1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đồ dùng dạy học - Nhớ về Ninh Hòa

86 541 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhớ Về Ninh Hòa
Tác giả Đỗ Công Trung
Trường học Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học và Nghệ thuật
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 556,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau những lời chào hỏi như mọi khi, tôi báo cho Liên biết - rất mừng vì đã tìm được hai đĩa cd nhạc hải ngọai mà Liên giới thiệu là album “Dòng sông Kỷ niệm” do Asia phát hành và Lâm Thú

Trang 1

SÔNG DINH QUA THI CA

PHẦN 1: ĐÊM PHƯƠNG NAM

Âm Nhạc

Buổi tối, hai gia đình: tôi và em tôi là Tấn Sơn rũ nhau đến quán ca nhạc loại “hát với nhau nghe” nằm trên con đường tập trung nhiều hàng quán ăn chơi có tiếng ở trung tâm Sài Gòn Thỉnh thoảng vẫn thế, vì Sơn thích ca hát

và giọng tốt nên thường sưu tầm những địa chỉ “ tầm cở” để thử tài, và cứ mỗi lần Sơn rũ là tôi không từ chối Với máu nghề nghiệp và thích nghe nhạc, đi chơi như vậy tôi được thưởng thức nhiều mặt Được biết đây là một quán mới mở, dành cho giới trẻ nên cách trang trí rất ấn tượng, hình khối, đường nét mặt tiền mạnh mẽ, với hệ thống đèn nhiều màu rực rỡ Bước vào cửa đã nghe tiếng nhạc disco với âm lượng quá cở, tiếng cười nói của từng nhóm bạn trẻ tạo một thứ tiếng ồn vượt mức chịu đựng ở cái tuổi trung niên như tôi

Gian phòng chữ nhật không đủ rộng, chính giữa một bar rượu hình oval

đã đầy các thanh niên nam nữ ăn mặc rất thời thượng đang ngồi trên các ghế cao, hướng vào giữa Hai bên, sát tường là các bàn nước đặt dọc ở trên nền cao gần cả mét và đầu kia là một sân khấu nhỏ Các hình thức, chi tiết nội thất thể hiện như trong một chiếc tàu biển: - những mỏ neo treo lủng lẳng, sợi dây thừng giăng đong đưa, chiếc vô lăng như bánh xe luân hồi to đùng gắn cuối phòng, các ô cửa tròn và các nữ tiếp viên xinh đẹp, phơi phới với trang phục như lính hải quân váy cực ngắn, đang rộn ràng trò chuyện với khách Mật độ trang bị nội thất và con người nơi đây khá cao Vì đi với gia đình nên chúng tôi tìm một nơi yên ổn, kín đáo ở góc cuối phòng và nhờ vậytôi có thể quan sát được rộng và đầy đủ

Giờ hát với nhau đã đến, tiếng nhạc phát ra từ máy chợt tắt, tiếng cười nói giảm đi, một số lớn khách đã đổi tư thế ngồi, quay về hướng sân khấu, không khí tỉnh lại Một MC nam đẹp trai, tuổi trên 35 bước ra sân khấu, rất

tự tin và tươi cười chào khán phòng, cùng lúc ban nhạc với vài nhạc công cũng tiến đến nhạc cụ Sau phần giới thiệu vào đầu chương trình ca nhạc hằng đêm của quán, một khúc nhạc intro trổi lên như là thứ nhạc thiều riêng,với âm lượng vừa phải và giai điệu rumba khoan thai quen thuộc, tôi cảm thấy thật dễ chịu MC vào đề rất tự nhiên, hàng loạt từ hoa mỹ được tung ra

để giới thiệu một ca khúc với tốc độ chóng mặt, tôi há hốc theo dõi với chút kính nể khả năng phát thanh trôi chảy như thuộc bài của chàng MC này

Trang 2

rằng đó là một chuyện tình lâm ly bi đát Quay lại Sơn tôi hỏi :

– Chàng này ở đâu ra vậy ?

– Tên là HT, em có quen, làm ở nhà văn hóa quận X chuyên hướng dẫn các chương trình, ảnh mời em đến đây.- Sơn trả lời

… Và có dài thì cũng phải có đoạn kết, đó là bài “hoa sứ nhà nàng”… một chàng tướng to, khỏe cở anh Vọi trong “trống mái” của Khái Hưng, mặc chiếc áo rất hoa lá cành, ôm sát người, phơi lồ lộ những cơ bắp! rời bar rượu

từ từ tiến lên sân khấu với dáng vẻ hiên ngang như đi chiến đấu, khán giả vỗ tay nồng nhiệt, một tín hiệu sinh động, lạc quan khởi đầu, mấy đứa nhỏ con tôi và con Sơn thích chí vỗ tay hưởng ứng theo Tôi thấy lùng bùng hai tai

Có lẽ chàng này đi rất sớm và đã kiếm ngay xuất đầu tiên

Câu vô đề -“đêm đêm ngưởi mùi h… mùi hương của nhà nàng” thấy lạnh cả người, một chất giọng eo ẻo, pha cải lương đúng chất với bài hát nhưng không tương ứng với tướng mạo của chàng lực sĩ tí nào, chàng say sưa, rên rĩ diễn tả nỗi đau khổ, có thể xếp vào bậc thầy của sến …không khí khán phòng tỏ ra nhẫn nại, chia xẻ, chờ phút cáo chung của khúc bi ca, thế nhưng kết cục lại có hậu với tràng pháo tay như pháo tết và vài tiếng huýt sáo inh tai, anh “Vọi” một lần nữa hiên ngang trở về bar rượu MC lại xuất hiện, rất hào hứng và chợt xuống giọng ra vẻ triết lý cao siêu đầy kịch tính, nói về thân phận con người giữa cuộc đời ô trọc này…Một lần nữa tôi được chứng kiến tài nghệ của MC - đúng là một cao thủ, chữ nghĩa có thừa, - à, thì ra là một bài hát của Trịnh Công Sơn, bài “phúc âm buồn” Một cô gái khoảng hai mươi lăm, mặt đầy đặn, mắt đeo cặp kính cận nặng, bước lên sânkhấu ” người nằm co, như loài thú, khi mùa đông về người nằm yên khôngkêu than chết trên căn phần…người còn đứng như tượng đá…” khán phòng trầm lắng, một chút chùng lòng vì lời hát thấm sâu, chất giọng alto khoẻ khoắn, đầy dẫn dụ ngọt ngào, bài hát được kết thúc với sự ngưỡng mộ trân trọng Và không khí như nóng lên khi MC giới thiệu một tay chơi gầy gò, mặc bộ Jean rách rưới bạc phết màu, điệu twist được trổi lên với bài “60 năm cuộc đời”, tôi chợt nhớ đến giai điệu kích động được phổ biến, ngự trị trong các vũ trường và các phòng trà Sài gòn trong thập niên 60 với chiếc quần ống túm là biểu tượng “…ới ới đời sống là thế không là bao, em ơi cóbao nhiêu 60 năm…” Chàng trai vừa hát vừa lắc theo twist rất điệu nghệ, thỉnh thoảng chàng ứ…ứ nghe rất bốc (không thua gì Hùng Cường) Các nhạc công được dịp cũng xã hết công suất

Những bạn trẻ bị cuốn hút với những thân hình cựa quậy và tay chân quờ quạng theo, với hậu quả là tiếng pháo tay, la hét dậy trời của đám cuồngnhiệt Sau trận bị trấn áp ngạt thở bằng âm thanh ấy tôi nghe ê ẩm cả người, đến nhân vật thứ tư tôi không còn đủ sinh lực chăm chú theo dõi mà quay vềnói chuyện với gia đình, nhưng lần nữa lại phải quay về hướng sân khấu vì

Trang 3

có một chàng trông rất lãng tử không hát mà đang nói điều gì, khán phòng bớt ồn Nhìn cách ăn mặc có chút lè phè và cách diễn đạt lại lè nhè, tôi cảm nhận chàng là một bợm nhậu hơn là ca sĩ, thử lắng nghe ??!,- thì ra chàng muốn đọc thơ, môt bài thơ tự biên, tự diễn nói về một nghịch lý trong tình yêu mà chàng đã trãi qua Tôi phải quay người lại để nghe, một cảm giác vừa khó chịu nhưng thích thú; khó chịu vì nơi này đâu phải là chỗ của thơ thẩn, và thích vì đụng đến lãnh vực hảo của mình Chiến hữu này xem chừng

bị lạc lõng nhưng vẫn tự tin, mắt lim dim đầy tâm trạng, chậm rãi và một chút xuất thần, hai câu cuối chàng lại ngẫu hứng ngâm lên nghe thống thiết, bài thơ dài vừa phải, đôi chỗ cảm thấy “phê” vì những ý tứ độc đáo, có thể xếp vào loại khá Thật ái ngại cho chàng,vì giữa chốn “đạn bom khói lửa” thế này mà dám bay bổng như vậy, nhưng khán giả tỏ ra lịch sự và cho một tràng pháo tay không kém phần nhiệt liệt, một nửa để khích lệ tiết mục lạ, một nửa để tống tiễn cho nhanh?!

Tưởng bở, chàng thừa thắng xông lên, quyết tâm không chịu rời micro

và tiếp tục giới thiệu cho khán giả thưởng thức thêm một tiết mục nữa, lần này chàng hát chứ không phải đọc thơ Chàng thật can đảm trước một lực lượng “ca sĩ” hùng hậu nộp đơn xin hát đang hăm hở, chờ đợi đến lượt mình, bài thơ vừa rồi đã làm nhụt chí và ngao ngán nhiều tay chơi nhưng chàng nào có hay biết, vẫn ung dung tự tại, bình thản tiếp tục Bài hát được giới thiệu với tựa đề “ con sông quê hương”- nói về một con sông ở Bình Định của nhạc sĩ Xuân An, thoáng qua tựa bài hát nghe không quen và tác giả càng không biết, có chăng một nhận xét là chàng này thích hàng lạ, chỉ trình diễn những cái người khác chưa biết Vẫn hào hứng và tự tin, sau khi dặn dò, chỉ vẽ các nhạc công, tiếng nhạc trổi lên, chàng cất tiếng ca: - “ bình thường, bình thường thôi bạn ơi…” rất hồn nhiên và lạc quan.-“ vẫn núi giăng mây, vẫn lúa xanh đôi bờ…” Đến đây thì tôi thấy ngờ ngợ, bài hát hình như đã nghe đâu đó, giai điệu và tiết tấu nhẹ nhàng, tha thiết, ca từ đơn giản, gần gủi, một air nhạc xưa cũ ?! bài viết theo nhịp 2/4, không trang trọng, tươi vui, thướt tha cho những dòng sông theo kiểu valse như “blue Danube”, “Danube waves” hoặc “dòng An Giang” cũng không hào hùng như “Bạch Đằng Giang” hay “Sông Lô”

Tôi cố suy nghĩ để tìm những yếu tố quen thuộc của bài hát, nhưng sinh hoạt ồn ào kiểu này thật khó mà moi lại ký ức, đang miên man tôi chợt nghe Sơn lẩm bẩm – Uả, bài này của anh Phước Liên viết về con sông Dinh đây mà Vừa lúc ấy tôi chớt nhớ ra tựa bài hát “Ơi con sông Dinh” và Sơn cũng gật đầu Chàng ca sĩ rất thiết tha và tôi rời khỏi thực tại “…ơi con sông Dinh yêu thương và tháng ngày em thơ ấu, sớm tối qua cầu dừng chân ngắmxuồng câu, con sông quê hương chảy từ buồng tim của mẹ, ôm con chờ chồng rồi hoá đá vọng phu….” Nhớ lại bài hát này lần đầu tiên tôi biết được

Trang 4

là nó xuất hiện trong tập bài hát mà Phước Liên in chung với nhạc sĩ Đỗ Trí Dũng của hội văn học nghệ thuật Khánh Hòa xuất bản, Liên đã gởi tặng tôi trong những năm tháng khi tôi còn mãi mê với những công trình xây dựng ở Đồng Tháp Sở dĩ tôi nhớ và có ấn tượng với bài này vì lần đầu trong đời tôi thấy được một bài hát viết về con sông Dinh quê mình và tác giả lại là ngườibạn thân Khi ấy tôi đã phải viết thư tới Liên với nhiều lời lẽ ca ngợi và cám

ơn Sau đó tôi cứ áy náy hoài về một ý sửa lưng bạn, vì trong bài hát có câu“…Sớm tối qua cầu dừng chân ngắm xuồng câu…” tôi nói đùa rằng - đứng trên cầu Dinh chỉ thấy ghe thôi chứ làm gì có xuồng mà ngắm”, ý tôi muốn nói rằng phương tiện đi trên sông Dinh đoạn ấy người quê mình chỉ gọi bằng ghe Tôi mạnh dạn nói lên điều này vì Liên là bạn cùng xóm Rượu với mình, không xa lạ với con sông Dinh, có đi đâu cũng phải theo con đường Nguyễn Trường Tộ mà về, có nghĩa là từ thơ ấu đến lúc vào đời, dân xóm Rượu cứ phải đi, về dọc theo sông Dinh nên hình ảnh gì của sông Dinh cũng đều được chứng kiến và khắc sâu vào tâm trí mỗi người Sau này khi quay về Sài Gòn công tác và Tấn Sơn vào Sài gòn học, anh em ở chung nhà, thỉnh thoảng tôi có nghe Sơn hát và được biết rằng bài hát này khá phổ biến

ở Ninh Hòa

Cứ mãi suy nghĩ về chuyện cũ mà quên thực tại Saigon by night tạp lục, tôi với Sơn còn miên man với chuyện bài hát thì may mắn quá, chàng lãng tử đã nhường sân khấu lại cho MC và người khách được mời lên kế tiếpchính là Tấn Sơn, tôi vội nói với Sơn là sẵn dịp này khéo léo đính chính lại tên và tác giả bài hát mà vị khách vừa rồi nhầm lẫn Sơn không vội vàng rời chỗ ngồi và như đang do dự điều gì, bình thản một chút, Sơn từ từ bước về sân khấu với phong thái chửng chạc và trịnh trọng tìm một vài lý lẻ hay đẹp giới thiệu bài hát của mình Bài hát “Xin còn gọi tên nhau” của Trường Sa làbài hát tôi rất thích, cùng những bài hát quí hiếm khác của cùng tác giả như

“Mùa thu trong mưa” Bài này tiết tấu sôi nổi nhưng thiết tha; lúc dồn nén, lúc dàn trãi, tạo một hiệu ứng mạnh mẽ, phải récitatif và nhấn nhá như Lệ Thu mới lột tả hết độ tuyệt cuả nó, nhất là những đoạn cao trào Khánh Ly tuy mượt mà và ngọt ngào ở bài này nhưng diễn đạt đều quá Sơn trình bày cũng khá Tôi đã được nghe Sơn hát nhiều lần nhưng không nhàm chán, có

lẽ là một trong những bài ruột của sơn và hình như hôm nay Sơn ưu ái tặng tôi món đặc sản này !? – Nhạc đã hay, lời và nội dung cũng không kém “ Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng, chiều đông đưa những bước chân đau mòn …còn ai giữa mênh mông đời mình, nỗi đau mù lấp trên tuổi thơ

… rồi trong mưa gió biết ai vỗ về… tình trong cơn ngủ mê, rồi phai trong hàng mi.….” Một nỗi đau tình nhẹ nhàng, một đối xử thật vị tha và bao dungvới người yêu dù cuộc tình đã vỡ, lúc nào cũng lo toan cho một cánh chim bay xa ….Khán giả vỗ tay rất nhiều khi Sơn hát xong, thế nhưng tôi vẫn cảmthấy điều gì đó đang vướng víu, cả nhà vỗ tay rất dài để ủng hộ gà nhà

Trang 5

nhưng tôi lại lơ đễnh cho đến khi Sơn có vài lời đính chính :

- Thành thật cám ơn bạn vừa rồi đã trình bày rất hay bài hát ngợi ca con sông quê hương chúng tôi, chúng tôi rất xúc động vì lâu lắm rồi mới được nghe lại Tác giả bài hát là người anh cùng xóm với chúng tôi tên là Hình Phước Liên hiện đang sống tại Nha Trang, con sông mà bạn vừa hát tên là sông Dinh chảy qua thị trấn Ninh Hòa một huyện của tỉnh Khánh Hòa, bài hát ấy tên là ”ơi con sông Dinh…” (còn tiếp)

Dương Tấn Long

SÔNG DINH QUA THI CA

(kỳ 2)

PHẦN 1 : ĐÊM PHƯƠNG NAM (tiếp theo)

Sau những lời nhẹ nhàng phủ nhận toàn bộ cái “trật lất” của bạn một cách tinh vi, Sơn đã “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” Tâm trạng phức tạp, khó chịu trong tôi mới được giải tỏa, tôi nghĩ rằng - nhiều người, nhất là các bạn trẻ nơi chốn ăn chơi, náo nhiệt như thế này có mấy ai để ý đến bài hát xa

lạ, bình thường hơn những gì bình thường ấy Lẽ ra cũng chẳng cần đính chính nhưng sao lúc ấy tôi vẫn muốn Sơn làm như vậy Trên đường trở lại chỗ ngồi Sơn ghé nơi vị khách hát nhầm nói điều gì rất lâu ra bộ vui vẻ, đồng cảm Tôi thấy mọi việc như vậy là ổn, đã không xãy ra phiền lụy gì Sơn về chỗ ngồi, cười mỉm và được vợ con khen nức nở pha chút khôi hài, con gái tôi rút cành hoa hồng duy nhất đang cắm trên chiếc bình trang trí đặt trên bàn đưa cho bé Khiêm tặng bố Tôi định hỏi Sơn về cuộc kỳ ngộ vừa rồithì lại thấy một người đi về hướng bàn của mình, nhìn kỹ tôi biết là chiến hữu ấy đang tìm đến

- Chào các anh chị, em tên Định, các anh chị đều ở Nha Trang phải không ?

- Đúng rồi Tôi cười trả lời và đưa tay, chàng ra vẻ kính cẩn đưa cả hai tay nắm chặt

- Vừa rồi em giới thiệu tầm bậy quá, cũng may các anh nói cho em biết, chứ hồi giờ em cứ nghĩ bài hát như vậy

Nghe Định phân trần trong hơi men, tôi vội đỡ lời :

- Vui vẻ như vậy là sướng rồi, có gì quan trọng lắm đâu, ai biết đúng sai ra sao, Định hát hay đấy chứ, ờ mà sao em biết bài hát ấy

Chàng bắt đầu kể –… hồi em học Đại Học Thủy Sản Nha Trang có thằng bạn ở chung phòng ký túc xá, nó hát bài ấy rất hay và em thích quá nên nhờ nó chỉ em, nó nói xuất xứ bài hát như em giới thiệu trên sân khấu vừa rồi, mình cũng ham vui, hay đi ca hát và bài này là bài ruột của em đấy, anh thấy em hát bài này được không?

Trang 6

bài hát, và thuộc lời đầy đủ nhé, lần sau mà còn trật nữa là kêu cảnh sát phạt đấy.

- Định cười huề, xoa xoa vai tôi – tha cho em, như vậy là thuộc nhiều lắm rồi !

- Định hát có hồn lắm, anh nghe mà nhớ nhà, nhớ quê hương Ninh Hòa, hồi học ở ngoài đó Định có ra Ninh Hòa lần nào chưa?

- Em có nghe nói chứ chưa ra ấy bao giờ, tiếc quá !, nghe nói Ninh Hòa đẹp lắm phải không anh? Hình như thằng bạn dạy em bài hát quê đâu ngòai đấy.Tôi chẳng biết phải trả lời sao với câu hỏi ít vô tư và khá tế nhị này! Định một thoáng nghĩ ngợi bồi thêm một câu rất tâm lý:

– Cảnh vật thiên nhiên và con người Khánh Hòa em thấy đều đẹp cả, các anh chị đúng là người Khánh Hòa, em rất cảm mến…bữa nào em mời mấy anh đi lai rai nói chuyện cho vui, em có mấy chỗ hay lắm.!

Qua tiếp xúc, tôi ghi nhận Định là một con người chân tình, có tâm hồnnhưng ẩn chứa một chút hoang đàng Rất biết ơn Định vì Định đã quay ngược được dòng suy nghĩ của chúng tôi đến 180 độ trong một khung cảnh khó mà những cảm xúc loại ấy xen vào Buổi tối hôm ấy trên đường về tôi

cứ miên man vô cớ, vùng ký ức đang bị khuấy động, một cảm giác bâng khuâng xen lẫn những hân hoan Về đến nhà tôi đã phải điện thọai ngay ra NhaTrang để chia xẻ một nỗi niềm rất thực nhưng cũng rất mơ hồ với Hình Phước Liên dù đã gần 11 giờ đêm, đây cũng là cái cớ để tôi liên lạc với Liên

và nói một số chuyện vì vài tháng rồi không tin tức về nhau, tôi nghỉ rằng dù

có phải bị đánh thức lúc này chắc Liên không trách cứ gì tôi Và rồi Liên có mặt bên kia đầu dây Sau những lời chào hỏi như mọi khi, tôi báo cho Liên biết - rất mừng vì đã tìm được hai đĩa cd nhạc hải ngọai mà Liên giới thiệu

là album “Dòng sông Kỷ niệm” do Asia phát hành và Lâm Thúy Vân hát, trong đó có bài “phố huyện chiều em nhớ” của Liên và album “Con gái” do

Hạ Vy thực hiện, trong đó có 2 bài của Liên là “Hồn nhiên như lá” và “Mưa xanh”, nhận xét chung về những bài hát trên là những cảm xúc nhẹ nhàng, gợi tả thật sinh động về vùng đất kỷ niệm, với nhiều chất Ninh Hòa, rất tiếc bài “Phố huyện chiều em nhớ” giọng Lâm Thúy Vân yếu quá nên nghe không rõ, nhất là ở những nốt xuống thấp, Liên nói - chất giọng như Lâm Thúy Vân rất thích hợp với tính cách bài hát nhưng nếu được Ngọc Lan hát thì hay hơn, giọng Ngọc Lan tuy mong manh nhưng vẫn rõ ràng, có khả năng len lỏi đến tận cùng Tôi có nói vui với Liên là - bạn chắc đã biết câu danh ngôn “chỉ vì một cái má lúm đồng tiền mà phải cưới nguyên một cô gái

“ và ở đây “ chỉ vì một hai bài hát của bạn mà tôi phải mua đến 2 đĩa nhạc đấy nhé…” tôi đã phải nghe tới, nghe lui để thắm thía, để mong tìm kiếm những gì sâu kín, cho đáng đồng tiền bát gạo! (những năm tháng ấy đĩa nhạc

CD xuất hiện ở VN chỉ có con đường mang từ nước ngoài về và rất đắt cũngnhư rất khó kiếm, nhất là những album nhạc không phải nằm trong thị hiếu của của đông đảo người nghe, không phải được copy tại chổ nhiều và rẽ như

Trang 7

hiện nay, ngay cả lúc ấy Liên cũng không có những đĩa nhạc trên)

Liên kể lại việc ca sĩ Hạ Vy nhân chuyến về thăm quê, muốn tìm một

số nhạc phẩm viết về quê hương Khánh Hòa để ra album riêng, sau khi Liên cho nghe một số bài hát, Vy thấy thích nên mang đi và những bài hát ấy xuấthiện ở hải ngọai là do vậy (quê Hạ Vy ở xã Ninh Diêm, Ninh Hòa Trước khi sang Mỹ, Vy là ca sĩ của đoàn Hải Đăng- Khánh Hòa) Cuối cùng tôi nói về sự kiện đi ca hát tối nay, Liên lắng nghe tỏ vẻ thích thú, Liên nói rằngbài hát “ơi con Sông Dinh” ra đời khoảng năm 1981 Ðó là một nội dung màLiên ấp ủ rất lâu, với tâm nguyện rằng mình là người Ninh Hòa, đã sáng tác nhiều bài hát ca ngợi nhiều thứ nhưng chưa viết gì về Ninh Hòa, về sông Dinh là không ổn, khi ấy Liên công tác ở Ninh Hòa và vợ Liên thì đang làm việc ở Nha Trang nên nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ phải vào Nha Trang để

ổn định cuộc sống gia đình và ngày đó phải giã từ vùng đất thân yêu, lìa xa con sông Dinh yêu dấu và ý tưởng ấy đã thôi thúc Liên viết nên bài hát Bài này được trình diễn nhiều lần, nhiều nơi trong các chương trình văn nghệ ở Ninh Hòa và được nhiều người Ninh Hòa trong giai đoạn ấy biết đến

Liên nói thêm rằng anh Hình Phước Long có viết ca khúc “nhớ sông Dinh” cũng rất hay Chớp được thông tin đó tôi hỏi dồn - Liên có nhớ lời và hát được không ? Liên với giọng khàn khàn đặc biệt, tuy hát không hay nhưng thường các nhạc sĩ nắm bắt được ý tứ bài hát, có khả năng diễn đạt tinh tế nên khi hát dễ tạo cảm xúc tốt “… có đi là đi trăm nẻo, có vượt là vượt nghìn đèo,vẫn nhớ tới quê hương mình có dòng sông Dinh nho nhỏ, vẫn nhớ bóng tre êm đềm, nghiêng mình soi bóng sông…” , nghe Liên hát tôi cứ ngỡ những lời nhắc nhở của con sông quê Cũng như Liên, nhạc sĩ Hình Phước Long cũng gởi gấm tâm tư, nỗi lòng của mình, một lúc nào đó

sẽ phải ly hương, mang tâm trạng tha phương, tự nhủ lòng luôn nhớ về quê nhà, điều ấy bắt gặp ở câu tâm đắc và chủ đạo nhất của bài hát “ơi con sông Dinh” của Liên, như là thông điệp gửi đến tất cả những người con Ninh Hòa

xa xứ Định vừa rồi đã hát thiếu hoặc sai chỗ nào đó nghe là lạ Tôi đang ngập ngừng chưa nhớ rõ hết thì Liên tiếp lời bài hát“… nhưng nếu tôi xa dòng nước xanh quê nhà là trọn đời tôi sẽ nghèo đi nỗi nhớ, như con sông phơi bãi cát hoang cằn khô…” thật đúng và ý vị cho sự so sánh này, vì không gì buồn và thất vọng khi thấy dòng sông xinh đẹp ngày nào chỉ còn trơ lên một vùng rong rêu, bùn cát giữa mùa khô hạn, những dáng vẻ thơ mộng, những huyền hoặc vô hình chỉ tồn tại như là sự sống, như là phần hồnkhi dòng nước còn hiện diện, còn êm đềm trôi giữa tháng ngày Ta thử nghĩ một lúc nào đó, những hình ảnh quê nhà sẽ không còn nằm trong dòng chảy của nỗi nhớ thì liệu một cuộc sống đích thực của quãng đời ly hương có tồn tại, thân xác ta như bãi cát của lòng sông phơi trơ, như con sông đã mất đi sựsinh động….Liên im lặng một lúc, rồi nói vu vơ vài ý không ăn nhập gì vào

Trang 8

những điều tôi mới gợi lên, có lẽ Liên muốn dấu cảm xúc sâu kín của mình, phải chăng là một thứ hạnh phúc của người trồng hoa, dù chỉ là một thỏang hương nhưng lại rất ngào ngạt tận sâu thẳm tâm hồn, nhất là thứ hương đồngnội đã dễ gợi lên một vùng trời đầy hình ảnh của quê hương và kỷ niệm

Nói về những ca khúc viết về sông Dinh, tôi còn nhớ buổi ra mắt tập thơ “Bóng lá” của Phạm Dạ Thủy ở quán cà phê Phong Lan Ninh Hòa Cái đêm hôm ấy trời mưa từ buổi chiều nhưng khách mời ở xa vẫn đến đông đủ:

- từ Huế, Hà Nội, Nha Trang và tôi về từ Sài Gòn Với những bài nhận xét tinh tế, bình phẩm thơ rất xúc tích, khá bài bản với nhiều ngợi khen, cổ vũ của những nhà thơ đi trước, có tên tuổi trong giới văn học Khánh Hòa và Việt Nam Hôm ấy cũng có nhiều giọng ngâm điêu luyện của câu lạc bộ thơ

nữ Khánh Hòa làm cho những bài thơ được bay bổng và ngào ngạt hơn Chắc chắn Phạm Dạ Thủy rất sung sướng và hạnh phúc, vì buổi ra mắt tập thơ như vậy là thành công Riêng tôi một cảm xúc mạnh mẽ được ghi nhận khi Phạm Dạ Thủy giới thiệu bài thơ “Nhớ quê “ không nằm trong tập thơ vìchị mới viết riêng tặng các bạn trong hội thân hữu Ninh Hòa tại Sài Gòn mà tôi có mặt hôm đó Baì thơ được nhạc sĩ Hình Phước Liên phổ nhạc rất xuất sắc cũng để riêng tặng tôi cùng vài bạn Bài hát được ca sĩ Kim Khánh, một

ca sĩ có giọng ca “dĩ vãng” như Ánh Tuyết, là ca sĩ nổi tiếng cuả thành phố Nha Trang trình bày Nôị dung bài hát vẫn trung thành với lời thơ :

“………

Thoắt đó tóc em giờ chớm bạc

Thơ ngây gởi lại cuối trời xưa

Nhớ quê mấy độ buồn em hát

Lời trôi lênh đênh trên sông mưa

………

Tháng ngày tơ tưởng dòng sông cũ

Vạt cỏ mềm xanh mướt tuổi thơ

Cánh bướm thắm, con chuồn chuồn đỏ

Bay chập chờn trong những giấc mơ

………“

Vẫn là dòng sông Dinh lãng đãng trong thơ được âm nhạc chấp cánh bay cao đã tạo một sức truyền cảm gấp nhiều lần Bài hát thiết tha, đầm ấm, tuy đượm chút buồn của hoài niệm nhưng vẫn là niềm tin yêu, hứa hẹn một ngày mai sáng tươi Nhạc của Phước Liên thường nghe rất gần gủi nhưng lạirất khó diễn đạt, cách chuyển cung và những luyến láy thật khó chịu cho những ai mớI đụng vào bài hát, phải chuẩn bị và xử lý kỷ bài hát mới mong không lạc và khô cứng Bài “nhớ quê” cũng vậy, Kim khánh ca không chê vào đâu được nhưng khi tôi đề nghị Tấn Sơn hát bài này trong dịp họp cuối năm 2002 của hội thân hữu Ninh Hòa thì Sơn lại không truyền cảm hơn vì

Trang 9

thiếu chuẩn bị, giọng Sơn thì khoẻ mạnh, đầy kỹ thuật nhưng thiếu chất mượt mà, cứ “vô tư” mà hát thì không thể lột tả hết cái tình của bài ca Chịu khó vuốt ve một tí, đôi chổ sên sến mới đã ! vì âm giai những bài hát của Liên có nhiều chất dân ca Có thể nói Dạ Thủy đã chọn đúng nhạc sĩ để trao việc phổ nhạc bài thơ ấy và Phước Liên đã chọn đúng ca sĩ để trình bày ca khúc cuả mình Ngoài Phước Liên, hôm ấy còn có thêm 3 bài thơ được phổ nhạc với 3 nhạc sĩ khác cũng có mặt là Đỗ Trí Dũng - Nha Trang, Huỳnh Liên - Ninh Hòa và một người nữa là anh Tân chủ quán Thiên Thanh ở Lương Sơn nhưng không gây nhiều ấn tượng trong tôi và những bài ấy không dính líu gì với sông Dinh Trong bữa tiệc văn nghệ “bóng lá” linh đình hôm ấy, món nào cũng ngon lành, nhưng món “nhớ quê” đã thực sự làm tôi khóai khẩu và xúc động, vì món ấy được Dạ Thủy xào nấu bằng nhiều nguyên liệu và gia vị quê nhà, trong đó mặc dù không nói rõ nhưng

“nước” của sông Dinh rất tràn đầy, ngọt ngào và thấm đậm

Điểm lại số người sáng tác nhạc cuả Ninh Hòa chỉ cần dùng một bàn tay đã đếm đủ vì đó là lãnh vực không phải ai muốn cũng làm được Nó đòi hỏi người viết phải có một khả năng, một trình độ nhất định về cảm xúc, về thẩm âm, sự hiểu biết văn học và điều tiên quyết là phải biết nhạc thuật Chúng ta có thể điểm danh không khó lắm những nhạc sĩ của Ninh Hòa như:Hình Phước Liên, Hình Phước Long, Bảo Anh, Huỳnh Liên và một vài anh

em không chuyên khác Như vậy số bài hát viết về Ninh Hòa cũng không thểnhiều hơn, và ca khúc viết về sông Dinh càng hiếm, chẳng khác nào đãi cát tìm vàng

Để kết thúc phần này, một lần nữa chúng ta lại cám ơn những người nhạc sĩ đã góp lời ca tiếng hát vào khu vườn văn nghệ của quê hương Ninh Hòa, dù những sáng tác ấy đã có nhưng âm vang bay xa, được nhiều người biết đến hoặc lặng thầm như một lời nguyện cầu thì chúng ta cũng rất trân trọng dành cả tấm lòng theo những cảm xúc của người nghệ sĩ, người con Ninh Hòa viết và ngợi ca về quê nhà

(còn tiếp - mời các bạn chờ xem phần 2 : Nước trôi ra bể lại quay về nguồn )

(còn tiếp)

Dương Tấn Long

SÔNG DINH QUA THI CA (kỳ 3)

Trang 10

PHẦN 2: NƯỚC TRÔI RA BỂ LẠI QUAY VỀ NGUỒN

“bình thường, bình thường thôi bạn ơi….”

Tôi lại mượn một câu nhạc vào đầu của bài ca “ơi con sông Dinh” của Hình Phước Liên để giới thiệu phần viết mới này - trong lãnh vực thi văn

Đúng vậy! Sông Dinh rất bình thường như bao con sông khác nằm trên giãi đất hình chữ S này Sông Dinh không rộng, không dài hơn sông Hồng, sông Cửu Long, cũng không thơ mộng hơn sông Hương, sông Cầu Không tiếng tăm, lẫy lừng như sông Lô, sông Đuống…nói tóm lại sông Dinh rất khiêm tốn trong vị trí địa lý, và cả trên nhiều mặt khác

Thế nhưng đối với người Ninh Hòa nó đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống văn hóa và tinh thần Nó như “tiếng lòng tôi” của Phạm Duy, như một điểm tựa, là khởi điểm của suy tưởng khi Hòai niệm hoặc muốn diễn họa về Ninh Hòa Cho nên những sáng tác thơ văn của người Ninh Hòa, từ những người nổi danh, chuyên nghiệp đến những người viết tài

tử, viết cho vui khi nói về Ninh Hòa mà không nhắc đến sông Dinh là một thiếu sót lớn lao Rất tự nhiên phải nghĩ và đề cập đến, có người nhắc đi nhắc lại nhiều lần vẫn chưa thấy thỏa mãn Thậm chí một dạo, có một người Ninh Hòa là phóng viên của một vài tờ nhật báo ở Sài Gòn lấy tên Sông Dinh làm bút danh để viết báo, để thể hiện tình yêu quê của mình

Để minh chứng cho điều này chúng ta thử tìm hiểu người Ninh Hòa đã nói gì về sông Dinh và sông Dinh có gì để nói Nhưng trước khi muốn biết mình thì thử xem người ngoài Ninh Hòa nói gì:

- Ngày ấy tôi 14-15 tuổi, học lớp đệ tứ (lớp 9), thầy Đặng Thành Thân là giáo viên văn, người Phú Yên, mới bổ nhiệm về dạy tại trường trung học Ninh Hòa Buổi học đầu tiên chỉ nói chuyện làm quen, thầy rất đắc nhân tâmvới học sinh Ninh Hòa bằng cách nghiên cứu trước những đặc điểm của địa phương, đến lớp thầy nói rất nhiều điều, nhưng điều làm cho tôi ghi nhớ nhất là thầy đọc một bài thơ viết về sông Dinh Thực sự với lứa tuổi ấy và lần đầu tiên được nghe bài thơ viết về Ninh Hòa tôi rất mê và thán phục, thầy ra vẻ đắc ý, ca ngợi quê hương Ninh Hòa rất giàu đẹp và nên thơ, nghe

mà thấy sung sướng và tự hào về quê hương mình

Một thời gian sau tôi được biết những lời thầy Thân nói và bài thơ được trích trong cuốn “xứ trầm hương “ của Quách Tấn, một cuốn sách nói về quêhương Khánh Hòa Vì Quách Tấn là một nhà thơ của nhóm 4 nhà thơ nổi tiếng của trường thơ Bình Định gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan… và Quách Tấn lại đang công tác tại tòa hành chánh tỉnh Khánh Hòa, phụ trách sọan thảo” địa phương chí “ nên Quách Tấn có điều kiện để tìm

Trang 11

Khi viết “xứ trầm hương” Quách Tấn rất “méo mó nghề nghiệp” Tuy không lý lẽ, siêu tưởng như Chế Lan Viên hoặc trữ tình, bi lụy như Hàn Mặc

Tử nhưng việc sáng tác văn thơ cho địa chí thì tài nghệ có thừa nên Quách Tấn thường xen lẫn những bài thơ của mình vào để thi vị hóa, tạo hấp dẫn người đọc Quách Tấn thường lấy bút danh khác hoặc dấu tên, cứ nói lên rằng của những tao nhân, mặc khách, của những nhà thơ phiêu lãng nào đó viết nên, khi tình cờ đi qua vùng đất thấy cảnh vật, non nước hữu tình nên đềthơ để lại Lúc đó tôi rất tin về những giai thoại huyền hoặc và thầm khen người xưa thật lãng mạn, tài tình cùng với quê hương mình cũng thật tuyệt vời

Nhưng ba mươi năm sau ta hãy nghe Quách Tấn thố lộ:

-“… Lại một bận khác, một ông bạn khác đến xem bài Lúc ấy tôi vừa viết xong con sông Cù ở Nha Trang và bước sang con sông Dinh ở Ninh Hòa Tôi mới viết đến ba ngọn nguồn của con sông và đang nghĩ một bài thơtrang điểm cho phong cảnh nhưng chưa tìm ra ý Ông bạn xem bài thơ về con sông Nha Trang:

Sông Nha Trang, cát vàng nước lục

Lưỡi gươm rửa hận hãy còn mài trăng

hỏi tôi: sông Nha Trang có thơ, sông Ninh Hòa chắc cũng có chứ?

ông bạn là người quen biết cũ Trước kia bị tình phụ thường dùng rượu để giải sầu Nghe ông bạn hỏi, tôi liền nảy tứ, đáp:

- sông Dinh mà không có thơ thì chợ Ninh Hòa hết người đến uống rượu Xem đây…

Vừa dứt lời tôi đánh lốc cốc:

Sông Dinh có ba ngọn nguồn

Anh nhớ em băng đèo vượt suối

Nhưng không biết đường đến thăm em

Ghé vô chợ Ninh Hòa

Mua một xâu nem

Một chai rượu trắng

Anh uống cho say mèm để quên nỗi nhớ nhung

Rượu không say

Nghỉ lại ngại ngùng

Trang 12

Con gái mười hai bến nước

Biết thủy chung bến nào?

Nhân câu chuyện xưa của ông bạn mà kéo được nem và rượu là món đặc biệt ở Ninh Hòa vào để trang điểm cho sông Dinh thì thật là thú vị! Tôi nghĩ nếu không có ai đến, hoặc có mà là một người khác chứ không phải ông bạn say rượu vì tình kia, thì liệu có đem được nem và rượu vào làm gia

vị cho cảnh sông Dinh không? ” (trên đây là đoạn hồi ký của Quách Tấn khinhớ lại giai đoạn viết Xứ trầm hương và có bài thơ về sông Dinh mà thầy Thân đã đọc cho học sinh nghe)

Như vậy Quách Tấn cũng rất giỏi về quảng cáo, đã khéo léo dùng thủ pháp kết hợp 3 in 1, có bao nhiêu đặc điểm của Ninh Hòa đã lôi tuột vào mộtbài thơ ngắn, tưởng như rất súc tích, nhẹ nhàng và ý vị Nhưng thật tội nghiệp và kém may mắn cho cô gái sông Dinh được Quách Tấn mai mối, giới thiệu cho một đệ tử của Lưu Linh quê ở buôn K’hô phải băng rừng vượtsuối và trên đường chàng tìm đến nhà người yêu ở cầu Sắt đã đi lạc về xóm Rượu !? khốn khổ thay chàng đệ tử của Lưu Linh lại mua phải rượu dỏm, uống Hòai không say nên sinh ra cớ sự ngại ngùng như vậy Con gái Ninh Hòa rất thủy chung nhưng dễ gì chọn anh chàng nát rượu như thế !!! Tôi có hơi tự ái khi so sánh hai bài thơ viết cho hai dòng sông: - viết cho sông Cù (sông Nha Trang hoặc sông Cái) thì Quách Tấn rất tình tự và hào khí nhưng viết về sông Dinh Ninh Hòa thì cũng có tình đấy, nhưng lại khổ sở và trầy trật quá.! Không nên để tình duyên cô gái sông Dinh lận đận như vậy (bài thơ này Quách Tấn lấy bút hiệu là Trường Xuyên)

Khá khen Quách Tấn đã gây “ân oán” cho quê hương Khánh Hòa nói chung và Ninh Hòa nói riêng bằng những vần thơ rất lý thú, tuy để phục vụ việc viết biên khảo của mình nhưng để lại trong lòng người đọc Ninh Hòa những dấu ấn khó phai

Tha nhân như vậy còn người bản xứ thì sao.? Đến đây tôi lại phải bật

mí và tạm khóa sổ để công bố một tổng kết: sau hơn 11 tháng theo dõi

website ninh-hoa.com ở các mục thơ văn, số “văn, thi sĩ” tham gia là 43 (kể

cả thơ văn trong mục các trường học) thì số “văn, thi sĩ” nhắc đến sông Dinh

là 27, tỷ lệ là 63% Tổng số bài thơ, bài văn gửi đến ninh-hoa.com là 198 thì

số bài thơ, văn có nhắc đến sông Dinh là 45, tỷ lệ là 23% Có thi sĩ nhắc đến sông Dinh nhiều lần trong các bài khác nhau của mình như Đường Hào, Nguyễn Văn Thành, Phạm Dạ Thủy, Vinh Hồ vv, Có người nói trực diện

và đích danh sông Dinh, có người nói gián tiếp qua bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu sự vật rồi mới liên hệ với sông Dinh, có người không nhắc đến tên nhưng vẫn hiểu rằng không sông nào khác hơn là sông Dinh Qua số liệu như thế chúng ta kết luận được gì.? Đó là chuyện con số, ai hiểu sao thì hiểu,còn chuyện con sông và con người mới là vấn đề cần phải tốn nhiều bút mực Qua đây chúng ta lại phải tri ân các anh trong website ninh-hoa.com đãxây dựng nên một sân chơi cho người Ninh Hòa Nhờ sân chơi này đã thu

Trang 13

hút, hội tụ được nhiều suy nghĩ, nhiều tâm tư, phản ảnh cho chúng ta khá rõ nét và toàn cảnh những sinh họat nhân văn của người Ninh Hòa Trang web ngày càng được người Ninh Hòa lưu tâm đón đọc cũng như gởi nhiều bài vởtham gia, đã nói lên tính hấp dẫn và sự quay về những giá trị tinh thần khi cónhững điều kiện thuận lợi

Qua sự việc trên tôi muốn giải thích ý nghĩa sâu sắc khi mượn câu thơ

“nước trôi ra bể lại quay về nguồn” trong bài “thề non nước” của Tản Đà làm đề tựa cho phần này Tuy bài thơ được viết bởi nhà một nhà thơ, một thầy đồ đầu thế kỷ 20 nhưng vẫn rất thời sự, đầy lý tính, diễn giải khá tinh tếmột sự vận động của thiên nhiên, của đất trời nhưng điều đáng khâm phục lại chính là tấm lòng của một người yêu tổ quốc, ẩn mình sau chuyện nước non Ta thấy mỗi người con Ninh Hòa sau những thăng trầm, nổi trôi của mệnh nước hoặc một sự chuyển dịch, phát triển tự nhiên đã rời xa quê nhà,

đã hóa thân (nói như Trịnh Công Sơn là “xa đời” ) Dù ở một nơi nào trên đất nước VN hoặc ở khắp năm châu bốn biển như là những ngọn nước, những nhánh sông đã lìa xa nguồn cội, nhưng tâm tưởng và nỗi lòng hướng

về nước non Ninh Hòa vẫn không phai nhòa Dù nó mong manh, hư ảo, mỗi người mỗi kiểu, mỗi cảnh: Tây – Tàu, vinh - nhục, giàu – nghèo, thị thành – quê mùa v v khác nhau Hôm nay những ngọn nước, những nhánh sông ấy dồn tụ, chảy về, hiện diện một cách rộn ràng, rất vui vẻ, với chân tình nói lênnỗi lòng của mình về quê hương chẳng khác nào sự “ quay về nguồn” mà Tản Đà đã lên tiếng gần 100 năm trước

(Còn tiếp)

Dương Tấn Long

SÔNG DINH QUA THI CA

(kỳ 4)

PHẦN 2: NƯỚC TRÔI RA BỂ LẠI QUAY VỀ NGUỒN

Một nhà phê bình văn học có mặt trong đêm ra mắt tập thơ của Phạm DạThủy đã nói: - Người Ninh Hòa có nhiều khả năng trong lãnh vực sáng tác thơ văn , một nhà thơ lão thành nổi tiếng khác, viết lời bạt cho một tập thơ của người Ninh Hòa cũng nói: - Ninh Hòa là một trong những địa phương

có truyền thống thơ ca Tôi cảm thấy thích thú và ngạc nhiên khi nghe những điều này

Các nhà phê bình đưa ra nhận xét ấy cũng có thể là để lấy lòng người Ninh Hòa Nhưng ta thử xem xét mặt tích cực của vấn đề Nếu khách quan

và để ý một chút chúng ta sẽ thấy ngay điều này khi mở trang web hoa.com, chương thơ văn chiếm phần lớn, với số lượng người tham gia và sốlượng bài thơ văn không nhỏ Già, trẻ, bé, lớn đều có mặt Đó chỉ mới trong

Trang 14

ninh-một tỷ lệ nhỏ của những người Ninh Hòa có khả năng tham gia trang web vì tiếp cận được phương tiện truyền thông hiện đại Khi tôi đóng sổ ninh-

hoa.com và nắm trong tay “bộ sưu tập” những bài thơ, văn viết về sông Dinh, tôi đã hớn hở, thỏa mãn vì thấy quá đủ dữ liệu để có thể tràng giang, đại hải, nói không thiếu một thứ gì của sông Dinh Nhưng cứ mỗi tuần lại thấy bài viết về sông Dinh xuất hiện trên ninh-hoa.com, tôi lại thấy mình hớ hênh, xót xa cả ruột gan, không cam lòng mà bỏ qua Mặc dù chiếc ghe sôngDinh đã chuyển tải rất nặng, rất đầy nhưng tôi không sợ chìm, cứ viết và cứ cập nhật, cứ kéo vào, chèo chống để lội sang bờ Bên cạnh ấy, chẳng biết có phải do duyên nợ thế nào, tôi được các thi sĩ Ninh Hòa gởi tặng các tập thơ: Lời ru gửi gió (Tường Hoài - xuất bản 8/2003), Sông tạnh (Điềm Ca – xuất bản 3/2001), Mưa nguồn, trầm tích, chim và rêu (Điềm Ca, Hồ Tịnh Vinh Điềm, TP Hoàng Điềm cùng in chung – xuất bản 8/2003) và mới nhất cũng

là tập thơ tôi mong đợi - Lời ru sông Dinh (nhiều tác giả - xuất bản 12/2003)thì tôi mới biết sợ và cảnh báo rằng con thuyền mình đang đi sắp gặp giông bão

Chỉ cần nghe tựa các tập thơ đã thấy chới với Tính đến cuối năm 2003 tôi đã có trong tay hơn 70 bài thơ, văn, biên khảo nói về sông Dinh, một số lượng đáng nể! Chưa chắc gì những con sông lớn khác trên đất nước Việt Nam có số bài thơ, văn nhắc đến nhiều như vậy Rất may tôi chỉ chọn chủ đềhạn chế là viết về sông Dinh, chứ tham lam viết rộng hơn về vùng đất Ninh Hòa thì rõ là xem trời bằng vung và chắc sẽ sớm toi mạng vì quá gắng sức hoặc bội thực.!

Vì lẽ gì người Ninh Hòa lại có thiên hướng về văn chương như thế thì

đó là điều cần suy ngẫm và tìm hiểu Người xưa có nói - địa linh sinh nhân kiệt, hoặc nói một kiểu nôm na khác - nơi nào có núi cao, sông sâu thì sinh người tài giỏi Với quan niệm đó, nếu đúng thì xứ Ninh Hòa đã và sẽ không

có nhân vật xuất chúng, nổi tiếng nào ghi trong lịch sử văn học nghệ thuật hoặc lịch sử dựng nước, giữ nước như một số tỉnh bắc trung bộ hoặc miền bắc nước ta Vì Ninh Hòa không có sông sâu, núi cao

Sông Dinh không sâu thì dễ biết, độ sâu trung bình của sông Dinh không quá 2 thước, nhưng núi Ninh Hòa không cao thì ta phải so sánh Chẳng cần phải so sánh với những ngọn núi ở đâu xa, ta chỉ thử lấy 3 ngọn cao nhất của các địa phương chung quanh Ninh Hòa sẽ thấy núi của Ninh Hòa xếp vào hạng thế nào: Vạn Ninh có hòn Chảo (1564m), hòn Chát

(1519m), hòn Đại Đa Đa (1709m) Diên Khánh có hòn Giao (2010m), hòn Gia Lo (1812m), hòn Ka Doung (1783m) Cam Ranh có MaRai (2356m), Bakoum (1403m), Ta Lô (1304m) Và Ninh Hòa có hòn Bà ( 1361m), hòn Long (1339m), hòn Giong hay Dung ( 1290m) Như vậy núi Ninh Hòa về độcao được xếp ở cuối bảng, nên lại không lạc quan lắm cho tiền đồ, tương lai

Trang 15

con cháu chúng ta.?!

Thế nhưng như anh Hồ Văn Thinh có nói và phân tích kỹ những đặc điểm địa lý Ninh Hòa trong ninh-hoa.com và kết luận rằng: ”Tất cả những điều nói trên có lẽ đã đủ để chúng ta tin rằng Ninh Hòa là một địa linh.” Thôi thì cứ nói như kiểu Hình Phước Liên là “bình thường, bình thường thôi ” chứ mãi tìm cách chứng minh cho Ninh Hòa là xứ sở địa linh sẽ sản sinh ra những anh hùng hào kiệt hoặc những nhân tài xuất chúng thì quá khứ

đã mỏi mắt, còn tương lai thì mờ mịt lắm ?!

Thế thì địa linh của Ninh Hòa ảnh hưởng tới người Ninh Hòa ở lĩnh vực nào? Chắc chắn phải có cơ sở để dẫn dắt ta vào hệ luận đó Rõ ràng là môi trường khí hậu, vị trí địa lý, địa chất v.v và nhiều yếu tố thiên nhiên khác đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh hoạt, tâm tư, tình cảm của con người sống trong môi trường đó Có những tác động thấy rõ ảnh hưởng, nhưng cũng có những tác động sâu xa, nhẹ nhàng và trừu tượng không phải

ai cũng có thể hiểu và lý giải được Tôi thấy rằng: - Ninh Hòa là vùng đất có nhiều núi xanh bao bọc chung quanh và chính giữa là đồng bằng, trong đó tâm điểm của đồng bằng là nơi hội tụ của ba nguồn sông Dinh Từ đó nguồn nước chi phối và ảnh hưởng rất đều khắp, nó như quả tim của Ninh Hòa

Hầu hết những vùng có đồng ruộng và cuộc sống trù phú của đồng bằng Ninh Hòa đều có các nhánh sông Dinh chảy qua: - Đầu nguồn nhánh

Đá Bàn thì có Ninh Trung , Ninh Đông Nhánh kế thì có Ninh Thượng, NinhThân, Ninh Phụng Nhánh sông Cái thì có Ninh Sim, Ninh Xuân, Ninh Bình

và khi hợp thành sông Dinh thì chảy qua Ninh Hiệp, Ninh Đa, Ninh Giang, Ninh Phú Nhờ có hệ thống thủy lợi thì nước sông Dinh đã vươn xa hơn như Ninh Quang, Ninh Lộc, Ninh Hà, Ninh Hưng Như vậy nước sông Dinh mang phù sa đến hầu hết các thôn làng Ninh Hòa, đã nuôi sống ruộng vườn, làm màu mỡ đất đai, tạo sự no ấm cho người dân Mặc dù đồng bằng Ninh Hòa không rộng lớn nhưng sản lượng thóc lúa, hoa màu vẫn đủ để Ninh Hòa

tự túc, kể cả cung cấp cho một số vùng phi nông nghiệp như Ninh Diêm, Ninh Thủy, Ninh Hải…v.v

Nói một cách khác, hầu như mọi người dân Ninh Hòa được sinh sống, nuôi dưỡng, phát triển bằng hạt gạo lấy từ nước và phù sa của sông Dinh Nhưng điều đáng nói và liên quan đến nội dung của bài viết là dòng nước sông Dinh đã gợi cảm, đã thấm sâu, đã vun bồi cái tâm thức của người Ninh Hòa tạo thành những chất trữ tình, bởi sự ngọt ngào, hiền lành, êm thơ của dòng nước, của đôi bờ rợp bóng, của bến sông dạt dào, của xóm làng yên vui

no ấm, bên cạnh núi xanh chập chùng là mây trời lãng đãng, là gió mát trăngthanh, là mưa dầm gió bấc, cùng nhiều thứ khác kết tinh lại Sông Dinh nói

Trang 16

riêng và sông ở miền trung nói chung có nhiều đặc điểm khác với sông ngòi

ở miền nam Mặc dù sông ở miền đồng bằng Cửu Long rộng, sâu, nhiều và chằng chịt nhưng lại không giàu tính “thơ” Sông nước không có núi non chẳng khác chi con mắt thiếu đi chân mày hoặc lông mi, trông rất trơ trọi Vìphương tiện giao thông chủ yếu bằng đường sông nên ghe, tàu, và nhiều loạisinh hoạt khác rất nhộn nhịp, dòng sông không bao giờ êm đềm, lắng dịu Tiếng máy ghe tàu, xuồng dọc, đò ngang, sống vỗ ồn ào xôn xao sông nước, tiếng người í ới bán buôn, vó lưới, giăng câu, các dụng cụ bắt cá lô nhô bến

bờ, thậm chí một số vùng có nhà cầu vệ sinh rải rác ven sông, đứng ngồi thoải mái, nước sông không khi nào trong xanh và thường có mùi sình vì con nước ảnh hưởng thủy triều khi ròng, khi lớn Như vậy làm sao mà nên thơ được.!!

Sự khác biệt đó phải chăng là địa linh của Ninh Hòa, đã sinh ra những người giàu tưởng tượng, dễ xúc động, nhạy cảm và lãng mạn, thích vần điệu,yêu thơ văn Có phải mọi thứ đó bắt nguồn từ sông Dinh.? Những đặc điểm trên cũng có thể có ở nhiều địa phương khác của Việt Nam nhưng Ninh Hòa vượt trội hơn ở yếu tố nào đó Tuy không sắc xảo, ồn ào để nổi đình, nổi đám, để thành danh nhân nhưng người Ninh Hòa lại rất tình và điệu nghệ Nếu Ninh Hòa thực sự có một bản sắc văn hóa riêng thì tôi xin được gọi nó

là “văn hóa sông Dinh”

Người Ninh Hòa không ai là không biết sông Dinh, nhưng biết tường tận về sông Dinh không phải ai cũng dám khẳng định Khi “địa lý sông Dinh” của tôi xuất hiện trên ninh-hoa.com thì có ngay ý kiến của anh Vinh

Hồ rằng -“ Sông Lốt là đoạn đầu nguồn của sông Dinh, có dòng nước trong quanh năm, nên bảo rằng sông Lốt còn gọi là sông Đục là không đúng ” tôi không biết trả lời sao.! mặc dù điều này được in thành sách đã lâu

Khi tôi viết “ vì sông chảy qua trước dinh quan trấn thủ Bình Khang nên người dân gọi là sông Dinh ” thì sau đó tôi tự hỏi - “vậy dinh trấn thủ Bình Khang nằm chổ nào?” tôi lại chào thua! Chịu khó suy luận cũng chỉ suy được rằng – dinh trấn thủ nằm trên giao lộ của “con đường cái quan” thời xưa ấy, con đường mà cha ông ta đi từ bắc vào nam mở cõi, với dòng sông Như vậy dinh trấn thủ lẩn quẩn chung quanh cầu Dinh trong phạm vi một bán kính nào đó??! nằm ở góc rạp Vĩnh Hiệp chăng? Hay vực đất đối diện Nằm ở chùa Hội Quán hoặc chùa Triều Châu.? hoặc xa hơn nữa là nằm

ở chợ Dinh.??! Và cũng chỉ tự nghi vấn vậy thôi Sau đó tình cờ đọc bài của anh Hồ Văn Thinh lại rất khẳng định trong sử lược Ninh Hòa rằng “dinh Bình Khang nằm bên tả ngạn sông Dinh” Nghe gợi ý như vậy, đầu tôi sáng lên ngay, nó mở cho tôi một hướng suy luận tích cực - Vì trên đường đi chinh phục ấy, đội quân của thái thú Hùng Lộc do Nguyễn Phúc Tần đề cử

dư hiểu tính chiến lược của con sông nên lấy làm phòng tuyến hoặc ranh

Trang 17

giới và căn cứ đồn trú chắc chắn phải nằm bên này sông, gần hậu phương miền bắc, để khi rút binh hoặc được chi viện sẽ dễ dàng hơn nên dinh nằm bên tả ngạn là có cơ sở để tin tưởng

Nếu phải quyết định chọn chính xác nơi nào thì tôi chọn dãi đất góc phần tư từ rạp Vĩnh Hiệp qua phòng văn hoá (chi thông tin cũ), ngược về phía đường Sắt Ninh Đông là nơi đặt dinh, thậm chí trại quân và các bộ máy cai trị khác còn chiếm cứ một vùng kéo dài hơn nữa vì khu vực ấy phần lớn hiện tại là đất công như bệnh viện Ninh Hòa, trường tiểu học Bình Hòa, chùa Hải Nam, trường Pháp Việt (mặc dù trước đó hơn 200 năm, nhưng tính

kế thừa về sử dụng đất công vẫn có, tuy bất thành văn nhưng đất công

thường chẳng ai dám đụng tới) Vì nơi đó thế đất cao, rộng và bằng phẳng, hướng cửa, mặt tiền của dinh Thái Khang và các công trình phụ trợ khác sẽ được quay mặt về hai hướng tốt với thời tiết, khí hậu của phương nam là đông và nam Và tốt về quân sự vì hướng đông là con đường và nam là mặt sông, sẽ có tầm quan sát tốt nhất và dễ kiểm soát Còn một yếu tố nữa cũng rất có cơ sở, cho ta xác định thêm tính đúng đắn của suy đoán trên là - con đường Trần Quí Cáp - trục lộ xương sống qua thị trấn Ninh Hòa tương đối thẳng nhưng không hiểu vì sao - từ chợ Ninh Hòa qua cầu Dinh vừa xuống dốc phải quẹo phải một góc khá lớn rồi mới tiếp tục đi thẳng ,có phải chăng

là vì dinh trấn thủ án ngữ bên cạnh trái nên có một qui định (lệnh) của dinh trấn hoặc nể sợ khu vực dinh nên người dân khi qua lại trước dinh phải né

xa, tạo một hướng đi khác như thế Phải có một lý do mạnh mẽ nào đó mới

bẻ lệch nổi con đường cái quan như vậy?! Qua đó chúng ta thấy rằng - lịch

sử hình thành sông Dinh nói riêng và vùng đất Ninh Hòa nói chung vẫn còn

có nhiều bí ẩn

Việc phân tích, mổ xẻ sự kiện lịch sử trên nhằm lý giải chữ “Dinh” mà người dân Ninh Hòa qua bao đời, đã được nghe từ khi mới lọt lòng cho đến lúc lìa đời mà không có một cơ hội thắc mắc nào Như vậy những yếu tố củasông Dinh như các tên gọi, sự biến đổi dòng chảy, đổi thay của các lưu vực, các chuyển biến nhân sinh chắc chắn đã không bất động qua thời gian Rất tiếc các bậc tiền nhân của Ninh Hòa ta đã không có điều kiện để ghi nhớ, để lưu truyền cho đời sau cặn kẻ mà chúng ta chi biết một vài điểm chính yếu

và khái quát qua sử lược Việt Nam Cũng may chữ “Dinh” có một tính gợi hình và hàm ý rất cao để chúng ta còn dựa vào đó để truy nguyên, mà tìm ra

lý lẽ như trên

(Còn tiếp)

Dương Tấn Long

Trang 18

SÔNG DINH QUA THI CA (kỳ 5)PHẦN 2 : NƯỚC TRÔI RA BỂ LẠI QUAY VỀ NGUỒN (tt)

Như tựa của bài viết “sông Dinh qua thi ca” thì ý tôi chỉ mô tả, nói những đặc điểm, phân tích những sự việc và kể chuyện sông Dinh bằng thơ văn của người Ninh Hòa Tôi trích lọc, hệ thống lại những câu thơ, những đoạn văn có liên quan theo từng nội dung, từng cảnh vật để minh họa về sông Dinh, kể cả những sử lược hoặc mổ xẻ, phân tích những điều sâu xa như bài kỳ 4, chứ tôi không có tham vọng bình phẩm tất cả thơ văn của người Ninh Hòa viết về sông Dinh, vì làm như vậy chẳng khác nào chuyện

“đội đá vá trời” Làm sao tôi có thể lý giải, kể lể cho hết những uẩn khúc trong tâm tư, tình cảm, nỗi lòng rất phong phú, đa dạng của người Ninh Hòa rung động trước sông nước quê hương Chỉ làm cách này mới có khả năng giới thiệu đầy đủ những đoạn thơ văn và những tác giả nói về sông Dinh, qua đó tôi muốn biểu dương lực lượng thực sự về mối quan hệ của người Ninh Hòa với sông Dinh Thậm chí trước ngôn từ, bài vở đông đảo của nền

“văn hóa sông Dinh” tôi chỉ cầu mong làm sao nhặt không sót và công bằng trước tình cảm của người Ninh Hòa, dù đó là chữ nghĩa của tác giả chuyên nghiệp hay “tài tử”, bất kể là ai, mong hoàn thành “nhiệm vụ nặng nề “ mà

đề tài đặt ra

Mặc dù người Ninh Hòa viết về sông Dinh rất phong phú và đa dạng nhưng tựu trung tôi phân loại, hệ thống lại với những đề mục chủ yếu theo thứ tự như sau: Ðịa lý, Duyên dáng sông Dinh, Cây cầu, Bến sông, Yêu thương và hoài niệm Cuối cùng là một chút riêng: - Sông Dinh và tôi

Ðịa lý:

Viết về địa lý sông Dinh chúng ta có thể tìm đọc bài Ðịa Lý Ninh Hòa của anh Nguyễn Văn Thành trong mục Non Nước Ninh Hòa, qua cung cấp tài liệu của anh Hồ Văn Thinh, hoặc bài “Sông Dinh” của Dương Tấn Long trong mục Cầu Dinh/Cầu Sắt ở trang web ninh-hoa.com

Dù là con sông quê nhưng có mấy ai là người Ninh Hòa đã đi qua tất cả

3 nhánh của thượng nguồn sông Dinh và theo sông ra tận cửa biển Mỗi người trong khả năng của mình, khi còn ở quê nhà chỉ có thể biết một phần hoặc vài phần chứ nào dám nhận mình biết toàn phần và đầy đủ về địa lý sông Dinh Nhưng nhờ có tài liệu của những nhà biên khảo cũ về địa chí Khánh Hòa như Quách Tấn, Nguyễn Ðình Tư tôi sưu tập lại, cùng với lời kể của những người hiểu biết nhiều về sông Dinh hiện tại, cộng với những bản

Trang 19

này và ngày hôm nay người Ninh Hòa có tương đối đầy đủ tài liệu về sông Dinh Chúng ta có thể đọc và nhìn sông Dinh một cách tổng thể, có trật tự và

dễ hiểu

Chúng ta cứ mãi dài giòng văn tự bên địa lý, lịch sử sông Dinh thì Phan Ðông Thức đi theo một con đường êm ả hơn Viết về địa lý sông Dinh bằng văn xuôi là chuyện thường tình, biết nhiều về sông Dinh và viết hành trình của con sông từ đầu nguồn đến cuối bãi bằng thơ thì quả là một người rất yêu mến, tâm huyết và tài tình Phan Ðông Thức đã làm được chuyện đó bằng bài thơ dài 32 câu ở ninh-hoa.com Rất thoải mái cùng người em sông Dinh tung tăng, uốn lượn trên những làng xóm của dãi đất Ninh Hòa, mặc kệ

ai lý sự, ai kiếm tìm xa xôi:

Em sinh ra giữa Trường Sơn bát ngát

Chảy xuôi về mãi tận biển Ðông

Chị em tôi họp mặt một giòng sông

Ðến Khánh Dương thác nguồn cuộn chảy

Về Lam Sơn sóng soải chờ trăng

Ðến Mỹ Hiệp em tên gọi sông Dinh

Ngoan ngoãn chậm nguồn bên bờ Vĩnh Phú

Ta cũng thấy những khái lược khác :

-Ba con sông Hòa chung về biển

Giòng sông Dinh lắm bến đợi chờ

Hàng tre nghiêng bóng đôi bờ

Gởi người sông Dinh - Ðổ Anh Tịnh

Trang 20

ba hòn bao bọc giữ quê Ninh

ba nhánh xuôi về một sông Dinh

Giòng Lốt ngợi ca bao chiến tích

Vọng phu ghi tạc những thiên tình

Ninh Hòa - Hồ Văn Thinh

Sông Dinh, sông Lốt, tên sông ấy

Ai đặt chi hai để nặng lòng

Sông ấy - Vinh Hồ

Duyên Dáng Sông Dinh

Giòng sông Dinh

Sóng cũng vỗ thành thơ

Hình ảnh để lại - Hồng Thị Vinh

Sông Dinh như tôi đã viết : “giòng sông Dinh vào mùa khô thì cạn, trong xanh và trôi lững lờ, có những nơi phơi bày cả đáy lòng sông với những bãi cát vàng phẳng mịn, hai bên bờ, những hàng tre xanh và cây vườnsoi bóng xuống giòng nước, trông con sông xinh đẹp như người thiếu nữ vớinhững vẻ duyên dáng , hiền hòa ” đúng là giòng sông chỉ đẹp khi đã qua mùa mưa bão Giòng sông Dinh dịu dàng, êm ả, đã làm vướng bận biết bao tâm hồn Hình ảnh sông Dinh trôi “lững lờ” là đặc điểm đáng yêu của con sông mà ta bắt gặp trong nhiều ý thơ , hình ảnh ấy thường rơi vào cuối đông đến những ngày xuân tươi thắm họăc nắng hạ rực rỡ và kéo dài đến đầu thu

Mùa xuân qua, hạ đến

Lững lờ trôi

Giòng sông Dinh, nước sông Dinh

Sông Dinh tình nhớ mãi không nguôi- Ðỗ Công Quý

Sông Dinh lờ lững xuôi giòng chảy

Vẫn hiền như ngày ta đi xa

Với sông Dinh - Phạm Dạ Thủy

Giòng sông “lờ lững” đã tạo một ấn tượng đẹp để Dạ Thủy phải hai lần nhắcđến trong hai bài thơ khác nhau

Sông Dinh chảy lững lờ trong câu hát

Tắm mát một thời trẻ dại hồn nhiên

Người say quê tôi nem chua rượu bọt

Tôi say quê tôi một nhánh sông hiền

Trang 21

Tình quê - Phạm Dạ Thủy

từ cái lờ lững và dịu dàng ấy, người Ninh Hòa cho rằng sông Dinh “Hiền” là

sự suy dẫn hợp tình Tuy sông Dinh vẫn có lúc “hung dữ” ngắn ngủi, nhưng

dù gì thì cái tình vẫn cho người Ninh Hòa luôn cảm nhận cái hiền của sông Dinh là cố hữu

Giòng sông Dinh hiền như một câu thơ

Ai phổ nhạc hát lên lời yêu mến

Ninh Hòa - Trần Việt Kỉnh

Lặng lẽ sông Dinh

Dâng bờ xanh ngút ngát

Cánh chim chiều tím một dáng núi xa

Ninh Hòa đoản khúc - Lê Khánh Mai

Hòn Hèo rợp bóng dáng mây che

Sông Dinh nước chảy nhè nhẹ sóng

Quê tôi - Nguyễn Thục

Trãi nghìn đời vẫn lặng lẽ như tờ

Sông Dinh chảy mãi ngày đêm trông ngóng

Bất động - Hoàng Thy

Ta cũng thấy Tường Hoài và Vinh Hồ mượn cái lững lờ để làm chất liệu chotình duyên của mình

Giòng sông Dinh tháng ngày trôi lờ lững

Nối đôi bờ mấy nhịp cầu duyên

Cho Vĩnh Phú ngàn năm thương Mỹ Hiệp

Miếng trầu cau cho đượm thắm đôi tình

Về thăm Ninh Hòa-Nguyễn Tường Hoài

Chiều chiều ra đứng bến sông

Thương người em gái má hồng Thanh Minh

Phương tôi lờ lặng sông Dinh

Như tình thơ tím- Vinh Hồ

Vào mùa mưa lũ, giòng nước cuồn cuộn chảy, luôn có những khóm lụcbình (người Ninh Hòa vẫn thường gọi là cây bèo) trôi theo giòng Ta hãy nghe Nguyễn Văn Thành kể : -” tôi còn nhớ nước sông Dinh thời ấy có lần lên cao hơn bảy thước, nước đục ngầu chảy mạnh mang theo nhiều lục bình

Trang 22

và cây cối trôi cuồn cuộn theo giòng nước lũ ” Qua mùa mưa lũ ấy, nhữngkhóm lục bình lưu lạc, cư ngụ dọc bến bờ đã để lại nhiều cảm xúc:

Bạn bè ơi

Xin gởi cho tôi

Một cánh lục bình trôi trên sông Dinh

tôi lớn lên theo nhịp thở của Ninh Hòa - Trương thị Ninh Hòa

Bèo sông Dinh trông đẹp lắm

Tím xanh nụ vàng nhè nhẹ trôi

Ðầy sông bèo nổi đưa theo gió

Bèo sông Dinh - Nguyễn Phương Linh

Bến sông Dinh một ngày ta trở lại

Ðã không còn những cánh lục bình xanh

ngày trở lại Sông Dinh - Nam Kha

Sóng lăn tăn tít tắp xa bờ

Khóm lục bình gió đùa nghiêng ngã

Trên bờ sông Dinh - Nam Kha

Cũng cầu Dinh với giòng nước hữu tình

Giữa giòng hoa tím lục bình dễ thương

Những nẻo đường trong mơ - Nguyễn Trần Sơn Nết

Ước nào hái được bèo sông Dinh

Nhưng giữa sông hoa bèo nằm ngắm nắng

Bến nước sông Dinh lục bình trôi lặng lẽ

Trên giọt mưa mùa qua phố quạnh hiu

Khu phố cũ- Linh Vũ

Mưa rơi tầm tả gió thổi nhẹ

Hiu quạnh gió đưa bèo sông Dinh

Ninh Hòa Phong Vũ - Nguyễn Phương Linh

Trang 23

Thân phận lạc loài, vô định của một loài hoa tím, nằm trên giai điệu lững lờ không biết trôi dạt về bờ bến nào, đó là hình ảnh thơ và đẹp nhất của sông Dinh!

Nắng chiều

Hắt xuống sông Dinh nhợt nhạt

Cây cầu cũ

Giờ vắng bóng người qua

Nước lững lờ trôi đưa những lục bình tím ngắt

Dạt về đâu

Trong mơ- Ðỗ Thảo Nguyên

Nhưng ban đêm, Quan Dương còn nhìn thấy được lục bình trôi cũng là một điều kỳ lạ - “ tôi ngồi với nàng suốt đêm bên bờ sông Dinh đề chờ trời sáng Giòng nước đen xanh dưới những chòm sao lấp lánh, thấp thoáng một vài đám lục bình trôi dật dờ không biết giạt về đâu ” Lá rụng về cội , chắc chắn hình ảnh ấy cho một cảm giác ghê sợ, nhưng ngồi với nàng thì sẽ thừa can đảm để vượt qua mọi thử thách

Như bao thị tứ của Việt Nam, thường hình thành và phát triển kề bên một con sông nào đó Vì phương tiện giao thông xa xưa thích dụng với sông ngòi, con người lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, bám theo nguồn nước để sinh sống:- nước để ăn uống, sinh hoạt, canh tác kể cả môi trường vi khí hậu và cảnh quan Thị trấn Ninh Hòa cũng thế, nó gắn liền với sông Dinh vì nguồn nước là chính chứ không trên bến dưới thuyền như một số thị tứ miềnNam, cho nên sông Dinh rất im ắng ngay cả sát chợ Dinh, không nhộn nhịp bán buôn Hầu như chỉ có chiếc ghe nhỏ bằng tre là phương tiện để đi giăng câu của một ít người ven sông sử dụng, lâu lâu mới xuất hiện Cho nên qua bao nhiêu bài thơ, văn viết về sông Dinh, hình ảnh chiếc ghe thật hiếm thấy?! một hình tượng đầy tính thi họa cho những vùng sông nước ở địa phương khác lại không cho nhiều ấn tượng trong lòng người Ninh Hòa, thật tiếc thay ! có lẽ vì không là phương tiện sinh sống chủ yếu nên người dân Ninh Hòa không chịu chăm chút, yêu quí để ca ngợi hoặc cả dáng hình của chiếc ghe cũng quá đơn giản Tuy hiếm nhưng vẫn có một đoạn thơ của Nguyễn Từ Chung viết về sông Dinh rất cô đọng, có nhắc đến chiếc thuyền câu

mẹ cha còn đó bên bờ sông Dinh

sớm chiều mây phủ vọng phu

Sữa tuôn từ núi ngọt giòng sông sâu

Ðôi bờ bãi lúa nương dâu

Lững lơ giòng nước thuyền câu buông chèo

Bên bờ sông Dinh

Trang 24

Nếu phố chợ Dinh là dung nhan của người con gái thì sông Dinh là mái tóc thề tô điểm cho thị trấn thêm xinh đẹp và duyên dáng, con sông đã làm mềm đi hoặc thướt tha hơn cho sinh hoạt chợ Dinh và thị trấn Ninh Hòa

Sông Dinh như thoáng buồn vương

Chút gì thiếu nữ phố phường chiều hôm

Ninh Hòa - Ngô Quang Trung

Sông Dinh hiền hòa năm tháng

Thị trấn vươn mình phố rợp hoa

Ninh Hòa tự khúc - Phạm Duy Tân

Phố chợ và con sông Hòa quyện như bóng với hình

Quê tôi thị trấn bên giòng

Sông Dinh xanh bóng phố hồng cánh mây

Ninh Hòa sông Dinh quê tôi - Ðổ Công Quí

Giòng sông Dinh vắt ngang qua phố

Con nước hiền như người dân quê tôi

Tình quê - Phạm Dạ Thủy

Trăng đợi sông Dinh phố ngẩn ngơ

Buồng tim nước tưới ruộng đôi bờ

Ðây sông Dinh - Ðiềm Ca

Ðặc điểm của sông Dinh là dọc hai bờ những hàng tre rợp bóng, tre từng hàng, từng khóm xanh rì, kéo dài ngút ngàn, ôm ấp những xóm làng và nghiêng ngã trên sông Giòng sông Dinh hữu tình và thâm trầm cũng vì đặc điểm này Tre chạy từ thượng nguồn đến tận hạ lưu Ngay như khi ngang qua thị trấn Ninh Hòa, nơi phố thị với nhiều nhà cửa nhưng đứng trên cầu Dinh ta vẫn thấy một màu xanh chập chùng Ta nghe Thụy Nguyên mô tả:

”dọc hai bên sông Dinh là những bụi tre mọc tương đối chằng chịt xen lẫn vài tàng cây cổ thụ to lớn ” bên chân cầu sắt - Thụy Nguyên

Cùng với bao nhiêu lời thơ mô tả về đặc điểm này

Con sông hiền như em gái quê hương

Tre tỏa bóng đôi bờ xanh mát

Con nước đầy vơi hoa mua tím ngát

Da em trắng ngần bởi tắm nước sông Dinh

Sông Dinh - Nguyễn Gia Nùng

Trang 25

Sông Dinh xanh biếc đôi bờ

Hàng tre soi bóng nghiêng thơ vào lòng

Ði qua mấy nhịp cầu cong

Nhớ sông Dinh - Phạm Duy Tân

Con sông Dinh dập dềnh sóng gợn

Hàng tre xanh lả ngọn trên giòng

Còn đó tình yêu - Hồ Dạ Thảo

Nghiêng đời em xuống đời anh

Hàng tre nghiêng bóng sông Dinh mơ màng

Mái chèo nghiêng xuống nhặt khoan.

Nghiêng xuống đời nhau - Tường Hoài

Phút giao mùa, sắc lá tre vàng rơi đầy trên sông cũng dễ gây màu nhung nhớ

Sông Dinh

Ngày trở gió

Là tre vàng rụng kín giòng trong

Nhà tôi ở ven sông

Mùa xuân vàng hoa cải

Ðừng lở sông ơi - Phạm Duy Tân

Cũng như bao vùng sông nước khác, nếu có điều kiện để được thấy ánh trăng phản chiếu trên mặt nước vào những đêm trăng sáng, chắc chắn đó

là những hình ảnh đẹp, trăng sông Dinh cũng vậy, chúng ta hãy nghe những người Ninh Hòa có kỷ niệm với hình ảnh ấy mô tả : :- “ánh đèn điện của phốnhỏ Ninh Hòa không đủ sức mạnh lấn áp ánh sáng huyền diệu của trăng như

ở đây Trăng sông Dinh vằng vặc nghiêng mình soi bóng tận đáy nước ” Phùng Phương - trăng quê nhà

Quan Dương với tình cảm của mình, thông qua lăng kính tình yêu nhìn đêm trăng sông Dinh rất tuyệt vời, nhưng trước khi ca ngợi vẫn không quên dùng lý trí nhắc lại điểm yếu của giòng sông: - “những mảng rêu xanh dưới giòng sông Dinh bình thường trông dơ dáy như thế, nhưng có tình yêu vào rồi thì ban đêm nhìn xuống dưới ánh trăng, trông lấp lánh như màu ngọcbích.” -Những đoạn tình quanh quẩn cầu Dinh

Tuy không quá thể như Lý Bạch chết vì trăng nhưng rõ ràng cảm giác của đêm trăng trên sông Dinh dưới mỗi góc nhìn khác nhau có những rung

Trang 26

động khác nhau đều đẹp.

Trăng lên len lén bên cầu

Sông như e ấp gái quê dậy thì

cợt đùa thoả thích trăng đi

Nguyễn Từ Chung - Bên bờ sông Dinh

Ðường Hào lại có một ghi nhận khác “ Vào những đêm trăng tỏ, ngược hướng giòng sông Dinh người ta có thể nhìn rõ hòn Vọng

Phu Tháng sáu nước sông Dinh cạn như ứ đọng không trôi, từ trên cầu nhìn xuống ánh trăng phản chiếu trên mặt nước sông vẽ thành những mảng trời trắng đen loang lổ ”

Dĩ nhiên không có gì là toàn hảo, người đẹp nào mà không có chút khuyết tật, đôi lúc bị trái gió trở trời Sông Dinh cũng thế Có một thời bộ mặt sông Dinh ô uế bởi sinh hoạt của chợ Dinh, một số người thiếu ý thức đem rác ra cầu Dinh đổ thoải mái xuống giòng sông, nước lững lờ trôi mang theo đầy rác rến, ta hãy nghe Quan Dương tả :” có một quãng thời gian dài tất cả rác rến ngoài chợ đều đổ ập ” -Những đoạn tình quanh quẩn cầu Dinh Nhưng cũng chỉ một thoáng qua, không được người Ninh Hòa ghi nhận nhiều

Nhưng Ðiềm Ca phát hiện một bất thường khác của sông Dinh, rất lạ! không biết ở thời điểm và đoạn sông Dinh nào?.! Hay do một thất vọng, chán ngán như kiểu người buồn cảnh có vui đâu bao giờ mà nhìn giòng sônghoá bi thương như thế!

Trời xuân vẩn đục, trăng xuân tái

Ô nhiễm sông Dinh nước trổ hường

Khói mù sương - Ðiềm Ca

Tóm lại, duyên dáng sông Dinh có thể được khắc họa bằng hình ảnh :- một giòng sông êm trong trôi lững lờ, dọc hai bên bờ là hàng tre xanh thắm, trên sông điểm vài khóm lục bình, xa xa là một chiếc ghe câu và tận cùng là núi hòn Hèo hoặc núi Vọng Phu có mây trời nhẹ trôi Mời một họa

sĩ nào yêu con sông quê, diễn họa cho ra chân dung ấy Nếu không có một bức tranh cụ thể thì mong rằng người Ninh Hòa ghi sâu vào tâm tưởng mình con sông Dinh lúc nào cũng xinh đẹp , cái kính lọc tình cảm sẽ không để chút rác rưới, nhơ bẩn thực tế nào lọt qua, hòa lẫn vào cái mỹ quan khi nhớ

và hình dung về sông Dinh

(Còn tiếp)

Trang 27

Cầu Dinh

Đã là người Ninh Hòa không ai không một lần đi qua cầu Dinh Cây cầu huyết mạch, nối liền đường bộ, vượt qua sông Dinh, nằm ở trung tâm thịtrấn Ninh Hòa Cầu Dinh gần chợ Dinh (chợ Ninh Hòa), bên kia là Vĩnh Phú Nơi đây hàng ngày, người xe tấp nập qua lại, đi về khắp nơi hoặc vào chợ Dinh mua sắm , giao thương

Ai về Ninh Hòa quê tôi

Cầu Dinh phơi phới nằm phơi nắng đào

Dòng sông chở nặng ca dao

(Ninh Hòa quê tôi - Nguyễn Tường Hoài)

Bình thường nếu phải giới thiệu về cầu Dinh, bao nhiêu lời đó là đủ, nhưng với bài này, có một số chuyện về cầu Dinh rất lý thú, đáng nói, cần bàn sâu hơn

Có sông rồi sau đó có cầu - là chuyện tất nhiên, nhưng Quan Dương thích nhắc lại và lý giải đơn giản như đang giỡn: “ Con sông Dinh có tự bao giờ? Không ai biết nhưng chiếc cầu thì chắc chắn phải có sau con sông Nói chính xác hơn là tại bởi vì có con sông nên mới có chiếc cầu ” Những đoạn tình quanh quẩn cầu Dinh - Không sai tí nào.! Một định lý tuyệt vời ! dựa vào “định lý Quan Dương” tôi cũng nhắm mắt tuyên bố một cách hùng hồn và chắc nịch rằng:- tất cả mọi chiếc cầu trên hành tinh này đều có sau con sông.!! Đùa một tí, thế nhưng khi đặt ngược vấn đề và đi sâu hơn thì mọi việc không còn là chuyện đùa và đơn giản nữa Tôi nói rằng : - con sôngDinh chắc chắn có sau cầu Dinh.!? Nghe điều này chắc hẳn nhiều người thấy

lạ và nghịch lý Để sáng tỏ sự việc, chúng ta thử lội ngược dòng thời gian, ngược dòng suy nghĩ và lịch sử mù mờ của Ninh Hòa, qua đó tìm hiểu xem cầu Dinh ra đời từ khi nào và tại sao cầu Dinh có trước sông Dinh

Trang 28

- Năm Quý Tỵ (1653) vua Chiêm Thành đem quân cướp phá đất Phú Yên Chúa Nguyễn Phúc Tần cử Hùng Lộc đem quân vào đánh dẹp, quân Chiêm đại bại xin hàng Chúa Nguyễn dành một phần đất cho vua Chiêm từ Phiên Lang (Phan Rang) trở vào, phần còn lại trở ra Phú Yên thì chiếm cứ

và lập làm 2 phủ là Diên Ninh và Thái Khang Phủ Diên Ninh bao gồm DiênKhánh và các vùng xung quanh còn Thái Khang là vùng đất còn lại trong đó

có Ninh Hòa Dinh trấn thủ được xây dựng ở Thái Khang (vùng Ninh Hòa) như đã nói ở bài kỳ 4 Như vậy sau khi bình định vùng đất, dù sơ khai, việc

tổ chức bộ máy hành chánh, vấn đề an dân, giao thông đi lại vv tất yếu phải được hình thành, ít lắm là khu vực quanh Dinh và các vùng phụ cận Trong đó việc làm một cây cầu để vượt qua sông, nối tiếp con đường cái quan, nằm cạnh Dinh Thái Khang là vô cùng cấp thiết Chỉ có binh hùng tướng mạnh của một chính thể mới có khả năng thực hiện điều này Cây cầu cần cho người dân đi lại làm ăn và cũng để tiện đường mở mang bờ cõi, điềuhành xã hội, điều động binh lính, tiếp ứng vùng đất Diên Ninh phía nam Cho nên cư dân địa phương, những người đi mở đất, tập họp, sinh sống các khu vực quanh dinh, xây nhà, lập chợ (chợ Dinh), được cơ hội lui tới, qua lạicây cầu bên cạnh dinh Thái Khang, gọi cây cầu là “cầu Dinh” cho gọn, điều này chắc chắn được chấp nhận ngay từ đầu vì nơi đó không có biểu tượng quyền lực nào cao hơn dinh của quan trấn thủ Cầu Dinh thực sự hình thành

và có tên lưu truyền từ đó Tôi nghĩ rằng cây cầu được hình thành sau khi có Dinh Thái Khang không quá 3 năm

Như vậy cầu Dinh ra đời và chính thức có tên vào khoảng 1655 - 1657 Còn nói vì sao sông Dinh có sau cầu Dinh chẳng qua là vấn đề được nhìn một cách khác Tôi chẳng dám phủ nhận “định lý Quan Dương” mà ý nói - tên “sông Dinh” có sau tên “cầu Dinh” Vì rằng sông Dinh trước đó có tên làsông Vĩnh Phú (còn có tên Vĩnh Hòa, Vĩnh An) Khi có dinh trấn thủ, có cầuDinh, người dân đi lại trên cầu, xuôi ngược trên sông, dần dần tập gọi tên

“sông Dinh” Những người biết tên sông rồi thì cứ gọi sông Vĩnh Phú, ngườichưa biết thì ấp a, ấp úng - “ sông ấy à sông qua dinh trấn thủ đấy chứ gì ờ - thì cứ gọi sông Dinh cho rồi ! ” và lâu dần chữ “Dinh” ngắn gọn, dễgọi, thay thế chữ Vĩnh Phú Tôi nghĩ rằng dân gian thì gọi là sông Dinh, còn quan quân chúa Nguyễn cứ phải kêu là sông Vĩnh Phú vì đó là kiểu của địa chí, của câu chữ triều đình Cho nên tên “sông Dinh” phải rất lâu về sau mới chính thức được công nhận và có sau tên “cầu Dinh” là vậy Tuy nhiên tên

“sông Dinh” phải có trước khi dinh trấn thủ dời vào thành Diên Khánh, vì nếu dinh dời đi rồi thì còn đâu hình tượng nữa mà đặt tên (Năm Nhâm Tuất

1742 chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi tên Diên Ninh thành Diên Khánh Vì thấy địa thế tốt nên dời dinh vào đấy)

Trang 29

Thế còn cầu Dinh lúc ấy làm bằng gì? Dáng hình ra sao ? cũng là điều đáng nói Chắc chẳng khó khăn lắm để tìm hiểu điều này vì thời ấy có vật liệu nào khác hơn để làm cầu ngoài cây, gỗ Cầu không cao, không rộng, nhưng phải cao hơn mực nước lụt cao nhất trong năm và rộng cho người ngựa, xa giá qua được là đủ Cầu rộng chừng 2 mét, dài khoảng 90m, không

có lan can, có dạng như cây cầu ở Ninh Phú, gần chợ Cầu trước đây Được kết hợp giữa gỗ và tre - gỗ dùng cho chân trụ và dầm, lớp lát mặt thì bằng tregià Gỗ của Ninh Hòa lúc ấy tìm thật dễ dàng, chỉ cần ngược về Quang Đônghoặc xa chút nữa là Văn Định (ổ gà), núi rừng dày đặc, cách Dinh chừng cây

số Tre thì bạt ngàn tại chỗ, cứ đi dọc sông Dinh lựa và đốn thoải mái Tuy nhiên khối lượng công việc rất lớn, không thể làm kiểu “cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo ” mà phải có một tính kiên cố nhất định Có thấy nước sông Dinh cuồn cuộn chảy vào mùa lụt thì mới hiểu cầu Dinh bằng gỗ khi ấy phảimạnh mẽ cỡ nào mới đứng vững được Ta còn nhớ người lính thú đời xưa trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, qua ba năm trấn thủ lưu đồn, đi làm những việc như làm cầu Dinh đã phải than thở: “ chém tre đẵn gỗ trên ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai” Tuy hao tốn công sức như vậy nhưng cầu

gỗ rất mau hư hỏng, niên hạn khoảng năm, ba năm phải tu sửa Chắc chắn nhiều năm thìn và nhiều ngày hăm ba tháng mười nào đó, cầu đã bị nước lũ sông Dinh tàn phá, cuốn trôi, khiến phải nhiều lần làm lại Mặc dầu khó khăn, chật vật, cầu Dinh bằng gỗ đã nhiều đời trơ gan cùng tuế nguyệt, chịu gian khó suốt hơn 250 năm

Kỹ thuật beton cốt thép ứng dụng cho việc xây dựng công trình ở các nước Châu Âu bắt đầu cuối thế kỷ 19 và du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ

20, nhưng cầu beton cốt thép phải đợi thực dân Pháp thực hiện việc “làm thịt” thuộc địa, bằng cách nâng cấp con đường cái quan thành quốc lộ số 1 với mặt đường tráng nhựa, mở rộng, chạy dọc theo chiều dài đất nước Những chiếc cầu beton kèm theo, xuất hiện trên các con sông VN, trong đó

có chiếc cầu Dinh qua vùng đất Ninh Hòa chúng ta Đó là những năm 1925 Tuy tiến bộ hơn cầu bằng gỗ nhưng nó là thế hệ thứ nhất của những chiếc cầu beton nên kỹ thuật vẫn thô sơ và việc xây dựng ì ạch, khó khăn không kém gì cha ông ta làm cầu gỗ trước đó Tuy vậy, sự xuất hiện của con đườngmới là một bước ngoặc to lớn trên lãnh vực giao thông công chánh của Việt Nam ta sau mấy ngàn năm văn hiến!.!

Sự thay đổi đó khởi đầu rất gian nan với nhiều mồ hôi, công sức và cả sinh mệnh của những người bản xứ Đã tạo ra một lực lượng lao động mới mang tên “phu lục lộ” mà chúng ta đã nghe nhiều nỗi thống khổ của họ dướiách thống trị của thực dân Bỏ qua chính kiến để nói mặt khác của vấn đề thìNinh Hòa chúng ta cũng được ăn theo nền văn minh phương tây Có một con đường tráng nhựa và một cây cầu kiên cố, khang trang hơn thời kỳ lạc

Trang 30

hậu trước đó vv thế là một thị tứ bám theo cây cầu sinh sôi, phát triển NinhHòa đã cởi bỏ chiếc áo the thâm mang suốt hơn 250 năm và khoác lên chiếc

áo veston mới lạ! Nhớ về chiếc cầu này ta thấy Đường Du Hào viết trong

“tuổi mười ba”:-“ Cầu Dinh, chiếc cầu nối liền xóm Vĩnh Phú với phố Ninh Hòa, còn thô sơ và chất hẹp, bề ngang cây cầu rộng vừa đủ vỏn vẹn cho một chiếc xe hàng loại Renualt cũ qua lại một chiều“ Tôi thì nhớ cầu Dinh betonthời ấy dáng hình mỏng manh, không rộng, lòng cầu chừng 3m, hai bên có lối đi bộ chừng 1m, đủ để một chiếc xe 4 bánh và một chiếc xe hai bánh tránh nhau Trên cầu có một chòi canh để điều hành xe qua lại, vì xe lớn chỉ chạy được một chiều nên bên này qua cầu thì bên kia nhận hiệu lệnh phải ngừng chờ đến lượt (cầu Xóm Bóng ở Nha Trang cũng hẹp như vậy, nhưng

vì cầu quá dài nên cứ vài nhịp có đoạn mở rộng để tránh xe) Được biết, trước thập niên 60, xe cộ không nhiều, việc qua lại cầu không phải chờ đợi

Rõ là người Pháp nghĩ rằng qui mô cây cầu như vậy là quá đủ, họ không dự đoán (cũng chẳng cần phải lo xa) được xã hội phát triển Cầu được

sử dụng tích cực, các phương tiện giao thông ngày càng nhiều, nhất là thời

kỳ chiến tranh VN gần đến cao điểm, xe quân sự qua lại không ngớt, khi có những đoàn convoy nặng nề, gần cả trăm chiếc chạy qua, luôn là nỗi lo ngại cho chiếc cầu ốm yếu này Cho đến một ngày năm 1965 - một nhịp cầu cùngchiếc xe tải chở đá xây dựng của ông D rơi tòm xuống sông gây nên cái chếtthương tâm Sau đó là một chàng tài xế Mỹ đen, đã quá yêu mến dòng sông, đưa nguyên chiếc xe nhà binh to tướng, lao thẳng xuống thăm “bà thủy”, chỏng 4 bánh dưới cầu Những sự kiện trên báo hiệu cho giờ phút chấm dứt

sứ mệnh lịch sử của chiếc cầu beton đơn sơ, đầu đời ấy Dù người ta cố gắngduy trì, cứu chữa bằng cách đóng ghép vào nơi gãy đổ những dầm sắt, gỗ sử dụng tạm, nhưng nó cũng chỉ sống lây lất, không lâu Tưởng cũng nên nhắc lại vào năm 1954, những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp Việt Minh sau khi tấn công vào nhà lao ông Corse (chi thôngtin cũ) bất thành, trên đường rút lui đã “dằn mặt” thực dân Pháp bằng cách gởi tặng cầu Dinh một quả mìn, tiếng nổ vang dội trời đêm, rúng động cả thịtrấn Ninh Hòa

Cầu gãy một nhịp phía bên Vĩnh Phú Quả mìn đã làm lung lay ý chí quân Pháp ở Ninh Hòa, nhưng cũng góp phần làm thương tổn và giảm tuổi thọ chiếc cầu không ít Thương tiếc cho cây cầu yểu mệnh ở tuổi trung niên

vì chịu quá nhiều biến cố và dâu bể, nó tồn tại khoảng 40 năm! (cũng nên nói thêm về tính thô sơ của kỹ thuật beton cốt thép thời đó, vì với tiêu chuẩn niên hạn thì kết cấu beton cốt thép là kết cấu bền vững, có tuổi thọ trên 80 năm, những vật liệu tạo thành beton như : ciment, cốt thép thời đó cường độ không cao, đá thì không có loại đá dăm được chế biến từ những máy nghiền như kiểu của hãng thầu RMK của Mỹ nằm ở đèo Rù Rì , chỉ lấy từ thiên

Trang 31

nhiên rồi sàn lọc bằng thủ công ở đầu nguồn các sông, viên đá tròn, láng nhưng chất lượng không đồng nhất , độ bám dính vào kết cấu không cao, dễ bong tróc nên sắt thép mau rỉ sét , công trình nhanh xuống cấp nếu không được bảo quản tốt ).

Cầu cũ đã suy tàn, không còn khả năng đáp ứng được số lượng người

xe và trọng tải nên phải phá bỏ để làm chiếc cầu mới rộng hơn, mạnh mẽ hơn Thế nhưng Ninh Hòa khi đó chỉ có cây cầu Dinh là duy nhất nối quốc

lộ 1 Nếu tháo bỏ cầu cũ để làm cầu mới thì xe cộ vào Nam ra Bắc khi qua Ninh Hòa trong thời gian ấy phải chạy đường nào?! đó là vấn đề nan giải! Nhưng rồi một tuyến đường tạm được thiết lập theo lộ trình : - bắt đầu từ Vĩnh Phú thì xe chạy theo hướng Quang Đông , đến gần cầu Sắt, làm một cây cầu song song, qua bờ bên kia chạy dọc theo đường ray, cạnh chùa Tổ (Thiên Bửu hạ) một đoạn rồi quẹo trái về hướng xóm Cầu Gỗ, chạy bọc ra hạt Kiểm Lâm và đáp vào quốc lộ 21, trước trường Bán Công Tuyến đường

ấy được xây dựng một cách nhanh chóng, do lực lượng công binh Mỹ thực hiện Con đường tạm bằng đất đỏ được những chiếc xe chuyên làm đường, hình dáng cồng kềnh như con bọ ngựa với chiếc bánh xe khổng lồ, vừa đổ đất, vừa san ủi, xe chạy bụi đỏ bốc lên mù trời Chiếc cầu vững chắc với những trụ bằng cây gỗ thông dài, ngay thẳng, đường kính không dưới 3 tấc, được tẩm dầu chống mục, có xuất xứ tận Mỹ quốc, trụ được đóng bằng búa máy sâu xuống lòng đất, lớp gỗ lát mặt cầu cũng bằng gỗ xẻ tẩm dầu rất dày

và cứng cáp Rõ là cầu gỗ của cha ông ta không thể nào sánh bằng ! Chiếc cầu tuy đen đúa nhưng đủ khả năng gánh chịu tất cả các loại xe lúc ấy, kể cả các xe quân sự to lớn ngày đêm qua lại ầm ầm

Dù sứ mệnh của chiếc cầu cùng con đường được đặt ra không cao và không lâu dài nhưng không ai cấm cản nó “sống còn” khi cầu Dinh mới đã xây dựng xong Tuyến đường này đã tồn tại một thời gian dài hơn 10 năm Khi cầu gỗ bị hư mục, xụp đổ thì việc sử dụng tuyến đường này mới thực sự chấm đứt, trả lại sự thâm nghiêm, tỉnh lặng cho khu vực “Xương thịt” của cây cầu như là một gia tài vô chủ, cũng giúp đỡ cho một số người nghèo khổtrong vùng làm củi hoặc làm việc gia dụng trong một giai đoạn khó khăn củađất nước !! Những phế tích của tuyến đường này sau gần 40 năm vẫn có thể

dễ dàng tìm thấy Tinh ý, nhìn kỹ vào những tấm hình cầu Sắt của hoa.com, ta thấy những trụ gỗ cầu còn sót lại lô nhô phía trước cầu Sắt Ai

ninh-có dịp ghé thăm chùa Tổ, bước lên đoạn đường ray trước chùa, nhìn bên kia

sẽ thấy rõ “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” Nó đã để lại trong lòng người Ninh Hòa sống trong giai đoạn ấy những hình ảnh và kỷ niệm đáng nhớ của một thời thơ trẻ và ly loạn, những người hiện nay đã ở tuổi trên 50

Quay lại chiếc cầu Dinh beton thế hệ thứ hai - Khi tuyến đường tạm

Trang 32

theo phương pháp không mới lắm, nhưng phương tiện và điều kiện xây dựng

đã khác hẳn Nhân lực, vật lực có sẳn của quân đội Mỹ rất dồi dào và tiên tiến Chỉ có phần móng cầu được đóng bằng cọc beton là một kỹ thuật mới lúc bấy giờ Người dân thị trấn Ninh Hòa lần đầu tiên được thấy dụng cụ thi công lạ mắt và nghe những tiếng búa máy đóng cọc inh tai Trụ cầu, dầm cầu và phần còn lại thì vẫn phải đúc tại chổ bằng phương pháp cũ (Vì vài năm sau, khi có hãng RMK xuất hiện thì việc sản xuất dầm cầu bằng kỹ thuật beton tiền áp mới được ứng dụng, dầm được sản xuất tại xưởng hàng loạt như chúng ta thấy chất đầy ở Lương Sơn hoặc đèo Rù Rì Khi làm những phần chính của cầu xong, chỉ cần mang dầm đúc sẳn đến lắp ráp và làm vài công tác Hòan thiện là xong) Cầu Dinh mới được Hòan tất sau hơn nữa năm xây dựng, có 5 nhịp, dài 87.5m, rộng 10m, gồm lòng cầu 8m và 2

lề rộng 1m, có 3 nhịp nằm trong lưu vực sông và một phần 2 nhịp kia gối vào nền đường Cây cầu mới này lực lưỡng hơn cầu trước rất nhiều, dư chổ cho 2 xe tải chạy ngược chiều cùng với những xe 2 bánh chạy hai bên Đây chính là cây cầu hiện hữu mà người Ninh Hòa sử dụng, nó đã tồn tại đến naygần 40 năm nhưng chưa hề suy suyển và vẫn còn thích dụng Chính nó là đốitượng, là hình ảnh của ký ức mà bao nhiêu thơ văn của người Ninh Hòa đề cập đến cùng với sông Dinh

(đón đọc tiếp phần cầu Dinh ở kỳ 7)

Dương Tấn Long

SÔNG DINH QUA THI CA

(kỳ 8)

CÔNG TY RƯỢU NINH HÒA (*)

Nói đến sông Dinh, cầu Dinh mà không nhắc đến những địa chỉ "có vấn

đề" quanh cầu Dinh vẫn là thiếu sót Vì những nơi ấy, khi đề cập, người Ninh Hòa luôn liên tưởng đến cầu Dinh Những nơi này tuy không là công hữu nhưng lại mang tính xã hội, lịch sử và cộng đồng rất cao Chùa Hội Quán là một địa chỉ thuộc dạng trên nhưng đã được giới thiệu khá đầy đủ ở mục "cơ sở tôn giáo" của ninh-hoa.com nên không nhắc lại Tôi muốn nói đến hai kiến trúc khác nằm trên nền cũ của dinh Thái Khang

Trang 33

Trong truyện ngắn "tuổi mười ba" Đường Du Hào cĩ nhắc: "Cầu Dinh

do Tây làm từ thuở cơng xi rượu bên đầu cầu cịn là khu nhốt tù chính trị, nên đã quá xưa khiến nhiều đoạn bị hư nát Ở những đoạn như thế, phu lục

lộ gác tạm miếng ván cho người qua lại Ban ngày trơng đã khơng mấy an tồn về đêm càng thập phần nguy hiểm hơn" Mặc dù Đường Du Hào nĩi đến lịch sử cầu Dinh, nhưng lại liên hệ đến địa chỉ: - "cơng xi rượu" Làm tơinhớ lại một nơi cĩ nhiều kỷ niệm và cĩ những vấn đề lịch sử phức tạp cần phân tích Một tọa độ gắn liền với cầu Dinh, cách chân cầu chừng 20m, phía Vĩnh Phú Tơi cĩ may mắn biết rõ, cũng như cĩ nhiều dịp ra vào nơi ấy vì nhà tơi là một đại lý tiêu thụ rượu của cơng xi này

"Cơng xi" là kiểu phát âm của người Hoa với chữ Pháp "compagnie", nghĩa là cơng ty Người sáng lập của tổ chức sản xuất kinh doanh ngành rượu này là một ơng chủ người Hoa tên Nhiêu Tấn Hiếu Cơng ty này cĩ mặthoạt động ở một số tỉnh miền Trung như: Phan Thiết, Phan Rang, Diên Khánh, Ninh Hịa.v.v Được thành lập từ nhiều năm trước 1945, nhưng khơng ai xác định được thời điểm nào Ơng Nhiêu Bá kế nghiệp cha rồi lấy tên mình làm thương hiệu Sau 1945 do tình trạng lúa gạo khan hiếm, giá tăng cao bởi chính sách của phát xít Nhật - bỏ cây lúa, trồng cây cơng

nghiệp Hậu quả là cĩ gần 2 triệu người VN chết đĩi Thiếu gạo nấu rượu, nhiên liệu đốt là củi ngày càng khĩ kiếm, cơng ty Nhiêu Bá gặp khĩ khăn, việc sản xuất kinh doanh đình trệ Ơng Nhiêu Bá qua đời, khơng con nối dõi.Người em trai là Nhiêu Đức Nghị cùng 2 người em gái ở Hồng Kơng được thừa hưởng di sản Vì khơng thể trực tiếp điều hành, quản lý nên họ quyết định cho Nhiêu Bá liên kết, xáp nhập với Hiệp Hội Các Lị Rượu Pháp ở Đơng Dương - viết tắt là SFDIC (Société Française des Distilleries de

l’Indochine) Tổ chức này rất lớn mạnh, cĩ nhà máy chưng cất rượu nổi tiếng ở Bình Tây, gần bến Lê Quang Liêm - Sài Gịn, cĩ nhà máy xay lúa lớn nhất nhì Đơng Dương Với lợi thế cĩ sẵn nhiên liệu đốt là trấu, tấm gạo làm nguyên liệu, cùng với máy mĩc, kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm của SFDIC giá thành rẻ, rượu của họ được thị trường Đơng Dương ưa chuộng Mặt hàng chủ yếu của SFDIC là rượu vang trắng Ở nhà máy, họ chưng cất rượu đạt nồng độ từ 92 đến 95°, chở đến các chi nhánh rồi pha chế xuống cịn 40° để bán ra cho các đại lý Các cơ sở cũ của Nhiêu Bá đều nhận sản phẩm của SFDIC và bán cho thị trường của mình Sản phẩm của SFDIC cịn

cĩ các loại rượu mùi, rượu Rhum, nước hoa

Việc quản lý của tổ chức này cĩ hệ thống chặt chẽ, từ Sài Gịn đến các

địa phương Chi nhánh Nhiêu Bá Ninh Hịa dưới quyền quản lý của tổ chức Nhiêu Bá Khánh Hịa, nằm ở số 6 đường Hồng Hoa Thám Nha Trang Tơi cịn nhớ, thỉnh thoảng cĩ chiếc xe hơi giống con cĩc, loại "traction avant" của Citroën, chở ơng Tây đến nhà tơi, lấy các mẩu rượu rồi dùng những

Trang 34

như thế nào Việc kiểm tra thường xuyên các đại lý là một nguyên tắc quản

lý chất lượng của Nhiêu Bá Trước 1960 đại lý Nhiêu Bá Ninh Hòa được điều hành bởi ông Lý Xuân Ông Lý Xuân về hưu, Nhiêu Bá giao cho ông Trần Thành từ Nha Trang ra thay, điều hành, quản lý đến 1976 Khi SFDIC chính thức giải tán ở VN và lui binh về mẫu quốc, thì cơ sở này thuộc công hữu và được dùng làm cửa hàng buôn bán Cơ sở Nhiêu Bá Ninh Hòa khi ấy

là một tòa nhà được xây dựng trên khu đất rộng 530m2 Ngay cửa vào chính

là văn phòng và một sảnh nhỏ làm nơi giao dịch Phía sau là nhà ở của gia đình người quản lý và các kho chứa rượu Một cổng lớn bên trái vào sân sau,dành cho xe vận tải chở rượu xuất, nhập Các kho chứa đầy các khạp sành rượu lớn, nằm san sát nhau, chỉ chừa các lối đi Khạp được đậy rất kỹ Mỗi lần có dịp vào kho, khi người phục vụ mở nắp khạp để đong rượu, tôi

thường ghé mũi vào gần miệng khạp để nhận một cảm giác kinh khủng - một mùi nồng nặc, buốt cả óc, bưng cả đầu, choáng váng mặt mày Biết là khó chịu, nhưng lần nào tôi cũng thích hít một cái như thế, chẳng biết có phải do ghiền ?! Nồng độ ở các khạp rượu này luôn trên 40° Rượu được đong bằng một cái ca kim loại 10 lít, trên thân có ghi vạch chia đơn vị

Rượu của công xi Nhiêu Bá có mặt khắp Ninh Hòa nhưng không phải

ai cũng biết xuất xứ của nó Mỗi chuyến xe chở hàng của nhà tôi đến các quán ở làng quê Ninh Hòa đều có vài can rượu kèm theo Dù những nơi rất

xa như: Ninh Thượng, Ninh Hưng, Ninh Hải v.v Không chỉ những chàng nghiện rượu dùng đến hằng ngày, mà hầu như người Ninh Hòa thời đó có dịp uống rượu đều dùng loại rượu này Nếu không nhậu đến "quắt cần câu" thì cũng uống một ly rượu lễ tiệc, rượu cúng cho phải tình phải nghĩa Ở nông thôn ngày ấy có gì vui thú hơn là chén chú, chén anh sau những giờ phút nhọc nhằn với ruộng đồng

Với sự hiện diện lâu đời của công xi rượu và nhớ đến một số công trình khác của Pháp để lại trên mảnh đất Ninh Hòa, ai có quan tâm, tìm hiểu một chút, đều có thể thấy rõ chính sách thuộc địa của Pháp Những tên gọi như: Đồn G.I, Bataillon, Lao ông Cọt, Sở Thương Chánh, Ga xe lửa, đều

là những công cụ phục vụ cho cai trị, khai thác và ngu dân Cái gì thực sự tốt đẹp và cần thiết cho người bản xứ thì khoan nói tới Còn việc khai thác tài nguyên, ăn chơi, trụy lạc cứ khuyến khích, tạo điều kiện phát triển Nên công xi rượu Nhiêu Bá ở Ninh Hòa cũng như cả hiệp hội các lò rượu Pháp làm ăn thịnh vượng trên toàn cõi Đông Dương, chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên Gạo thì không đủ ăn chứ rượu cứ phải ra lò.!! Nên biết rằng, muốn có 1 lít rượu 40° phải dùng đến 2.5 kg gạo và mỗi năm Nhiêu Bá NinhHòa bán ra hơn 400.000 lít rượu (những năm 60 -70)

Việc Đường Du Hào nói trước đó công xi rượu là nơi nhốt tù chính trị

Trang 35

trong giai đoạn 1945 -1954 không ai không nghe tên – "lao ông Cọt" Đó là tên của quan quản lý nhà tù, người Pháp, gốc đảo Corse Lao ông Cọt là nơi thực dân Pháp lập nên để giam cầm những người Ninh Hòa yêu nước, trong phong trào Việt Minh, chống lại chế độ thực dân Nơi đó là nỗi ám ảnh của người dân Ninh Hòa với người thân hoặc đồng bào của mình bị tù đày hoặc phải bỏ mạng dưới sự hà khắc của chế độ thực dân Trước 1945 Cơ sở Nhiêu

Bá Ninh Hòa chiếm một diện tích rộng lớn, khoảng 3000m2 Bao gồm đất của rạp Vĩnh Hiệp, vượt qua đoạn đầu đường từ Vĩnh Phú đi Quang Đông, bao trùm khu vực chi thông tin cũ Vì trong giai đoạn đó, công xi rượu vừa

là nơi buôn bán, vừa sản xuất rượu nên nhà xưởng của Nhiêu Bá có nhiều bộphận Gồm kho nhiên liệu, kho nguyên liệu, nhà ủ men, xưởng chưng cất, nhà ở, kho chứa rượu, garage, nơi giao dịch mua bán

Sau 1945, khi Nhiêu Bá thuộc SFDIC thì cơ sở rượu Ninh Hòa chỉ còn

chức năng phân phối Rượu được chở từ Sài Gòn ra và công xi rượu Ninh Hòa chỉ có nhiệm vụ buôn bán Vì vậy một số kho xưởng, các bộ phận phục

vụ chưng cất rượu không còn sử dụng nên bỏ phế Thời kỳ ấy phong trào Việt Minh hoạt động mạnh ở Ninh Hòa Nhiều người yêu nước rơi vào tay giặc Thực dân Pháp gia tăng các cuộc ruồng bố, bắt giam nhiều thanh niên, trai tráng bị nghi ngờ khác ở các làng quê Ninh Hòa Khu tạm giam và thẩm vấn Bataillon không đủ chỗ, nên thực dân Pháp cấp bách tìm thêm một nơi giam giữ khác Vì SFDIC là "phe nhà", lại sẵn có kho, xưởng bỏ trống, không còn gì hay hơn là giao cơ sở cho quan thầy Pháp biến nó thành trại giam Thế là lao ông Cọt hình thành từ đó Cơ sở Nhiêu Bá chỉ giữ lại kho chứa rượu và nơi giao dịch cùng một vài diện tích cần thiết khác để hoạt động yên ổn bên cạnh nhà lao mãi sau này Sau hiệp định Genève 1954, tù binh các bên được trao trả, thì lần nữa lao ông Cọt lại thất nghiệp, hoang tàn

Vì không muốn thấy chứng tích thương đau, một lao tù của đêm dài nô lệ, chính quyền mới của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, mong muốn phá bỏ nhà lao đểxây dựng lại một công trình khác ý nghĩa hơn Với thế lực của mình, ông Phạm Ngô (còn gọi là ông xã Chè hoặc tổng Chè) đã dành quyền kinh doanhcùng với sự góp vốn của các ông Phạm Đào (giáo Đào), ông Bùi Hữu Thành(giáo Thành), làm nên rạp hát Vĩnh Hiệp, vào năm 1955 –1956 cùng ăn chia với nhà nước

Với quy mô, diện mạo và vị trí tọa lạc của công xi rượu, gợi cho tôi

nhiều thắc mắc về lịch sử của cơ sở này Suy từ hiện trạng ta thấy rằng đây

là một kiến trúc của người Trung Hoa thế kỷ 19 Tường bằng gạch đất nung như gạch thẻ, dày 4 đến 6 tấc, hồ xây bằng vôi trộn với mật đường, mái lợp ngói âm dương Khi ông Trần Thành về tiếp nhận cơ sở năm 1960, có sửa chữa lại và được những người lớn tuổi, am hiểu ở địa phương cho rằng công trình đã có khoảng 70-80 năm tuổi Như vậy tính đến thời điểm phá bỏ vào

Trang 36

hiện cùng thời với chùa Hội Quán Công Trình được xây dựng trên nền cũ dinh Thái Khang, nằm bên chân cầu, sát con sông Dinh, một vị trí rất đẹp và đặc biệt của cuộc đất (mặc dù trước đây công xi rượu cách sông bởi con hẻm

và một dãy nhà nhưng tôi nghĩ rằng đó chỉ là những nhà dân xây chen lấn, chiếm bờ sông Dinh)

Quay lại lịch sử di dân của người Hoa vào vùng đất Ninh Hòa đầu thế kỷ

19 Đây là khởi sự của triều Nguyễn, thời vua Gia Long Trong thời kỳ này ởTrung Hoa nổi lên phong trào kháng Thanh, phục Minh Một số di thần nhà Minh bị đàn áp mạnh mẽ phải đi lánh nạn Dân các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu cùng chạy theo đường biển về phương Nam, ghé và định cư ở các vùng đất dọc miền trung VN, tập trung ở các cửa sông, trong đó có Ninh Hòa Một nhóm nhỏ người Hoa ghé vào Ninh Hải lập nên thị tứ ở bán đảo Đông Hòa, một bộ phận khác ghé vào cửa biển Hà Liên định cư ở Văn Định xã Ninh Phú, ở Bến Đò xã Ninh Hà Sau đó họ tiếp tục

đi ngược sông Dinh để tìm vùng đất mới và biết được một quần cư trù phú khác, có sinh hoạt chợ búa, tổ chức xã hội trật tự, thích hợp với sở trường sinh kế của mình - đó là chợ Dinh Từ đó họ an cư, quy tụ, sinh sống, làm chủ một khu vực lớn quanh chợ Dinh, thành một khu phố với sinh hoạt theo cộng đồng và tập quán riêng Kiến trúc nhà cửa của họ cũng khác kiểu cách với dân địa phương Hầu hết làm nghề buôn bán Ta thấy rằng những nhóm người Hoa di dân đi ngược sông Dinh, gặp cầu Dinh chỉ quẹo trái, đổ bộ phía chợ Dinh chứ không thấy bóng dáng nhà cửa riêng lẻ nào của người Hoa có mặt bên phải cầu Dinh - bên Vĩnh Phú Điều ấy cho chúng ta hiểu rằng:

Vùng đất bên tả ngạn sông Dinh khi đó vẫn là bất khả xâm phạm, với

sự hiện diện của uy quyền các chúa Nguyễn, rồi triều Nguyễn Nơi ấy là công thổ, có thể gọi là "đất tổ" của Ninh Hòa chúng ta Như vậy một công trình cá biệt, mang dáng dấp Trung Hoa, xuất hiện hiên ngang, chiếm một vịtrí độc tôn trên "đất tổ" và tồn tại cả trăm năm như vậy là gì ? Nếu nó không

là tàn tích, là dinh thự, là công sở của Phủ Thái Khang, Bình Khang, Bình Hòa hoặc Tân Định.? thì thế lực nào đã áp đặt một ý chí lên công thổ triều Nguyễn như thế.?!

Truy ngược về 120 năm trước ta thấy đó là những năm sau khi vua Tự

Đức mất Lịch sử Việt Nam giai đoạn này có nhiều biến động Vì không connối dõi, các phụ chính đại thần là Trần Tiến Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, mưu bỏ vua này, lập vua khác Chỉ 5 năm đã đổi thay 5 đời vua là Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh (1883-1888) Là thời kỳ rối ren, có nhiều thảm kịch triều chính của nhà Nguyễn Cùng lúc người Pháp bắt đầu gây hấn với triều đình Huế, thực hiện ý đồ xâm

Trang 37

thì sự xuất hiện công trình này là một sản phẩm của cơ hội Tôi nghĩ rằng dinh thự đó không phải là di tích của vua, chúa Nguyễn lập nên mà là của một người Hoa bên chợ Dinh có nhiều thế lực, nhiều tiền bạc, đã mạnh dạn

ra tay, thử làm một bước đột phá sang sông, được sự đồng tình của quan địa phương Thừa lúc triều đình bất ổn, thiếu kiểm soát mà xây dựng nên Lúc này dinh trấn thủ đã dời về Diên Khánh, còn chốn công đường địa phương thì ở tận Phước Đa, nên ý chí giữ gìn "đất tổ" không còn mạnh mẽ Dù đây

là công trình duy nhất của người Hoa hiện diện bên tả ngạn sông Dinh, nhưng "đất tổ" đã mất thiêng từ đó Mở ra một thời kỳ dân cư hóa khu vực dinh Thái Khang

Thời gian dài sau, ít lắm cũng sau 1925, khi cầu Dinh gỗ thành Beton

và đường cái quan được tráng nhựa, quốc lộ số 1 đi lại dễ dàng Nhiêu Tấn Hiếu - một ông chủ lớn người Hoa (nhưng không phải người Hoa định cư ở Ninh Hòa), trên đường thong dong đi dọc miền Trung, tìm thị trường khuếchtrương ngành rượu, thấy công trình bên bờ sông Dinh có một vị trí quá đẹp, thích hợp cho việc làm ăn của mình, nên bằng mọi giá đã tậu lại cơ ngơi của người đồng hương, tạo nên sự nghiệp Nhiêu Bá như đã nói ở phần trên Với một lý lịch rối rắm như thế, công xi rượu không phải là một nơi bình yên hoặc bình thường như dưới con mắt của nhiều người Ninh Hòa Mặc dù ít người biết tới, nhưng một thời, nó vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân, là chứngtích của bể dâu, của thế sự thăng trầm trên vùng đất Ninh Hòa chúng ta

(đón đọc tiếp phần cầu Dinh ở kỳ 9)

Dương Tấn Long

(*) Tên do người sưu tầm đặt

(kỳ 10)

CẦU SẮT

Cầu Dinh được người Ninh Hòa biết đến, như một phương tiện giao

thông thực dụng, để vượt qua sông Dinh vào thị trấn Ninh Hòa, ít người thấyđược hình dáng Trong khi ấy, cầu Sắt nằm ở thượng lưu, song song với cầuDinh, cách cầu Dinh chừng 400 m, không phải để người Ninh Hòa sử dụngnhưng lại có nhiều dịp ngắm nhìn, quan sát Cầu Sắt nằm ở vị trí có khungcảnh thâm u, huyền hoặc Tuy thô cứng về hình thức, nhưng có hồn và chútduyên ngầm khi nằm trong bao cảnh lung linh, hư ảo Nó được ghi nhớ như

Trang 38

một bức tranh có gam màu xanh xám, thiếu sáng Có sông nước, núi mâybàng bạc, tràn ngập màu cây lá, làm nền quanh chiếc cầu xạm đen Cóđường nét, hình dáng lập thể, tương phản với thiên nhiên Khi nhớ quê, nhớđến cầu Sắt, người Ninh Hòa không quên cái vẻ liêu trai, trầm mặc của nó

Có nhiều thơ văn của người Ninh Hòa viết về cây cầu thân thương này.Với tình cảm thiết tha, nhẹ nhàng:

Cầu Sắt dòng sông sao nên thơ

Vĩnh Phú làng xưa vẫn hiền Hòa

Chiều nay xứ lạ nhìn bức ảnh

(Cầu sắt và chuyện cô em - Trần thị Nết)

Khen ai khéo họa bức tranh xưa…

Bốn chục năm qua chẳng thấy mờ

Cầu Sắt bắc ngang dòng nước mộng

Bạn bè chôn chặt chuyện tình thơ

(Phan Xuân - Kỷ Niệm)

hoặc mô tả một cách chân tình, đơn giản:

" Chân cầu Sắt có nước sông Dinh trong mát rề rề chảy về hướng cầu Dinh.Dọc dài hai bên sông là những bụi tre "

(Bên chân cầu Sắt – Thụy Nguyên)

Cầu Sắt dòng nước chảy qua

Uốn mình qua bãi cát vàng xinh ghê

Xế chiều nhạt nắng bên đê

Có em ngồi giặt áo quần mé sông

(Bẽ bàng - Nguyễn văn Thành)

Em lớn lên theo nước sông Dinh

Con sông Dinh chảy qua cầu Sắt

Mùa hè Ninh Hòa nắng mờ con mắt

(Gởi cô học trò bên sông Dinh thuở trước -

Phạm Tín An Ninh)

Trang 39

Cầu Sắt - đứng im lìm dưới nắng hạ.

Đẹp trữ tình thiếu nữ áo bà bạ

Qua cầu ấy ngõ tắt sang cầu Gỗ

(Những nẻo đường trong mơ - Nguyễn Trần Sơn Nết)

Quan Dương viết về cầu Dinh:

“ Chiếc cầu Causeway nơi xứ người được xây vô cùng hiện đại và kiên

cố bắt qua biển nối liền hai thành phố Metarie và Mendevill Chiếc cầu nơi

xứ mình xây bằng xi măng bắc qua sông Dinh nối liền xóm chợ và Vĩnh Phú Một nơi có nhu cầu về vật chất Một nơi có nhu cầu về tinh thần " (nhu cầu vật chất trong trường hợp này được hiểu là nhu cầu sử dụng)

Ở Ninh Hòa trái lại Cầu Dinh có nhu cầu vật chất và cầu Sắt có nhu cầutinh thần Nói cách khác là:

- cầu Dinh để "dùng" và cầu Sắt để "ngắm"

Cầu Sắt có một nửa gần gũi, thân quen và một nửa xa lạ, lạnh lùng Nó bắc qua sông Dinh, nhưng không hẳn thuộc Ninh Hòa như cầu Dinh Cái hấp dẫn của cầu Sắt chính là nằm ở tính khách thể của nó Vì đặc điểm ấy

mà hình ảnh cầu Sắt luôn ấp ủ, gợi cảm Nó khắc sâu và hiện rõ nét trong ký

ức người Ninh Hòa

Ta hãy nghe Điềm Ca nói về cái hư ảo của đêm trăng cầu Sắt :

Cò rủ nhau về ngủ trắng cây

Phiêu phiêu thuyền chở ánh trăng đầy

ngả ba sông nước in cầu Sắt

(Nắng rây - Điềm Ca)

hoặc Phùng Phương hiện thực hơn :

“ Trăng cầu Sắt thấp thoáng như ẩn, như hiện bên lũy tre làng chở che thôn xóm "

(Trăng quê nhà - Phùng Phương)

Nói vậy chứ cầu Sắt sinh ra không phải chỉ để ngắm Đối với người

Ninh Hòa nó có giá trị tinh thần, nhưng đối với ngành hỏa xa thì cầu Sắt có nhu cầu vật chất rất cao Nó là một mắt xích quan trọng trong hệ thống

Trang 40

cầu Dinh sập thì chỉ có người Ninh Hòa biết, không ảnh hưởng đến sinh hoạtcủa vùng khác Chứ cầu Sắt Ninh Hòa gặp chuyện lôi thôi thì nhiều hành khách sẽ lao đao, một số vùng của VN bị ảnh hưởng, cả nước sẽ biết rõ.

Cầu Sắt hiên ngang đứng vững vàng

Từng đưa những chuyến xuyên Nam bắc

(Quê tôi - Nguyễn Thục)

"Cầu Sắt" không phải là tên riêng của cây cầu xe lửa bắc qua sông Dinh,Ninh Hòa Vì nó bằng sắt nên cứ đơn giản gọi là "cầu Sắt" Có nhiều cầu xe lửa bằng sắt, bắc qua các con sông của những vùng đất khác Người dân ở các vùng đó cũng đã gọi là "cầu Sắt" Vì hoạt động của nó không đơn độc, riêng tư, cho nên muốn biết thấu đáo về cầu Sắt Ninh Hòa, chúng ta phải liên hệ với tông chi, họ hàng nhà chúng Muốn làm điều này phải tìm hiểu,

đi sâu vào lịch sử ngành hỏa xa Việt Nam:

Đường Sắt Việt Nam có mặt cách đây hơn 120 năm Có thể nói đó là một tài sản to lớn và quý giá mà thực dân Pháp đã tốn nhiều tiền của, công sức gây dựng nên, để lại trên đất nước chúng ta Tổng chiều dài đường sắt Việt Nam khoảng 2600 km Tuyến Sài gòn – Hà Nội dài 1726 km Hiện nay

nó là một thể hoạt động thống nhất Nhưng khởi đầu, việc xây dựng công trình giao thông này lại diễn ra ở nhiều thời kỳ và hoàn cảnh khác nhau Ở miền Bắc và miền Nam, đường sắt được xây dựng rất sớm Vì địa thế bằng phẳng, dân cư tập trung, nhu cầu khai thác tài nguyên, kinh tế rất cao Trong khi đó, tuyến xuyên Việt, qua dải đất miền Trung dài dằng dặc, là khúc xương khó nuốt, kém hiệu quả

Tuyến đường này phải qua nhiều núi đồi, dân cư thưa thớt, một vùng đất nghèo khó, ít tài nguyên, nên được xây dựng cuối cùng Tuyến Nha Trang – Đà Nẵng là đoạn đường xây dựng cực kỳ khó khăn và muộn màng nhất Ở miền Bắc, tuyến xe lửa đầu tiên được xây dựng vào năm 1891 –

1894, từ phủ Lạng Thương đi Lạng Sơn

Ở miền Nam sớm hơn với tuyến Sài Gòn - Mỹ Tho, xây dựng từ 1881 –

1885 Tuyến Sài Gòn – Nha Trang xây dựng vào 1901 – 1913 (đến trạm PhúVinh trên đất quận Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm Nha Trang

về phía Tây 6 km )

Năm 1928, làm tiếp đoạn Nha Trang - Đà Nẵng, cùng lúc từ Nha Tranglàm ra và từ Đà Nẵng làm vào Hai đoạn đường sắt cùng thi công một lúc này đã gặp nhau tại ga Hảo Sơn, phía cực nam tỉnh Phú Yên Ngày 2-9 -

1936, người Pháp làm lễ khánh thành ga Nha Trang, đồng thời tổ chức lắp

Ngày đăng: 29/10/2013, 02:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đang đùa nghịch trong nước, bỗng dưng lũ con trai thình lình xuất hiện. Lũ con gái tái mặt khơng biết xoay xở như thế nào, đành dìm mình sâu  xuống nước - Đồ dùng dạy học - Nhớ về Ninh Hòa
ang đùa nghịch trong nước, bỗng dưng lũ con trai thình lình xuất hiện. Lũ con gái tái mặt khơng biết xoay xở như thế nào, đành dìm mình sâu xuống nước (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w