách dễ dàna đối với neười có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỳ thuật tương ứn°, mà là kết quả cùa hoạt động mang tính

Trang 12

sáng tạo, là bước tiến sáng tạo của con người Do đó, để được bảo hộ, các đối tượng sở hữu trí tuệ phải đạt được những tiêu chí nhất định: đối với tác phẩm phải mới về một hoặc nhiều phương diện như nội dung tác phẩm, hình thức diễn đạt, ngôn ngữ thể hiện được quy định tại Điều 736 Bộ luật Dân sự 2005; đối với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp phải được công nhận là mới so với trình độ

kỹ thuật trên thế giới và đáp ứng các điều kiện tại Điều 58, Điều 63 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 là tính mới, có trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp; đối với thiết kế bố trí phải đáp ứng các tiêu chí tại Điều 68 Luật Sở hữu trí tuệ

2005 gồm tính nguyên gốc và tính mới thương mại Tương tự như vậy, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng mới cũng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Khi một đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ, thì những đối tượng trùng hoặc tương tự sẽ không được bảo hộ nữa và việc cố ý sử dụng chúng sẽ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Thứ hai, quyền sở hữu trí tuệ là quyền đối với tài sản vô hình Sản phẩm

trí tuệ bao gồm các tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá; sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết ké bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và giống cây trồng mới Đây là các tài sản vô hình không thể cầm nắm, chiếm hữu như các tài sản hữu hình Các đối tượng sở hữu trí tuệ có thể được thể hiện dưới các hình thức khác nhau nhưng điều đó không có nghĩa nó là tài sản hữu hình, hình thức thể hiện đó chỉ là phương thức

để thông qua đó, các ý tưởng sáng tạo được định hình Do tính vô hình của các sản phẩm trí tuệ nên việc định giá chúng rất khó, nó không phải giá của một quyển sách hay giá một cái nhãn được dán trên hàng hoá hoặc giá trị của một bản vẽ thể hiện kiểu dáng công nghiệp hay giá của bất kỳ hình thức vật chất hoá sản phấm trí tuệ nào khác Giá trị của chúng được đánh giá thông qua sự tiếp nhận của thị trường, doanh số bán ra, doanh thu và khả năng cạnh tranh Giá trị

đó không hề bị giảm đi qua quá trình sử dụng như các tài sản hữu hình, mà ngược lại càng được sử dụng nhiều giá trị quyền sở hữu trí tuệ lại tăng lên

Trang 13

mặc nhiên được bảo hộ ở các quốc gia khác Do vậy, chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ cần nắm bắt và thực hiện việc đăng ký bảo hộ tại các quốc gia mà dự định sẽ tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, tránh trường hợp trở thành người xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với chính đối tượng mà mình đang sở hữu Liên quan đến vấn đề này, các chủ sở hữu cũng cần hiểu rõ lợi thế của việc

sử dụng quyền ưu tiên khi đăng ký bảo hộ tại các quốc gia là thành viên của các công ước về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam ký kết

T hứ tư, quyền sở hữu trí tuệ mang tính thương mại Trong mỗi hàng hoá,

dịch vụ kết tinh rất nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ và chính các yếu tố đó tạo ra

sự khác biệt của các dòng sản phẩm Những sản phẩm được tạo ra từ quá trình lao động chân tay giản đơn thường có giá trị rất thấp, nhưng nếu trải qua những công đoạn chế biến (áp dụng các sáng chế) thì giá trị đó được nâng lên rất nhiều, thí dụ như cà phê dạng thô (dạng quả hoặc qua sơ chế) so với cà phê đã qua chế biến (thành phẩm), giá trị xuất khẩu dầu thô so với xăng, dầu đã được chế biến Hoặc cũng là mặt hàng về mỹ phẩm nhưng những sản phẩm của Avon, Oriflame chỉ có giá trị trung bình ở mức vài trăm nghìn đồng, nhưng những dòng mỹ phẩm cao cấp thì giá trung bình phải tính ở mức vài triệu đồng Sản phẩm càng kết tinh từ nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ thì giá trị càng cao và thật khó có thể tưởng tượng được khi so sánh giá trị các mặt hàng nông nghiệp sơ chế so với các mặt hàng về công nghiệp điện tò Chính các giá trị sở hữu trí tuệ kết tinh trong

đó đã tạo nên sự khác biệt về giá trị mỗi hàng hoá, nó trở thành một trong những yếu tố cấu thành hàng hoá, dịch vụ, quyết định giá trị của hàng hoá, dịch vụ và

là một trong các lợi thế cạnh tranh Nhà đầu tư nào biết nắm bắt giá trị của đối tượng sở hữu trí tuệ, sử dụng chúng một cách hiệu quả trong hoạt động kinh doanh thì đó sẽ là một công cụ đắc lực để cạnh tranh Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn hoạt động kinh doanh, người ta đã rút ra rằng trong chuồi giá trị của một ngành công nghiệp thì hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D) và chiến lược tiếp thị tạo ra giá trị lớn nhất Cả hai hoạt động này đều là quá trình hoạt động trí tuệ của con người, có sự tạo ra và kết hợp các đối tượng sở hữu trí tuệ

Trang 14

Nhà đầu tư khôn ngoan là nhà đầu tư tập trung cho các hoạt động tạo ra các sàn phẩm là đổi tượng của quyền sở hữu trí tuệ

Thứ năm , quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh bởi một cơ chế riêng

Trước hết, đó là cơ chế bảo hộ đặc biệt, cơ chế này tạo cho chủ sở hữu trí tuệ có những quyền năng nhất định bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Đối với quyền tác giả, quvền nhân thân và quyền tài sản được quy định tại Điều 19, Điều

20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công

bố, sử dụng; quyền công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; quyền làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn, sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm; cho thuê bản gốc tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính Quyền nhân thân và quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 122, Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm: quyền được ghi tên tác giả trong văn bàng bảo hộ; được nêu tên tác giả trong các tài liệu công bố, giới thiệu; quyền nhận thù lao; quyền của chủ sở hữu được sử dụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; quyền định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp Quyền nhân thân và quyền tài sản đối với giống cây trồng mới được quy định tại Điều

185, Điều 186 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, theo đó, tác giả giống cây trồng được ghi tên với danh nghĩa là tác giả trong Bằng bảo hộ giống cây trồng, sổ đăng ký quốc gia về giống cây trồng và trong các tài liệu công bố, được nhận thù lao đối với giống cây trồng do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển; chủ văn bàng bảo

hộ có quyền sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng các quyền liên quan đến vật liệu nhân giống, quyền ngăn cấm người khác sử dụng giống cây trồng, quyền

để thừa kế, kế thừa quyền, chuyển giao quyền đối với giống cây trồng

Đe được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng mới, các chủ thể có quyền phải tiến hành đăng kv tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp văn bằng bảo hộ Việc đăng ký này là thủ tục bắt buộc và là

cơ sở chứng minh tài sản sở hữu trí tuệ đã thuộc về một chủ thể xác định Neu

Trang 15

một người đã đầu tư nhiều công sức để tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp

mà không tiến hành đăng ký quyền cho đối tượng đó thì không được pháp luật bảo hộ trong trường hợp có người khác chiếm đoạt hoặc đăng ký trước Bên cạnh các đối tượng bắt buộc đăng ký như nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích họp bán dẫn, chỉ dẫn địa lý, giống cây tròng mới thì có một số đối tượng được xác lập theo cơ chế tự động mà không cần đăng ký như bí mật kinh doanh và tên thương mại Đối với quyền tác giả và quyền liên quan, Nhà nước khuyến khích đăng ký bảo hộ Điều này sẽ là

sự hỗ trợ lớn cho các chủ thể trong nghĩa vụ chứng minh khi có tranh chấp xảy

ra [5, tr 107-108]

Cơ chế điều chỉnh đặc thù cũng bao hàm cả tính đặc thù trong biện pháp bảo vệ quyền sờ hữu trí tuệ Bên cạnh các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản thông thường như biện pháp hành chính, dân sự, hình sự thì đối với tài sản trí tuệ còn có thêm hai biện pháp nữa là biện pháp tự bảo vệ và biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ

1.1.3 Vai trò của quyền sở h ữ u trí tuệ trong hoạt động thương mại Thứ nhất, các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tố

cấu thành hàng hoá, dịch vụ Ngày nav, khi nền kinh tế phát triển, cùng với sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường chúng ta thấy xuất hiện ngày càng nhiều hơn, rõ nét hơn các đối tượng sở hữu trí tuệ chứa đụng trong những hàng hoá, dịch vụ Đó là những tác phẩm kiến trúc đặc sắc với những đường nét riêng có, đó là những kiểu dáng, mẫu mã hàng hoá, chất liệu v.v ở bất kỳ sản phẩm nào của nền công nghiệp, chúng ta cũng nhận thấy những yếu tố trí tuệ cấu thành trong đó

Thứ hai, các đối tượng sở hữu trí tuệ được ứng dụng trong hoạt động kinh

tế - thương mại Sẽ là thiếu sót khi nói đến vai trò của quyền sở hữu trí tuệ đổi với hoạt động thương mại mà không nhắc đến khả năng ứng dụng thương mại của nó Đó chính là khả năng đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội, khả năng tạo ra

và gia tăng giá trị cho một dòng sản phẩm đặc thù, có sức cạnh tranh trên thị trường Có thể nhẳc đến một vài ứng dụng thương mại trong nền công nghiệp ô

tô, xe máy, điện tử với những mẫu mã, kiểu dáng luôn được cải tiến, mang tính đột phá; nền công nghiệp may mặc với những thiết kế đa dạng và táo bạo; công

Trang 16

nghiệp mỹ phẩm với đường nét sản phẩm tạo sự sang trọng, lôi cuốn, khẳng định đẳng cấp và chất lượng sản phẩm v.v Không những thế, tính áp dụng công nghiệp của đối tượng sở hữu trí tuệ cũng được quy định là một tiêu chí bắt buộc để được bảo hộ trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 tại các Điều 62, Điều 67 Theo đó: “kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài

là kiêu dáng công nghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp”, “sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định” Ngày nay, sự ứng dụng của đối tượng sở hữu trí tuệ dần trở nên phổ biến và chúng ta có thể nhận ra nó trong bất kỳ sản phẩm nào trên thị trường hàng hoá, dịch vụ

Thứ ba, các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố thể hiện lợi thế

cạnh tranh trong thương mại và là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lực của các nhà đầu tư Có thể thấy rõ sự khác biệt về giá trị giữa những sản phẩm ở dạng thô với những sản phẩm đã qua chế biến, những sản phẩm cùng loại mang nhãn hiệu khác nhau, mẫu mã, kiểu dáng khác nhau, những bí mật kinh doanh tưởng như đơn giản song lại tạo một sức mạnh cạnh tranh vô cùng lớn

Thứ tư, các đối tượng sở hữu trí tuệ là loại tài sản có giá trị kinh tế to lớn,

là loại hàng hoá đặc biệt Nó có thể được sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp hoặc thế chấp cho các khoản vay Một vài con số định giá dưới đây có thể phần nào thể hiện giá trị của đối tượng sở hữu trí tuệ: định giá nhãn hiệu Coca-Cola năm 2002: 69,94 tỷ USD, nhãn hiệu Microsoít năm 2002: 64,09 tỷ USD, Samsung năm 2002: 8,31 tỷ USD [3, tr.230]

Thứ năm , quyền sở hữu trí tuệ với tính độc quyền có thể bị lạm dụng để

cản trở thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Quyền độc quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp tạo cho chủ sở hữu nó khả năng chiếm giữ vị trí thống lĩnh, độc quyền trên thị trường Việc lạm dụng quvền độc quyền đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ có thể làm hạn chế cạnh tranh và ở một mức độ nhât định nó sẽ triệt tiêu cạnh tranh Khi một nhà đầu tư có toàn quyền định đoạt thị trường và giá cả tất yểu sẽ ảnh hưởng lớn đến người tiêu dùna, và nền kinh tế

Trang 17

1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật về quyền sỏ’ hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh

1.2.1 S ự thống nhất giữa pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh

Thứ nhất, pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh cùng

có mục tiêu chung là bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng, sự thịnh vượng của

nền kinh tể và kích thích sự sáng tạo Tại Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy

định chính sách Nhà nước về sở hữu trí tuệ đã nêu rõ:

1 Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tỏ chức, cá nhăn trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi

ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức

xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh.

2 Khuyến khích, thúc đấy hoạt động sáng tạo, khai thác tài sản trí tuệ nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, năng cao đời sổng vật chất

và tinh thần của nhân dân.

Và tại Điều 4 Luật Cạnh tranh 2004 quy định về quyền cạnh tranh trong

kinh doanh cũng nêu rõ:

1 Doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật

Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh.

2 Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực,

không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi

ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng.

Như vậy, việc Nhà nước bảo hộ cho các quyền sở hữu trí tuệ là nhằm kích

thích hoạt động sáng tạo, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh và ngày càng

tạo ra nhiều hơn nữa các sản phẩm tiêu dùng có chất lượng cho xã hội Trong

những trường họp nhất định, mà việc bảo hộ sẽ gây bất lợi cho người tiêu dùng,

thì Nhà nước cũng có những biện pháp như cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở

hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ

phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một sổ quyền của mình

với những điều kiện phù hợp Cũng giống như Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật

Trang 18

Cạnh tranh 2004 nhằm bảo vệ môi trường cạnh mạnh lành mạnh, mang đến cho người tiêu dùng những lợi ích tốt nhất Khi trên thị trường xuất hiện hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc độc quyền, Nhà nước sẽ có những biện pháp tác động để cân bằng thị trường, hạn chế tối đa những bất lợi cho người tiêu dùng Sự thống nhất về mục tiêu này là cơ sở tạo nên mối quan hệ mật thiết, hữu cơ giữa pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh

Thứ hai, quyền sở hữu trí tuệ là một trong yếu tố thúc đẩy cạnh tranh Như

đã phân tích ở trên, các đối tượng sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tổ cấu thành hàng hoá, dịch vụ và quyết định giá trị cho hàng hoá, dịch vụ ấy Bởi vậy, việc sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ là một trong những lợi thế đặc biệt trong cạnh tranh Các nhà đầu tư sớm nhận ra ràng sản phẩm của họ kết tinh càng nhiều đổi tượng sở hữu trí tuệ thì giá trị và khả năng cạnh tranh trên thị trường càng cao Quyền sở hữu trí tuệ đã tham gia vào hoạt động thương mại và thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường Sự phát triển không ngừng của trí tuệ con người, của quá trình hoạt động sáng tạo luôn làm cho cái mới không ngừng được sản sinh thay thê cái cũ lỗi thời, lạc hậu Cái mới của ngày hôm nay là cái cũ của ngày mai và

cứ thế, quá trình sáng tạo, thay thế là quá trình vận động và biển đổi không ngừng Quá trình ấy tạo ra sự cạnh tranh và thúc đẩy cạnh tranh không ngừng

Thứ ba, cạnh tranh tạo môi trường cho các đối tượng sở hữu trí tuệ phát

triển Con người ngày càng quan tâm nhiều hơn đến hình thức (kiểu dáng, mẫu mã) và chất lượng sản phẩm, muốn tồn tại được trên thương trường, các nhà đầu

tư phải có sức mạnh cạnh tranh và họ đi tìm nó trong chính quá trình sáng tạo ra các đối tượng sở hữu trí tuệ, trong lợi thế về quyền sở hữu trí tuệ Quá trình tìm tòi, lao lực để không ngừng phát triển ấy làm cho đối tượng sở hữu trí tuệ ngày càng được sinh ra nhiều hơn, có giá trị hơn Sự cạnh tranh càng mạnh mẽ, quá trình sáng tạo cái mới càng được đầu tư và thúc đẩy nhanh hơn, do đó cạnh tranh

đã tạo ra trong vận động nội tại của nó một môi trường thuận lợi cho sự phát triên các đối tượng sở hữu trí tuệ

Thứ tư, việc lạm dụng tự do cạnh tranh dẫn tới xâm phạm quyền sở hữu

trí tuệ Tự do cạnh tranh là quyền của các chủ thể kinh doanh trong hoạt động của mình nhàm tồn tại và phát triển, tạo chồ đứng trên thương trường Song, quá

Trang 19

trình xây dựng và phát triển thương hiệu rất gian nan, chứa đựng nhiều rủi ro và

khả năng thất bại Bởi vậy, không ít các nhà đầu tư đã lạm dụng quyền tự do

cạnh tranh để thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí

tuệ nhằm đạt được mục đích của mình Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên

quan tới quyền sở hữu trí tuệ giống như những hành vi cạnh tranh không lành

mạnh nói chung, bên cạnh đó nó còn có những biêu hiện tương đối riêng biệt, đó

là nó xâm hại các đối tượng sở hữu trí tuệ Một số hành vi cạnh tranh không lành

mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ phổ biến hiện nay như hành vi làm hàng giả,

hàng sao chép lậu, thông tin sai lệch tên gọi xuất xứ hàng hoá, v.v Nếu một

hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

thì nó sẽ vừa vi phạm pháp luật về cạnh tranh, vừa vi phạm pháp luật về sở hữu

trí tuệ Nói cách khác, giữa quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và quyền

sở hữu trí tuệ có mối quan hệ nội tại, gắn bó chặt chẽ và trực tiếp ảnh hưởng đến

nhau [3, tr.26-27] Bởi vậy, với những quy định của pháp luật cạnh tranh nhằm

hướng hoạt động cạnh tranh theo khuôn khổ, đảm bảo môi trường cạnh tranh

lành mạnh cũng đồng thời góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

T hứ năm, quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm làm môi trường cạnh tranh

thiếu lành mạnh Khi quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm cũng đồng nghĩa với

việc các đối tượng sở hữu trí tuệ đã bị chiếm đoạt hoặc sử dụng một cách bất

hợp pháp Những đổi tượng sở hữu trí tuệ được đưa vào thị trường cạnh tranh

gây nhầm lẫn cho khách hàng về sản phẩm và chất lượng hàng hoá, ảnh hưởng

đến quyền lợi người tiêu dùng, uy tín, thương hiệu của chủ sở hữu đối tượng sở

hữu trí tuệ Ở một phạm vi rộng, nó có thể làm bất ổn nền kinh tế, gây thiệt hại

cho Nhà nước và xã hội Bởi vậy, với những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí

tuệ, pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ cũng đồng thời góp phần đảm bảo cho môi

trường cạnh tranh lành mạnh

1.2.2 S ự m âu thuẫn giữa pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và pháp

luăt canh tranh• •

T hứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ với tính độc quyền có thể bị lạm dụng để

cản trở thương mại Quyền sở hữu trí tuệ được đặc trưng bởi độc quvền của chủ

sở hữu trong việc khai thác côna, nghiệp và thương mại đối với các đối tượng sở

Trang 20

Có thể dẫn chiếu tại đây một ví dụ về hậu quả của cơ chế độc quyền trong ngành dược phẩm Theo bài viết “Những tác động từ sở hữu trí tuệ dược phẩm” đăng tải trên website www.traphaco.com.vn, đã đưa ra một số tác động của độc quyền sở hữu trí tuệ đối với dược phẩm như: trong khi ngành dược phẩm Việt Nam đang gặp phải những bất cập về cơ chế quản lý, thông tin thuốc bị hạn chế, công nghiệp dược nội địa trình độ thấp thì việc áp dụng các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ dược phẩm đã cho phép các doanh nghiệp dược nước ngoài tự định giá và lựa chọn cơ chế phân phối thích hợp Nhất là trong thời gian tới, khi

mà yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với dược phẩm của các hãng dược nước ngoài sẽ càng khắt khe hơn Tác giả bài viết cũng đưa ra con số thống kê về số bằng độc quyền được cấp liên quan đến dược phẩm, mồi năm có khoảng 80 bàng độc quyền nhưng chủ yếu là dược phẩm nước ngoài Thị phần công nghiệp dược nội địa trong thị trường độc quyền bằng không

do các doanh nghiệp dược trong nước chủ yếu đầu tư sản xuất các thuốc đã hết thời hạn bảo hộ sáng chế Kết quả thanh tra về giá thuốc của Bộ Y tế cho thấy, trong khi mức chênh lệch giữa giá nhập khẩu và giá bán buôn của các Công ty xuất nhập khẩu dược phẩm chỉ chênh lệch 5-8%, thì thuốc được nhập khẩu uỷ thác của các Công ty phân phối độc quvền một số loại thuốc nhất định có tỷ lệ chênh lệch lên đến 50-300% Đâv là một con số rất đáng phải suy nehĩ Và vì vậy,

Trang 21

bên cạnh việc khuyến khích và thực thi có hiệu quả công tác báo hộ dộc quyền sở

hữu trí tuệ thì cũng cần phải ngăn ngừa tình trạnh lạm dụng các quyền mà pháp luật

cho phép để thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, thậm chí dẫn đến độc quyền

nhàm cản trở sự tiếp cận của người tiêu dùne đối với các sản phẩm là nhu yếu

phẩm trong cuộc sống

Thứ hai, các hành vi hạn chế cạnh tranh được pháp luật cạnh tranh cho

phép có thể xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Pháp luật cạnh tranh mang tính mềm

dẻo, linh hoạt cao, điều đó được thể hiện rất rõ trong các quy định về hạn chế

cạnh tranh Theo đó, không phải hành vi hạn chế cạnh tranh nào được đề cập

trong luật cạnh tranh cũng bị pháp luật cấm, có những hành vi phải kèm theo điều

kiện nhất định mới trở thành hành vi cấm Điều đó đồng nghĩa với việc pháp luật

cạnh tranh trong chừng mực nhất định vẫn cho phép một số hành vi hạn chế cạnh

tranh, trong đó có các hành vi cạnh hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở

hữu trí tuệ, thí dụ: theo quy định của pháp luật về cạnh tranh thì thoả thuận hạn

chế phát triển kv thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thoả thuận áp đặt cho doanh

nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá dịch vụ hoặc buộc

doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối

tượng hợp đồng không phải là hành vi bị cẩm trong trường hợp các bên tham gia

thoả thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan dưới 30% Trong khi đó,

pháp luật về sở hữu trí tuệ lại cấm ghi nhận các điều khoản này trong họp đồng

chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ và các điều khoản này nếu được ghi nhận trong

hợp đồng thì mặc nhiên vô hiệu Như vậy, việc thực hiện một số hành vi hạn chế

cạnh tranh liên quan đến sở hữu trí tuệ theo pháp luật cạnh tranh sẽ xâm phạm

quyền kiểm soát hành vi hạn chể cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

1.3 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về sở hũ'11 trí tuệ liên

quan đến cạnh tranh

1.3.1 Khái quái về hệ thống văn bản pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

Các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh là một bộ

phận của pháp luật về sở hữu trí tuệ nên hệ thống văn bản pháp luật về quyền sở

Trang 22

1 7

hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh trước hết cũng chính là hệ thống văn bản

pháp luật về sở hữu trí tuệ Mặt khác, khi phân tích nội dung quyền sở hữu trí

tuệ liên quan đến cạnh tranh cũng sẽ đồng thời đề cập tới các quy định của pháp

luật cạnh tranh liên quan đến sở hữu trí tuệ Theo đó, hệ thống văn bản pháp luật

về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh bao gồm: Hiến pháp; các điều

ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ; Bộ luật Dân sự 2005; Bộ luật Hình sự

1999; Luật Sở hữu trí tuệ 2005; Luật Cạnh tranh 2004; Luật Thương mại 2005;

Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Đầu tư 2005, Luật Chuyển giao công nghệ 2006

và các văn bản có liên quan

1.3.2 S ự hình thành và phát triển pháp luật về sở hữ u trí tuệ liên quan đến cạnh tranh trên th ế giới

Thủ' nhất, pháp luật về sở hữu trí tuệ quốc tế được đánh dấu từ Công ước

Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp Với các quy định về cạnh tranh không

lành mạnh tại Điều 10bls và quy định về licence bắt buộc (compulsory licence)

tại Điều 5A, Công ước đã đưa ra khái niệm về hành vi bị coi là cạnh tranh không

lành mạnh về sở hừu trí tuệ đồng thời cụ thể hoá các hành vi cạnh tranh không

lành mạnh phải bị ngăn cấm, chủ vếu nhấn mạnh đến chỉ dẫn nhầm lẫn và những

khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng gây mất uy tín đối

với cơ sở sản xuất, hàng hoá, hoạt động công nghiệp hoặc thương mại của đổi

thủ cạnh tranh Công ước cũng đề cập việc các quốc gia thành viên đưa ra các

biện pháp pháp lý quy định về licence bẩt buộc

Trong thời gian này, các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các cơ chế của

pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay

kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Nhưng

qua quá trình áp dụng trong thực tiễn, đã sớm bộc lộ những hạn chế Quyền sở

hữu trí tuệ với những đặc thù của nó mà việc áp dụng các quy định của pháp luật

cạnh tranh để điều chỉnh là không đủ, pháp luật cạnh tranh chỉ được viện dẫn khi

hành vi xâm phạm đã xảy ra Và cũng bời những đặc thù của quyền sở hữu trí

tuệ nên cần có các quv định bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và

kiêm soát hành vi hạn chế cạnh tranh phù hợp

THƯ V I Ễ N

ĨRƯƠNGĐAIHỌC LỪÂĨHÀ NÔI PHỎNG DOC

Trang 23

Chính từ những phát sinh từ thực tế trong quá trình thực hiện pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh, các quốc gia trên thế giới đã xâv dựng hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ độc lập, với các quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh.

Thứ hai, Hiệp định TRIPS 1994 - Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên

quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ngày 15/4/1994 - là một bước tiến trong các quy định về quyền sở hừu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh Hiệp định dành khá nhiều điều khoản quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến sở hữu trí tuệ Phần III của Hiệp định quy định các biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũr)2 là các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh bao gồm biện pháp dân sự, hành chính, hình sự, biện pháp kiểm soát biên giới, các biện pháp tạm thời Hiệp định cũng có những quy định về khống chế các hành vi hạn chế cạnh tranh trong các hợp đồng licence, quy định khá chi tiết về các trường họp, điều kiện áp dụng licence bắt buộc

So với Công ước Paris 1883 thì Hiệp định TRIPS 1994 là một bước tiến sâu hơn trong việc quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đén cạnh tranh Hiệp định đã đề cập tới mọi góc cạnh sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh, đồng thời đã quy định về các biện pháp bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Thứ ba, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 2000, tại chương II

quy định về quyền sở hữu trí tuệ, đã khắng định sự tuân thủ các quy định của Hiệp định TRIPS 1994 về các biện pháp bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến sở hữu trí tuệ Hiệp định ghi nhận các biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ bao gồm biện pháp dân sự, hình sự, hành chính, thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới, các biện pháp tạm thời; ghi nhận quy định về licence bắt buộc (trừ licence đối với nhãn hiệu hàng hoá và thiết kế bố trí mạch tích hợp); ghi nhận các ngoại lệ đối với quyền độc quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp; quy định trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc quy định cụ thể trong pháp luật quốc gia những thủ tục cho phép hành động một cách có hiệu quả chống lại việc xâm phạm các quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm các biện pháp kịp thời ngăn chặn xâm

Trang 24

phạm và các chế tài đủ mạnh đê ngăn ngừa xâm phạm và có các biện pháp bảo

vệ có hiệu quả chổng sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ

Ngoài ra, còn một số văn bản pháp luật quốc tế khác đề cập đến quyền sở

hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh, như: Hiệp ước Budapest 1977 về công nhận

quốc tế đối với việc nộp lưu chủng vi sinh nhằm tiến hành các thủ tục patent;

Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới 1991, Tuy nhiên, các điều

khoản liên quan đến nội dung này không nhiều

1.3.3 S ự hình thành và phát triển pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, pháp luật về sở hữu trí tuệ ra đời muộn hơn so với thế giới

và do vậy những quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh cũng

là vấn đề mới và đang dần từng bước hoàn thiện Có thể chia sự phát triển của

pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh thành hai giai đoạn:

giai đoạn trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và giai đoạn từ khi có Luật Sở

hữu trí tuệ 2005 cho đển nay

T h ứ nhất, giai đoạn trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ 2005:

(i) Từ năm 1945 đến năm 1989

Pháp luật về sở hữu trí tuệ mang tính đơn hành, không có hệ thống, nặng

tính bao cấp, chưa quan tâm điều chỉnh tài sản trí tuệ của cá nhân, tổ chức, chủ

yếu bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể Các văn bản pháp luật chủ yếu là Nahị

định của Chính phủ, không có văn bản luật, pháp lệnh Nghị định số 31-HĐCP

ngày 23/01/1981 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về sáng kiến cải tiến

kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và sáng chế được bảo hộ theo cơ chế cấp bằng tác

giả sáng chể hoặc cấp bằng sáng chế độc quyền Tương tự như vậy, quyền tác

giả được bảo hộ theo quy định tại Nghị định số 142/HĐBT ngày 14 tháng 12

năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng [5, tr.27-28]

Từ sau năm 1986, quvền dân sự của cá nhân, tổ chức được Nhà nước

quan tâm bảo hộ Các nghị định về quyền sở hữu trí tuệ liên tiếp được han hành

gồm Nghị định số 85/HĐBT ngày 13/5/1988 ban hành Điều lệ về kiểu dáng

công nghiệp, Nghị định số 200/HĐBT ngày 28/12/1988 ban hành Điều ỉệ về giải

/(

Trang 25

pháp hữu ích, [5, tr.28] Trong giai đoạn này, chưa có khái niệm về cạnh tranh

cũng như các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

(ii) Từ năm 1989 đến trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ 2005:

Pháp luật sở hữu trí tuệ dần được hệ thống hoá và pháp điển hoá trong các

pháp lệnh, Bộ luật Dân sự và đặc biệt trong văn bản pháp lý cao nhất của Nhà

nước là Hiển pháp

Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ban hành ngày 28/01/1989

điều chỉnh các quan hệ về quyền sở hữu công nghiệp và Pháp lệnh bảo hộ quyền

tác giả được ban hành năm 1994 để điều chỉnh các quan hệ về quyền tác giả

Lần đầu tiên thuật ngữ “quyền sở hữu công nghiệp’', “quyền tác giả” được sử

dụng là một thuật ngữ pháp lý, gắn với việc công nhận một quyền pháp lý Năm

đối tượng sở hữu công nghiệp gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công

nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá được ghi nhận; các khái

niệm về các đối tượng sở hữu công nghiệp được làm rõ, quyền sử dụng đối

tượng sở hữu công nghiệp, quyền của người sử dụng trước được khẳng định,

quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ; quyền và nghĩa vụ của tác giả, chủ sở

hữu tác phẩm được quy định chi tiết [5, tr.29]

Hiến pháp Việt Nam năm 1992, tại Điều 60 ghi nhận “công dân có quyền

nghiên cứu khoa học và tham gia các hoạt động văn hoá khác Nhà nước bảo hộ

quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp” Tại Điều 30 và 32 Hiến pháp cũng

thể hiện sự đảm bảo bằng pháp luật với những cá nhân sáng tạo các tác phẩm

văn học, nghệ thuật, khoa học Việc quy định vấn đề bảo hộ quyền tác giả,

quyền sở hữu công nghiệp trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, thể hiện

quan điểm ủng hộ, khuyến khích của Nhà nước đối với các chủ thể của quyền sở

hữu trí tuệ, nhằm giải phóng mọi năng lực sáng tạo trí tuệ của con người

Bộ luật Dân sự 1995 quy định về sở hữu trí tuệ tại Phần VI với 79 điều đã

thê hiện một bước phát triên vượt bậc vê trình độ và kỹ thuật lập pháp trong lĩnh

vực sở hữu trí tuệ, thể hiện sự nhạy bén, linh hoạt nắm bắt xu hướng phát triển

các quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ Quy định

trong Bộ luật Dân sự 1995 đã thừa nhận quvền sở hữu trí tuệ là quyền dân sự,

thê hiện sự đôi mới trong quan điêm bão hộ các sáng tạo sở hữu trí tuệ của cá

A

Trang 26

nhân Đồnẹ thời, việc sử dụng khái niệm “sở hữu trí tuệ” - một khái niệm trừu tượng và chưa phổ biến trong thời kỳ đó - thể hiện tư duy mới của Nhà nước ta Quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả mang tính nội hàm của quyền sở hữu trí tuệ Các quy định của Bộ luật Dân sự 1995 cơ bản phù hợp với hai công ước quốc tế là Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và Công ước Beme 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật [5, tr.29]

Đe thực thi các quy định về sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Dân sự 1995, các nghị định liên tiếp được ban hành như: Nghị định số 76/CP ngày 29/11/1996 hướng dần thi hành một số quy định về quyền tác giả, Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về sở hừu công nghiệp, Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 16/3/1999 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01/7/1998 về chuyển giao công nghệ [5, tr.31 ]

Một số đổi tượng của quyền sở hữu công nghiệp chưa được quv định trong Bộ luật Dân sự 1995, phát sinh trong quá trình thực thi được điều chỉnh băng các Nghị định của Chính phủ Đây là giai đoạn pháp luật sở hữu trí tuệ phát triển mạnh mẽ, lần đầu tiên quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp được ghi nhận tại Nghị định số 60/CP ngày 06/6/1997 Tiếp đó, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 về bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp được ban hành, quy định hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm chỉ dẫn gây nhầm lẫn và chiếm đoạt, sử dụng thành quả đầu tư của người khác mà không được người đó cho phép Thực chất hành vi chiếm đoạt, sử dụng thành quả đầu tư của người khác cũng đã bao hàm trong hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn và đó chính là một trong những động cơ, mục đích của việc thực hiện hành vi này Nghị định cũng đưa ra các chế tài xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các chế tài về dân sự, hành chính và hình sự Tuy nhiên, các biện pháp xử lý này chưa đáp ứng đủ yêu cầu xử lý các vi phạm đổi với cạnh tranh không lành mạnh liên

quan đến sở h ữ u trí tuệ do đặc thù của lĩnh vực này.

Tiếp theo, Nghị định số 13/2001/NĐ-CP ngày 20/4/2001 về bảo hộ giống cây trồng mới, Nghị định sổ 42/2003/NĐ-CP ngàv 02/5/2003 về bảo hộ quyền

Trang 27

SỞ hữu công nghiệp đối với thiết kế bổ trí mạch tích hợp bán dần đã có những quy định chi tiết liên quan đến kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh đối với hai đối tượng sở hữu trí tuệ này Điều 13 Nghị định số 13/2001/NĐ-CP và Điều 28 Nghị định 42/2003/NĐ-CP quy định về các trường hợp không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với thiết kể bố trí mạch tích họp và các trường hợp licence bắt buộc đối với giống cây trồng mới.

Bộ luật Dân sự 2005 ra đời thay thế Bộ luật Dân sự 1995 là một bước tiến trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Bộ luật Dân sự 2005 đã đưa ra những nguyên tắc, định hướng để xây dựng luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ Các quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 là những đảm bảo pháp lý cho các chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ thực hiện các quyền dân sự bình đẳng với chủ thể trong các quan hệ dân sự khác [5, tr.31 ]

Tóm lại, trong giai đoạn này, các quy định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh đã hình thành, nhưng với quan điểm quyền sở hữu trí tuệ là quyền dân sự thuần tuý nên pháp luật chưa mạnh dạn đề cập đến vấn đề quyền

sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

Thứ hai, giai đoạn từ khi có Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cho đến nay:

Ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật

Sở hữu trí tuệ, đánh dấu một bước phát triển của pháp luật về sở hữu trí tuệ ở

Việt Nam Với sáu phần và 222 điều, gồm các quy định chung, quy định về

quyền tác giả và quyền liên quan, về quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và điều khoản thi hành, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã điều chỉnh tương đối toàn diện các quan hệ về quyền

sở hữu trí tuệ, đồng thời phản ánh khá đầy đủ và rõ nét về các biện pháp thực hiện quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội hiện đại, thúc đẩy phát triển quan hệ về quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế [5, tr.32]

Một hệ thống các nghị định được ban hành ngay sau đó hướng dẫn thực hiện các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, như: Nehị định số

Trang 28

100/2006/NĐ-CP neàv 21/09/2006 quy định chi tiết và hướne dẫn thi hành một

sổ điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hừu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 104/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng mới; Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dần thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

và quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ; Nghị định sổ 106/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về sờ hữu công nghiệp Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ đầy đủ và toàn diện nhất từ trước đến nay đã thê hiện sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề sở hữu trí tuệ cũng như nỗ lực của Việt Nam trong hội nhập quốc tế

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã thể hiện sự thay đổi về tư duy của pháp luật Việt Nam Quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là quyền dân sự ở trạng thái tĩnh, mà nó ở trạng thái “vận động” với tư cách là quan hệ hàng hoá - tiền tệ, các đối tượng sở hữu trí tuệ được công nhận là hàng hoá - một loại “hàng hoá đặc biệt”

1.4 Những nội dung cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

Đối tượng sở hữu trí tuệ là một yếu tổ thể hiện lợi thế cạnh tranh trong thương mại, nên đã có không ít đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến các đối tượng này để thu lợi bất chính trong kinh doanh Bên cạnh đó, quyền sở hữu trí tuệ với tính độc quyền, có thể bị lạm dụng để cản trở thương mại Để đối phó với các loại hành vi này, pháp luật phải thừa nhận cho các chủ thể kinh doanh quyền chống cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ với tư cách là nội dung của quyền sở hữu trí tuệ Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quvền sở hữu trí tuệ là hai nội dung cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến cạnh tranh

Trang 29

1.4.1 Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền

sở hữu trí tuệ

a) Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 10bis Công ước Paris 1883 về bảo hộ

quyền sở hữu công nghiệp, Hiệp định TRIPS 1994, Luật Cạnh tranh 2004 và

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan

đến quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

o Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn quy định tại Khoản 1 Điều 39, Điều 40 Luật

Cạnh tranh 2004; Điểm a, b Khoản 1 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

o Hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh quy định tại Điều 39 Hiệp định

TRIPS 1994; Khoản 2 Điều 39, Điều 41 Luật Cạnh tranh 2004

o Hành vi “ăn cắp” tên miền trên Internet quy định tại Điểm d khoản 1

Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

o Hành vi sử dụng nhãn hiệu theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 130

Luật Sở hữu trí tuệ 2005

b) Các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền

sở hữu trí tuệ:

o Quyền tự bảo vệ được quy định tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

o Biện pháp hành chính quy định tại Mục 2 Hiệp định TRIPS 1994, Khoản

3 Điều 211, Điều 215 Luật Sở hữu trí tuệ 2005; Nghị định số 106/2006/NĐ-

CP ngày 22/09/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công

nghiệp Điều 30, Điều 31 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005

quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh

o Biện pháp dân sự được quy định cụ thể tại Mục 2 Hiệp định TRIPS

1994, Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

o Biện pháp hình sự được quy định tại Điều 61 Hiệp định TRIPS 1994,

Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và các Điều 156 157, 158, 170, 171 Bộ

luật Hình sự 1999

Trang 30

o Biện pháp khân câp tạm thời được quy định tại Điêu 50 Hiệp định

TRIPS 1994, Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Chương VIII Bộ luật Tố

tụng dân sự 2004

o Biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở

hữu trí tuệ được quy định tại Mục 4 Hiệp định TRIPS 1994, Điều 216

Luật Sở hữu trí tuệ 2005

1.4.2 Quyền kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

a) Kiềm soát hành vi hạn chế cạnh tranh thông qua việc quy định một số

ngoại lệ thông thường của quyền độc quyền của chủ sờ hữu quyền sở hữu trí tuệ

theo quy định tại Điều 30 Hiệp định TRIPS 1994; các Điều 125, 132, 134, 190

Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm:

Thứ nhất, ngoại lệ về quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng

công nghiệp tại Điều 132, Điều 134 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Thứ hai, ngoại lệ trong việc sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp

vào mục đích phi thương mại tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 125, Khoản 1 Điều 190

Luật Sở hữu trí tuệ 2005

b) Kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng chuvển giao

chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm:

Thứ nhất, kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh theo pháp luật cạnh

tranh quy định tại Điều 8 Luật Cạnh tranh 2004; từ Điều 14 đến Điều 21 Nghị

định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phù quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật Cạnh tranh

Thứ hai, cấm ghi nhận các điều khoản hạn chế cạnh tranh theo quy định

của pháp luật sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 40 Hiệp định TRIPS 1994; Khoản

2 Điều 144, Khoản 4 Điều 192 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

c) Quy định về licence bắt buộc theo Khoản 2 Điều 5A Công ước Paris

1883; Điều 31 Hiệp định TR1PS 1994; Khoản 12 Điềư 6, Khoản 8 Điều 7,

Khoản 5 Điều 8 Chương II Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 2000; các

Điều 133, 136, 137, 145, 146, 195 Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Trang 31

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5A Công ước Paris 1883, thì mỗi nước thành viên đều có quyền đưa ra những biện pháp pháp lý quy định việc cấp licence bắt buộc nhàm ngăn chặn việc lạm dụng có thể nảy sinh từ việc thực hiện độc quyền được xác lập bởi quyền sở hữu sáng chế, ví dụ như không sử dụng sáng chế Điều 31 Hiệp định TRIPS 1994 và Khoản 8 Điều 7 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 2000 quy định về các hình thức sử dụng khác không được phép của người nắm giữ quyền Theo đó, các thành viên Hiệp định

có quyền quy định về các trường hợp licence bắt buộc đối với sáng chế song phải được xem xét các điều kiện nhất định, không cho phép licence bắt buộc đối

với nhãn hiệu hàng hoá và thiết kế bố trí mạch tích hợp

Trên cơ sở các quy định pháp luật quốc tế, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam

2005 quy định về licence bắt buộc đối với sáng chế tại các Điều 133, 136, 137,

145, 146, đối với giống cây trồng mới tại Điều 195

d) Vấn đề về nhập khẩu song song là một trong những vấn đề thể hiện mối quan hệ giữa quyền độc quyền về sở hữu trí tuệ và quyền tự do cạnh tranh

được quy định tại Điều 6 Hiệp định TRIPS 1994 và Điểm b, Khoản 2 Điều 125

Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Nhập khẩu song song là việc nhập khẩu những mặt hàng có chứa đựng đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ Theo quy định tại Điều 6 Hiệp định TRIPS

1994, thì không một thành viên nào có nghĩa vụ phải cho phép hoặc ngăn cấm

nhập khẩu song song Mỗi thành viên WTO có thể đưa ra các quy tắc khác nhau

về vẩn đề này Theo Điểm b, Khoản 2 Điều 125 Luật Sở hừu trí tuệ 2005, chủ sở

hữu đối tượng sở hữu công nghiệp, các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử

dụng hoặc quyền quản lý chỉ dần địa lý không có quyền cấm người khác lưu

thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm đã đưa ra thị trường, kể cả

thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính

chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị

trường nước ngoài Như vậy, theo tinh thần của Khoản 2 Điều 125 Luật Sở hữu

trí tuệ 2005, pháp luật Việt Nam cho phép nhập khẩu song song

Trang 32

CHƯƠNG 2.

T H ự C TRẠNG PHÁP LUẬT VÊ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

LIÊN QUAN ĐÉN CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

2.1 Các quy định về quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan

đến quyền sỏ' hữu trí tuệ theo pháp luật hiện hành

2.1.1 Những ưu điểm của pháp luật hiện hành về quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

Thứ nhất, pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành đã đề cập khá đầy đủ các nội

dung về quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu

trí tuệ Xác định rõ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ và xây dựng cơ chế điều chỉnh chúng

* về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuê:

(i) Pháp luật hiện hành đã xác định cụ thể những hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ bao gồm: hành vi chỉ dẫn

gây nhầm lẫn, hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, hành vi “ăn cắp” tên miền trên Internet, hành vi sử dụng nhãn hiệu theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều

130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Cụ thể:

v ề hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 130 Luật

Sở hữu trí tuệ 2005 đã xác định rõ hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hành vi gắn

các dấu hiệu, thông tin bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh

doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dần địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá,

nhãn hàng hoá lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao

dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán,

nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó gây nhầm lẫn về chủ thể kinh

doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gổc thương mại, về xuất xứ, cách sản xuất,

tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ, về

điều kiện cung cấp hàne hoá, dịch vụ;

Trang 33

Như vậy, Khoản 1 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về hành vi

sư dụng chỉ dần thương mại gây nhầm lẫn với tư cách là một hành vi cạnh tranh khône lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ cụ thể hơn so với quy định của Điều 40 Luật Cạnh tranh 2004

v ề hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, tại Điều 41 Luật Cạnh tranh

2004 quv định rõ hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh bao gồm:

- Hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu bí mật kinh doanh;

- Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bỉ mật kinh doanh mà không được phép của chù sở hữu bí mật kinh doanh;

- Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh của chủ sở hữu bí mật kinh doanh;

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưu hành sản phẩm hoặc bằng cách chổng lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà mtớc hoặc sử dụng những thông tin

đỏ nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp giấy phép liên quan đến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.

Việc quy định hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh là một trong hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ tại Khoản 2 Điều 39, Điều 40 Luật Cạnh tranh 2004 là một bước chủ động trong việc tạo ra môi trường pháp lý để khuvến khích các hoạt động đầu tư vào khoa học - công nghệ, phát triển sản xuẩt kinh doanh

v ề hành vi “ăn cắp” tên miền trên Internet, Điểm d Khoản 1 Điều 130

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 xác định đó là hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không

có quyền sử dụng nhàm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt

Trang 34

hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh

v ề hành vi sử dụng nhãn hiệu, theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều

130 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được xác định là hành vi sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng;

(ii) Lần đầu tiên trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã xác định được hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ

Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã đưa ra khái niệm hàng hoá giả mạo

về sở hữu trí tuệ, bao gồm giả mạo về nhãn hiệu và giả mạo về chỉ dẫn địa lý và hàng hoá sao chép lậu Đồng thời cũng đưa ra các dấu hiệu nhận biết hàng hoá giả mạo là hàng hoá có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa

lý Hàng hoá sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên quan Có sự phân định này chính là xuất phát từ việc phân định các nhóm quyền cấu thành quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới

Sự xác định hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ trong Luật Sở hữu trí tuệ

2005 góp phần giải quyết những vướng mẳc trong việc xác định hàng giả về sở hữu trí tuệ và các loại hàng giả khác

(iii) Quy định hành vi “ăn cắp” tên miền trên Internet là hành vi cạnh tranh không lành mạnh thể hiện sự tiến bộ của Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vai trò của công nghệ thòng tin và các ứng dụng thông tin trong hoạt động kinh doanh đang là một trong các kênh được các nhà đầu tư rất ưa chuộng bởi chi phí ít và hiệu quả cao

Trang 35

Nếu chỉ đánh giá một cách sơ bộ thì dường như giữa tên miền với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại hay chỉ dẫn địa lý là những vấn đề hoàn toàn độc lập với nhau Và trên thực tế, các quy định về đăng ký tên miền trên Internet cũng dường như độc lập với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Một tên miền được chấp thuận chỉ cần không trùng với tên miền đã đăng ký và không sử dụng một số các yếu tố vi phạm truyền thống, đạo đức, chính sách mà không có quy định nào liên quan đến các đối tượng sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, về tổng thể thì chúng lại liên quan mật thiết với nhau, đều là những phương thức để xây dựng thương hiệu Do vậy, một thương hiệu được tạo lập từ tên thương mại nhãn hiệu hàng hoá hay chỉ dẫn địa lý không thể độc lập với chính thương hiệu đó khi nó được tạo lập từ Internet Việc tên miền trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên các đối tượng sở hữu trí tuệ kể trên sẽ làm cho người tiêu dùng hiểu nhầm ràng đó chính

là sản phẩm của các thương hiệu có uy tín Các nhà làm luật Việt Nam đã sớm nhìn thấy sự phát triển trong tương lai của vấn đề này và đã luật hoá chúng

nhàm chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc đăng ký tên miền trên Internet

* về các cơ chế bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh:

(i) Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã hệ thống hoá các biện pháp bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ 2005, việc xác định các biện pháp bảo vệ

quyền chống cạnh tranh không lành mạnh mang tính tản mạn ở nhiều văn bản

pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau, giá trị pháp lý khác nhau như Bộ

luật, Luật, Nghị định, thông tư, chỉ thị và các điều ước quốc tế song phương và

đa phương Có thể điểm qua một số văn bản điển hình liên quan đến vấn đề này

như Bộ luật Dân sự 1995, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Nghị định

134/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/11/2002 hướng dẫn thi hành, Pháp

lệnh chất lượng hàng hoá, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nghị

định số 12/1999/NĐ-CP của Chính phú ngày 06/03/1999 quy định về việc xử

phạt hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và Thông tư số 825/2000/TT-

BKHCNMT hướng dần thi hành, Nghị định số 54/2000/NĐ-CP của Chính phủ

ngày 03/10/2000 quy định bảo hộ đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn dịa lý, tên

Trang 36

3 !

thươne mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, Nghị định số

15/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/05/2000 quy định các hành vi xâm

phạm sở hữu công nghiệp trong chuyển giao công nghệ, Nghị định số

11/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/02/2005 về chuyển giao công nghệ

V.V VỚĨ một loạt các quy định tản m ạn nh ư vậy dẫn tới c h ồn g chéo, m âu thuẫn

và hạn chá việc thực thi các quy định của pháp luật Trong suốt thời gian dài,

các xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành

mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ bị bở ngỏ [10]

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thể hiện một bước tiến bộ trong việc hệ thống hoá

các quy định về các biện pháp bảo vệ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

liên quan đến sở hữu trí tuệ Theo quy định của pháp luật hiện hành, các biện

pháp đó bao gồm: quyền tự bảo vệ, biện pháp hành chính, biện pháp dân sự, biện

pháp hình sự, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất

khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ Cụ thể:

Quyền tự bảo vệ quy định tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Biện

pháp này cho phép chủ thể bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được áp dụng các

biện pháp nhất định nhằm bảo vệ quyền của mình Các biện pháp chủ thể bị xâm

hại có thể lựa chọn là áp dụng biện pháp công nghệ ngăn ngừa hành vi xâm

phạm; yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm

phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; khởi kiện ra

tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Biện pháp hành chính áp dụng với hành vi cạnh tranh không lành mạnh

liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong pháp luật cạnh tranh và

pháp luật sở hữu trí tuệ

Điều 30 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 quy định về xử

phạt hành chính đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, bao gồm việc xử phạt đối

với hành vi sử dụng chỉ dần gây nhầm lẫn và hành vi kinh doanh hàng hoá, dịch

vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn Biện pháp hành chính áp dụng đổi với hành

vi vi phạm này là phạt tiền từ năm triệu đến hai mươi triệu đồng, tuỳ tìme

trường hợp Ngoài ra chủ thể vi phạrty còn có thể bị áp dụns một hoặc một số

Trang 37

hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khẳc phục như tịch thu tang vật phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, buộc cải chính công khai.

Điều 31 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh cũng quy định mức phạt tiền tương tự như đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Đối với hành vi sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng giả mạo

về sở hữu trí tuệ, Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị hàng hoá vi phạm, tuỳ từng trường hợp Các hình thức phạt bổ sung bao gồm tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; tịch thu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý; đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ vi phạm Các biện pháp khắc phục hậu quả gồm:

- Buộc loại bỏ yếu tổ vi phạm trên sản phẩm, hàng hóa, phương tiện kinh doanh;

- Buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm

mục đích thương mại đổi với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chi dẫn địa lý, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp;

- Buộc tiêu hủy hàng hóa vi phạm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng quá cảnh vi phạm quyền sở hữu công nghiệp hoặc buộc tái xuất hàng hỏa vi phạm, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa

lý, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuãt, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chi dan địa lý sau khi đã loại bỏ các yếu tổ vi phạm trên hàng hóa;

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Thị Thu Hương (2006), Đánh giá yếu tỗ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng giá trong hoạt động quản lý thị trường, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá yếu tỗ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng giá trong hoạt động quản lý thị trường
Tác giả: Chu Thị Thu Hương
Năm: 2006
2. Nguyễn Thanh Tâm (2005), Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Năm: 2005
3. Nguyễn Thanh Tâm (2006), Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
4. Nguyễn Thanh Tâm (2006), Chương XIV, Giáo trình Luật Thương mại, tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại, tập 2
Tác giả: Nguyễn Thanh Tâm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2006
5. Phùng Trung Tập (2008), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.Tiếng Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
Tác giả: Phùng Trung Tập
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2008
6. Albert Chavanne/Jean-Jacques Burst (1993), Droit de la propriétẻ industrielle, Dalloz, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Droit de la propriétẻ industrielle
Tác giả: Albert Chavanne/Jean-Jacques Burst
Năm: 1993
7. Jean-Christophe Galloux (2000), Droit de la propriétẻ industrielle, Dalloz, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Droit de la propriétẻ industrielle
Tác giả: Jean-Christophe Galloux
Năm: 2000
8. Joanna Schmidt-Sralewski (2001), Droit de la propriété industrielle, Dalloz, Paris.Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Droit de la propriété industrielle
Tác giả: Joanna Schmidt-Sralewski
Năm: 2001
9. Vũ Thái Hà (2007), “Tranh chấp tên miền .vn: cần cơ chế pháp lý”, http://www.giaitri.mobi/vcms/htmỉ/news_detaiỉ.php?nid=5499, Công ty tư vấn Youme Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp tên miền .vn: cần cơ chế pháp lý”, "http://www.giaitri.mobi/vcms/htmỉ/news_detaiỉ.php?nid=5499
Tác giả: Vũ Thái Hà
Năm: 2007
11.Lâm Phong (2007), “Tranh chấp tên miền “.vn’”\http://www.ddth.com/archive/index.php7t-l 13897.html, Báo Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp tên miền “.vn’”\"http://www.ddth.com/archive/index.php7t-l 13897.html
Tác giả: Lâm Phong
Năm: 2007
12.“v ề pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền”, http://www.sohuutrituevn.com, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: v ề pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền”, "http://www.sohuutrituevn.com
13.“Nhừne tác động từ sở hữu trí tuệ dược phẩm”, http\vww.traphaco.com.vn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhừne tác động từ sở hữu trí tuệ dược phẩm”,"http\vww.traphaco.com.vn
14.Angelo Mazza (2008), “Bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá trên Internet”, http://vietnamese. vietnam. usembassy.gov/doc_intelprp_xvii. html, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, NewYork Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ nhãn hiệu hàng hoá trên Internet”,"http://vietnamese. vietnam. usembassy.gov/doc_intelprp_xvii. html
Tác giả: Angelo Mazza
Năm: 2008
15.Anthony Wayne (2008), “Tại sao bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lại quan trọng” http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_intelprpJ.html,BộNgoại giao Hoa Kỳ, NevvYork Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ lại quan trọng” "http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_intelprpJ.html
Tác giả: Anthony Wayne
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w