Trong lĩnh vực giáo dục, cuộc CMCN lần thứ 4 tạo ra nhiều cơ hội như môi trường kết nối Internet với nền tảng kĩ thuật số, các công nghệ thông minh trợ giúp quá trình giảng dạy, học [r]
Trang 3Trịnh Thế Truyền
Liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Triển vọng và giải pháp � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �3
Đỗ Tùng
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và một số đề xuất đối với trường Đại học Hùng Vương� � � � � � � � � � � � � � �10
Trần Văn Hùng
Hoạt động thương mại giữa Việt Nam thời Pháp thuộc
và vùng lãnh thổ Hồng Kông giai đoạn 1930 – 1945� � � � � �17
Trần Trung Kiên, Kiều Thị Thu Lan, Lê Thị Mận
Bước đầu nghiên cứu tạo phân hữu cơ vi sinh từ phế phẩm mùn cưa, vỏ cây vụn nhờ sử dụng các chế phẩm sinh học� � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �23
Phan Chí Nghĩa, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Ngọc Nông
Hiệu quả kinh tế từ mô hình sản xuất chè Đông Xuân trên giống Kim Tuyên tại Phú Thọ � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �30
Phạm Thị Lý, Lê Hùng Tiến, Hoàng Thị Sáu, Trần Trung Nghĩa, Hoàng Thị Lệ Thu
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống vô
tính cây chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume�) tại
Thanh Hóa � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �36
Mai Thị Như Trang, Trần Văn Cường, Nguyễn Thị Kim Thúy, Ninh Khắc Bẩy, Kiều Thị Thu Lan, Phạm Thị Hương Liên, Phan Chí Nghĩa
Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến
sinh trưởng và năng suất cây Địa liền (Kaempferia
galanga L�) trồng trên đất phù sa tại tỉnh Phú Thọ� � � � � � � �43
KHOA HỌC NÔNG - LÂM NGHIỆP
KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 4Nguyễn Thị Cẩm Mỹ, Hoàng Thị Lệ Thu, Trần Thị Thu
Ảnh hưởng của liều lượng phân trùn quế đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây cải ngọt � � � � � � � � � � � � � �51
Hoàng Thị Hồng Nhung, Đỗ Thị Phương Thảo, Hoàng Thị Phương Thúy, Nguyễn Thị Hà Phương, Nguyễn Tài Năng
Sinh trưởng và chất lượng thịt lợn LY (Landrance × Yorkshire) nuôi bằng thức ăn bổ sung thảo dược tại Phú Thọ� � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �56
Nguyễn Quốc Khánh, Nguyễn Thị Minh, Ngô Tứ Thành
Đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng Cách mạng công nghiệp 4�0 � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �64
Lê Văn Hùng
Mở rộng đào tạo ngành công nghệ thông tin theo hướng thị giác máy tính, học máy, công nghệ robot trong Cách mạng công nghiệp 4�0 � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �72
Nguyễn Văn Liễn, Mai Văn Chung
Cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Cơ hội và thách thức � �80
Đinh Thái Sơn, Nguyễn Thị Hảo
Xây dựng ứng dụng phát hiện đạo văn trong nghiên cứu khoa học � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �87
n Hội thảo khoa học Công nghệ sinh học – Ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học� � � � � � � � � � � � � � � �94
n Tọa đàm “Định hướng việc làm cho sinh viên gắn với nhu cầu doanh nghiệp” tại Trường Đại học Hùng Vương� � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � � �96
n Tọa đàm: Xây dựng “Mô hình công dân học tập”
tỉnh Phú Thọ năm 2017 tại Trường Đại học Hùng Vương 99TRAO ĐỔI THÔNG TIN KHOA HỌC
TIN HOẠT ĐỘNG
Trang 51 Mở đầu
Với các trường đại học, đặc biệt các trường
mới được thành lập, liên kết đào tạo, trong
đó có liên kết đào tạo sau đại học là cần thiết
trong quá trình xây dựng và phát triển� Bởi vì
thông qua liên kết, các trường đại học có thể
tranh thủ được những khả năng, thế mạnh
của nhau trên cơ sở tìm kiếm được những
lợi ích thiết thực� Nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề đã nêu, trong những năm
qua, Trường Đại học Hùng Vương luôn quan
tâm đến việc mở rộng liên kết, hợp tác trong
đào tạo, nghiên cứu khoa học với các trường
đại học, các viện nghiên cứu trong nước và
TÓM TẮT
Liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân được xác định trên cơ sở nhu cầu của xã hội; sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi của tỉnh Phú Thọ; uy tín, thương hiệu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; khả năng cung cấp các dịch vụ và lợi thế về địa lý của Trường Đại học Hùng Vương Liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có triển vọng và tiềm năng rất lớn, sẽ giúp tổng hợp, phát huy sức mạnh, lợi thế của hai bên để nâng cao chất lượng đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người học
Từ khóa: Trường Đại học Hùng Vương, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Liên kết đào tạo,
Đào tạo sau đại học
quốc tế, trong đó có liên kết, hợp tác đào tạo với Trường Đại học Kinh tế Quốc dân�Xuất phát từ nhu cầu liên kết, hợp tác đào tạo, ngày 27/6/2017, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và Trường Đại học Hùng Vương
đã ký Thỏa thuận hợp tác giữa hai trường
về đào tạo, nghiên cứu khoa học và tư vấn giai đoạn 2017 – 2020� Về hợp tác đào tạo, tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 4, Thỏa thuận khẳng định: “1� Đào tạo các giảng viên đạt trình độ tiến sĩ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân theo đề nghị của Trường Đại học Hùng Vương; 2� Phối hợp đào tạo trình độ thạc sĩ theo yêu cầu của tỉnh Phú Thọ trên cơ
Liên kết đào tạo sau đại học
giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân – TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP
Trịnh Thế Truyền
Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ
Nhận bài ngày 29/11/2017, Phản biện xong ngày 10/12/2017, Duyệt đăng ngày 12/12/2017
Trang 6sở danh mục chuyên ngành của Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân” [4]�
Thỏa thuận hợp tác đào tạo giữa Trường
Đại học Hùng Vương và Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân bước đầu đã mang lại kết
quả� Hai trường đã liên kết mở được 1 lớp
cao học quản lý kinh tế và 1 lớp cao học tài
chính ngân hàng, với tổng số 113 học viên
(lớp cao học quản lý kinh tế 63 học viên; lớp
cao học tài chính ngân hàng 50 học viên)�
Cùng với sự cố gắng của Trường Đại học
Hùng Vương, sự quan tâm tạo mọi điều kiện
thuận lợi của Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân là cơ sở giúp cho hai trường đạt được
kết quả bước đầu trong hợp tác đào tạo như
đã nêu�
Trường Đại học Hùng Vương luôn mong
muốn hợp tác, liên kết đào tạo, trong đó có
đào tạo sau đại học các chuyên ngành kinh
tế với Trường Đại học Kinh tế Quốc dân�
Song, vấn đề là trong tương lai, triển vọng
liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường Đại
học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân sẽ như thế nào? Làm thế nào để
thấy được triển vọng của việc liên kết đào
tạo này? Hai trường cần phải làm gì để liên
kết đào tạo sau đại học giữa hai cơ sở được
bền vững? Đây là những vấn đề cần được
làm rõ�
2 Triển vọng liên kết đào tạo sau đại
học giữa Trường Đại học Hùng Vương
và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tương lai, triển vọng liên kết đào tạo sau
đại học giữa Trường Đại học Hùng Vương
và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phụ
thuộc vào rất nhiều nhân tố, bao gồm cả
khách quan và chủ quan, đó là:
- Một là, nhu cầu học tập của người học
đối với hình thức liên kết đào tạo sau đại học
giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân rất lớn.
Về mặt địa lý, liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có thể thu hút được người học không chỉ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, mà còn có khả năng thu hút được người học từ các tỉnh trong khu vực như Vĩnh Phúc, một phần của Hà Nội, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái…
Về đối tượng người học, liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có thể thu hút được người học không chỉ là những cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc trong các tổ chức Đảng, các
cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các trường đại học, cao đẳng, mà còn có thể thu hút được người học từ các doanh nghiệp và những sinh viên mới tốt nghiệp đại học có nhu cầu học tập nâng cao trình độ�
Trường Đại học Hùng Vương có 12 khoa, trong đó có Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh với 5 mã ngành đào tạo đại học là Kinh
tế đầu tư, Kinh tế Nông nghiệp, Tài chính ngân hàng, Kế toán và Quản trị kinh doanh� Đến nay, Trường Đại học Hùng Vương đã
có 11 khóa sinh viên các chuyên ngành kinh
tế ra trường� Tổng số sinh viên các chuyên ngành kinh tế đã ra trường là hơn 3�000 sinh viên� Trong số đó, qua khảo sát sơ bộ, nhiều
em có nhu cầu quay về trường để tiếp tục học tập nâng cao trình độ�
Liên kết đào tạo sau đại học các chuyên ngành kinh tế của Trường Đại học Hùng Vương được quan tâm thực hiện từ năm 2016� Ngay trong năm 2016, Trường Đại học Hùng Vương đã liên kết với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh mở 1 lớp cao học Kinh tế phát triển, tổng số 25 học viên; liên
Trang 7kết với Học viện Nông nghiệp Việt Nam mở
1 lớp cao học Quản lý kinh tế, tổng số 53 học
viên� Năm 2017, Trường Đại học Hùng Vương
đã liên kết với Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân mở 1 lớp cao học Quản lý kinh tế, tổng số
63 học viên và 1 lớp cao học Tài chính ngân
hàng, tổng số 50 học viên� Năm 2017, Trường
Đại học Hùng Vương tiếp tục liên kết với Học
viện Nông nghiệp Việt Nam mở 1 lớp cao học
Quản lý kinh tế, tổng số 57 học viên� Hiện
tại, Trường Đại học Hùng Vương có gần 100
hồ sơ đăng ký học cao học các chuyên ngành
kinh tế theo hình thức liên kết�
Nhu cầu học sau đại học các chuyên
ngành kinh tế của cán bộ, công chức, viên
chức và nhân dân trong tỉnh Phú Thọ và các
tỉnh trong khu vực là rất lớn� Điều đó không
chỉ thể hiện thông qua các lớp liên kết đào
tạo đã mở giữa Trường Đại học Hùng Vương
với các trường đại học, các học viện, mà còn
thể hiện qua việc liên kết đào tạo của nhiều
cơ sở khác trong tỉnh Phú Thọ và các tỉnh
trong khu vực�
- Hai là, xuất phát từ nhu cầu đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh Phú
Thọ và các tỉnh trong khu vực.
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ cơ bản
hàng đầu đặt ra cho tất cả các tỉnh, thành
phố trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh còn
khó khăn như Phú Thọ� Trong phát triển
kinh tế, con người được xác định là nhân
tố có ý nghĩa quyết định� Vì vậy, Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVIII,
nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã khẳng định: “Tập
trung thực hiện có hiệu quả khâu đột phá về
phát triển nguồn nhân lực, chú trọng nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức;
thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài…
theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội”
[1, tr� 127]�
Trường Đại học Hùng Vương được giao
sứ mạng là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Phú Thọ và các tỉnh trong khu vực� Vì vậy, trong quá trình xây dựng và phát triển, Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm đầu tư và tạo mọi điều kiện thuận lợi của các bộ, ngành trung ương, của Tỉnh
ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ�
Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 khẳng định việc quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển Trường Đại học Hùng Vương là một trong những nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu [1, tr� 62]�
Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ khẳng định chủ trương phải quan tâm xây dựng phát triển Trường Đại học Hùng Vương, đồng thời cũng đã xác định một trong những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản đặt
ra cho Trường Đại học Hùng Vương là phải:
“Tăng cường công tác liên kết các cơ sở đào tạo, ứng dụng, nghiên cứu nhằm huy động, thu hút đội ngũ giáo sư đầu ngành tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại nhà trường” [2, tr� 8]�
Trong Đề án củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo Trường Đại học Hùng Vương giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ khẳng định xây dựng Trường Đại học Hùng Vương thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ cho
sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Phú Thọ và khu vực [3, tr� 5]�
Việc quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài và giao nhiệm vụ đào tạo nguồn
Trang 8nhân lực chất lượng cao cho Trường Đại học
Hùng Vương của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ là điều
kiện thuận lợi và là động lực để cán bộ, công
chức, viên chức, nhân dân trong tỉnh cũng
như các tỉnh trong khu vực quan tâm học
tập nâng cao trình độ về mọi mặt, trong đó
có việc học tập nâng cao trình độ về quản lý
kinh tế�
Liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường
Đại học Hùng Vương và Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân cũng nhận được sự quan
tâm đặc biệt của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ� Tỉnh
ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
tỉnh Phú Thọ luôn quan tâm tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh liên kết
đào tạo, trong đó có đào tạo sau đại học giữa
Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân, nhằm “đào tạo và bồi
dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho
tỉnh” [5]�
- Ba là, xuất phát từ uy tín và thương hiệu
đào tạo của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là
trường đại học có bề dầy xây dựng và phát
triển, có uy tín rất lớn trong cả nước về
nghiên cứu khoa học và đào tạo, là trường
đại học thuộc tốp dẫn đầu [5]� Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân đã có 40 năm đào tạo
sau đại học, đào tạo hàng ngàn các nhà khoa
học, tiến sĩ, thạc sĩ cho cả nước về các chuyên
ngành kinh tế� Rất nhiều người từng học tập
nghiên cứu, công tác ở Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân đã trở thành những nhà lãnh
đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, của các
cấp, các ban ngành, các cơ quan đơn vị, các
doanh nghiệp� Với tỉnh Phú Thọ, Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân cũng là nơi đã
“đào tạo và bồi dưỡng nhiều thế hệ lãnh đạo của tỉnh” [5]�
Uy tín và thương hiệu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một trong những cơ
sở quan trọng tạo nên nhu cầu học tập của
xã hội� Chương trình đào tạo cũng như chất lượng đào tạo của Nhà trường luôn được đổi mới và cải thiện� Giảng viên tham gia đào tạo
có bề dày kinh nghiệm cả về chuyên môn và
sư phạm� Vì thế, học viên sau khi được tham gia chương trình đào tạo của Nhà trường sẽ nắm chắc và nâng cao được chuyên môn� Do vậy, bằng cấp của Nhà trường được đánh giá cao, người học sẽ có nhiều cơ hội thăng tiến hơn trong công việc� Đây là lợi thế rất đáng
tự hào để Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
có thể cạnh tranh với tất cả các trường đại học trong cả nước về đào tạo, trong đó có đào tạo sau đại học� Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân là địa chỉ tin cậy và là lựa chọn hàng đầu đối với những người mong muốn học tập nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế�
- Bốn là, xuất phát từ khả năng và nhu cầu phát triển của Trường Đại học Hùng Vương.
Trường Đại học Hùng Vương đã, đang và
sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi về đào tạo, trong đó có liên kết đào tạo sau đại học của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ� Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Hùng Vương có cơ sở vật chất phục vụ tốt cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập� Bước đầu, Nhà trường đã có một số giảng viên có trình độ tiến sĩ, được học tập nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước, có khả năng tham gia thực hiện các nội dung của chương trình liên kết đào tạo sau đại học với Trường Đại học Kinh tế Quốc dân�
Trang 9Liên kết đào tạo, trong đó có đào tạo
sau đại học các chuyên ngành kinh tế với
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một
trong những ưu tiên hàng đầu của Trường
Đại học Hùng Vương� Đây là cơ sở cần thiết
giúp Trường Đại học Hùng Vương đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ; đồng
thời, là cơ sở góp phần giúp Trường Đại học
Hùng Vương xây dựng hình ảnh, uy tín về
đào tạo�
3 Một số giải pháp giữ vững và
phát triển liên kết đào tạo sau đại học
giữa Trường Đại học Hùng Vương và
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Triển vọng liên kết đào tạo sau đại học giữa
Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân chỉ trở thành hiện thực
khi có sự quyết tâm của cả hai trường� Tính
bền vững trong liên kết đào tạo sau đại học
giữa hai trường xét đến cùng là phụ thuộc vào
việc tuyển sinh� Nguồn tuyển sinh là rất lớn,
song để tuyển sinh được thì cần thiết phải:
- Một là, ngoài hai chuyên ngành đã liên
kết (Ngành kinh tế phát triển và Ngành tài
chính ngân hàng), trên khả năng của Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân, nghiên cứu mở
rộng liên kết các ngành đào tạo sau đại học�
Do nhu cầu học tập của cán bộ, công chức,
viên chức và người lao động trong tỉnh Phú
Thọ và các tỉnh trong khu vực rất đa dạng,
không chỉ nhu cầu học Quản lý kinh tế, Tài
chính ngân hàng, mà còn có nhu cầu học về
các ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế nông
nghiệp, Quản trị nhân lực, Kinh doanh
thương mại, Quản trị kinh doanh, Quản lý
công nghiệp… Đây cũng là những chuyên
ngành đào tạo của Trường Đại học Kinh tế
Quốc dân�
- Hai là, thực hiện tốt các nội dung của
khóa học trên cơ sở bố trí thời gian học tập nghiên cứu cho học viên một cách hợp lý�
Đa số học viên theo học các chương trình liên kết giữa hai trường hiện nay là cán bộ, công chức, viên chức, những người đã đi làm� Việc bố trí thời gian học tập nghiên cứu hợp lý (từ việc học các chuyên đề đến việc viết và bảo vệ luận văn thạc sĩ) là cơ sở cần thiết để hình thành nhu cầu và quyết tâm
đi học ở nhiều người� Nói cách khác, đây là một trong những cơ sở để thực hiện tốt việc tuyển sinh�
- Ba là, tổng kinh phí mà học viên phải
bỏ ra cho quá trình học tập cần phải hợp lý� Các học viên luôn quan tâm đến kinh phí
mà họ phải chi trả cho quá trình học tập� Với các trường khác nhau, chương trình đào tạo khác nhau, kinh phí phải chi trả của người học có thể khác nhau� Thông thường, kinh phí cho một khóa học tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân (bao gồm học phí và các khoản chi phí khác) có thể cao hơn so với kinh phí khi tham gia khóa học của các trường, các cơ sở đào tạo khác� Tuy nhiên, chi phí này phải cân đối sao cho phù hợp khi người học tham gia các chương trình liên kết với Trường Đại học Kinh tế quốc dân đặt tại Trường Đại học Hùng Vương� Đây là vấn
đề mà hai Nhà trường cần quan tâm trong quá trình tổ chức, quản lý và triển khai các khóa học�
- Bốn là, đảm bảo uy tín của hình thức
liên kết đào tạo giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân� Xét đến cùng, uy tín là cơ sở đảm bảo cho sự sống còn của đào tạo, trong đó có đào tạo theo hình thức liên kết� Tạo điều kiện thuận lợi cho học viên, nhưng không
Trang 10có nghĩa là dễ dãi, mà phải đảm bảo những
yêu cầu cần thiết về nề nếp học tập và chất
lượng học tập� Cần phải giúp học viên thấy
được sự nghiêm túc trong quá trình học
tập� Đồng thời, khóa học cũng phải hướng
tới giúp học viên thấy được ý nghĩa thực
sự của việc học tập, nghiên cứu� Như giáo
sư Trần Thọ Đạt, Hiệu trưởng Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân đã khẳng định,
yêu cầu học tập đối với học viên không
chỉ nắm vững kiến thức, mà còn phải biết
“vận dụng kiến thức được học để phục vụ
công việc hiện tại theo yêu cầu ngày một
cao hơn trong điều kiện và bối cảnh hội
nhập” [5]�
- Năm là, phát huy tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong quá trình học tập nghiên
cứu của học viên� Con người luôn mong
muốn được tôn trọng, được tự do lựa chọn
và được quyết định vận mệnh của mình�
Quản lý các hoạt động có liên quan đến
quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập
của học viên là cần thiết� Song cần dừng
lại ở việc tư vấn, không nên can thiệp vào
các hoạt động của học viên� Cần tạo ra môi
trường học tập mà ở đó học viên thấy được
tôn trọng, được tự do lựa chọn, không bị
ép buộc�
4 Kết luận
Đào tạo, trong đó có liên kết đào tạo là
một dịch vụ� Liên kết đào tạo giữa Trường
Đại học Hùng Vương và Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân là tạo ra một dịch vụ trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ� Học viên chính là
những khách hàng của dịch vụ liên kết đào
tạo giữa Trường Đại học Hùng Vương và
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân� Ở đâu
có nhu cầu thì ở đó sẽ có dịch vụ� Như đã
nói, nhu cầu học tập sau đại học các chuyên ngành kinh tế thông qua hình thức liên kết đào tạo giữa Trường Đại học Hùng Vương
và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là rất lớn� Song phải thấy rằng, trong điều kiện
có nhiều sự lựa chọn, một dịch vụ nào đó không tốt, không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì dịch vụ đó sẽ không còn khách hàng và do đó, nó sẽ không thể tồn tại� Ngược lại một dịch vụ nào đó tốt, hợp lý thì nó sẽ kích thích và làm gia tăng nhu cầu của xã hội� Liên kết đào tạo sau đại học giữa Trường Đại học Hùng Vương và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân sẽ phát triển bền vững, lâu dài nếu sự phối hợp của hai trường tạo ra được môi trường học tập thuận lợi cho học viên� Đó là môi trường học tập giúp học viên khắc phục được những khó khăn về thời gian, thấy được sự hợp lý về kinh phí và ý nghĩa của việc học tập nghiên cứu�
Tài liệu tham khảo
[1] Tỉnh ủy Phú Thọ, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020.
[2] Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ, Thông báo kết quả giám sát tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của Trường Đại học Hùng Vương tỉnh Phú Thọ trong 05 năm,
từ năm học 2012 – 2013 đến năm học 2016 –
2017, ngày 09 tháng 10 năm 2017 [3] UBND tỉnh Phú Thọ, Đề án củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo Trường Đại học Hùng Vương giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030, ngày 30 tháng 12 năm 2016.
[4] Trường Đại học Kinh tế Quốc dân –
Trường Đại học Hùng Vương, Thỏa thuận
Trang 11hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học và
tư vấn giữa Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân và Trường Đại học Hùng Vương giai
đoạn 2017 – 2020, Hà Nội, ngày 27 tháng
06 năm 2017�
[5] https://www�neu�edu�vn/vi/ban-tin-neu/ pho-chu-tich-ubnd-tinh-phu-tho-chuc- mung-113-tan-hoc-vien-tai-le-khai-giang- cao-hoc-khoa-26-cua-truong-dh-kinh-te- quoc-dan�
SUMMARY
The cooperation in postgraduate training between hung vuong university and national economics university
– prospects and solutions
Trinh The Truyen
Hung Vuong University, Phu Tho
The cooperation in postgraduate training between Hung Vuong University and
National Economics University is based on social needs; the support from Phu Tho province; the prestige of National Economics University; and the ability of Hung Vuong University to provide services and its geographical advantages This type of cooperation between Hung Vuong University and National Economics University has great potential It will take use of and promote both sides’ strengths and advantages
in order to enhance the quality of training and create most favorable conditions for learners
Keywords: Hung Vuong University, National Economics University, training cooperation,
postgraduate education
Trang 121 Đặt vấn đề
Trong thời gian gần đây, cụm từ “cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư” hay “cuộc
cách mạng công nghiệp 4�0” được đề cập khá
nhiều trên các phương tiện thông tin đại
chúng� Trên các diễn đàn, hội thảo về chủ đề
Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần
thứ 4 hay còn gọi là Cuộc cách mạng công
nghiệp 4�0 (CMCN 4�0) do Quốc hội, Chính
phủ, các Bộ, ngành tổ chức đã thu hút được
nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các
học giả trong và ngoài nước quan tâm� Tại
các Hội thảo này, các nghiên cứu đã chỉ ra
những cơ hội và thách thức đang đặt ra đối
với Việt Nam nói chung, giáo dục đại học
Việt Nam nói riêng trong bối cảnh CMCN
4�0 đang diễn ra�
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4
và một số đề xuất đối với
trường Đại học Hùng Vương
Đỗ Tùng
Trường Đại học Hùng Vương
TÓM TẮT
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới,
tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục đại học Trên cơ sở các nghiên cứu đánh giá về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mô hình trường đại học trong thế kỉ 21, bài viết đưa ra một số đề xuất nhằm đóng góp cho sự phát triển của Trường Đại học Hùng Vương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp, Đại học Hùng Vương, đại học 4.0
Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi tập trung vào một số vấn đề: Giới thiệu khái quát về CMCN 4�0 và một số xu hướng nổi bật của nó, trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất đối với trường Đại học Hùng Vương để
có thể tận dụng cơ hội, thời cơ đem lại sự phát triển cho Nhà trường�
2 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và một số xu hướng phát triển lớn
Nhân loại đã chứng kiến và trải qua ba cuộc CMCN: Đầu tiên là cuộc cách mạng
mở ra từ nửa cuối thế kỉ XVIII với sự ra đời của máy chạy bằng hơi nước và thủy lực; Cuộc CMCN lần thứ hai diễn ra từ cuối thế
kỉ 19 với sự xuất hiện của các dây chuyền sản
Nhận bài ngày 26/11/2017, Phản biện xong ngày 13/12/2017, Duyệt đăng ngày 14/12/2017
Trang 13xuất lớn sử dụng bằng điện; Cuộc CMCN
lần thứ 3 diễn ra từ cuối những năm 60 của
thế kỉ XX mở ra kỉ nguyên tự động hóa bằng
sử dụng điện tử và công nghệ thông tin�
Ngày nay, chúng ta đang bước vào giai đoạn
đầu của cuộc CMCN 4�0 (Fourth Industry
Revolution – FIR 4�0) với sự phát triển mạnh
mẽ các hệ thống liên kết thế giới thực và ảo�
Cuộc CMCN 4�0 phát triển với tốc độ cấp
số nhân, đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ
nền công nghiệp ở mọi quốc gia� Bề rộng và
chiều sâu của những thay đổi này tạo nên sự
tác động sâu sắc của toàn bộ các hệ thống sản
xuất, quản lý, quản trị và đào tạo nhân lực�
Về bản chất, cuộc CMCN 4�0 dựa trên nền
tảng là sự phát triển đột phá của công nghệ
số và tích hợp các công nghệ thông minh để
tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất
trong đó nhấn mạnh những công nghệ đã,
đang và sẽ có tác động to lớn đối với thế giới�
Theo GS Klaus Schwab [5], Chủ tịch Diễn
đàn kinh tế thế giới thì CMCN 4�0 bao gồm
một loạt công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo nhằm kết hợp các
hệ thống ảo với thế giới thực, vạn vật kết nối Internet (Internet of Thing – IoT) và các hệ thống kết nối Internet (Internet of System – IoS)� Cuộc CMCN 4�0 là sự kết hợp công nghệ mới (như máy học, mã hóa gen, nano, năng lượng tái tạo,…) cùng sự tương tác của chúng trong ba lĩnh vực Kĩ thuật số, Vật lí và Sinh học, giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ và thâm nhập vào nhau, tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng và có giá trị sử dụng cao, thậm chí có thể thay thế con người trong nhiều lĩnh vực hoạt động trong đó đặc trưng nổi bật là sự kết hợp các công nghệ giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực này�
Trong lĩnh vực kỹ thuật số, những yếu tố cốt lõi của CMCN 4�0 là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối – Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)� Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, các cảm biến được sản xuất ngày càng nhỏ hơn, rẻ hơn, Nguồn: Internet
Trang 14thông minh hơn, được sử dụng ngày càng
rộng rãi và phổ biến hơn� Chúng được lắp
đặt trong vật dụng thông thường, trong các
mạng lưới giao thông, trong các quy trình
sản xuất và được kết nối Internet� Chúng
được điều khiển thông qua điện thoại thông
minh, máy tính bảng, máy vi tính,… giúp
kết nối thế giới thực với mạng không gian
ảo, đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến toàn
bộ thế giới, đến mọi mặt của đời sống xã hội�
Trong lĩnh vực Sinh học nói chung, lĩnh
vực sinh học phân tử, sinh học tổng hợp và
di truyền học nói riêng có những sự phát
triển vượt bậc� Bằng sự phát triển của khoa
học công nghệ, việc giải trình bộ gen người
với chi phí giảm và dễ dàng thực hiện hơn�
Từ chỗ phải mất hơn 10 năm, với chi phí
2,7 tỉ USD để hoàn thành Dự án Hệ gen
người, đến nay, một gen có thể được giải mã
trong vài giờ với chi phí không tới một ngàn
USD� Tiến tới, con người có thể tùy biến cơ
thể bằng cách kích hoạt, chỉnh sửa các gen
của mình để khắc phục, sửa những khiếm
khuyết mình gặp phải� Những thành công
của nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học đã
tạo ra những bước tiến nhảy vọt trong Nông
nghiệp, Thủy sản, Y dược, chế biến thực
phẩm, bảo vệ môi trường như tạo ra những
giống cây trồng mới, giống vật nuôi có
những tính năng thích ứng với biến đổi khí
hậu, chống sâu bệnh, cho năng suất cao,…
Trong lĩnh vực vật lý với những xu hướng
lớn về phát triển công nghệ như Xe tự lái với
các loại xe hơi, xe tải tự lái, máy bay, thiết bị
bay không người lái���; Công nghệ in 3D thực
hiện tạo ra một đối tượng vật lý bằng cách in
theo các lớp từ một bản vẽ hay một mô hình
3D có trước bằng kỹ thuật số; Robot cao cấp
đang trở nên thích nghi và linh hoạt hơn
ngày càng được sử dụng nhiều hơn ở tất cả
các lĩnh vực từ thay thế con người trong dây chuyền sản sản xuất tự động hóa cho đến chăm sóc người bệnh…; Vật liệu mới xuất hiện với các vật liệu thông minh tự phục hồi hình dạng hay tự làm sạch,���
Những tác động to lớn của cuộc CMCN 4�0 ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt của
xã hội loài người, tác động đến mọi quốc gia đưa lại nhiều thời cơ mới nhưng cũng chứa đựng những thách thức khó khăn�
Cùng với những thành tựu của CMCN 4�0 mà con người được hưởng lợi thì mặt trái của cuộc cách mạng này là việc gây ra
xu hướng bất bình đẳng, phá vỡ thị trường lao động khi tự động hóa thay thế lao động chân tay, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực� Theo một nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy, trong
2 thập niên tới dự báo khoảng 56% số lao động tại 5 quốc gia Đông Nam Á (trong đó
có Việt Nam) có nguy cơ mất việc vì robot
và tại Việt Nam khoảng 86% người lao động trong ngành dệt may - da giày, 3/4 lao động trong ngành điện - điện tử phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm do tự động hóa các dây chuyền sản xuất [5]�
Trong lĩnh vực giáo dục, cuộc CMCN lần thứ 4 tạo ra nhiều cơ hội như môi trường kết nối Internet với nền tảng kĩ thuật số, các công nghệ thông minh trợ giúp quá trình giảng dạy, học tập hay cơ hội để tiếp cận với các chương trình giáo dục quốc tế được thực hiện từ xa, với các thiết bị được kết nối Internet,… Về cơ cấu ngành nghề có sự thay đổi mạnh mẽ, nếu như trước sự phân chia cơ cấu lao động xã hội chủ yếu theo các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thì nay CMCN 4�0 tạo ra cơ sở để dần hình thành cơ cấu nhân lực xã hội theo hai thành phần cơ bản: Nhân lực thừa hành (hành chính, vận chuyển, bảo
Trang 15trì, sản xuất theo dây chuyền,…) và nhân lực
sáng tạo (nhà sáng chế, thiết kế, nghiên cứu,
thử nghiệm,…)� Ranh giới giữa các ngành
công nghiệp truyền thống như luyện kim,
cơ khí chế tạo máy, điện tử,… ngày càng dần
bị xóa mờ và được thay thế bằng các ngành
đào tạo có tính tích hợp, liên ngành cao như
Khoa học vật liệu, Khoa học máy tính, Cơ
điện tử,… Các lĩnh vực khoa học xã hội, khoa
học quản lý cũng phát triển theo xu hướng
đa ngành, liên ngành và tích hợp ngày càng
cao� Chính vì vậy, nhân lực được đào tạo cần
phải có kiến thức chuyên môn, kĩ năng nghề
nghiệp, ngoại ngữ đồng thời phải có năng lực
hoạt động nghiên cứu khoa học liên ngành
mới có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển
của xã hội trong giai đoạn mới�
Theo GS Gottfried Vossen [4], với các tác
động của CMCN 4�0 thì giáo dục đại học
cũng cần phải thay đổi mạnh mẽ, đồng bộ cả
trong giảng dạy, nghiên cứu và quản trị nhà
trường� CMCN 4�0 dẫn tới mô hình trường
đại học 4�0 với hoạt động dạy học, nghiên cứu, quản trị nhà trường phải thay đổi cho phù hợp�
Cũng theo GS Gottfried Vossen, dạy học
4.0 phải có nhiều hình thức học tập mới,
thời gian và địa điểm học tập không bị ràng buộc, có sự thay đổi phù hợp với đối tượng học, hoạt động dạy và học diễn ra mọi lúc và mọi nơi, giúp người học có thể cá nhân hóa, hoàn toàn quyết định việc học tập theo nhu cầu của bản thân, trang bị nhiều kỹ năng
phù hợp hơn cho người học; nghiên cứu 4.0
phải có hình thức nghiên cứu mới (về tốc độ, kết quả nghiên cứu và quá trình đánh giá),
hệ thống dữ liệu quy mô lớn hơn và nguồn
dữ liệu đa đạng hơn; quản lý 4.0 gồm: giảng
dạy (hệ thống phần mềm thực hiện được nhiều mục đích hơn, những công cụ quản lý hiệu quả hơn, hệ thống thông tin lớn hơn), nghiên cứu khoa học (hệ thống thông tin nghiên cứu khoa học, quản lý dự án), quản
lý cơ sở đào tạo, bộ phận hỗ trợ tài chính [4]�
Nguồn: Gottfried Vossen
Dạy học 4�0 Nghiên cứu 4�0
Cơ sở giáo dục
4�0
Quản trị 4�0
Trang 16Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau,
nhưng các nghiên cứu hiện nay đều thống
nhất về mô hình giáo dục đại học trong
tương lai phải là mô hình giáo dục thông
minh, liên kết chủ yếu giữa các yếu tố nhà
trường – nhà quản lý – nhà doanh nghiệp,
tạo điều kiện cho việc đổi mới, sáng tạo và
năng suất lao động trong xã hội tri thức� Mô
hình này phải thúc đẩy được tinh thần khởi
nghiệp của giảng viên, sinh viên; tạo điều
kiện cho hợp tác giữa giáo dục đại học và
sản xuất, gắn kết chặt chẽ, hiệu quả với sự
phát triển kinh tế xã hội tại địa phương và
khu vực�
3 Một số đề xuất đối với Trường Đại
học Hùng Vương
Trường Đại học Hùng Vương được thành
lập năm 2003 trên cơ sở một trường CĐSP
với truyền thống đào tạo trên 40 năm� Nhà
trường được thành lập với sứ mạng là đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc
các nhóm ngành công nghệ, xã hội nhân
văn, khoa học tự nhiên, nông lâm nghiệp,
sư phạm, ngoại ngữ,… đồng thời thực hiện
nhiệm vụ chuyển giao khoa học công nghệ
cho tỉnh Phú Thọ và khu vực� Trường Đại
học Hùng Vương xác định chiến lược phát
triển của mình là trở thành trường đại học
theo định hướng ứng dụng�
Trong gần 15 năm xây dựng và phát triển
với vai trò là Trường Đại học đầu tiên trên
quê hương Đất Tổ, nhà trường đã đạt được
nhiều thành tích nổi bật, đóng góp cho sự
phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ
và khu vực Trung du miền núi phía Bắc� Cơ
sở vật chất của nhà trường dần được đầu tư
hoàn thiện; đội ngũ giảng viên được chuẩn
hóa, tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên
đạt trên 18,6%; ngành nghề đào tạo được mở
rộng theo hướng mở rộng đào tạo sau đại học; chất lượng đào tạo tiếp tục được duy trì
và đã đào tạo được trên 10 ngàn sinh viên đại học, cao đẳng chính quy với tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đạt trên 70%; nhiều
đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp tỉnh,… đã được ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn�
Trong bối cảnh CMCN 4�0 đang diễn ra tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống
xã hội, để có thể nắm bắt được cơ hội mới, khai thác được lợi thế của nhà trường, theo chúng tôi Trường Đại học Hùng Vương cần quan tâm thực hiện một số vấn đề sau:
3.1 Trong công tác quản lý
Cần đổi mới công tác quản lý nhà trường theo hướng tiếp cận quản trị đại học� Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tổng thể các hoạt động của nhà trường đảm bảo khoa học, thiết thực
và hiệu quả� Trước hết, trang bị phần mềm quản lý và xử lý văn bản đi đến, giao việc và quản lý giao việc đối với mỗi vị trí công việc
để đánh giá được hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ mỗi cá nhân� Phân quyền xử lý công việc trên phần mềm; xây dựng và quản lý cơ sở
dữ liệu của trường để phục vụ tra cứu, tìm kiếm và sử dụng nhanh chóng, hiệu quả�
3.2 Trong công tác đào tạo
Thực hiện rà soát chuẩn đầu ra và xây dựng chương trình các ngành đào tạo theo nhóm ngành đảm bảo phù hợp với định hướng ứng dụng nghề nghiệp, quan tâm đến tính liên môn của các ngành học và sự liên thông trong các môn học� Chuẩn đầu ra cần được xác định cụ thể, quan tâm phát triển kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là kỹ năng thích ứng cho sinh viên trước những thay đổi nhanh
Trang 17chóng của thực tiễn� Trong chương trình đào
tạo, dành nhiều thời gian để sinh viên được
tiếp xúc, làm việc với thực tiễn ngành nghề
được đào tạo nhất là tiếp cận với các công
nghệ mới�
Thực hiện đẩy mạnh hoạt động đổi mới
phương pháp dạy học, triển khai xây dựng
hệ thống bài giảng điện tử, tăng cường kết
nối khai thác các khóa học trực tuyến; chú
trọng kĩ năng thực hành và NCKH của sinh
viên; mở rộng hợp tác, trao đổi các chương
trình hợp tác đào tạo, trao đổi vấn đề chuyên
môn với các trường đại học trong và ngoài
nước� Khuyến khích giảng viên xây dựng các
bài giảng trực tuyến để người học có thể học
mọi lúc, mọi nơi� Trước hết, giao nhiệm vụ
với khoa Kỹ thuật công nghệ và khoa Ngoại
ngữ triển khai thực hiện với một số học phần
do các đơn vị này quản lý�
3.3 Trong nghiên cứu khoa học
Do đầu tư các trang thiết bị nhất là đối với
các công nghệ mới đòi hỏi chi phí lớn, lại dễ bị
lạc hậu, thay đổi nên các trường đại học khó có
thể thực hiện được điều này� Chính vì vậy, cần
tăng cường gắn kết, hợp tác có hiệu quả với
các doanh nghiệp, các tập đoàn, các trường
đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước
để xây dựng, khai thác hiệu quả các cơ sở vật
chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm; kết nối,
phối hợp với các nhà máy, doanh nghiệp thực
hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển
giao công nghệ theo hướng thực hiện nhiệm
vụ nghiên cứu và chuyển giao theo nhu cầu
đặt hàng của các doanh nghiệp trên các lĩnh
vực nhà trường có thế mạnh�
Trường Đại học Hùng Vương là một cơ sở
nghiên cứu khoa học có uy tín, nơi tập trung
đội ngũ trí thức có trình độ cao của tỉnh
Phú Thọ� Chính vì vậy, nhà trường cần quan
tâm chỉ đạo xây dựng các nhóm chuyên gia
đi đầu nghiên cứu xu thế toàn cầu hóa cũng như các tác động mạnh mẽ của CMCN 4�0 đối với các mặt kinh tế, xã hội, sản xuất công nghiệp, dịch vụ,… của tỉnh�
3.4 Tăng cường năng lực
Để trường đại học Hùng Vương thực hiện tốt được nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì một trong những nhân tố quyết định là con người, cụ thể đó là năng lực, trình độ chuyên môn, tâm huyết, trách nhiệm của mỗi cán bộ, giảng viên nhà trường� Chính vì vậy, cần tập trung nâng cao năng lực, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là ngoại ngữ của giảng viên� Cần giao nhiệm vụ cho giảng viên nhất là giảng viên trẻ trong thời gian một hay hai năm,… có thể sử dụng ngoại ngữ trong việc giảng dạy, nghiên cứu� Cùng với nâng cao năng lực giảng viên, cần quan tâm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lí và sự chuyên nghiệp trong công việc của đội ngũ chuyên viên� Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn theo các chuyên đề về khai thác Internet, sử dụng dữ liệu dùng chung với nội dung phù hợp cho các đối tượng�
4 Kết luận
CMCN 4�0 đã và đang có những tác động
to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội� Với
sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là cơ sở nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ có uy tín của tỉnh Phú Thọ và khu vực, Trường Đại học Hùng Vương cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc cả về tư duy quản lý, đầu tư cơ sở vật chất, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, tăng cường đánh giá theo chuẩn đầu ra đồng thời
Trang 18The Fourth Industrial Revolution and some suggestions for Hung Vuong University
Do Tung
Hung Vuong University
The Fourth Industrial Revolution (FRI) has strong effects on the world, deeply
influ-encing people’s lives, including higher education Over the research about the FIR and the model of the university in the 21st century, this paper gives some suggestion for Hung Vuong University’s development
Key words: Industrial Revolution, Hung Vuong University, University 4.0
phải tăng cường gắn kết chặt chẽ, hiệu quả
hơn nữa giữa quá trình đào tạo trong nhà
trường với thực tiễn để nâng cao chất lượng,
hiệu quả đào tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục đại học hiện nay�
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Thị Lan Phương (2017), Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ 4: Cơ hội, thách
thức và tác động đến giáo dục, Tạp chí Khoa
học giáo dục số 138�
[2] Phạm Đỗ Nhật Tiến (2017), Chính sách
giảng viên đại học trước những thách thức
của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Tạp chí Khoa học giáo dục số 140�
[3] Báo Tuổi trẻ, tram-trieu-lao-dong-dong-nam-a-nguy-co- mat-viec-lam-1133848�htm
https://tuoitre�vn/ilo-hang-[4] Gottfried Vossen (2017), University 4.0: Concepts, challenges, and preliminary (ERCIS) experiences, International Confer-
ence on University 4�0: A Framework for
Thanh University�
[5] Klaus Schwab (2016), The Fourth Industrial Revolution, Kindle Edition�
Trang 191 Đặt vấn đề
Trong những năm 20 của thế kỷ XX,
thương mại Việt Nam – Hồng Kông tăng
trưởng mạnh, đạt kim ngạch cao, nhưng từ
năm 1930 trở đi, thương mại hai chiều hai
bên giảm dần và về mức gần như không còn
quan hệ trong những năm 1942–1945� Vì vậy,
vấn đề thương mại Việt Nam – Hồng Kông
trong giai đoạn 1930–1945 có nhiều vấn đề
cần nghiên cứu rõ: cán cân thương mại Việt
Hoạt động thương mại
giữa Việt Nam thời Pháp thuộc
Giai đoạn 1897–1929, thương mại Việt Nam – Hồng Kông có sự tăng trưởng liên
tục và đạt đỉnh giá trị những năm 1926–1929 Sang giai đoạn 1930–1945, thương mại Việt Nam – Hồng Kông vẫn tiếp tục được duy trì, Hồng Kông vẫn là thị trường xuất nhập khẩu đứng đầu của Việt Nam ở khu vực châu Á Tuy nhiên thương mại Việt Nam – Hồng Kông giai đoạn này không ổn định và theo đà dần suy giảm về mức gần ngừng trệ hoàn toàn quan hệ trong những năm 1942–1945
Từ khóa: Việt Nam, Hồng Kông; thương mại; xuất khẩu; nhập khẩu.
Nam – Hồng Kông duy trì như thế nào? Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu như thế nào,
có gì thay đổi? Tại sao quan hệ thương mại hai bên trong giai đoạn này có biến động không ổn định và theo đà chung suy giảm mạnh? Làm rõ những vấn đề trên, chúng ta
có những khái quát, đánh giá toàn diện hoạt động thương mại giữa Việt Nam thời Pháp thuộc với vùng lãnh thổ Hồng Kông giai đoạn 1930–1945 và cả giai đoạn 1897–1945�
Nhận bài ngày 29/11/2017, Phản biện xong ngày 13/12/2017, Duyệt đăng ngày 14/12/2017
Trang 202 Kết quả nghiên cứu
2.1 Bối cảnh lịch sử
Giai đoạn 1930–1945, tình hình thế giới,
khu vực, Việt Nam và Hồng Kông có những
diễn biến mới tác động lớn đến quan hệ
thương mại hai bên� Khủng hoảng kinh tế
thế giới 1929–1933 có tác động sâu rộng đến
nhiều quốc gia, khu vực, đặc biệt đối với các
nước tư bản� Hậu quả lớn nhất của khủng
hoảng kinh tế thế giới 1929–1933 là sự hình
thành chủ nghĩa phát xít, với trục phát xít
Berlin – Roma – Tokyo� Chiến tranh thế giới
lần thứ hai (1939–1945) ảnh hưởng nhanh
chóng, toàn diện đến thế giới, nền kinh tế
của nhiều nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng,
trong đó có nước Anh, nước Pháp� Hoạt
động kinh tế, thương mại nhiều quốc gia,
khu vực giảm sút mạnh�
Tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương,
phát xít Nhật ráo riết chạy đua chuẩn bị
chiến tranh� Năm 1937, chiến tranh Trung
– Nhật bùng nổ� Giai đoạn 1930–1945,
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
phát triển mạnh mẽ ở Châu Á, trong đó có
Việt Nam� Chiến tranh thế giới lần thứ hai
nhanh chóng tác động đến khu vực châu Á
– Thái Bình Dương� Phát xít Nhật tấn công
xâm lược Trung Quốc, các nước Đông Nam
Á� Sau sự kiện Trân Châu Cảng (7/12/1941),
châu Á – Thái Bình Dương trở thành một
chiến trường khốc liệt với sự đối đầu của phát xít Nhật và các nước trong phe Đồng minh, đứng đầu là Mỹ�
Như vậy, thế giới, khu vực và Việt Nam trong giai đoạn 1930–1945 có nhiều biến động phức tạp, bất ổn cả về kinh tế, chính trị, an ninh� Giai đoạn này chứng kiến những căng thẳng leo thang dần dẫn đến chiến tranh thế giới lần thứ hai� Tình hình như vậy tác động lớn đến trao đổi thương mại giữa Việt Nam – Hồng Kông�
2.2 Cán cân thương mại
Về tổng thể, hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Hồng Kông giai đoạn 1930–
1945 vẫn được duy trì, nhưng có sự biến động theo chu kỳ: giảm dần trong những năm 1930–1936, tăng trưởng trở lại những năm 1937–1941 và suy giảm mạnh những năm 1942–1945� Tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Hồng Kông năm
1930 là 654,0 triệu Francs (FRF), suy giảm dần đến mức còn 217,3 triệu (FRF) năm
1936, tăng trưởng trở lại đạt cao nhất năm
1940 với tổng kim ngạch 780 triệu (FRF), sau đó suy giảm rất mạnh, chỉ còn 0,8 triệu (FRF) năm 1945 [1]�
Tổng quan về thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hồng Kông giai đoạn 1930–
1945 được thể hiện qua Bảng 1 dưới đây: Bảng 1 Cán cân thương mại giữa Việt Nam và Hồng Kông giai đoạn 1930–1945[1]
Năm xuất khẩu Giá trị nhập khẩu Giá trị kim ngạch Tổng Năm xuất khẩu Giá trị nhập khẩu Giá trị kim ngạch Tổng
Trang 21So với những năm 20 của thế kỷ XX,
thương mại hai chiều Việt Nam – Hồng Kông
giai đoạn 1930–1945 cũng giảm mạnh� Năm
1940, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt
Nam với Hồng Kông đạt cao nhất giai đoạn
1930–1945 (780 triệu FRF), nhưng cũng chỉ
đạt 57,6% so với năm 1927 (năm thương mại
Việt Nam – Hồng Kông đạt cao nhất)�
Sự suy giảm kim ngạch thương mại Việt
Nam – Hồng Kông trong những năm 1930–
1936 so với giai đoạn trước năm 1930, do
nhiều nguyên nhân như: khủng hoảng kinh
tế thế giới 1929–1933; chính sách thuế nhập
khẩu mới của thực dân Pháp; phong trào
cách mạng Việt Nam� Từ năm 1928, thực
dân Pháp ban hành chính sách thuế mới
đối với hàng nhập khẩu vào Đông Dương
nhằm thiết lập độc quyền thương mại của
Pháp ở Việt Nam� Luật thuế mới năm 1928
chủ yếu áp dụng đối với hàng hóa có xuất
xứ từ Trung Quốc, Nhật Bản� Đây là hai
thị trường cung cấp hàng hóa chủ yếu cho
thương nhân Hồng Kông xuất khẩu vào Việt Nam� Mức thuế mới đối với hàng hóa các nước khác nhập vào Việt Nam “đã tăng từ
3 tới 26 lần” [2]� Những năm 30, hàng hóa của thực dân Pháp luôn chiếm hơn 50% thị trường Việt Nam�
Từ năm 1937, thương mại Việt Nam – Hồng Kông phục hồi trở lại là do kinh tế thế giới có sự phục hồi nhất định� Lúc này chiến tranh Trung Quốc bùng nổ nên tình hình kinh tế Trung Quốc bị ảnh hưởng, Hồng Kông trở thành nơi cung cấp một phần quan trọng nhu cầu của Trung Quốc� Mặt khác, từ năm 1940 nước Pháp phải chống lại phát xít Đức, sản xuất đình trệ nên nguồn cung cấp hàng hóa cho thị trường Việt Nam từ Pháp bị hạn chế� Năm 1941, thương mại Việt Nam – Hồng Kông giảm, đặc biệt giảm rất mạnh từ những năm 1942–1945� Nguyên nhân chủ yếu là do từ tháng 11/1941 chiến tranh Châu Á – Thái Bình Dương bùng nổ
ác liệt, tuyến đường hàng hải hoàn toàn bị
Biểu đồ 1 So sánh cán cân thương mại Việt Nam – Hồng Kông giai đoạn 1930–1945 (triệu frf) [1]
Trang 22phong tỏa, gián đoạn; phong trào cách mạng
Việt Nam phát triển chưa từng có nên buôn
bán hai bên ngừng trệ�
Qua bảng 1 cũng cho thấy, giai đoạn 1930
–1945, cán cân thương mại tích cực cho Việt
Nam� Việt Nam xuất siêu sang Hồng Kông
trong thời kỳ 1930–1941� Kết quả này vẫn
tiếp tục duy trì so với giai đoạn trước� Giá trị
xuất siêu cho thấy Hồng Kông là thị trường
quan trọng của kinh tế Việt Nam thời Pháp
thuộc� Lúc này, Hồng Kông đảm nhiệm vai
trò là vùng trung chuyển hàng hóa của nhiều
quốc gia� Hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu
sang Hồng Kông, sau đó từ Hồng Kông, hàng
hóa này tiếp tục được phân phối đến một số
quốc gia khác�
So sánh với các thị trường khác ở khu
vực châu Á, Hồng Kông vẫn là thị trường
đứng đầu về xuất nhập khẩu của Việt Nam�
Năm 1937, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
của Việt Nam với Trung Quốc là 201,1 triệu
FRF [3], với Nhật Bản là 150,2 triệu FRF, với
Hồng Kông là 406 triệu FRF [1]� Kim ngạch thương mại Việt Nam – Hồng Kông giai đoạn này luôn chiếm khoảng hơn 50% tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với các nước châu Á�
2.3 Cơ cấu hàng hóa xuất – nhập khẩu
a) Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Theo thống kê của chúng tôi, Việt Nam vẫn duy trì ổn định khoảng hơn 20 mặt hàng khác nhau xuất khẩu sang Hồng Kông, chia thành hai nhóm� Nhóm hàng hóa nông – lâm – thủy sản gồm: gạo, đậu xanh, hạt vừng, quế, trâu, trứng gia cầm, cao su, cá khô, cá nước muối, tôm khô,… Nhóm hàng thủ công nghiệp và công nghiệp gồm: dầu mài, đồ sơn mài, than đá, xi măng, muối biển� Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, gạo là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao nhất, luôn chiếm khoảng hơn 70% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kông� Năm 1937, Việt Nam xuất khẩu sang
Biểu đồ 2 So sánh cán cân thương mại giữa Việt Nam – Hồng Kông trong hai năm 1927 và 1940 [1]
Trang 23Hồng Kông 319�107 tấn gạo, giá trị đạt 211
triệu FRF [4], chiếm 77,2% tổng giá trị xuất
khẩu sang thị trường này� Theo ông Nguyễn
Khắc Đạm, tư bản Pháp ngày càng nắm
thị phần lớn xuất khẩu gạo của Việt Nam
Trước năm 1930, tư bản Pháp “mới mua
được có từ 10% đến 25% tổng số thóc gạo
xuất cảng của Đông Dương” [2], nhưng từ
năm 1931 trở đi tư bản Pháp “đã mua được
tới từ 30% đến 65%” [2] Tính chung, nhóm
hàng nông – lâm – thủy sản luôn chiếm
khoảng hơn 90% giá trị xuất khẩu của Việt
Nam sang Hồng Kông� Hàng xuất khẩu của
Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm thô, ít
được chế biến�
b) Cơ cấu hàng nhập khẩu
Giai đoạn 1930–1945, cơ cấu hàng nhập
khẩu của Việt Nam từ Hồng Kông phong
phú, đa dạng hơn so với hàng xuất khẩu
của Việt Nam sang Hồng Kông, khoảng
hơn 40 mặt hàng, chia thành hai nhóm�
Nhóm hàng nông nghiệp gồm: tảo biển, sò
ốc, mai rùa, sừng, bột cọ, rau khô, khoai
tây, hoa quả tươi và hoa quả khô, cây
thuốc lá,… Nhóm hàng thủ công nghiệp
và công nghiệp gồm: miến Trung Quốc,
kẹo và sirô Trung Quốc, thuốc lá, các loại
thuốc Đông y, than đá, dầu hỏa, giấy bản,
mực tàu, đồ sứ, vải lụa, đồ gỗ, túi ví, giầy
dép, đồ chơi,… Hàng thủ công nghiệp và
công nghiệp của Việt Nam xuất sang Hồng
Kông chỉ có 4 sản phẩm, chiều ngược lại,
nhóm sản phẩm này nhập vào Việt Nam
khoảng hơn 20 mặt hàng� Thực tế đó phản
ánh nền sản xuất thủ công nghiệp và công
nghiệp hạn chế của Việt Nam trong giai
đoạn này� Nguyên nhân chủ yếu xuất
phát chủ yếu từ chính sách hạn chế kinh
tế Việt Nam của chính quyền thực dân Pháp� Xét toàn diện cho thấy nền kinh tế Hồng Kông thuộc Anh giai đoạn này phát triển đa dạng hơn so với Việt Nam thuộc Pháp� Trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu từ Hồng Kông vào Việt Nam, lúa mì, thảo dược, trái cây và đồ thực phẩm đóng hộp
là những mặt hàng đứng đầu về giá trị nhập khẩu, chiếm khoảng 60% tổng giá trị� Những mặt hàng này nhập khẩu vào Việt Nam đa số phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người Pháp�
2.4 Một số đánh giá về quan hệ thương mại giữa Việt Nam thời Pháp thuộc – vùng lãnh thổ Hồng Kông giai đoạn 1930–1945
Thứ nhất: Thương mại hai bên giai đoạn
1930–1945 không duy trì được đà tăng trưởng liên tục, ổn định như giai đoạn trước, đã giảm mạnh và không ổn định: suy giảm liên tục qua các năm từ 1930 đến
1936, tăng trưởng phục hồi nhất định trong những năm 1937–1941, giảm rất mạnh và gần mất hoàn toàn quan hệ từ năm 1942 đến năm 1945�
Thứ hai: Hồng Kông vẫn là thị trường
có giá trị xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong khu vực châu Á, và là thị trường xuất nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau chính quốc Pháp� Điều này cho thấy vai trò quan trọng của thị trường Hồng Kông và quan hệ thương mại sâu sắc giữa Việt Nam với Hồng Kông� Thông qua thương nhân Hồng Kông, hàng hóa sản xuất ở Việt Nam xâm nhập được thị trường của một số nước trên thế giới� Về
cơ bản, trong cả giai đoạn Việt Nam vẫn duy trì cán cân xuất siêu sang thị trường Hồng Kông�
Trang 24Thức ba: Cơ cấu hàng hóa xuất nhập
khẩu giữa Việt Nam với Hồng Kông khá
phong phú, đa dạng� Điều đó thể hiện sự
xâm nhập sâu của hàng hóa vào thị trường
Việt Nam và Hồng Kông� Tuy nhiên, giá trị
xuất khẩu và cơ cấu hàng hóa xuất nhập
khẩu của Việt Nam trong quan hệ thương
mại với Hồng Kông cũng phần nào phản
ánh rõ hơn về tính chất nền kinh tế tư bản
thực dân, phát triển phiến diện, què quặt
của Việt Nam� Hồng Kông là thị trường
xuất nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam,
nhưng giá trị xuất nhập khẩu năm cao
nhất chỉ đạt 780 triệu FRF� Cơ cấu hàng
xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các
sản phẩm nông nghiệp thô� Sản phẩm
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là lúa gạo,
trong khi đó người dân Việt Nam thiếu đói
nghiêm trọng, đời sống hàng ngày cực khổ,
bần cùng� Chính quyền thuộc địa Pháp vẫn
là chủ nhân thực sự của hoạt động thương
mại giữa Việt Nam – Hồng Kông� Thương
nhân người Việt có tham gia nhưng ở mức
độ hạn chế�
Thứ tư: Hoạt động xuất nhập khẩu
giữa Việt Nam với Hồng Kông nói riêng,
với các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nói
chung chịu sự tác động của nhiều nhân
tố, trong đó tự do và an toàn tuyến đường
hàng hải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng�
Thực tế, trong những năm 1942–1945,
khi chiến tranh Châu Á – Thái Bình
Dương diễn ra, hoạt động thương mại
giữa Việt Nam – Hồng Kông gần như rơi
vào ngừng trệ hoàn toàn� Năm 1941, kim
ngạch thương mại hai bên vẫn đạt 690
triệu FRF, nhưng sang năm 1942, chỉ còn
10 triệu FRF� Do vậy, vấn đề an toàn, tự
do hàng hải thời kỳ nào (hiện nay phải
theo luật pháp quốc tế) cũng luôn có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động thương mại�
3 Kết luận
Cán cân thương mại Việt Nam – Hồng Kông giai đoạn 1930–1945 vẫn được duy trì nhưng theo chiều hướng suy giảm do tác động của nhiều nhân tố� So với giai đoạn trước năm 1930, thương mại hai bên giai đoạn này khác nhau về chiều hướng tăng trưởng và giá trị nhưng vẫn
cơ bản duy trì về sự phong phú, đa dạng của mặt hàng xuất nhập khẩu và cán cân xuất siêu của Việt Nam� Thương mại hai chiều cho thấy một Việt Nam thuộc Pháp
có nền kinh tế chậm phát triển, phiến diện, lạc hậu so với một Hồng Kông thuộc Anh phát triển năng động, cởi mở hơn�
Sự kết thúc của thương mại Việt Nam – Hồng Kông vào năm 1945 mở ra thời kỳ mới tích cực—thời kỳ người Việt Nam
là chủ nhân của quan hệ thương mại với Hồng Kông�
Tài liệu tham khảo
[1] Kham Vorapheth (2004), Commerce et onisation en Indochine 1800–1945, Ed, Les
col-Indes Savantes, Paris�
[2] Nguyễn Khắc Đạm (1958), Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam, Nxb Văn
Sử Địa, Hà Nội�
infor-mations économiques sur la Chine en 1937
et 1942, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I,
Hà Nội�
[4] Nguyễn Thị Thanh Tùng (2014), Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897–1945),
Luận án Tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội�
(Xem tiếp trang 86)
Trang 251 Đặt vấn đề
Khoảng một nửa hợp chất carbon trong
sinh khối (biomass) trên mặt đất là cellulose,
chiếm tới 35–50% khối lượng khô sinh khối
thực vật [7]� Một số phế phẩm của ngành
nông–lâm–nghiệp có chứa cellulose như
rơm rạ, bã mía, mùn cưa… trước đây chủ
yếu được dùng để đốt lấy tro, biện pháp này
tuy tận dụng được nguồn phế phụ phẩm
nhưng lại gây ô nhiễm môi trường� Gần đây
một số nghiên cứu đã sử dụng các chủng
vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose
để xử lý nhóm phế phụ phẩm giàu hợp chất
carbon, nhằm nâng cao giá trị sử dụng của
Bước đầu nghiên cứu tạo phân hữu cơ vi sinh
từ phế phẩm mùn cưa, vỏ cây vụn nhờ sử dụng các chế phẩm sinh học
Trần Trung Kiên 1 , Kiều Thị Thu Lan 2 , Lê Thị Mận 1
TÓM TẮT
Trong nghiên cứu này, hai chế phẩm sinh học Compost maker (CP), EM và phân
trâu bò được sử dụng để xử lý phế phẩm mùn cưa, vỏ cây vụn làm phân hữu cơ vi sinh Sau 90 ngày ủ nguyên liệu đã đạt độ chín theo tiêu chuẩn TCVN 7185:2002 Kết quả phân tích hàm lượng hữu cơ tổng số đạt trên 22% Hàm lượng nitơ tổng số trong phân hữu cơ vi sinh cao nhất khi ủ với chế phẩm EM (%Nts 2,52) trong khi hàm lượng
K2O5 hữu hiệu cao nhất khi ủ với chế phẩm CP (%K2O5(hh)1,61) Nghiên cứu này cũng cho thấy phân ủ với chế phẩm EM có hiệu quả tốt nhất tới một số chỉ tiêu sinh trưởng
và năng suất của cây cải ngọt
Từ khóa: Phân hữu cơ vi sinh; mùn cưa; vỏ cây vụn; chế phẩm Comspot maker; chế phẩm EM
chúng như một nguồn phân bón hữu cơ cho cây trồng� Trần Văn Cường và cs gần đây đã
sử dụng chế phẩm vi sinh vật để xử lý rơm
rạ tạo ra phân hữu cơ có hàm lượng nitơ tổng số và kali hữu hiệu cao [1]� Trong một nghiên cứu khác ba loại chế phẩm sinh học là Biomix; Trichomix–DT; AT Compost được
sử dụng để xử lý rơm rạ trực tiếp trên đồng
ruộng [2]� Nguyễn Thành Hối và cs sử dụng
Trichoderma sp tạo phân vi sinh từ rơm rạ
đã làm tăng năng suất của hai giống lúa thử
nghiệm [3]� Ngoài ra, vỏ cà phê và ca cao còn được nghiên cứu xử lý nhanh bằng hai chủng
nấm mốc của các loài Trichoderma viride và
Nhận bài ngày 22/11/2017, Phản biện xong ngày 10/12/2017, Duyệt đăng ngày 12/12/2017
Trang 26Aspergillus niger [8]� Bã thải trồng nấm rơm
được nhóm tác giả Phan Như Thúc xử lý với
chế phẩm Emuniv và ứng dụng trồng rau
cho hiệu quả tốt [9]�
Việt Nam là nước có 2/3 diện tích là đồi núi
với tổng diện tích đất có rừng năm 2015 là
14�061,9 ha, sản lượng gỗ khai thác lên tới
9�199,2 nghìn m3 [10]� Với diện tích và sản
lượng gỗ khai thác như vậy ước tính nguồn
phế phụ phẩm (mùn cưa, vỏ cây vụn) sẽ rất
lớn� Qua khảo sát cho thấy, hầu như nguồn
nguyên liệu này còn rất ít được quan tâm
nghiên cứu theo hướng tạo phân hữu cơ vi
sinh� Một nghiên cứu gần đây về sự biến đổi
thành phần hóa học của mùn vụn gỗ phế
thải khi xử lý với hai loại chế phẩm Biomix
và Compost maker trong quá trình tạo phân
hữu cơ vi sinh cho thấy: cellulose bị biến đổi
mạnh nhất, lignin và các chất trích ly bằng
ethanol ít bị biến đổi hơn [5]� Để có thêm
thông tin về nghiên cứu xử lý mùn cưa,
vỏ cây vụn làm phân hữu cơ vi sinh cũng
như nghiên cứu ảnh hưởng của chúng lên
cây trồng, chúng tôi thực hiện nghiên cứu
này bằng việc sử dụng hai loại chế phẩm là
Compost maker, EM và phân trâu bò tươi�
2 Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Mùn cưa và vỏ cây vụn: được thu thập tại
các xưởng chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Phú
Thọ, chủ yếu từ cây nguyên liệu giấy như:
keo, bạch đàn� Mùn cưa khô được thu thập
sau khi cưa, sẻ gỗ� Vỏ cây vụn được thu thập
sau khi bóc và nghiền vụn bằng máy bóc
vỏ gỗ�
Chế phẩm Compost Maker (CP) (Viện
Thổ nhưỡng Nông hóa sản xuất 2017):
chứa các chủng vi sinh vật phân giải
cellulose (Streptomyces owasinensis); phân
giải photphat khó tan, phân giải protein
(Burkholderia vietnamiensis); lên men, khử mùi hôi (Saccharomyces cerevisiae); mật độ
vi sinh vật hữu ích mỗi loại >108 CFU/g; chế phẩm EM (Effective Microorganisms) (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa sản xuất 2017): chứa khoảng 80 chủng vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí thuộc các nhóm: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn; mật độ vi sinh vật >108 CFU/ml; phân trâu bò tươi được thu tại chuồng vào buổi sáng sớm�
Cây rau cải ngọt (Brassica integrifolia) 15
ngày tuổi, lựa chọn những cây khỏe mạnh,
có chiều cao tương đối bằng nhau, có 2–3
lá được sử dụng để nghiên cứu so sánh ảnh hưởng của các mẫu phân hữu cơ vi sinh được
ủ từ các nguồn chế phẩm khác nhau�
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp ủ phân
Nguyên liệu được ủ theo ba công thức:
• CT1: Mùn cưa + chế phẩm EM (EM);
• CT2: Mùn cưa + chế phẩm Compost maker (CP);
• CT3: Mùn cưa + phân trâu bò (PT)�Phân hữu cơ vi sinh từ mùn cưa, vỏ cây vụn được ủ như sau:
Bước 1: Xử lý sơ bộ phế phẩm� Tiến hành
thu gom mùn cưa và vỏ cây vụn, loại bỏ những mảnh vỏ cây có kích thước to lớn để nghiền vụn� Trải trên nền đất một lớp bạt nylon, kích thước 4 m × 4 m� Dùng nước vôi trong (10 kg vôi bột hòa tan trong 50 l nước để lắng qua đêm) tưới và đảo trộn đều cho thấm ướt, sau đó phủ kín bạt và ủ trong hai ngày�
Bước 2: Tiến hành ủ với chế phẩm� Cả hai
loại chế phẩm CP và EM được ủ với tỷ lệ 1:500 (w/w) theo hướng dẫn của nhà sản xuất�
Trang 27Phân trâu bò được ủ với tỷ lệ 1:100 (w/w)�
Dùng bình tưới đều chế phẩm lên bề mặt
từng lớp theo tỉ lệ trên và bổ sung nước để
đảm bảo độ ẩm� Đống ủ có chiều cao 1,2–1,5
m; rộng 1,5–1,7 m; dài 4–5 m�
Bước 3: Giữ ẩm và tạo nhiệt độ cho đống ủ
bằng cách đậy đống ủ bằng bạt kín�
Bước 4: Chăm sóc đống ủ� Hai tuần một lần
mở đống ủ ra quan sát sự biến đổi của màu
sắc của nguyên liệu ủ, độ hoai mục của đống
ủ và đảo trộn để chuyển nguyên liệu từ dưới
lên trên và từ mặt ngoài vào trong đống ủ�
Thêm nước để đảm bảo độ ẩm đạt 45–50%�
Mẫu phân hữu cơ được phân tích hàm
lượng hữu cơ tổng số, nitơ tổng số, photpho
và kali hữu hiệu�
2.2.2 Phương pháp xác định nhiệt độ, độ
ẩm, độ hoai mục
Để kiểm soát đống ủ, giá trị nhiệt độ được
đo bằng nhiệt kế� Giá trị pH được đo bằng
máy đo pH đất� Các lần đo được thực hiện
ở cùng một thời điểm, ở ba vị trí khác nhau
của đống ủ� Các chỉ tiêu được đo 2 tuần 1 lần�
Độ ẩm của phân, được biểu thị bằng tỷ
số phần trăm giữa khối lượng nước có trong
mẫu bay hơi sau khi sấy đến khô tuyệt đối
với khối lượng mẫu trước khi sấy (TCVN
9297:2012)�
Xác định độ hoai mục thông qua đánh giá
cảm quan và đo nhiệt độ đống ủ� Nếu nhiệt
độ đống ủ được đo ở cùng một thời điểm
trong ba ngày liên tiếp có nhiệt độ ổn định
trong khoảng 28–30o, là phân đã đạt độ hoai
mục (TCVN 7185:2002)�
2.2.3 Đánh giá hiệu quả phân hữu cơ
vi sinh
Thí nghiệm trồng cây cải ngọt gồm 4 công
thức, mỗi công thức trồng 30 cây, nhắc lại
3 lần, khoảng cách trồng 20 × 20 cm� Các
công thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên�
Cụ thể như sau: đối chứng, không sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh (RT0); bón phân hữu cơ vi sinh được ủ từ nguyên liệu với chế phẩm EM (RT1); bón phân hữu cơ vi sinh được ủ từ nguyên liệu với chế phẩm
CP (RT2); bón phân hữu cơ vi sinh được ủ từ nguyên liệu với phân trâu bò (RT3)�
* Phương pháp thu thập số liệu về sinh
trưởng và năng suất
• Số lượng lá tăng = số lá ở thời điểm xác định – số lá ban đầu�
• Chiều dài lá tăng = chiều dài lá ở thời điểm xác định – chiều dài lá ban đầu�
• Chiều rộng lá tăng = chiều rộng lá ở thời điểm xác định – chiều rộng lá ban đầu, đo cố định ở lá thứ 2 tính từ gốc lên�
• Xác định trọng lượng cây (g): cân trọng lượng toàn bộ cây cải ngọt bằng cân kĩ thuât có độ chính xác tới 0,001 (Pioneer, USA)�
• Tính năng suất lý thuyết (NSLT tạ/ha) = (Số khóm/m2 x trọng lượng cây (g))/10 (10 là hệ số quy đổi đơn vị g/m2
Quy trình ủ phân được tóm tắt thông qua
sơ đồ hình 1, qua theo dõi nhận thấy, sau
90 ngày mẫu ủ đã đạt độ hoai mục� Kết thúc quá trình ủ, sản phẩm được dỡ ra và đảo trộn, đánh đống lại và để nguyên 1–2 tuần với mục đích ổn định chất lượng� Trước khi đưa vào sử dụng, phân hữu cơ vi sinh được kiểm tra theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 7185:2002)�
Trang 283.2 Diễn biến độ pH, độ ẩm, nhiệt độ
trong quá trình ủ phân
Độ pH, độ ẩm và nhiệt độ có tính chất
quyết định đến thời gian ủ và chất lượng của
phân hữu cơ vi sinh� Quá trình ủ phải kiểm
soát những yếu tố trên để phân hữu cơ vi
sinh đạt yêu cầu về độ hoai mục cao nhất�
Độ pH: Qua bảng 1 nhận thấy, pH của
cả 3 đống ủ đều có sự thay đổi theo thời
gian� Cụ thể, đối với đống ủ với chế phẩm
EM, pH của đống ủ sau 30 ngày ủ là 4,8 thì
sau 60 ngày ủ pH tăng lên 5,6 và sau 90 ngày
ủ pH đạt 6,0� Đối với đống ủ với chế phẩm
CP, pH sau 30 ngày ủ là 5,8 thì sau 90 ngày ủ
pH tăng lên 7,3 hay tương tự khi ủ với phân trâu bò tươi pH của đống ủ cũng tăng lên theo thời gian và sau 90 ngày ủ pH đo được
là 7,5, điều này chứng tỏ đã xảy ra quá trình phân giải và biến đổi các chất trong đống
ủ nhờ tác động của các vi sinh vật được bổ sung dẫn đến thay đổi pH của đống ủ� Sau
90 ngày ủ tiếp tục tiến hành kiểm tra thường xuyên, kết quả thu được cho thấy chỉ tiêu này không có biến đổi nhiều và dần đi vào
ổn định�
Độ ẩm: Quá trình ủ do nhiệt độ tăng lên,
hơi nước bốc lên làm đống ủ khô� Để đảm bảo độ ẩm thích hợp cho vi sinh vật hoạt động, quá trình chăm sóc đống ủ cần bổ sung thêm nước� Sau 90 ngày đống ủ đã hoai mục, độ ẩm trong phân đạt ≈ 45%�
Nhiệt độ: Kết quả kiểm tra cho thấy, nhiệt
độ tăng dần và đạt 40–450C sau khi ủ khoảng
30 ngày tại cả 3 đống ủ� Đây là điều kiện nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của hầu hết các vi sinh vật� Nhiệt độ này duy trì ổn
Hình 1 Sơ đồ quá trình ủ phân hữu cơ vi sinh
Bảng 1 Diễn biến độ pH sau 30, 60 và 90 ngày ủ
nguyên liệu với chế phẩm
Trang 29định cho đến thời điểm khoảng sau 90 ngày
ủ, nhiệt độ có dấu hiệu giảm dần và về mức
nhiệt ổn định trong khoảng 28–290C� Điều
này cho thấy, sau 90 ngày ủ, cơ chất dùng
cho các phản ứng của vi sinh vật dần hết, sản
phẩm đã hoai mục (theo TCVN 7185:2002)�
Giá trị nhiệt độ này cũng phù hợp với nhiều
nghiên cứu của các tác giả khác [1], [4], [6]�
3.3 Kết quả đánh giá cảm quan
Nguyên liệu sau 30, 60 và 90 ngày ủ được
kiểm tra, đánh giá cảm quan để có phương
án điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm, độ pH cho
phù hợp�
Kết quả bảng 2 cho thấy, theo thời gian
màu sắc và độ kết dính của mẫu ủ có sự biến
đổi rõ rệt� Cụ thể, mẫu ban đầu đưa vào ủ
đều có màu vàng, tơi, cứng sau đó màu của
nguyên liệu đều dần chuyển sang nâu nhạt
(30 ngày) và nâu (60 ngày)� Trong 3 mẫu ủ,
Bảng 2 Kết quả đánh giá cảm quan của nguyên
liệu ủ
Thời gian
(ngày) CT 1 Đánh giá cảm quan CT 2 CT 3
0 Màu vàng,
tơi, cứng Màu vàng, tơi, cứng Màu vàng, tơi, cứng
30 Màu nâu nhạt Màu nâu nhạt Màu nâu
rất nhạt
60 Màu nâu Màu nâu Màu nâu nhạt
90 Màu nâu
đen sậm Màu nâu đen sậm Màu nâu
mẫu ủ với chế phẩm CP hoai mục nhanh nhất, điều này có thể được giải thích rằng, trong CP các chủng vi sinh vật chủ yếu thuộc
nhóm phân giải cellulose Streptomyces nên
có lợi cho việc phân hủy� Sau 90 ngày ủ, mẫu
ủ với chế phẩm CP và EM màu nguyên liệu chuyển sang nâu đen, mềm, có độ dính kết cao còn mẫu được ủ với PT đặc tính này mới đạt được ở mức độ trung bình, vì vậy để mẫu này đạt được độ hoai mục tốt nhất được cần
ủ thêm thời gian (hình 2)�
3.4 Kết quả phân tích hàm lượng N, P,
K và hữu cơ tổng số Kết quả phân tích ở bảng 3 chỉ ra rằng,
hàm lượng hữu cơ tổng số trong cả ba công thức đều thấp hơn so với đối chứng (mùn cưa chưa ủ) và đạt tiêu chuẩn về hàm lượng hữu
cơ của phân hữu cơ theo (TCVN 7185:2002)�Kết quả này là do hoạt động của các vi sinh vật có trong chế phẩm hoặc phân trâu
bò đã oxy hóa các hợp chất hữu cơ thành một dạng cơ chất ổn định có thể sử dụng làm phân bón� Về thành phần dinh dưỡng chứa các nguyên tố đa lượng đạt tiêu chuẩn của phân hữu cơ vi sinh, bao gồm mẫu ủ với chế phẩm EM, N(ts) đạt 2,52%, mẫu ủ với CP
K2O5(hh) 1,61%� Theo Thông tư số 36/2010/TT-BNNPTNT về việc ban hành quy định sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón,
Hình 2 Màu sắc của sản phẩm trước và sau ủ 90 ngày
ĐC: công thức đối chứng, nguyên liệu chưa xử lý
Trang 30hàm lượng dinh dưỡng được chấp nhận của
phân bón có chứa hàm lượng hữu cơ bằng
80% giá trị ở tiêu chuẩn, hàm lượng một yếu
tố đa lượng %K2O(hh) hoặc %P2O5(hh) hoặc %
N(ts) có giá trị bằng 90% so với tiêu chuẩn�
Đối chiếu với TCVN 7185: 2002 và thông tư
36 thì hai mẫu ủ với CP và EM đều đạt tiêu
chuẩn của phân hữu cơ� So sánh với nghiên
cứu của Võ Thị Nho và cs, rơm rạ ủ với chế
phẩm Bio–Plan [6], mẫu ủ với chế phẩm EM
có hàm lượng nitơ tổng số và mẫu ủ với CP
có hàm lượng K205 cao hơn hẳn�
3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu
cơ vi sinh đến sự sinh trưởng và năng suất
của cây rau cải ngọt (Brassica integrifolia)
Để nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu
cơ vi sinh tới cây trồng, chúng tôi sử dụng
cây rau cải ngọt đã được 15 ngày tuổi, lựa
chọn những cây đồng đều nhau có khoảng
3 lá, chiều dài lá từ 6–7 cm, chiều rộng lá từ
2,5–3 cm đem trồng thí nghiệm� Cây được
theo dõi trong thời gian 25 ngày� Xác định
ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến
sự sinh trưởng thông qua các chỉ tiêu: số
lá, chiều dài, chiều rộng lá tăng so với kích thước ban đầu và năng suất thông qua trọng lượng tươi, năng suất lý thuyết� Kết quả thu
được trình bày trong bảng 4�
Số liệu trong bảng 4 cho thấy, tất cả các
công thức trồng rau cải ngọt có sử dụng phân hữu cơ được ủ từ mùn cưa với chế phẩm
EM, CP hoặc phân trâu, cây đều có sự sinh trưởng và năng suất tốt hơn so với công thức đối chứng� Trong đó, công thức cây cải ngọt được bón với phân ủ từ chế phẩm EM (RT1) cho hiệu quả tốt nhất� Cụ thể, sau 25 ngày trồng so với thời điểm ban đầu số lá tăng thêm 10,8 lá/cây, chiều dài lá tăng 19,49 cm, chiều rộng lá tăng 4,47 cm, trọng lượng tươi của cây đạt 103,52 g và năng suất đạt 258,80 tạ/ha� Sự sai khác đều có ý nghĩa thống kê
ở mức 95%� Điều này có thể giải thích là do phân hữu cơ ủ với chế phẩm EM (RT1) có hàm lượng nitơ tổng số cao nhất (2,52), đây
là nguyên tố có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nhóm cây lấy lá trong đó có cây cải ngọt�
Bảng 3 Kết quả phân tíchhàm lượng N, P, K và hữu cơ tổng số
1 CT 2 CT 3
1 Nitơ tổng số TCVN 8557:2010 % N (ts) 0,46 2,52 1,62 1,79
2 P 2 O 5 hữu hiệu TCVN 8559:2010 %P 2 O 5(hh) 0,05 0�70 2,06 0,37
3 K 2 O 5 hữu hiệu TCVN 8560:2010 %K 2 O (hh) 0,13 0,19 1,61 0,28
4 Hữu cơ tổng số TCVN 9294:2012 %OM 35,29 23,14 29,03 20,75
Bảng 4 Ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh đến sự sinh trưởng và năng suất của cây rau cải ngọt
Công thức Số lượng lá tăng (lá) Chiều dài lá tăng (cm) Chiều rộng lá tăng (cm) Trọng lượng cây tươi (g) Năng suất lý thuyết (tạ/ha)
RT o 7,20±1,17 14,60±1,12 3,31±0,38 78,82±2,51 197,04±6,27
RT 2 9,17±0,69 17,19±1,15 3,82±0,69 93,44±3,26 233,60±8,16
RT 3 8,87±1,02 17,26±1,14 3,79±0,57 91,41±1,78 228,53±4,44 LSD 0�05 0,32 0,71 0,17 6,98 17,46
CV% 1,90 2,20 2,30 4,00 4,00
Trang 314 Kết luận
Nghiên cứu góp phần tìm ra giải pháp
xử lý phế phẩm mùn cưa và vỏ cây vụn hiệu
quả, hạn chế ô nhiễm môi trường, cải thiện
độ phì cho đất, bổ sung các nguyên tố đa
lượng cho cây trồng� Nguyên liệu được ủ với
chế phẩm CP, EM và PT sau 90 ngày mẫu
ủ đã đạt độ hoai mục� Đánh giá cảm quan
và phân tích một số các chỉ tiêu như hàm
lượng hữu cơ tổng số, nitơ tổng số, photpho
hữu hiệu, kali hữu hiệu trong mẫu ủ với CP
và EM cho thấy phân đã đạt yêu cầu về chỉ
số hữu cơ, chỉ số các nguyên tố đa lượng đạt
yêu cầu tối thiểu một chỉ số (TCVN 7185:
2002)� Đánh giá hiệu quả của phân đối với
cây cải ngọt thông qua một số chỉ tiêu về
sinh trưởng, trọng lượng tươi và năng suất
lý thuyết cho thấy, cây được bón phân ủ từ
nguyên liệu với chế phẩm EM, CP và PT đều
cho hiệu quả hơn hẳn so với công thức đối
chứng và tốt nhất là công thức bón phân hữu
cơ vi sinh được ủ với chế phẩm EM�
Ghi chú: Công trình này được hoàn thành
với sự hỗ trợ kinh phí từ chương trình
nghiên cứu KH&CN năm 2017 của Trường
Đại học Hùng Vương, Tỉnh Phú Thọ�
Tài liệu tham khảo
[1] Trần Văn Cường, Nguyễn Văn Huân,
Nguyễn Hồng Ngọc, Nguyễn Quang Huy,
Phạm Văn Ngọc, Phan Thị Lan Anh, Hà
Văn Huân (2014), “Một số kết quả ứng dụng
chế phẩm vi sinh trong xử lý chất thải nông
nghiệp thành phân bón hữu cơ”, Tạp chí
khoa học và Công nghệ lâm nghiêp, 4, p�3-9�
[2] Nguyễn Xuân Dũ, Trương Thị Nga, Nguyễn
Thị Kim Phước (2014), “Xử lý rơm rạ trên đồng
ruộng bằng chế phẩm sinh học trong vụ xuân
hè tại huyện cái bè tỉnh Tiền Giang”, Tạp chí
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 3: p� 81-86�
[3] Nguyễn Thành Hối, Mai Vũ Du, Lê Vĩnh Thúc, Nguyễn Thị Diễm Hương (2015), “Ảnh hưởng của phân ủ từ rơm (phế thải của việc sản xuất nấm rơm) có xử lí Trichoderma đến sinh trưởng và năng suất của 2 giống lúa MTL560
và IR50404”, Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh 2(67): 177-183�
[4] Trần Ngọc Hữu, Đỗ Tấn Trung, Nguyễn Quốc Khương, Nguyễn Thành Hối và Ngô Ngọc Hưng (2014), “Thành phần dinh dưỡng NPK trong ủ phân hữu cơ vi sinh và hiệu quả trong cải thiện sinh trưởng và năng
suất lúa”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 3, p�151-157�
[5] Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Chu Thi Thu
Hà (2012), “Nghiên cứu sự biến đổi một số thành phần hóa học của mùn vụn gỗ phế thải trong quá trình tạo phân bón hữu cơ vi
sinh”, J Viet Env 3(1): p�10-13�
[6] Võ Thị Nho (2016), “Nghiên cứu ủ phân hữu cơ vi sinh từ rơm, rạ và phân trâu bò tại
huyện Lệ Thủy, Tỉnh Quảng Bình”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Hùng Vương, 2(3), p�82-85�
[7] Võ Văn Phước Quệ và Cao Ngọc Điệp, (2011), “Phân lập và nhận diện vi khuẩn
phân giải celullose”, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 18a: 177-184�
[8] Trần Thị Thanh Thuần, Nguyễn Đức Lượng (2009), “Nghiên cứu enzyme cellalase và
pectinase từ chủng Trichoderma viride và Apergillus niger nhằm xử lý nhanh vỏ cà phê”, Tạp chí phát triển KH&CN, 12(13): 1-7� [9] Phan Như Thúc (2016), Nghiên cứu giải pháp
xử lý bã thải trồng nấm trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng, Báo cáo đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng� [10] Tổng cục Thống kê (2016), Niên giám thống
kê, Nhà xuất bản Thống kê, p�15�
(Xem tiếp trang 71)
Trang 321 Đặt vấn đề
Phú Thọ là tỉnh có lịch sử trồng chè lâu
đời, có trình độ thâm canh chè cao� Diện
tích chè toàn tỉnh Phú Thọ đạt gần 15�720
ha, chiếm khoảng 12% diện tích chè và xếp
thứ 4 cả nước� Hiện nay, mặt hàng chè chủ
lực của Phú Thọ vẫn là chè đen� Đơn giá xuất
khẩu bình quân của chè đen Việt Nam hiện
nay vào khoảng 1,2–1,3 USD/kg� Mức giá
này tương đương với 4�000 đ/kg chè nguyên
Hiệu quả kinh tế
từ mô hình sản xuất chè Đông Xuân
TRÊN GIỐNG KIM TUYÊN TẠI PHÚ THỌ
Phan Chí nghĩa 1 , nguyễn Văn Toàn 2 , nguyễn ngọC nông 3
liệu và chưa đủ để nâng cao đời sống người làm chè ở Phú Thọ�
Cây chè là loại cây có xuất xứ từ rừng nhiệt đới, yêu cầu về lượng mưa hàng năm thích hợp cho cây chè là 1�500–2�400 mm, hàng tháng là trên 100 mm [2]� Tuy nhiên, khí hậu đặc thù ở miền Bắc nước ta có đặc điểm nóng ẩm vào vụ Hè Thu và hanh khô
vụ Đông Xuân, điều này làm cho việc canh tác cây chè chủ yếu chỉ diễn ra vào các tháng
TÓM TẮT
Áp dụng mô hình sản xuất chè Đông Xuân trên giống chè Kim Tuyên bằng việc kết
hợp các biện pháp kỹ thuật như: tưới nước bổ sung với lượng 800m3/ha/tháng, bón cân đối phân đa lượng NPK và phân hữu cơ vi sinh, thay đổi thời vụ đốn sang tháng 4 làm tăng mật độ búp, khối lượng búp, cũng như chiều dài búp đồng thời làm tăng năng suất và số lứa hái trong vụ Đông Xuân thêm 1 lứa Ngoài ra, mô hình này còn nâng cao tổng sản lượng cả năm thêm 9,6 tạ/ha mà không làm suy giảm sản lượng vụ Hè Thu Đánh giá thử nếm cảm quan còn cho thấy chất lượng chè xanh ở mức khá, được thị trường ưa chuộng Mô hình còn có lợi nhuận cao đạt 125.969.000 đồng/ha, đồng thời rải đều thu nhập của người làm chè trong cả năm, góp phần giảm thời gian nông nhàn, kéo theo nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội
Từ khóa: mô hình, rải vụ, năng suất, chè xanh, Đông Xuân
Nhận bài ngày 30/11/2017, Phản biện xong ngày 14/12/2017, Duyệt đăng ngày 15/12/2017
Trang 33vụ Hè Thu� Từ thực tiễn này dẫn tới vụ
Đông Xuân thị trường chè chậm lưu thông,
sản phẩm khan hiếm� Mặt khác, do vụ Đông
Xuân nhiệt độ và ẩm độ thấp chất lượng búp
chè rất tốt� Với hai yếu tố trên làm cho giá
bán chè xanh vụ Đông Xuân thường cao
hơn gấp 2,3 lần so với chè chính vụ� Những
năm trở lại đây, hướng sản xuất chè xanh vụ
Đông Xuân đang là một hướng đi mới được
nhiều bà con quan tâm� Xuất phát từ thực
tế đó, cần tiến hành nghiên cứu đánh giá
hiệu quả kinh tế từ mô hình sản xuất chè
Đông Xuân tại tỉnh Phú Thọ để giải quyết
vấn đề này�
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Thời gian, địa điểm
■Thời gian: từ tháng 12/2015 đến 12/2017�
■Địa điểm: xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ,
• Lượng bón: bón tăng 15% lượng phân
NPK so với quy trình “Kỹ thuật trồng,
thâm canh chè an toàn” của Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (2003)
[4]� (Bón 2 lần, mỗi lần 110 kg ure +
100 kg super lân + 30 kg kali clorua
(vào tháng 9 và tháng 12)�
• Bón bổ sung phân hữu cơ sinh học Sông
Gianh với lượng 600 kg/ha vào tháng 9�
■Kỹ thuật tưới nước:
• Lượng nước tưới: tưới bổ sung nước
từ tháng 10 năm trước đến hết tháng
3 năm sau với lượng nước tưới 800m3/
■Đối chứng: đối chứng là nương chè Kim
Tuyên sản xuất bình thường của người dân
xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ� Bón phân theo Quy trình “Kỹ thuật trồng, thâm canh chè an toàn” của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (2003) [4], không tưới nước bổ sung vụ Đông Xuân, đốn chè bằng máy vào tháng 12�
2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
■Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: mật độ búp (búp/m2), chiều dài búp 1 tôm 3 lá (cm), khối lượng búp 1 tôm 3 lá (g/búp)�
■Chất lượng: thử nếm cảm quan chè theo TCVN 3218 – 1993�
■Hạch toán hiệu quả kinh tế: lợi nhuận (RVAC) được tính bằng tổng thu (GR) trừ đi tổng chi phí (TC): RVAC = GR – TC�
• Tổng thu (vụ Đông Xuân và Hè Thu) = giá chè khô X sản lượng�
• Tổng chi = Công lao động (phun thuốc, làm cỏ, làm đất, bón phân, thu hái, đốn) + Vật tư (Thuốc BVTV, phân bón, nhiên liệu, điện bơm nước tưới)�
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
Qua theo dõi các yếu tố cấu thành năng
suất của hai mô hình (xem bảng 1) chúng
tôi nhận thấy:
Trong vụ Đông Xuân, mô hình thí nghiệm cho mật độ búp (201,22 búp/m2), khối lượng
Trang 34búp (0,58 gam/búp) cũng như chiều dài búp
(4,5 cm/búp) cao hơn sản xuất đối chứng�
Điều này rất có ý nghĩa cho người sản xuất
để nâng cao năng suất chè vụ Đông Xuân, rõ
ràng việc tưới nước và bón phân bổ sung cân
đối đã nâng cao các yếu tố cấu thành năng
suất của búp chè Đông Xuân�
Trong vụ Hè Thu, tuy mô hình thí nghiệm
có khối lượng búp thấp hơn đối chứng (0,59
gam/búp) nhưng mật độ và chiều dài búp lại
tăng cao hơn so với đối chứng� Điều này có
thể là do hàm lượng nước trong búp chè ở
mô hình cao hơn sản xuất đại trà (do lượng
tưới nước bổ sung trong vụ Đông Xuân),
dẫn đến khối lượng vật chất khô tích lũy
trong búp thấp hơn� Kết quả này phù hợp
với kết quả nghiên cứu của Ahmed S� (2014)
[1] cho rằng, khi cây chè thiếu nước sẽ sản
sinh ra một chất là axit jasmonic (JA), chất
này làm chậm quá trình tích lũy vật chất khô của cây chè�
Khi so sánh kỹ hơn năng suất và sản lượng của chè ở mô hình sản xuất, chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi rõ rệt về cơ cấu lứa hái của cây chè trong năm�
vụ này thêm 1 lứa� Khi so sánh tổng sản lượng cả năm cũng cho thấy mô hình sản xuất chè Đông Xuân đã nâng cao sản lượng thêm 9,6 tạ/ha, điều này là minh chứng rõ
Bảng 1 So sánh các yếu tố cấu thành năng suất của mô hình sản xuất chè đông xuân và mô hình sản xuất đại trà
Công thức Mật độ búp (búp/m 2 ) Khối lượng búp 1 tôm 3 lá (g/búp) Chiều dài búp 1 tôm 3 lá (cm)
Bảng 2 So sánh năng suất của mô hình sản xuất chè đông xuân và mô hình sản xuất đại trà
Trang 35nét nhất của việc mô hình này ảnh hưởng
rất ít đến sản lượng chè Hè Thu� Tuy nhiên,
để bổ sung lượng dinh dưỡng cây trồng mất
đi do nâng cao sản lượng, cần thiết phải
chú ý đến việc bổ sung dinh dưỡng cho
cây bằng cách tăng lượng phân đa lượng
và hữu cơ cần thiết� Kết quả này phù hợp
với những nghiên cứu của Lê Tất Khương
(2016) [3]� Tác giả cho rằng muốn sản xuất
chè Đông Xuân cần phải phối hợp nhiều
yếu tố kỹ thuật từ tưới nước, bón phân và
Bảng 3 So sánh điểm thử nếm cảm quan của mô hình sản xuất chè Đông Xuân và mô hình sản xuất đại trà
2�1 Thuốc BVTV (đồng) 3�250�000 3�250�000 2�2 Phân bón (đồng) 20�135�000 24�933�000 2�3 Nhiên liệu (củi, điện sao chè) (đồng) 2�537�000 4�010�000 2�4 Điện bơm nước tưới (đồng) 0 3�500�000
2�2 Giá bán chè khô trung bình (đồng) 100�000 100�000
Trang 36Tuyên đều được đánh giá ở mức khá, một
yêu cầu rất quan trọng trong việc đánh giá
chất lượng chè�
3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế trong
điều kiện thâm canh của mô hình so với
sản xuất đại trà
Qua đánh giá hiệu quả kinh tế ở hai mô
hình thu được kết quả thể hiện ở bảng 4�
Có thể thấy rất rõ lợi nhuận của mô hình
sản xuất chè Đông Xuân cao hơn hẳn sản
xuất đại trà, đạt 125�969�000 đồng/ha so với
82�848�000 đồng/ha� Điều này là do giá bán
chè trung bình của vụ Đông Xuân cao gấp
đôi vụ Hè Thụ� Chúng tôi còn nhận thấy cơ
cấu thu nhập của hai vụ có sự thay đổi rõ rệt
khi chuyển đổi mô hình canh tác� Thể hiện
rõ ở đồ thị tại hình 1�
Trong khi ở sản xuất đại trà, thu nhập từ
chè Đông Xuân chỉ chiếm 7% tổng thu nhập
cả năm thì khi áp dụng mô hình đã chuyển
đổi rõ rệt thu nhập lên gần như tương đương
giữa hai vụ� Thu nhập từ vụ Đông Xuân
trong mô hình chiếm 47% tổng thu nhập cả
năm� Đây là một ưu thế rất lớn của mô hình
này khi rải đều thu nhập của người làm chè
trong cả năm, góp phần giảm thời gian nông nhàn, nâng cao thu nhập kéo theo nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội�
4 Kết luận
■Mô hình sản xuất chè Đông Xuân trên giống chè Kim Tuyên bằng việc kết hợp các biện pháp kỹ thuật như: tưới nước bổ sung với lượng 800m3/ha/tháng, bón cân đối phân đa lượng NPK và phân hữu cơ vi sinh, thay đổi thời vụ đốn sang tháng 4 làm tăng mật độ búp (201,22 búp/m2), khối lượng búp (0,58 gam/búp) cũng như chiều dài búp (4,5 cm/búp) so với sản xuất đại trà đồng thời làm tăng năng suất và số lứa hái trong vụ Đông Xuân thêm 1 lứa�
■Mô hình sản xuất chè Đông Xuân trên giống chè Kim Tuyên bằng việc kết hợp các biện pháp kỹ thuật như: tưới nước bổ sung với lượng 800 m3/ha/tháng, bón cân đối phân đa lượng NPK và phân hữu cơ vi sinh, thay đổi thời vụ đốn sang tháng 4 đã nâng cao tổng sản lượng cả năm thêm 9,6 tạ/ha
mà không làm suy giảm sản lượng vụ Hè Thu đồng thời đảm bảo chất lượng thử nếm cảm quan chè xanh ở mức Khá�
Hình 1 Đồ thị tỷ lệ thu nhập của hai vụ Đông Xuân và Hè Thu ở mô hình sản xuất chè Đông Xuân và sản
xuất đại trà
Trang 37The evaluation of economic efficiency from modeling
of winter-spring of tea production kimtuyen tea in phu tho
Phan Chi nghia 1 , nguyen Van Toan 2 , nguyen ngoC nong 3
Applying the modeling of winter-spring of tea production on Kim Tuyen by
com-bining technical measures such as adding water with 800 m3/ha/month, balancing between NPK and organic fertilizer, changing cropping time from December to April, tea increases the buds density, buds weight, as well as bud length, and increases the yield and number of times in winter-spring crop In addition, this model also increased the total output by 9.6 quintals per hectare without decreasing summer crop yields The taste test also shows that the quality of green tea is good, which is also good for the market The model also has a high profit of 125.969.000 VND per hectare, while simultaneously spreading the income of the tea farmers throughout the year, contrib-uting to the reduction of free time, resulting in many economic and social benefits
Keywords: modeling, tea, spring, winter crop, Phu Tho
■Mô hình sản xuất chè Đông Xuân trên
giống chè Kim Tuyên bằng việc kết hợp các
biện pháp kỹ thuật như: tưới nước bổ sung
với lượng 800 m3/ha/tháng, bón cân đối phân
đa lượng NPK và phân hữu cơ vi sinh, thay
đổi thời vụ đốn sang tháng 4 đã nâng cao
lợi nhuận sản xuất đạt 125�969�000 đồng/ha,
đồng thời rải đều thu nhập của người làm
chè trong cả năm�
Tài liệu tham khảo
[1] Selena Ahmed, (2014), “Effects of Extreme
Climate Events on Tea (Camellia sinensis)
Functional Quality Validate Indigenous Farmer Knowledge and Sensory Preferences
in Tropical China” PLOS-one v�9(10) [2] Djemukhatze (1981), Cây chè Miền Bắc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội�
[3] Lê Tất Khương (2016), Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất chè vụ Đông – Xuân để nâng cao giá trị sản phẩm chè ở vùng miền núi phía Bắc,
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ Khoa học công nghệ�
[4] Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
(2003), Quy trình Kỹ thuật trồng, thâm canh chè an toàn, Thái Nguyên�
Trang 381 Đặt vấn đề
Chè vằng có tên khoa học là Jasminum
subtriplinerve Blume, thuộc họ nhài
(Oleaceae), còn gọi là chè vằng, chè cước
man, cẩm văn, dây vắng, mỏ sẻ,… [1,4,5]�
Chè vằng có vị hơi đắng, chát, tính ấm,
vào kinh tâm, kinh tỳ, có tác dụng thanh
nhiệt, lợi thấp, khu phong, hoạt huyết, điều
kinh, tiêu viêm, trừ mủ [1,3,4]� Hiện nay,
nhu cầu sử dụng chè vằng rất lớn, có nhiều
công ty dược phẩm đã quan tâm chiết xuất
cao lá chè vằng như công ty Tuệ Linh, Ánh
Ngọc, Hồng Lam Hương… Tuy nhiên, chè
vằng chưa được sản xuất lớn, mới chỉ trồng
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành công một số biện pháp kỹ thuật nhân giống
vô tính cây chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume) Các biện pháp kỹ thuật tốt
nhất được xác định: thời vụ giâm cành là 15/1 – 15/2 và 15/8 – 15/9; loại hom sử dụng hom gốc và hom giữa; chiều dài hom từ 15 – 17 cm; cắt hom xong nhúng vào chất điều tiết sinh trưởng Fitomix (pha với nồng độ 10 ml/16 lít nước) hoặc STC- ROOTVI-MIX (pha với nồng độ 20 ml/16 lít nước) trong thời gian 1 giờ; nền giá thể giâm tốt nhất là nền đất thịt nhẹ hoặc đất + cát + phân vi sinh với tỷ lệ 4:4:2 Cây giống có tỷ lệ xuất vườn đạt trên 70%
Từ khóa: Chè vằng, nhân giống, thời vụ, hom cành, giá thể, chất kích thích ra rễ
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật
nhân giống vô tính cây chè vằng (Jasminum
subtriplinerve Blume�) TẠI THANH HÓA
PhạM Thị Lý 1 , Lê hùng Tiến 1 , hoàng Thị Sáu 1 , Trần Trung nghĩa 1 , hoàng Thị Lệ Thu 2
phân tán ở các hộ gia đình để làm hàng rào,
ở các vườn thuốc của trạm y tế, bệnh viện, trường học hay ở các cơ quan nghiên cứu
để làm thuốc, phương pháp nhân giống chủ yếu bằng cách tách chồi từ những bụi chè vằng và trồng [4]� Chè vằng có thể nhân giống hữu tính bằng gieo hạt và nhân giống
vô tính bằng giâm cành� Tuy nhiên, chưa có quy trình nhân giống chè vằng� Vấn đề đặt ra
là nghiên cứu xây dựng thành công kỹ thuật nhân giống chè vằng để tạo được nguồn giống tốt cung cấp cho nhu cầu mở rộng vùng trồng của các công ty� Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ “Nghiên cứu
Nhận bài ngày 01/12/2017, Phản biện xong ngày 15/12/2017, Duyệt đăng ngày 15/12/2017
Trang 39một số biện pháp nhân giống vô tính cây
chè vằng (Jasminum subtriplinerve Blume�)
tại Thanh Hóa”�
2 Vật liệu, nội dung và phương
pháp nghiên cứu
2.1 Vật liệu nghiên cứu
• Vật liệu khởi đầu thu từ vườn bảo tồn
của Trung tâm nghiên cứu dược liệu
Bắc Trung bộ�
• Phân vi sinh Sông Gianh, đất cát sông,
đất thịt nhẹ giàu dinh dưỡng, chất
điều tiết sinh trưởng Fitomix, STC-
ROOTVIMIX-2�
2.2 Nội dung nghiên cứu
■Nội dung 1: Nghiên cứu về thời vụ
giâm cành�
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu thời vụ giâm
ảnh hưởng đến khả năng bật mầm và sinh
trưởng của cành giâm�
Các công thức thí nghiệm được giâm
cùng một vị trí hom cành, cùng một chất
điều tiết sinh trưởng trong thời gian 1 giờ
và cùng một nền giá thể giâm� Các biện pháp
chăm sóc là như nhau�
■Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của
vị trí hom cành�
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của
vị trí hom cành đến khả năng ra rễ và sinh
trưởng của hom giống�
• CT1: Nhân từ đoạn hom gốc�
• CT2: Nhân từ đoạn hom giữa�
• CT3: Nhân từ đoạn hom ngọn�
Các công thức đều thực hiện trên cùng
một thời vụ giâm hom, một nền giá thể và
cùng 1 cách xử lý hom giống�
TV1: Giâm hom ngày 15/1 TV4: Giâm hom ngày 15/8
TV2: Giâm hom ngày 15/2 TV5: Giâm hom ngày 15/9
TV3: Giâm hom ngày 15/3 TV6: Giâm hom ngày 15/10
■Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng�
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của
một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng ra rễ và sinh trưởng phát triển của cành giâm�
• CT1: Không xử lý chất kích thích bật mầm�
• CT2: Xử lý chất điều tiết sinh trưởng Fitomix pha10 ml/16 lít nước trong thời gian 1 giờ�
• CT3: Xử lý chất điều tiết sinh trưởng STC-ROOTVIMIX-2 20 ml/16 lít nước trong thời gian 1 giờ�
Các công thức cùng giâm trên một nền giá thể, một thời vụ trồng, một vị trí hom cành� ■Nội dung 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể giâm�
Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của
nền giá thể giâm đến khả năng ra rễ và sinh trưởng của cành giâm�
• CT1: Giâm trên cát sông�
• CT2: Giâm trên đất thịt nhẹ giầu dinh dưỡng�
• CT3: Giâm trên đất + cát + phân vi sinh (tỷ lệ 4:4:2)�
Các công thức cùng được bố trí trên cùng một thời vụ giâm, cùng một ví trí hom cành, cùng xử lý một chất điều tiết sinh trưởng trong thời gian 1 giờ� Các biện pháp chăm sóc là như nhau�
2.3 Phương pháp bố trí thí nghiêm
Các thí nghiệm nêu trên đều được bố trí một nhân tố, theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB)� Mỗi công thức nhắc lại
3 lần, diện tích ô thí nghiệm là 2 m2, mỗi lần nhắc lại giâm 100 hom� Khi giâm hom cần sạch thành rãnh, mỗi rãnh cách nhau một khoảng cách khoảng 5–7 cm, đặt hom cách hom 2–3 cm để hom giống sinh trưởng,
Trang 40phát triển� Giâm hom ngập vào đất 1–2 mắt
ngủ� Đặt hom nghiêng so với mặt đất 1 góc
450, giâm xong cần nén chặt phần đất ở gốc
hom và tưới nước ngay� Các biện pháp chăm
sóc là như nhau�
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu 2 năm, từ tháng
1/2016 – tháng 12/2017 tại Trung tâm nghiên
cứu dược liệu Bắc Trung Bộ�
2.5 Các chỉ tiêu theo dõi đánh giá
Tiến hành theo dõi các chỉ tiêu: tỷ lệ hom
ra rễ (%), tỷ lệ hom bật mầm (%), tỷ lệ hom
xuất vườn (%), chiều cao cây (cm), số lá/hom
(cặp lá), số rễ cái /hom (rễ), chiều dài rễ (cm),
thời gian từ khi giâm cành đến khi ra ngôi
(ngày)�
2.6 Xử lý số liệu
Theo chương trình IRRISTAT 5�0 và phần
mềm Excel�
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Ảnh hưởng của thời vụ giâm cành đến sinh trưởng của cành giâm
Nhận xét: Từ bảng 3.1 cho thấy rằng:
Các thời vụ giâm cành khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ ra rễ, tỷ lệ bật mầm và
tỷ lệ cây xuất vườn� Khi giâm ở thời vụ 15/2
và 15/9 thì tỷ lệ ra rễ, tỷ lệ bật mầm và tỷ lệ cây xuất vườn cao hơn khi giâm ở thời vụ 15/3 và 15/10 ở mức có ý nghĩa 95% ở cả 2 năm theo dõi�
Tỷ lệ bật mầm: tỷ lệ ra rễ của các công
thức dao động từ 65,3–76,3% trong đó công thức giâm 15/2 cho tỷ lệ ra rễ đạt cao nhất ở
cả 2 năm theo dõi�
Tỷ lệ cây xuất vườn: ở 3 công thức giâm
15/1; 15/2 và 15/9 thì tỷ lệ cây xuất vườn không có sự sai khác nhiều và dao động từ
74,0–75,6% ở cả 2 năm theo dõi (Bảng 3.2)� Bảng 3.1 Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng bật mầm, ra rễ và tỷ lệ cây xuất vườn của cành giâm
(%) Tỷ lệ bật mầm (%) xuất vườn (%) Tỷ lệ cây Tỷ lệ ra rễ (%) Tỷ lệ bật mầm (%) xuất vườn (%) Tỷ lệ cây
15/1 78,3 75,6 75,3 76,6 74,5 74,0 15/2 78,6 76,3 75,6 77,3 75,6 75,3 15/3 68,6 65,3 63,3 61,3 60,5 60,6 15/8 71,3 70,6 69,3 73,5 72,6 71,6 15/9 79,6 75,6 75,3 78,6 75,6 75,6 15/10 70,3 68,6 65,3 66,6 65,3 64,5
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thời vụ giâm cành đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cành giâm
trước khi xuất vườn
cây (cm) Số lá/cây (cặp lá) Số rễ chính/ cây (cái) Chiều dài rễ (cm) Chiều cao cây (cm) Số lá/cây (cặp lá) Số rễ chính/ cây (cái) Chiều dài rễ (cm)
15/1 25,4±1,6 15,6±0,7 5,5 ±0,3 5,6±0,08 26,4±1,5 14,6±0,7 5,1 ±0,3 6,5±0,30 15/2 27,3±1,1 14,6±0,7 6,8 ±0,4 6,1±0,27 27,3±1,7 15,6±0,9 6,5 ±0,4 5,9±0,27 15/3 26,3±0,9 12,5±0,8 4,1 ±0,4 5,5±0,38 23,6±1,1 13,4±0,7 4,0 ±0,3 4,9±0,27 15/8 27,6±1,7 15,6±0,8 7,2 ±0,4 6,6±0,24 26,7±1,3 13,6±0,8 6,8 ±0,4 5,3±0,31 15/9 26,8±0,7 16,6±0,5 5,6 ±0,5 6,1±0,27 27,6±1,2 17,6±1,3 5,4 ±0,3 5,8±0,25 15/10 24,6±0,9 16,6±1,0 3,2 ±0,3 5,1±0,27 21,8±1,0 15,8±0,9 3,5 ±0,3 4,2±0,17