Chương 1 phân tích các nội dung tổng quan về các khái niệm quyền sở hữu trítuệ, khái niệm hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và sơ lược các biện pháp sở hữutrí tuệ được áp dụng để xử p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
ĐẶNG THỊ KHÁNH NGỌC
CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2ĐẶNG THỊ KHÁNH NGỌC
CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3Các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều có nguồn dẫn rõ ràng.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác.
TP Hồ Chí Minh, ngay thang năm 2019
TÁC GIẢ
ĐẶNG THỊ KHÁNH NGỌC
Trang 4LSHTT sửa đổi 2009 là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số
36/2009/QH12 được Quốc hội ban hành ngày ngày 19 tháng 6 năm 2009
TRIPS là Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của Quyền sở
hữu trí tuệ ký ngày 15 tháng 4 năm 1994
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 6
1.1 Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 6
1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ 6
1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 7
1.2 Hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 8
1.2.1 Đặc điểm hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 8
1.2.2 Các loại hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 10
1.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 13
CHƯƠNG.2 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 16
2.1 Chủ thể có quyền khởi kiện 16
2.1.1 Đối với quyền tác giả, quyền liên quan 17
2.1.2 Đối với quyền sở hữu công nghiệp 18
2.2 Cơ quan giải quyết tranh chấp 19
Trang 62.3 Các biện pháp dân sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ 23
2.3.1 Buộc chấm dứt hành vi vi phạm 23
2.3.2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai 27
2.3.3 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự 29
2.3.4 Buộc bồi thường thiệt hại 31
2.3.5 Buộc tiêu hủy hoặc hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại 35
CHƯƠNG.3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG BIỆN PHÁP HÀNH CHÍNH VÀ BIỆN PHÁP HÌNH SỰ 39
3.1 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính 39
3.1.1 Khái niệm biện pháp hành chính trong xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ 39 3.1.2 Đặc điểm biện pháp hành chính xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 40 3.1.3 Các hành vi vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ bị xử lý bằng biện pháp hành chính 42 3.1.4 Xác định giá trị hàng hóa vi phạm 44
3.1.5 Các biện pháp hành chính cụ thể được áp dụng 45
3.1.5.1 Các biện pháp xử phạt chính 45
3.1.5.2 Hình phạt xử phạt bổ sung 46
3.1.5.3 Một số biện pháp nhằm kiểm soát hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu qua biên giới 48 3.1.6 Cơ quan xử lý bằng biện pháp hành chính trong sở hữu trí tuệ 50
3.2 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự 53
Trang 73.2.2 Các xác định giá trị hàng hóa vi phạm 54
3.2.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự 54
3.2.3.1 Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan 56
3.2.3.2 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả 58
3.2.3.3 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm 61
3.2.3.4 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh 63 3.2.3.5 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi 65
3.2.3.6 Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 67
3.2.3.7 Tội vi phạm các quy định về hoạt động xuất bản 71
CHƯƠNG.4 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Chương 1 phân tích các nội dung tổng quan về các khái niệm quyền sở hữu trítuệ, khái niệm hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và sơ lược các biện pháp sở hữutrí tuệ được áp dụng để xử phạt các hành vi vi phạm tương ứng cũng như bảo vệquyền lợi cho chủ thể có quyền, hạn chế các nguy hại cho xã hội.
Chương 2: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự
Chương 2 trình bày chi tiết hơn về các biện pháp dân sự được áp dụng để giảiquyết các vụ việc liên quan đến sở hữu trí tuệ, phân tích các đối tượng sở hữu trí tuệphù hợp để áp dụng biện pháp dân sự tương ứng
Chương 3: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự
Chương 3 bao gồm hai biện pháp chính được áp dụng đối với vụ việc vi phạmquyền sở hữu trí tuệ, bao gồm: (1) biện pháp hành chính, các hành vi vi phạm được
xử lý bằng biện pháp hành chính và (2) biện pháp hình sự, các hành vi vi phạm được
xử lý bằng biện pháp hình sự và các dấu hiệu đặc thù để nhận biết tội phạm vi phạmquyền sở hữu trí tuệ trong từng loại tội phạm
Trang 101.1.1 Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ
Khi sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ, người nắm giữ tài sản đó sẽ có quyền đốivới tài sản của mình, đó chính quyền sở hữu trí tuệ; và cũng từ đó tài sản trí tuệ mới
trở thành một loại tài sản có giá trị Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là quyền mà nhà
nước dành cho các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu tài sản trí tuệ kiểm soát độc quyềntrong một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản này một cáchbất hợp pháp Theo LSHTT 2005, quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là: quyền
SHTT) là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác
giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Quyền SHTT cũng như các quan điểm về bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ đượcđặt ra như một phương cách để bảo vệ sự sáng tạo của con người trong các lĩnh vựchoạt động sáng tạo trong đời sống xã hội Từ đó, tạo cơ hội để các hoạt động sáng tạoluôn được thúc đẩy, phát triển hơn, đặc biệt là trong hoạt động nghệ thuật và sản xuấtkinh doanh
Ở Mỹ, tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ đã được đưa vào Hiến pháp
Mỹ những năm 1789, mặc dù chưa thật sự phát huy được vai trò của nó nhưng sau
đó, Nhà sáng lập Thomas Jefferson, với tư cách là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, người rấttích cực cho việc hình thành hệ thống bằng sáng chế năm 1790 và đã cho ra đời soạnthảo đầu tiên về bằng sáng chế năm 1790, ông cũng chính là tác giả của Luật Bằngsáng chế năm 1793 Các nhà sáng lập đã nhấn mạnh vai trò của quyền SHTT đã đượcthể hiện rõ bằng những hành động mà Quốc hội đã làm từ ngay những ngày đầuthành lập Trong phiên họp đầu tiên năm 1790, Quốc hội đã thông qua Đạo luật vềbằng sáng chế và đạo luật về quyền tác giả Hành động mau lẹ này của Quốc hội đãchứng tỏ quan điểm của các Nhà sáng lập về vai trò SHTT đối với quốc gia Tài sản
sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng tối cao; quốc gia non trẻ phải ngay lập tức hình
Trang 11trên triết lý về sự ban thưởng cho các tác giả và nhà sáng chế1 Những điều trên chothấy tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ khi nó được chú trọng từ những lúc rấtsớm.
Điều 2 (viii) Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ (WIPO) đưa ra danhmục các đối tượng thuộc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: tác phẩm văn học,nghệ thuật và khoa học; chương trình biểu diễn của các nghệ sỹ, tác phẩm ghi âm vàchương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế thuộc mọi lĩnh vực; phát minh khoahọc; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn vàtên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh và mọi quyền khác bắtnguồn từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặcnghệ thuật cho thấy tầm quan trọng của các đối tượng được xem xét bảo hộ dướidạng quyền SHTT
1.1.2 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Thuật ngữ “bảo vệ” là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho toànvẹn Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là việc các cơ quan nhà nước có thẩmquyền thông qua hệ thống chính sách và pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của chủ sở hữu QSHTT nhằm chống lại bất kỳ sự vi phạm từ một bên không cóquyền
Vậy “bảo vệ” quyền SHTT có khác gì so với “bảo hộ” quyền SHTT được quyđịnh tại các văn bản pháp luật và trên thực tế?
Ý kiến tác giả cho rằng, hoạt động “bảo hộ” quyền SHTT nhằm mục đíchđảm bảo quyền lợi của chủ thể có quyền, khuyến khích khả năng sáng tạo trong đờisống trong một thời gian nhất định Bảo hộ quyền SHTT được thể hiện cụ thể trongcác lĩnh vực SHTT như xây dựng pháp luật, hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước
về SHTT cho đến các hoạt động thực thi QSHTT
Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động “bảo vệ” và “bảo hộ” quyền sở hữu trítuệ có nhiều điểm tương đồng, bảo vệ quyền SHTT được xem là nội hàm của hoạt
1Nguyễn Ngọc Xuân Thảo, Luật S ở h ữu trí tu ệ - Án lệ, lý thuyết và bài tập áp dụng, NXB Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 11
Trang 12và “bảo hộ” quyền SHTT có những ý nghĩa riêng nhất định, việc phân tách này sẽ có
ý nghĩa về mặt thực tiễn, xác định cụ thể chức năng của hoạt động bảo vệ và hoạtđộng bảo hộ, sử dụng đúng thuật ngữ trên thực tế
Bảo vệ quyền SHTT áp dụng các quy định của pháp luật nhằm thực hiện song
song hai mục đích: thứ nhất, nhằm bảo đảm cho quyền sở hữu trí tuệ đã được pháp luật công nhận được bảo vệ, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể; thứ hai, ngăn
chặn và xử lý hành vi xâm phạm đến quyền của các chủ thể thuộc quyền sở hữu trítuệ, tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm mà áp dụng những biện pháp cụ thể để xử
lý hành vi xâm phạm nhất định
Hiện nay, pháp luật ghi nhận các biện pháp bảo vệ quyền SHTT gồm: biệnpháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự Mỗi biện pháp được điềuchỉnh bởi ngành luật riêng mang đến những hiệu quả bảo vệ khác nhau
Thẩm quyền bảo vệ quyền SHTT thuộc về tòa án, thanh tra, quản lý thịtrường, hải quan, công an, ủy ban nhân dân Dựa trên mỗi biện pháp khác nhau màthẩm quyền giải quyết sẽ được phân cho cơ quan chuyên biệt
1.2 Hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
1.2.1 Đặc điểm hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định tại Điều 28, 35, 126, 127, 129, 188 Luật sở hữu trí tuệ và Điều
5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/06/2006 được sửa đổi bổ sung theo Nghị định119/2010/NĐ-CP ngày 30/10/2010 (sau đây gọi là nghị định 105/2010/NĐ-CP), hành
vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi có những đặc điểm: (i) Đối tượng bịxem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; (ii) Cóyếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét; (iii) Người thực hiện hành vi bị xemxét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luậthoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép và (iv) Hành vi bị xem xét xảy ra tại ViệtNam Tức là, hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ có những đặc điểm cụ thể như
Trang 13-Phải có hành vi sử dụng đối tượng, mà đối tượng đó đang được bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ Nghĩa là, đối tượng đó phải đang còn thời gian được bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ, đối với suốt cuộc đời tác giả và sau 50 năm kể từ khi tác giả trong trườnghợp quyền tác giả2 và thời hạn của hiệu lực của văn bằng bảo hộ đối với các đốitượng: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch bán dẫn, nhãn hiệu, chỉdẫn địa lý3
Có thể thấy được rằng, trong trường hợp sau khi tác giả chết được 50 năm,quyền tài sản của tác giả không còn nữa nhưng quyền nhân thân vẫn còn tồn tại Nếu
có hành vi vi phạm đối với quyền tác giả của tác phẩm thì có thể kiện đòi được haykhông? Và chủ thể nào sẽ thay mặt tác giả để yêu cầu xử lý hành vi vi phạm Do vậy,mặc dù các quy định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với quyền tác giả chưa thể hiện
rõ ràng nhưng có thể hiểu xác định hành vi vi phạm đối với xâm phạm quyền tác giảchỉ giới hạn trong thời hạn bảo hộ quyền tài sản của tác giả
-Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét được thể hiện qua nhữngyếu tố như trùng hoặc tương tự đến mức nhầm lẫn giữa đối tượng bị xâm phạm vàđối tượng vi phạm
Việc sử dụng đối tượng là trái phép (không được phép của người nắm giữ).
Khác với các loại tài sản khác có thể cầm, nắm giữ được, tài sản sở hữu trí tuệ khi sửdụng trái phép được thể hiện qua 02 hình thức: (1) không được chủ sở hữu ủy quyềncho phép sử dụng, (2) thực hiện đăng ký khi chủ sở hữu không biết đến việc đăng kýnày, trường hợp này thường xảy ra đối với việc đăng ký xuyên quốc gia và rất dễ gặpphải đối với việc đăng ký nhãn hiệu chỉ tiến hành việc xem xét mức độ có khả năngđăng ký bảo hộ hay không chỉ đặt ra trong vùng lãnh thổ (khác với các loại đăng kýsáng chế, khi tiến hành đăng ký, sáng chế được xem xét trong phạm vi trên toàn thếgiới) Khi đó, tại vùng lãnh thổ quốc gia thực hiện việc xem xét và cấp văn bằng bảo
hộ không kiểm tra được nhãn hiệu đó đã được đăng ký ở các quốc gia khác hay chưa
và vẫn chấp thuận cấp văn bằng bảo hộ Trong quá trình sử dụng nhãn hiệu, nhãn
2Điều 27 Luật sở hữu trí tuệ 2005
3Điều 93 Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trang 14hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền chophép sử dụng.
1.2.2 Các loại hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Việc xác định những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cụ thể đối vớitừng đối tượng là cơ sở nền tảng để xác định được mức độ vi phạm của chủ thể viphạm, từ đó áp dụng biện pháp và mức xử lý phù hợp
Căn cứ theo từng đối tượng bảo hộ, hành vi xâm phạm quyền SHTT bao gồmnhững hành vi xâm phạm như sau:
-Hành vi xâm phạm quyền tác giả4: hành vi xâm phạm quyền tác giả thể hiệnqua những hành vi mang yếu tố chiếm đoạt, mạo danh, công bố phân phối các tácphẩm, làm tác phẩm phái sinh, nhân bản, xuất bản, sản xuất bản sao mà không đượcphép từ tác giả; hành vi sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hìnhthức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; cố ý huỷ bỏ hoặc làm vôhiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyềntác giả đối với tác phẩm của mình; cố ý xoá, thay đổi thông tin quản lý quyền dướihình thức điện tử có trong tác phẩm; sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhậpkhẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đólàm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệquyền tác giả đối với tác phẩm của mình; làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả
bị giả mạo
Trường hợp việc sao chép các tác phẩm nhằm mục đích nghiên cứu, giảngdạy, không nhằm mục đích thương mại được quy định tại Điều 25 Luật sở hữu trí tuệthì không xem là vi phạm quyền tác giả và việc sử dụng đó không làm ảnh hưởng bấtlợi tới việc khai thác bình thường của tác phẩm Tuy nhiên, với những trường hợpphổ biến thường thấy như sao chép tài liệu ở những cửa hàng photocopy quanh khu
4Điều 28 Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trang 15vi phạm.
Cần phải lưu ý, đối với những trường hợp sao chép, trích dẫn nội dung tácphẩm hoặc nguyên vẹn tác phẩm cần phải nêu rõ, chính xác nguồn gốc, xuất xứ củatác phẩm
Một trong những hành vi khác không thực hiện trực tiếp trên đối tượng nhưngđược xem là hành vi xâm phạm được quy định tại khoản 14 Điều 28 Luật sở hữu trí
tuệ: “Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho
thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình” Quy định này giúp hạn chế gián tiếp hành vi xâm phạm xảy ra trên
thực tế Tuy nhiên, trình độ kiểm tra, nhận biết và phát hiện những thiết bị hay biệnpháp kỹ thuật nêu trên vẫn còn hạn chế tại Việt Nam
Quyền tác giả được tự động bảo hộ mà không phải đăng ký, chính vì vậy, khi
có hành vi xâm phạm, chủ thể phải mất nhiều thời gian, công sức để chứng minhquyền tác giả của mình Do vậy, khuyến khích tác giả nên đăng ký bảo hộ quyền tácgiả để tăng khả năng bảo hộ cho chính tác phẩm của mình để giảm thiểu rủi ro saunày
-Hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý5: Các đối tượng sở hữu trí tuệ nàyđều có điểm chung đó chính là quyền sở hữu trí tuệ được xác lập từ thời điểm đượccấp văn bằng bảo hộ Kể từ đó, quyền của họ được bảo hộ triệt để, các đối tượng xâmphạm có dấu hiệu trùng hoặc tương tự với đối tượng được bảo hộ thì có thể xác địnhđược hành vi vi phạm Bên cạnh đó, căn cứ vào mức độ ảnh hưởng từ việc vi phạmđến lợi nhuận từ hàng hoá, sản phẩm mang yếu tố sở hữu trí tuệ, mức độ tác độngđến xã hội, từ đó xác định biện pháp xử lý phù hợp như biện pháp dân sự, hình sựhay hành chính
Dấu hiệu được xem làm vi phạm khi có sự trùng hoặc tương tự đến mức gây
5Điều 126 và Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trang 16vai trò của các cơ quan thẩm định là vô cùng quan trọng.
-Nhãn hiệu nổi tiếng và bí mật kinh doanh: Nhãn hiệu nổi tiếng là một phầnthuộc nhãn hiệu, tuy nhiên, chính sự “nổi tiếng” đã làm cho đối tượng này có mộtchút khác biệt tương đối Trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng chưa được cấp văn bằngbảo hộ tại một quốc gia nhưng đã được bảo hộ tại một quốc gia khác, dựa trên sự nổitiếng và chứng minh được sự nổi tiếng thông qua các yếu tố như thị trường, mức độngười tiêu dùng biết đến nhãn hiệu đó, nhãn hiệu đó cũng có thể được xác lập quyềnbảo hộ cho chính mình Trong quá trình toàn cầu hoá, yếu tố nổi tiếng được xem là
có lợi đối với chủ sở hữu nhãn hiệu Bên cạnh đó, bí mật kinh doanh cũng được xem
là tài sản sở hữu trí tuệ đặt biệt, để được bảo hộ, bí mật kinh doanh cần phải đáp ứngđược những điều kiện: Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng cóđược; Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinhdoanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đókhông bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được6 Dựa trên những điều kiện để đượcbảo hộ bí mật kinh doanh, điều 127 LSHTT 2005 quy định các hành vi xâm phạm bímật kinh doanh, việc xâm phạm nhằm mục đích làm lộ bí mật kinh doanh, cố tìnhbộc lộ bí mật kinh doanh khi chủ sở hữu không mong muốn, không thực hiện bảomật bí mật kinh doanh theo sự thoả thuận của các bên Hành vi xâm phạm bí mậtkinh doanh này thường thấy phổ biến trong kinh doanh thương mại Khi hai bên kýhợp đồng mua bán, hợp đồng thương mại dịch vụ đều thống nhất bảo mật những bímật kinh doanh của đối phương, không chỉ giới hạn ở hai bên trong hợp đồng, bí mậtkinh doanh còn có thể tác động gián tiếp đến người lao động của hai bên nhằm mụcđích bảo mật tối đa bí mật kinh doanh Việc xâm phạm đến bí mật kinh doanh khôngchỉ ảnh hưởng đến hiện tại mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển hơn nữa với sản
6Điều 88 Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trang 171.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Dựa trên các biện pháp nêu trên và căn cứ vào mức độ can thiệp của quyềnlực nhà nước, tính chất mức độ hành vi xâm phạm quyền sỡ hữu, pháp luật ghi nhậncác biện pháp để quyền sở hữu được bảo vệ bao gồm:
Khi áp dụng biện pháp dân sự, chủ thể sở hữu được xem là trung tâm, mangđến khả năng thực hiện chủ động, nhanh chóng và có hiệu quả các quyền sở hữu,chiếm hữu hợp pháp của mình Chủ sở hữu có toàn quyền lựa chọn thời điểm, biệnpháp bảo vệ nào tối ưu nhất cho chính bản thân mình Yêu cầu bồi thường thiệt hạichỉ được phát sinh khi chủ thể có quyền yêu cầu, bên vi phạm sẽ phải bồi thườngtrực tiếp cho bên bị vi phạm về những tổn thất mà mình gây ra Việc yêu cầu bồithường thiệt hại là một biện pháp đền bù cho những quyền và lợi ích hợp pháp củachủ thể quyền đã bị thiệt hại Việc lựa chọn biện pháp dân sự trong trường hợp này
sẽ bảo đảm tối đa lợi ích, bù đắp được thiệt hại của chủ thể quyền
Khi áp dụng biện pháp hành chính, Nhà nước thấy rằng hành vi vi phạm cóthể hoặc đã gây ra hậu quả đối với xã hội, khi đó, Nhà nước dùng sức mạnh quyềnlực quyền lực của các cơ quan hành chính (nằm trong hệ thống hành pháp) thông quacác quyết định hành chính và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính đó để xử
Trang 18hóa giả mạo nhãn hiệu nhưng thường không tính đến thiệt hại của chủ sở hữu bị viphạm quyền Do yếu tố này mà biện pháp hành chính thường được thực hiện trongthời gian ngắn và có tác dụng nhanh nhưng cũng chính vì vậy mà hiệu quả cũngkhông cao vì mức xử lý có thể chưa tương xứng với mức độ thiệt hại của chủ sở hữu,hay nói cách khác vẫn chưa bù đắp được tổn thất mà chủ sở hữu phải gánh chịu Tuynhiên, ở mức độ nào đó, biện pháp nào sẽ phòng ngừa được việc tái phạm cũng nhưrăn đe đối với hành vi xâm phạm.
Khi áp dụng biện pháp hình sự, Nhà nước bằng các chế tài áp dụng đối vớingười nào cố ý thực hiện các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, xâmphạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đang được bảo
hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại và mức độ nghiêm trọng được xem là tộiphạm như có thể gây nguy hiểm đến trật tự xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏengười tiêu dùng Tương tự với biện pháp hành chính, biện pháp hình sự thể hiện tính
áp đặt của nhà nước đối với hành vi vi phạm nhằm mục đích bảo đảm trật tự xã hội,ngăn chặn sự xâm phạm trật tự xã hội Hiện nay, quy định xử lý các biện pháp chế tàitheo pháp luật hình sự chưa áp dụng đối với giống cây trồng Khi áp
7http://thanhtra.most.gov.vn (Trần Minh Dũng, Chánh Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, '“Bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính”)
Trang 19dụng biện pháp hình sự để xử lý xâm phạm, các nguyên tắc chung của pháp luật hình
sự được áp dụng để giải quyết
Trang 21Quyền sở hữu trí tuệ là một quyền đặc biệt, được giới hạn trong thời gian nhấtđịnh, đối với quyền tác giả, quyền liên quan, thời gian phát sinh quyền được tính từthời điểm cá nhân sáng tạo ra tác phẩm và được công bố ra bên ngoài bằng hình nhưxuất bản công khai ra bằng các phương tiện (như internet, báo chí, ) hoặc được đăng
ký ở Cục bản quyền, theo đó, chủ thể khởi kiện cũng chỉ được khởi kiện trong thờigian tác phẩm đang được bảo hộ, nghĩa là suốt cuộc đời tác và 50 năm sau khi tác giảchết Đối với quyền sở hữu công nghiệp, thời gian phát sinh quyền được tính từ thờigian được Cục sở hữu trí tuệ xác nhận bằng văn bằng bảo hộ cho tài sản phẩm và thờigian khởi kiện được tính trong suốt khoảng thời gian được bảo hộ Do vậy, ngoài việcxác định được đúng chủ thể khởi kiện, người khởi kiện còn cần lưu ý về thời gian khởikiện để quyền lợi của mình được đảm bảo
2.2 Cơ quan giải quyết tranh chấp
Do tính chất dân sự, nên khi phát sinh tranh chấp, các bên có thể thương lượng,trao đổi, bàn bạc và thoả thuận với nhau để giải quyết xung đột mà không có sự canthiệp của bất kỳ cơ quan nhà nước hay bên thứ ba nào Tuy nhiên, nếu tranh chấp vẫnkhông giải quyết được bằng biện pháp thương lượng hoặc các bên không đồng ýthương lượng thì tranh chấp sẽ được giải quyết ở cơ quan có thẩm quyền, là Toà ánhoặc Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế
2.2.1 Toà án
Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp dân sựđược quy định trong BLTTDS 2015 theo khoản 4 Điều 26 và khoản 2 Điều 30, chủ thểquyền sở hữu trí tuệ có quyền khởi kiện ra tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa mình:
“Điều 26: Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
4 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này”
“Điều 30: Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền
7
Trang 22giải quyết của Tòa án
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”
Căn cứ vào quy định nêu trên, có thể thấy các tranh chấp liên quan đến quyền
sở hữu trí tuệ nói chung và những tranh chấp liên quan đến hoạt động kinh doanhthương mại (có thể xem xét tương tự với hành vi vi phạm trách nhiệm ngoại hợpđồng) được giải quyết tại Toà án, việc phân chia tại ở điều khoản khác nhau phục vụcho mục đích thuận lợi trong việc lựa chọn toà án cấp huyện hay toà án cấp tỉnh cóthẩm quyền để thụ lý vụ việc Theo đó, toà án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các
vụ tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và toà án cấp tỉnh cóthẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT, chuyển giao công nghệ giữa cánhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận và xét xử các vụ án phúc thẩmcủa toà sơ thẩm
Thủ tục giải quyết tranh chấp quyền SHTT tại Toà án do pháp luật tố tụng quyđịnh được tính từ thời điểm bắt đầu thụ lý đơn yêu cầu cho đến khi kết thúc bằng mộtbản án hoặc quyết định
Trên thực tế, giải quyết tranh chấp về quyền SHTT thông qua toà án là cơ chếbảo vệ hữu hiệu nhất hiện nay Điều đó được lý giải bởi tính dân chủ, khả năng duy trì
và bảo đảm công bằng của các thiết chế của thủ tục dân sự so với các thủ tục khác.Bản chất của biện pháp dân sự là thông qua việc giải quyết các tranh chấp liên quanđến quyền SHTT tại toà án, các chủ sở hữu không chỉ yêu cầu toà án áp dụng các biệnpháp ngăn chặn hành vi xâm phạm một cách hiệu quả mà còn buộc bên vi phạm bồithường thiệt hại do hành vi đó gây ra (bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinhthần) Áp dụng thủ tục dân sự là con đường hiệu quả để giải quyết thoả đáng vấn đềbồi thường thiệt hại đối với hành vi xâm phạm
Tương tự Việt Nam, hầu hết một số nước cũng áp dụng cơ chế giải quyết tranhchấp dân sự quyền SHTT bằng toà án, như hệ thống các nước theo pháp luật Anh-Mỹ
Họ lý giải “bầu không khí” của thủ tục này phù hợp với việc bảo vệ các quyền tài sản
Trang 23của cá nhân trong giới kinh doanh, mặc khác, đây là các biện pháp đền bù, do vậyđược xem là thuận lợi hơn so với các biện pháp trừng phạt khác Hành vi xâm phạmquyền sở hữu trí tuệ là hành vi trái pháp luật gây thiệt hại ngoài hợp đồng, do vậy phảinhận thức đây là trách nhiệm dân sự Không phải vô tình mà trong các điều ước quốc
tế, trong BTA và luật sở hữu trí tuệ, phần lớn các điều khoản là các quy định về việc
áp dụng biện pháp dân sự10 Bên cạnh đó, một số quốc gia khác như Nhật Bản11 khôngchỉ quy định toà án là cơ quan giải quyết mà còn thành lập những cơ quan chuyêntrách để giải quyết các vụ việc liên quan đến SHTT, bộ phận chuyên trách sẽ có những
kỹ thuật viên có thể hỗ trợ giúp thẩm phán những vấn đề kỹ thuật liên quan đến cácđối tượng phức tạp như xâm phạm quyền đối với sáng chế Singapore thành lập toà ánSHTT (thuộc toà án tối cao) để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền SHTT.Thẩm phán và các uỷ viên tư pháp thuộc toà án SHTT được bổ nhiệm phải là nhữngngười có chuyên môn và kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ việc liên quan đếnSHTT 12 Đây cũng là một trong những điều Việt Nam nên học hỏi, toà án Việt Namnên xem xét có một đội ngữ chuyên biệt để vụ việc được giải quyết một cách nhanhchóng và thuận lợi
hơn thay vì phải liên thông hỏi ý kiến của các cơ quan liên quan như Cục bản quyền
và tác giả, Sở Văn hoá thông tin, Cục sở hữu trí tuệ, Sở khoa học và công nghệ, Trungtâm internet Việt Nam,
2.2.2 Trọng tài thương mại quốc tế
Điểm d khoản 1 Điều 198 LSHTT 2005 quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
có thể áp dụng biện pháp khởi kiện ra trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củamình Tại Việt Nam, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thươngmại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có
10Chuyên đề khoa học xét xử, tập 1, Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ
tại toà án nhân dân, NXB Tư pháp
11Đỗ Thị Minh Thuỷ, bài viết “cơ chế giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ của Nhật Bản: gợi
mở đối với Việt Nam”, tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2015
12
Dương Đình Công, “thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số
quốc gia Đông Nam Á”, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2011
9
Trang 24một văn bản pháp luật chuyên ngành về SHTT đề cập đến các quy định về giải quyếttranh chấp nhãn hiệu bằng phương thức trọng tài Nếu các bên tranh chấp muốn giảiquyết tranh chấp nhãn hiệu bằng trọng tài để phải đáp ứng các điều kiện quy định tạiLuật Trọng tài thương mại 2010 Trong khi đó, Luật trọng tài 2010 không thiết kếriêng cho giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ mà là quy định chung áp dụng cho tất cảcác tranh chấp và cũng chỉ giới hạn các trong các tranh chấp thương mại, nghĩa lànhững tranh chấp về sở hữu trí tuệ mà trong đó chứa đựng các yếu tố về thương mạinhư ảnh hưởng đến lợi nhuận của chủ sở hữu do hành vi vi phạm gây nên Do đó, việcthiết lập một hệ thống giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ thông qua trọng tài là cầnthiết để đáp ứng được nhu cầu thực tế cũng như tận dụng được các điểm ưu việt màphương thức này mang lại.
Mặc khác, các tranh chấp nói chung và tranh chấp sở hữu trí tuệ nói riêng tại cơquan trọng tài đều có thể được giải quyết nhanh chóng hơn so với cơ quan toà án,quyết định trọng tài được xem là quyết định chung thẩm, do vậy vụ việc ngay lập tứcđược xử lý Đối với các vụ việc tranh chấp quyền SHTT, ưu điểm nhất có thể thấyđược rằng đội ngũ trọng tài viên có thể là những người có chuyên môn cao về lĩnh vựcđặt thù này, từ đó hạn chế được thời gian hỏi ý kiến các cơ quan liên quan, hay vụ việccũng được giải quyết nhanh mà đúng đắn hơn Thêm vào đó, trọng tài tôn trọng tínhbảo mật cho toàn bộ quá trình, phiên họp trọng tài cũng được thực hiện không côngkhai, nhờ đó, các bên trong tranh chấp có thể đảm bảo được uy tín của mình trênthương trường mà các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ luôn được xem là vấn đề hếtsức nhạy cảm đối với doanh nghiệp
2.3 Các biện pháp dân sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Các quy định về biện pháp dân sự để bảo vệ quyền SHTT được xây dựng trênquy định của pháp luật dân sự cũng như thể chế các yêu cầu trong các điều ước quốc
tế và Việt Nam ký kết và tham gia về thực thi quyền Như trong Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỳ cũng có ghi nhận tại điểm c khoản 2 Điều 12 quy định: “Mỗi bên
cho phép cơ quan tư pháp của mình buộc một bên trong vụ kiện chấm dứt hành vi xâm phạm, kể cả các biện pháp ngăn ngừa sự xâm nhập vào kênh thương mại của
Trang 25những hàng hóa xuất nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngay sau khi hoàn thành thủ tục hải quan đối với hàng hóa đó”13 Và tại Điều 44 Hiệp định TRIPs quy
định “các cơ quan xét xử phải có quyền ra lệnh cho một bên trong vụ kiện chấm dứt
sự xâm phạm, để cùng với các mục đích khác nhằm ngăn cản sự xâm nhập của hàng hóa nhập khẩu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vào các kênh thương mại trong phạm
vi quyền hạn của mình sau khi tiến hành thủ tục hải quan”.
Tùy thuộc vào hiện trạng thực tế của tài sản đang đứng ở ngưỡng bị xâm hại,
để bảo vệ quyền lợi của tài sản, người có quyền cân nhắc quyết định chọn lựa biệnpháp phù hợp để đảm bảo quyền và lợi ích của mình là cao nhất
2.3.1 Buộc chấm dứt hành vi vi phạm
Theo bản chất của quyền dân sự thì chủ thể quyền sở hữu đối với tài sản củamình có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, có quyền khai thác lợi ích củasản phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật LSHTT
2005 đã tạo điều kiện để các chủ thể quyền được thực hiện các quyền của mình đồngthời bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp đó và cấm mọi hành vi xâm phạm, cản trởquyền trái pháp luật Khi hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền của chủ sở hữukhông tự nguyện chấm dứt thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu tòa án áp dụng các biệnpháp ngăn chặn và buộc chấm dứt hành vi xâm phạm
Đây là một trong những yêu cầu cơ bản và đầu tiên cần được áp dụng nhất khichủ thể bị xâm phạm đến quyền sở hữu của mình
Để yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, trước hết, chủ thể cầnchứng minh được bên vi phạm có hành vi vi phạm, hay còn gọi là phải cung cấp đượcchứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
-Đối với nguyên đơn, một trong những chứng cứ có thể chứng minh được viphạm gồm14:
+Bản sao Bằng độc quyền sáng chế; Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng
13 Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thương mại và
sở hữu trí tuệ (Hiệp định BTA) (2001)
14
Khoản 2 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ và được hướng dẫn bởi Nghị định 105/2006/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Nghị định 119/2010/NĐ-CP
1
Trang 26độc quyền kiểu dáng công nghiệp; Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí; Giấychứng nhận đăng ký nhãn hiệu; Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý; Bằng bảo hộgiống cây trồng; Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả; Giấy chứng nhận đăng kýquyền liên quan nộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã đượcchứng thực theo quy định;
+Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp; Bản trích lục Sổđăng ký quốc gia về quyền tác giả, quyền liên quan; Bản trích lục Sổ đăng ký quốc gia
về giống cây trồng được bảo hộ do cơ quan có thẩm quyền đăng ký các đối tượng đócấp;
+Trường hợp là nhãn hiệu Quốc tế, chủ thể có cần phải cung cấp chứng cứchứng minh chủ thể quyền là bản sao giấy Chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tếđược bảo hộ tại Việt Nam do cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp cấpnộp kèm theo bản chính để đối chiếu, trừ trường hợp bản sao đã được chứng thực theoquy định
Một số chứng cứ có thể dễ dàng được chứng minh bởi giấy chứng nhận, vănbằng bảo hộ, được cung cấp bởi chủ sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ Tòa án xem xét và
ra quyết định buộc chấm dứt hành vi đối với bên vi phạm Tuy nhiên, hầu hết các vụviệc được đưa ra Tòa, thông thường các bên sẽ không đồng ý chấp nhận ý kiến của tòa
án một các dễ dàng, thay vào đó, các bên sẽ thực hiện thủ tục yêu cầu giám định, hoặcTòa án sẽ thực hiện bước hỏi ý kiến các cơ quan chuyên ngành để đưa ra quyết địnhcuối cùng
Một số cơ quan kể đến hiện nay có thể thực hiện giám định chứng cứ liên quanđến SHTT bao gồm: Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghềluật sư15 hoặc các tòa án có thể hỏi ý kiến chuyên môn từ viện nghiên cứu SHTT, CụcSHTT và trung tâm giám định quyền tác giả (thành lập vào ngày 03/06/2016) Chínhbởi sự đa dạng giữa các cơ quan và không có một giới hạn nào về việc tòa án chỉ đượcphép chọn một trong hai thủ tục giám định hay hỏi ý kiến chuyên môn hay ý kiến nào
sẽ là ưu tiên khi tòa án nhận được công văn trả lời, hay kết luận nào sẽ là nguồn chứng
cứ Mà căn cứ vào phản hồi từ các cơ quan, tòa án sẽ có phán quyết của riêng mình
15 Điều 201 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009
Trang 27Chính vì vậy, trên thực tế, giá trị của kết quả giám định và trả lời của cơ quan chuyênmôn gây rất nhiều tranh cãi, thậm chí còn là ý kiến trái ngược nhau và dẫn tới mâuthuẫn trong phán quyết của tòa án chưa giải quyết đúng đắn vụ việc và dẫn tới hệ lụy
vụ việc có thể sẽ kéo dài thời gian hơn so với quy định
Tóm tắt vụ tranh chấp “cái cốc đỏ” giữa Société des Produits Nestlé S.A.(Nestlé) và Gold Roast Viet Nam Co., Ltd (Gold Roast) xảy ra vào năm 200616, Nestlénộp đơn yêu cầu đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hình cái cốc màu đỏ (có bề mặt màu đỏ vàkhông có bất kỳ dấu hiệu chữ nào trên đó) gắn liền với sản phẩm cà phê ở nhóm 30thông qua đăng ký quốc tế 824804 chỉ định ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác Lúcđầu Cục SHTT từ chối bảo hộ nhãn hiệu này vì cho rằng nó hoàn toàn không có chứcnăng nhãn hiệu, nhưng sau đó Cục SHTT đã rút từ chối dựa trên cơ
sở chủ nhãn hiệu khiếu nại và nộp bằng chứng chứng minh nhãn hiệu này có khả năngphân biệt thông qua quá trình sử dụng
Phát hiện được Gold Roast sử dụng hình ảnh chiếc cốc đỏ in trên bao bì sảnphẩm cà phê tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ, Nestlé đã nộp đơn yêu cầu xử lýxâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đến Thanh tra Bộ Khoa học và công nghiệp, saukhi chuyển vụ việc xuống khu vực, Thanh tra Sở ra quyết định xử phạt Gold Roast
100 triệu về hành vi vi phạm
Trước đó, Gold Roast gửi yêu cầu giám định lại đến Viện Nghiên cứu SHTT vàkhởi kiện ra Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương với lập luận rằng: Ý kiến chuyên môncủa Cục SHTT là không đúng với bản chất khách hàng vì nhãn hiệu hình cái cốc củaGold Roast khác biệt về hình thức thể hiện so với nhãn hiệu cái cốc của Nestlé và đặtviệt hơn Gold Roast còn chứng minh được rằng sản phẩm cà phê trên đó có hình cáicốc đã được nhập khẩu vào Việt Nam từ năm 1996, đến khi mở cửa nhà máy GoldRoast vào năm 2001, Gold Roast tiếp tục sử dụng cái cốc này, trong khi đó, CụcSHTT chỉ cấp văn bằng bảo hộ cho Nestlé vào năm 2014 Tuy nhiên, Tòa án vẫn giữnguyên quyết định của mình và cho rằng hành vi của Gold Roast là xâm phạm quyền
Ý kiến từ bài viết của luật sư Lê Quang Vinh cho rằng theo tinh thần của Luật
16Luật sư Lê Quang Vinh (2018), bài viết “Một số vấn đề pháp lý liên quan đến giám định SHTT
và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam, số 4/2018, trang 15 - 19
3
Trang 28SHTT đã có quy định về việc giám định SHTT, theo đó, Cục SHTT đã không cònchức năng giám định kể từ thời điểm đó, mà chức năng giám định được trao chonhững cơ quan, tổ chức có có chức năng định phù hợp với Điều 201 LSHTT 2005 vàLSHTT sửa đổi 2009 Tuy nhiên, về phía khách quan và trên thực tế, các cơ quan luôncần hỏi ý kiến chuyên môn để xem xét cụ thể vụ việc.
Kiến nghị: Từ thực trạng chồng chéo nói trên, tác giả cũng đề xuất ý kiến xem
xét thành lập cơ quan giám định riêng, độc lập với cơ quan cấp giấy chứng nhận bảo
hộ để tránh vừa đá bóng vừa thổi còi Tổ chức giám định có thể xem xét được thànhlập bởi Cục sở hữu trí tuệ, tuy nhiên được hoạt động theo sự quản lý chung của các Bộ
có liên quan như hoạt động trực thuộc Bộ KH&CN và Bộ Văn hóa Thể thao & Dulịch Tổ chức giám định này sẽ hoạt động tương tự như tổ chức trọng tài thương mại,thành viên của tổ chức này sẽ là đội ngũ chuyên môn cao, có hiểu biết và đã làm tronghoạt động SHTT nhiều năm liền Ý kiến của tổ chức giám định này là kết quả được ưutiên, trong trường hợp các bên kháng cáo lên tòa án cao hơn, tòa án sẽ xem xét các ýkiến chuyên môn khác Tổ chức này sẽ đảm bảo các yêu cầu về nghiệp vụ, chuyênmôn mà năng lực tố tụng của Việt Nam còn hạn chế trong bối cảnh chưa thể thành lậptòa án chuyên giải quyết SHTT
Bên cạnh đó, trong trường hợp chưa thành lập các tổ chức giám định chuyênmôn cao, tác giả đề xuất lấy ý kiến chuyên môn từ các cơ quan và tổ chức giám địnhtheo số lẻ (tương tự như lấy ý kiến từ Hội thẩm), sau đó xem xét và ra quyết định phùhợp, nhất quán nhất có thể
2.3.2 Buộc xin lỗi, cải chính công khai
Trên thực tế, yêu cầu buộc xin lỗi, cải chính công khai sẽ áp dụng trong trườnghợp hành vi xâm phạm quyền này ảnh hưởng đến uy tín của tác giả, chủ thể có quyền,chủ nhãn hiệu, sản phẩm bị xâm phạm, tác động xấu đến người tiêu dùng về chấtlượng của sản phẩm dịch vụ Trong trường hợp như vậy, chủ thể có thể yêu cầu bên viphạm phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm khắc phục phần nào những ảnh hưởngxấu do hành vi vi phạm gây nên Nếu hai bên không thỏa thuận được với nhau về nộidung, cách thực hiện hiện việc cải chính công khai thì tòa án sẽ căn cứ vào mức độ,
Trang 29hậu quả do hành vi đó gây và quyết định thời điểm thực hiện việc cải chính công bố,thông thường, việc cải chính công khai sẽ nên được thực hiện tại địa điểm của bên bịthiệt hại hoặc đăng công khai trên báo hằng ngày của các cơ quan trung ương, địaphương nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số báo liên tiếp.
Phương pháp xử lý bằng biện pháp buộc xin lỗi, cải chính công khai thườngđược áp dụng nhằm mục đích bảo vệ quyền nhân thân của tác giả hay nói cách khác,nhằm bảo vệ quyền tác giả Khôi phục danh dự, uy tín cho tác giả Ví dụ: Người cóhành vi xâm phạm quyền tác giả đã sửa chữa, cắt xén xuyên tạc tác phẩm làm chocông chứng hiểu nhầm về tác giả gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.Một vụ việc Tòa án đã áp dụng biện pháp này đó là giải quyết vụ kiện tác
5
Trang 30giả Lê Phong Linh (bút danh Lê Linh) và Công ty TNHHTruyền thông Giáo dục & Giải trí Phan Thị (gọi tắt là “PhanThị”) cùng bà Phan Thị Mỹ Hạnh17 Tác giả Lê Linh yêu cầu côngnhận ông Linh là tác giả duy nhất của bộ truyện tranh Thầnđồng đất Việt, trong khi đó, bà Hạnh đã ghi tên mình là đồngtác giả Đồng thời, Phan Thị cũng đã sử dụng những hình tượng
do ông Linh sáng tạo từ các tập Thần Đồng Đất Việt tiếp theocũng như trên các ấn bản khác như Thần Đồng Đất Việt khoa học,Thần Đồng Đất Việt mỹ thuật Trong thời gian này, ông pháthiện Phan Thị phát hành các tập truyện Thần Đồng Đất Việt tiếptheo mà không có sự đồng ý của ông
Trải qua hơn 10 năm theo đuổi vụ kiện, cuối cùng tác giả Lê Linh cũng đượccông nhận là tác giả duy nhất của bộ truyền tranh Thần đồng đất việt Theo đó, buộc
bị đơn chấm dứt việc tạo ra và sử dụng những biến thể khác nhau của các hình tượng
do ông Linh sáng tạo Đồng thời buộc bị đơn xin lỗi công khai trên một số phươngtiện thông tin đại chúng trong 3 kỳ liên tiếp
Từ vụ việc nói trên, thấy được rằng để giải quyết vụ án liên quan đến quyền sởhữu trí tuệ đã phải trải qua thời gian rất dài, trong thời gian đó, không chỉ tiêu tốn rấtnhiều công sức, tiền của mà còn là danh dự của một tác giả khi quyền của họ bị xâmphạm Đối với những vụ việc buộc phải cải chính công khai mà chưa được giải quyết,chủ thể có quyền sẽ phải chịu tình trạng quyền của mình bị xâm hại trong thời giandài, cộng đồng xã hội có thể dùng những lời lẽ không hay lên chính chủ thể thật sự,gây cho họ nhiều tổn thương về tinh thần sâu sắc, thậm chí, có thể dẫn đến sự mấtniềm tin từ người tiêu dùng đối với các sản phẩm “thật” Bên cạnh đó, cũng phải kểđến góc độ từ phía bên vi phạm, sau khi vụ việc được giải quyết, nếu đối với nhữngtranh chấp như đồng sở hữu bên trên, các vụ việc liên quan đến thỏa thuận quyền sởhữu trí tuệ các bên thông qua hợp đồng (không kể đến những vụ bên vi phạm làm cốtình trục lợi từ hành vi vi phạm), khi thi hành án theo phương án buộc cải chính côngkhai, người vi phạm sẽ phải gánh chịu thêm sự “cáo buộc” từ phía cộng đồng mà hành
vi của họ chưa đến mức như vậy Tuy nhiên, cũng có những hành vi đáng lên án màxin lỗi công khai trong 3 kỳ báo liên tiếp không đủ để người tiêu dùng nhận biết được
Kiến nghị: Thứ nhất, về thời gian xử lý vụ án cũng như chất lượng đội ngũ xử
lý tố tụng, từ vụ việc Thần Đồng Đất Việt nêu trên và những ý kiến từ phía tác giả,
17https://thanhnien.vn (“Những vấn đề pháp lý từ vụ kiện Thần Đồng Đất Việt”)
17
Trang 31thấy được rằng đáng lẽ ra vụ việc cần phải được giải quyết nhanh chóng triệt để hơnnếu như đội ngũ nhân sự có trình độ cao hơn (thời gian xét xử vụ việc Thần Đồng ĐấtViệt mất 12 năm) Do vậy, việc nâng cao trình độ nhân sự luôn là vấn đề quan tâmhằng đầu để thay đổi một nền tố tụng Từ phía cơ quan chức năng nên tăng cường tậphuấn và tích cực đào tạo cán bộ để mọi việc được giải quyết nhanh hơn, đảm bảoquyền lợi của mọi công dân trong xã hội này Không chỉ dừng lại ở việc thời gian giảiquyết vụ việc kéo dài mà danh dự, uy tín của một cá nhân, tổ chức mới thật sự đáng
quan tâm Thứ hai, cách thức thực hiện cải chính công khai, đối với một số nguyên
đơn khi đi kiện, giá trị của tài sản mang lại không bằng với chính danh dự, “đứa continh thần” là sản phẩm của họ bị người khác sử dụng và xâm phạm Việt đăng báotrong 3 kỳ liên tiếp có thật sự là giải pháp hữu hiệu hay không? Trên thực tế, các nhàlàm luật nên xem xét cho các bên thỏa thuận phương pháp để thực hiện xin lỗi côngkhai đến cộng đồng hoặc có văn bản hướng dẫn cụ thể việc xin lỗi cải chính công khaitrong những năm nhất định, phù hợp với tình hình thay đổi thực tế Ngoài việc đăngbáo có thể kèm theo các yêu cầu như họp báo chính thức một buổi, các phóng viên từcác cơ quan báo chí uy tín, các đơn vị đưa tin có thể đến và ghi nhận trực tiếp, sau đóthông báo đến rộng rãi tất cả mọi để được biết Với thời điểm hiện tại, quy định vềviệc đăng báo dường nhất đã không còn phù hợp nữa
2.3.3 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự
Tòa án sẽ áp dụng buộc người có hành vi vi phạm nghĩa vụ đối với chủ thể cóquyền sở hữu trí tuệ, đây là biện pháp dân sự được áp dụng khi người có nghĩa vụ màkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng vàphải chịu trách nhiệm dân sự đối với chủ thể có quyền Biện pháp này được Tòa án sửdụng để áp chế thực hiện nghĩa vụ dân sự khi bên vi phạm không tự nguyện thực hiệnhoặc thực hiện không đúng đối với chủ thể quyền SHTT
Biện pháp này thể hiện rõ trong một số trường hợp vi phạm về SHTT khi cácbên ký hợp đồng thương mại trong đó có nêu rõ quy định bảo mật quyền sở hữu trí tuệtrong quá trình các bên giao dịch, thậm chí sau một thời hạn nhất định khi hợp đồng
đã chấm dứt, điều khoản đặc biệt này vẫn còn giữ nguyên giá trị Hoặc các bên có ký
7
Trang 32với nhau riêng về thoả thuận bảo mật thông tin để đảm bảo quyền lợi của các bên.
Tuy nhiên, việc ký thoả thuận thường không được các bên xem trọng và mộttrong các bên vẫn thực hiện những hành vi sai trái nhầm đạt được nhiều lợi ích hơn
Vi phạm sở hữu công nghiệp, tổn hại đến bí mật kinh doanh là một trong những hành
vi rất phổ biến Khi đó, toà án căn cứ vào thoả thuận giữa các bên, có quyền yêu cầubên vi phạm ngừng thực hiện hành vi vi phạm, sau đó, có thể áp dụng một trongnhững biện pháp như bồi thường thiệt hại (trong trường hợp có thiệt hại phát sinh),xin lỗi, cải chính thông tin (trường hợp có hành vi được xã hội biết đến) gây tổn hạicho chủ sở hữu, Các hình thức xử lý sẽ được xem xét áp dụng để đảm bảo quyền lợicủa các bên
Kiến nghị: buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ được áp dụng khi các bên có
thoả thuận với nhau, do vậy, trên thực tế, nhiều bên ít xem trọng nội dung này mà hầuhết chỉ quan tâm đến mua bán sản phẩm, chất lượng sản phẩm,.khi sản phẩm đượcnhiều người biết đến, khả năng bị xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ, bí mật kinhdoanh xảy ra rất cao, do vậy, chính từ mỗi cá nhân, mỗi tổ chức nên chú trọng hai vấn
đề (1) thiết lập quyền bảo hộ thông qua các cơ chế như đăng ký bảo hộ và (2) thoảthuận trong hợp đồng thương mại về việc bảo mật thông tin Bên cạnh đó, phía toà án,khi xem xét hành vi vi phạm nên áp dụng biện pháp này nhằm răn đe trên chính sựthoả thuận của các bên Vì sự thoả thuận là căn cứ tự nguyên, các bên cần phải cótrách nhiệm với chính sự thoả thuận của mình
2.3.4 Buộc bồi thường thiệt hại
Biện pháp bồi thường thiệt hại sẽ áp dụng khi hành vi xâm phạm quyền SHTT
đã gây ra những tổn thất nhất định cho chủ sở hữu mà không thể khôi phục được.Trong trường hợp này, luật sở hữu trí tuệ quy định cho chủ thể có quyền lựa chọnbuộc bên vi phạm phải bồi thường những thiệt hại đã xảy ra bằng các phải thanh toáncho chủ thể quyền giá trị thiệt hại bằng một số tiền nhất định tương đương với thiệthại mà chủ hữu phải gánh chịu Bên bị thiệt hại phải chứng minh được thiệt hại từhành vi vi phạm đó gây nên, từ đó có căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại phùhợp
Trang 33Nguyên tắc xác định thiệt hại được quy định như sau:
Điều 204 LSHTT sửa đổi 2009 quy định nguyên tắc xác định thiệt hại do xâmphạm quyền sở hữu trí tuệ như sau:
Điều 204 Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1 Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
a) Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;
b) Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng.
2 Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.
Theo quy định trên, thiệt hại được hiểu là sự tổn thất thực tế về vật chất và tinhthần do hành vi xâm phạm trực tiếp gây ra cho chủ thể quyền SHTT, thiệt hại được coi
là tổn thất thực tế khi có đủ các căn cứ sau:
Lợi ích vật chất hoặc tinh thần là có thực và thuộc về người bị thiệt hại Tổn
hại vật chất có thể bao gồm: tổn hại về tài sản, mức độ giảm sút hoặc bị mất về giá trị
được tính thành tiền của đối tượng quyền SHTT, đó có thể là giá chuyển nhượngquyền sở hữu, chuyển giao quyền, giá trị góp vốn kinh doanh, giá trị quyền sở hữutrong khối tài sản của doanh nghiệp, giá trị đầu tư cho việc tạo ra và phát triển đối
tượng quyền sở hữu trí tuệ; tổn hại về thu nhập, lợi nhuận, mức thu nhập lợi nhuận do
sử dụng, khai thác trực tiếp, cho thuê, chuyển giao đối tượng sở hữu trí tuệ, thu nhậpnày được tính trên thực tế, căn cứ dựa vào số lượng, sản lượng hàng hóa, dịch vụ tiêu
thụ thực tế hoặc cung ứng trước và sau khi xảy ra hành vi vi phạm; tổn thất về cơ hội
kinh doanh, khả năng xác định trong tương lai khi chủ sở hữu khai thác, sử dụng, cho
thuê hoặc chuyển giao đối tượng, cơ hội kinh doanh khác bị mất do hành vi xâm phạm
trực tiếp gây ra; chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại và chi phí thuê luật
9
Trang 34Người bị thiệt hại có khả năng đạt được lợi ích nói trên
Có sự giảm sút hoặc mất lợi ích của người bị thiệt hại sau khi hành vi xâmphạm xảy ra so với khả năng đạt được lợi ích đó khi không có hành vi xâm phạm vàhành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm sút, mất lợi ích đó
Khi xác định thiệt hại, cách thức bồi thường thiệt hại đối với yêu cầu về bồithường thiệt hại phải dựa trên các nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo quy định tạiLuật sở hữu trí tuệ, không dựa trên các quy định tại BLDS 2015, bởi lẽ, luật sở hữu trítuệ đã quy định cụ thể hơn các nguyên tắc xác định hành vi vi phạm và từ đó xác địnhbồi thường thiệt hại so với Bộ luật dân sự18
Khi xem xét các chứng cứ chứng minh về thiệt hại vật chất, cần lưu ý:
-Phải có quan hệ nhân quả trực tiếp giữa tổn thất về tài sản và mức giảm sút vềthu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh đối với hành vi vi phạm Sự giảmsút về thu nhập hay doanh thu có thể không phải do hành vi vi phạm gây ra Ví dụ:doanh nghiệp A trước khi bị giả mạo nhãn hiệu có thu nhập 1 tỷ đồng/ 1 năm, lợinhuận là 100 triệu đồng Năm sau đó, doanh nghiệp B có hành vi vi phạm nhãn hiệucủa doanh nghiệp A, trong năm này, doanh nghiệp A thu nhập 500 triệu
18 Mục 4.1 Phần IV Thông tư liên tịch số BKH&CN-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền
02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân
Trang 35đồng/ 1 năm, lợi nhuận là 20 triệu đồng Trong trường hợpnày không thể tính đơn thuần phần giảm thu nhập 500 triệu vàlợi nhuận 80 triệu là do hành vi vi phạm của doanh nghiệp Bgây nên19 Phần giảm thu nhập và lợi nhuận đó còn có thể do thịtrường tác động, ví dụ, giá cả tăng lên dẫn tới nhu cầu đốivới sản phẩm giảm đi, chi phí đầu vào, giá thành nguyên liêutăng, dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp A giảm đi, hoặc thậmchí là do chất lượng sản phẩm giảm sút và thị trường không cònđón nhận, Tất cả những yếu tố này phải được xác định khitính toán mức thiệt hại mà doanh nghiệp A phải chịu Đồngthời, doanh nghiệp A phải cung cấp đủ chứng cứ để chứng minhminh thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền gây ra và Tòa án chỉquyết định trên cơ sở xác định chính xác thiệt hại nào là hành
vi do doanh nghiệp B gây ra
Ngoài ra, tổn thất còn được đánh giá bằng việc bị đơn (bên vi phạm quyền sởhữu trí tuệ) có được lợi nhuận từ việc vi phạm này hay không Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp lợi nhuận thu được từ việc vi phạm chưa thật sự có mối liên hệ với nguyênđơn (chủ sở hữu nhãn hiệu), tức là, nếu bên nguyên đơn chưa khai thác đối tượng sởhữu trí tuệ, chưa mang tài sản sở hữu trí tuệ ra thị trường Khi đó, nguyên đơn chưa cóthu nhập từ khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản trí tuệ của mình, do vậy, đâykhông được coi là thiệt hại vật chất trực tiếp
Hiện nay, trong trường hợp không xác định thiệt hại về vật chất theo các căn cứquy định pháp luật, thì mức bồi thường thiệt hại sẽ do Tòa án ấn định, tùy thuộc vàomức độ thiệt hại, nhưng không quá 500 triệu đồng20 Mức phạt và thậm chí cả sự đánhgiá mức độ thiệt hại để xác định mức bồi thường thiệt này còn quá thấp và chưa thật
sự hợp lý
Ngoài ra, Tòa án buộc bên bị đơn phải thanh toán phí thuê luật sư, mức phí đóbên căn nhắc theo các tiêu chí: (i) Xem xét dựa trên mức độ phức tạp của vụ việc đòihỏi đối với trình độ của luật sư hoặc chuyên gia (những vụ việc đơn giải hoặc tươngđối rõ ràng thì đương nhiên không thể thuê luật sư với trình độ cao); (ii) Mức chi phí
19Nguyễn Văn Bảy (2009), Tài liệu tập huấn về giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu trí tuệ, NXB
Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, trang 80
20 điểm c, khoản 2 mục B Thông tư
02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân do Tòa Án Nhân Dân Tối Cao - Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao - Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch - Bộ Khoa Học
Và Công Nghệ - Bộ Tư Pháp Ban Hành.
19
1
Trang 36trung bình cho luật sư trong những vụ việc tương tự và (iii) Thời gian mà luật sư cần
để giải quyết vụ việc Tất cả các yếu tố cần được tính toán trên cơ sở vụ việc giả định
do luật sư người Việt Nam thực hiện và tại Việt Nam vào thời điểm tiến hành vụ việc.Phí luật sư trong trường hợp này pháp sinh cũng bởi vì do hành vi vi phạm gây nên vàbên bị xâm phạm phải thuê luật sư để giải quyết tranh chấp của mình, phí luật sư cũngđược xem là một trong những chi phí bồi thường thiệt hại cho bên bị xâm phạm Tuynhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, yêu cầu bên thua kiện phải chi trả phí luật sư làkhông phù hợp
Kiến nghị: Thứ nhất, về việc đánh giá mức bồi thường thiệt hại thỏa đáng cho chủ thể quyền cũng cần phải được hệ thống hóa cụ thể, đặc biệt là cách tính đối với
mức bồi thường thiệt hại về tinh thần, thực tế, sự tính toán này khó khăn và đòi hỏinhững người chuyên môn trong chính ngành nghề đó mới có thể tính toán được Giả
sử mức thiệt hại do vi phạm quyền tác giả đối với buổi biểu diễn cụ thể là bao nhiêu?Mức tổn hại về tinh thần khi nhãn hiệu bị vi phạm, cơ quan xử lý vi phạm
nên phối hợp với những đơn vị khác để đưa ra một cách tính thiệt hại phù hợp Thứ
hai, mức tối đa bồi thường thiệt hại không phù hợp, theo quy định hiện hành, mức bồi
thường thiệt hại không vượt quá 500 triệu đồng (căn cứ theo hướng dẫn tại khoản 2Mục I Phần B, Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP) là không cao so với những vi phạm nghiêm trọng trênthực tế Các cơ quan nên xem xét và thống nhất một mức phạt phù hợp hơn trong nềnkinh tế thị trường tại thời điểm hiện tại, mức phạt của cách đây hơn 10 năm đã khôngcòn phù hợp Ví dụ, tại Tòa án Tokyo Nhật Bản, đã quyết
Trang 37định mức thiệt hại cao nhất là 3 tỷ yên trong vụ vi phạm sángchế năm 199821 (so với Việt Nam, mức bồi thường này là rấtcao), tuy nhiên, có như vậy thì hành vi xâm phạm mới có thể
được ngăn chặn triệt để Thứ ba, xem xét bỏ mức phí luật sư
trong các chi phí bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại, bởi
lẽ, chi phí thuê luật sư thường khó đánh giá bởi không có mộtcách xác định cụ thể nào để tính toán chi phí thuê luật sư.Tại Việt Nam, chi phí này được các Luật sư chủ động đưa ra saukhi xem xét vụ việc và nhận định công việc bản thân Luật sư sẽthực hiện Tại Mỹ, chi phí thuê Luật sư ước chừng 200 đô la Mỹcho một giờ làm việc, và chi phí này không được coi là chi phíhợp lý để đòi bị đơn bồi thường cho dù đó là khoảng chi phí cóthể và nguyên đơn buộc phải trả cho Luật sư của mình22 23 Hơnnữa, việc thuê luật sư hay không thuê luật sư, thuê luật sưtrình độ như thế nào là phụ thuộc và khả năng chi trả củađương sự, do vậy, không thể đánh giá đây là khoảng chi phíphải bồi thường được Bản thân tác giả đề xuất nên có định mứckhung trần cho phí luật sư để vừa đảm bảo bồi thường thiệt hạithỏa đáng, vừa đáp ứng khả năng chi trả đối với bên có hành vi
sở hữu trí tuệ và không trái với quy định của hiến pháp hiện hành24
21Lê Thành Trung (2006), Về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định TRIPS trong tương
quan so sánh với pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội
22
Nguyễn Văn Bảy (2009), Tài liệu tập huấn về giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu trí tuệ, NXB
Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, trang 82
Trang 38Điểm mấu chốt để áp dụng biện pháp này là cần xác định hàng hóa có giả mạohay không? Điều 29 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết về cách thức xử lýhàng hóa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Trong điều này có sự phân biệt giữahàng hóa giả mạo về SHTT và hàng hóa xâm phạm quyền SHTT mà không phải hànghóa giả mạo Theo đó, hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ gồm hàng hóa giả mạo nhãnhiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì củahàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu đangđược bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãnhiệu Những hành vi sử dụng các dấu hiệu tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhữngnhãn hiệu của người khác bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Vềlogic, bản thân hàng hóa giả mạo nhãn hiệu chính là hàng hóa xâm phạm nhãn hiệunhưng ở mức độ rõ ràng và trực tiếp hơn.
Khi phân biệt được vấn đề trên, từ đó có thể làm rõ được các thức xử lý hai loạihàng hóa này, bao gồm nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng, chủ yếu đểsản xuất kinh doanh hàng hóa đó, cụ thể như sau:
Đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiệnđược sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa đó thì tòa án áp dụng mộttrong các biện pháp sau đây:
-Phân phối không nhằm đích thương mại hoặc đưa vào sử dụng không nhằmmục đích thương mại với điều kiện phải đáp ứng các điều kiện sau (theo quy định tạiĐiều 30 Nghị định 105/2006/ND-CP)
+Hàng hóa có giá trị sử dụng;
+Yếu tố xâm phạm đã được loại khỏi hàng hóa;
+Việc phân phối, sử dụng không nhằm mục đích thu lợi nhuận không và khôngảnh hưởng một cách bất hợp pháp đến việc khai thác bình thường quyền của chủ thểquyền sở hữu trí tuệ, trong đó, ưu tiên mục đích nhân đạo, từ thiện hoặc phục vụ vìmục đích phúc lợi xã hội
+Người được phân phối, tiếp nhận để sử dụng không phải là khách hàng tiềmnăng của chủ thể có quyền sở hữu trí tuệ
Trang 39Có thể đưa ra trường hợp như sau: hàng hóa là bột giặt giả mạo nhãn hiệuOMO và các trường học thường mua bột giặt mang nhãn hiệu OMO để giặt đồ chohọc sinh Nếu tòa án quyết định phân phối sản phẩm xâm phạm dưới hình thức tặngcho các trường học này thì điều đó có thể ảnh hưởng đến việc khai thác bình thườngquyền của chủ hữu nhãn hiệu vì làm như vậy sẽ dẫn đến việc chủ sở hữu nhãn hiệuthực sự mất khách hàng tiềm năng (trong trường hợp này là khách hàng thật sự) củahọ.
-Buộc tiêu hủy: Buộc tiêu hủy áp dụng trong trường hợp sản phẩm không đủđiều kiện để áp dụng biện pháp buộc phân phối đưa vào sử dụng nhằm mục đíchthương mại nêu trên
-Buộc chủ hàng, người vận chuyển, người tàng trữ loại bỏ các yếu tố xâmphạm và đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hóa quá cảnh là hàng hóa giảmạo về nhãn hiệu, tái xuất đối với hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa giả mạo về nhãnhiệu, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất,kinh doanh hàng hóa giả mạo về nhãn hiệu
Trong trường hợp không loại bỏ được yếu tố xâm phạm ra khỏi hàng hóa,nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hànghóa đó thì áp dụng các biện pháp phù hợp khác được quy định tại khoảng 4 Điều 29Luật sở hữu trí tuệ
Đối với hàng hóa không phải là hàng giả về SHTT thì Tòa án áp dụng các biệnpháp buộc chủ hàng, chủ thể vi phạm loại bỏ yếu tố xâm phạm ra khỏi hàng hóa
Khi áp dụng các biện pháp buộc tiêu hủy hoặc hoặc phân phối hoặc đưa vào sửdụng không nhằm mục đích thương mại chỉ nhằm mục đích giải quyết số hàng hóa bị
vi phạm, thực tế cho thấy rằng, các doanh nghiệp vi phạm vẫn tiếp tục có khả năng táiphạm Vấn đề đặt ra hiện nay: làm sao để có biện pháp hiệu quả hơn ngăn chặn cácđối tượng nếu trên tiếp tục vi phạm, hay chính bản thân chủ thể có quyền phải tự mình
áp dụng những biện pháp hữu hiệu hơn để người tiêu dùng cảnh giác và không sửdụng những sản phẩm giả, kém chất lượng nữa
Khi đưa hàng hóa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại, cơ quan nhà
5