VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐÀO THỊ LAN ANH VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU SAU 1925 Khảo sát qua tác phẩm và các hoạt động xã hội Ngành
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ LAN ANH
VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU SAU 1925
(Khảo sát qua tác phẩm và các hoạt động xã hội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ LAN ANH
VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU SAU 1925
(Khảo sát qua tác phẩm và các hoạt động xã hội)
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐỨC MẬU
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn của TS Nguyễn Đức Mậu Đề tài do cá nhân tôi nghiên cứu; các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn; bốcục, phông chữ của luận văn đúng với quy định
Hà Nội, ngày 01 tháng 08 năm
2020
HỌC VIÊN
Đào Thị Lan Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 11
1.1 Vị trí của phụ nữ trong mối quan hệ với quốc gia - dân tộc 11
1.2 Phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc 15
1.3 Quan điểm của Phan Bội Châu về nữ quyền từ sau năm 1925 21
Chương 2: PHỤ NỮ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 39
2.1 Vị thế của phụ nữ trong mối quan hệ với xã hội 39
2.2 Phụ nữ với các tổ chức và hoạt động xã hội 41
Chương 3: VẤN ĐỀ PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 57
3.1 Quan niệm về vị trí của người phụ nữ trong gia đình 57
3.2 Quan niệm về công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ 58
3.3 Phụ nữ với hôn nhân 61
3.4 Phụ nữ trong nghĩa vợ chồng 63
3.5 Phụ nữ với đạo hiếu 65
3.6 Phụ nữ với thiên chức làm mẹ: 67
3.7 Phụ nữ với kinh tế gia đình 69
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phan Bội Châu (1867 - 1940) là nhân vật lịch sử kiệt xuất của dân tộc
Vốn là một nhà nho nhưng Phan Bội Châu lại sớm tiếp thu Tân thư, Tân văn
nên tư tưởng và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của cụ Phan có sự
chuyển biến sâu sắc Phan Bội Châu đại diện tiêu biểu cho “sự chuyển biến
mạnh mẽ từ mô hình nhà nho sang mô hình nhà cách mạng” có tư tưởng duy
tân, từ con đường đấu tranh quân chủ sang con đường đấu tranh dân chủ
[124] Tư tưởng Phan Bội Châu có ảnh hưởng sâu rộng đến một giai đoạn lịch
sử đầy biến động của Việt Nam lúc đó
Sống trong giai đoạn bão táp của lịch sử dân tộc, cuộc đời của nhà yêunước Phan Bội Châu đã trải qua nhiều sóng gió, thăng trầm Một trong những
sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời của nhà cách mạng Phan BộiChâu là sự kiện năm 1925 - khi ông bị thực dân Pháp bắt tại Trung Quốc rồisau đó đưa về Việt Nam xét xử Trong phiên tòa Đề hình, Phan Bội Châu bịkết tội; nhưng trước làn sóng đấu tranh sục sôi của nhân dân cả nước đòi trả tự
do cho Phan Bội Châu, ngay sau đó Phan Bội Châu được tuyên tha rồi bị đưa
về Huế an trí Thời kì ông bị đưa về sống ở Bến Ngự ở - Huế (1926) cho đến
khi ông mất (1940) được gọi là Ông Già Bến Ngự Tại đây, Phan Bội Châu bị
giam lỏng, sống cuộc đời cô độc, chấm dứt hơn hai mươi năm bôn tẩu cách
mạng đầy sóng gió của mình Trước năm 1925, Phan Bội Châu “đã vứt bỏ cái
lốt nhà nho để làm người hào kiệt, làm con chim mặt biển, mang hoài bão vá trời lấp biển, hành động say mê” [29, tr.133] Nhưng từ sau năm 1925, dưới
sự quản thúc gắt gao của thực dân Pháp, con đường đấu tranh chống thực dânPháp của Phan Bội Châu chuyển từ bạo động sang ôn hòa Đây là thời kì Phan
Bội Châu trở lại tư tưởng Nho giáo, được gọi là “lại giống” [29, tr.133].
Trong hoàn cảnh o ép ấy của bản thân, Phan Bội Châu đã
Trang 6tìm thấy sức mạnh của Nho giáo: “Nho giáo trang bị cho ông đạo đức, tinh
thần trách nhiệm, khí tiết Tình cảm và chí khí đó giúp ông coi thường mọi hiểm nguy, có gan từ bỏ tất cả để bước vào hoạt động cách mạng” [29,
tr.133] Vì vậy, hoàn cảnh an trí đó không có nghĩa nhà chí sĩ Phan Bội Châu
bị cắt đứt hoàn toàn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Ngược lại, đây làthời kỳ chuyển biến về tư tưởng và phương thức đấu tranh ở Phan Bội Châu,đặt ông vào một thời kỳ đấu tranh mới dưới tư cách một nhà hoạt động ngôn
luận, làm một người tuyên truyền yêu nước Đồng thời, quá trình “lại giống”
- trở lại với đạo đức Nho giáo đã thể hiện sự giao thoa giữa cũ - mới, truyền thống - hiện đại, kế thừa - canh tân trong tư tưởng của cụ Phan
Cùng với sự nghiệp cách mạng, Phan Bội Châu đã để lại cho dân tộcViệt Nam di sản văn học có giá trị Trần Đình Hượu đã đánh giá rất đúng:
“Phan Bội Châu là một nhà văn chính trị” [29, tr.94] Tư tưởng chính trị là
mục đích, là cảm hứng xuyên suốt và kiên định trong sáng tác của nhà chí sĩyêu nước Phan Bội Châu Tư tưởng chính trị trong cuộc đời hoạt động cáchmạng, trong thơ văn của ông luôn có sự thay đổi theo thời đại và được thểhiện đa dạng, phong phú, linh hoạt từ nội dung đến hình thức
Trong suốt 15 năm cuối đời bị giam lỏng ở Bến Ngự Huế (1925 1940), Phan Bội Châu tuy bị thực dân Pháp quản thúc và bị li khai khỏi phongtrào cách mạng sục sôi của dân tộc nhưng ông vẫn tiếp tục viết văn, làm thơ
-để giáo dục quốc dân, đề cao đạo đức cổ truyền của dân tộc, kín đáo nuôidưỡng tinh thần yêu nước cho thế hệ thanh niên, đề cao trách nhiệm củangười dân với đất nước, thể hiện nỗi đau mất nước…Tác phẩm tiêu biểu như:
Nam quốc dân tu tri, Nữ quốc dân tu tri, Cao đẳng quốc dân, Bài thuốc chữa bệnh dân nghèo, Lời hỏi thanh niên, Phan Bội Châu niên biểu, Xã hội chủ nghĩa, Khổng học đăng…, cùng với trên 800 bài thơ Nôm và mấy chục bài
văn tế, phú, tạp văn Sáng tác của Phan Bội Châu ở giai đoạn này chiếm gần
Trang 7một nửa trong sự nghiệp sáng tác của ông Đây là giai đoạn Phan Bội Châumất mùa cách mạng nhưng lại được mùa thơ văn.
Cùng với đề tài viết về người anh hùng, đề tài phụ nữ là một đề tàiđược cụ Phan rất tâm đắc Đề tài phụ nữ đã được cụ Phan đề cập đến ở giai
đoạn sáng tác trước năm 1925 qua các tác phẩm tiêu biểu như: Việt Nam vong
quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Trùng Quang tâm sử, Chân tướng quân, Trưng Nữ Vương…Nhưng từ khi bắt buộc trở về sống cuộc đời
của một “con voi già” (giai đoạn từ sau năm 1925), đề tài phụ nữ được Phan
Bội Châu đề cập khá toàn diện và sâu sắc trên nhiều phương diện từ gia đình,
xã hội đến quốc gia dân tộc Đề tài phụ nữ trở thành vấn đề lớn trong sáng táccủa cụ Phan nói riêng và của giai đoạn đầu thế kỉ XX nói chung Đây là mộttrong những vấn đề mang tư tưởng canh tân sâu sắc của Phan Bội Châu từ saunăm 1925 Những quan điểm tiến bộ của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữkhông chỉ thể hiện ở các tác phẩm văn học mà còn biểu hiện trong các hoạtđộng thực tiễn Vì thế, thông qua các tác phẩm và các hoạt động xã hội, cụPhan đã động viên được phụ nữ tham gia tích cực vào phong trào yêu nướcđầu thế kỉ XX
Với những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề
tài: Vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu sau 1925 (Khảo sát
qua tác phẩm và các hoạt động xã hội).
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Các công trình tuyển chọn và nghiên cứu về thơ văn Phan Bội Châu nói chung.
Việc sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu về thơ văn Phan Bội Châu đã trởthành công việc tâm huyết của nhiều nhà nghiên cứu Tiêu biểu nhất phải kểđến công lao và sự đóng góp lớn lao và quý báu của Chương Thâu Toàn bộ
thơ văn của Phan Bội Châu được tập hợp khá đầy đủ trong bộ sách Phan
Trang 8Bội Châu toàn tập (gồm 10 tập) của Chương Thâu sưu tầm, biên soạn do Nxb
Thuận Hóa - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây - Huế phát hành và inlần đầu năm 1990 và tái bản năm 2001 Trong đó, các sáng tác của Phan BộiChâu từ sau năm 1925 được tập hợp ở tập 6,7,8,9,10 của bộ sách Chúng tôikhảo sát vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu từ sau 1925 từcác văn bản trong các cuốn sách trên Ngoài ra, việc sưu tầm, tuyển chọn thơvăn Phan Bội Châu còn phải kể đến sự đóng góp của nhiều tác giả khác với
các công trình có giá trị như: Nguyễn Đình Chú - Văn thơ Phan Bội Châu
(1976) - Nxb Giáo dục - Hà Nội, Đặng Thai Mai - Văn thơ Phan Bội Châu (1967) - NXB Văn Học - Hà Nội, Thế Nguyên - Phan Bội Châu thân thế và thi văn 1867-1940 (1959) - Nxb Tân Việt - Sài Gòn, Trần Đình Hượu Phan Bội Châu (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 19001930 - Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.1988), Trần Ngọc Vương - Phan Bội Châu con người cuộc đời và sự nghiệp(1997) - Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Trần Hải Yến - Phan Bội Châu - Tác phẩm chọn lọc (2009) - Nxb Giáo Dục -Hà Nội, Trần Anh Vinh - Chương Thâu - Thơ Phan Bội Châu thời kỳ ở Huế 1926 -
1940 (1987) - Nxb Thuận Hóa - Huế…
Trong đó, nhiều nhà nghiên cứu Phan Bội Châu đã phân chia thơ văncủa ông ra làm các giai đoạn tương ứng với quá trình hoạt động cách mạng vàquá trình sáng tác của ông
Trong cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam -tập 4B (Nxb Giáo dục
xuất bản năm 1965), tác giả Lê Trí Viễn cũng có cùng quan điểm như trên:
“Thơ Phan Bội Châu là cái vốn quí báu nhất trong kho tàng văn học yêu nước cách mạng Việt Nam trong khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ Không những nó ghi chép lịch sử tư tưởng, tình cảm, hành động đấu tranh của một người, một phong trào, một giai đoạn cách mạng mà còn thể hiện được truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam” [101, tr.73].
Trang 9Trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam 1900-1945 (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997), ở phần Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930,
khi viết về Phan Bội Châu, tác giả Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng đã nhìnnhận và đánh giá đúng đắn vai trò, ví trí và điểm mới về thơ văn yêu nước của
Phan Bội Châu trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc: “Phan Bội Châu là
người viết nhiều nhất, bằng nhiều thể loại nhất Tác phẩm của ông có ảnh hưởng lớn nhất đến phong trào cách mạng lúc bấy giờ…Phan Bội Châu cũng
là nhà văn tiêu biểu nhất cho văn học thời kỳ đó So với thơ văn yêu nước trước đó, văn thơ Phan Bội Châu đã thuộc loại mới Sáng tác của ông không những đứng đầu về số lượng, chất lượng, tác dụng, mà còn phản ánh xu thế, vận mệnh của văn học yêu nước lúc đó rõ ràng nhất, đầy đủ nhất” [29, tr.89].
2.2 Nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu
đã có có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị.
Trong công trình nghiên cứu “Văn thơ Phan Bội Châu” (1976),
Nguyễn Đình Chú đã đánh giá cao về tầm quan trọng của vấn đề phụ nữ trong
sáng tác của Phan Bội Châu: “Có hai đối tượng Phan Bội Châu đặc biệt quan
tâm khích lệ, động viên là thanh niên và phụ nữ” [23, tr.17] Tác giả của cuốn
sách đã khẳng định: “Đối với phụ nữ, thái độ và cách nhìn của Phan Bội
Châu mới hẳn so với lịch sử”[23,tr.18] Cội nguồn của vấn đề phụ nữ trong
sáng tác của cụ Phan chính là xuất phát từ tấm lòng yêu nước tha thiết của nhà
chí sĩ cách mạng: “Thái độ trân trọng, cách nhìn mới mẻ của Phan Bội Châu
người phụ nữ cũng như thanh niên, có được, trước hết mới là do nhiệt tình cứu nước” [23, tr.19].
Trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam 1900-1945 (Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1997), phần nghiên cứu về Phan Bội Châu, tác giả Trần Đình
Hượu, Lê Chí Dũng đã nhìn nhận, phát hiện và khẳng định quan điểm tiến bộ
của Phan Bội về vấn đề phụ nữ:“Về mặt xã hội, ông có cái nhìn rất thận
trọng
Trang 10đối với phụ nữ” [29, tr.108], “Phan Bội Châu không những biết thực tế trong gia đình phụ nữ thường nắm tay hòm chìa khóa, hiểu giá trị lời khuyên của
họ đối với chồng con mà ông còn thấy phụ nữ cũng là quốc dân có trách nhiệm, có khả năng chia nhau gánh vác việc nước với đàn ông” [29, tr.109].
Tác giả Trịnh Thu Tiết cho rằng: Phan Bội Châu chính là người “đặt
những viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho một hệ thống quan điểm tiến
bộ về vấn đề phụ nữ” [85, tr.201] Bài viết “Phan Bội Châu, người khai sáng những tư tưởng tiến bộ về vấn đề phụ nữ trong văn học Việt Nam”, tác giả
Trịnh Thu Tiết đã khẳng định vị trí và tầm quan trọng của vấn đề phụ nữ trong
sáng tác của Phan Bội Châu: “Đề tài phụ nữ đã thu hút tâm trí Phan Bội
Châu” [85, tr.201] Đặc biệt, công trình nghiên cứu này đã nhấn mạnh về hệ
thống quan điểm tiến bộ của ông khẳng định địa vị, vai trò của người phụ nữtrong xã hội, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc; đặt vấn đề cần giải phóngphụ nữ
Tác giả Đặng Thị Vân Chi trong công trình nghiên cứu Phan Bội Châu
với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX đã cho thấy sự chuyển biến trong quan niệm
của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ trước và sau năm 1925 Theo Đặng ThịVân Chi, trước năm 1925 do đất nước trong tình cảnh nước mất nhà tan nênPhan Bội Châu thiên về vận động phụ nữ vào các phong trào yêu nước; còn từsau năm 1925, do sự thay đổi của tình hình chính trị nước ta và do hoàn cảnhriêng của Phan Bội Châu - chịu sự quản thúc của chính quyền thực dân Phápnên các sáng tác của Phan Bội Châu tập trung bàn luận về nữ quyền và vấn đềgiải phóng phụ nữ Đánh giá về vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Phan BộiChâu, tác giả Đặng Vân Chi khẳng định: Phan Bội Châu không chỉ thấy đượcquyền người của người phụ nữ mà còn thấy được vai trò, trách nhiệm củangười phụ nữ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc; Phan Bội Châu đặtvận mệnh của người phụ nữ gắn liền với mệnh mệnh của dân tộc
Trang 11Tác giả Đoàn Ánh Dương đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về vấn
đề phụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu Với công trình nghiên cứu Phan
Bội Châu - vấn đề phụ nữ ở nước ta, tác giả Đoàn Ánh Dương đã tìm hiểu
nguồn gốc, diễn trình và đặc điểm tư tưởng về vấn đề phụ nữ trong sáng tác
của Phan Bội Châu Dựa vào bộ sách Phan Bội Châu toàn tập của Chương
Thâu, tác giả Đoàn Ánh Dương đã tuyển chọn các bài viết, các công trình củaPhan Bội Châu nói về vấn đề phụ nữ để biên soạn cuốn sách này Ngoài ra,
trong Phụ nữ và chủ nghĩa dân tộc: Vấn đề phụ nữ trong dự án quốc gia - dân
tộc của Phan Bội Châu, Đoàn Ánh Dương đã khẳng định và làm rõ đóng góp
quan trọng của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ:“đóng góp lớn nhất của
Phan Bội Châu cho phong trào phụ nữ Việt Nam những năm này nằm ở sự kết hợp song hành các hoạt động đấu tranh cho quyền phụ nữ và nữ quyền với việc viết bài, viết sách xung quanh vấn đề phụ nữ Hơn bất cứ nhà hoạt động
xã hội nào cho đến lúc này, Phan Bội Châu đã công bố nhiều bài viết, công trình thể hiện sâu sắc quan điểm về quyền phụ nữ và nữ quyền, đồng thời hiện thực hóa quan điểm ấy bằng các hành động cụ thể để hối thúc phong trào phụ nữ” [113].
Tác giả Đào Lê Tiến Sỹ với bài viết Những tiền đề cho sự ra đời diễn
ngôn nữ quyền trong các sáng tác sau 1925 của Phan Bội Châu đã khẳng
định: Phan Bội Châu có đóng góp lớn trong việc kiến tạo nên diễn ngôn nữ
quyền đầu thế kỷ XX Bài viết đã đi sâu bàn luận và đánh giá “sự dịch chuyển
từ diễn ngôn đạo đức sang diễn ngôn khoa học về giới tính và sự mở rộng quan niệm từ phạm trù “quốc dân” sang phạm trù “người”” trong diễn ngôn
về nữ quyền của ông từ sau năm 1925 [124]
Tác giả Bùi Trân Phượng với Ông già Bến Ngự và nữ giới (in trên Tạp
chí nghiên cứu và thảo luận Thời đại mới, số 30, tháng 3/2014) đã nghiên cứu
Trang 12về tư tưởng tiến bộ của Phan Bội Châu về nữ giới và nữ quyền ở 2 phươngdiện: với những người phụ nữ, với nữ giới và nữ quyền.
Các công trình nghiên cứu trên đã thể những quan điểm, những gócnhìn khác nhau về thơ văn của Phan Bội Châu nhưng đều đánh giá cao tưtưởng tiến bộ, tích cực của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ và sự chuyểnbiến trong tư tưởng của ông Đó là những tư liệu quý giá trong quá trình làmluận văn Từ các công trình nghiên cứu đó, chúng tôi nhận thấy vấn đề phụ nữtrong sáng tác của Phan Bội Châu và sự chuyển biến trong tư tưởng của ông
từ sau 1925 đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu
sau 1925 (Khảo sát qua tác phẩm và các hoạt động xã hội), chúng tôi nhằm
mục đích sau:
Làm rõ việc Phan Bội Châu đã quan tâm và thể hiện vấn đề phụ nữ nhưthế nào qua các tác phẩm và các hoạt động xã hội của phụ nữ trong sang táccủa ông từ sau năm 1925
Tìm hiểu và thấy được những tác động của vấn đề phụ nữ của Phan BộiChâu từ sau năm 1925 đối với tư tưởng, tình cảm của chính ông trong sựnghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi không tìm hiểu toàn bộ di sản đồ sộ của Phan Bội Châu.Chúng tôi chỉ giới hạn trọng tâm nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong quanniệm của Phan Bội Châu từ sau năm 1925
Chúng tôi tiến hành khảo sát về vấn đề phụ nữ trong quan niệm củaPhan Bội Châu từ sau năm 1925 qua tác phẩm của Phan Bội Châu và các hoạtđộng xã hội của phụ nữ trong sang tác của ông
Trang 135 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại: Phan Bội Châu là một tác giả có
sự nghiệp sáng tác vô cùng đồ sộ Vì vậy, việc sử dụng phương pháp thống
kê, phân loại là rất cần thiết Sử dụng phương pháp thống kê, phân loại đểthống kê những sáng tác và hoạt động của Phan bội Châu về vấn đề phụ nữ.Đây là cơ sở, là tiền đề để người viết đưa ra những nhận định, đánh giá kháchquan, chính xác về vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu từ saunăm 1925 Ngoài ra, sử dụng phương pháp này còn giúp tôi thống kê, phânloại các nhận định, ý kiến, quan điểm của các tác giả khi nghiên cứu về vấn đềphụ nữ trong sáng tác của Phan Bội Châu nói chung và trong sáng tác củaPhan Bội Châu sau năm 1925 nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành:
Phan Bội Châu vừa là một nhân vật lịch sử kiệt xuất vừa là nhà thơ, nhà
văn, nhà báo của dân tộc ta đầu thế kỉ XX Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài Vấn
đề phụ nữ trong quan niệm của Phan Bội Châu sau 1925, tôi đã vận dụng tri
thức của các ngành về văn học, về lịch sử, về triết học, về sinh học, về báochí, về văn hóa học… để đánh giá vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc
5.3 Phương pháp so sánh văn học:
Luận văn nghiên cứu về vấn đề phụ nữ trong quan niệm của Phan BộiChâu ở giai đoạn sau năm 1925 nên tôi sử dụng phương pháp so sánh, đốichiếu với chính các tác phẩm của Phan Bội Châu ở giai đoạn trước năm 1925
và so sánh với các tác giả cùng viết về vấn đề phụ nữ trước đó và đương thời(Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Đạm Phương, Dã Lan Nữ
Sĩ …) Từ đó, luận văn làm rõ sự kế thừa và mới mẻ, sự tương đồng và khácbiệt về vấn đề phụ nữ trong sáng tác và quan niệm của Phan Bội Châu ở 2 giai
Trang 14đoạn sáng tác và với các tác giả trước đó và đương thời Tuy nhiên, do thờigian thực hiện đề tài ngắn nên việc so sánh đó mới thực hiện được ở mức độkhái lược.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần tìm hiểu vấn đề phụ nữ trong quan niệm của PhanBội Châu từ sau năm 1925 Từ đó, luận văn góp phần khẳng định tên tuổi, vịtrí của Phan Bội Châu trong nền văn học, trong lịch sử của dân tộc Việt Nam
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu và giảngdạy về tác giả Phan Bội Châu và vấn đề phụ nữ trong sáng tác của Phan BộiChâu nói riêng, trong văn học nói chung
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3chương:
Chương 1: Vấn đề phụ nữ với các hoạt động chính trị trong quan niệm của
Phan Bội Châu từ sau năm 1925
Chương 2: Vấn đề phụ nữ với các hoạt động xã hội trong quan niệm của Phan
Bội Châu từ sau năm 1925
Chương 3: Vấn đề phụ nữ trong gia đình trong quan niệm của Phan Bội Châu
từ sau năm 1925
Trang 15Chương 1 VẤN ĐỀ PHỤ NỮ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ
TRONG QUAN NIỆM CỦA PHAN BỘI CHÂU TỪ SAU NĂM 1925 1.1 Vị trí của phụ nữ trong mối quan hệ với quốc gia - dân tộc.
Chính trị là sự tham gia vào những công việc của Nhà nước, của quốcgia, dân tộc Đất nước là của chung của cả giới nam, nữ Điều đó có nghĩa là
nam - nữ có vị thế bình đẳng trong mối quan hệ với quốc gia - dân tộc: “Phụ
nữ chủ nghĩa khi mới phát sinh thì chỉ yêu cầu cho đàn bà được có quyền công dân như đàn ông, nghĩa là yêu cầu bình đẳng trên chính trị” [64,tr.8].
Thế nhưng, trong xã hội phong kiến ở nước ta, người phụ nữ lại không đượctham dự vào các công việc chính trị của đất nước Nho giáo xây dựng mẫungười quân tử để cai trị xã hội nên không bàn đến người phụ nữ trong cáccông việc của đất nước Đến đầu thế kỷ XX, xã hội nước ta chuyển từ xã hộiphong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến Chính sự chuyển biến Âuhóa lại trở thành tiền đề cho sự chuyển biến về số phận và vị thế của ngườiphụ nữ Với việc đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa ở nước ta của thựcdân Pháp trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, người phụ nữ
đã cuốn vào các hoạt động rộng lớn đó và trở thành mối quan tâm chung Sựtiếp xúc và hội nhập với văn hóa phương Tây đã làm cho tầng lớp phụ nữ ViệtNam nhanh chóng trở thành một lực lượng xã hội quan trọng, dần tham gia vàkhẳng định được vị thế của mình với quốc gia dân tộc Vấn đề phụ nữ đã trởthành diễn đàn sôi nổi trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, trên báo chí và các
hoạt động xã hội khác Trong đó, Phan Bội Châu là một nhà “nữ quyền” giai
đoạn đầu thế kỉ XX ở nước ta
Trong giai đoạn trước năm 1925, Phan Bội Châu đã có nhiều tác phẩmthức tỉnh, động viên và ca ngợi những người phụ nữ tham gia vào sự nghiệpcứu nước, giải phóng dân tộc Qua lời khuyên chồng, người vợ đã ý thức sâu
Trang 16sắc về nỗi cay đắng, nhục nhã của thân phận nô lệ (“Hơn bốn chục năm trời, /
Đem thân làm nô lệ, / Cúi đầu làm nô lệ!/ Nỗi cay đắng xiết kể, / Nói ra những sầu bi.” [74,tr.176]); thức tỉnh tinh thần dân tộc và khích lệ chồng tham gia
phong trào cách mạng (Chàng con nhà thi lễ, /Vốn nòi giống Lạc Hồng, /Lẽ nào
chịu trong vòng, /Cho quân Tây đầy đọa, /Cho quân thù đầy đọa! /Thiếp xin chàng tạc dạ: /Này cách mạng cơ quan, /Kịp tổ chức kết đoàn, /Làm sao cho nghiêm nhặt /Làm thế nào cho nghiêm nhặt!” [74, tr.176] Trong Hải ngoại huyết thư (1906), cụ Phan ngợi ca sức mạnh của người phụ nữ đấu tranh giải
phóng dân tộc: “Giang sơn làm nổi cơ đồ, /Ấy là bậc nữ trượng phu nước mình” [74,tr.162] Cụ đã cổ động chị em noi gương các nữ anh hùng xưa: “Nào nữ kiệt
nước Nam đâu tá? /Trải xưa nay chuyện lạ bao giờ! /Từ ngày nội thuộc khi xưa, /Họ Trưng hai ả là vua anh hùng, /Việc nữ tướng xem trong sử lược, /Bùi Thị Xuân thở trước đem quân, /Cùng phường cân quắc thoa quần, /Mày râu lắm
kẻ chịu phần kém thua” [74, tr.162] Ông động viên các chị em “Ghé vai vào gánh cương thường” [74, tr.324] Trong Tân Việt Nam (1907), cụ Phan đã khẳng
định địa vị quan trọng và quyền lợi của người phụ nữ: “về các sự nghiệp chính
trị người phụ nữ có quyền lợi không cùng Có chú trọng việc giáo dục thì mới bỏ được riêng tư mà theo công lợi, mới làm cho nước nhà giàu mạnh tấn tới, nên chi trong nước nếu không có phụ nữ yêu nước, thì nước ấy sẽ phải làm đầy tớ người mà thôi” [74, tr.185] Ở giai đoạn này, Phan Bội Châu đã xây dựng rất
thành công các nhân vật phụ nữ có lí tưởng sống cao đẹp, giàu ý chí, giàu nhiệthuyết cách mạng, không cúi đầu cam chịu trước những bất công, áp chế của
chính quyền thực dân Pháp Trong vở tuồng Trưng Nữ vương (1911), nhân vật Trưng Trắc là người phụ nữ yêu nước, căm thù giặc và nuôi chí lớn: “Vốn sơ
tâm thiếp đã nguyện cùng thiên địa, xin đem mình phò với giang sơn… /Cứu lấy dân đương lúc lầm than /Dầu hy sinh tính mệnh với giang sơn, ấy lòng thiếp mới đành cùng chủng
Trang 17tộc ” [75, tr.276] Đến Trùng Quang tâm sử (1918), nhân vật cô Chí, cô
Triệu, cô Liên,… là những nữ anh hùng tài trí, giàu lòng yêu nước, căm thùgiặc, ý thức sâu sắc nỗi nhục mất nước, theo nhau vào trại Trùng Quang hợpsức với tu mi nam tử làm cách mạng để giải phóng dân tộc Đặc biệt, trong
Sùng bái giai nhân, tác giả đã ca ngợi nghĩa cử vô cùng cao đẹp của mẹ Lân
-một người phụ nữ bình thường nhưng vì lòng yêu nước mà đã hăng hái thúcgiục con trai và con rể lên đường chiến đấu… Đây cũng là đóng góp mới mẻcủa Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ so với các tác giả đương thời
Nhưng từ sau năm 1925 - thời kì Ông Già Bến Ngự, quan điểm của
Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ trở nên sâu sắc và toàn diện hơn Sự chuyểnbiến đó trong quan niệm, trong sáng tác của tác giả là do sự tác động của cácyếu tố chủ quan và khách quan Trước hết, do sự quản thúc gắt gao của thựcdân Pháp, Phan Bội Châu gần như phải cắt đứt hoàn toàn với phong trào cáchmạng của dân tộc, các hoạt động chủ yếu của ông là viết sách báo Đặc biệt,vào thời điểm này (những năm 20 - đầu thế kỉ XX), phong trào phụ nữ pháttriển mạnh mẽ trên thế giới và có ảnh hưởng sâu rộng đối với xã hội Vấn đềphụ nữ đã thu hút nhiều học giả và trở thành một diễn đàn sôi nổi trên báo chí,trong xã hội Là một nhà nho, một nhà yêu nước tiến bộ, Phan Bội Châu đãsớm nhận ra điều đó Vì thế, từ sau năm 1925, cụ Phan dành sự quan tâm, ưu
ái về vấn đề phụ nữ trong các sáng tác và các hoạt động xã hội của mình
Trước hết, Phan Bội Châu luôn dành cho nữ đồng bào những tình cảm
vô cùng trân trọng Phan Bội Châu đã thấy địa vị của người phụ nữ đối với
quốc gia dân tộc Trong Bài diễn thuyết tại trường Nữ học đồng khánh Huế
17/3/1926, tác giả khẳng định: “Nữ đồng bào ta thiệt là một phần rất cao quý trong loài người mà thứ nhất là một phần rất cao quý trong dân nước ta”.
[79, tr.45] Ông ví chị em phụ nữ như “một hột châu tươi sáng”, như “một
cái bông lan rất thơm tho” [79, tr.49-50] Điệp từ “cao quý” kết hợp với các
Trang 18hình ảnh so sánh vô cùng đẹp đẽ đó đã mở ra một cái nhìn mới về người phụnữ: các nữ đồng bào là một lực lượng không thể thiếu của xã hội, của dân tộc.
Họ cao quý bởi chính họ là người tổ nước ta, họ đã gánh công sinh dục mà
sáng tạo ra con người: “Khi đó vô luận nước nào hoặc châu nào cũng chỉ có
vài người tổ thứ nhất tức là một người gái một người trai; hai người đó chia vai mà gánh công sinh dục, dòng họ nhờ đó mà nảy nở, nòi giống nhờ đó mà lâu dài; từ hai mà bốn, bốn mà tám, tám mà mười sáu, cho đến thiên thiên, vạn vạn, ức ức, triệu triệu như ngày nay Suy nguyên cho đến gốc cây nguồn nước, gây mối là ai, mở đầu là ai, chắc là nhờ hai người tổ thứ nhất đó, tức
là một người trai và một người gái.” [79, tr.108] Họ cao quý bởi nhờ họ mà
nòi giống của đồng bào ta được duy trì, được tiếp nối từ thế hệ này sang thế
hệ khác, giúp đồng bào ta tránh được nguy cơ tuyệt diệt: “Huống chi trong
lòng mẹ nước Việt Nam sinh ra, ai nấy chẳng là một người con quý báu, vẫn đáng kêu là chị, vẫn đáng kêu là em, vẫn đang kêu là cô, dì, thím, mợ Nếu không có những món người ấy, lấy gì mà đủ hai mươi lăm triệu đồng bào, trong hai mươi lăm triệu đồng bào ta nếu không có các chị em, thì hai mươi lăm triệu đồng bào ta sau này ắt phải tuyệt diệt” [79, tr.45].
Trong Bài diễn thuyết tại trường Nữ học Đồng Khánh Huế 17/3/1926,
Phan Bội Châu không chỉ thấy người phụ nữ là một phần của đồng bào mà
còn là đấng sinh thành ra đồng bào ta - “mẹ quốc dân”: “Hai mươi triệu lẻ
đồng bào, ai nấy cũng là một phần quốc dân cả; có quốc dân mới nên một nước Huống chi các chị em lại là mẹ của quốc dân; biết bao nhiêu ông chủ nhân trong nước sau này đều nhờ các chị em sinh nở ra, đùm bọc lấy, dạy bảo vun trồng” [79, tr.48] Làm “mẹ quốc dân” là trách nhiệm nặng nề của
người phụ nữ: “Đôi vai thân gái/Gánh nợ nhiều bề /Gánh gì nặng hơn /Là
gánh làm mẹ /Nói chung cả nước /Làm mẹ quốc dân” [80, tr.31] Nhưng đó
cũng là thiên chức vô cùng cao quý của người phụ nữ mà chúng ta cần phải
Trang 19trân trọng: “Song le con gái /Lại cần thiết hơn /Bởi mẹ quốc dân /Là phần
con gái.” [80, tr.25] Như vậy, Phan Bội Châu đã đề cao vai trò, địa vị của
người phụ nữ đối với quốc gia, dân tộc Ông đánh giá người phụ nữ từphương diện giới tính Đây là một quan điểm mới về người phụ nữ của PhanBội Châu so với các nhà văn trước đó và đương thời
Theo Phan Bội Châu, người phụ nữ có khả năng gánh vác việc nước
như người nam giới: “Dù gái dù trai /Gánh chung việc nước” [80, tr.25].
Trong xã hội phong kiến, gánh vác việc nước - việc quốc gia đại sự là tráchnhiệm của người nam nhi, người phụ nữ không được can dự Phan Bội Châu
đã khẳng định vị thế và trách nhiệm của người phụ nữ với đất nước trong sựbình đẳng với người nam nhi Tư tưởng đó được cụ tiếp tục khẳng định trong
Vấn đề phụ nữ: “Gánh việc quốc gia, trả thù đánh giặc, con trai làm được lẽ
đâu lại cấm con gái không được làm” [79, tr.114] Điều đó có nghĩa là Phan
Bội Châu đã nhìn nhận, đánh giá cao vai trò của người phụ nữ trong cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc Ông“đã đặt vận mệnh của người phụ nữ gắn liền
với vận mệnh dân tộc” [110].
1.2 Phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Từ việc nhận thấy tầm quan trọng không thể thiếu của lực lượng phụ nữtrong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Phan Bội Châu đã thể hiện niềmtrân trọng và tôn vinh các vị nữ anh hùng của dân tộc nhằm động viên, khích
lệ và vận động phụ nữ trong thời điểm hiện tại tham gia phong trào cách mạngcủa dân tộc Cảm hứng đó tiếp tục được khơi dậy trong nhiều trang văn, trangthơ của ông từ sau năm 1925
Phan Bội Châu dành sự trân trọng đặc biệt đối với Hai Bà Trưng - vị nữtướng đầu tiên của nước ta đã lập được những chiến công lừng lẫy trong côngcuộc chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước Ông đã tôn vinh Trưng Nữ
Vương là “một vị Phật nhà, là tổ nước Nam ta” [79, tr.469] Trong bài Ai là
Trang 20tổ nước ta? Người nước ta với sử nước ta (1934), cụ Phan đã kể lại công trạng
của Bà Trưng với niềm cảm phục, tự hào:“Giận thù thương nước, khởi binh
đánh thành Giao Châu, đuổi Tô Định, Định chốn về đất Tàu, bà kéo quân đuổi theo, tới đâu, châu quận hưởng ứng cả, lấy tuốt 65 xứ Lĩnh Nam Lúc bấy giờ, vua Tàu kinh hoảng quá, phải khiến một vị trung hưng lão tướng là
Mã Viện đem 10 vạn quân qua đánh, bà vì thế cô chúng yếu, không địch lại, chị em cùng nhau tự tử ở Cấm Khê Kể từ ngày bà khởi binh cho đến ngày bà tuẫn nạn làm cho nước ta được độc lập là bốn năm” [79, tr.469] Đó là một vị
nữ tướng có tài cao, có chí lớn Vẻ đẹp ấy của Hai Bà Trưng đã được Phan Bội Châu trong bài Vịnh Hai Bà Trưng tán tụng: “Nỡ để non sông tỏa khói
mù! /Ra tay vùng vẫy với thằng Tô /Chị cùng em quyết nung bầu huyết,
/Nước với chồng chung rửa mối thù /Sáu chục thành trì riêng Hán, Việt, /Ba
năm đường bệ cũng Thương, Chu /Năm canh thức dậy thời oanh liệt, /Sóng gợn hồ Tây bóng nguyệt thu” [80, tr.390-391] Trong bài Vịnh đền Bà Triệu,
Phan Bội Châu ca ngợi vẻ đẹp uy nghi, lẫm liệt khiến quân giặc phải hồn bay
phách lạc: “Lược ngà áo sắt cưỡi đầu voi, /Nghe tiếng hai Trưng giặc khiếp
rồi” [80, tr.396].
Phan Bội Châu vô cùng cảm phục tấm gương của Bà Triệu Hình ảnh
người con gái kiên trung, bất khuất ấy được Phan Bội Châu ca ngợi trong Việt
Nam quốc sử bình diễn ca : “Gái Cửu Chân tên truyền Triệu Ẩu /Tài phi thường chẳng lọ là trai /Lạ thường ba thước vú dài /Tướng kì quái vẫn lò trời đúc lên /Chí to lớn thuyền quyên mấy bậc /Trỏ non sông thề nước là chồng /Anh thư chấp cả anh hùng /…Mây xanh nghi ngút anh hồn /Tướng hùng nữ giỏi nước non lâu dài” [80, tr.75] Lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của
bà Ấu Triệu trong kháng chiến chống Pháp được cụ Phan biểu dương và ngợi
ca trong bài Đề bia Ấu Triệu:
“Lọ là các cậu, lọ là ông,
Trang 21Ai bảo rằng thư, chẳng phải hùng.
Miệng có chào lòng quên sấm sét, Gan đành bỏ mạng, tiếc non sông.
Dây lưng một dải bền hơn sắt, Nét máu ngàn thu đậm với hồng.” [80, tr.119].
Ấu Triệu (?- 1910) tức là bà Lê Thị Đàn, là một nữ chí sĩ yêu nước tiêubiểu của nước ta đầu thế kỉ XX Bà sinh ra và lớn lên ở Thế Lại thượng,Hương Vinh, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế Đây là một nữ đồngchí đầu tiên được cụ Phan Bội Châu kết nạp vào Duy Tân Hội năm 1903 VàoDuy Tân Hội với vai trò là liên lạc, bà đã cáng đáng nhiều công việc hệ trọng,
là người làm cầu nối đảm nhiệm việc vận chuyển tiền bạc, thư từ, tài liệu từQuảng Nam - Quảng Ngãi qua Huế rồi ra Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Phòng đểđưa ra nước ngoài cho những học sinh đang du học tại Nhật Bản Có thời kỳ
bà khoác áo cà sa để làm nhiệm vụ liên lạc giữa các cơ sở bí mật khắp Bắc Trung - Nam Năm 1910, bà bị giặc Pháp bắt giam Tên Thượng thư Bộ Hìnhtriều Nguyễn, đời vua Duy Tân, tay sai đắc lực của giặc Pháp là Trương NhưCương được giao việc xét hỏi Hắn dụ dỗ và dùng cực hình tra tấn bà nhưng
-bà vẫn kiên quyết không khai báo một lời Khi biết mình không thể thoátđược nữa, bà giả vờ chịu cung khai, nếu được tên tay sai cho nghỉ ngơi mộtngày Tin lời, Thượng thư Cương chấp thuận và ngay đêm hôm ấy, bà đã cắnngón tay lấy máu viết lên tường ba bài thơ tuyệt mệnh, rồi dùng dây thắt lưngbằng lụa trắng treo cổ, tự kết liễu đời mình tại nhà lao Quảng Trị Cảm phụckhí phách can trường, kiên trung, bất khuất trước giặc, cụ Phan Bội Châu đãlấy gương bà Triệu Thị Trinh trong lịch sử Việt Nam đặt cho Lê Thị Đàn là
Ấu Triệu, với ý nghĩa Bà Triệu Nhỏ Đến năm 1928, cụ Phan đã lập miếu thờ
Ấu Triệu Ngôi miếu nhỏ được xây trong góc khu vườn tại dốc Bến Ngự, biển
đề “Ấu Triệu Bi Đình”, cạnh miếu có đặt tấm bia khắc sơ lược truyện về bà
Trang 22Ấu Triệu Đây là nơi hương khói để cụ Phan tưởng niệm vị nữ nhi anh kiệtcủa dân tộc! Tại miếu, cụ Phan đã đã viết câu đối ca tụng tấm gương lẫm liệt
của bà Ấu Triệu: “Tấm thân trót gả giang san Việt /Tấc dạ soi chung nhật
nguyệt trời /…Tơ nhân sợi nghĩa dây lưng trắng /Dạ sắt lòng son nét máu hồng” [80, tr.536].
Phan Bội Châu thương tiếc vô hạn tấm gương hi sinh vì đất nước củađồng chí Thái Thị Bôi Tại Huế, khi nhận được tin chị Thái Thị Bôi qua đời, cụPhan đã sáng tác bài điếu văn bi ai, tỏ lòng thương tiếc đối với người nữ chiến sĩ
cộng sản trẻ tuổi Trong bài văn tế Thương tiếc đồng chí Thái Thị Bôi ở Quảng
Nam mất ngày 23/02/1938, tác giả đã kể lại thân thế, cuộc đời của chị: “Học sớm hiểu bình dân chủ nghĩa: nầy trọng tự do, nầy quên giai cấp, dốc một lòng yêu bạn lao nông /Sinh gặp hồi xã hội ác ma; kìa cường lăng nhược, kìa phú thôn bần, giương đôi mắt nguýt phường tư bản /Trường Đồng Khánh năm xưa rao bãi khoá, vì muốn thay khuôn mẫu nhà trường, đắp nền khuôn cho tuổi trẻ, uốn mây thổi gió, lưỡi hùng đàm hơn thảy bạn quần thoa; /Đảng Thanh niên thuở nọ rập đồng tâm, những mong vớt lầm than cho dòng họ, phơi gan ruột với đồng bào, vượt núi qua đèo, mùi khoái lạc kể chi quân tửu phạn /Dấn thân cho Đảng, gánh gian lao đứng trước đội tuyên truyền; /Nộp xác cho dân, vóc yểu điệu gieo vào trường hoạn nạn” [80, tr.525] Ông ca ngợi nữ chiến sĩ trẻ tuổi tài
cao, chí lớn, bất khuất: “Nhớ nữ đồng chí ta xưa: /Đất nhả tin hoa; Trời trao tài
cán /Mặt mày vừa đến buổi đầu xanh, gan ruột đã chứa kho chí lớn/ …Lòng sắt
đá mới là can đảm, thương cho ba chú lính uổng công nách gậy múa roi; /Thân yếm thắm mà thật anh hùng, hại đến mấy quan trên mệt sức vỗ bàn đập án” [80,
tr.525-526] Ông thương xót vô cùng người phụ nữ “gan như thế, can trường
như thế” mà chị đành “nhất biệt từ trường” Sự hi sinh đó là tổn thất lớn của
toàn gia đình, của Đảng Đông Dương và của dân tộc khi “vận nước tang thương,
đường đời tụ tán” [80, tr.526].
Trang 23Năm 1930, năm nữ chiến sĩ cộng sản ở Hà Tĩnh bị giặc bắt, rồi bị bọnchúng lột truồng hòng làm cho các chị xấu hổ phải cung khai Nhưng các chị
đã can trường chửi thẳng vào việc làm bỉ ổi đó khiến cho bọn chúng phải xấu
hổ Việc làm đó của thực dân Pháp khiến cụ Phan phẫn uất liền làm ngay bài
“Vọng tế các nữ đồng chí cộng sản ở Nghệ Tĩnh” Trong tác phẩm, Phan Bội
Châu đã kêu gọi các chị em phải ý thức nỗi nhục mất nước và thân phận làm
nô lệ: “Thưa các bà các cô! /Lạy các bà các cô! /Chẳng khổ gì hơn người
mất nước, /Chẳng nhục gì hơn kiếp làm nô!” Các cụm từ “chẳng khổ gì hơn”, “chẳng nhục gì hơn” nhấn mạnh, khắc sâu vào tâm can mỗi người: nỗi
nhục mất nước và nỗi nhục làm thân phận làm nô lệ là nỗi nhục lớn nhất của
kiếp người Từ hành động tra tấn bỉ ổi đó của thực dân Pháp đối với các chị,tác giả đã bóc trần sự xúc phạm nhân phẩm phụ nữ; bóc trần bản chất khai
hóa văn minh, chính sách bảo hộ của thực dân Pháp là giả tạo: “Thưa các bà
các cô! /Lạy các bà các cô! /Năm chị em chúng tôi truồng thân trụi xác, /Để cho món cường quyền, nhà tư bản đứng vỗ tay cười! /Văn minh thế hết rồi!
/Đạo đức thế hết rồi! /Ơn bảo hộ là thế! /Ơn khai hóa là thế! /Xin bà con
ngẫm lại mà coi!” [80, tr.520-521].
Nhưng “thống thiết và sâu nặng ân tình hơn cả là Văn tế cô Giang” của
Phan Bội Châu [62, tr.27] Cô Giang (1906 - 1930) là người đồng chí, là vợ củađồng chí Nguyễn Thái Học Cô là một bậc nữ lưu anh kiệt mà Phan Bội Châu rất
cảm kích và ngợi ca:“Đất nhả tinh hoa, trời trao băng tuyết /Vóc quần thoa mà
chí khí tu mi /Thân khuê các mà can trường khí tiết” [80, tr.495] Sinh ra và lớn
lên trong cảnh đất trời u ám, cô Giang mang nỗi đau của dân tộc: “ngó giang
sơn riêng một lòng đau”, “thấy nô lệ dốc đôi tròng nguýt”, “xót bốn ngàn năm
tổ quốc chôn nhau cắt rốn”, “thương hai lăm triệu đồng bào, tan thịt tan xương”… [80, tr.495] Nỗi đau ấy đã thôi thúc cô dấn thân cho Đảng, cho cách
mạng mà không quản gian lao, thử thách: “Khi nhập Đảng tuổi vừa
Trang 24mười tám, cơ nữ binh đăng đội tiền phong; /Lúc tuyên truyền sách động ba quân, lưỡi biện sĩ trổ tài du thuyết /Thổi gió phun mây từng mấy trận, nào Lâm Thao, nào Yên Bái, nữ tham mưu đưa đẩy đội hùng binh; /Vào sinh ra tử biết bao phen, kia thành huyện, kìa đồn binh, cờ nương tử xông pha hùm rắn rết” [80, tr.495] Qua những cống hiến của cô Giang, tác giả đã nhận thấy
được sức mạnh của tầng lớp nữ trí thức trẻ giàu lòng yêu nước Sức mạnh ấyđược vừa được dệt nên từ việc kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc ta
vừa được sự tiếp sức của phong trào yêu nước thời đại:“Xem sách Pháp từng
đem óc nghĩ: Dan Đà, La Lan thuở nọ, chị em mình đã dễ ai hơn, /Giở sử nhà bỗng vỗ tay reo: Bà Trưng, Cô Triệu sau này, non nước ấy có đâu hồn chết”
[80, tr.495] Đáng quý hơn, người phụ nữ còn là người vợ đồng tâm, cùng chí
hướng với chồng: “Thầy Học vẫn tài hùng phách tráng, nhờ có cô mà lông
cánh rợp tứ phương” [80, tr.495] Tấm lòng yêu nước của cô Giang khiến
quân giặc phải vừa ghê sợ, vừa nể phục: “Sống nhân đạo hai mươi thế kỉ, bạn
má hồng toan cướp gái làm trai /Gương nữ hùng treo một khóe trời Nam, lũ
da trắng phải ghê dòng nước Việt” [80, tr.494].
Ca ngợi những tấm gương ấy, tác giả muốn khơi dậy ở những ngườiphụ nữ trong hiện tại lòng tự hào về con cháu bà Trưng, bà Triệu và khẳngđịnh niềm tin về khả năng làm cách mạng của họ Đồng thời, tác giả muốnnhắc nhở các chị em phụ nữ noi gương các nữ anh hùng dân tộc để trả nợnước, rửa thù nhà góp phần vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc:
“Học bà Trưng Trắc, /Giận giặc thương chồng /Thề với non sông, /Liều thân giết giặc /Trả xong nợ nước, /Rửa sạch thù chồng /Ấy nữ anh hùng, /Nghìn thu mấy kẻ?” [80, tr.31], “Họ tên Trưng Nhị sử còn xanh /Ai người ngậm đá này xin hỏi: /Lấp bể riêng gì một chị Tinh” [80, tr.159]…Những tấm gương
ấy mãi mãi là những trang sử xanh trong lịch sử chống giặc ngoại xâm củadân tộc ta
Trang 25Từ những tấm gương về bậc nữ lưu anh kiệt, Phan Bội Châu có quanniệm mới và tiến bộ về người anh hùng hào kiệt Trong khi, đa số các nhà văntrước đó và đương thời ca ngợi những bậc anh hùng hào kiệt là các đấng màyrâu, các trang nam nhi thì cụ Phan đã mở rộng đối tượng về người anh hùng:phụ nữ anh hùng Vì thế, trong nhiều tác phẩm, Phan Bội Châu đã gọi các bà,
các chị là“nữ trượng phu” (khi ca ngợi bà Trưng Trắc), “anh thư, tướng
hùng” (khi tôn vinh bà Triệu Thị Trinh), “nữ đồng chí” (khi ngợi ca đồng chí
Thái Thị Bôi, 5 nữ đồng chí cộng sản ở Hà Tĩnh)…Cách gọi đó vừa cho thấy
phẩm chất anh hùng, kiên cường, bất khuất của những bậc nữ lưu anh kiệt,không kém các bậc nam nhi; vừa thể hiện tấm lòng trân trọng, ngưỡng mộ củatác giả Những tấm gương phụ nữ anh hùng ấy đã làm rạng danh truyền thốnghào hùng của phụ nữ nước ta trong sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâmgiải phóng dân tộc Ca ngợi, tôn vinh những phụ nữ anh hùng đó, nhà chí sĩPhan Bội Châu đã động viên, khích lệ được nhiều chị em phụ nữ tham gia tíchcực vào phong trào yêu nước của nước ta ở đầu thế kỉ XX
1.3 Quan điểm của Phan Bội Châu về nữ quyền từ sau năm 1925
1.3.1 Ý thức nữ quyền ở nước ta đầu thế kỉ XX.
Ý thức nữ quyền đã manh nha xuất hiện sớm trong lịch sử bởi vai trò tolớn của người phụ nữ bảo vệ tổ quốc Nhưng phải đến đầu những năm 20 thế
kỉ XX, vị thế của người phụ nữ Việt Nam mới được quan tâm và thảo luận sôinổi, thu hút các học giả trên báo chí cách mạng, trong văn học yêu nước vàtrên nhiều lĩnh vực xã hội khác Thời điểm này ra đời một loạt các tờ báo
chuyên san về giới nữ như: Phụ nữ tân văn, Nữ giới chung, Phụ nữ thời đàm,
Đàn bà mới, Nữ lưu, Nữ công tạp chí, ; một loạt các chuyên mục bàn về vấn
đề phụ nữ do chính các tác giả nữ đảm nhiệm như mục “Nhời đàn bà” trên báo Nam Phong và Đông Dương tạp chí,…
Trang 26Tuy nhiên, bàn về ý thức nữ quyền có nhiều quan điểm khác nhau, thậm
chí trái chiều về vấn đề này Theo tác giả Đặng Thị Vân Chi trong Vấn đề phụ nữ
trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945 (2008) có 3 khuynh hướng chính: ủng hộ
nữ quyền, phê bình nữ quyền và vận động giải phóng phụ nữ Khuynh hướngủng hộ nữ quyền cho rằng: đây là tư tưởng tiến bộ Nguyễn Văn Bá, Huỳnh ThúcKháng, Cao Văn Chánh, Trịnh Đình Rư là những học giả có cùng quan điểm
đó Trái với khuynh hướng ủng hộ nữ quyền là khuynh hướng phê bình nữquyền Đây không chỉ là quan điểm của những người chịu ảnh hưởng sâu sắc củaNho giáo như Phạm Quỳnh, Tôn Thất Đàm, mà ngay cả những trí thức Tây học
tư sản như Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long…cũng ủng hộ quan điểm đó.Mặc dù, các học giả thuộc khuynh hướng này vẫn biết quyền bình đẳng nam nữ
là một tư tưởng tiến bộ, nhưng họ vẫn phản đối nữ quyền Ngoài ra, một số họcgiả do nhận thức được thân phận nô lệ của người dân nước ta, đặc biệt là ngườiphụ nữ dưới thời Pháp thuộc nên chủ trương quay sang vận động giải phóng phụ
nữ khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến Tiêu biểu cho khuynh hướngnày là các học giả: Diệp Văn Kỳ, Phan Khôi…
Trong bối cảnh đó, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp đưa về quản thúctại Huế, ông đã tham gia vào hoạt động văn hóa và tích cực đấu tranh cho nữquyền, nhấn mạnh địa vị, vai trò của phụ nữ trong xã hội, đồng thời nêu caovấn đề giải phóng phụ nữ Phan Bội Châu khẳng định những quyền lợi hiểnnhiên của phụ nữ, đó là: quyền sống, quyền làm người, quyền công dân,quyền bình đẳng với nam giới
1.3.2 Thực trạng của phụ nữ ở nước ta.
Với Phan Bội Châu, người phụ nữ không chỉ có địa vị quan trọng vớiquốc gia dân tộc mà còn rất đáng được trân trọng Ông đã ví người phụ nữ
như “hột châu tươi sáng”, “bông lan rất thơm tho” Nhưng khi nhìn thẳng
vào thực tại nước ta, ông trăn trở và vô cùng đau xót khi trong xã hội lại có
Trang 27hiện tượng: “Hột châu tươi sáng mà chìm ở dưới vũng cát đã lâu ngày, bông
lan rất thơm tho mà lấp vào giữa đống cỏ đã lâu ngày” [79, tr.45] Cao quý là
vậy nhưng cũng vô cùng xót xa ! Ông xót xa bởi thực tế trong xã hội ta, nữ
đồng bào ta là một hạng rất “ti tiện” Từ việc trong gia đình đến việc xã hội, quốc gia, các chị không được can dự: “Nữ đồng bào ta hóa ra một hạng rất ti
tiện ở trong loài người, mà lại thứ nhất là một hạng rất ti tiện ở trong dân nước ta! Chẳng những việc nhà nước không ai hỏi tới chị em, việc xã hội cũng không ai bàn tới chị em, mà thậm chí những việc rất mật thiết như gia đình và cá nhân, cũng không ai kể công tới chị em.” [79, tr.45] Các cụm từ
“không ai hỏi tới chị em”, “không ai bàn tới chị em”, “không ai kể công tới
chị em” đã nhấn mạnh nỗi xót xa của tác giả về thân phận của người phụ nữ
trong xã hội đương thời ở nước ta Các chị như một người thừa, các chị khôngnhững không có địa vị mà còn bị coi khinh Thậm chí, các chị em phụ nữ chỉ
là một thứ đồ chơi cho người con trai: “Đàn bà con gái chỉ là một giống đồ
chơi cho con trai mà thôi” [79, tr.111].
Nguyên cớ vì sao mà người phụ nữ nước ta lại “ti tiện”? Bàn về điều
đó, tác giả Trịnh Thu Tiết đã rất có lí khi cho rằng: nguyên nhân mà phụ nữ ta
ti tiện là do sự phát triển tất yếu của lịch sử, của xã hội - “Cụ Phan tìm
nguyên nhân ở ngay trong lịch sử tiến hóa của nhân loại Theo cụ, khi của cải vật chất đã dồi dào thì dục vọng của con người cũng nảy sinh mạnh mẽ, từ đó sinh sự cướp bóc, hiếp đáp lẫn nhau” [85, tr.203] Giữa lúc đó: “các bạn đàn
bà con gái, hoặc vì công sinh sản quá nặng nề mà không thì giờ chen vào trường đua đuổi, hoặc vì chất thiên nhiên thường nhu nhược mà không can đảm đứng vào cuộc cạnh tranh Nhân đó mà phường con trai dã man hung bạo kia thấy vóc bồ mình liễu, chân yếu tay mềm, trở lại khinh bỉ đàn bà con gái là vô dụng” [79, tr.109] Cụ Phan cũng chỉ ra một nguyên cớ: từ khi loài
người diễn ta tuồng cướp bóc thì đàn bà con gái trở thành vật của phường
Trang 28cướp bóc Vì thế, thân phụ nữ phải “giấu kín, lấp sâu” nơi buồng the nên mới
có tục “Phụ nữ bất xuất khuê môn” (nghĩa là đàn bà con gái không được đi ra
khỏi cửa buồng) [79, tr.109] Theo Phan Bội Châu, nguyên nhân thứ ba, là do
xã hội chuyên quyền: “Tôi thường nghe có lời tục ngữ nói rằng “Trăm gái
không bằng một cậu trai”, lại nghe luật cổ thường có câu rằng: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” nghĩa là sinh một con trai là đủ, dầu sinh mười con gái cũng thừa; tôi tưởng rằng ở trong đạo làm người có lẽ nào mà điên đảo, đảo điên như thế?” [79, tr.45) Đó là cái xã hội mà quyền cha, quyền vua,
quyền trai là tối thượng: “Vì quyền vua quá nặng, nên phải nặng lây đến
quyền trai, lúc bấy giờ những phường trai dua nịnh, nhờ gió bẻ măng cũng muốn mượn vua cho sướng tay áp chế đàn bà con gái” [79, tr.110) Những
định kiến đó của xã hội phong kiến, tác giả gọi là “thói hư gia đình”, “nết hư
xã hội” Cụ Phan vốn xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, chịu ảnh hưởng của
tư tưởng Nho giáo nhưng chính cụ lại phản ứng, phê phán tư tưởng Nho giáo
hà khắc: “Tôi mới biết con gái nước nhà mình, vì sao mà ti tiện thế này, tôi
tủi hổ thay cho nữ đồng bào ta, mà tôi lại còn tủi hổ cho mình tôi, bởi vì tôi là con cưng ở nước Nam, mẹ tôi đã không danh giá gì, thì tôi còn mặt mũi nào
mà sống được” [79, tr.46) Vốn xuất thân từ Nho giáo nhưng cụ Phan lại
thuộc lớp nhà nho đầu tiên được đọc tân thư, tân văn với những quan điểm và
tư tưởng mới mẻ, tiến bộ Đây là tiền đề, là cơ sở để Phan Bội Châu nhận thức
về vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ
1.3.3 Quan điểm của Phan Bội Châu về nữ quyền.
Trong bài Những tiền đề cho sự ra đời diễn ngôn nữ quyền trong các sáng
tác sau 1925 của Phan Bội Châu, Đào Lê Tiến Sỹ đã khẳng định đóng góp quan
trọng của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ từ sau năm 1925: “Phan Bội Châu
đã phát triển vấn đề phụ nữ trong sáng tác của ông lên một ý nghĩa mới: người phụ nữ không chỉ được nhấn mạnh ở phẩm chất anh hùng cứu nước,
Trang 29hơn thế, họ đã được quan tâm với việc giải phóng giới mình Diễn ngôn nữ quyền mới này đã giúp Phan Bội Châu vượt qua hạn chế trong quan niệm về phụ
nữ giai đoạn trước năm 1925” [124] Nữ quyền là quyền nữ giới hay quyền của
người phụ nữ Đây là một phạm trù mang tính lịch sử Ở mỗi thời đại, ý thức nữquyền có những biểu hiện khác nhau Bởi nữ quyền thực chất là đấu tranh để bảo
vệ quyền lợi bình đẳng cho nữ giới như: quyền toàn vẹn và tự chủ về thân thể,quyền nắm giữ chức vụ công, quyền được tiếp nhận giáo dục…
Phan Bội Châu đã dành nhiều tâm huyết để luận giải về vấn đề “Nữ
Quyền” Trong tác phẩm Vấn đề phụ nữ, cụ Phan đã dành một chương bàn về
“Nữ Quyền” Ông cho rằng sự xuất hiện “Nữ Quyền” ở các nước Đông Á vào
khoảng “cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX làn sóng văn minh ở Âu, Mỹ đẩy ít nhiều
bọt bèo vào Đông Á, thình lình mà hai chữ “Nữ Quyền” mới nảy ra ở trên mấy
tờ báo, nhân thấp thoáng ở bên tai các cô, các chị cũng có hai chữ “Nữ Quyền”” [79, tr.112] Trong đó, tác giả đã định nghĩa về “Nữ Quyền”: “Theo ở trên mặt chữ mà nói thì “Nữ Quyền” nghĩa là quyền của người đàn bà con gái, cũng như “Nam Quyền” là quyền của người con trai Nhưng xét cho đến nguồn gốc chân lý, thăm cho tới nguồn triết học thì “Nữ Quyền” với “Nam Quyền” tất
cả thâu nạp vào trong hai chữ “Nhân Quyền ” “Nhân Quyền” là quyền của người mà cũng có nghĩa là quyền làm người Rằng quyền của người tức là cái quyền đó là người thì đáng được, rằng quyền làm người tức là đã là một con người tất cả có quyền được làm con người mà không phải làm trâu ngựa Con trai là người, con gái cũng là người, ở trong chữ quyền người đã bao bọc cả trai với gái, không cần phải phân biệt Nam Quyền, Nữ Quyền Nếu phân biệt Nam Quyền, Nữ Quyền cũng là dư” [79, tr.112] Sự phân biệt “Nam Quyền” với “Nữ Quyền” là “dư”, là không cần thiết, dù là nam hay nữ thì đều là người; đã là
người thì tất yếu phải có quyền người và tất cả mọi người đều có quyền bìnhđẳng Quyền người làm nên giá trị của
Trang 30con người Chừng nào con người bị mất quyền làm người thì có nghĩa là conngười mất hết giá trị, con người không còn là con người mà con người chỉ là mộtthứ công cụ phục vụ đắc lực cho giai cấp thống trị Khi đó, kiếp người không
khác gì kiếp trâu ngựa! Ông cho rằng việc phân biệt “Nam Quyền” với “Nữ
Quyền” là do chế độ quân chủ tạo dựng nên để phủ nhận hay hạn chế quyền làm
người của giới nữ: “Nhưng vì từ tệ hại quân chủ chuyên chế phát sinh ra, mà cái
học thuyết “Tam cương” làm tai hại cho một số người rất nhiều, mất trót hết quyền người, xem như hình không khác gì trâu ngựa.[…]Bây giờ theo như nghĩa tam cương thời được có quyền người, thứ nhất là vua, thứ nhì là cha, thứ ba là chồng, còn ngoài nữa tất cả là vô quyền […]Quyền trai càng ngày càng nặng,
mà gái thời không một tí quyền” [79, tr.113] Học thuyết Nho giáo đã áp chế
người phụ nữ, đã tước mất quyền họ Thực tế đó khiến tác giả vô cùng bất bình:
“Đạo người đến thế đã cực điểm bất bình” [79, tr.113] Có thể thấy, quan niệm
về “Nữ Quyền” của Phan Bội Châu đối lập với quan điểm Nho giáo vốn đã in
sâu vào tâm thức của mỗi người
Phan Bội Châu đặt ra một loạt các câu hỏi để thức tỉnh chị em phụ nữ ý
thức được địa vị của bản thân mình: “Đàn bà con gái có phải cũng loài người
hay không?”, “Đàn bà con gái có phải cũng quốc dân hay không?” [79, tr.107],
“Các chị em ơi! Đã biết mình là một hạng người mà không phải trâu ngựa hay chưa? Đã biết mình là một phần quốc dân mà không phải con hầu đứa ở hay chưa? Đã biết bạn đàn bà con gái là một bộ phận lớn ở trong xã hội mà không phải “kí sinh trùng” hay chưa?” [79, tr.115] Tác giả nhấn mạnh vai trò, vị trí
của phụ nữ trong loài người, trong quốc dân, chứ phụ nữ không phải là “kí sinh
trùng” Với một loạt các câu hỏi nhưng thực chất là để khẳng định Tác giả
khẳng định phụ nữ là lực lượng quan trọng góp phần làm nên xã hội loài người:
“Gốc vì phụ nữ là một hạng người ở trong loài người, cũng là một xuất dân ở trong dân nước” [79, tr.107] Phan Bội Châu đặt “Nữ Quyền”
Trang 31trong sự bình đẳng với “Nam Quyền”, và “Nữ Quyền” trong phạm trù “nhân
quyền” Đối với ông, đấu tranh cho “Nữ Quyền” cũng tức là đấu tranh cho
“Nhân Quyền”, bởi: “Nữ quyền tức là nhân quyền, mà nhân quyền là khi trời sinh ra đã sẵn có, vì cớ sao mà phường đàn bà con gái lại mất hẳn cái quyền làm người” [79, tr.125] “Nhân quyền” là thứ vốn có, là thiên phú Cứ sinh ra
là người thì tất yếu phải có “nhân quyền” Thế mà, phụ nữ nước ta lại “vô
quyền”, lại mất quyền làm người Hai tiếng “cớ sao” vang lên mà như chất
chứa biết bao nỗi bất bình của cụ Phan! Cùng quan điểm với Phan Bội Châu,
tác giả Dã Lan Nữ Sĩ trong bài viết Vấn đề phụ nữ thích đáng bởi những lẽ
gì? In trên báo Tiếng dân, Huế, số 62 (17.3.1928) đã khẳng định: “Người ta sinh ra là có quyền lợi tự nhiên, quyền lợi thiên phú, không ai dày vò được, không ai cướp lấn được, mà con trai con gái, đàn ông đàn bà, đã là loài người thì phải đều có quyền cả Làm sao cái quyền làm người đó chỉ nam tử được hưởng mà nữ tử thì không? Ấy đó là một điều đại bất bình trong xã hội vậy Điều cần kíp của xã hội ngày nay là phải phá bỏ cái nỗi bất bình ấy, được như thế thì mới có thể gọi là nhân quyền phát đạt, mới có thể gọi là chân chính nhân quyền” [65] Với cách luận giải đó, cụ Phan không chỉ
khẳng định vai trò, địa vị của phụ nữ với quốc gia dân tộc mà còn thức tỉnhchị em phụ nữ đứng lên đấu tranh phá bỏ những áp chế vô lí của xã hội đươngthời để giành lại quyền làm người của mình
Do sớm được tiếp thu tân thư, tân văn ở đầu thế kỉ XX nên quan niệm
về vấn đề phụ nữ của ông có nhiều thay đổi tiến bộ: “Có thể nói, lần đầu tiên
sau hàng nghìn năm phong kiến, một diễn ngôn khoa học về phụ nữ và nữ tính đã được các nhà nho kiến tạo nên” [108] Sự xuất hiện của các khái niệm như sinh lý học, sinh dục,tâm lý học, cảm giác, tri giác, đã buộc các nhà nho
phải có nhận thức mới về giới nữ Trong “Bài diễn thuyết tại trường Nữ học
Đồng Khánh Huế 17/3/1926”, Phan Bội Châu đã xuất phát từ phương diện
Trang 32sinh lí học để khẳng định quyền bình đẳng nam - nữ: “Các chị em chẳng phải
là cũng tai thông mắt sáng, có đầu óc, có chân tay, đủ khí phách loài người,
đủ tâm huyết loài người đó sao? Lấy sinh lý học mà suy ra, các cơ quan về đường cảm giác và đường tác dụng, con trai và con gái có gì khác nhau đâu?” [79, tr.45] Trong tác phẩm Vấn đề phụ nữ, diễn ngôn khoa học về vấn
đề phụ nữ được tác giả đề cập khá rõ Phan Bội Châu đã lấy sinh lí học để
khẳng định quyền bình đẳng, quyền tự do nhận thức và hành động của người
phụ nữ: “Việc gì đáng nghe, tai con trai nghe được thời tai con gái cũng có
quyền nghe, việc gì đáng thấy mắt con trai thấy được thời mắt con gái cũng
có quyền thấy, việc gì đáng chống cự tay chân con trai chống cự được thì tay chân con gái cũng có quyền chống cự, việc gì đáng nói phô, miệng con trai nói phô được thì miệng co gái cũng có quyền nói phô, việc gì đáng ngẫm nghĩ
óc con trai ngẫm nghĩ được thời óc con gái cũng có quyền ngẫm nghĩ” [79,
tr.114] Theo tác giả, phụ nữ cũng là người giống như con trai, mà quyền làm
người của con trai cũng như quyền làm người của con gái: có tai thì có quyền
để nghe, có mắt thì có quyền để nhìn, có chân tay thì có quyền hoạt động, cómiệng thì có quyền được nói và có óc thì có quyền để suy nghĩ Đó là quy luật
của sinh lí học Dựa vào nguyên lí sinh dục, tác giả khẳng định thiên chức, địa
vị cao quý của người phụ nữ: “Vì muốn nòi giống được nảy nở, dòng họ được
lâu dài, tất phải nhờ công sinh dục, mà công sinh dục đó, tất phải hợp cả trai với gái mới có thể gây nên […] Hai người đó chia vai mà gánh công sinh dục” [79, tr.108] Theo đó, người phụ nữ bình đẳng với nam giới về “công sinh dục”, về việc duy trì nòi giống Tác giả còn lấy nguyên lý về “sinh dục”,
“sinh lý” để phê phán gay gắt những “thói hư, nết xấu” của xã hội xưa:
“Theo về lòng sinh dục của tạo hóa, theo về luật sinh lý của triết học, có lẽ nào quý trai mà tiện gái, tôn trai mà ti gái đâu” [79, tr.108] Tư tưởng trọng
nam, khinh nữ là căn nguyên dẫn đến tình trạng phụ nữ phải chịu địa vị thấp
Trang 33kém và sự bất bình đẳng nam - nữ trong xã hội Phan Bội Châu đã quyết liệtchống lại những giáo điều khắt khe của xã hội phong kiến để giành lấy quyềnlàm người cho người phụ nữ Trên cơ sở đó, ông đã xác lập và nhấn mạnhnhững quyền lợi và nghĩa vụ của người phụ nữ trong sự bình đẳng với người
nam nhi: “Chị em ta đã hay biết được cái nghĩa vụ của mình cũng như con
trai, thì bao nhiêu cái quyền lợi của con trai, chắc chị em ta cũng có phần được hưởng thụ Nghĩa là như các việc kinh tế được bình đẳng với con trai, mai sau đạo đức các chị em ta, trí thức các chị em ta, tài cán các chị em ta, đều là cao lên tột đến cực điểm, thì cái quyền lợi về chính trị, cũng được bình đẳng với con trai” [79, tr.49] Nếu chị em biết được, làm được cái nghĩa vụ
của mình cũng như con trai thì chị em cũng được hưởng thụ những quyền lợinhư con trai Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới về kinh tế, về đạo đức,
về chức nghiệp, về giáo dục, thậm chí bình đẳng cả về chính trị
Như vậy, đặt vấn đề phụ nữ trong tương quan với sự phát triển về khoa
học của nhân loại là “mở rộng tầm mắt nhìn ra khắp năm châu bốn biển với
khát vọng đưa dân tộc ta tiếp cận với thế giớ văn minh, thoát khỏi vòng u tối, trì trệ Bởi thế ngòi bút của cụ mang trách nhiệm của một ngòi bút khai sáng,
nó nặng tính chất duy lý và tràn đầy nhiệt huyết đấu tranh Trên cơ sở những kiến thức khoa học mới về lịch sử tiến hóa của nhân loại, Phan Bội Châu đặt lại vấn đề địa vị, vai trò của người phụ nữ trong xã hội” [85, tr.202] Phan
Bội Châu có niềm tin vào người phụ nữ: “Chị em nếu một mai biết hăng hái
nghĩ làm người, quyền lợi của loài người quyết ra tay tranh lấy, phẩm cách của loài người quyết ra sức giữ lấy; xã hội hủ kia, có ngày ta chỉnh đốn, gia đình ác kia, có ngày ta cải lương, rồi đây sẽ lấy thân đào liễu mà đỡ gánh non sông, xúm sức quần thoa mà vần xây vận hội; chắc có một ngày bà Trưng
Nữ Vương thứ hai xuất hiện ở thế kỉ này” [79, tr.46-47] Từ việc tin tưởng vào
“trí khôn”, “năng lực” và ý thức “tự lập”, “tự cường”,
Trang 34tác giả đã thôi thúc chị em phụ nữ phải biết “tranh lấy”, “giữ lấy” quyền lợi
chính đáng của mình; phải xác định được trách nhiệm của bản thân với gia đình
-“gia đình ác kia, có ngày ta cải lương”, với xã hội - “xã hội hủ kia, có ngày ta chỉnh đốn”, với quốc gia dân tộc - “lấy thân đào liễu mà đỡ gánh non sông, xúm sức quần thoa mà vần xây vận hội” Đến tác phẩm Vấn đề phụ nữ, cụ Phan tiếp
tục nhấn mạnh trách nhiệm của người phụ nữ với quốc gia trong sự bình đẳng
với nam giới: “Gánh việc quốc gia, trả thù đánh giặc, con trai làm được lẽ đâu
lại cấm con gái không được làm” [79, tr.114] Theo tác giả, gánh vác việc xã hội,
quốc gia là những việc mà chị em “đáng làm”: “Chị em ta thử nghĩ, ở trong câu
“việc gì đáng làm” đó có việc gì đáng làm hơn việc xã hội nữa đâu? Vì xã hội
có người cày thì ta mới có cơm ăn, vì xã hội có người dệt thì ta mới có áo mặc, vì xã hội có công tác, có giao thông mà ta mới có chỗ yên ở, chỗ vui chơi” [79,
tr.114] Tất thảy mọi người đều chịu ơn xã hội Xã hội đã cưu mang, che chở,
đùm bọc mỗi chúng ta Quyền lợi mà xã hội đem đến cho mỗi người là vô cùng!
Vì thế, gánh vác việc xã hội là trách nhiệm của mỗi người, không phân biệt nam
- nữ: “Ta hết lòng gánh việc xã hội tức là hết nghĩa vụ làm người mà quyền
người mới có thể khôi phục được Quyền người đã khôi phục được thời quyền gái chẳng cần nói nữa” [79, tr.114] Khi hết lòng gánh vác việc xã hội, ta không
những hoàn thành nghĩa vụ làm người mà còn khôi phục được quyền người,trong đó có quyền gái Nhận thấy tầm quan trọng đó, Phan Bội Châu đã động
viên, khích lệ, hô hào, kêu gọi chị em phụ nữ hãy gắng sức: “Xin các chị em
gắng sức hết lòng, trông lên cái đỉnh tháp nhân quyền, cứ tầng tầng rang chân
mà bước tới” [79, tr.49].
Bên cạnh thái độ ca ngợi những người phụ nữ hết lòng gánh vác việc xãhội, tác giả còn kịch liệt phê phán phong trào nữ quyền của một số chị em phụ
nữ thành thị, đặc biệt là phụ nữ Tây học đã có sự tha hóa (sa vào các tệ nạn cờ
bạc, bói toán…); phê phán những “cô gái mới”, những “cô gái tân thời”
Trang 35thích sống theo ý mình, thích chơi thể thao, thích đọc tiểu thuyết lãng mạn, từchối công việc nội trợ…Quan niệm và lối sống của họ đang dần rời xa và đingược lại với quan niệm đạo đức truyền thống của dân tộc về người phụ nữ.
Trong bài Vấn đề phụ nữ (Trả lời cuộc trưng cầu ý kiến của báo Phụ nữ Tân
Văn), khi nghĩ về tư cách của một bộ phận phụ nữ chạy theo lối sống văn
minh rởm, văn minh hình thức, cụ Phan đã bày tỏ nỗi thất vọng: “Còn một
hạng nữa, thời là xuất sắc ở thời bấy giờ, mặt không bao giờ phai nét phấn, đầu không bao giờ ngớt nước bông; được ông Tham, ông Đốc ghé mắt liếc qua đã tự vị là thần thánh; nghe mẹc xì, bông dua, lặp được đôi tiếng thời đã khoe mình là văn minh! Kể tấn bộ thời chỉ thấy những lên xe ô tô, vào nhà hát xem chớp bóng, nghe hát tuồng, thế là rất mực tài danh rồi; kể khai thông, thời chỉ biết ăn cao lâu, biết thức Tây, biết thức Tàu, biết mặc đồ Tây, biết đánh tài bàn, tứ sắc, thế là rất mực khôn ngoan rồi đó! Nghĩ tư cách phụ nữ nước ta như thế…” [79, tr.437] Trong Bài diễn thuyết tại Nữ công học hội Huế, tác giả đã phê phán gay gắt các cô gái chỉ lo chạy theo lối sống xa xỉ:
“Tức như nước bông, sáp, phấn vẫn xưa nay nước ta có đâu, mà thứ nhất lại những bậc cố can ta ngày xưa không một tí gì biết đến, mà thời bây giờ những tiền mua nước bông, sáp, phấn một năm kể tốn bao nhiêu là tiền Quái gở thay! Chán ngán thay!” [79, tr.54] Đến bài Giễu cô nữ sinh trường Đồng Khánh, tác giả cũng phơi bày thực trạng đó với thái độ bất bình: “Lâu nay cô vẫn học hoài hoài, /Học những môn gì thử kể chơi! /Xuống bếp nhổ nhào cơn lộn cháo, /Ra đồng quên lửng thóc hay khoai /Trả lời “nông” “úy” pha
“không” “có” /Hỏi giá “ong” “đơ” liệu “một”, “hai” /Bà mụ nhà quê quên sắp xếp, /Nước bông màu phấn lạ lùng đời!” [80, tr.90] Với giọng điệu mỉa
mai, chế giễu, Phan Bội Châu đã phê phán thực trạng một số các cô gái mớilớn chỉ lo chạy theo nước hoa, phấn sáp mà đánh mất đi những vẻ đẹp truyềnthống của dân tộc Đó là những người phụ nữ không lo trau dồi chức nghiệp,
Trang 36không tự lập, tự cường; mà chỉ biết hưởng thụ: “Nếu chị em ta, không trước
để lòng về chức nghiệp mà chỉ cứ trau son dồi phấn, cợt liễu cười hoa, mái tóc cho bóng, móng tay cho dài, lấy cô Đốc bà Tham làm mô phạm, thời những bao nhiêu câu nữ quyền, câu giá trị đều là nói khoác mà thôi” [79,
tr.439] Phan Bội Châu tuy đấu tranh quyết liệt để đòi nhân quyền cho phụ nữ
nhưng ông lại lại chưa quan tâm đến ý thức về hình thể, quyền về hình thể củangười phụ nữ Thậm chí, ông đã bày tỏ nỗi bất bình về thực trạng một bộ phận
phụ nữ “đua hồng diện lục” [79, tr.438]: “Quái gở thay! Chán ngán thay!” [79, tr.54] Phan Bội Châu đã nhìn nhận thực trạng đó và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó là do chế độ giáo dục giả dối: “Khốn khổ nhất là giáo
dục ngày nay, không lo uốn nắn từ lên ba lên bảy, lo vun đắp khắp kẻ chợ nhà quê Hình thức bề ngoài tuy vẫn có cái mặt nạ giáo dục, mà tinh thần bên trong lại cốt làm cho tiêu mòn cái chân tính con người! Giáo dục giả dối bao nhiêu, thời phụ nữ sa sút bấy nhiêu, cái họa không bằng cái họa bùa mê ở giáo dục, vứt hết kim tiền máu mủ vì phấn sáp nước bông, hao hết thì giờ quý báu vì đua hồng diện lục; mua được một lá bằng tốt nghiệp, thời xem cha mẹ, chú bác không đáng một xu, mang được một cái nốt ma đam thời xem đất nước quê hương không bằng một sợi tóc, thế mà nữ sĩ này, nữ sĩ nọ, danh hiệu um sùm, thế mà nay nữ quyền, mai nữ quyền, kêu rêu xao xác, phụ nữ như thế, còn vấn đề gì mà phải bàn nữa đâu! Những người còn có tâm huyết, còn có can trường, xét đến tình trạng phụ nữ xã hội ta, bảo không chán ngán buồn rầu làm sao đặng” [79, tr.438] Phan Bội Châu đề cao giáo dục phụ nữ
nhưng ông lại phê phán giáo dục đương thời là giáo dục giả dối, giáo dục hìnhthức Vì thế, ông kêu gọi chị em phải biết nâng cao tri thức bằng nền giáo dụcthực sự Trong bối cảnh xã hội thực tại, cách giáo dục tốt nhất đối với chị em
phụ nữ là: “Chị em tự giáo dục lấy mình, ấy là thượng sách” [79, tr.439].
Trang 37Có thể nói, đấu tranh cho “Nữ Quyền” là một trong những nội dung
quan trọng trong tư tưởng duy tân của Phan Bội Châu Ông đã đặt người phụ
nữ trong mối quan hệ mật thiết với dân tộc, số phận của họ gắn liền với vậnmệnh của dân tộc Đồng thời, ông cũng khẳng định, đề cao vị trí, vai trò vàtrách nhiệm của người phụ nữ trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Theo Bùi Trân Phượng, Bài diễn thuyết tại trường Nữ học Đồng Khánh
-Huế, 17/3/1926 “xứng đáng được ghi vào lịch sử phụ nữ Việt Nam như bài diễn thuyết công khai đấu tranh cho nữ quyền sớm nhứt trong cả nước” [62,
tr.35] Chỉ ba tháng sau diễn văn quan trọng này, tổ chức Nữ công học hội ra
đời - tổ chức phụ nữ đầu tiên của nước ta
1.3.4 Quan điểm của Phan bội Châu về phụ nữ vận động.
Từ sau năm 1925, vấn đề phụ nữ vận động là một đóng góp quan trọngtrong tư tưởng của Phan Bội Châu Điều đó đã được tác giả Đặng Thị Vân Chi
khẳng định:“quan điểm tiến bộ của Phan Bội Châu về vấn đề phụ nữ đó là
đường lối vận động phụ nữ của ông Ở thời điểm này, ngoài Đảng Cộng sản, có lẽ Phan Bội Châu là người duy nhất đặt vấn đề vận động phụ nữ và liên kết đoàn thể phụ nữ” [110] Chính Phan Bội Châu cũng khẳng định: “Phụ nữ vận động là một việc cần thiết trong xã hội đời bây giờ” [79, tr.114] Theo ông, muốn
bắt tay vào việc vận động phụ nữ thì trước hết phải thấy được vai trò quan trọngcủa phụ nữ trong loài người, trong quốc gia, trong xã hội:
“1 Phải biết phụ nữ là một hạng người không thiếu được ở trong loài người.
2 Phải biết phụ nữ là một suất dân không thiếu được ở trong dân nước.
3 Phải biết phụ nữ là một bộ phận rất lớn ở trong xã hội.” [79, tr.115].
Vì thế, tác giả đã chỉ rõ phương châm vận động cần có 4 điều sau:
“1 Mở mang về đường trí thức của phụ nữ
2 Liên kết đoàn thể phụ nữ.
Trang 384 Nâng cao địa vị của phụ nữ.” [79, tr.115].
Trong 4 nội dung về đường hướng phụ nữ vận động ở trên, theo Phan
Bội Châu, việc “mở mang về đường trí thức của phụ nữ” là việc đầu tiên và quan trọng nhất Ông cho rằng: chỉ có nâng cao trình độ trí thức cho phụ nữ
mới có thể thực hiện nâng cao địa vị cho phụ nữ Vì vậy, ông luôn trăn
trở:“Tôi suy đi nghĩ lại, muốn rửa sạch cái xấu hổ này, chỉ có một sự là làm
sao cho chị em học hành được như người các nước” Học hành để chị em trở
nên cao quý, danh giá: “Người con gái các nước vì học mà cao quý như kia,
chắc là con gái nước ta vì không học mà ti tiện như thế” Học hành để chị em
có trí khôn, có thể tự lập, tự cường: “Trời đã sinh ra các chị em, thì các chị
em cũng có trí khôn, có thể tự lập được Nước Việt Nam đã sản xuất ra các chị em, thì các chị em chắc cũng có năng lực, có thể tự cường được” [79,
tr.46] Ông luôn khuyên chị em: “phải lo như thế nào cho đủ tư cách tự lập,
chẳng cần nương cậy đến ai, đã không chịu làm sâu mọt trong xã hội, mà cũng không để người ta gọi mình là ký sinh trùng” [79, tr.48] Và theo ông, tự
giáo dục mình là biện pháp “thần diệu” nhất: “Chỉ nhờ sức tự động của chị
em mình, mình giáo dục lấy mình, ấy là thượng sách” Vì tự mình phải quyết
ta quyết chí làm nên […] Chị em muốn giữ quyền người, muốn tranh quyền gái cũng chỉ bấy nhiêu” [79, tr.439].
Trang 39Khi đường tri thức của phụ nữ được mở mang thì chị em phải biết hợpquần, phải biết liên kết đoàn thể Cụ Phan vô cùng đau xót trước thực trạng
dân trí mà ông gọi đó là “một ổ si ngu” Ông đã kể ra 5 điều chí ngu của dân ta: “Một là nghi nhau ghét nhau” - chia rẽ, hai là “Xa hoa xằng bỏ sự nghiệp
to” - phô trương, hoang phí, ba là “Chỉ lo lợi kỉ, không lo hợp quần”, bốn là
“Tiếc của riêng mất hẳn lợi chung” - đặt quyền lợi của cá nhân lên trên quyền
lợi chung, năm là “Thân gia xem nặng xem ra bỏ liều” [80, tr.59] Trong 5 điều chí ngu đó, “không lo hợp quần” là một trong những điều ngu lớn nhất
của dân ta Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình cảnh đất nước tăm tối và
thân phận nô lệ của dân ta Trong đó, thực trạng phụ nữ ta “ti tiện” là nỗi đau
lớn nhất của ông, là thảm họa của đất nước Bởi, trong xã hội phong kiến,người phụ nữ không được học hành, không có địa vị từ trong gia đình đến xãhội Trong khi đó, chị em phụ nữ cũng là người, chị em phụ nữ cũng là mộtsuất dân trong nước, cũng có quyền và nghĩa vụ như nam giới Đã là dân ta thì
không phân biệt nam hay nữ Trong Nữ quốc dân tu tri, tác giả đã định nghĩa hợp: “Hợp quần là sao? /Nhóm bầy làm việc /Trăm rìu nghìn búa, /Vào núi
xẻ cây /Trăm lưới nghìn chài, /Xuống sông bắt cá /Đều tai mắt cả /Dở cũng nên hay” [80, tr.35] Thực chất của việc hợp quần là sự gắn kết, đồng tâm,
đồng lòng…là tinh thần đoàn kết của cộng đồng, của tập thể Theo tác giả,
hợp quần là tất yếu, bởi hợp quần gắn với sự thịnh suy của đất nước: “Xét
cùng mọi việc, /Nên phải hợp quần /Muốn cho nên quần, /Phải cần cách hẹn.
/Quần khôn thời hợp, /Quần dại thời li /Nước nhà thịnh suy, /Bởi hai điều
ấy” [80, tr.35] Chỉ có đồng lòng, đoàn kết mới chặt đứt được gông xiềng bất
công của chế độ thực dân phong kiến, mà bước lên đài bình đẳng: “Hợp cả
thảy người đồng một lòng, đều một sức bẻ đôi gông vô đạo, chặt đứt cái xiềng bất nhơn, khiến cho cái ma cướp bóc quyền mình phải lượm tay, cúi đầu mà nhường mình lên đài bình đẳng” [79, tr.117] Chỉ có
Trang 40hợp quần mới giúp cho dân giàu, nước mạnh: “Ai nấy đồng lòng /Quần hợp
đã xong, /Nhà ta hưng vượng” [80, tr.35] Đến Việt Nam quốc sử bình diễn
ca, Phan Bội Châu tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của việc “hợp quần”: “Quần đông thời việc chóng nên, /Hợp quần ấy chắc là nền móng ta”
[80,tr.69] Tác giả cũng chỉ rõ sự cần thiết và lợi ích của hợp quần trong mọilĩnh vực của đời sống, xã hội Trong lĩnh vực kinh tế, hợp quần mới tạo nên
lợi nhuận: “Quần có hợp mới giàu tiền vốn, /Cổ phần đông thời điếm mới
thành /Điếm kia nếu của một mình, /Ai chăm sổ sách, ai sành bán buôn?
/Khách qua lại, ai lo đón rước? /Ai thăm dò sản Bắc, hóa Nam? /Ai chạy vạy,
ai trông nom? /Huống chi còn điếm, ai làm hộ thêm ? /Các việc đó muốn làm cho chảy, /Tất nhiều người, mới phải hợp quần” [80, tr.70] Hợp quần trong
lĩnh vực kinh tế không chỉ là sự nhóm họp, liên kết giữa người với người màcòn liên kết về tiền vốn, về cổ phần Cổ phần càng đông, tiền vốn càng nhiềuthì lợi nhuận càng lớn Ta thấy, quan niệm trên của Phan Bội Châu là mộtquan niệm mới, chịu ảnh hưởng của khuynh hướng dân chủ tư sản phươngTây Hợp quần mới tập hợp được những người đồng tâm, đồng lòng, cùng chí
hướng…tạo nên sức mạnh của đoàn thể để giành độc lập cho dân tộc: “Nước
như thế là quyền độc lập, /Bởi hợp quần vun đắp mới lên /Người trong một nước muôn nghìn, /Một lòng, một sức, một đoàn thể to.” [80, tr.71].
Trong một số tác phẩm, Phan Bội Châu đã kêu gọi chị em phụ nữ hợpquần để phát triển kinh tế, xây dựng đoàn thể, góp sức vào công cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc Đọc Bài ca chúc tết thanh niên (1927), ta thấy được
nhiệt huyết cách mạng vẫn nồng nàn, cháy bỏng của nhà chí sĩ qua lời giục
giã chị em phụ nữ phải “liên hiệp lại” để “xốc vác cựu giang sơn”, để “rửa
vết nhơ nô lệ” [80, tr.106] Cụ Phan vui mừng khôn xiết khi Hội Nữ công của
giới phụ nữ Huế được thành lập năm 1926, do bà Đạm Phương làm Hộitrưởng Hội Nữ công không chỉ dạy các môn nữ công gia chánh cho các bạn